Trang Chính

  Dược Vị

  Toa Thuốc

  Diễn Đàn

  Đăng Nhập

  Đăng Ký

Diễn đàn >> Kiến Thức Phổ Thông >> CHẠY THẬN NHÂN TẠO. CÁCH CHỮA BẰNG ĐÔNG Y.

<< Đăng Chủ Đề Mới >>
CHẠY THẬN NHÂN TẠO. CÁCH CHỮA BẰNG ĐÔNG Y. - posted by PhapLuanCong (Hội Viên)
on October , 28 2014
...Đây là bài viết của Lương Y Phạm Trọng Sơn. Lệnh Hồ Trung thấy bài viết rất hay, chi tiết, hữu dụng nên xin phép tác giả đăng trong diễn đàn YHCT. Cũng như theo mong mỏi của tác giả muốn được nhiều người biết đến và chia sẻ trên nhiều kênh thông tin khác nhau để cùng nhau vượt qua bệnh tật.Ḿnh cũng có liên hệ và mời lương y tham gia vào diễn đàn để cùng phối hợp với các thầy chữa bệnh online cho các bệnh nhân. Thầy cũng có đồng ư nhưng không biết bao lâu mới vào nữa. Sau đây ḿnh xin sao chép toàn bộ y văn không sửa chữa. Chỉ mong các bạn đang bị bệnh về thận và các bệnh liên quan đến việc mất cân bằng âm dương cùng đọc và tham khảo nhé.

Chào các bạn đang chạy thận nhân tạo.

Đọc các bài viết về các bạn trên báo chí, tôi rất xót xa cho hoàn cảnh của những bệnh nhân trong hoàn cảnh này. Những người c̣n trẻ, đầy hoài băo ước mơ giờ phải chịu cảnh bó buột với máy chạy thận , không c̣n có thể sống một cuộc đời b́nh thường như bao người khác.
Theo báo cáo của hội nghị thận nhân tạo 2009, Việt Nam hiện có khoảng 6 triệu người bị suy thận, trong đó có gần một trăm ngàn người bị nặng phải chạy thận nhân tạo. Quả là con số khủng khiếp.

Tôi yêu thích về chữa bệnh, nhất là đông y, nên miệt mài nghiên cứu về sách của Hải Thượng Lăn Ông. Năm 2000, tôi có học thêm ở Viện y học dân tộc TP HCM. Qua vài năm thực hành chữa bệnh, Tôi phát hiện ra trong sách của Hải Thượng có rất nhiều bài thuốc quư giá, có thể nói là vô giá ! V́ nó có thể chữa được những bệnh bây giờ mà người ta gọi là nan y.
Tôi nhận thấy các thầy thuốc đông y hiện tại ít biết áp dụng các nguyên lư chữa bệnh của Hải Thượng, nên chữa bệnh thường không hiệu quả, làm người bệnh quay lưng với nền y học dân tộc , mà chạy theo tây y.
Nay với ḷng không vụ lợi, chỉ muốn giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, Tôi đăng bài thuốc chữa bệnh thận tốt nhất và các bài thuốc quư giá khác được trích trong sách ¿ Hải Thượng y tông tâm lĩnh ¿ mà tôi áp dụng thành công. Tôi cũng t́m cách đăng bài trên nhiều báo điện tử để nhiều người có thể tiếp cận được. Mong những ai vô t́nh đọc được bài này hăy giới thiệu cho những người đang chạy thận nhân tạo, hoặc có thể coppy thành tờ rơi để phân phát, đó là công đức rất lớn mà các bạn đem lại cho họ.
Tôi mong muốn tài liệu này giúp đỡ trên 6 triệu người Việt Nam đang bị suy thận, có thể chữa trị lành bệnh.
Ngoài ra nó c̣n giúp cho mọi người hiểu nguyên tắc phương pháp trong việc điều trị bệnh thận cho đúng. Pḥng bệnh suy thận bằng cách thỉnh thoảng uống thuốc, giúp cũng cố thận không bị suy yếu.
T́nh trạng thức ăn rau cỏ bị nhiễm độc thuốc trừ sâu, trái cây trung quốc tẩm hóa chất bảo quản, sữa nhiễm Melamin, thức uống đóng chai , rau câu pha trộn hóa chất DHEP, lạm dụng thuốc kháng sinh của tây y¿ cũng là nguyên nhân lớn dẫn đến suy thận. Vấn đề này ta không thể tránh khỏi, nh́n vào đâu cũng thấy toàn hóa chất độc hại xung quanh. Cơ thể cứ nhiễm chất độc từ từ, tới ngày nào đó đủ nhiều sẽ bộc phát gây suy thận. V́ vậy hăy bảo vệ thận giống như pḥng cháy hơn chữa cháy.
Qua thời gian hướng dẫn ( Từ 7/2010 đến 7/2011) có người đă khỏi suy thận và nhiều người đang giảm bệnh, chứng tỏ phương pháp này có tính ưu việt đặc biệt.
Mỗi nhà nên in 1 tập tài liệu để tham khảo khi cần thiết, bởi ngoài trị suy thận, c̣n ứng dụng để điều trị nhiều bệnh nan y khác nhau như: viêm gan siêu vi B, suy tim, bại liệt, tiểu đường¿
tháng 7 năm 2011
Lương y Phạm Trọng Sơn.



Bài ¿ Bát vị¿
¿ Thục địa : 20 g , hoài sơn : 10g, bạch phục linh: 10g, sơn thù : 4g, mẫu đơn b́ : 4g, trạch tả : 4g , phụ tử : 4g, nhục quế: 4g. ( 8 Vị thuốc).
Bổ sung thêm : ngưu tất : 4g, sa tiền tử: 4g, mạch môn: 4g, ngũ vị tử(tẩm mật): 20 hột , để lợi tiểu , hạ huyết áp. ( 4 Vị thuốc).
(Nhục quế là loại vỏ dầy, ít cay, cạo bỏ lớp vỏ mỏng. Nếu uống quế mỏng , cay nhiều, dễ gây xuất huyết bao tử)

Thục địa: bổ thận âm, bổ máu . Phụ tử, Nhục quế: tính rất nóng, bổ thận dương, bổ mệnh môn hỏa. Ngưu tất, sa tiền tử: lợi tiểu. Các vị khác hổ trợ tăng tác dụng cho thuốc.
( Phụ tử có tác dụng rất mạnh, rất nóng, không kinh mạch nào trong cơ thể mà không tới được, nhưng có độc tố, chỉ được sử dụng tối đa 8gr trong 1 thang thuốc , nhưng nếu không sử dụng th́ không thể phục hồi thận dương được).

Bài này có tác dụng bổ thận âm, thận dương, và lợi tiểu, tăng bài tiết các chất độc trong cơ thể ra ngoài, lưu thông các mạch máu nuôi thận, phục hồi lại thận.(với liều lượng trên, bổ dương nhiều hơn bổ âm một chút ).
Cần gia giảm phù hợp với từng người, từng giai đoạn của bệnh:
- Nếu thận dương quá suy: Bổ mạnh thận dương bằng cách tăng nhục quế, phụ tử gấp đôi. (Tăng như vậy thuốc rất nóng, khi uống th́ từng ít một để theo dơi, khi đủ rồi th́ ngưng).
- Nếu thận âm quá suy: Bổ mạnh thận âm bằng cách tăng thục địa gấp đôi.
- Chỉ hoàn toàn bổ thận âm: bài bát vị bỏ phụ tử và nhục quế, trở thành bài lục vị.
- Nếu bí tiểu: tăng ngưu tất, sa tiền tử gấp đôi.
- Nếu tỳ vị yếu : tăng hoài sơn gấp đôi.
- Nếu huyết áp thấp: chỉ dùng bài bát vị ( 8 vị thuốc, không thêm 4 vị c̣n lại), đồng thời sắc nước nhân sâm đặc mà uống kèm. Khi sắc xong bài bát vị, thêm nước nhân sâm vào uống chung.
Nhân sâm có tính bổ khí, tính thăng, nên làm tăng huyết áp.
Kiêng kỵ: Khi người bị nóng sốt, bị cao huyết áp, nếu uống nhân sâm làm phát sốt cao hơn, gây nguy hiểm.
(Cân chính xác liều lượng 3 vị : phụ tử, nhục quế, thục địa. Nếu cân sai có thể gây nguy hiểm.)
Chú ư quan trọng:
Nếu gia giảm đúng với t́nh trạng, bệnh mau chóng khỏi, nếu sai th́ không hiệu quả, nếu nghịch lại th́ gây nguy hiểm.
Bị cao huyết áp do suy thận, nếu gia giảm đúng th́ giảm huyết áp, nếu sai th́ không thay đổi, nếu nghịch th́ huyết áp càng tăng.

Thận âm hư gây cao huyết áp, nhưng thận dương hư cũng gây cao huyết áp, hoặc các nguyên nhân khác . Do đó, không nên căn cứ vào huyết áp để xác định sự chênh lệch giữa 2 thận.


Nếu bạn chưa biết về thuốc, không nên tự ư sử dụng. Bởi v́ có tác dụng mạnh sẽ mau khỏi bệnh, nhưng nếu dùng sai gây nguy hiểm. Các bạn nên sử dụng ¿Bát vị hoàn¿ và ¿Lục vị hoàn¿ tôi giới thiệu ở dưới, sẽ an toàn hơn.

Cách sắc thuốc và uống:
Cho 5 chén nước vào nấu c̣n 1 chén, chia làm 6 phần ,uống làm 2 ngày.
Do thuốc có tác dụng rất mạnh và nóng, không nên uống nhiều một lần.
Sau khi uống, bạn sẽ thấy vùng thận sau lưng nóng lên, hoặc đau, nếu sờ vào vùng thận sau lưng sẽ thấy ấm rơ rệt, đó là dấu hiệu thuốc đang tác dụng hồi phục lại thận. Bạn sẽ đi tiểu nhiều hơn, nước tiểu rất khai và có thêm mùi thúi, đó là thận đang bài tiết các chất độc trong thận mà làm tắc nghẽn mạch máu nuôi thận. Khi các chất độc này được bài tiết ra ngoài, những mạch máu nuôi thận sẽ được phuc hồi, do đó thận sẽ tốt lại b́nh thường.

Sau khi uống vài thang, bạn cảm thấy cơ thể khỏe hơn, lúc này bạn có thể giảm chạy thận từ từ.
1 tuần c̣n 2 lần, rồi 1 lần. Bạn tiếp tục uống vài thang nữa, rồi sau đó bỏ hẳn. Trong thời gian này, bạn theo dơi kỹ xem có vấn đề ǵ không. Nếu bỏ hẳn chạy thận mà cơ thể vẫn b́nh thường, có nghĩa là bạn đă khỏi hẳn. Vậy xin chúc mừng bạn.

Một số bài thuốc cần hỗ trợ thêm:

-Tứ quân : bổ khí tỳ phế, tính nóng. Người già cả, người có cơ thể yếu đuối, ăn uống kém, bị hạ huyết áp,
Nhân sâm lát 10 gram, bạch truật (sao vàng):10 g, bạch phục linh: 5g , cam thảo : 2 g. Nghiền thành bột để uống. Dạng bột uống mỗi ngày 4g-8g.

- Tứ linh: lợi tiểu và bổ thêm khí tỳ vị . Bạch truật 10g, phục linh 10g, trư linh 10g( hoặc thay bằng sa tiền tử), trạch tả 10g. Nghiền thành bột để uống. Dạng bột uống mỗi ngày 4g- 8g. (Nếu người lạnh thêm 4 g quế mỏng. Quế mỏng lợi tiểu tốt hơn nhục quế)
Đang bị suy tim, người phù, thêm bột nhục quế và mật ong vào uống.

- Bài Lục nhất: Chữa sốt, tiểu tiện đỏ, tan sỏi thận, bàng quang. Hoạt thạch(bột talc): 6gram, cam thảo: 1gram. Tán bột uống với nước ấm. Mỗi lần 4 gram.

- Hổ phách lợi tiểu: Trị tiểu tiện nhỏ giọt. Hổ phách nghiền bột: 4gram, hành tím: 5 củ, nấu lấy nước cho bột hổ phách vào uống.

- Từ thạch hoàn: Trị cao lâm, nước tiểu dính như cao: Từ thạch (nung lửa, nhúng vào dấm 37 lần), Nhục thung dung (tẩm rượu, thái ra, sấy), Trạch tả, Hoạt thạch , 4 vị đều 40g. Tán nhuyễn, trộn với mật làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với rượu ấm (Từ Thạch Hoàn ¿ Thánh Tế Tổng Lục).

- Thuốc lợi tiểu thông lâm, trị các chứng phù, viêm đường tiết niệu, viêm thận:
+Trạch tả 10g, Xa tiền thảo 10g, Trư linh 10g, Thạch vỹ 10g, Mộc thông 6g, Bạch mao căn 15g, sắc nước uống.
+Trạch tả, Bạch phục linh, Trư linh, Xa tiền tử đều 12g, sắc nước uống. Trị viêm cầu thận cấp.
+Trạch tả, Bạch truật đều 10g, Cúc hoa 12g, sắc uống trị viêm thận mạn, váng đầu.

- Tứ vật Bổ huyết cho gan, mát gan . Thục địa 10g, đương quy 10g, bạch thược 5g, xuyên khung 3g . Nghiền thành bột, mỗi ngày 4g-8g.
Trị bệnh viêm gan siêu vi B. Bài tứ vật thêm vài loại thuốc giải độc như: pḥng phong: 4gr, tần giao:4gr.
Cách đây 3 năm tôi có trị cho một thanh niên gần 30 tuổi mắc bệnh này, người nóng da sậm, sau khi uống 5 thang th́ hết bệnh, người mát lại, da sáng lên.
Trị đi cầu táo bón ra ít máu do thiếu máu, người nóng. Bài tứ vật thêm nhục thung dung: 10gr.
Thường uống vài thang là khỏi.
Nếu uống bài tứ vật mà người mệt kém ăn th́ uống xen kẽ bài tứ quân

- Quy tỳ: Bổ máu cho cả gan, tỳ, tim, kèm theo bổ khí. Nhân sâm lát 10g, hoàng kỳ 10g, bạch truật 10g, đương quy 10g, cam thảo 4g, phục thần 10g, viễn chí 10g, táo nhân 10g, long nhăn 10g, mộc hương 4g, thêm 3 lát gừng, 3 quả táo tàu.( Nếu nghiền bột th́ bỏ long nhăn, gừng, táo tàu cho dễ nghiền)
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g hoặc sắc uống ấm.
(Táo nhân nếu sao đen trị bệnh mất ngủ , để sống trị bệnh ngủ nhiều, tùy theo mà sử dụng thích hợp)
(Nếu muốn bổ tim nhiều hơn bổ tỳ, bỏ mộc hương, thêm hạt sen: 10g )
(1 muỗng cafe thuốc = 4 gram).
Bài này trị bệnh sưng lỡ môi miệng, nhiệt miệng lâu năm rất hay, thông thường chỉ uống vài thang là khỏi.
Các bệnh ho ra máu, nôn ra máu hoặc đi cầu ra máu, uống vào đều khỏi.

- Nước gạo rang -gừng nướng . Bổ khí tỳ vị , làm ấm bao tử. Trị bệnh tiêu chảy rất nhanh, thường chỉ 1-2 lần uống là khỏi, lại đơn giản.
Gạo: 1 nắm, rang vàng đậm. Gừng : 3 lát, nướng cháy đen ngoài vỏ. Cho vào ly , chế nước sôi ngâm như pha trà.

- Quế-mật ong: Bổ tỳ dương, mệnh môn hỏa. Trị kém ăn, người lạnh, da sạm đen, suy tim. Bột nhục quế: 1 muỗng cafe, mật ong: 2 muỗng cafe. Ḥa nước ấm uống.
Vào mùa đông giá rét, hoặc những người sống vùng băng giá, nên uống bài này để giữ ấm cho cơ thể, tránh bị đột quỵ do quá lạnh, nhất là người lớn tuổi.
( Nếu uống quế mỏng dễ gây xuất huyết bao tử).

- Câu kỷ tử: Bổ tinh tủy, bổ máu, trị khô xương khớp, sáng mắt. Có tác dụng nhanh chóng. Mỗi ngày ăn sống 20 hột. Kiêng kỵ khi bị tiêu chảy.
Câu kỷ tử tính b́nh, vị chua ngọt, thận âm hoặc dương suy đều dùng được. Có tác dụng giải ure trong máu. Tăng tác dụng trong quá tŕnh phục hồi thận. Giá rẻ, khoảng 20.000đ/lạng, sử dụng 1 tháng mới hết. Các bạn nên sử dụng thêm v́ rất đơn giản nhưng hiệu quả bất ngờ.

- Sinh mạch thang: Bổ phổi. Nhân sâm: 12gr, Mạch môn: 8gr, Ngũ vị tử(tẩm mật): 40 hột. Sắc uống ấm.

- Tứ quân ¿ lợi tiểu: Bổ khí tỳ phổi, lợi tiểu .Bài tứ quân thêm các vị lợi tiểu như: Trạch tả: 4gr, mộc thông: 4gr, trư linh: 6gr.
Thêm táo tàu: 2 quả, Gừng 3 lát. Sắc uống ấm.

- Tứ quân- Tiêu đàm: Bổ khí tỳ phổi, tiêu đàm. Bài tứ quân thêm các vị tiêu đàm như: Trần b́: 5gram, bán hạ: 5gram. Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g.

- Bổ trung ích khí: Bổ tỳ phế. Hoàng kỳ(sao với mật ong): 4gr, Nhân sâm: 6gr, Bạch truật: 6gr, , Đương quy(tẩm rượu sao): 4gr, Trần b́(sao thật vàng): 2gr, Cam thảo (tẩm mật): 2gr, Sài hồ: 2gr, Thăng ma: 0,4gr.
Thêm táo tàu: 2 quả, Gừng 3 lát. Sắc uống ấm.

- Lư trung thang : Bổ tỳ dương. Nhân sâm : 12 gr, Bạch truật (sao vàng): 8 gr, Gừng khô: 4 gr, Cam thảo: 2gr. ( 4 vị thuốc)
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g.

- Phụ tử lư trung thang : Bổ mạnh tỳ dương, thận dương . Bài Lư trung thang thêm phụ tử:2gr.( 5 vị thuốc).
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g.

- Quế phụ lư trung thang: Bổ tỳ dương, thận dương, mệnh môn hỏa. Bài lư trung thang thêm nhục quế: 4gr, phụ tử: 2gr.( 6 vị thuốc).
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g.

- Điều nguyên cứu bản thang : Bổ mạnh tỳ dương, thận dương : Bạch truật(sao vàng): 40gr, Hoài sơn(sao vàng): 20gr, Thục địa(nướng):8gr, Thỏ ty tử: 16gr, Phá cố chỉ: 12gr, Nhục quế(mài ngoài): 4gr, Phụ tử: 4gr.
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g. Hoặc sắc uống ấm.

- Trợ dương phương : Bổ mạnh tỳ dương, thận dương. Trị đờm suyễn, khó thở, huyết áp cao do thận dương hư.
Bạch truật(sao vàng): 30gr, Mạch môn(sao): 10gr, Gừng nướng đen: 10gr, Ngưu tất: 8gr, Phụ tử: 3gr, Ngũ vị tử(tẩm mật): 3gr.
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g. Hoặc sắc uống ấm.

- Thanh kim đạo khí phương: Mạnh phổi, lợi tiểu, trị nôn khan, khó thở. Mạch môn(sao với gạo): 8gr, Xa tiền tử(sao qua): 4gr, Xích phục linh: 4gr, Trạch tả(tẩm muối sao): 6gr, Nhục quế(mài ngoài): 4gr, Ngưu tất: 4gr, Ngũ vị tử(tẩm mật): 20 hột, Trầm hương(mài ngoài): 2gr, Gừng sống: 3 lát.
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g. Hoặc sắc uống.

- Bát trân : Bổ khí huyết, đi vào trong. Hợp bài tứ quân và tứ vật.
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g hoặc sắc uống.

- Thập toàn đại bổ: bồi bổ khí huyết, đi ra ngoài da, ra chân tay . Hợp thang tứ quân và tứ vật, gia thêm hoàng kỳ: 10gr, nhục quế(mài ngoài): 2gr.
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g hoặc sắc uống.

- Nhị long ẩm: Bổ mạnh tinh huyết, trị kém ăn, mặt úa vàng, không ngủ, da khô, tóc rụng . Cao ban long: 20gr, long nhăn: 20gr. cho 2 chén nước nấu c̣n 1, chia 4 lần uống trong 2 ngày.

Do một số bạn hỏi về trị bệnh tiểu đường, nên tôi nêu 2 bài thuốc rất đặc sắc của Hải Thượng Lăn Ông để trị bệnh này, tôi cũng từng dùng bài này để điều trị và có kết quả khả quan. Bệnh tiểu đường thường do thận âm, tỳ âm suy, nếu nặng th́ cả thận dương, tỳ dương suy.
¿ Bồi thổ cố trung thang : bổ tỳ dương, tỳ âm. Bạch truật (sao vàng): 20gr, Thục địa(nướng): 10gr, Cam thảo(tẩm mật ong nướng): 2gr, Gừng (nướng đen): 2gr.
(Nếu thận suy th́ uống kết hợp bát vị hoàn, lục vị hoàn.)
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g, Hoặc sắc uống.

- Toàn chân nhất khí thang : bổ thận âm, thận dương, tỳ âm, tỳ dương.( Bổ âm nhiều hơn bổ dương).
Thục địa: 30gr, Bạch truật: (sao vàng hạ thổ):15gr, Mạch môn: 12gr, Ngũ vị tử(tẩm mật): 20 hột, Ngưu tất: 8gr, Phụ tử: 4gr, Nhục quế: 4gr, Đỗ trọng: 10gr.
Nếu phổi yếu thêm nhân sâm: 10gr.
Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 4g-8g, Hoặc sắc uống.

- Tiểu thừa khí: Giải độc, nhuận trường, trị ngứa do ure cao, bụng chướng, nôn, lỡ miệng, một số bệnh ung thư hệ tiêu hóa. Tính mát. Bài này quan trọng, có tác dụng thải nhiều loại độc tố trong cơ thể, giúp mau khỏi bệnh. Mỗi đợt uống 3 ngày, cách 1-2 tuần. Người không bệnh khi uống bài này giúp pḥng nhiều bệnh.
Đại hoàng: 10gr, hậu phác: 4gr, chỉ thực: 4gr. Nghiền bột, mỗi lần uống 2-4 gr, ngày 1 -2 lần. Khi đi cầu ra nhiều đàm nhớt là tốt.

- Nhị trần thang: Tiêu đàm ở phổi. Trị đàm suyễn, ung thư phổi do đàm, nước tràn dịch màng phổi, viêm phế quản, nôn.
Trần b́: 16gr, bạch phục linh: 8gr, gừng khô: 8gr, bán hạ: 8gr, cam thảo: 4gr. Nghiền bột, mỗi lần uống 4gr, ngày 1 -2 lần.

- Cấp cứu thủy: bổ tim, bổ tỳ vị, bổ mệnh môn hỏa, tính nóng. Trị suy tim, trúng gió liệt nữa người, cứng cổ gáy.
Nhục quế: 40gr, đại hồi: 40gr, gừng khô: 40gr, hoàng kỳ: 20gr. Nghiền bột, mỗi lần uống 2-4 gr, ngày 1-2 lần. Nếu quá lạnh, mỗi giờ uống 1 lần tới khi ấm người, sau đó uống giảm dần.

Các bài thuốc trên nếu nghiền bột, khi uống bạn thêm 1 muỗng cafe mật ong th́ dễ uống và tăng tác dụng của thuốc. Khi nghiền bột xong cần phơi khô, bỏ vào lọ kín, để nơi khô ráo, tránh ẩm ướt.

Toa rượu bổ của Chủ tịch Mao Trạch Đông tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh
19:8′, 19/12/ 2004 (GMT+7)
Bài thuốc này do Chủ tịch Mao Trạch Đông tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng t́nh hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Trung Quốc thắm thiết nhất. V́ vậy, bài thuốc này có một ư nghĩa lịch sử vô cùng to lớn.
Sau khi được tặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đă phổ biến và được nhiều người sử dụng đem lại hiệu quả rất tốt. Những người làm việc bằng trí óc khi dùng bài thuốc này th́ không thấy mệt mỏi, trí óc sáng suốt, minh mẫn, ăn ngon, ngủ được. C̣n những người làm việc chân tay gân cốt dẻo dai, lao động không biết mệt.
Thành phần bài thuốc:
1. Nhân sâm (nhị bông sâm) 40g ( Nhân sâm lát)
2. Long nhăn nhục 40g
3. Dâm dương hoắc 40g
4. Lăo thục địa 24g ( Thục địa)
5. Đẳng sâm 24g
6. Đương quy 24g
7. Bắc đỗ trọng (sao muối) 20g ( Đỗ trọng)
8. Hoàng tinh 20g
9. Nhục thung dung 20g
10. Hắc táo nhân 20g ( Táo nhân sao đen)
11. Bạch phục linh 15g
12. Bạch truật 16g
13. Chích cam thảo 16g ( Cam thảo tẩm mật ong)
14. Bạch thược 16g
15. Tục doạn 16g
16. Cam kỷ tử 16g ( Câu kỷ tử)
17. Ngưu tất 12g
18. Đại táo 10 quả
19. Đường phèn 300g ( Có tài liệu nói 120g)
Cách ngâm: Thuốc đổ vào thẩu ngâm với 5 lít rượu ngon, sau 7 ngày lọc lấy rượu thuốc. Xong, nấu nửa lít nước sôi, ḥa tan với đường phèn rồi đổ trộn với rượu thuốc mà dùng. C̣n nước hai th́ đổ 2 lít rượu ngon, ngâm 1 tháng sau mới dùng.
Mỗi ngày uống 3 lần, sáng 1 ly nhỏ, trưa 1 ly, tối 1 ly, uống sau khi ăn cơm và trước khi đi ngủ.
Bài thuốc này có tác dụng đại bổ khí huyết, điều ḥa tang phủ. Bổ nhất là thận, tim, thần kinh, ngăn ngừa các bệnh phong, tê thấp, sốt rét hoặc sốt rét mới khỏe. Nếu bồi dưỡng thang này, chứng sốt rét không tái lại.
. Lương y Thích Tuệ Tam (st)
(Theo báo Thừa Thiên Huế). Sưu tầm. Nguồn: http://www.baobinhdinh.com.vn/603/2004/12/17259/
Bài này có tác dụng bồi bổ tổng hợp âm dương khí huyết tinh tủy gân xương, hổ trợ rất tốt cho người bệnh. Các bạn nên sử dụng thêm bài này. Người bị huyết áp cao cần cẩn thận.
Dấu ngoặt tên vị thuốc tôi giải thích thêm cho rơ.
PTS.

¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿
TÁC DỤNG CƠ BẢN CÁC VỊ THUỐC.

- Bổ thận dương: phụ tử.
¿ Bổ mệnh môn hỏa: nhục quế.
¿ Bổ thận âm: thục địa.
¿ Bổ khí: nhân sâm, hoàng kỳ, bạch phục linh, bạch truật, hoài sơn, thỏ ty tử, phá cố chỉ¿
¿ Bổ huyết: đương quy, bạch thược, xuyên khung,¿
¿ Lợi tiểu: trạch tả, trư linh, sa tiền tử, mộc thông, hoạt thạch, hổ phách, hành củ¿
¿ Giải độc: pḥng phong, tần giao.
¿ Tiêu đờm: trần b́, bán hạ.
¿ Dẫn xuống: ngưu tất.
¿ Dẫn lên: sài hồ, thăng ma.
¿ Tán ra ngoài: quế mỏng, hành củ, gừng sống.
¿ Tính thu liễm: ngũ vị tử, gừng nướng đen, mạch môn, phục thần, hạt sen.
¿ Hành khí: trầm hương, mộc hương, gừng sống.
¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿-

Do các tiệm bán thuốc mỗi nơi gọi các tên quế khác nhau, nên tôi ghi ra đây để các bạn phân biệt cho đúng:
-Nhục quế: là loại vỏ dày ở thân cây, cạo bỏ lớp vỏ mỏng, ít cay, tác dụng đi vào trong, làm ấm bên trong cơ thể. Các bài thuốc trên chủ yếu dùng loại này. Khi sử dụng mài ngoài.( Nghĩa là nấu thuốc xong mới cho vào uống, v́ quế kỵ lửa). Hiện giờ bột nhục quế xay sẵn bán khoảng 10000đ/lạng.
-Quế chi( Bạc quế): là loại vỏ quế mỏng ở cành cây, cay nhiều, tác dụng đi ra ngoài da, ra chân tay, chủ yếu giải cảm.
-Quế tâm: Phần gỗ cây quế, vị ngọt, đi vào tim, trị các bệnh về suy tim.

Chú ư: Các bài thuốc có phụ tử mà không có thục địa kèm theo là những bài bổ dương rất mạnh, thường dùng trong cấp cứu, chỉ nên sử dụng liều lượng ít, thời gian ngắn, khi giảm bệnh th́ chuyển sang những bài khác nhẹ nhàng hơn.

Các bài thuốc này không có sẵn trên thị trường, bạn ra tiệm thuốc bắc cắt về rồi nghiền thành bột mà dùng.
Các loại thuốc trên bạn cho vào cối xay tiêu của máy sinh tố mà nghiền thành bột . Nếu bị ẩm khó nghiền, bạn cho vào ít bột năng sẽ dễ nghiền hơn.

Tôi cũng khuyên bạn nên làm sẵn vài bài thuốc hay dùng, cho vào hộp, dán nhăn , ghi tên thuốc , công dụng mỗi loại. khi cần thiết có sẵn mà dùng. Bởi v́ khi uống thuốc thận sẽ có một số trường hợp xảy ra, ta phải dùng thuốc ứng phó cho kịp thời.

Các loại thuốc trên phổ biến, rẻ tiền, mua ở tiệm thuốc bắc. Mỗi thang khoảng 15000đ- 30000đ.
Do liều lượng tôi cho nhỏ nên một số tiệm không bán, vậy bạn nhân 2-5 lần khối lượng lên mà mua.

Tuy thuốc rẻ tiền, nhưng công hiệu rất đặc biệt, Đó là do sự phối hợp các vị thuốc tài t́nh của các danh y ngày xưa.

Ghi chú:
Uống thuốc bổ thận nhiều, thận tốt hơn nhưng sẽ làm tỳ vị suy yếu, người mệt mỏi kém ăn. Khi gặp trường hợp này, bạn tạm ngưng uống thuốc bổ thận vài ngày mà thay bằng bài ¿tứ quân¿, hoặc¿Lư trung thang¿ hoặc ¿thập toàn đại bổ¿, hoặc ¿quy tỳ¿ hoặc ¿ Bồi thổ cố trung thang¿.
Tốt nhất nên uống xen kẽ thuốc thận và thuốc bổ tỳ trong ngày.

Lưu ư quan trọng :
Đối với việc chữa bệnh thận, Uống thuốc cho cân bằng hai thận âm dương là điều rất quan trọng. Nó quyết định việc chữa khỏi hay không.
Bạn cần hiểu rơ cách gia giảm để có thể tự ḿnh điều chỉnh cho thích hợp với t́nh trạng của ḿnh. Ở đây điều chỉnh chủ yếu là thục địa trong bài bát vị. Nếu thận âm suy nhiều th́ tăng thục địa, bỏ quế, bớt phụ tử. C̣n nếu thận dương suy nhiều th́ giảm thục địa.

Giải thích thêm cách trị bệnh để bạn có thể gia giảm thuốc tùy theo trường hợp của mỗi người :
Trong cơ thể , để khỏe mạnh cần có sự quân b́nh về âm dương , khí huyết. Âm là nói về thận âm, dương chỉ thận dương. Khí chỉ nguyên khí của tỳ, phế, huyết nói về máu chứa ở tim gan . Thận âm chủ về tạo máu, có tính mát. Thận dương chủ về hỏa, có tính nóng. Thận dương tàng trữ năng lượng , giống như nhà máy phát điện, để cung cấp năng lượng cho toàn bộ cơ thể, duy tŕ mọi hoạt động b́nh thường.
Khi thận âm , thận dương cân bằng, cơ thể sẽ khỏe mạnh, khi một thận bị suy yếu, cơ thể sẽ bị xáo trộn gây bệnh tật:
+Thận âm suy gây t́nh trạng thiếu máu, tăng huyết áp, người nóng, xuất huyết¿.
+Thận dương suy gây t́nh trạng suy nhược cơ thể, người lạnh, hạ huyết áp¿
(Có trường hợp cũng tăng huyết áp, nguời nóng¿)
Cách bồi bổ cho thận cũng trái ngược nhau. Thuốc bổ cho thận dương có tính rất nóng, c̣n thuốc bổ cho thận âm lại rất mát.
Khi một thận bị suy gây chênh lệch giữa hai thận , ta cần phải bổ cho thận bị suy để đạt đến sự cân bằng. Khi đă đạt đến sư cân bằng, cơ thể sẽ khỏi bệnh và hoạt động tốt trở lại. Lúc này ta cũng ngưng uống thuốc. Nếu cứ tiếp tục uống nữa, Lại gây ra t́nh trạng chênh lệch, ta lại bị những bệnh khác.
Thông thường có 2 trạng thái bệnh, 1 thận bị suy hoặc cả hai thận đều bị suy. Nếu một thận bị suy, ta chỉ cần bổ cho thận suy là đủ. Nếu cả hai thận đều bị, ta cần bổ cho cả 2 .Khi cả 2 thận bị suy, ta cần xét xem thận nào suy nhiều th́ uống thuốc bổ thận đó nhiều hơn.


C̣n nói về khí huyết, cũng cần quan tâm đặc biệt. Khí thường gọi là nguyên khí, chứa ở tỳ , phế, có công năng tiêu hóa thức ăn, duy tŕ sức mạnh của phổi, cung cấp năng lượng cho hoạt động của tim, gan. Nếu khí yếu sẽ làm hạ huyết áp, bí đường tiểu, người lạnh. C̣n huyết chứa ở tim gan, có tác dụng tuần hoàn nuôi dưỡng cơ thể. Nếu thiếu huyết sẽ làm người nóng, gây ra các bệnh về huyết.
Khí huyết trong cơ thể cũng cần đạt sự quân b́nh, nếu chênh lệnh cũng gây ra bệnh.

Khi chữa bệnh ở thận, thường sẽ làm khí huyết suy yếu, làm người mệt mỏi kém ăn, v́ vậy cần chú ư bồi bổ khí huyết cho cân bằng.
Tốt nhất vừa bổ thận vừa bổ tỳ vị. Có thể uống xen kẽ thuốc bổ tỳ vị như bài lư trung, tứ quân, quy tỳ, nước gạo rang¿

Tim phổi thuộc vùng thượng tiêu, tỳ thuộc vùng trung tiêu, gan thận thuộc vùng hạ tiêu. Chú ư bồi bổ cho ba vùng đạt sự quân b́nh.

Tóm tắc:
Âm, dương, khí , huyết như tứ trụ trong cơ thể. Tứ trụ này có vững, có quân b́nh th́ cơ thể mới mạnh khỏe. Khi 1 trụ bất kỳ bị suy yếu đều có thể gây rối loạn sự hoạt động và sẽ gây ra bệnh tật trong người. V́ vậy, Trong việc chữa bệnh bằng đông y, việc phát hiện trụ nào suy yếu để bồi bổ cho đạt sự quân b́nh là rất quan trọng, Nó quyết định quan trọng nhất trong việc trị liệu. Như Hải Thượng Lăn Ông từng nói: Người ta có hàng trăm bệnh khác nhau, chẳng qua chỉ là mất quân b́nh về âm-dương- khí -huyết, cách chữa trăm bệnh cũng như cách chữa một bệnh mà thôi.
¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿-

Hiện giờ trên thị trường có bán ¿ Bát vị hoàn¿ , ¿ Lục vị hoàn¿ của công ty dược phẩm OPC. Giá 50.000đ/hộp. Mỗi hộp có 240 viên, nhỏ như hột đậu đen.
¿ ¿Bát vị hoàn¿ bổ thận dương, tính nóng
¿ ¿Lục vị hoàn ¿ bổ thận âm, tính mát.
Các bạn nên mua 2 loại này về uống cho tiện, dễ gia giảm, khỏi cần phải sắc thuốc.
Thuốc này tốt mà lại rẻ . Được bào chế đúng với bài bát vị cổ truyền. Tôi hướng dẫn liều lượng dựa trên thuốc này.
Mỗi hộp uống khoảng 15 ngày .(Mua ở tiệm thuốc bắc hoặc tiệm thuốc tây)

Thông thường, khi chạy thận nhân tạo, thận dương suy nhiều hơn, nên các bạn chú ư uống bát vị hoàn, c̣n lục vị uống khi thấy người bị nóng. Nếu uống nhiều lục vị, người sẽ rất lạnh, bị phù người, gây tràn dịch màng phổi, hoặc phát sốt.
Bài bát vị có tác dụng bổ thận rất mạnh, chỉ cần uống vài thang là có tác dụng phục hồi thận đáng kể.


Hướng dẫn uống bát vị hoàn và lục vị hoàn.
¿ Nếu thận dương suy hơn thận âm, dùng 10 viên bát vị , ngày 2 lần.(bổ dương 7 phần, bổ âm 3 phần)
¿ Bổ 2 thận ngang nhau , dùng 10 viên bát vị + 5 viên lục vị, ngày 2 lần.
¿ Bổ thận âm nhiều hơn thận dương một chút: dùng 5 viên bát vị + 5 viên lục vị, ngày 2 lần.
¿ Nếu thận âm suy hơn thận dương nhiều, dùng 10 viên lục vị + 5 viên bát vị , ngày 2 lần.
¿ Nếu thận âm quá suy, dùng 5 hoặc 10 viên lục vị, ngày 2 lần.

Nếu uống thấy tác dụng chậm, có thể tăng liều lên.

Cần uống kèm thêm các bài : tứ quân, lư trung thang, quế phụ lư trung thang, phụ tử lư trung thang, bát trân, thập toàn đại bổ, quy tỳ, tứ linh, quế mật ong, nước gạo rang¿tùy theo t́nh trạng của mỗi người cho thích hợp.
¿ Khi người bị phù, tràn dịch màng phổi, đó là triệu chứng thận dương suy nặng, bạn chỉ uống bát vị thôi, uống 5-10 viên bát vị, ngày 2 lần , uống thêm tứ linh + quế+ mật ong để lợi tiểu, người sẽ hết.

Có thể dùng nước ấm ḥa tứ linh + quế+ mật ong để uống bát vị hoàn, lục vị hoàn.
Uống trước bữa ăn hoặc sau đều được .
Không kiêng cử về ăn uống.
Các loại thuốc tây uống cách thuốc đông y 2 tiếng .
(Bát vị hoàn có tác dụng bổ cả âm dương nhưng bổ dương 7 phần, bổ âm 3 phần)

Đối với người chạy thận nhân tạo, bí tiểu , tràn dịch màng phổi , phù người, suy tim là điều đáng sợ nhất. Nhưng hiện nay đă có bài Bát vị + Tứ linh+ quế+ mật ong là khắc tinh của nó .

¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿

DÙNG THUỐC G̀ ĐỂ UỐNG ¿BÁT VỊ HOÀN¿

1.Chiêu bằng nước muối loăng là để đem hỏa trở xuống.( Chiêu tức là dùng nước thuốc để uống bát vị hoàn dạng viên)
2.Chiêu bằng nước gạo rang(vàng đậm) để bổ thêm tạng tỳ.
3.Chiêu bằng nước lă đun sôi là không chóng không chậm.
4.Chiêu bằng rượu hâm nóng là để dẫn thuốc cho mạnh.
5.Sắc nước bài ¿Bổ trung ích khí¿ để chiêu đi, là e bài ¿Bát vị¿ đi xuống dưới quá mức mà dưới thực trên hư, thời lại đem nguyên khí lên phần nào.
6.Sắc bài ¿Lư trung thang¿ lấy nước để chiêu đi, là gặp chứng tỳ và vị lạnh quá, phải ôn trung tiêu mới dẫn được sức thuốc của bài ¿Bát vị¿.
7.Sắc bài ¿Sinh mạch thang¿ lấy nước để chiêu đi, là giúp cho tạng phế mạnh lên để sinh ra ra thận.
8.Sắc bài ¿Quy tỳ thang¿ lấy nước để chiêu đi, là để bổ cả khí huyết về hậu thiên, cũng như uống xen với bài ¿Quy tỳ¿.
9.Sắc nước sâm(sao với gạo) để chiêu đi, là để sinh cả dương khí.( Trường hợp người mệt, huyết áp hạ).
Những phép chiêu thuốc hoàn kể trên, v́ bệnh chứng cần cấp, cần phải chữa cả gốc(Thận) và ngọn(Khí huyết) nên phải mượn sức mạnh của những nước kể trên chiêu đi, để mở đường đưa thuốc của bài ¿Bát vị¿ xuống đến hạ tiêu, công dụng của thuốc nước vừa qua, thời công dụng của thuốc hoàn sẽ tới.

¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿

Cẩn thận :
+ Một vài trường hợp rất khó xác định thận nào suy hơn, do đó khi uống thuốc nếu thấy có các biểu hiện xấu, tức là đă chẩn đoán sai, các bạn phải nhanh chóng gia giảm lại thuốc. Hoặc uống với liều lượng ít để theo dơi.
+ Đang uống thuốc có biểu hiện tốt, chứng tỏ thận đang đi đến cân bằng, các bạn cứ tiếp tục uống. Nếu thấy từ từ giảm rồi chuyển qua biểu hiện xấu, tức là thận đang chuyển qua giai đoạn mất cân bằng, các bạn cũng cần gia giảm lại .
===================================

CÁCH PHÂN BIỆT THẬN DƯƠNG ¿ THẬN ÂM SUY.
Về mạch:
Xét bộ mạch xích bên phải yếu hơn bộ xích bên trái, là thận dương hư tổn .
Về h́nh :
Dương hư h́nh thể gầy, diện bộ bạc nhược hay là béo trắng mà trệ nệ.
Âm suy h́nh thể gầy đen hay là lưỡng quyền và mép thường đỏ.
Về chứng bệnh :
Dù là ở trên nóng giống nhau, nhưng ta phân biệt rằng khát mà không uống được nhiều là dương suy, khát mà uống nhiều là âm suy.
Trên nóng dưới lạnh, trong người lạnh ngoài da nóng, đại tiện lỏng phân là dương suy.
Nóng cả người, đại tiện táo kết là âm suy.
¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿

Chúc các bạn mau khỏi bệnh.
Lương Y : Phạm Trọng Sơn.

¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿¿

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ BÀI BÁT VỊ.
Trước vua Vũ Đế nhà Hán bên Trung Hoa cầu làm thần tiên, uống nhiều thuốc đan sa, rồi phát sốt khát nước nhiều, tiểu tiện nhiều. Ông Trương Trọng Cảnh ( tên hiệu là Tràng Sa) chế ra phương thuốc này để chữa cho nhà vua được khỏe.
Bài này để chữa chứng hỏa mệnh môn suy yếu, tướng hỏa ở hậu thận bên phải không đầy đủ, nên không sinh được tỳ , đến nổi tỳ vị yếu mà lạnh, người gầy, khí kém, không thiết ăn uống, đại tiện lỏng, rún và bụng hay đau, đêm hay đi tiểu tiện, hỏa kém đờm nhiều.
Sách Tinh yếu có nói ¿ Bài bát vị này, uống lâu thời người mạnh mà sinh con trai¿. Ông Trọng cảnh có nói : ¿ người khí hư yếu mà có đờm uống bài bát vị để bổ thời trục được đờm, Chữa chứng nước dềnh lên thành đờm thời bài bát vị này là thánh dược¿
Các chứng bệnh phong, bệnh lao, cổ chướng, chứng cách , uống bài bát vị đều có thể khỏi.
Nếu bỏ phụ tử, quế trong bài bát vị, sẽ thành bài lục vị, bổ thận âm.
Bài lục vị chữa chứng tạng can ,tạng thận không đầy đủ, chân âm suy kém, tinh khô huyết kiệt, đau lưng mỏi chân,di tinh, tiện huyết, khát nhiều đi đái nhiều( tiểu đường), thổ huyết, răng lung lay, chữa chứng phát sốt của trẻ em, gót chân đau, lưỡi khô hay đau¿
Hải Thượng rất chú trọng 2 bài bát vị và lục vị.Ông thường nói 2 bài này là thánh dược, có công năng xoay chuyển t́nh thế. Ông thường xuyên dùng cho các bệnh nhân bệnh rất nặng, hiểm nghèo. Hễ dùng đến là có công hiệu tức thời. Ông nói, bệnh nhẹ th́ chữa về khí huyết, bệnh nặng th́ chữa về âm dương. Bệnh nặng mà chữa về khí huyết th́ không có tác dụng. Ông nói âm dương là gốc của cơ thể, mọi bệnh đều có liên quan đến âm dương.
Tuổi thọ hay chết yểu đều nằm ở âm dương.
Trích ¿ Hải Thượng y Tông Tâm lĩnh ¿
===========================================
Một số bệnh nan y được Hải Thượng Lăn ông chữa trị
(Ghi trong bộ ¿ Hải Thượng Y tôn tâm lĩnh¿)

1- Chứng bán thân bất toại.
Một vị quan Tướng quốc họ Lư, v́ dẹp giặc trải nhiều phong sương, thành bệnh cánh tay bên trái ngay ra mà đau, không với được lên đầu và sau lưng. các thầy thuốc đă dùng thuốc khu phong mà không công hiệu. Bệnh nhân đại tiện ra như viên đạn. Bộ mạch đại mà tŕ, hoăn, không có thần.Thế là khí ở trong hư yếu đă lâu, khí huyết không chu lưu đến chân tay mới thành ra chứng khô nửa người như kể ở trên.
Tôi cho uống bài Bát vị thêm ngưu tất, đỗ trọng. Mỗi lần uống 4 chỉ ( 1 chỉ = 1 đồng cân = 4 gram) với nước muối loăng, mà ăn cơm đă lâu, thời dùng bài quy tỳ thêm ít quế chi (quế vỏ mỏng)và quế tâm(phần gỗ cây quế), rồi khí huyết sung túc mà mọi chứng khỏi hẳn.

2- Chứng chiêm bao lạ.
Tước vương Uyển B́nh gặp chứng nằm chiêm bao mang đồ nặng nhọc, mà tỉnh ra vẫn thấy mệt. Khi ngủ lại chiêm bao như trước. Như thế một đêm đến mấy mươi lần.. Thầy thuốc đă dùng thuốc bổ tâm an thần nhưng không có công hiệu.
Người ngủ thời tâm thần tàng nạp về thận. Đó là thủy hỏa gặp nhau, âm dương làm xong công việc. Nay âm tạng tâm không đầy đủ, chỉ có hỏa bốc lên mà không tương giao với tạng thận, khí của tạng thận đă yếu, không đem lên để hợp với âm của tạng tâm, mà thiếu chức vụ bế tàng lại.
Tôi nghĩ như vậy mới dùng bài bát vị hoàn thêm ngũ vị, ngưu tất và lấy đăng tâm(bấc đèn) với hạt sen sắc lấy nước để uống thuốc thời bệnh nhân được yên.

3- Chứng đi tả về sáng sớm.(Thần tả)
Ông Kim Thiệu phải chứng đi cầu về sáng sớm. Mạch thời 2 bộ thốn, bộ quan đều nhược, trầm, và vô lực, hai bộ xích lại rất trầm. Tôi cho uống bài bát vị bỏ mẫu đơn, trạch tả, thêm phá cố chỉ, ngũ vị tử, thỏ ty tử làm thuốc hoàn. Sáng và chiều uống 4 chỉ (20gram) thời bệnh khỏi, mà nữa năm sau sanh được con trai. Cho nên sách ¿ Tinh yếu¿ có nói: ¿ Uống bài bát vị thời người mạnh và nhiều con trai¿.

4- Chứng sốt rét.
Một người tú tài mắc phải chứng sốt rét. Lúc sốt thời lợm ḷng đầy bụng, các thầy thuốc cho là v́ đàm v́ ăn mà dùng những vị thuốc cay và nóng, Nhưng không biết vị tú tài ấy vốn có chứng lục huyết, nên uống như thế thời huyết ra nhiều quá mà bất tỉnh nhân sự, mồ hôi lạnh mà đông như cúc áo, bốn chân tay cũng lạnh, mạch tỳ vị sắp tuyệt. Tôi mới cho uống hơn một lạng sâm(40gram), dù có tỉnh ra nhưng phát nấc không ngừng. Tôi mới dùng thuốc ôn bổ, rồi cho uống bát vị hoàn, xen với bài thập toàn đại bổ mà khỏi hẳn.

5- Chứng đi đái ra huyết.
Người họ Lư đă 60 tuổi, phải chứng đái rắt đă 2 năm, có lúc đi dễ mà vội vàng, có lúc một giọt cũng không đi được mà bụng dưới đau như cắt ra, nước tiểu thời như mỡ hay ra huyết tím. Tôi xét mạch thời 2 bộ thốn hồng và đại, các bộ khác đều vô lực mà mạch tạng can tạng thận tệ hơn.Thế là tạng can để vợi đi, tạng thận để vít lại đều không giữ được chức vụ.
Tôi mới cho uống bài bát vị, thêm mạch môn, thăng ma, hồng hoa và uống thêm nước sâm cho thanh khí thăng lên, trọc khí giáng xuống, ứ huyết tản đi, thời bệnh nhân đỡ dần. Sau tôi sắc bài sinh mạch để uống bát vị hoàn mà quá trưa uống bài quy tỳ gia giảm, thời bệnh nhân khỏi hẳn.

6- Cầu tự.
Một người muộn có con. Mạch bộ xích bên phải vô lực, thế là thận dương kém, mạch bộ xích bên trái không trầm không thạch, thế là thận âm cũng kém. Tôi mới dùng bài bát vị hoàn cho uống. Nhưng lại xét rằng, nếu huyết kém th́ không sinh được tinh, mà tạng tâm chủ về huyết,( người không có con là bởi tạng tâm, người bạc tóc là bởi tạng thận), nên việc cầu tự không những phải bổ tạng thận mà c̣n phải bổ tạng tâm.
V́ lẽ đó, mà tôi c̣n làm thuốc hoàn như sau để cho bệnh nhân uống:
-Hoàng kỳ : 160gram.
-Đương quy: 120gram.
-Táo nhân: 120 gram.
-Thục địa: 240gram.
-Bạch truật : 160gram.
-Viễn chí : 80gram.
-Mạch môn : 120gram.
-Bạch thược: 80gram.
-Đỗ trọng: 120gram.
-Tục đoạn: 120gram.
-Ngưu tất : 120gram.
Trước hết lấy 1,2 kg hạt sen bỏ lơi và màng ở ngoài rồi sắc lấy nước bỏ bă, xong đem những vị thuốc kể trên cho vào nước ấy đun thành cao rồi cho vào những vị thuốc đă tán bột kê sau đây:
-Nhân sâm: 200gram.
-Phục linh: 120gram.
-Phục thần: 120gram.
Sau đó, làm thành viên, mỗi viên nặng 16gram, lúc đi ngủ uống 1 viên với nước ấm, uống xen với bát vị hoàn. Như thế thời bệnh nhân được khỏi mà sau sinh con trai.

7- Chứng thạch thư.( Nhọt rắn như đá).(Theo mô tả tôi thấy giống bệnh ung thư má).
Người già họ Triệu đă 70 tuổi, má bên trái sưng mà rắn, xuống đến cổ sau tai, một miếng rắn ấy không nóng không đỏ, khoảng hơn 2 tháng đă uống nhiều thuốc giải độc mà không có công hiệu, rồi trong miệng khạc ra mủ, răng cắn lại không muốn há ra, ăn ít, tinh thần kém, mạch thời hồng và đại mà không hư. Thế là tinh huyết kém lắm, âm hàn tụ lại mà sách gọi là chứng ¿thạch thư¿.
Chứng ấy nếu không uống thuốc cho ấm lên thời không giải đi được, rồi thủng má xuyên đến cổ họng mà chết.
Tôi dùng quế tán bột ḥa với mỡ lợn và nghiền thêm hành củ để đắp đầy vào chỗ có khối u. Trong dùng bài sinh mạch để uống bát vị hoàn. Ăn cơm đă lâu, thời sắc những vị nhân sâm,hoàng kỳ, đương quy, bạch truật, bạch thược, phục linh, quế, gai bồ kết, kim ngân hoa lấy nước uống. Chỉ trong 5 hôm thời nhọt ấy nóng lên mà mềm ra, sưng cao lên và đă đỡ đau, bệnh nhân ăn được dễ chịu. Không đầy 2 tuần mà khỏi.
Thế mới biết các chứng bệnh đều bởi khí, huyết, âm, dương. Mà chứng ung thư cũng phải nhờ khí huyết âm dương mới có thể tiêu đi hay vỡ đi được.

8- Chứng thổ đàm.
Một người tráng niên v́ khi làm quan không được vừa ư mà uất ức thành đàm, tức như ¿Nội kinh¿ đă nói:¿Người trước quư sau hèn gọi là chứng thoát danh.¿. Chứng ấy khí huyết tiêu dần, tinh thần không mở mang được. Sáu bộ mạch huyền và tế sắc.. Ăn uống vào dạ dày thời hóa ra đàm phải thổ hết mới nằm yên được. Tân dịch ráo ở trong, cơ thể gầy dần, sợ rét, biếng ăn. Khí kém đi mà huyết không vận hành được ở kinh lạc mà không quang nhuận được ở b́ phu. Khí kém ở ngoài nhiều thời sợ rét, khí ở trung châu yếu thời tạng tỳ không vận hóa được mà kém ăn.
Tân dịch đă ngưng lại mà thành đàm. Đàm càng nhiều thời tân dịch càng kiệt.
Tôi mới cho uống nhân sâm, đương quy, bạch truật, mạch môn, ngũ vị tử, trích thảo, quế chi(quế mỏng), ma hoàng, bạch thược, thêm gừng sống táo tàu sắc uống. Chỉ 2 chén là mạch đă có thần mà đàm nhẹ.
Tôi cho uống tiếp bài thập toàn đại bổ vào lúc đói, mà quá trưa cho uống bài quy tỳ hay bài dưỡng vinh gia giảm để điều bổ tâm tỳ khí huyết mà bệnh ấy được khỏi hẳn.

9- Chứng tiểu tiện bế.
Cháu gái ông già họ Vương mới 13 tuổi bị bệnh không đi đái được. Ông ngoại cho uống bài ¿ Đạo xích¿, lúc đầu có công hiệu nhưng sau vít hẳn lại. Về mạch thời 6 bộ hồng và xác, ấn tay lâu không có thần. Tôi cho là thiếu chân âm(thận âm suy), mới cho uống bài bát vị, tăng thục địa, thêm mạch môn, ngũ vị tử, uống 2 chén thời đỡ, uống thêm mấy chén nữa là khỏi.
Sau hơn một tháng, bệnh cũ tái phát, thêm chứng ngày đêm đau bụng, đầy và buồn, không ăn không ngủ, mồ hôi nhiều mà kinh sợ, khí lực mệt quá, nếu chỉ bổ thận âm mà không bổ khí để vận hành th́ không thể được.
Tôi nghĩ như vậy mới cho uống 2 thang như lần trước, quả nhiên bụng trên bụng dưới đầy buồn thêm lên. Tôi mới dùng 40gram nhân sâm, 12gram phụ tử sắc đặc cho uống ấm, một chốc từ ngực đến bụng dưới có tiếng sôi, rồi tiểu tiện đi luôn mấy lần rồi khỏi hẳn.

10- Chứng đái rắt.
Một thiếu niên đă lao tâm lại sắc dục quá độ, rồi thành chứng đái rắt mà rỉ ra, bụng dưới vừa đầy vừa đau, mạch thời 2 bộ thốn trầm vi, bộ quan bên trái yếu, bộ quan bên phải hơi hoạt và sắc, 2 bộ xích thời huyền. Thế là khí tạng tâm tạng phế không đầy đủ mà hăm xuống tạng can tạng thận. Khí của tạng thận cũng không đầy đủ . Một bên không vợi đi được, một bên không giữ lại được. Khí ở trong đă yếu thời khí trong sạch không thăng lên, mà trung châu uất trệ nung nấu thành ra thấp nhiệt, thấm vào bàng quang mới thành ra đái rắt, đại tiện và tiểu tiện đau dắt dây như người có chứng chưng hà.
V́ thế, buổi sáng tôi cho uống bài bát vị hợp với bài nhị diên, là những vị: thục địa, sơn thù, mẫu đơn, trạch tả, hoài sơn, phụ tử, phục linh, hoàng bá và đăng tâm với 20 hạt sen.
Giữa trưa sau lúc ăn cơm, tôi cho uống bài bổ trung ích khí bỏ trần b́, sài hồ, thêm hoàng cầm, pḥng phong. Sau khi uống nước thuốc cuối cùng của bài bổ trung, tôi bảo móc vào họng cho nôn ra, là để khiếu ở trên đă thông thời khiếu ở dưới cũng thông, quả nhiên công hiệu thấy ngay.

11- Chứng bĩ khối. (Khối u lớn, cứng ở trong bụng).
Đứa trẻ họ Hà 9 tuổi, bụng đầy chướng có ḥn khối, người gầy mà mệt, tai ra mủ, mắt đỏ, chân răng chảy máu và thối lỡ, ho đờm đoản khí, không ngủ được, không ăn được mà chân đau. Về mạch có lúc huyền hồng mà có lực, có lúc huyền mà vô lực. Thế là uống nhiều thuốc tiêu tích mà âm dương đă kiệt, mạch như vậy là ở ngoài bồng lên ở trong không có ǵ.
Ta nên biết chứng này bởi khí ở trong không vận hóa được, đến nổi đàm, thức ăn và khí tụ lại mà không tản đi, chứ không phải là có sắt đá ǵ ở trong bụng.
Nếu ta đem vị thuốc mạnh để tiêu đi thời chỉ hại đến nguyên khí, v́ thuốc ǵ cũng phải nhờ khí ở trung châu để vận hóa. Khi khí huyết suy yếu dù uống ba đậu, đại hoàng đến hàng cân cũng không ích ǵ.
V́ thế tôi đem bài ¿ Kim quỹ thần khí¿(Bát vị gia thêm ngưu tất, sa tiền tử) làm thang sắc uống. Chỉ uống mấy chén là đầy chướng nhẹ đi. Rồi tôi sắc thêm nhân sâm hợp với thuốc mà uống.
Sau đó, mỗi ngày về buổi sáng sắc bài sinh mạch để uống bát vị hoàn, buổi chiều lại uống bài kể trên, chỉ trong 2 tháng là ḥn khối tiêu hết.

12- Chứng đau ngang lưng.( Yêu thống)
Hai quả thận bám vào xương sống, nên chứng này đều bởi tạng thận hư yếu. Âm ở trong tạng thận suy kém là hại về tinh huyết th́ bổ âm,. Dương ở trong tạng thận suy kém là ở trong hàn th́ nên bổ hỏa cho tạng thận, đều dùng thêm thuốc bổ tinh huyết. Có người đau lưng không cúi xuống và không đứng ngay lên được, th́ uống bài¿ Gia truyền bổ thận¿ là công hiệu ngay.. Bài thuốc như sau:
¿ Thục địa: 40gr.
¿ Đỗ trọng: 12gr.
¿ Phá cố chỉ (sao vàng): 8gr.
¿ Ngũ vị tử: 40 hột.
¿ Hồ đào nhục: 12gr.
Đó là chữa chứng thận suy yếu mà gặp phong hàn.
Lại có chứng khí trệ mà đau lưng, hay là v́ phong hàn, hoặc v́ đội nặng quá sức, hoặc v́ đi xa cố sức, ngồi lâu, làm lâu, th́ phải tán hàn hành trệ như bài ¿Bổ trung ích khí¿, thêm những vị hợp với bệnh, v́ phong thêm quế, v́ hàn thêm phụ tử, v́ trệ bội thăng ma.

13- Bệnh về tai.
Tạng thận khai khiếu ra tai, cho nên tai điếc, tai ù, tai ngứa đều bởi tạng thận hư yếu. Vậy ta xét, nếu âm của tạng thận suy th́ bổ thận âm, dương của tạng thận suy th́ bổ thận dương, mà đều thêm ngũ vị tử, ngưu tất để liễm xuống.
Nếu v́ phong v́ hỏa, mà trong tai đau lắm, hay là tai có mủ hoặc tai sưng lên, đều dùng thuốc trừ phong thanh hỏa. Nếu không công hiệu thời dùng bài lục vị thêm tri mẫu, hoàng bá, ngũ vị tử, ngưu tất, lại đem xác rắn( vỏ xác rắn lột da) đốt thành than nhưng đừng để cháy quá, rồi tán bột thổi vào trong tai.

14- Chứng đái rắt.
Chứng này phân ra 5 thứ là: đi ra sỏi (sa lâm), đi đái ra huyết (huyết lâm), đi đái ra như mủ (cao lâm), đi đái như khí (khí lâm), c̣n về khi nhọc mệt mà đi đái luôn ( lao lâm).
Chứng ấy tiểu tiện muốn đi luôn, nhưng lại không đi được mà rỉ ra đầm đ́a mà lâu ngày vít lại, đau khổ muốn chết.
Bệnh nhân chưa suy yếu lắm, nên chữa theo phép người xưa. Nếu hư yếu lắm, hay là tuổi già tinh kiệt, th́ chỉ có bài ¿ Kim quỹ thận khí hoàn¿ là thánh dược. ( Bài Bát vị thêm ngưu tất, sa tiền tử).

15- Chứng tiểu tiện không thông.

Chứng này v́ hàn nhiều mà nhiệt th́ ít, nước tiểu từ tiểu tràng (ruột non) thấm vào bàng quang, muốn cho thông lợi dùng bài tứ linh để thấm mà trong bài ấy có vị nhục quế là thuốc ôn để đem đi.
Chứng này v́ nhiệt th́ dùng thuốc cho mát đi, v́ hàn th́ dùng thuốc cho ấm, nhưng đều phải có vị thuốc để hành khí. Nếu nguyên khí hư yếu lắm th́ dùng bài bát vị thêm mạch môn, ngũ vị tử, ngưu tất, sa tiền tử để đem khí xấu trở xuống.16- Chứng đi đái nhiều hay mà đái mà không biết.(Đái dầm).
Nội kinh nói: ¿ Tạng phế chủ về tiết độ(đi tiểu), tức là đẩy nước xuống bàng quang, nhưng c̣n phải nhờ khí nóng của hạ tiêu, là v́ tạng thận giữ về việc chứa lại, mà khai khiếu ra đại tiện¿. Cho nên đi đái nhiều phải trách cứ tạng thận, đi đái mà không biết phải trách cứ tạng tâm, chỉ có bài bát vị thêm nhiều vị ích trí, công hiệu hơn vị phúc bồn tử.
17. Chứng bạch trọc.( Đi tiểu trắng như nước gạo).
Chứng này phần nhiều v́ thấp nhiệt, hiện chứng đi đái luôn mà trắng như nước gạo. Bệnh c̣n nhẹ th́ chọn dùng một trong những bài tứ linh, ngũ linh ( tứ linh thêm nhục quế), hay lục nhất hoàn. C̣n bệnh nặng dùng bài lục vị thêm sa tiền, ngưu tất, hay là bài kim quỹ thận khí ( bát vị thêm ngưu tất, sa tiền tử).

18- Chứng di tinh, mộng tinh, hoạt tinh.

Chứng này nếu là người khỏe hay là v́ nghĩ đến sắc dục mà đến đêm di tinh th́ không phải chữa.
Nếu chiêm bao giao hợp với đàn bà mà di tinh, bệnh nhân người lại yếu thời phải chữa về tạng tâm, tạng thận và tạng can. V́ tạng tâm yếu cho nên chiêm bao, tạng can chủ vợi ra, tạng thận chủ giữ lại. Nay tạng can mạnh quá mà tạng thận lại yếu, chỉ vợi ra mà không giữ lại.
Phép chữa, cần phải yên tinh thần cho tạng tâm, dẹp tạng can. giúp tạng thận.
Nhưng ¿Mộng¿ mà ¿di tinh¿ là nhẹ, có người không chiêm bao mà tự di tinh , thời gọi là hoạt tinh hay thoát tinh, như vậy thời hư yếu hơn.
Phép chữa, chỉ có bài bát vị thêm phá cố chỉ và bài quy tỳ bỏ mộc hương, thêm ngũ vị tử. Hai bài uống xen với nhau mới được công hiệu.
Lại chữa chứng này c̣n để ư cho thần kinh được yên tĩnh, v́ dây thần kinh và gân là một, mà ngọc hành (ḥn dái) là gân cái ( tâm gân). Không hiểu lẽ ấy mà cứ dùng thuốc để vít lại th́ có khi càng vít mà bệnh càng tăng lên.
19- Chứng tiêu khát .( Bệnh tiểu đường)
Chứng này khát nhiều mà đi đái rất nhiều. Là một trong 3 chứng tam tiêu. Nguyên nhân bởi hỏa làm tiêu háo chân âm. Nhưng là thực hỏa thời nên vợi nhẹ đi, c̣n hỏa kém mà bốc lên gọi là hư hỏa thời lại phải bổ. Chứng này bệnh nặng có người uống nước 1 phần đi đái 2 phần.
Nếu là thận âm suy mà hỏa bốc lên thời uống bài lục vị. Nếu chân hỏa kém mà hỏa bốc lên thời uống bài bát vị thêm sữa người, cao ban long, cao thục địa, cao ngũ vị tử.
C̣n tiếp¿

Một số kinh nghiệm trong điều trị suy thận măn.

Qua thời gian theo dơi sự phục hồi thận của nhiều bạn, tôi có rút ra được một số kinh nghiệm , tôi truyền đạt lại để các bạn nắm nhằm áp dụng cho mau khỏi:

1- Cần bổ tỳ vị: nhiều bạn chỉ lo uống bát vị hoàn, lục vị hoàn để phục hồi thận mà không chú ư đến bổ tỳ vị, đến nổi tỳ vị ngày càng suy yếu. Khi tỳ vị yếu cũng gây nhiều biến chứng nguy hiểm như suy thận. Có thể dẫn đến suy nhược cơ thể, ăn không được, chân tay mỏi mệt, mất sức, có trường hợp dẫn đến tăng cao huyết áp mà uống thuốc tây cũng không hạ được, hoặc có thể gây hạ huyết áp khiến t́nh trạng nguy hiểm. Do đó các bạn cần uống thuốc bổ tỳ vị xen kẽ trong ngày song song với thuốc bổ thận. Tôi theo dơi thấy bạn nào uống thuốc bổ tỳ vị th́ sự đào thải creatinin và ure nhanh hơn là chỉ uống thuốc bổ thận. Các bài thuốc bổ tỳ vị có tác dụng mạnh là bài ¿ phụ tử lư trung thang¿ và bài ¿ Quế phụ lư trung thang¿.

2- Các bài thuốc có tính nóng giúp đào thải nhanh creatinin và ure: các bài thuốc có tính nóng giúp đào thải nhanh creatinin và ure như bài ¿ phụ tử lư trung thang¿, bài¿ Quế phụ lư trung thang¿, bài ¿bát vị¿, bài ¿Nhục quế và mật ong¿. Ngược lại các bài thuốc bổ âm, có tính mát lại làm tăng creatinin và ure như bài ¿lục vị¿, bài ¿ tứ vật¿.

3- Cần bổ tỳ vị trước, sau đó mới bổ thận: Một số bạn tỳ vị suy yếu hơn thận, do đó lại cần bổ tỳ vị trước. Khi tỳ vị đă mạnh mới bổ xen kẽ với thận. Như vậy cơ thể mới ổn.

4- Cần uống bài bát vị rất mạnh: một số bạn người rất lạnh, lạnh tới trong xương, như vậy là cả tỳ vị, mệnh môn hỏa, thận dương đang rất suy. Nếu uống ¿bát vị hoàn¿ của công ty OPC sẽ không đủ sức (Loại này chỉ có tác dụng bổ thận dương trung b́nh, lượng phụ tử và nhục quế là 4gr, lượng thục địa là 20gr), làm bệnh trầm trọng hơn, hoặc có bạn uống rất lâu hàng tháng mà người không nóng nổi, hoặc càng uống càng thấy lạnh. Như vậy bạn phải làm bài bát vị rất mạnh như tôi hướng dẫn đầu trang. Tức là tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba lượng phụ tử và nhục quế th́ mới có khả năng phụ hồi thận dương được. Ngoài ra c̣n phải uống cả ¿nhục quế và mật ong¿ và bài ¿phụ tử lư trung thang¿ thêm mới có kết quả tốt.
 


<< Trả Lời >>

Nội Quy | Góp Ý | © 2009 - 2019 yhoccotruyen.org