Trang Chính

  Dược Vị

  Toa Thuốc

  Diễn Đàn

  Đăng Nhập

  Đăng Ký

Diễn đàn >> Kiến Thức Phổ Thông >>

<< Đăng Chủ Đề Mới >>
Replied by Thiện Nhân (Hội Viên)
on 2012-05-15 22:47:37.0
hề hề.
con sẻ cố gắng bằng 1/2 của thầy quangthong với thầy phudutu la con mường lắm rùi.
con đang học hỏi rất rất nhiều.
nhung con có nhận được bản báo cáo nào của HIV/AIDS đâu,không biết bất cư thông tin nao hết,
thầy có không sent cho con xem với.
con tuy sức tai nhỏ mọn nhưng con cửng phải xem cho biết chứ,đúng không thầy.


con cảm ơn thầy
chúc thầy vui vẻ hạnh phúc
thiện nhân
 
Reply with a quote
Replied by httinh (Hội Viên)
on 2014-08-21 11:04:23.0
Em thấy trên ,mạng có 1 bài viết về chủ đề này nên post cho quư thầy và các bạn tham khảo.
Đông Y trị bịnh HIV/ AIDS

I. Biện chưng luận trị bệnh AIDS

1.Cơ sở lí luận điều trị

Đông y thông qua việc điều chỉnh chức năng cơ thể nhằm tăng cường khả năng miễn dịch và phòng chống HIV/AIDS của bệnh nhân. Trên cơ sở đó, sẽ áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt để giảm bớt triệu chứng của những người nhiễm như: sụt cân, ỉa chảy kinh niên, sốt, đau đầu, ko muốn ăn v.v..., trường hợp nặng thì xuất hiện các triệu chứng hạch lympho sưng phù, viêm phổi ...

Giai đoạn đầu, tà khí mới xâm nhập vào cơ thể, chính khí vẫn c̣n chiếm ưu thế. Nguyên tắc điều trị là đẩy tà khí ra ngoài. Bài thuốc được dùng có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, bao gồm: kim ngân, hoàng cầm, bồ công anh, ngư tinh thảo, xuyên tâm liên kết hợp nhằm dưỡng âm, nhuận táo, ích khí. Đối với bệnh nhân , bài thuốc này có tác dụng ngăn chặn sự lan rộng của virus trong cơ thể, giúp kéo dài thời gian khỏe mạnh.

Khi bệnh bước vào giai đoạn hai, tà khí đă chiếm thế thượng phong, c̣n chính khí đă hư suy trong cơ thể. Lúc này, quan điểm của Đông y là phù chính, tức ra sức nâng cao sức đề kháng của cơ thể; và khu tà, tức hạn chế, ngăn chặn sự xâm lấn của mầm bệnh. Bài thuốc sẽ gồm các vị như: hoàng kỳ, đảng sâm, hoài sơn, kỷ tử, bạch truật, ư dĩ.

Thuốc sẽ giúp bệnh nhân làm chậm khả năng tàn phá cơ thể của virus HIV.

Khi khí huyết và âm dương bị tổn thương nghiêm trọng th́ bệnh đă vào giai đoạn cuối. Phải dùng phương thuốc ôn dương ích âm bao gồm: thổ ty tử, ngũ vị sơn thù, thục địa, đỗ trọng, dân dương hoắc để giúp bệnh nhân vượt qua sự hành hạ, đau đớn và kéo dài sự sống.

Người bịnh HIV thường bị ứ huyết nên Đông y c̣n dùng đơn sâm, đương quy, khương hoàng, xích thược, tô mộc để đẩy nhanh tốc độ lưu thông máu.

Tóm lại, tuy chưa h́nh thành một thứ lư luận thống nhất. Nhưng, cho rằng gốc (bản) bệnh AIDS là Tỳ Thận dương hư, ngọn (tiêu) là ôn độc thấp trọc xâm nhập bên trong, tức chứng Ôn độc bản hư tiêu thực.

Thời kỳ đầu bệnh AIDS th́ cần theo lư luận luận trị Ôn bệnh. Nếu tà tại khí phận, thấp nhiệt uất trệ Tỳ Vị. Sẽ có chứng thấy ḿnh nóng mồ hôi ko ra, dính, sắc mặt ko nhuận, muốn ngủ, ko có sức, ngực khó thở bụng trướng, cổ họng khô, miệng đắng, buồn nôn , trong ḷng bức rức, tiện bí hoặc hạ lỵ ko thông, rêu lưỡi dày dơ cáu bẩn hoặc lưỡi đỏ rêu vàng, mạch hoạt sác hoặc nhu sác. Ấy là do độc tà của ôn nhiệt chứa tích ở trung tiêu Tỳ Vị, trở trệ khí cơ, thấp nhiệt đều nặng, chứa tích chưng ko giải, cho nên ḿnh nóng không lui, tà thấp nhiệt nặng chưng dính cáu bẩn, rất khó tụ hóa, nhiệt bị thấp lưu, cho nên ḿnh nóng mồ hôi không ra; thấp nhiệt giao trở, khốn nhiễu trung tiêu, thanh dương ko thăng, trọc âm ko giáng, ắt buồn ngủ thiếu sức, thấp nhiệt trở trệ trung tiêu, tỳ mất kiện vận, thăng giáng bất thường, khí cơ không lợi, cho nên tự cảm thấy ngực khó thở bụng trướng; nhiệt nặng hơn thấp và đởm khí bất thư, ắt cổ họng khô miệng đắng, miệng khát tâm phiền; thấp nhiệt giao trở, t́ vị mất ḥa giáng, th́ sẽ có buồn nôn, ói mửa. Nếu đởm nhiệt tích chứa lâu, nhiệt nặng hơn thấp, ắt đại tiện bí kết, tiểu tiện ít và đỏ.

2. Đối với thấp ôn bệnh tà tại khí phận, thấp nhiệt uất trở tỳ vị mà nhiệt tà thiên thắng, phép trị nên thanh nhiệt giải độc, khư thấp lương huyết, phương dùng Cam lộ tiêu độc đơn.

- Bài thuốc : Cam lộ tiêu độc đơn

- Thành phần : Hoạt thạch 45g, Nhân trần 33g, Hoàng cầm 30g, Thạch xương bồ 12g, Xuyên bối mẩu 15g, Mộc thông 15g, Hoắc hương 12g, Xạ can 12g, Liên kiều 12g, Bạc hà 12g, Bạch khấu nhân 12g.

- Cách dùng : Đem tất cả thuốc đem sấy khô nghiền bột, mỗi lần uống 9g, mỗi ngày 2 lần

- Giải thích : Trong thang thuốc th́ Xạ can, bối mẩu thanh phế lợi yết, với Hoàng cầm, Liên kiều, Bạc hà khinh thanh thấu đạt giải độc ở phần trên, Hoạt thạch, Mộc thông, Nhân trần thanh nhiệt thấm thấp ở phần dưới, 2 tổ thuốc đă trên lại dưới thấm, phân tiêu thấp nhiệt. Vậy trung tiêu bị thấp trọc sở khốn, không có thuốc phương hương không thể hóa trọc khu thấp, v́ thế phối hợp với Hoắc hương, Thạch xương bồ, Khấu nhân v.v.. phương hương hóa trọc, tỉnh tỳ khứ thấp toàn phương có thể thanh nhiệt giải độc, phương hương hóa thấp, đạm thấm lợi thấp 3 phép đều dùng. Lúc bệnh AIDS mới phát có thể dùng thang này.

3. Đối thấp ôn bệnh tà tại khí phận, thấp nhiệt uất trệ tại Tỳ Vị, thấp nhiệt đều nặng, th́ dùng Vương Thị Liên Phác Ẩm

- Bài thuốc : Vương Thị Liên Phác Ẩm

- Thành phần : Xuyên liên 6g, Hậu phác 6g, Bán hạ 6g, Hương đậu 6g, Thạch xương bồ 3g, Sơn chi tử 3g, Lô căn 9g.

- Giải thích: Trong phương Xuyên liên đắng lạnh thanh nhiệt táo thấp; Hậu phác đắng ấm lư khí hóa thấp; Bán hạ giáng nghịch ḥa vị Thạch xương bồ phương hương hóa trọc, tỉnh thần duyệt tỳ Chi tử, Hương đậu thanh tuyên thượng tiêu uất nhiệt, thấu đạt uế hủ trọc khí ở trung tiêu; Lô căn thanh nhiệt lợi thấp mà không tổn thương tân dịch. toàn phương phối hợp ứng dụng, hiệu quả càng mạnh. C̣n có thể dùng Thất diệp liên, Thất diệp nhất chi hoa, Tử hoa địa đinh, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán ch liên, Đại thanh diệp, Bản lam căn, Chi tử, Bạch đầu ông, Kim ngân hoa, Hoa phấn v.v...Các loại thuốc gia thêm và liều lượng theo chứng hậu cụ thể lúc đó của bệnh nhân mà định. Chủ yếu là khu tà (chống virút) là chủ. Trên thực tế, các thuốc này, phần lớn có tác dụng kháng virút.

Sau điều trị kể trên nếu tà thấp độc đă khư trừ, hiện tương thấp trọc đă tan, các chứng hậu hư chứng hiển hiện rơ, chung quy bệnh AIDS chủ yếu quan hệ nhiều đến 3 tạng Tỳ, Phế, Thận, chứng hậu thấy nhiều là chứng Tỳ Phế khí huyết lưỡng hư, chứng thận tinh thận âm bất túc, tức thuộc Kim Thổ Thủy trong ngũ hành, lúc này phương thuốc có thể chọn dùng là Quy Tỳ thang , Bổ trung ích khí thang gia giảm .

Nếu Phế khí hư âm hư có thể dùng Sinh mạch tán bổ nguyên khí ích âm tân, hợp dùng loại thuốc trợ giúp (tá dược) tư âm sinh tân như Huyền sâm, Sinh địa hoàng, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo ......; lúc ho nặng gia uống Khổ hạnh nhân, Tỳ bà diệp; thận tinh không đủ có thể chọn dùng Thục địa, Sơn thù nhục, Câu kỉ tử, Đổ trọng, Cam thảo, Ngũ vị tử, Thỏ ty tử. Tinh khô gầy ṃn gia thêm Lộc nhung, Tử hà sa, Nhục thung dung, Ba kích thiên .....Thận âm không đủ chọn dùng Mạch môn đông, Thiên môn đông, Bách hợp. Bài thuốc có thể chọn dùng Tri Bá Địa Hoàng thang, tuyến Limpho sưng to gia Trúc nhự, Thiên nam tinh, Hải tảo ....vậy có thể thấy, sau khi khu trừ tà khí th́ nên phù chính (tăng cướng sức miễn dịch cơ thể) làm chủ. Trên thực tế, các thuốc này phần lớn có tác dụng tăng cường công năng miễn dịch.

Phù chính khu tà của Đông dược với trị liệu kháng Virút cùng trọng kiến hoặc tăng cường công năng miễn dịch của Tây y là hoàn toàn thống nhất, qua nghiên cứu chứng thực, Đông dược như Hoàng kỳ, Nhân sâm, Nữ trinh tử, Đảng sâm, Thích ngũ gia, Tiên mao, Thỏ ty tử, Sơn thù nhục, Bạch hoa xà thiệt thảo, Ư dĩ nhân, Hậu phác ....., có tác dụng tăng cường phản ứng miễn dịch thể dịch. Mà Nhân sâm, Hoàng kỳ, Linh chi, Ngân nhĩ nhiều đường, Hoàng tinh ....., có tác dụng tăng cường công năng miễn dịch tế bào.

Các bài thuốc:

1. Quy Tỳ thang : Đương qui 3g, Viễn chí 3g, Hoàng kỳ 15g, Bạch truật 15g, Phục thần 15g, Toan táo nhận 15g, Quế viên nhục 15g, Đảng sâm 9g, Mộc hương 9g, Chích cam thảo 6g, Sinh khương 3 lát, Táo 1 trái.

2. Bổ trung ích khí thang : Nhân sâm 10g, Bạch truật 10g, Đương qui 10g, Hoàng kỳ 15g, Trần b́ 6g, Thăng ma 3g, Sài hồ 3g, Cam thảo 5g.

3. Sinh mạch tán : Nhân sâm 9g, Mạch đông 9g (khử tâm), Ngũ vị tử 9g.

4. Tri Bá Địa Hoàng thang : Tri mẩu 6g, Hoàng bá 9g, Đơn b́ 9g, Trạch tả 9g, Phục linh 9g, Thục địa 24g, Sơn thù 12g, Hoài sơn dược 12g.

II. Đông y trị biến chứng bệnh AIDS

1. Mụn nước cảm nhiễm virút : Người bệnh AIDS , người bệnh dấu hiệu liên quan tổng hợp bệnh AIDS biến chứng mụn nước cảm nhiễm virút vô cùng phổ biến, thường 1 lần phát bệnh kéo dài nửa năm trở lên. Dùng Long đởm tả can thang sắc uống mỗi ngày 2 lần, 2 - 3 tuần là khỏi, dùng tiếp thêm 3 tuần để củng cố.

Long đởm tả can thang : Long đởm thảo 9g, Hoàng cầm 6g, Sơn chi tử 6g, Mộc thông 6g, Trạch tả 6g, Đương qui 6g, Sinh địa hoàng 6g, Sài hồ 6g, Cam thảo 3g.

2. Tiêu chảy (phúc tả) : sử dụng Bạch đầu ông thang, phép thụt bảo lưu (bảo lưu quán trường pháp) có hiệu quả nhất định.

Bạch đầu ông thang : Bạch đầu ông 12g, Tần b́ 9g, Hoàng liên 3g, Hoàng bá 6g.

3. Thiếu máu: Thiếu máu là vấn đề của bệnh AIDS tồn tại phổ biến, sử dụng phương pháp hoạt huyết hóa ứ và ḥa huyết sinh tân, dùng xử phương Lộc nhung (nhung nai) làm chủ, cùng Đào Hồng tứ vật thang sắc uống thu được hiệu quả trị liệu tương đối tốt.

Đào Hồng tứ vật thang : Đương qui 10g, Xích thược 10g, Xuyên khung 10g, Đào nhân 10g, Sinh địa 15g, Hồng hoa 6g.

4. Lao điển h́nh: Đây là biến chứng thường thấy của bệnh AIDS, Đông dược trị bằng Tri bá bát vị hoàn, Thanh phế thang đối với hư nhiệt, mồ hôi trộm, hỏa bốc (thăng hỏa) v.v... là khá hữu hiệu.

Tri bá bát vị hoàn : Tri mẩu 6g, Hoàng bá 9g, Đơn b́ 9g, Trạch tả 9g, Phục linh 9g, Thục địa 24g, Sơn thù nhục 12g, Hoài sơn 12g.

Thanh phế thang : Thiên môn đông 10g, Mạch môn đông 10g, Tri mẩu 10g, Xuyên bối 10g, Quất hồng 10g, Hoàng cầm 10g, Tang bạch b́ 10g, Cam thảo 3g

5. Cảm nhiễm Candida (niệm châu khuẩn) sắc trắng: Nhất là bệnh candida xoang miệng sắc trắng (Nga khẩu sang) là biến chứng thường thấy nhất của bệnh AIDS, xoang miệng, bộ lưỡi phân bố đầy vết ban mạc dạng sữa rất khó cạo. Miệng khô khát, ít uống, không đói, ăn không vào, tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện bí kết, lưỡi đỏ thẫm, rêu lưỡi không có tân dịch, mạch tế sác, chứng thuộc ôn bệnh nhập dinh, nhiệt tích phát ban, trị nên thanh dinh ích khí, lương huyết hóa ban, phương dùng: Sinh sái sâm (sắc riêng) : Xích thược 10g, Kê nội kim 10g, Sinh địa 15g, Mạch môn đông 15g, Ngọc trúc 15g, Đơn b́ 15g, Hoàng tinh 30g, Tê giác bột 2 chi (hoà uống), hợp thêm nước sắc Huỳnh tinh súc miệng, mỗi ngày nhiều lần.

6. Nếu biến chứng cảm nhiễm vào phế, ho đàm vàng đặc dính máu, nhiều và tanh, ngực đau, ăn kém, tinh thần mệt mỏi, gầy yếu, lưỡi đỏ, rêu nhạt vàng bẩn, mạch hoạt thời thuộc đàm nhiệt ủng phế, nhiệt độc thương lạc, nên thanh nhiệt địch (quét) đàm, thác độc bài nùng.

Phương dùng: Bạch cập 30g, Hoàng cầm 30g, Đông qua nhân 30g, Hoàng tinh 30g, Bắc sa sâm 30g, Cam thảo 3g, Đởm tinh 20g, Bán hạ 20g, Chỉ xác 20g, Phục linh 20g, sắc uống mỗi ngày 2 lần. Có thể dùng thêm Nhân sâm thang gia Hoàng liên thanh tâm ẩm .

Nhân sâm thang : Nhân sâm 12g, Cam thảo chích 12g, Can khương 12g, Bạch truật 12g. ( liều lượng đă được chỉnh lại)

Hoàng liên thanh tâm ẩm : Hoàng liên 10g, Xuyên luyện tử 10g, Đương qui 10g, Sinh địa hoàng 15g, Phục thần 15g, Viễn chí 12g, Toan táo nhân 12g, Liên tử nhục 6g, Cam thảo 6g.

7. Chứng tổng hợp mệt mỏi suy giảm mạn tính : Nhất là bệnh nhân nữ, đa số rối loạn nội tiết, kinh nguyệt thất thường; có thể dùng Gia vị tiêu giao hoàn (tán), Đào hồng tứ vật thang, thay phiên nhau.

Gia vị tiêu giao hoàn (tán) : Sài hồ 30g, Đương qui 30, Bạch truật 30g, Bạch thược 30g, Vân linh 30g, Chích cam thảo 15, Đơn b́ 10g, Sơn chi tử 10g, Bạc hà 10g, Ổi khương (gừng nướng) 3g.

Đào Hồng tứ vật thang : Đương qui 10g, Xích thược 10g, Xuyên khung 10g, Đào nhân 10g, Sinh địa 15g, Hồng hoa 6g.

Ngoài việc dùng thuốc cần phải tăng cường tập luyện thể dục như khí công, yoga và thái cực quyền để hỗ trợ.


(theo TRUNG TÂY Y CHẨN TRỊ BỆNH HOA LIỄU bản tiếng Hoa- NXB KHKT Tứ Xuyên -1992)

 
Reply with a quote

<< Trang trước 1 2 Trang kế >>

<< Trả Lời >>

Nội Quy | Góp Ý | © 2009 - 2019 yhoccotruyen.org