Trang Chính

  Dược Vị

  Toa Thuốc

  Diễn Đàn

  Đăng Nhập

  Đăng Ký

Diễn đàn >> Kiến Thức YHCT >>

<< Đăng Chủ Đề Mới >>
Replied by KHANG TƯỜNG (Hội Viên)
on 2015-06-12 09:12:17.0
TOAN TÁO NHÂN CÙNG BÁ TỬ NHÂN

CÔNG HIỆU KHÁC NHAU

Toan táo nhân và bá tử nhân đều có công dụng dưỡng huyết, an thần, tự chứng tim đập mạnh, sợ hăi, mất ngủ, thường thường hay dùng hai vị với nhau.

Nhưng toan táo nhân ngọt, chua, b́nh, thiên về việc bổ can, an thần, kiêm liễm can sinh tâm.

Bá tử nhân ngọt, b́nh, thiên về bổ tâm, an thần, kiêm nhuận tràng thông tiện, lư khí giải uất.


CHỦ TRỊ KHÁC NHAU

1-Toan táo nhân sở trường chữa can đởm hư, mất ngủ, sợ hăi

Toan táo nhân dưỡng huyết, bổ can, an thần. Nên dùng chữa can đởm hư sinh các chứng mất ngủ, sợ hăi.
Như "Thanh tễ tổng hư" Toan táo nhân hoàn (sao toan táo nhân, nhân sâm, bạch truật, phục linh, bán hạ, bào khương, trần b́, du bạch b́, toàn phức hỏa, tiền hồ, b́nh lang) trị đởm hư, ngủ không yên giấc, tinh thần sợ hăi, hoảng hốt.

"Tạp bệnh nguyên lưu tê chức" Toan táo nhân thang (sao toan táo nhân, viễn chí, hoàng kỳ, liên nhục, nhân sâm, đương quy, phục linh, phục thần, trần b́, cam thảo, khương, táo) trị chứng can đởm bất túc mà sinh chứng sợ hăi.

Bá tử nhân chủ trị tâm hư, mất ngủ, sợ hăi.

Bá tử nhân thiên bổ tâm an thần. Tâm hư, mất ngủ, sợ hăi, nên dùng.
Như "Toàn quốc trung thần dược sứ phuơng tập" Bá tử nhân dưỡng tâm hoàn (bá tử nhân, viễn chí, toan táo nhân, ngũ vị tử, nhân sâm, nhục quế, phục linh, xuyên khung, hoàng kỳ, đương quy, bán hạ khúc, cam thảo, tự tâm. Huyết hao tổn, tinh thần hoảng hốt, sợ hăi, tim đập mạnh, mất ngủ, hay quên.

2-Toan táo nhân chủ hư can.

Toan táo nhân chủ hư can.

Toan táo nhân bổ hư, sinh tân, liễm bản. Thích ứng dùng chữa thân thể hư, tân dịch xuất tiết ra ngoài, đó chính là chứng tự hăn (tự ra mồ hôi) đạo hăn (mồ hôi trộm).
Như "Phổ tễ phương” trị chứng trong lúc ngủ, mồ hôi trộm. Dùng toan táo nhân, nhân sâm, phục linh các vị bằng nhau, tán nhỏ, dùng nước cơm uống.

Bá tử nhân chủ tân khô, tiện bí

Bá tử nhân không những dùng trị thể hư đa hàn. Như "Thề y đắc hiệu phuơng" Bài Ngũ nhân hoàn (đào nhân, hạnh nhân, bá nhân, tùng tử nhân, úc lư nhân, trần b́) trị tiện khô, tiện bí.

3-Toan táo nhân trị hư phiền, hối hận, lo nghĩ.

Toan táo nhân ngọt, chua, khí b́nh và nhuận dưỡng huyết, minh tâm, bổ can. Minh tâm, cho nên chủ yếu chữa các chứng hư phiền, hối hận, lo nghĩ.
Như "loại chứng hoạt nhân thư" Toan táo nhân thang (toan táo nhân, trích cam thảo, chi mẫu, phục linh, xuyên khung, can khương, mạch môn đồng). Trị thương hàn, kinh thổ hạ hậu, hư phiền) mất ngủ, trong ḷng ân hận, hoài nghi.

Bá tử nhân chủ kinh bế, tư thống.

Bá tử nhân tư huyết, dưỡng can, để trợ lực cho chứng sơ tiẽt, lư khí giải uất. Nên chữa được hư lao, kinh bế đến bệnh lư thống.
Như “Hiệu chư phục nhân lương hương" Bá tử nhân hoàn (sao bá từ nhân, ngưu tất, quyển bá, trạch lan diệp) trịphụ nữ bẩm sinh khí không đủ, âm huyết chưa sung, kinh bế, sinh nóng ho, ăn uống ít.

"Toàn sinh chỉ mê phuơng" Bá tử nhân hoàn (sao bá tử nhân, can địa hoàng, phục linh, chỉ thực, quế tâm, ngũ vị tử, bào phụ tử, thạch hộc, lộc nhung, toan táo nhân, phúc bồn tử, trầm hương, hoàng kỳ ) trị chứng cánh tay đau không co ruỗi được, gân, mạch co quắp.

ĐẶC THÙ ĐIỀU TRỊ KHÁC NHAU

"Dược tính luận" nói rằng: Toan táo nhân trị cân cốt phong sao, tán nhỏ mà chữa ngay.
"Chứng trị chuẩn thằng” Phong tín tán (bá tử nhân, pḥng phong, thiên nam tinh mỗi vị 4 lạng - Mỗi lần dùng 1 đồng, lấy mật lợn vắt lấy nước điều vào thuốc bột, lấy vải mỏng bọc thuốc. Xem thóp to hay nhỏ rồi đắp vào. Thường lấy nước tẩm vào, đừng để thuốc khô. Ngày một lần thay.
Chữa sọ đầu trẻ con, thóp to quá, xương sọ không khép kín với nhau - ho, mũi tắc - "Y học tâm ngộ" trạch lan thang, trạch lan 2 đồng, đương quy, thược dược, thục địa hoàng, ngưu tất, sung úy tử, bá tử nhân, sắc thang uống, chữa kinh bế.
 
Reply with a quote
Replied by KHANG TƯỜNG (Hội Viên)
on 2015-07-08 10:39:21.0
TỬ THẢO CÙNG NGƯU BÀNG TỬ

Tử thảo và ngưu bàng tử đều hay giải độc, thấu suốt được bệnh đậu chẩn, hoạt tràng, thông tiện.

CÔNG HIỆU KHÁC NHAU

Tử thảo và ngưu bàng tử đều hay giải độc, thấu suốt được bệnh đậu chẩn, hoạt tràng, thông tiện. Cho nên đối với các bệnh nhiệt độc bế uất, đậu mọc không thoát hết, đại tiện bí kết, thường hay dùng phối hợp. Nhưng tử thảo sắc tía, chất hoạt, vị ngọt, mặn, khí hàn thiên vào huyết phận, hay thanh lấy nhiệt ở huyết phận, kiêm lợi thấp nhiệt.

Ngưu bàng tử chất nặng, tính vị cay, đắng, hơi hàn, thiên về khí phận, dùng để giải tà bên ngoài, sơ tán phong nhiệt, chữa bệnh đau cổ họng. Kiêm tả nhiệt ở bên trong, làm cho chất nhiệt độc ở bên trong cũng theo đường đó mà giải đi.

CHỦ TRỊ KHÁC NHAU

1-Tử thảo chủ trị huyết nhiệt, nhiều chất độc làm cho bệnh đậu sởi không mọc lên được

Tử thảo lương huyết giải độc, giúp ban chẩn phát xuất. Cho nên chứng huyết nhiệt, nhiều độc làm cho ban chẩn không phát được, phải dùng nó để chữa. Như "tiểu nhi dược chứng trực quyết" có bài tử thảo ẩm gồm tử thảo, thược dược, cam thảo, mộc thông, thuyền thoái (xác ve) trị bệnh phát ban sắc tía, hoặc sắc không hồng hoạt các chứng.


Ngưu bàng tử chủ trị phong nhiệt bên ngoài bế chặt lại không cho ban chẩn phát lên được.

Ngưu bàng tử sơ tán phong nhiệt, phong nhiệt bế ở bên ngoài, dùng nó rất đắc lực. Nó chữa chứng ban chẩn không phát ra được. Như "y tông kim giám" - bài tuyên độc phát biểu thang gồm Thăng ma, Cát căn, tiền hồ, cát cánh, chỉ xác, kinh giới, pḥng phong, bạc hà, mộc thông, liên kiều, ngưu bàng tử, trúc diệp, cam thảo, trị chứng đậu chẩn mới phát, muốn phát ra mà không phát ra được, sốt nóng, hơi sợ rét. mũi tịt, mắt, má đỏ, mạch Phù Sác.

2-Tử thảo chủ trị huyết nhiệt, xuất huyết

Tử thảo thanh nhiệt, lương huyết. Chuyên dùng chữa các chứng huyết nhiệt sinh ra thổ huyết, nục huyết, lâm huyết, xuất huyết. Như "phương mạch chính tông" trị bệnh thổ huyết, nục huyết. Dùng tử thảo, sinh địa, bạch quả nhục, phục linh, mạch môn đông, nấu thanh cao dùng mật cô lại, lấy nước trắng uống.
« Chứng trị chuẩn thằng" trị chứng huyết lâm, dùng tử thảo, liên kiều, sa tiền tử. "Tân cương trung thảo du thủ sách". Trị bệnh thiếu máu, ngày càng ít đi, sắc máu tím và có nốt nhỏ. Phải sử dụng tử thảo, thuyền thoái, hải phiêu tiêu, tây thảo sắc nước uống.


-Ngưu bàng tử chủ trị phong nhiệt cảm mạo

Ngưu bàng tử tán phong, tiết nhiệt. Chuyên dùng cho phổi và thấu biểu, lợi cho cuống họng. Dùng chữa bệnh phong nhiệt sinh sốt nóng, đau đầu, yết hầu dau, tê các chứng. Như "Chứng trị chuẩn thằng" có bài Ngưu bàng tử thang gồm các vị: sao ngưu bàng tử, huyền sâm, thăng ma, sao cát cánh, tê giác, hoàng cầm, mộc thông, cam thảo. Để trị bệnh thiếu nhi đau yết hầu, sưng đau. « Ôn bệnh điều biện" bài ngân kiều tán gồm kim ngân hoa, liên kiều, cát cánh, bạc hà, trúc diệp, kinh giới tuệ, đậu thị, cam thảo, để trị ôn bệnh mới phát biểu hiện: sốt nóng, nhức đầu, hơi sợ lạnh, ho, đau cổ họng mạch Phù Sác.


3-Tử thảo chủ trị thái độc, ghẻ lở
Ngưu bàng tử trị bệnh ở má. phát nóng dữ dội.

Tử thảo lương huyết, giải độc tán kết. Dùng chữa các chứng nhiệt độc thượng công (bôi lên đầu) làm cho đầu, mặt nóng dữ dội, phát di. Như "Đông viên thí hiệu phương" bài phổ tế tiêu độc ẩm gồm: hoàng cầm, hoàng liên, quất hồng, huyền sâm, anh cam thảo, ngưu bàng tử, bản chí căn. mă bột, bạch cương tằm, thăng ma, sài hồ. cát cánh; trị phong nhiệt đậu, độc bốc lên nóng dữ dội ở mặt má đầu.

4-Tử thảo chủ trị ngũ thử

Tử thảo lương huyết, giải độc, lợi ôn nhiệt, hay trị ngũ thử.
Như "bản thảo thiết yếu" trị chứng ngũ thử nhiệt hoàng, phải tử thảo, nhân trần.

Ngưu bàng chủ trị đau nhức

Ngưu bàng tử tả nhiệt, giải độc, tán kết, tiêu thũng. Dùng chữa các chứng nhiệt độc uất kết gây thành các bệnh sang nhọt, thũng độc. Như "Dương liệu tâm đắc tập" - Bài ngưu bàng giải cơ thang (gồm ngưu bàng tử, bạc hà, kinh giới, liên kiều, sơn chi, đan b́. thạch hộc, huyền sâm, hạ khô thảo, đễ chữa các chứng: đầu, mặt sau gáy bị độc đau.

«Y tông kim giám" gồm qua lâu nhân, ngưu bàng tử, hoa phấn, hoàng cầm, trần b́, sinh chi tử, liên kiều, tạo giác thích, kim ngân hoa, sinh cam thảo, thanh b́, sài hồ. Trị bệnh đau vú mới phát , khi nóng khi lạnh (hàn nhiệt văng lai).

ĐẶC THÙ SỬ DỤNG KHÁC NHAU

"Bản thảo cương mục » tử thảo điều – Dẫn sản bào, trị sản hậu lâm lịch. Dùng tử thảo một lạng tán nhỏ trước mỗi bữa ăn dùng nước uống thuốc hai đồng cân.

« Ngoại liệu chứng trị toàn thư" - Tử quy du - Tử thảo, đương quy. các vị đều nhau. Dầu vừng đun nóng bỏ bă; lấy bông tẩm thuốc bôi vào, dần dần sẽ nhuận lại. Trị bệnh trên môi mọc mụn trắng dần dần lớn lên như cái kén tằm. hoặc ỏ dưới môi sưng như quả táo đen. táo liệt rất đau nhức.

"Dương Y đại toàn” bài tử nhung cao gồm tử thảo, bạch chỉ. mỗi thứ 2 đồng, cam thảo 1 đồng, dầu vừng 2 lạng. Những vị này cùng cho vào đun đến khi nào thấy Bạch chỉ vàng là được, lọc lấy nước trong, rồi cho thêm bạch sà, khinh phấn, mỗi thứ hai tiền, rồi lấy cao đó đổ vào chân đau để chữa bệnh ”my phong tiển.

"Thánh huệ phựơng” trị chứng trẻ con rụng hết tóc (đầu trọc) Dùng tử thảo nấu lấy nước bôi vào.
Lâm sàng báo kinh nghiệm: Ngưu bàng tử dự pḥng sẵn để chữa bệnh “sốt phát ban". Dùng ngưu bàng tử sao nghiền thành phấn dùng dây bột, dây kỹ rồi tích trữ để sẵn sàng dùng khi cần đến.

Trẻ từ 1 đến 9 tuổi, mỗi lần dùng một khắc( gram) rưỡi

Từ 15 tuổi dùng hai khắc(gram); Trên 15 tuổi trở lên dùng 3 khắc

Mỗi ngày ba lần điều trị, cứ sau bữa ăn, lấy nước trắng pha thuốc uống.

Mỗi kỳ điều trị là 2 ngày liền.
Dự pḥng như vậy đă có kết quả rất tốt.

"Thánh huệ phương” trị bệnh thân thể phù thũng, muốn liệt. Dùng thử niêm tử gạo nếp sao nghiền nhỏ, dùng nước uống mỗi lần 2 tiền. Ngày uống ba lần.



 
Reply with a quote

<< Trang trước 1 2 Trang kế >>

<< Trả Lời >>

Nội Quy | Góp Ý | © 2009 - 2017 yhoccotruyen.org