Trang Chính

  Dược Vị

  Toa Thuốc

  Diễn Đàn

  Đăng Nhập

  Đăng Ký

Diễn đàn >> Kiến Thức YHCT >> HUYẾT CHỨNG LUẬN

<< Đăng Chủ Đề Mới >>
HUYẾT CHỨNG LUẬN - posted by KHANG TƯỜNG (Hội Viên)
on May , 12 2015
KT kính chào các Thầy và các bạn trên diễn đàn!
Trong Đông y Hán Nôm là một tài sản quư báu của bao thế hệ Thầy thuốc YHCT từ xưa đến nay.

Để thuận tiện cho việc học tập và nghiên cứu chuyên sâu Y học cổ truyền, KT mạo muội gởi đến diễn đàn một số tư liệu quư về Đông y với nguyên bản Hán văn, được trích dịch một phần hoặc toàn bộ mà KT sưu tầm.

Rất mong được Quư Thầy và các bạn yêu mến Đông y ủng hộ, đóng góp ư kiến.

Chân thành cảm ơn.

Nguyên văn :

血證論-卷一

陰陽水火氣血論

人之一身,不外陰陽,而陰陽二字,即是水火,水火二字,即是氣血,水即化氣,火即化血,何以言水即化氣哉,氣著於物,復還為水,是明驗也,蓋人身之氣,生於臍下丹田氣海之中,臍下者腎,與膀胱水所歸宿之地也,此水不自化為氣,又賴鼻間吸入天陽,從肺管引心火,下入於臍之下,蒸其水使化為氣,如易之坎卦,一陽生於水中,而為生氣之根,氣既生,則隨太陽經脈為布護於外,是為衛氣,上交於肺,是為呼吸,五臟六腑,息以相吹,止此一氣而已,然氣生於水,即能化水,水化於氣,亦能病氣,氣之所至,水亦無不至焉,故太陽之氣達於皮毛則為汗,氣挾水陰而行於外者也,太陽之氣,上輸於肺,膀胱賢中之水陰,即隨氣升騰,而為津液,是氣載水陰而行於上者也,氣化於下,則水道通而為溺,是氣行水亦行也,設水停不化,外則太陽之氣不達,而汗不得出,內則津液不生,痰飲交動,此病水而即病氣矣,又有肺之制節不行,氣不得降,因而癃閉滑數,以及腎中陽氣,不能鎮水,為飲為瀉,不一而足,此病氣即病水矣,總之氣與水,本屬一家,治氣即是治水,治水即是治氣,是以人參補氣,以其生於北方,水中之陽,甘寒滋潤,大生津液,津液充足,而肺金濡潤,肺主氣,其葉下垂,以納氣,得人參甘寒之陰,內具陽性,為生氣化水之良品,故氣得所補益焉,即如小柴胡,仲景自注云,上焦得通,津液得下,胃氣因和,是通津液,即是和胃氣,蓋津液足,則胃上輸肺,肺得潤養,其葉下垂,津液又隨之而下,如雨露之降,五臟戴澤,莫不順利,而濁陰全消,亢陽不作,肺之所以制節五臟者如此,設水陰不足,津液枯竭,上則痿欬,無水以濟之也,下則閉結。

Dịch nghĩa:

HUYẾT CHỨNG LUẬN(PHẦN 1)

1. LUẬN VỀ ÂM DƯƠNG THUỶ HỎẢ KHÍ HUYẾT.

Trong Thân thể chỉ có âm dương, mà âm dương tức là thuỷ hoả, thuỷ hoả tức là khí huyết, thuỷ th́ hoá khí, hoả thời hoá huyết. Tại sao nói thuỷ hoá ra khí ?. Khí bám vào vật th́ trở thành nước, đó là kinh nghiệm vậy.

V́ khí của người ta sinh ra ở Đan Điền Khí Hải ở dưới rốn, dưới rốn là nơi Thận và Bàng Quang thuỷ về ở đó, thuỷ này không tự nhiên hoá làm khí mà phải nhờ mũi hô hấp, không khí vào theo Phế quản đến Tâm hoả dưới rốn chưng thuỷ để hoá làm khí, đó là gốc sinh ra khí. Một khi khí đă được sinh ra thời theo kinh mạch thái dương để giữ ǵn bên ngoài, tức là vệ khí, giao lên Phế để làm hô hấp ngũ tạng lục phủ cũng do khí ấy thổi tới vậy.

Song khí sinh ở thuỷ, thời có thể hoá ra thuỷ, thuỷ hoá ra khí cũng hay làm bệnh cho khí, khí đến đâu th́ thuỷ cũng đến đó, cho nên khí thái dương ra bí mao th́ làm ra mồ hôi, đấy là khí đem thuỷ âm ra ngoài vậy.

Khí thái dương đi lên phế th́ thuỷ âm của Bàng Quang và Thận theo khí mà thăng lên để làm tân dịch, đấy là khí đem thuỷ âm đi lên vậy.

Khí hoá ở dưới th́ thuỷ đạo thông mà làm ra nước tiểu, đó là khí hành thời thủy cũng hành vậy.

Nếu thuỷ ngừng không hoá, bên ngoài thời khí thái dương không đạt ra nên mồ hôi không ra được, trong thời tân dịch không sinh, đàm ẩm đều động, đó là bệnh thuỷ và cũng là bệnh khí vậy.

Ngoài ra c̣n có: chế tiết của Phế không hành khí, không xuống được, nhân đó mà long bế hoạt xổ. Cũng là dương khí của Thận không trấn được thuỷ, làm ẩm làm tả. Đó là bệnh khí cũng là bệnh thuỷ vậy.

Tóm lại: Khí và Thuỷ vốn cùng một nhà, trị khí tức là trị thuỷ và ngược lại, cho nên:

-Nhân Sâm bổ khí v́ rằng cam hàn tư nhuận đại sinh tân dịch. Khi tân dịch đầy đủ th́ Phế kim nhuận nhàng, phế chủ khí, là phế rủ xuống để nạp khí, được Nhân Sâm cam hàn tâm chất trong có dương tính là vật sinh khí hoá thuỷ rất tốt, cho nên khí được bổ ích.

-Như phương Tiểu Sài Hồ, ông Trương Trọng Cảnh nói rằng: “Thượng tiêu được thông, tân dịch được xuống, vị khí nhân đó mà hoá”. Vậy th́ thông tân dịch tức là hoá vị khí, v́ tân dịch đủ th́ vị thấu lên Phế, Phế được nhuần dưỡng tân dịch lại theo vị khí mà xuống, ngũ tạng nhờ tân dịch ấy đều được thuận lợi mà trọc âm tiêu hết, can dương không lấn lên được, Phế điều tiết được ngũ tạng là như thế.

Nếu thuỷ âm không đủ, tân dịch khô kiệt, bên trên th́ Phế teo héo, khô kiệt v́ không có thuỷ để tư dưỡng Phế, dưới th́ bế kết. Là sự điều tiết không suốt xuống dưới vậy. Ngoài th́ nóng sốt, thuỷ âm không thể mềm mại da thịt vậy.

Nguyên văn :
制節不達於下也,外則蒸熱,水陰不能濡於肌膚也,凡此之證,皆以生水為治法,故清燥救肺湯,生津以補肺氣,豬苓湯,潤利以除痰氣,都氣丸,補水以益腎氣,即如發汗,所以調衛氣也,而亦戒火攻以傷水陰,故用白芍之滋陰,以啟汗原,用花粉之生津,以救汗液,即此觀之,可知滋水即是補氣,然補中益氣湯,六君子,腎氣丸,是皆補氣之方也,何以絕不滋水哉,蓋無形之水陰,生於下而濟於上,所以奉養是氣者也,此水則宜滋,有形之水質,入於口而化於下,所以傳道是氣者也,此水則宜瀉,若水質一停,則氣便阻滯,故補中湯,用陳朮以制水,六君子,用苓半以利水,賢氣丸,亦用利水之藥,以佐桂附,桂附以氣藥化水,苓澤即以利水之藥以化氣,真武湯尤以朮苓利水為主,此治水之邪,即以治氣,與滋水之陰,即以補氣者,固并行而不悖也,旦水邪不去,則水陰亦不能生,故五苓散去水邪,而即能散津止渴,並能發汗退熱,以水邪去,則水陰布故也,然水陰不滋,則水邪亦不能去,故小柴胡通達津液,而即能下調水道,總見水行則氣行,水止則氣止,能知此者,乃可與言調氣矣,何以言火即化血哉,血色,火赤之色也。

Dịch nghĩa :
Những chứng kể trên đều lấy sinh thuỷ làm phép chữa. Cho nên:
-Bài Thanh Táo cứu Phế thang sinh tân đễ bổ Phế khí,

-Bài Trư Linh nhuận lợi để trị đàm khí,

-Bài Đô Khí hoàn bổ thuỷ để ích Thận khí. Đến như phát hăn là để điều vệ khí, mà cũng răn đừng dùng hoả công để hại thuỷ âm, cho nên dùng Bạch Thược tư âm để mở nguồn mồ hôi, dùng Hoa Phấn để sinh tân để cứu hăn dịch, xem thế th́ biết rằng tư thuỷ cũng tức là bổ khí vậy.

Nhưng bài Bổ Trung Ích Khí, bài Lục Quân Tử, bài Thận Khí hoàn đều là những phương thuốc bổ khí, mà tại sao không tư thuỷ?. V́ thuỷ âm vô h́nh sinh ra ở dưới mà đè lên trên là để phụng dưỡng khí ấy, vậy th́ thuỷ này nên tư. Thuỷ chất có h́nh vào từ miệng mà hoá ra ở dưới là để truyền đạo khí ấy, thuỷ ấy thời nên tả.

Một khi thuỷ chất đ́nh lại khí bị trở trệ, cho nên:
-Bổ Trung Ích khí dùng Trần B́, Bạch Truật để chế thuỷ.

-Lục Quân Tử dùng Bán Hạ, Phục Linh để lợi thuỷ.

-Thận Khí Hoàn cũng dùng thuốc lợi thuỷ để giúp Quế Phụ, Quế Phụ là khí dược để hoá thuỷ. Linh Trạch là thuốc lợi thuỷ để hoá khí.

-Bài Chân Vũ thang cũng lấy Linh Truật lợi thuỷ làm chủ, đó là trị tà thuỷ tức là trị khí, cùng với tư thuỷ âm tức là bổ khí đều là cùng làm mà không trái nhau vậy.

Vả lại thuỷ tà nếu không lui th́ âm thuỷ cũng không sinh ra được, cho nên bài Ngũ Linh tán khứ thuỷ tà mà hay sinh tân chỉ khát, phát hăn thoái nhiệt v́ thuỷ tà lui rồi th́ thuỷ âm răi ra vậy.

Song thuỷ âm không tư th́ thuỷ tà cũng không khứ được. Cho nên phương Tiểu Sài Hồ thông đạt tân dịch mà lại hay xuống điều thuỷ đạo ở dưới.

Tóm lại:Thuỷ hành th́ khí hành.Thuỷ ngừng th́ khí ngừng.Phải biết rơ như thế th́ mới điều khí được vậy.Tại sao hoả hoá huyết?

Nguyên văn :
火者心之所主化,生血液,以濡周身,火為陽,而生血之陰,即賴陰血以養火,故火不上炎,而血液下注,內臟於肝,寄居血海,由衝任帶三脈,行達周身,以溫養肢體,男子則血之轉輸,無從覘驗,女子則血之轉輸,月事時下,血下注於血海之中,心火隨之下濟,故血盛而火不亢烈,是以男子無病,而女子受胎也,如或血虛,則肝失所藏,本旺而愈動火,心失所養,火旺而益傷血,是血病即火病矣,治法宜大補其血,歸地是也,然血由火生,補血而不清火,則火終亢而不能生血,故滋血必用清火諸藥,四物湯所以用白芍,天王補心湯,所以用二冬,歸脾湯所以用棗仁,仲景灸甘草湯,所以用二冬阿膠,皆是清水之法,至於六黃湯,四生丸,則又以大瀉火熱為主,是火化太過,反失其化,抑之即以培之,清火即是補血,又有火化不及,而血不能生者,仲景灸甘草湯,所以有桂枝,以宣心火,人參養榮湯,所以用遠志肉桂,以補心火,皆是補火生血之法,其有血寒血庳者,則用桂枝細辛艾葉乾薑等,稟受火氣之藥,以溫達之,則知治火即是治血,血與火原一家,知此乃可與言調血矣,夫水火氣血,固是對子,然亦互相維繫,故水病則累血,血病則累氣,氣分之水陰不足,則陽氣乘陰而干血,陰分之血液不足,則津液不下而病氣,故汗出過多則傷血,下後亡津液則傷血,熱結膀胱則下血,是水病而累血也,吐血欬血,必兼痰飲,血虛則精竭水結,痰凝不散,失血家往往水腫,瘀血化水,亦發水腫,是血病而兼水也,蓋在下焦,則血海膀胱,同居一地,在上焦,則肺主水道,心主血脈,又並域而居,在軀瞉外,則汗出皮毛,血循經脈,亦相倚而行,一陰一陽,互相維繁,而況運血者即是氣,守氣者即是血,氣為陽,氣盛即為火盛,血為陰,血虛即是水虛,一而二,二而一者也,人必深明此理,而後治血理氣,調陰和陽,可以左右逢源,又曰血生於心火,而下藏於肝,氣生於賢水,而上主於肺,其間運上下者,脾也,水火二藏,皆係先天,人之初胎,以先天生後天,人之既育,以後天生先天,故水火兩藏,全賴於脾,食氣入胃,脾經化汁,上奉心火,心火得之,變化而赤,是之謂血,故治血者,必治脾為主,仲景灸甘草湯,皆是此義,以及大黃下血,亦因大黃秉土之色,而大泄地道故也,地黃生血,亦因地黃秉土之潤,而大滋脾燥故也,其餘參□苎,運血統血,皆是補脾,可知治血者,必以脾為主,乃為有要,至於治氣,亦宜以脾為主,氣雖生於賢中,然食氣入胃,脾經化水,下輸於腎,腎之陽氣,乃從水中蒸騰而上,清氣升而津液四布,濁氣降而水道下行,水道下行者,猶地有江河,以流其惡也,津液上升者,猶土膏脈動,而雨露升也,故治氣者必治脾為主,六君子湯,和脾利水以調氣,真武湯,扶脾鎮水以生氣,十棗陷胸等湯,攻脾奪水以通氣,此去水邪以補氣之法也,又有水津不灌,壯火食氣,則用人參滋脾以益氣,花粉清脾以和氣,凡治氣者,亦必知以脾為主,而後有得也,李東垣治病,以氣為主,故專主脾胃,然用藥偏於剛燥,不知脾不制水固宜燥,脾不升津則宜滋,氣分不可留水邪,氣分亦不可無水津也,朱丹溪治病以血為主,故用藥偏於寒涼,不知病在火臟宜寒涼,病在土臟宜甘緩也,此論不專為失血立說,然治血者,必先知之,而後於調氣和血,無差爽云。

Dịch nghĩa :
Huyết sắc đỏ là hoả sắc vậy, hoả thời chủ ở tâm, hoá sinh ra huyết để mà nuôi cơ thể. Hoá là dương, mà sinh ra huyết là âm. Lại nhờ âm huyết để nuôi hoả, cho nên hoả không cháy lên, mà huyết chảy xuống tàng chứa ở can và gởi ở huyết hải. Do 3 mạch Xung, Nhâm, Đới đi khắp cơ thể để nuôi dưỡng chi thể.

Đàn ông th́ sự chuyển thâu của huyết không kiêm nhiệm vào đâu được, c̣n đàn bà th́ sự chuyển thâu của huyết là nguyệt kinh đúng hẹn mà xuống, huyết xuống trong huyết hải, tâm hoả cũng theo mà xuống. Cho nên huyết thịnh mà hoả không lấn dữ, cho nên đàn ông vô bệnh, c̣n đàn bà th́ thụ thai.

Nếu huyết hư th́ can không tàng huyết, can mộc vượng th́ càng động hoả, huyết hư tâm huyết mất sự nuôi dưỡng, th́ hoả lúc ấy càng hại huyết, đó là huyết bệnh tức là hoả bệnh vậy, phép chữa nên đại bổ huyết là Quy Địa vậy.

V́ huyết bởi hoả sinh ra, bổ huyết mà không thanh hoả th́ hoả lấn dữ mà không sinh ra huyết được, nếu tư thuỷ phải dùng thuốc thanh hoả,
-Bài Tứ Vật thang dùng Bạch Thược,

-Bài Thiên Vương Bổ Tâm phải dùng nhị Đông,

-Bài Quy Tỳ phải dùng Táo Nhân, bài Chích Cam Thảo phải có A Giao và Mạch Đông đều là phép thanh hoả.

Đến như bài Lục Hoàng thang, Tứ Sinh Hoàn phải lấy đại tả hoả nhiệt làm chủ, v́ hoả hoá thái quá làm mất sự sinh hoá của huyết, ném đi tức là bồi vào, thanh hoả tức là bổ huyết.

Nếu hoả hoá không kịp, không thể sinh huyết được:

-Bài Chích Cam Thảo thang phải dùng Quế Chi để tuyên hoả.

-Bài Nhân Sâm Dưỡng Vinh thang dùng Viễn Chí, Nhục Quế để bổ Tâm hoả, đều là phép bổ hoả sinh huyết.

C̣n như chứng huyết hàn, huyết ứ; dùng Quế Chi, Ngăi Diệp, Tế Tân, Can Khương là những thuốc bẫm thụ hoả khí để ôn huyết. Biết rằng trị hoả tức là trị huyết, huyết và hoả thuộc cùng một nhà, biết th́ mới nói điều huyết được vậy.

Khí huyết thuỷ hoả vốn là đối nhau, nhưng giữ ǵn cho nhau, nên bệnh thuỷ th́ liên hệ đến huyết, bệnh huyết cũng có liên hệ đến thuỷ vậy.

Thuỷ âm ở khí phận không đầy đủ th́ dương khí lấn lên âm mà xúc phạm vào huyết, huyết dịch ở âm phận không đủ th́ tân dịch không xuống, làm bệnh cho khí. Nếu hăn ra quá nhiều th́ làm mất tân dịch, mất tân dịch th́ làm hại huyết. Nhiệt kết ở Bàng Quang th́ hạ huyết, đó là thuỷ bệnh mà cập luỵ đến huyết vậy.

Thổ huyết, khái huyết tất có đàm ẩm. Huyết hư th́ tinh kiệt, thuỷ kết đàm đọng không tán, thất huyết th́ bệnh thuỷ thủng. Ứ huyết hoá thuỷ cũng phát ra thuỷ thủng, đó là huyết bệnh mà kiêm bệnh thuỷ vậy. V́ ở hạ tiêu mà huyết hải và Bàng Quang cùng ở một nơi. C̣n thượng tiêu th́ Phế chủ thuỷ đạo, Tâm chủ huyết mạch , lại cùng ở một nơi, c̣n ở ngoài có thể th́ hăn ra ở b́ mao. Huyết đi trong kinh mạch cũng nương tựa nhau mà đi, một âm một dương giữ ǵn cho nhau, huống chi vận huyết tức là khí, giữ khí tức là huyết, khí là dương, khí thịnh th́ hoả thịnh, huyết là âm, huyết hư tức là thuỷ hư, một mà hai và hai là một vậy. Ta hiễu được điều đó th́ mới trị khí huyết, điều âm và hoà dương.

Huyết sinh ra ở Tâm hoả mà xuống tràn ở Can, khí sinh ra ở Thận thuỷ mà lên chủ ở Phế, nhưng vận dụng là do Tỳ, hai tạng thuỷ hoả đều thuộc tiên thiên, người mới thụ thai th́ tiên thiên sinh hậu thiên, c̣n người đă sinh ra th́ hậu thiên sinh tiên thiên, cho nên hai tạng thuỷ hoả đều nhờ ở Tỳ. Thực khí vào Tỳ, Tỳ sinh hoá trấp đem lên Tâm hoả, Tâm hoả biến hoá thành đỏ, đó gọi là huyết. Nên trị huyết phải trị Tỳ làm chủ vậy. Bài Chích Cam Thảo đều là nghĩa ấy, cho đến Đại Hoàng hạ huyết, cũng nhân Đại Hoàng bẫm sắc của Thổ mà đại tiết địa đạo vậy. Địa hoàng sinh huyết cũng nhân Địa Hoàng bẫm tinh nhuận của Thổ mà đại tư Tỳ táo vậy.

Ngoài ra, Sâm Kỳ vận huyết, thống huyết, đều là bổ Tỳ, vậy biết rằng trị huyết phải trị Tỳ làm chủ, khí tuy sinh ở Thận trung, song thực khí vào Vị, Tỳ sinh hoá thuỷ thân xuống cho Thận, dương khí của Thận mới chưng nước ấy bốc lên, thanh khí thăng lên th́ tân dịch được răi ra khắp nơi, trọc khí đi xuống mà thuỷ đạo đái ra. Thuỷ đạo đi xuống cũng như đất có sông ng̣i đều chảy những uế vật đi, tân dịch thăng lên cũng như khí đất bốc lên làm mưa gió vậy. Nên trị khí phải trị Tỳ làm chủ vậy.

-Bài Lục Quân Tử hoà Tỳ lợi thuỷ để điều khí.

-Bài Chân Vũ thang giúp Tỳ chấn thuỷ để sinh khí,

-Bài Thập Táo, bài Hăm Hung v.v. công Tỳ đoạt thuỷ để thông khí, đó là phép khử thuỷ tà để bổ khí vậy. Phàm trị khí cũng phải lấy Tỳ làm chủ mới được.

Ông Lư Đông Viên trị bệnh lấy khí làm chủ, chuyên trị vào Tỳ Vị, song cũng dùng thuốc nghiên về cương táo, không biết rằng Tỳ không chế thuỷ th́ nên dùng Khương Táo, Tỳ không thăng tân dịch nên dùng tư nhuận, khí thuận không lên lưu thuỷ tà, khí thuận cũng không nên không có thuỷ tân.

Ông Chu Đan Khê trị bệnh lấy huyết làm chủ, nên dùng thuốc thiên về hàn lương. Không biết rằng bệnh ở hoả th́ nên hàn lương, c̣n bệnh ở thổ tạng th́ nên cam hoăn.

2. NAM NỮ DỊ ĐỒNG LUẬN

Nguyên văn :
男女異同論 (參看血經胎產門)

世謂男子主氣,女子主血,因謂男子血貴,女子血賤,並謂男子之血,與女子不同,而不知皆同也,其不同者,女子有月信,男子無月信,只此不同而已矣,夫同是血也,何以女子有月信,而男子無月信哉,蓋女子主血,血屬陰而下行,其行也,氣運之而行也,女子以血為主,未常不賴氣以運血,氣即水化,前論已詳,氣血交會之所,在臍下胞室之中,男子謂之丹田,女子謂之血室,則肝腎所司,氣與血之總會,氣生於水而化水,男子以氣為主。

Dịch nghĩa :
Đời bảo rằng nam chủ khí, nữ chủ huyết, nhân thế mà bảo rằng nam huyết th́ trọng nữ huyết th́ khinh, lại nói thêm là huyết của đàn ông khác huyết của đàn bà, nhưng không biết rằng huyết của đàn bà có nguyệt tín, đàn ông th́ không có nguyệt tín, chỉ có thế là cái khác nhau mà thôi.
Cùng là huyết mà sao nữ giới có nguyệt tín, nam giới không có nguyệt tín?. V́ lư do nữ giới chủ huyết, huyết thuộc âm mà đi xuống. Sở dĩ đi được là nhờ khí vận mà đi vậy, đàn bà con gái lấy huyết làm chủ, phải nhờ khí để vận huyết, khí tức là thuỷ hoá ra, đă nói ra ở bài trước.

Chỗ khí huyết giao hội với nhau là ở trong bào thất ở dưới rốn, con trai gọi là Đan Điền, c̣n con gái gọi là huyết thất, đều do Can và Thận giữ ǵn, đó là nơi tổng thể của khí huyết.
Khí sinh ra ở thuỷ mà hoá ra thuỷ, con trai lấy khí làm chủ.

Nguyên văn :
故血入丹田,亦從水化,而變為水,以其內為血所化,故非清水,而極穠極稠,是謂之腎精,女子之氣,亦仍能復化為水,然女子以血為主,故其氣在血室之內,皆從血化,而變為血,是謂之月信,但甚血中仍有氣化之水液,故月信亦名信水,且行經前後,均有淡色之水,是女子之血分,未嘗不借氣分之水,以引動而運行之也,知此,則知男子之精屬氣屬水,而其中未嘗無血無火,且知女子之經,屬血屬火,而其中未嘗無氣無水,是以男子精薄,則為血虛,女子經病,則為氣滯也

Dịch nghĩa :
Cho nên huyết vào Đan Điền cũng theo thuỷ hoá mà biến làm thuỷ, bởi v́ do huyết hoá ra cho nên không phải là nước trong mà rất keo đặc, đó gọi là Thận tinh.

Khí của đàn bà con gái th́ cũng hoá làm thuỷ, song đàn bà con gái lấy huyết làm chủ, cho nên khí ở trong huyết thất cũng theo huyết hoá mà biến làm huyết. Đấy gọi là nguyệt kinh, song ở trong huyết cũng có thuỷ dịch ở khí hoá ra, cho nên kinh nguyệt hay nguyệt tín cũng gọi là tín thuỷ vậy.

Vả lại, trước và sau khi hành kinh đêù có nước nhạt nhạt, vậy th́ huyết phận của người nữ cũng nhờ thuỷ của khí phận để dẫn động và vận hành vậy. Biết như thế th́ tinh của người nam thuộc khí thuộc thuỷ, mà bên trong cũng có khí có thuỷ cho nên người nam tinh loăng đó là huyết hư, người nữ bệnh kinh là do khí trệ vậy.

Nguyên văn :
問曰,男子主氣,女子主血,其中變化,誠如茲之所云矣,而女子何以必行經,男子何以不行經,答曰經血者,血之餘也,夫新生舊除,天地自然之理,故月有盈虧,海有朝汐,女子之血,除舊生新,是滿則溢,盈必虧之道,女子每月,則行經一度,蓋所以洩血之餘也,血主陰而下行,所以從下洩,而為經血也,至於男子,雖無經可驗,然亦必洩其餘,男子以氣為主,氣主陽而上行,故血餘不從下洩,而隨氣上行,循衝任脈,上繞唇頤,生為髭鬚,是髭鬚者,即所以洩血之餘也,所以女子有月信,上遂無髭鬚,男子有髭鬚,下遂無月信,所主不同,升降各異,只此分別而已矣,義出內經,非創論也.

Dịch nghĩa :
Hỏi rằng: Người nam chủ khí, người nữ chủ huyết, mà sự biến hoá ở bên trong như lời nói ấy, mà tại sao người nữ phải hành kinh, người nam tại sao lại không hành kinh?

Xin đáp rằng: Kinh do huyết thừa vậy, sinh cái mới từ bỏ cái cũ, đó là lẽ tự nhiên của trời đất. Cho nên trăng có tṛn có khuyết, biển có lên có xuống, huyết của người nữ trừ bỏ cái cũ sinh ra cái mới, đó là điều hiển nhiên, dư th́ trào ra, là đạo tṛn th́ phải khuyết vậy. Người nữ mỗi tháng hành kinh một lần là để tiết huyết thừa ra, huyết th́ chủ tâm mà đi xuống, cho nên tiết xuống dưới mà làm ra kinh huyết vậy.

Người Nam tuy không có kinh mà nghiệm được, song cũng phải tiết cái thừa đi, người nam lấy khí làm chủ, khí chủ dương mà đi lên, cho nên huyết thừa không theo dưới mà tiết xuống, nhưng theo khí mà đi lên, khi mạch Xung Nhâm quanh môi cằm mà sinh ra râu ria, vậy râu ria ấy là do tiết huyết thừa ra vậy, v́ thế người nữ có nguyệt tín mà không có râu ria, người nam có râu ria mà không có nguyệt tín vậy. Sở chủ khác nhau, sở chủ không giống nhau, lên xuống khác nhau chỉ lấy đấy để phân biệt mà thôi, nghĩa là từ Nội Kinh chứ không phải do tán luận vậy.

Nguyên văn :
世謂男女血迥不同,豈知變化之道哉,夫必明氣血水火變化運行之道,始可治氣血水火所生之病,女子要血循其常,男子亦要血循其常,若血失常道,即為血不循經,在女子雖無崩帶,亦不受胎,男子雖無吐衄,亦不榮體,至失常之至,則女子未有不崩帶,男子未有不吐衄者也,故女子血貴調經,男子亦貴調經,但男子吐衄,乃上行之血,女子崩帶,乃下行之血,不可例論耳,然使女子吐衄,則亦與男子無殊,男子下血,則亦與崩帶無異,故是書原非婦科,而於月經胎產尤為詳悉,誠欲人觸類引伸,於治血庶盡神歟。

Dịch nghĩa :
Đời bảo rằng: huyết của người nam nữ không giống như nhau th́ không biết đạo biến hoá vậy, cần phải biết sự biến hoá vận hành khí huyết thuỷ hoả, th́ mới trị đựơc bệnh của khí huyết thuỷ hoả sinh ra. Người nữ cần phải huyết tuần kinh, người nam cũng cần phải huyết tuần kinh, nếu huyết mất lối thường tức là huyết không tuần kinh. Ơ người nữ nếu không băng đới th́ cũng không thụ thai được. Ơ người nam nếu không thổ nục th́ cũng không thể khoẻ mạnh được, đến khi thất thường quá, th́ người nữ mắc băng đới, người nam mắc thổ nục. Cho nên người nữ quí điều kinh, mà người nam cũng quí điều kinh, nhưng người nam thổ nục là huyết đi lên, người nữ băng đới là huyết đi xuống vậy, hoàn toàn không giống nhau. Song người nữ thổ nục cũng không khác người nam, người nam hạ huyết cũng không khác băng đới. Cho nên sách này tuy không phải là phụ khoa, mà những chứng nguyệt kinh thai sản nói rơ ràng đầy đủ, là muốn cho người đời thấy bệnh này mà hiễu bệnh khác, đễ trị huyết chứng càng thần hiệu vậy.

Nguyên văn :
又曰,女子胞中之血,每月一換,除舊生新,舊血即是瘀血,此血不去,便阻化機,凡為醫者,皆知破血通經矣,獨於男女吐执之證,便不知去瘀生新之法,抑思瘀血不行,則新血斷無生理,觀月信之叉舊生新,可以知之,即瘡科治潰,亦必先化腐而後生肌,腐肉不化,則新血亦斷無生理,且如有膿管者,必爛開腐肉,取去膿管而後止,治失血者,不去瘀而求補血,何異治瘡者,不化腐而求生肌哉,然又非去瘀是一事,生新另是一事也,蓋瘀血去則新血巳生,新血生而瘀血自去,其間初無間隔,即如月信下行,是瘀去也,此時新血,已萌動於血海之中,故受孕焉,非月信巳下多時,然後另生新血也,知此,則知以去瘀為生新之法,並知以生新為去瘀之法.

Dịch nghĩa :
Lại nói thêm là: người nữ huyết ở bào trung, mỗi tháng thay đổi một lần, trừ cái cũ sinh cái mới, huyết trừ là huyết ứ, huyết này không tống khứ đi th́ trở ngại cho chuyển hoá cơ thể sinh huyết.

Phàm làm thầy thuốc phải thông hiễu phá huyết thông kinh, chỉ riêng một chứng thổ nục của trai gái, không biết hoá ứ sinh tân, không nghĩ rằng huyết ứ, không tống khứ đi, th́ tân huyết không thể sinh ra được, xem nguyệt tín phá cựu sinh tân th́ có thể biết vậy.

Đến như sang khoa trị mụn nhọt th́ trước cũng phải phá hủ (vỡ mủ), sau đó mới sinh cơ, thịt thối không hoá đi th́ thịt mới không thể nào sinh ra được, nếu như có ng̣i mủ th́ cần phải mở rộng thịt nát ra, bứng lấy ng̣i mủ đi, th́ mới khỏi được.

Trị chứng huyết nếu không khứ ứ mà bổ huyết th́ khác ǵ người trị sang lở không thể hoá hủ mà cần sinh cơ vậy. Song không phải rằng khử ứ là một việc sinh tân lại là một việc khác, v́ ứ huyết khứ đi th́ tân huyết đă sinh ra, tân huyết sinh ra th́ ứ huyết tự khử mà không gián đoạn vậy. Như nguyệt tín đi xuống là ứ huyết khứ đi vậy, bây giờ tân huyết đă mạnh, động trong huyết hải cho nên là thời gian thai nghén vậy. Không phải nguyệt tín đă hạ xuống rồi th́ sau mới có sinh tân huyết. Biết thế th́ biết phép khử ứ sinh tân, mà cũng biết cả sinh tân là phép khử ứ.

Nguyên văn :
生血之機有如此者,而生血之原,則又在於脾胃,經云,中焦受氣取汁,變化而赤,是為血,今且舉一可見者言之,婦人乳汁,即脾胃飲食所化,乃中焦受氣所取之汁也,婦人乳汁,則月水不行,以此汁既從乳出,便不下行變血矣,至於斷乳之後,則此汁變化而赤,仍下行而為經血,人皆知催乳須補脾胃,而不知滋血尤須補脾胃,蓋血即乳也,知催乳法,便可知補血法,但調治脾胃,須分陰陽,李東垣後,重脾胃者,但知宜補脾陽,而不知滋養脾陰,脾陽不足,水穀固不化,脾陰不足,水穀仍不化也,譬如釜中煮飯,釜底無火固不熟,釜中無水亦不熟也,予親見脾不思食者,用溫藥而反減,用涼藥而反快,予親見催乳者,用苎朮鹿茸而乳多,又親見催乳者,適苎朮鹿茸而乳轉少,則以有宜不宜耳,是故宜補脾陽者,雖乾薑附子轉能生津,宜補脾陰者,雖知母石膏,反能開胃,補脾陽法,前人已備言之,獨於補脾陰,古少發明者,子特標出,俾知一陰一陽,未可偏廢。

Dịch nghĩa :
Cơ năng sinh huyết là như thế, mà gốc sinh ra huyết lại ở Tỳ Vị. Nội Kinh nói: Trung tiêu chịu khí, lấy trấp biến hoá ra đỏ ấy là huyết, nay đem một sự trông thấy mà nói sữa của đàn bà tức những thứ ăn uống mà Tỳ Vị hoá ra. Tức là Trung tiêu chịu khí để lấy trấp vậy, đàn bà nuôi con th́ nguyệt tín không hành, v́ trấp ấy đă làm sữa đễ nuôi con th́ không biến ra huyết vậy. Đến khi cai sữa rồi th́ trấp ấy biến hoá ra đỏ mà đi xuống làm kinh nguyệt.

Người ta điều biết rằng thôi nhũ (làm cho nhiều sữa) th́ cần bổ Tỳ Vị, mà không biết rằng tư huyết, càng cần phải bổ Tỳ Vị, huyết tức là sữa vậy. Biết phép thôi nhũ th́ biết phép bổ huyết, nhưng điều bổ Tỳ Vị cần phải phân biệt âm và dương, từ ông Lư Đông Viên về sau trọng Tỳ Vị, ấy chỉ biết chuyên bổ Tỳ dương mà không biết tư dưỡng Tỳ âm th́ dương không đủ. Lẽ cố nhiên thuỷ cốc không hoá mà Tỳ âm không đủ th́ thuỷ cốc cũng không hoá vậy. Ví như nấu cơm ở trong nồi, dưới nồi không có lửa, tất nhiên không chín cơm vậy. Tôi nhận thấy có người Tỳ hư không muốn ăn, dùng thuốc ấm th́ lại giảm ăn thiêm, dùng thuốc mát th́ lại ăn được. Tôi cũng nhận thấy người thôi nhũ dùng Kỳ Truật, Lộc Nhung th́ sữa có nhiều. Cũng có khi người thôi nhũ dùng Kỳ, Truật, Lộc Nhung th́ sữa lại ít thêm, là v́ có người nên dùng, có người không nên dùng vậy. V́ thế nên bổ Tỳ dương th́ Can Khương, Phụ Tử cũng hay sinh tân. Người nên bổ Tỳ âm th́ Tri Mẫu, Thạch Cao cũng là thuốc khai vị. Phép bổ Tỳ dương người trước đă nói đủ, riêng phép bổ Tỳ âm, người xưa ít có phát minh, nay tôi mới nêu ra để biết rằng một âm một dương không thiên lệch.

Nguyên văn :
補脾陰以開胃進食,乃吾臨證悟出,而借傷寒論存津液三字為據,此外固無證據也,書既成,後得泰西洋人醫法五種,內言胃之化穀,乃胃汁化之,并有甜肉汁,苦膽汁,皆入腸胃化穀,所謂汁者,即予所謂津液也,西醫論臟腑,多言物而遺理,如此條者,實指其物,而尚不與理相背,適足以證予所論,故並志之。

Dịch nghĩa :
Bổ Tỳ âm để khai vị tiến thực là tôi lâm chứng mà biết ra. Mà mượn 3 chữ Tồn Tân Dịch của Thương Hàn Luận mà làm chứng cớ. Ngoài ra không đâu nói cả. Sau khi sách đă in thành bộ, tôi mới được xem Thái Tây Y Pháp, bên trong nói Vị tiêu hoá thức ăn là do Vị trấp(dịch vị) cùng điềm nhục trấp (nước của Tỳ vào) khổ đăm trấp (nước mật) đầu vào tràng để hoá thức ăn, trấp ấy tức là tân dịch vậy.

Tây Y bàn về tạng phủ phần nhiều nói về h́nh mà bỏ sót về lư, như điều này tuy nói về mật mà thực không trái với lư, có thể làm chứng cho lời nói của tôi nên biên chép ra đây.

Nguyên văn :
臟腑病機論

臟胕各有主氣,各有經脈,各有部分,故其主病,亦各有見證之不同,有一臟為病,而不兼別臟之病者,單治一臟而愈,有一臟為病,而兼別臟之病者,兼治別臟而愈,業醫不知臟腑,則病原莫辨,用藥無方,烏呟其能治病哉,吾故將臟腑大旨,論列於後,庶幾於病證藥方,得其門徑云。

Dịch nghĩa:
Tạng phủ đều có chủ khí của nó, đều có kinh mạch, đều có bộ vị. Cho nên về chủ bệnh cũng đều có kiến chứng không giống nhau. Có một tạng có bệnh mà kiêm tạng khác có bệnh, kiêm trị tạng khác mà khỏi. Thầy dỏm không biết tạng phủ là ǵ, thời nguồn gốc bệnh không thể biết được, dùng thuốc không biết rằng tại sao có thể chữa được bệnh.

Cho nên tôi đem ư chính của tạng phủ, tŕnh bày sau đây, ngơ hầu giúp các bạn khi biện chứng dùng thuốc được đúng bài bản vậy.

TÂM

Nguyên văn:
心者,君主之官,神明出焉,蓋心為火臟,燭照事物,故司神明,神有名而無物,即心中之火氣也,然此氣非虛懸無著,切而指之,乃心中一點血液,湛然朗潤,以含此氣,故其氣時有精光發見,即為神明.

Dịch nghĩa :
-Tâm là chức năng quân chủ, thần minh xuất phát từ đó, bởi v́ Tâm là hoả tạng soi sáng mọi sự vật cho nên giữ thần minh. Thần tức hoả khí ở trong Tâm, có tên mà không có chỗ dựa. Nói rút lại đây là một giọt máu hồng sáng trơn để hàm cái khí ấy, cho nên khi thở có phát hiện nét tinh quang tức là thần minh.

Nguyên văn:
心之能事,又主生血,而心竅中數點血液,則又血中之最精微者,乃生血之原泉,亦出神之淵海,血虛則神不安而怔忡,有瘀血亦怔忡,火擾其血則懊邹,神不清明,則虛煩不眠,動悸驚愓,水飲剋火,心亦動悸,血攻心則昏迷,痛欲,死痰入心則癲,火亂心則狂,與小腸相為表裏,遺熱於小腸,則小便赤澀,火不下交於腎,則神浮夢遺.

Dịch nghĩa:
-Công việc Tâm phụ trách là phủ sinh huyết, mà mấy giọt máu trong Tâm lại là rất tinh vi trong máu, là nguồn suối sinh ra huyết, là biển phát ra thần.

-Huyết hư thời thần chẳng yên mà hay kinh sợ hồi hộp, có huyết ứ cũng kinh sợ hồi hộp. Hoả quấy nhiễu huyết thời ảo năo, buồn bă. Thần không minh mẫn thời rạo rực mất ngủ, hồi hộp đánh trống ngực. Thuỷ ẩm khắc Tâm hoả cũng kinh sợ hồi hộp. Huyết công lên Tâm thời hôn mê đau chết ngất. Đờm nhập Tâm thời điên loạn, cuồng. Tâm với Tiểu Trường có tương quan biểu lư. Tâm di nhiệt ở Tiểu Trường thời tiểu đỏ, tiểu gắt. Hoả không xuống giao với Thận thời Thần bốc ra mộng mị di tinh.

Nguyên văn:
心之脈上挾咽喉,絡於舌本,實火上壅,為喉痺虛火上升,則舌強不能言,分部於胸前,火結則為結胸,為痞,為火痛,火不宣發,則為胸痺,心之積曰伏梁,在心下大如臂,病則臍上有動氣,此心經主病之大旨也。
包絡者,心之外衛,心為君主之官,包絡即為臣,故心稱君火,包絡稱相火,相心經宣布火化,凡心之能事,皆包絡為之,見證治法,亦如心臟。

Dịch nghĩa:
-Kinh mạch Tâm đi lên, cặp theo hầu họng, liên lạc ở gốc lưỡi. Thực hoả nghẽn lên sinh đau bụng, hư hoả bốc lên thời lưỡi cứng không nói được.
-Bộ vị Tâm ở trước ngực, hoả kết thời sinh ra chứng kết hung, ra chứng b́, chứng hoả thông, hoả không tuyên phát thời sinh ra đau ngực.
-Bệnh Tâm tích gọi là phục Lương như cánh tay chắn ngang dưới Tim. Bệnh thời trên rốn có khí động bần bật.

Tâm kinh có Bào lạc là bề tôi, cho nên Tâm được gọi Quân hoả, Bào lạc được gọi tướng hoả, giúp cho Tâm phun rưới hoả hoá, công việc của Tâm đều do bào lạc gánh đáng. Kiến chứng và cách chữa đều như bệnh Tâm.

CAN

Nguyên văn:
肝為風木之臟,膽寄其間,膽為相火,木生火也,肝主臟血,血生於心,下行胞中,是為血海,凡周身之血,總視血海為治亂,血海不擾,則周身之血,無不隨之而安,肝經主其部分,故肝主臟血焉,至其所以能藏之故,則以肝屬木,木氣沖和條達,不致遏鬱,則血脈得暢,
設木鬱為火,則血不和,火發為怒,則血橫決,吐血錯經血痛諸證作焉,怒太甚則狂,火太甚則頰腫面青,目赤頭痛.

Dịch nghĩa:
-Can là tạng phong mộc, đờm kư gởi trong đó. Đởm là tướng hoả, mộc sinh hoả, can chủ tàng huyết, huyết sinh từ tâm, đi xuống trong bọc nhau thai. Đây là cái bể chứa máu huyết khắp châu thân, tốt hay bệnh tật đều do huyết hải chi phối. Cái bể chứa huyết ấy không bị sự quấy nhiễu nào th́ máu huyết toàn thân yên ổn, không chỗ nào là không thuận tuỳ. Can kinh chủ tàng huyết, sở dĩ có tàng được là can thuộc mộc khí xung hoà điểm đạt không gây uất át thời huyết mạch được trôi chảy thoải mái.

-Giả như, hoả làm cho mộc uất, thời huyết không hoà, hoả phát ra giận, thời huyết đâm ngang dấy lên thành các chứng thổ huyết, đau v́ huyết do huyết chạy sai kinh vậy. Giận quá lắm thời phát cuồng, hoả quá lắm thời má sưng mắt đỏ, đau đầu.

Nguyên văn:
木火剋土,則口燥泄痢,飢不能食,回食逆滿,皆係木鬱為火之見證也,若木挾水邪上攻,又為子借毋勢,肆虐脾經,痰飲泄瀉嘔吐頭痛之病又作矣,木之性主於嵓泄,食氣入胃,全賴肝木之氣以嵓泄之,而水穀乃化,設肝之清陽不升,則不能嵓泄水穀,滲瀉中滿之證.

Dịch nghĩa:
-Mộc hoả khắc thổ thời ráo miệng, tiêu chảy, kiết lỵ, đói ăn không được, ăn vào th́ ói, đầy ách đều là kiến chứng mộc uất do hoả vậy. Nếu mộc cặp với thuỷ tà công lên trên là “con mượn thế mẹ để làm lung lăng ở kinh Tỳ”, th́ các bệnh đờm ẩm, tiêu chảy, nôn ói, đau đầu lại dấy lên. Vậy tính của mộc là chủ sơ tiết, hơi đồ ăn vào vị toàn nhờ khí sơ tiết của can mộc mà hoá được cơm nước. Giả như khí thanh dương của can, không thăng thời không thể sơ tiết cơm nước, th́ không thể tránh khỏi t́nh trạng tiêu chảy bụng đầy.

Nguyên văn:
在所不免,肝之清陽,即魂氣也,故又主藏魂,血不養肝,火擾其魂,則夢遺不寐,肝又主筋,瘈瘲囊縮,皆屬肝病,分部於季恢少腹之間,凡季恢少腹疝痛,皆責於肝.
其經名為厥陰,謂陰之盡也,陰極則變陽,故病至此,厥深熱亦深,厥微熱亦微.
血分不和,尤多寒熱并見,與少陽相表裏,故肝病及膽,亦能吐酸嘔苦,耳聾目眩,於位居左,多病左恢痛,又左恢有動氣,肝之主病,大略如此.

Dịch nghĩa:
-Khí thanh dương của can tức là hồn khí, cho nên nói can tàng hồn, khi huyết không hàm dưỡng can, hoả nhiễu loạn hồn thời mộng mị không ngủ được. Can chủ cân, các chứng co ra nắm vào, thụt dái, đều là bệnh thuộc can, bộ vị của can tại khoảng sườn cụt dưới đau, đều trách ở can.

-Kinh mạch của can gọi là quyết âm, âm cùng tột thời biến ra dương, cho nên bệnh đấn đây th́ móp lạnh dữ, nóng càng dữ, móp lạnh vừa, nóng cũng vừa (quyết thâm nhiệt thâm).

-Huyết phận bất hoà thời hàn nhiệt đều thấy, nó cũng quan hệ biểu lư với thiếu dương, cho nên can bệnh cập luỵ đởm, cả chứng ói ra nước chua, ụa ra nước đắng, tai điếc, mắt quáng, bộ vị hoả bên tả phân nhiều bệnh ở sườn bên tả?...Đều là những bệnh chủ yếu của can. Đại thể như sau:

Nguyên văn:
膽與肝連司相火,膽汁味苦,即火味也,相火之宣布在三焦,而寄居則在膽府,膽火不旺,則虛怯驚悸,膽火太亢,則口苦嘔逆,目眩耳聾,其經繞耳故也,界居身側,風火交煽,則身不可轉側,手足抽掣,以表裏言,則少陽之氣,內行三焦,外行腠理,為榮衛之樞機,逆其樞機,則嘔吐胸滿,邪客腠理.
入與陰爭,則熱出,與陽爭,則寒,故瘧疾少陽主之,虛勞骨蒸,亦屬少陽,以榮衛腠理之間不和,而相火熾其故也.

Dịch nghĩa:
-Đởm với can cùng giữ chức danh tướng hoả, nước mật có vị đắng, tức là vị hoả, tướng hoả phân rưới khắp tam tiêu mà gởi ở trong đởm, đởm hoả không vượng thời hư khiến kinh sợ, hoả nhiều lấn nên dữ thời miệng đắng, ói ngược, mắt quáng, tai ù. Kinh mạch đởm đi quanh tai cho nên thế v́ nó ở bên cạnh ḿnh. Cho nên kinh phong hoả dấy động lên, thời ḿnh không trở trăn được, chân tay co quắp. Lấy biểu lư để nói th́ khí thiếu dương đởm bên trong vận hành khắp tam tiêu.
-Bên ngoài vận hành ở tấu lư (chân lông thớ thịt) là then máy của vinh vệ, hễ trái lại then máy là ụa ói ngực đầy, tà chốt ở tấu lư vào cùng chọi với âm dương thời phát sốt, cùng tranh với dương thời phát lănh.
Cho nên sốt rét thời thiếu dương làm chủ, hư lao cốt chưng cũng thuộc thiếu dương, bởi vinh vệ tấu lư bất hoà giúp cho thế hoả hưng lên.

Nguyên văn:
相火挾痰,則為癲癇,相火不戢,則肝魂亦不甯,故煩夢遺精,且膽中相火,如不亢烈,則為清陽之木氣,上升於胃,胃土得其疏達,故水穀化,亢烈則清陽遏鬱,脾胃不和,胸恢之門骨盡處,乃少陽之分病,則其分多痛,經行身之側,痛則不利屈伸,此膽經主病之大略也。

Dịch nghĩa:
Cho nên thế, giúp cho hoả ghé đờm thời sinh điên phong xù, giúp cho hoả không nghỉ thời can hồn cũng không yên cho nên phiền, mộng mị di tinh. Vả lại tướng hoả trong đởm nếu không lấn dữ lên thời mộc khí thanh dương thăng lên vị, vị thở được sự sơ đạt cho nên cơm nước tiêu hoá tốt, găng dữ lên cho nên khí thanh dương uất át, tỳ vị bất hoà. Khoảng xương ngực sườn, khắp các xương đấy là phần bệnh của kinh thiếu dương, thời hay đau bộ phận ấy, kinh mạch đi bên cạnh ḿnh người khi đau th́ co duỗi không thuận lợi, đấy là đại lược những bệnh thuộc kinh đởm.

VỊ

Nguyên văn:
胃者,食廩之官,主納水穀,胃火不足,則不思食,食入不化,良久仍然吐出,水停胸膈,寒客胃中,皆能嘔吐不止,胃火炎上,則飢不能食,拒隔不納,食入即吐,津液枯竭,則成膈食,糞如羊屎,火甚則結鞭,胃家實則岺語,手足出汗,肌肉潮熱,以四肢肌肉,皆中宮所主故也,其經行身之前,至面上,表證目痛鼻乾,發痙不能仰.

Dịch nghĩa :
- Vị là chức quan kho tàng, công việc chính là tiếp nhận cơm nước. Khi vị hoả bất túc th́ không thiết ăn uống, có ăn vào cũng ĺnh b́nh không tiêu, giờ lâu vẫn c̣n nguyên rồi ói ra. Khi nước đọng ở lồng ngực, khi hàn lạnh chốt trong vị đều có thể ụa ói không ngưng. Khí Vị hoả bốc lên thời đói mà không ăn được, ăn vào thời ói hết, tân dịch khô kiệt thời thành chối không ăn, phân như cứt dê, hoả dữ lắm thời kết ḥn rắn.
Vị gia thực thời nói sảng, tay chân đổ mồ hôi, da thịt hâm hấp sốt cơn, bởi chổ tứ chi cơ nhục đều do Tỳ Vị chủ quản, cho nên thế. Kinh Vị nó đi trước phía người đến trên mặt, biểu hiện chứng đau mắt, khô mũi, phát co cứng không ngữa được.

Nguyên văn :
開竅於口,口乾咽痛,氣逆則噦,又與脾相表裏,遺熱於脾,則從濕化,發為黃癉,胃實脾虛,則能食而不消化,主燥氣,故病陽明,總係燥熱,獨水泛水結,有心下如盤等證,乃為寒病,胃之大略,其病如此。

Dịch nghĩa :
-Vị khai khiếu ở miệng, khi miệng khô họng đau, hơi đưa ngược lên thời ụa oẹ.

-Vị với Tỳ có quan hệ biểu lư, khi vị đưa nhiệt sang tỳ th́ nó tha hoá theo thấp, mà phát ra bệnh Hoàng đăn.

-Khi Vị thực Tỳ hư thời có ăn mà không tiêu hoá, chủ táo khí, cho nên bệnh Dương minh tóm lại là táo nhiệt.

-Riêng chứng thuỷ trào lên, thuỷ kết, có các chứng “vùng tâm hạ như cái mâm” là bởi Hàn chứng.
_Bịnh chứng của Vị tóm lược như trên.

TỲ

Nguyên văn :
脾稱濕土,土濕則滋生萬物,脾潤則長養臟腑,胃土以燥納物,脾土以濕化氣,脾氣不布,則胃燥而不能食,食少而不能化,譬如釜中無水,不能熟物也,故病膈食,大便難,口燥唇焦,不能生血,血虛火旺,發熱盜汗,苦濕氣太甚,則穀亦不化,痰飲瀉泄腫脹腹痛之證作焉.

Dịch nghĩa:
Tỳ xưng là Thấp thổ, sinh sôi vạn vật.Tỳ thắm nhuần nuôi dưỡng Tạng Phủ, Vị thổ dùng cái ráo rẽ để dung nạp thức ăn, đồ uống.

_Tỳ thổ cần cái thấp để hoá khí, không san xẻ rưới rải thời Vị ráo mà không ăn được, ăn ít không tiêu, ví như trong nồi không có nước không thể làm chín cơm thịt, cho nên các bệnh không ăn được, đại tiện khó đi, miệng ráo môi khô cháy, không sinh được huyết, huyết hư hoả vượng, phát sốt, đỗ mồ hôi trộm.

Nếu thấp khí quá nhiều th́ cơm nước cũng không tiêu,sinh ra chứng đờm ẩm, tiết tả, thủng trướng đau bụng nhiệt, dấy lên ngay.

Nguyên văn:
濕氣挾熱,則發黃發痢,腹痛狀熱,手足不仁,小水赤澀,脾積名曰痞氣,在心下如盤,脾病則當臍有動氣,居於中洲,主灌四旁,外合肌肉,邪在肌肉,則手足蒸熱汗出,或肌肉不仁,其體陰而其用陽,不得命門之火以生土,則土寒而不化,食少虛羸,土虛而不運,不能升達津液,以奉心化血,滲灌諸經

Dịch nghĩa:
-Thấp ghé có nhiệt thời phát vàng da,kiết lỵ,đau bụng phát sốt, chân tay tê dại, nước tiểu đỏ gắt.

-Bệnh Tỳ tích gọi là “Bỉ khí” phía dưới quả tim như có cái mâm. Bệnh Tỳ thời phải có động khí ở rốn.

-Bộ vị của Tỳ ở trung châu, chủ tưới bón chung quanh, bên ngoài hợp với da thịt, Tà khí ở da thịt th́ chân tay nóng như nung nấu, đổ mồ hôi hoặc da thịt tê dại.

Về thể là âm, về dụng là dương. Không được hoả mệnh môn để sinh Thổ, thời Thổ hàn mà không hoá, ăn kém gầy nhom, thổ hư mà không vận hoá được, không thể đưa tân dịch lên phía trên để hoá huyết, rải rưới các kinh.

Nguyên văn:
經云脾統血,血之運行上下,全賴乎脾,脾陽虛則不能統血,脾陰虛又不能滋生血脈,血虛津少,則肺不得潤養,是為土不生金,蓋土之生金,全在津液以滋之,脾土之義有如是者。

Dịch nghĩa:
Nội kinh nói rằng:" Tỳ thống nhiếp Huyết, sự vận hành lên xuống của Huyết đều dựa vào Tỳ".

Tỳ dương hư không thể thống nhiếp (nắm giữ) Huyết.
Tỳ âm hư lại không thể sanh dưỡng Huyết mạch.

Huyết hư tân dịch kém,th́ Phế không được nhuần dưỡng, là Thổ bất sanh Kim.
Bởi v́ Thổ sanh Kim, đều do ở sự tư nhuận(tưới bón) tân dịch từ Tỳ mà ra. Ư nghĩa của Tỳ thổ là như vậy.

PHẾ

Nguyên văn:
肺為乾金,象天之體,又名華蓋,五臟六腑,受其覆冒,凡五臟六腑之氣,皆能上熏於肺以為病,故於寸口肺脈,可以診知五臟,肺之令主行制節,以其居高,清肅下行,天道下際而光明,故五臟六腑,皆潤利而氣不亢,莫不受其制節也.

Dịch nghĩa:
Phế là Càn kim, cái Thể biểu tượng là Thiên, c̣n gọi là Hoa cái( cây dù), Ngũ tạng-Lục phủ được sự che chở từ Phế.

Thường khí của tạng phủ đều có thể xông bốc lên Phế mà gây bịnh, cho nên xem mạch ở Thốn khẩu ( bộ Thôn tay phải)có thể biết được bịnh ở Ngũ tạng vậy.

Phế chủ tiết chế, ở trên cao ( thượng tiêu)dịu lắng xuống dưới. Thiên đạo( đạo Trời) giao tiếp bên dưới mà sáng tỏ, v́ vậy ngũ tạng lục phủ được thắm nhuần mà khí không nghịch lên, đều do sự tiết chế của Phế vậy.

Nguyên văn:
肺中常有津液,潤養其金,故金清火伏,苦津液傷,則口喝氣喘,癰痿欬嗽,水源不清,而小便澀,遺熱大腸,而大便難,金不制木,則肝火旺,火盛刑金,則蒸熱喘欬,吐血癆瘵並作.

Dịch nghĩa:
Trong Phế thường có tân dịch, nhuần dưỡng tạng kim, nên Kim dịu mát th́ Hỏa được chế phục. Nếu như tân dịch tổn thương, th́ miệng khát,thở mệt, ho hen do chứng viêm tắc Phế. Nguồn nước không tưới mát th́ có chứng tiểu gắt, nhiệt chuyển xuống đại trường gây táo bón.

Kim không chế ngự được Mộc, th́ Can hỏa vượng, hỏa mạnh khắc kim gây chứng sốt hâm hấp, ho suyễn, thổ huyết do Lao sái mà ra.

Nguyên văn:
皮毛者,肺之合也,故凡膚表受邪,皆屬於肺,風寒襲之,則皮毛洒淅,客於肺中,則為肺脹,為水飲衝肺,以其為嬌臟,故畏火,亦畏寒.

Dịch nghĩa:
Phế hợp với phần da lông, cho nên phần da thứa bị phong hàn xâm nhập đều thuộc Phế,gây ra chứng Phế trướng, là thủy ẩm tràn lấp phế, v́ là tạng mềm mại, nên phế hay sợ nóng cũng như sợ lạnh.

Nguyên văn:
肺開竅於鼻,主呼吸,為氣之總司,蓋氣根於腎,乃先天水中之陽,上出鼻,肺司其出納,腎為水,肺為天,金水相生,天水循環,腎為生氣之原,肺即為制氣之主也.

Dịch nghĩa:
Phế khai khiếu ở mũi, chủ về hô hấp, cai quản hơi thở. Nhưng gốc rễ của Khí nằm ở Thận, là phần dương trong thủy của Tiên thiên, đi lên trên mũi.
Phế chủ hít thở, Thận là Thủy, Phế là Thiên thuộc Kim, Kim Thủy tương sinh, Thiên-Thủy tuần hoàn.
Thận là nguồn sinh ra Khí, Phế tức là chủ quản tiết chế Khí vậy.

Nguyên văn:
凡氣喘欬息,故皆主於肺,位在胸中,胸中痛屬於肺,主右恢,積日息賁,病則右恢有動氣,肺為之義,大率如是。

Dịch nghĩa:
Thường chứng ho suyễn nguyên nhân do Phế, vị trí nằm ở lồng ngực, trong ngực đau do ở Phế, gây cảm giác to rộng lồng ngực bên phải, lâu ngày sinh chứng Tức bôn, tức là chứng động khí do Phế mà ra,đại khái như vậy.

THẬN

Nguyên văn:
腎者水臟,水中含陽,化生元氣,根結丹田,內主呼吸,達於膀胱,運行於外則為衛氣,此氣乃水中之陽,別名之曰命火.

Dịch nghĩa:
-Thận là thuỷ tạng, trong thuỷ có hàm phần dương, hoá sinh ra nguyên khí, rồi nó kết ở Đan Điền, bên trong chủ hô hấp, đạt tới Bàng Quang, vận hành ra ngoài đó là vệ khí. Cái khí này là phần dương trong thuỷ, có tên riêng là Mệnh Môn Hoả.

Nguyên văn:
腎水充足,則火之藏於水中者,韜光匿彩,龍雷不升,是以氣足而鼻息細微,若水虛,則火不歸元,喘促虛癆,諸證并作,咽痛聲啞,心腎不交,遺精失血,腫滿欬逆,痰喘盜汗.

Dich nghĩa:
-Thận thuỷ sung túc thời hoả được tiềm ẩn ở trong thuỷ, h́nh bóng sáng ngời tiềm tàng trong ấy. Long lôi hoá không thăng lên. Bởi vậy hơi thở đầy đủ, mà lỗ mũi x́ ra rất nhẹ khẽ. Nếu thuỷ hư hoả sẽ mất nơi cư ngụ, sẽ hư lao kéo thở, các chứng đều dấy lên, họng đau tiếng tắt, tâm thận bất giao, di tinh thất huyết thũng măn, ho đưa hơi lên, đờm suyễn, đổ mồ hôi trộm.

Nguyên văn:
如陽氣不足者,則水泛為痰,凌心沖肺,發為水腫,腹痛奔豚,下利厥冷,亡陽大汗,元氣暴脫.

Dich nghĩa:
-Như dương khí bất túc thời thuỷ trào lên thành đờm lấn tâm khí, xung vào khí phát ra thuỷ thũng, đau bụng, bôn đồn, đi tiêu chảy, móp lạnh, vong dương, ra mồ hôi tầm tả, nguyên khí vụt thoát.

Nguyên văn:
腎又為先天,主藏精氣,女子主天癸,男子主精,水足則精血多,水虛則精血竭,於體主骨,骨痿故屬於腎,腎病者,臍下有,動氣,腎上交於心,則水火既濟,不交則火愈亢.

Dịch nghĩa:
-Thận lại là tiên thiên, chủ tàng tinh khí, đàn bà con gái chủ thiên quư, đàn ông con trai chủ tinh, thuỷ đầy đủ thời tinh huyết nhiều, thuỷ hư thời tinh huyết kiệt, với h́nh thể th́ nó chủ xương, cho nên chứng lao xương vẫn thuộc thận, thận có bệnh dưới rốn có động khí. Thận đi lên giao với tâm thời thuỷ hoả kư tế, không giao thời hoả càng bùng lên.

Nguyên văn:
位在腰,主腰痛,開竅於耳,故虛則耳鳴耳聾,瞳人屬腎,虛則神水散縮,或發內障,虛陽上泛,為咽痛頰赤,陰虛不能化水,則小便不利,陽虛不能化水,小便亦不利也,腎之病機,有如此者。

Dịch nghĩa:
-Bộ vị của thận ở eo lưng, chủ chứng là đau thắt lưng, thận khai khiếu ra tai, cho nên thận hư thời tai điếc.

-Mắt thuộc thận, thận hư thời thận thuỷ tiêu tan, hoặc phát bệnh nội chướng. Hư dương trào lên trên làm cho đau họng, má đỏ, âm hư không thể hoá thuỷ thời tiểu tiện cũng không lợi.
-Cơ chế bệnh về thận đại khái là như vậy.

BÀNG QUANG

Nguyên văn:
膀胱者,貯小便之器,經謂洲都之官,津液藏焉,氣化則能出矣,此指汗出,非指小便,小便雖出於膀胱,而實則肺為水之上源,上源清,則下源自清.

Dịch nghĩa:
Bàng Quang là dụng cụ chứa nước tiểu. Nội kinh gọi là chức quan Châu đô, tân dịch tàng chứa ở đó. Khí hoá thời có thể ra vậy, đấy là nói ra mồ hôi, không phải nói ra tiểu tiện, tiểu tiện tuy bài xuất từ Bàng Quang mà sự thực do Phế là nguồn trên của thuỷ, hễ nguồn trên nó trong th́ nguồn dưới tự trong vậy.

Nguyên văn:
脾為水之隄防,隄防利,則水道利,腎又為水之主,腎氣行,則水行也,經所謂氣化則能出者,謂膀胱之氣,載津液上行外達,出而為汗,則有雲行雨施之象,故膀胱稱為太陽經

Dịch nghĩa:
-Tỳ là đê điều của thuỷ, đê điều lợi th́ thuỷ đạo lợi, thận lại là chủ quản thuỷ, thận khí vận hành thời thuỷ vận hành (nước chảy).

-Sách Nội Kinh gọi “khí hoá thời có thể ra” là nói khí của Bàng Quang tải tân dịch đưa lên đạt ra ngoài, ra mà làm mồ hôi, thời có hiện tượng mây bay mưa rưới cho nên Bàng Quang được gọi là thái dương kinh.

Nguyên văn:
謂水中之陽,達於外以為衛氣,乃陽之最大者也,外感則傷其衛陽,發熱惡寒,其經行身之背,上頭項,故頭項痛,背痛,角弓反張,皆是太陽經病.

Dịch nghĩa:
Gọi là Dương ở trong Thủy, thông đạt ra bên ngoài làm Vệ khí, ngoại cảm làm tổn thương Vệ khí, phát sốt, sợ lạnh. Kinh Thái Dương chạy dọc theo vùng lưng, lên tới đầu gáy, nên đau cổ gáy, đau lưng, không cúi ngữa được, đều bịnh ở Thái Dương kinh.

Nguyên văn:
皮毛與肺合,肺又為水源,故發汗須治肺,利水亦須治肺,水天一氣之義也,位居下部,與胞相連,故血結亦病水,水結亦病血,膀胱之為病,其略有如此。

Dịch nghĩa:
-Lông da hợp với phế, Phế lại là nguồn trên của thuỷ, cho nên phát hăn phải trị vào Phế, lợi thuỷ cũng phải trị vào Phế, ư nghĩa là thuỷ cùng với thiên là thuộc cùng một khí. Bộ vị ở dưới rốn dính liền với cái nhau, cho nên chứng huyết kết cũng là bệnh của thuỷ, thuỷ kết cũng là bệnh của huyết, cơ chế bệnh về Bàng Quang, đại khái như vậy.

TAM TIÊU

Nguyên văn:
三焦,古作膲,即人身上下內外相聯之油膜也,唐宋人不知膲形,以為有名而無象,不知內經明言焦理縱者,焦理橫者,焦有文理,豈得謂其無象.

Dịch nghĩa:
-Xưa viết ra chữ tức lớp mỡ chày chằng chịt trên dưới trong ngoài nhân thể. Người đời Đường Tống không biết h́nh thù chữ cho là có danh mà không có h́nh tượng, họ không biết sách Nội Kinh nói rơ sọc ngang sọc dọc Tam Tiêu có nếp có sọc, há lại cho là không có h́nh tượng ư.

Nguyên văn:
西洋醫書,斥中國不知人有連網,言人飲水入胃,即滲出走連網而下,以滲至膀胱,膀胱上口,即在連網中也,中國醫林改錯一書,亦言水走網油而入膀胱,觀剖牲畜,其網油中有水鈴鐺,正是水過其處,而未入膀胱者也,此說近出力,斥舊說之謬,而不知唐宋後,古膲作焦,不知膜油,即是三焦,是以致謬.

Dịch nghĩa:
-Sách thuốc phương Tây chỉ trích người Trung Quốc không biết con người có màng mỡ chằng chịt, rằng người uống nước vào Vị sẽ ngấm ra chạy theo màng mỡ ấy mà đi xuống để ngấm tới bong bóng, miệng trên của bong bóng là dính liền trong màng mỡ ấy.
Sách Y Lâm Cải Thác của Trung Quốc cũng nói nước chảy theo màng mỡ mà nhập vào bong bóng. Quan sát khi mổ súc vật trong lớp màng mỡ ấy có nước rơi lách tách. Đúng là chỗ nước đi qua mà chưa vào bong bóng. Thuyết ấy gần như ra sức chỉ trích chỗ sai lầm của cựu thuyết, mà không biết sau đời Đường Tống, chữ xưa viết ra chữ tiêu, không biết màng mỡ tức là Tam Tiêu, cho nên mới hiễu lầm.

Nguyên văn:
然內經明言三焦者,決瀆之官,水道出焉,與西洋醫法,醫林改錯正合,古之聖人,何嘗不知連網膜膈也哉.

Dịch nghĩa:
-Xong sách Nội Kinh giải ra Tam Tiêu là đội quản lư đường sông, cống rănh, làm cho đường nước trong toàn thân lưu thông trôi chảy, so với y pháp phương tây sách Y Lâm Cải Thác thật là hợp với nhau, nào phải trung y không biết màng mỡ dính líu chằng chịt sao?

Nguyên văn:
按兩腎中一條油膜,為命門,即是三焦之原,上連肝氣膽氣,及胸膈,而上入心,為包絡,下連小腸大腸,前連膀胱,下焦夾室,即血室氣海也,循腔子為肉皮,透肉出外,為包裹周身之白膜,皆是三焦所司,白膜為腠理,三焦氣行腠理,故有寒熱之證.

Dịch nghĩa:
-Xét thấy, một sợi màng mỡ trong 2 quả thận là Mệnh môn, tức là nguồn cội của Tam Tiêu vậy, bên trên liền với Can khí, Đởm khí, với hông ngực. Mà trên vào Tâm đấy là màng bao tâm (tâm bào lạc), dưới dính với ruột non ruột già, phía trước dính với bong bóng. Hạ tiêu như mái nhà tức huyết thất, khí hải, men theo ḿnh là da với thịt, xuyên suốt trong thịt xuất ra ngoài là lớp màng mỡ bao bọc châu thân, điều là do Tam Tiêu quán xuyến, màng mỡ là da thưa (tấu lư), khí tam tiêu vận hành ở khoảng da thứa cho nên có chứng nóng lạnh.

Nguyên văn:
命門相火布於三焦,火化而上行為氣,火衰則元氣虛,火逆則元氣損,水化而下行為溺,水溢則腫,結則淋,連肝膽之氣,故多挾木火,與腎心包相通,故原委多在兩處,與膀胱一陰一陽,皆屬腎之府也,其主病知矣。

Dịch nghĩa:
Mệnh môn tướng hoả phun rưới Tam Tiêu, hoả hoá mà lên làm khí, hoả suy thời nguyên khí suy hư, hoả động lên thời khí tổn, thuỷ hoá đi xuống trở thành nước tiểu, thuỷ trào lên thời sưng, thuỷ kết lại thời khó đái (lâm), dính với khí can đởm cho nên phần nhiều ghé mộc hoả, tương thông với thận và tâm bào, cho nên nguyên uỷ phần nhiều ở 2 chổ ấy, một âm một dương so với Bàng Quang đều thuộc về phủ của Thận vậy, về chủ bệnh th́ hẳn rơ.

TIỂU TRƯỜNG

Nguyên văn:
小腸者,受盛之官,變化出焉,上接胃府,下接大腸,與心為表裏,遺熱則小水不清,與脾相連屬,土虛則水穀不化,其部分,上與胃接,故小腸燥屎,多借胃藥治之,下與肝相近,故小腸氣痛,多借肝藥治之。

Dịch nghĩa:
-Tiểu trường là bộ phận nhận lấy thức ăn đă được tiêu hoá bước đầu, để tiếp tiêu hoá kỹ hơn nữa, bên trên tiếp với Vị phủ, bên dưới tiếp với Đại trường, tương quan biểu lư với Tâm, hễ nó để lại nhiệt th́ nước tiểu không trong. Nó liên thuộc với Tỳ nên hễ Tỳ hư th́ cơm nước không tiêu hoá. Bộ vị của nó trên tiếp với Vị, cho nên khi Tiểu trường có phân táo th́ phần nhiều mượn thuốc chữa Vị để giải quyết, bên dưới nó gần với Can, cho nên chứng tiểu trướng khí thống th́ phần nhiều mượn thuốc chữa Can để giải quyết.

ĐẠI TRƯỜNG

Nguyên văn:
大腸司燥金,喜潤而惡燥,寒則滑脫,熱則秘結,泄痢後重,痔漏下血,與肺相表裏,故病多治肺以治之,與胃同是陽明之經,故又借多治胃之法以治之。

以上條列,皆臟腑之性情部位,各有不同,而主病亦異,治雜病者宜知之,治血證者,亦宜知之,臨證處方,分經用藥,斯不致南轅北轍耳。

Dịch nghĩa:
-Đại trường giữ danh hiệu táo kim, nó ưa nhuận mà ghét ráo, bị hàn th́ hoạt thoát (tiêu chảy tháo cống), bị nhiệt th́ bón uất tiêu chảy kiết lỵ nặng trằng hậu môn, trĩ mạch lươn xuất huyết. Cùng tương quan biểu lư với Phế, cho nên Đại trường có bệnh hay dùng phép chữa Phế để giải quyết. Với vị cùng mang danh hiệu Dương minh kinh, cho nên hay mượn phép chữa Vị mà chữa Đại trường.

Những điều kể trên là nói về tính t́nh, bộ vị của tạng phủ đều không giống nhau mà chủ bệnh cũng khác. Chữa tạp bệnh phải biết nó, chữa huyết chứng cũng phải biết nó, khi lâm chứng xử phương, phân kinh dụng dược mới có bài bản, tránh khỏi cái tệ đầu Ngô ḿnh Sở.

4.-BÀN VỀ MẠCH CHỨNG SỐNG CHẾT.

Nguyên văn:
脈證死生論

醫者,所以治人之生者也,未知死,焉知生,知死之無可救藥,則凡稍有一毫之生機,自宜多方調治,以挽回之,欲辨死生,雖明脈證.

Dịch nghĩa:
Thầy thuốc là để chữa bệnh cho mọi người được sống, chưa biết là chết th́ làm sao biết là sống?. Biết rằng chết mà không có thuốc ǵ cứu được th́ hễ hơi có một chút sinh cơ, th́ nên dùng nhiều phương điều trị để văn hồi mạng sống. Muốn biện minh sống chết phải hiễu rơ ràng mạch và chứng.

Nguyên văn:
高士宗以吐血多者為絡血,吐血少者為經血,謂吐多者病輕,吐少者病重,而其實經散為絡,絡散為孫絡,如幹發為枝,又天有枝,要皆統於一本也,以經絡之血分輕重,實則分無可分.

Dịch nghĩa:
Ông Cao sĩ Tông cho rằng thổ huyết nhiều là huyết ở lạc, thổ huyết ít là huyết ở kinh, bảo rằng: Thổ nhiều là bệnh nhẹ, thổ ít là bệnh nặng. Thực ra kinh tán ra làm lạc, lạc tán ra làm tôn lạc như gốc phát ra cành, cành lại phát ra cành nhỏ hơn, cốt yếu điều tóm lại ở gốc vậy, lấy kinh lạc để phân ra khinh và trọng, nhưng thực ra sự phân chia đó, không thể nào phân được vậy.

Nguyên văn:
醫旨又謂外感吐血易治,內傷吐血難療,三指禪,謂齒衄最輕,鼻衄次之,嘔吐稍重,欬咯唾血為最重,謂其病皆發於五臟,而其血之來最深,不似嘔吐之血,其來出於胃間,猶淺近也,此如仲景近血遠血之義,以此分輕重,於理尚不差謬,第鼻执嘔吐血,雖近而輕.

Dịch nghĩa:
Sách Y chỉ lại bảo rằng: Ngoại cảm thổ huyết dễ trị, Nội thương thổ huyết khó trị. Sách Tam Chỉ Thiền bảo rằng: Xỉ nục rất nhẹ, thứ đến là Tỵ nục, ẩu thổ hơi nặng, c̣n khái khạc, thoá huyết là rất nặng, là bảo rằng bệnh đều phát từ ngũ tạng, mà huyết tại đây là rất sâu, không giống như huyết ẩu thổ đến từ Vị c̣n gần giữ vậy. Đây là như cận huyết và viễn huyết của ông Trọng Cảnh, lấy đấy mà phân chia ra nặng nhẹ, với lư cũng không sai lẩn được.

Nguyên văn:
而吐执不止,亦有氣隨血脫,登時即死者,欬咯唾血雖遠而重,亦有一哈便出,微帶數口,不藥可愈者,仍不可執以定死死生矣.

Dịch nghĩa:
Nhưng Tỵ nục ẩu thổ, tuy gần mà nhẹ, mà thổ nục không ngừng, cũng có khí theo huyết mà thoát đi th́ chết ngay.

Khái-Khạc-Thoá huyết tuy rằng xa mà nặng, nhưng cũng có khi tằng hắng một cái, huyết liền bật ra một chút, không cần thuốc cũng khỏi, cũng không thể lấy đó mà định sống chết được.

Nguyên văn:
夫載氣者,血也,而運血者,氣也,人之生也,全賴乎氣,血脫而氣不脫,雖危猶生,一線之氣不絕,則血可徐生,復還其故,血未傷而氣先脫,雖安必死,以血為魄,而氣為魂,魄未絕而魂先絕,未有不死者也,故吾謂定血證之死生者,全在觀氣之平否.

Dịch nghĩa:
Ta thấy là giữ khí ấy là huyết vậy, mà vận huyết ấy là khí vậy, người ta sở dĩ sống được là điều nhờ ở khí, huyết thoát mà khí không thoát, bệnh tuy nguy nhưng mà c̣n sống được, một sợi khí không tuyệt đi th́ huyết dần dần được sinh ra như cũ vậy.
Huyết chưa bị thương mà khí đă thoát trước, tuy rằng yên ổn nhưng mà cũng chết v́ huyết làm phách, mà khí làm hồn, phách chưa tuyệt mà hồn đă tuyệt trước, th́ tất nhiên là chết, cho nên tôi bảo rằng: Định sự sống chết của huyết chứng đều xem ở khí b́nh hay không b́nh.

Nguyên văn:
吐血而不發熱者易愈,以榮雖病而衛不病,陽和則陰易守也,發熱者難治,以血病氣亦蒸,則交相為虐矣,吐血而不欬逆者易愈,欬為氣嗆,血傷而氣不嗆,是腎中之水,能納其氣以歸根,故易愈,若欬不止,是血傷火灼,腎水枯竭,無以含此真氣,故上氣欬逆為難治,再加喘促,則陽無所附矣.

Dịch nghĩa:
Thổ huyết mà không phát nhiệt là dễ khỏi, là vinh tuy bệnh mà vệ không bị bệnh. Dương hoà thời âm dễ giữ vậy, nếu có phát nhiệt là khó chữa là v́ huyết bệnh mà khí cũng nấu lên, khí huyết cũng làm hại cho nhau vậy.

Thổ huyết mà không phát ngịch là dễ chữa, khái là khí xông lên, huyết thương mà khí không nghịch là thuỷ ở trong thận có thể nạp khí về gốc, cho nên dể khỏi.

Nếu ho không ngừng là huyết thương, hoả đốt thận thuỷ khô kiệt không lấy ǵ giữ chân khí, cho nên khí lên khái nghịch là khó chữa, lại thêm thở rộn lên nữa là dương không c̣n bám vào đâu được.

Nguyên văn:
大便不溏者,猶有轉機,可用滋陰之藥,以養其陽,若大便溏,則上越下脫,有死無生.

Dịch nghĩa:
Đại tiện phân không lỏng nhăo th́ c̣n có thể sinh cơ, có thể dùng thuốc tư âm để nuôi dưỡng dương khí, nếu đại tiện phân lỏng nhăo là trên đă vượt, dưới lại thoát, th́ không thể cứu được.

Nguyên văn:
再驗其脈,脈不數者易治,以其氣尚平,脈數者難治,以其氣太疾,浮大革數而無根者,虛陽無依,沉細澀數而不緩者,真陰損失,皆為難治,若有一絲緩象,尚可挽回,若無緩象,或兼代散,死不治矣.

Dịch nghĩa:
Xem đến mạch, mạch không sác là dễ chữa, v́ khí c̣n b́nh thường, mạch sác là khó chữa v́ khí mạnh quá.

Mạch phù đại, cách sác mà vô căn là hư dương không nương tựa vào đâu được.

Mạch trầm tế sác mà không khoan hoà là chân âm tổn thất, đều là mạch khó chữa, nếu có một chút khoan hoà th́ c̣n có thể văn hồi được, nếu không thấy hoà hoăn hay kiêm với mạch đại, mạch tán th́ chết không cứu được.

Nguyên văn:
凡此之類,皆是陰血受傷,而陽氣無歸,故主不治,若陰血傷,而陽氣不浮越者,脈雖虛微遲弱,亦不難治,但用溫補無不回生,蓋陽虛氣弱者亦治,惟陰虛氣不附者為難治,所謂血傷而氣不傷者,即以氣之不傷,而知其血尚未盡損,故氣猶有所歸附,而易愈也,氣之原委,吾於水火血氣論已詳言之,參看自見。

Dịch nghĩa:
Phàm những mạch như thế đều là âm huyết bị thương, mà dương khí không về đâu được, cho nên không chữa được. Nếu âm huyết tuy bị thương mà dương khí không phù bốc mất đi, tuy mạch hư, vi tŕ, nhược cũng không khó chữa, chỉ dùng thuốc ôn bổ th́ hồi sinh ngay, v́ rằng dương hư đi th́ khó chữa, cho nên bảo rằng: Huyết thương mà khí không thương th́ lấy khí không thương ấy, mà biết rằng huyết chưa bị mất hết, th́ khí c̣n có chổ dựa th́ dễ khỏi vậy.

Nguyên uỷ của khí trong bài thuỷ hoả của khí huyết luận đă rơ ràng, phải nên tham khán.

5-DỤNG DƯỢC NGHI KỴ LUẬN.

Nguyên văn:
用藥宜忌論

吐攻和,為治雜病四大法,而失血之證,則有宜不宜,傷寒過汗傷津液,吐血既傷陰血,又傷水津,則水血兩傷,恭然枯骨矣,故仲景於衄家嚴戒發汗,衄忌發汗,吐咯可知矣.

Dịch nghĩa:
Hăn, Hạ, Công, Hoà là 4 phép lớn để chữa tạp bệnh, mà chứng thất huyết th́ có phép nên dùng, có phép không nên dùng. Bệnh Thương hàn phát hăn nhiều quá th́ thương tân dịch, bệnh thổ huyết đă thương âm huyết, lại thương thuỷ tân thời thuỷ huyết đều bị thương tổn, không bao lâu mà thành xương khô vậy. Cho nên Trọng Cảnh đối với chứng nục huyết nghiêm cấm phát hăn, chứng nục kỵ phát hăn, th́ chứng thổ, chứng khạc có thể biết được vậy.

Nguyên văn:
夫脈潛氣伏,斯血不升,發汗則氣發洩,吐血之人,氣最難歛,發洩不已,血隨氣溢,而不可遏抑,故雖有表證,止宜和散,不得徑用麻桂羌獨.

Dịch nghĩa:
Mạch tiềm khí phục th́ huyết không thăng lên, phát hăn thời khí phát tiết ra ngay, người thổ huyết khí rất khó thu liễm vào, nếu khí phát tiết không thôi, huyết theo khí trào lên, không thể ngăn nén xuống được, cho nên tuy có chứng ngoại biễu chỉ nên ḥa tán, không nên vội dùng Ma Quế Khương Độc.

Nguên văn:
果係因外感失血者,乃可從外表散,然亦須斂散兩施,毌令過汗亡陰,蓋必知血家忌汗,然後可商取汗之法.

Dịch nghĩa:
Nếu quả là do ngoại cảm mà thất huyết th́ mới nên tán biểu, song cũng phải vừa liễm vừa tán mới được, chớ nên quá phát hăn mà vong âm, v́ phải biết rằng: Huyết gia kỵ phát hăn th́ sau mới bàn đến phép phát hăn.

Nguyên văn:
至於吐法,尤為嚴禁,失血之人,氣既上逆,若見有痰涎,而復吐之,是助其逆勢,必氣上不止矣.

Dịch nghĩa:
C̣n như phép thổ lại càng nghiêm cấm, người thất huyết, hơi đă đưa ngược lên, nếu thấy có chứng đàm dăi, mà lại áp dụng thổ pháp là giúp cho cái thế ngịch lên, tất nhiên hơi sẽ đưa ngược lên không ngừng vậy.

Nguyên văn:
治病之法,上者抑之,必使氣不上奔,斯血不上溢,降其肺氣,順其胃氣,納其腎氣,氣下則血下,血止而氣亦平復,血家最忌是動氣,不但病時忌吐,即已愈後,另有雜證,亦不得輕用吐藥,往往因吐便發血證,知血證忌吐,則知降氣止吐,便是治血之法.

Dịch nghĩa:
Phép chữa bệnh, ở trên th́ nén xuống, phải làm cho khí không chạy lên, th́ huyết mới không trào lên được, phải giáng phế khí, phải thuận vị khí, phải nạp thận khí, khí xuống th́ huyết xuống vậy, huyết ngừng th́ khí cũng b́nh phục vậy. Huyết gia rất kỵ làm động khí, không chỉ lúc có bệnh phải kỵ thổ, đến như lúc đă khỏi rồi nếu có tạp chứng khác cũng không được khinh xuất dùng thổ pháp, thường do thổ mà lại phát ra huyết chứng. Biết rằng huyết chứng rất kỵ thổ, th́ biết rằng giáng khí là chỉ thổ, đó cũng là phép trị huyết vậy.

Nguyên văn:
或問血證多虛,汗吐且有不可,則攻下更當忌矣,予曰不然,血之所以上者,以其氣騰溢也,故忌吐汗,再動其氣,至於下法,乃所以折其氣者,血證氣盛火旺者,十居八九,當其騰溢,而不可遏,正宜下之以折其勢,仲景陽明證,有急下以存陰法,少陰證,有急下以存陰法.

Dịch nghĩa:
Hỏi rằng: Huyết chứng phần nhiều là hư. Phép hăn, phép thổ không nên dùng th́ phép công, phép hạ lại càng phải kỹ chăng?. Tôi nói rằng không phải, huyết mà đem lên là ứ khí vượt trào lên vậy, cho nên kỵ hăn, kỵ thổ để lại thêm động khí. C̣n như phép hạ là để bẽ găy cái thế khí chạy lên, huyết chứng th́ khí thịnh, hoả vượng đến 80%, đang lúc khí vượt trào lên mà không ăn được, chính nên hạ xuống, để bẽ găy cái thế đó đi, ông Trọng Cảnh nói: Chứng dương minh có phép kín hạ để bảo tồn âm dịch, chứng thiếu âm cũng có phép kín hạ để bảo tồn âm dịch.

Nguyên văn:
血證火氣太盛者,最恐亡陰,下之正是救陰,攻之不啻補之矣,特下之須乘其時,如實邪久留,正氣已不復支,或大便溏瀉,則英雄無用武之地,只可緩緩調停,純用清潤降利,以不違下之意,斯得法矣.

Dịch nghĩa:
Huyết chứng mà hoả khí thịnh quá rất sợ vong dương, cho hạ chính là cứu ấm, công hạ đấy chính là bổ đấy vậy. Nhưng mà tả hạ phải tuỳ từng lúc, ví như thực tà lưu lại đă lâu chính khí đă không chống được, hoặc đại tiện đi chảy th́ anh hùng không có đất dụng vơ, chỉ nên khoan khoan điều đ́nh, nên thuần dùng thuốc thanh lợi, giáng lợi để không trái với khí hạ xuống, như thế mới hợp được phép hạ.

Nguyên văn:
至於和法,則為血證之第一良法,表則和其肺氣,裏者和其肝氣,而尤照顧脾腎之氣,或補陰以和陽,或損陽以和陰,或逐瘀以和血或瀉水以和氣,或補瀉兼施,或寒熱互用,許多妙義,未能盡舉.

Dịch nghĩa:
C̣n như phép hoà là phép tối tốt nhất của huyết chứng, ở biểu th́ hoà phế khí, ở lư th́ hoà can khí, mà càng phải chiếu cố đến khí Tỳ Thận hoặc bổ âm để hoà dương, hay tổn dương để hoà âm, hoặc trục ứ để hoà huyết, hay tả thuỷ để hoà khí, hoặc bổ tả kiêm hành, hoặc hàn nhiệt hỗ dụng, có rất nhiều nghĩa thần diệu, không sao nói hết được.

Nguyên văn:
四法之外,又有補法,血家屬虛癆門,未有不議補者也,即病家亦喜言補,諸書重補者,尤十之八九,而不知血證之補法,亦有宜有忌,如邪氣不去而補之,是關門逐賊,瘀血未陰而補之,是助賊為殃,當補脾者十之三四,當補腎者十之五六,補陽者十之二三,補陰者十之八九.

Dịch nghĩa:
Ngoài 4 phép ấy ra, c̣n có phép bổ, huyết gia thuộc bệnh hư lao nên cần bàn đến phép bổ, các sách trọng đến phép bổ đến 90%, mà không biết rằng phép bổ cũa huyết chứng cũng có lúc nên bổ, có lúc không nên bổ, như tà khí không hết mà bổ vào là đóng cửa mà đuổi giặc, ứ huyết chưa tiêu đi được mà bổ vào là giúp cho giặc làm hại, nên bổ Tỳ là từ 30% đến 40%, bổ Thận từ 5-6%, nên bổ dương từ 20-30%. Nên bổ âm th́ 80%-90%.

Nguyên văn:
古有補氣以攝血法,此為氣脫者說,非為氣逆者說,又有引火歸元法,此為水冷火泛者立說,非為陰虛陽越者立說.

Dịch nghĩa:
Đời xưa có phép bổ khí để nhiếp huyết, đây là nói về chứng khí thoát, không phải nói về chứng khí nghịch, lại có phép dẫn hoả quy nguyên, đây là nói về chứng thuỷ lạnh hoả bốc lên, không phải nói về chứng âm hư dương vượt lên.

Nguyên văn:
蓋失血家如火未發,補中則愈,如火已發,則寒涼適足以伐五臟之生氣,溫補又足以傷兩腎之真陰,惟以甘寒,滋其陰而養其陽血,或歸其位耳,血家用藥之宜忌,大率如是,知其大要,而後細閱全書,乃有把握。

Dịch nghĩa:
V́ bệnh thất huyết nếu hoả chưa phát ra th́ bổ là khỏi, nếu một khí hoả đă phát ra th́ thuốc hàn lương chỉ là làm hại sinh khí của ngủ tạng. Thuốc ôn bổ lại là tổn thương chân âm của thận khí, chỉ lấy cam hàn tư âm để dưỡng huyết th́ mới về vị trí của nó vậy.

Huyết gia dùng thuốc nên hay không nên, đại để là như thế, biết được đại yếu của nó, sau xem kỹ toàn thư th́ có chỗ làm căn cứ.
 
Replied by KHANG TƯỜNG (Hội Viên)
on 2015-06-30 10:26:46.0
6. BÀN VỀ BỔ CỨU CỦA SÁCH NÀY

Nguyên văn:
本書救論

世之讀朱丹溪書者,見其多用涼藥,於是廢黜熱藥,貽誤不少,而丹溪不任咎也,蓋丹溪之書,實未常廢熱藥,世之讀陳脩園書者,見其多用熱藥,於是廢黜涼藥,為害尤多,而脩園不任咎也.

Dịch nghĩa:
Người đời đọc sách ông Chu Đan Khê thấy dùng thuốc mát nhiều, th́ bỏ thuốc nóng đi không dùng, th́ làm hại cũng không ít, mà ông Chu Đan Khê không có lỗi ǵ cả, v́ sách của Chu Đan Khê không có bỏ thuốc nóng đi.

Nguyên văn:
蓋脩園之書,實未嘗廢涼藥,兩腎立論,不過救一時之偏,明一已之見,世之不善讀者,得其所詳,忽其所略,豈知兩腎所略,亦日人所已詳,吾固不必詳焉耳,初何嘗廢黜不言哉.

Dịch nghĩa:
Người đời đọc sách Trần Tu Viên thấy phần nhiều dùng thuốc nóng, mà bỏ thuốc mát đi không dùng, th́ làm hại càng nhiều, mà ông Trần Tu Viên không có lỗi vậy. Thực ra sách của ông Trần Tu Viên không có bỏ thuốc mát đi. Hai vị hiền này lập luận chẳng qua là có sự thiên lệch của một thời, nêu rơ kiến thức của một ḿnh, người đời không khéo đọc sách, biết được sự rơ ràng mà quên đi sự tỉnh lược, không biết là hai vị hiền ấy tỉnh lược đi, cũng nghĩ rằng người ta đă rơ ràng rồi, không cần phải nói rơ thêm nữa, chứ chưa từng bỏ đi mà không nói vậy.

Nguyên văn:
即如予作此書,亦多用涼藥,少用熱藥,然非棄熱藥而不用,特以血症宜涼者多,非謂血症全不用熱藥也,予於每條當用熱藥者,未嘗不反覆言之,慎毋誤讀是書,而有偏重涼藥之弊,總在分別陰陽,審症處方,斯無差忒.

Dịch nghĩa:
Đến như tôi làm sách này cũng phần nhiều dùng thuốc mát, ít khi dùng thuốc nóng, song không phải bỏ thuốc nóng mà không dùng, chỉ v́ huyết chứng phần nhiều dùng thuốc mát, không phải bảo rằng huyết chứng toàn không dùng thuốc nóng vậy. Ở mỗi điều nếu dùng thuốc nóng, tôi thường phải nói đi nói lại, xin đừng đọc sách này mà có cái tệ thiên lệch trọng dùng thuốc mát, cần phải phân biệt âm dương, xét chứng dùng phương th́ mới không bị sai và nhầm lẫn.

Nguyên văn:
又予是書為血症說法,與雜症不同,泥此書以治雜症固謬,若執雜症以攻此書,尤謬,讀吾書者,未知流弊若何,吾且為此論,先下一針砭。

Dịch nghĩa:
Sách này là nói về huyết chứng, khác hẳn với tạp bệnh, đem sách này mà trị tạp bệnh là sai lầm, nếu đem tạp bệnh để công kích sách này th́ càng sai lầm hơn.
Người đọc sách này không biết lưu tệ (tệ hại lưu đâu không biết) đến đâu, nên tôi làm sách này, trước cấm một cái kim vậy.
 
Reply with a quote


<< Trả Lời >>

Nội Quy | Góp Ý | © 2009 - 2017 yhoccotruyen.org