Trang Chính

  Dược Vị

  Toa Thuốc

  Diễn Đàn

  Đăng Nhập

  Đăng Ký

Diễn đàn >> Kiến Thức Phổ Thông >> Hỏi về bài thuốc đắp vào gan bàn chân, đề pḥng được đột quỵ

<< Đăng Chủ Đề Mới >>
Hỏi về bài thuốc đắp vào gan bàn chân, đề pḥng được đột quỵ - posted by vô thường (Hội Viên)
on November , 26 2015
Xin chào mọi người!
Chẳng là gia đ́nh có người bị huyết áp cao nên tôi rất quan tâm đến những phương pháp pḥng chống đột quỵ tai biến. T́nh cờ trong một lần t́m hiểu các thông tin trên mạng tôi có đọc được một bài chia sẻ về cách pḥng chống đột quỵ tai biến do huyết áp (cao, thấp, không ổn định) chỉ làm một lần duy nhất trong đời như sau:
Dùng các nguyên liệu thuốc Bắc gồm Hạnh nhân 10g, Chi tử 10g, Đào nhân 10g, tất cả tán mịn cùng các nguyên liệu phụ Gao nếp 10 hạt, Tiêu sọ tắng 10 hạt, Ḷng trắng trứng gà 1 quả. Cách làm như sau: Tán nhỏ 10 hạt gạo nếp cùng 10 hạt tiêu sọ. Trộn đều nguyên liệu thuốc Bắc với gạo nếp, tiêu sọ đă tán nhỏ với ḷng trắng trứng gà. Cho tất cả hỗn hợp trên vào miếng vải đắp vào gan bàn chân.

Lấy băng y tế quấn chặt, không để thuốc chảy ra. Đắp thuốc này từ buổi tối để qua đêm, đến sáng hôm sau th́ tháo ra. Lưu ư là nữ đắp ḷng bàn chân phải, nam đắp ḷng bàn chân trái. Nếu sau khi tháo băng thấy ḷng bàn chân có màu xanh mực là kết quả tốt (càng xanh đậm càng tốt). Một thời gian sau màu xanh sẽ mờ dần. Thuốc này không có tác dụng phụ.

Có nhà thuốc gia truyền c̣n tán sẵn và hướng dẫn cách sử dụng khá rẻ, khoảng 120.000 đồng giao tận nơi. Tôi đọc mà thấy hấp dẫn quá, chỉ đơn giản như vậy, làm có một lần mà lại đề pḥng được đột quỵ do huyết áp cao. Có ai dùng thử chưa và xin moi người cho tôi biết có đúng bài thuốc trên có công hiệu thật như vậy không?
Chân thành cảm ơn!

 
Replied by PhoHVB (Hội Viên)
on 2015-11-28 09:57:19.0
Chào Vô Thường,


Nh́n vào đồ h́nh tiên thiên Âm Dương trên, chúng ta thấy phần dương (phần trắng) khởi lên từ bên tả (trái), phần âm đi xuống từ bên hữu (phải). Có nhiều sách Đông sau này cho rằng người nam thuộc dương, người nữ thuộc âm nên gọi là "nam tả, nữ hữu", rồi lại xuất hiện các cách chữa bệnh bên tả cho người nam và bên hữu cho người nữ. Đây đều là những quan niệm sai lầm do những người không hiểu được nguyên lư Âm Dương chế ra. Người nam và nữ đều có âm dương, không thể cứ chữa cho nam là phải dương hay tả, cho nữ là phải âm hay hữu. Phương pháp chữa "chỉ cần 1 lần trong đời" là không bao giờ bị bệnh lại càng hoang đường hơn. Hễ hội đủ nguyên nhân để gây bệnh th́ bệnh sẽ phát ra, không có thuốc nào có thể chỉ dùng 1 lần mà có thể bảo vệ cơ thể suốt đời được. Kể cả các thuốc tiêm ngừa như viêm gan B được cho là có thể bảo vệ cơ thể được miễn nhiễm suốt đời nhưng tôi đă gặp qua nhiều bệnh nhân viêm gan B đă được tiêm ngừa mà vẫn bệnh như thường.

Thầy Quang Thống cũng từng cứu các bệnh nhân dùng phương pháp chữa trị trên bị biến chứng. Vô Thường có thể xem bài viết ở đây.

http://www.yhoccotruyen.org/ViewTopic.jsp?tid=5044&fid=2&Page=1&trp=8&ttp=456
Phó
 
Reply with a quote
Replied by Nam Khanh (Hội Viên)
on 2016-10-26 23:56:00.0
Xin kính chào các thầy.
Về bài thuốc trên em thấy có nhiều ư kiến phủ nhận công dụng của các thầy thuốc (cả đông và tây y). Nhưng hôm nay em xin dẫn dưới đây một ư kiến khác của một Lương y về bài thuốc này để mọi người cùng suy ngẫm. Cũng kính mong các thầy cho ư kiến. Chân thành cảm tạ

LƯ GIẢI MỘT TOA THUỐC BÍ TRUYỀN TRỊ BỆNH HUYẾT ÁP CAO


Tôi và đồng nghiệp người Trung quốc thường bàn luận nhiều lần về một phương pháp trị bệnh huyết áp cao ở tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc. Chỉ nghe đồn đại là ở vùng đó có Hậu Duệ của một quan Ngự Y triều Minh có một phương pháp trị bệnh huyết áp cao rất hiệu quả. Rất nhiều người bị Huyết áp cao dùng thuốc tây đă nhiều năm không khỏi nhưng chỉ dùng thuốc của Y phái này chi vài ba lần là khỏi.
Khảo t́m những toa thuốc dân gian bí truyền và thất truyền mà có chức năng thoái lui những căn bệnh nan y không những là chức trách của viện chúng tôi mà là c̣n là niềm đam mê của chính tôi.
Tôi làm một pháp ảo để cho đồng nghiệp người Trung quốc có kinh phí về thăm nhà nhân tiện đến tỉnh Hồ Bắc lùng t́m phương toa này. Nhưng kết quả không thu được ǵ ngoài những số liệu và tư liệu về người đă được trị khỏi bệnh. Chúng tôi chỉ biết rằng phương pháp này không dùng thuốc uống mà đắp ngoài và chỉ cần vài ba bận là khỏi bệnh. V́ tư liệu mơ hồ hơn nữa với bệnh huyết áp cao không dùng thuốc uống chỉ đắp ngoài và liệu tŕnh ngắn đơn giản. Với những dữ kiện đó không đủ sức thuyết phục là một phương pháp Y dược chính thống nên chúng tôi không quan tâm đến nữa.

Cho măi đến tận cuối năm 2000 các tạp chí bằng tiếng Việt và tiếng Hoa xuất bản ở hải ngoại quảng cáo rầm rộ một toa thuốc trị bệnh huyết áp cao có xuất xứ từ Trung Quốc Cộng đồng người Việt và người Hoa ở các nước như Đức Hoà lan Pháp ...rất nhiều người sử dụng toa này để trị bệnh. Theo như thăm ḍ của chúng tôi th́ những người sử dụng toa này có nhiều người khỏi bệnh nhanh chóng như một phép lạ cũng có nhiều người bệnh t́nh thuyên giảm chậm chạp và cũng có một số người không những không thuyên giảm mà c̣n có xu hướng nặng thêm. Khi biết được tin tức này chúng tôi liền cử người về Hồ Bắc là nơi xuất xứ của toa thuốc này để t́m hiểu.

Kết quả là toa thuốc này do Bệnh Viện Nhân Dân Nhu Đắc Nhân tỉnh Hồ Bắc quảng bá. Nguyên toa thuốc này do một tên tội phạm tên là Tiền Dịch con cháu của Quan Ngự Y Tiền Khải Hân. Tiền Dịch phạm tội tử h́nh nên hiến ra toa thuốc này nếu chữa khỏi cho 1000 người th́ tội của hắn sẽ được giảm. Tiền Dịch có người nhà làm ở bệnh viện Nhu Đắc Nhân chịu trách nhiệm quảng cáo hướng dẫn thực hiện chữa trị và thu thập số liệu. Cho đến thời điểm chúng tôi t́m đến là tháng 11 năm 2000 th́ đă có 730 người khỏi bệnh nhờ toa thuốc này chữa trị.

Nội dung toa thuốc như sau:

- Bạch hồ tiêu(hạt tiêutrắng) -------7 hạt
- Gạo nếp --------------------------- 7 hạt
- Hạnh nhân --------------------- ----10 gr
- Chi tử --------------------------------7 gr
- Đào nhân ----------------------------7 gr

Nghiền lẫn 5 vị trên thành bột dùng trứng gà nhào thành bánh trước khi đi ngủ đắp vào ḷng bàn chân (nam bên trái nữ bên phải). Xong dùng vải thô bọc chặt lại. Ngày hôm sau gỡ ra biến thành màu xanh là tác dụng trị bệnh có hiệu quả. Người bệnh nặng làm 3 lần liên tục trong 3 ngày người bệnh nhẹ 2 lần.

Khi người đồng nghiệp đưa phương toa về muốn ứng dụng ngay. Nh́n qua phương toa thấy các vị thuốc có tính độc tác dụng thanh nhiệt hạ hoả phá huyết hành ứ chủ yếu có tác dụng đi vào hai kinh Can và Tâm. Tôi hơi ngần ngại v́ nếu bệnh nhân huyết áp cao có nguyên nhân từ Thận hư th́ toa thuốc này không có lợi. Nhưng phương toa chỉ đắp ngoài mức độ ảnh hưởng của vị độc không đáng ngại v́ vậy tôi cũng đồng ư dùng thử nhưng chỉ với bệnh nhân có lựa chọn chống chỉ định do nguyên nhân từ Thận hư.

Điều trị trên một bệnh nhân đang dùng thuốc hàng ngày ngày thứ nhất vẫn dùng thuốc ngày thứ hai cho ngưng thuốc qua khỏi ngày thứ 3 t́nh trạng áp suất máu rất ổn định chỉ số áp suất 135/ 90( trước đó lúc có uống thuốc chỉ số là 145/95). Sau một tuần không uống thuốc chỉ số áp suất máu vẫn ổn định bệnh nhân không c̣n đau đầu chóng mặt và mất ngủ như trước nữa. Sau 3 tuần có hiện tượng áp suất máu lại tăng chúng tôi áp dụng một liệu tŕnh nữa từ đó về sau t́nh trạng luôn ổn định.

Thử nghiệm trên một bệnh nhân đă trải qua một lần bị tai biến mạch máu nhẹ đang sử dụng các loại thuốc tây chống áp suất máu cao và thuốc làm loăng máu. Bệnh nhân này do xơ cứng động mạch trong máu có mỡ và có rất nhiều áp lực thần kinh từ công việc liệu tŕnh thứ nhất áp suất máu vẫn không thay đổi khả quan nhưng bệnh nhân giảm đau đầu và ngủ được không c̣n đau vùng cổ gáy nữa. Liệu tŕnh thứ 2 chúng tôi áp dụng cả luyện tập tĩnh công (Lục Tự Khí Công) và tự day bấm huyệt th́ t́nh trạng huyết áp giảm dần qua một thời gian không dùng thuốc áp suất máu vẫn ở chỉ số an toàn cho phép duy chỉ có bệnh nhân vẫn dùng thuốc loăng máu v́ đó là chỉ định của chuyên môn chúng tôi không được phép khuyên bệnh nhân bỏ uống thuốc này.

Nói tóm lại qua thời gian thử nghiệm phân tích và nghiên cứu chúng tôi thấy toa thuốc có tác dụng tốt trong việc kết hợp trị bệnh huyết áp cao. Nhưng với bệnh nhân có nguyên nhân về suy chức năng tim và suy thận nặng th́ không có tác dụng. Đặc biệt bệnh nhân suy thận có xu thế không an toàn. Đối với nguyên nhân do rối loạn hóc môn tuyến thượng thận và tuyến giáp trạng th́ xác suất ổn định chỉ chiếm 50% tuỳ bệnh chứng.
Đối với nguyên nhân do stress áp lực thần kinh và nguyên nhân từ sự điều tiết của gan th́ có tác dụng rất hữu hiệu. Đặc biệt tuỳ bệnh chứng và thể trạng cơ thể mổi tháng sử dụng phương toa này từ 1 đến 2 lần( có nghĩa chỉ đắp 1 hoặc 2 lần)
kết hợp với 1 vài động tác đơn giản day bấm huyệt (tôi sẽ cập nhật trong nay mai) th́ khả năng xảy ra đột quị rất thấp (hầu như không bị)

Việc lư giải các toa thuốc bí truyền hoặc các phương pháp trị bệnh lưu truyền trong dân gian theo chiều hướng khoa học thực nghiệm thực ra là một việc làm có tính ước lệ. V́ nếu cứ áp dụng các lư luận về sinh hóa để làm sáng tỏ chức năng của phương toa không thể lư giải được hiệu quả thực tế của Phương toa dân gian.
Ví dụ về Nấm Linh Chi những phân tích về hàm lượng hóa học và các chiết xuất từ nó hoàn toàn không có những tố chất có tác dụng trị bệnh như truyền thuyết về tác dụng huyền diệu của nó Nhưng đứng về gốc cạnh Y lư cổ truyền th́ Nấm Linh Chi có khả năng thần diệu trong việc điều ḥa Âm-Dương và khôi phục nguyên thần và bồi bổ Khí Tiên Thiên ( Khí có từ lúc con người mới sinh ra Khí Hậu Thiên là do Khí Hóa từ Ngũ Cốc và dinh dưỡng đưa lại). Hoặc với cây Trinh Nữ Hoàng Cung cũng vậy. Những nghiên cứu đang là cơn sốt của giới Y dược hiện nay về những chiết xuất có tác dụng chống Ung thư chỉ có ư nghĩa về truyền bá. Thực ra những tố chất đó vẫn chưa có khả năng thuyết phục khoa học thực nghiệm về một loại thảo dược có khả năng thần kỳ làm tiêu khối u ác tính. Nhưng chúng ta vẫn không thể không chấp nhận được kết quả hữu hiệu của nó trong nhiều trường hợp trị được dứt hẳn bệnh Ung thư ( Theo lư giải của riêng cá nhân tôi có thể Trinh Nữ Hoàng Cung có tác dụng trực tiếp bồi bổ và điều ḥa chức năng của Thận dương và Thận âm nên làm cho khí Tiên Thiên thịnh vượng từ đó có tác dụng điều tiết lại sự rối loạn chức năng của tế bào- ung thư).
V́ vậy việc lư giải Toa thuốc chống Huyết áp cao này cũng nghiêng nặng về y lư cổ truyền chứ không nặng về Y học thực dụng.

Muốn biết tác dụng của Toa này như thế nào và trong trường hợp nào th́ không nên sử dụng trước tiên ta phải hiểu sơ về Nguyên nhân gây nên bệnh huyết áp cao theo Y học hiện đại và cả theo Y lư cổ truyền. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi không thể phân tích tỷ mỉ được Quí vị có thể t́m hiểu thêm ở các tài liệu đang phổ biến khác
(đang cập nhật phần 2)


 
Reply with a quote
Replied by httinh (Hội Viên)
on 2016-11-01 21:55:50.0
Bài thuốc này lúc trước người nhà ḿnh dùng thử rồi. Không có chuyện dùng một lần mà pḥng ngừa hay chữa trị được huyết áp cao hay đột quỵ đâu bạn. Nếu có điều kiện th́ bạn dùng thử để khỏi thắc mắc.
 
Reply with a quote
Replied by Nam Khanh (Hội Viên)
on 2016-11-07 02:16:16.0
LƯ GIẢI TOA THUỐC BÍ TRUYỀN TRỊ HUYẾT ÁP CAO ( Phần 2)

(Xin đọc trước phần 1)

1) Nguyên nhân gây nên bệnh Huyết áp cao:
a) Theo y học hiện đại:
- Nguyên nhân thường gặp nhất là mạch máu bị nghẽn hẹp do xơ vữa hoặc kết mỡ
- Rối loạn chức năng hệ thống tuần hoàn mà nguyên nhân có từ suy chức năng của Tim
- Do áp lực thần kinh quá tải
- Nhiễm trùng nhiễm độc
- Rối loạn Hóc môn - Dị ứng
- Và rất nhiều nguyên nhân có từ việc sai lầm trong chế độ ăn uống

Những triệu chứng thường gặp : Đau đầu chóng mặt ù tai hồi hộp nóng nảy bất an bồn chồn lo lắng mất ngủ đau vùng vai gáy v..v..

b) Theo y lư cổ truyền :
- Khí hư ở Tâm Kinh và Phế Kinh
- Huyết thực ở Can kinh
- Khí huyết uất trệ ở Tỳ vị
- Rối loạn tam tiêu
- Thận âm hư
- Can Thận bất túc
- Thủy-Hỏa vị tế

2) Các vị thuốc trong toa:

a) Bạch Hồ Tiêu ( tiêu sọ hột tiêu chín phơi khô xát vỏ ngoài):
- Hồ tiêu c̣n có tên gọi là Hạt tiêu Cổ Nguyệt Bạch cổ nguyệt (tiêu trắng) Hắc cổ nguyệt (tiêu đen)
- Tên khoa học Piper thuộc họ hồ tiêu
- Xuất xứ từ nước Hồ chữ Hồ theo cách đọc Hán ngữ là là do chữ Cổ và chữ Nguyệt ghép lại nên mới có tên Cổ Nguyệt ( tôi có đọc một câu thơ của một tác giả hiện đại viết rằng : em như vầng cổ nguyệt trong tôi - có nghĩa là em như một nắm tiêu trong tôi- chắc cay chết- h́ h́ )
- Bạch hồ tiêu (tiêu sọ) là loại tiêu hái vào lúc quả đă thật chín sau đó chà sạch vỏ ngoài sau đó ngâm xuống nước từ 3 đến 4 ngày chà sạch vỏ đen lần nữa loại này có màu trắng ngà xám ít nhăn nheo ít thơm nhưng cay hơn.
- Tác dụng dược lư: Dùng liều nhỏ tăng dịch vị dịch tụy kích thích tiêu hóa nhưng dùng liều lớn có thể làm tổn hại niêm mạc dạ dày gây sưng huyết và viêm cục bộ gây sốt viêm đường tiểu tiện đi đái ra máu ( v́ vậy mà lần đầu tôi ngần ngại cho bệnh nhân HAC có nguyên nhân từ Thận hư là vậy). Ngoài ra Hồ tiêu c̣n có tác dụng trong các toa thuốc làm giảm đau nhức như đau răng đau bụng...

b) Hạnh nhân:

C̣n có tên gọi Nam hạnh nhân khổ hạnh nhân Ô mai Mơ má pheng ( Thái) tên khoa học Prunus amenica thuộc họ hoa hồng
Hạnh nhân tính hơi độc tác dụng vào hai kinh tâm và phế có tác dụng trấn an thần kinh chữa ho khó thở nôn mửa đau dạ dày nhuận tràng trừ đờm...
Dược thảo ở nước ta không có vị hạnh nhân mà thường dùng Đào nhân

c) Đào nhân :
Tên khoa học là Prumus peica thuôc họ hoa hồng
Theo tài liệu cổ Đào nhân có vị đắng ngọt tính b́nh vào hai kinh Tâm và Can có tác dụng phá huyết hành ứ nhuận táo hoạt trường dùng chữa huyết ứ chữa ho làm tiêu những chất ở bụng dưới sát trùng thanh nhiệt.

d) Chi tử:

C̣n có tên gọi là Dành dành Sơn chi tử thuộc họ cà phê
Chi tử là quả Dành Dành chín phơi hay sấy khô.( Chi là chén đựng rượu tử là quả hay hạt v́ quả dành dành giống cái chén đựng rượu ngày xưa nên gọi là chi tử)
- Chi tử được dùng từ lâu trong đông y theo tài liệu cổ Chi tử có vị đắng tính hàn vào 3 kinh tâm phế và tam tiêu có tác dụng tả hỏa lợi tiểu cầm máu dùng cho những người sốt bồn chồn khó ngủ miệng khát họng đau mắt đỏ da vàng tiểu tiện khó khăn thổ huyết máu cam lỵ ra máu tiểu tiện ra máu....

Nh́n qua thành phần của Toa chúng ta thấy hạt nếp chỉ là chất dính kết và có tính b́nh vị thuốc Hạnh nhân và Đào nhân có tác dụng gần giống nhau như vậy toa thuốc chủ về ba vị chính Bạch hồ tiêu Hạnh và Đào nhân và Chi tử . Cả ba vị đều có dược tính đi vào 3 kinh chính là Gan Thận và Tâm ngoài ra c̣n trực tiếp ảnh hưởng đến Tam tiêu và phế. Và đều có tác dụng hành huyết khu ứ thông khí thanh nhiệt hạ hỏa....Đó là những đặc điểm yêu cầu của dược liệu để dập tắt những triệu chứng vốn có của bệnh Huyết áp cao. Về đặc tính của phương toa đây là một toa nặng về Phép Tả không có tính chất bồi bổ ( Bá đạo).
Điểm cần làm sáng tỏ của Phương toa này là tại v́ sao phải đắp ở ḷng bàn chân và việc đắp chân tả (trái) cho nam giới chân hửu (phải) cho nữ giới có ư nghĩa ǵ trong phương toa. Và điểm quan trọng tối hậu là tại v́ sao có người khỏi bệnh rất nhanh có người lại cầm chừng và đôi khi lại có xu thế xấu đi. Và tại v́ sao phương toa này kết hợp với một vài động tác day bấm huyệt đơn giản lại có khả năng pḥng chống đột quị (tai biến mạch máu năo) rất cao.

Muốn làm sáng tỏ những vấn đề chúng ta cần phải hiểu sơ bộ những nguyên nhân gây nên bệnh Huyết áo cao theo y lư Đông phương.
Như đă tŕnh bày trên nguyên nhân gây nên bệnh áp suất máu cao là do 7 nguyên nhân chủ yếu và qui tụ về 4 cơ quan nội tạng đó là Tim Gan Thận và Tam tiêu
Ta thử t́m hiểu những bệnh chứng trên xem sao.
- Một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nên bệnh này là Thận suy mà chủ yếu là Thận Âm suy (nguyên nhân làm cho suy chức năng thận là do viêm nhiễm hoặc hoạt động t́nh dục quá độ).
Thận là nguồn gốc của thiên nhiên Thuộc hành Thủy. Công năng chủ yếu là tàng nạp tinh khí và là Nguyên Âm Nguyên Dương của Cơ thể cho nên Thận chỉ tàng trữ chứ khhông được phép hao tán. Thận bên trái là Chân Dương (tả thận). Thận bên phải là Chân Âm ( hữu thận) c̣n Mệnh môn th́ ở giữa.
Thận âm hư có các triệu chứng sau. Đầu choáng váng hoa mắt ù tai mất ngủ mồ hôi trộm đau lưng mỏi gối tâm phiền nhiệt di hoạt tinh Xích mạch tế sác có thể liên hệ đến chứng thần kinh suy nhược ( cách chữa tư dưỡng hữu thận dùng toa Lục vị hoàn hoặc bát vị tri bá). Thận âm hư cho nên không có đầy đủ chân khí để hoạt khí khắp châu thân không vận dụng được thủy khí để đưa lên dập tắt Tâm hỏa uất vượng mà sinh ra cuồng nhiệt tổn hại đến Kinh mạch đó là nguyên nhân gây nên chứng Hỏa Vượng ( huyết áp cao). Hư th́ phải bổ đó là cái lư đương nhiên của Y đạo. Nhưng toa thuốc trên không có tác dụng bồi bổ thận âm. Cho nên những người mắc bệnh huyết áp cao từ nguyên nhân này toa thuốc trên không có hiệu quả là vậy. Cho nên chúng ta phải cẩn trọng trong việc dụng toa. Thông thường những người huyết áp cao có từ nguyên nhân này có triệu chứng t́nh trạng áp suất máu trồi sụt thất thường và không phải là những người béo ph́ và có tâm tính không cuồng nhiệt hay bứt rứt ưu phiền và tự ty.

Hầu hết những triệu chứng thoát hiện ra bề ngoài mà dễ nhận biết của bệnh HAC ( Huyết áp cao) đều do nguyên nhân từ chứng Hỏa Vượng ( khí nóng như thiêu đốt bốc lên đầu. Chứng này do Hỏa tà ( Tâm hỏa ) và Can hỏa gây nên. Có chứng này là do các nguyên nhân sau:

* Chứng Tâm Thận Bất Giao: ( Thủy hỏa vị tế). Tâm (tim) thuộc hỏa thận thuộc thủy Thủy cần thăng lên Hỏa cần giáng xuống để thủy hỏa giao lưu kư tế nhưng do thủy suy hỏa vượng không thông với nhau thành chứng tâm thận bất giao triệu chứng là đầu choáng váng mất ngủ chóng quên ù tai hoa mắt tâm phiền bứt rứt đau lưng mỏi gối ( Phép chữa : dưỡng tâm thận dùng toa Giao thái Hoàn tức là toa Lục vị gia Táo nhân Bán hạ và ngũ vị )

* Chứng Can Hỏa Vọng Động: Tức là gan bị bệnh tŕ trệ huyết ứ gây nên triệu chứng đau đầu hoa mắt chóng mặt mặt và mắt đỏ đau tức hai bên hông sườn nóng sốt ruột mạch huyền.( cách trị : Dùng bài Tả Thanh Thang nếu có chứng viêm gan th́ dùng toa Long Đởm Tả Can Thang.

* C̣n có chứng phụ là do Thận thủy suy kiệt không tư nhuận được can mộc ( Thủy sinh Mộc) gây nên triệu chứng mắt tối sầm đầu thỉnh thoảng nhức từng cơn hoa mắt chóng mặt đau nhói sườn ( phép chữa Bổ thận thủy với toa Lục Vị Qui Thược)

* Chứng Hỏa Thịnh Tại Thượng Tiêu Và Trung Tiêu. Chứng này do nhiệt tà uất kế tại tam tiêu mà gây nên. Gây nên đốt nóng tam tiêu làm bế tắc thủy đạo Khí thủy không thăng lên được mà chế ngự hỏa Tà ´

* Chứng Can Khí Uất Kết: Gan chủ về sự điều tiết máu huyết trong cơ thể nếu Gan bị bệnh do viêm nhiễm hay quá tải do làm việc nhiều như ăn uống nhiều chất mỡ bia rượu thuốc lá dùng quá nhiều hoá dược v..v..sẽ gây nên chứng khí huyết uất kết tŕ trệ ở gan chứng này có các triệu chứng hay giận dữ nhức đầu đau hông sườn nếu can khí thăng phát thái quá can hoả thăng lên gây ra đau đầu choáng váng nếu can dương hoả thịnh th́ đau đầu kịch liệt mắt đỏ ù tai. Nếu như can hoả đạt đến cực thịnh th́ gây nên chứng phong hoả ( đột quị)

Chỉ sơ điểm một vài nguyên nhân chủ yếu như vậy để chứng tỏ hầu hết các nguyên nhân của chứng HAC đều do chứng Hoả Vượng mà thành. Hoả Tà là Tâm Hoả vọng động do tim suy không kiềm chế được khí hoả để hoả khí bốc lên mà nung đốt cả châu thân. Trong khi Khí Thận Thuỷ không có năng lực thăng lên để hoá giải( Thận Hư). Loạn Hoả là do gan mất khả năng điều tiết nên Khí Dương Mộc của Gan bốc lên mà đốt thành Loạn Hoả (Do thuỷ Thận không tu dưỡng được Mộc Gan mà nên). Tam tiêu bế tắc Khí thuỷ không lưu thông làm cho khí hoả không bị kiềm chế mà nung đốt thượng tiêu và trung tiêu đó là chứng Hoả Tặc do thuỷ khí (thận) không được thanh khiết mà đưa thuỷ khí ô trược lên mà thành chứng bế tắc.

Lập phương hầu hết là các vị hoạt huyết khu ứ thông trọc và thanh nhiệt... lại đắp ở dưới ḷng bàn chân đó chính là diệu pháp của phương toa này. Hiểu nôm na là phương toa này như đem củi mà đốt dưới đáy nồi cho hơi nước (thuỷ khí) bốc lên để dập tắt 3 thứ Hoả đang hoành hoành ở phía trên ( Hoả Tà Loạn Hoả và Hoả Tặc ). Đó là phép dụng thuốc cực kỳ linh hoạt và táo bạo một cách huyền vi là dùng Hoả Dược đế dập tắt Hoả Khí. Thật là tài t́nh. Các dược thảo có tính nung đốt : Bạch hồ tiêu Hạnh nhân Đào nhân được dược tính thanh tảo của Chi tử pḥ tá được đặt vào nơi mà Khí Thuỷ ngưng kết là ḷng bàn chân và cũng là nơi có Huyệt Dũng Tuyền là khởi đầu của Thận Kinh Thủ pháp này như nung cho kết thuỷ tan loăng ra và thăng tán theo Thận kinh kéo theo Chân Thuỷ như một cơn lốc xoáy vút lên cao mà để phá tan khí Hoả từ trong ḷng của đám cháy.
Nếu ta ví như chứng Hoả Vượng(HAC) như một đám cháy. Nếu dùng dược thảo có tính Hàn để b́nh thảo nó nếu đám cháy quá lớn th́ dược thảo đưa vào đôi khi chỉ như xô nước nhỏ khó có thể dập tắt nổi. Phương toa trên đă khắc chế được nhược điểm đó là như một tiếng nổ ở trung tâm đám cháy làm cho Lửa không có điểm gốc để mà bám tựa bùng phát nữa.

Đó cũng là đặc điểm ưu việt của phương toa này Khi thuỷ khí được đột ngột ào ào thông tán lên cao cuồn cuộn như thác lũ đă cuốn phăng mọi chướng ngại bế tắc trên thuỷ đạo của Tam tiêu như một ḍng sông đă được nạo vét từ đó mà thuỷ khí được dễ dàng lưu thông Thuỷ khí được lưu thông nên từ đó về sau có đủ để kiềm chế thượng Hoả. Đó là cái lư v́ sao chỉ dụng toa có vài lần mà đă b́nh được bệnh là vậy.

Nhưng tại v́ sao lại có người lại không khỏi bệnh mà c̣n có xu hướng xấu thêm. Đó là v́ Thận âm suy nhược Thuỷ Khí đă cạn kiệt. Không có nước th́ có đốt bao nhiêu lấy nước đâu mà bốc hơi. V́ vậy đối với người có Thận âm suy hư nặng th́ chưa nên dùng toa này vội ( xem chứng Thận âm suy ở phía trên). Mà trước nên tu dưỡng bồi bổ Thận Âm làm cho Khí Thuỷ thịnh vượng lên khi thuỷ khí đầy đủ hăy dụng toa ( Đổ nước vào nồi trước rồi mới đun- dụng toa). Th́ toa này mới công hiệu với những người bị suy thận được. ( muốn tu dưỡng Thận âm nên dụng toa Lục Vị Hoàn: Thục địa 32 gam Hoài sơn 16 gam Sơn thù 16 gam Bạch linh 12 gam Đan b́ 12 gam Trạch tả 12 gam. Hoặc là dụng toa Lục Vị Tri Bá tức là toa Lục vị Hoàn gia thêm tri mẫu 12 gam Hoàng bá 12)

C̣n v́ sao lại là Nam đắp chân trái nữ đắp chân phải. Đó là tuân Y lư Âm- Dương Nam là dương Nữ là âm. Trên cơ thể con người phía trái là Dương phía phải là Âm Nam đắp chân trái là thuận Dương mà hành khí Nữ đắp chân phải là Thuận Âm mà hành khí. Đó là cũng là sự vi diệu của Y lư Đông phương vậy.

Như vậy là những điểm cốt yếu của Phương toa này đă được lư giải. Phương toa đơn giản nhưng hiệu quả là thiết thực bởi cách lập phương toa quá huyền vi mà thành.

Một điểm lưu ư nữa trong phương toa này c̣n có một sự vi diệu nào đó mà không thể lư giải được. Đó là sự kết hợp giữa các vị thuốc này c̣n có một bí mật rất huyền kỳ mà ta chưa biết và rất khó giải thích. V́ khi chúng tôi sử dụng dược thảo có tính năng tương tự đôi khi lại có tính nung đốt cao hơn để thay đổi một vị thử xem sao th́ phương toa vẫn có hiệu quả nhưng không tốt bằng phương cũ. V́ vậy lúc dụng toa mong quí vị không nên thay đổi thành phần và lượng toa. Cứ giữ đúng như Toa nguyên bản mà làm.

Tóm lại đây là một toa thuốc quí có độ tin cậy cao đă qua thử nghiệm và phân tích nghiên cứu có thể sử dụng để trị bệnh huyết áp cao và pḥng chống đột quị Chỉ nên lưu ư bệnh nhân nào có triệu chứng Thận suy th́ nên bồi bổ Thận âm cho khí thận thuỷ đầy đủ hăy dụng toa th́ mới có kết quả.

Chúng tôi là hậu bối tài học c̣n thô thiển cho nên trong khi lư giải Toa thuốc vẫn c̣n có nhiều khiếm khuyết. Mong quí vị Tôn sư các bậc lăo thành trưởng thượng trong nghề ai có ư kiến khác mong quí vị chỉ giáo. Một vài lời góp ư của Quí vị đối với chúng tôi là bể học vô giá. đối với bệnh nhân là ân đức vô lượng.
Cúi đầu đa tạ.
Thanh Long Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa
 
Reply with a quote


<< Trả Lời >>

Nội Quy | Góp Ý | © 2009 - 2020 yhoccotruyen.org