Trang Chính

  Dược Vị

  Toa Thuốc

  Diễn Đàn

  Đăng Nhập

  Đăng Ký

Diễn đàn >> Kiến Thức YHCT >>

<< Đăng Chủ Đề Mới >>
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2025-12-28 21:10:51
18 SANG UNG TRÀNG UNG TẨM DÂM MẠCH BỆNH CHỨNG TỊNH TRỊ
18 Mạch chứng và điều trị lở loét tràng ung bệnh ngoài da

Khái thuyết

Thiên này tŕnh bày biện chứng luận trị các bệnh tật như lở loét, tràng ung, kim sang (vết thương do dao kiếm) và bệnh ngoài da. Trong thiên tổng cộng có 8 điều văn, 6 phương dược. Trong đó điều 1 và điều 2 thảo luận về mạch chứng, và phương pháp chẩn đoán phân biệt. Điều 3 và 4 thảo luận về mạch chứng, trị pháp và phương dược của bệnh tràng ung (nhọt trong ruột). Điều 5 và 6 thảo luận mạch chứng của kim sang với cơ chế phát bệnh và phương chứng. Điều 7 và 8 thảo luận kết cục và trị pháp của tẩm dâm sang (bệnh ngoài da). Bởi v́ các chứng sang ung, tràng ung, kim sang, tẩm dâm sang đều thuộc bệnh ngoại khoa, v́ thế được hợp lại cùng tŕnh bày trong 1 thiên.

Sang ung tức là ung thũng. Đặc điểm của hội chứng là đỏ, sưng và đau, do hoả độc kết ở ngoài, thuộc dương thuộc thực, chưng hấp máu thịt mà thanh nhọt mủ. Bệnh ở bên ngoài, v́ thế gọi là sang ung, nếu nhọt mủ độc nhiệt kết ở trong ruột, th́ gọi là tràng ung, tên khác là nội ung. Tẩm dâm sang, là do độc của thấp nhiệt, ứ đọng vào hai kinh tâm phế, hướng ra bên ngoài phát ở dưới da, h́nh như lúa gạo, ngứa không ngưng nghỉ, găi trầy sước chảy ra nước vàng, gây ẩm ướt, lở loet toàn thân, v́ thế gọi là tẩm dâm sang.

Kim sang, là chỉ về da thịt bị thương do khí giới như dao búa, cũng có khi sau khi bị thương lại cảm thụ độc tà, mưng mủ lở loét th́ gọi là kim sang.

诸浮数脉,应当发热,而反洒恶寒,若有痛处,当发其痈。
1/Chư phù sác mạch, ứng đáng phát nhiệt, nhi phản sái tích ố hàn, nhược hữu thống xứ, đáng phát kỳ ung.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày mạch chứng của chứng sang ung tiên phát. Bởi v́ thấp nhiệt hoả độc kết tụ bên trong, tà nhiệt chưng hấp ở ngoài, vinh vệ đều nóng, v́ thế xuất hiện mạch phù sác. Nếu tà nhiệt cản trở ở vệ phận, vệ khí không thể vận hành dễ dàng, v́ thế thấy như vẻ ngoài run rẩy sợ lạnh. Thấp nhiệt hoả độc , tụ vào một nơi, th́ tất nhiên máu thịt sẽ bị rữa nát, v́ thế doanh huyết ứ nát không thông mà thành ung nhọt. Ung độc hủ hoá khí huyết th́ thành mủ, v́ thế viết: Đang phát ung nhọt. Như vậy có thể thấy, mạch phù sác và sợ lạnh, nếu không có điểm đau cố định nào, th́ là bệnh ngoại cảm; Nếu có một điểm đau cố định th́ đó là dấu hiện tiên phát của bệnh ung nhọt.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Mạch phù sác đều thuộc dương; Dương đúng ra là phát nhiệt, nhưng lại sợ lạnh, vệ khí bị cản trở không thể xuất ra, mà vệ cũng chủ vận hành doanh khí, mà v́ doanh quá thực (vượt quá t́nh huống b́nh thường), nên lại cản trở vệ; Nếu có điểm đau, là dấu hiệu doanh đă thực, v́ thế viết là đang phát bệnh ung nhọt.



2.师曰:诸痈肿欲知有脓、无脓,以手掩肿上热者,为有脓;不热者,为无脓。

2/ Sư viết: Chư ung thũng, dục tri hữu nùng vô nùng, dĩ thủ yểm thũng thượng, nhiệt giả vi hữu nùng, bất nhiệt giả vi vô nùng.

【Giải thích】

Bản văn tŕnh bày việc thông qua phương pháp xúc chẩn để phân biệt ung nhọt có mủ hay không có mủ. Bởi v́ doanh huyết bị ngưng trệ, vệ khí không vận hành, ứ đọng vào một nơi, ứ nên sinh nhiệt, nhiệt thắng tất máu thịt bị rữa nát, máu thịt rữa nát th́ sẽ h́nh thành nhọt mủ, v́ thế khi đặt tay lên nhọt cảm thấy nóng và mềm th́ chính là có mủ. Giả như, uất trệ không nặng, c̣n chưa hoá nhiệt, chỉ là u nhọt, v́ thế khi ấn vào không nóng mà lại cứng, th́ chính là biểu hiện của nhọt không có mủ.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Xem u nhọt, không có mủ là độc không hoá, mà độc không tụ, th́ không thành mủ. V́ thế khi đặt tay lên chỗ sưng, cảm thấy nóng là nhiệt đă tụ, th́ có mủ, không thấy nóng là độc không tụ, th́ không có mủ.”

3.肠痈之为病,其身甲错,腹皮急,按之濡如肿状,腹无积聚,身无热,脉数,此为肠内有痈脓,薏苡附子败酱散主之。

3/ Tràng ung chi vi bệnh, kỳ thân giáp thác, phúc b́ cấp, án chi nhu, như thũng trạng, phúc vô tích tụ, thân vô nhiệt, mạch sác, thử vi tràng nội hữu ung nùng,Ưdĩ phụ tử bại tương tán chủ chi.

Ư dĩ phụ tử bại tương tán phương

Ư dĩ nhân 10 phân, phụ tử 2 phân, bại tương 5 phân. Tán bột mịn lấy (dùng) phương thốn chủy sắc trong 2 thăng nước c̣n 1 thăng uống, tiểu tiện thông (tiểu tiện đáng hạ).

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng tràng ung đă thành mủ. Bởi v́ hoả độc tụ trong ruột mà phát chứng tràng ung, tuy thân thể không sốt, mà mạch lại sác, huyết khí ngưng trệ bên trong, không thể nuôi da thịt bên ngoài, v́ thế thân thể tựa như vảy giáp đan xen. Ung nhọt bên trong, cản trở huyết lưu thông nên khí trệ, v́ thế da bụng như phù thũng, ấn vào vẫn mềm. Tuy bệnh ở giữa vị và tràng, nhưng thật sự không có tích tụ trong bụng, v́ thế chứng này và chứng trong bụng có ḥn khối tích tụ là khác nhau.

Điều trị dùng Ư rĩ Phụ tử ại tương tán, trừ mủ tiêu ung nhọt, thông dương hành âm. Trong phương có Ư rĩ nhân tiết nhiệt trừ thấp, trừ mủ lợi tiểu, Bại tương thảo thanh nhiệt giải độc, phá ứ trừ mủ, Phụ tử cay ấm, phù dương và vận hành khí huyết tân dịch,v́ thế có thể tán kết tiêu thũng. Dưới phương có câu: “Đốn phục, tiểu tiện đáng hạ”, chính là chỉ về sau khi uống thuốc, th́ tiểu tiện, khí hoá liền thông, khí hoá thông th́ ung nhọt uất kết có thể mở, nhiệt ứ trệ có thể hành, đại tiện xuất ra máu mủ ô uế, chứng ung nhọt trong ruột khỏi dần. Uống hết thuốc trong một lần, để cho lực thuốc có thể nhanh chóng làm suy giảm thấp nhiệt hoả độc của bệnh.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Luận chú》:“ Thảo luận tràng ung là bệnh của tràng vị, tựa như không có ǵ khác ngoài chứng trạng đau bụng, không biết ung là bệnh ở giữa các mạch máu. Tràng thuộc kinh dương minh, kinh dương minh chủ cơ nhục toàn thân, v́ thế toàn thân khô sần, bụng là phủ của tràng, nên da bụng căng, nhiệt khí cũng được cổ động, khí không hữu h́nh nên ấn vào thấy mềm mại. Tuy da căng như phù thũng, nhưng thực ra cũng không có vật tích tụ. Bệnh không ở biểu nên không phát sốt, tuy không sốt nhưng mạch sác, ung là bệnh của máu, mạch cũng chủ huyết, v́ thế viết đây là tràng ung. Ư rĩ tính hàn có thể trừ nhiệt, kèm theo hạ khí thắng thấp, lợi tràng vị, phá độc thũng, nên dùng làm quân dược. Bại tương có tác dụng trừ mủ phá huyết, lợi kết nhiệt độc khí, được dùng làm thần dược. Phụ tử dẫn nhiệt vận hành kết, nên lại làm tá dược.

【Bệnh án】

Họ Trương ××, nam, 23 tuổi. Chẩn đoán và điều trị vào ngày 20 tháng 10 năm 1965. Trương đau bụng một ngày, sốt và nôn mửa, sau đó cơn đau di chuyển xuống vùng bụng dưới bên phải. Tây y chẩn đoán là viêm ruột thừa cấp tính. Đă được điều trị liên tục bằng thuốc kháng sinh và các loại thuốc khác nhưng cơn đau vẫn kéo dài, bn bị sốt và nôn mửa. Bệnh nhân không muốn phẫu thuật và t́m đến Thầy Chu để điều trị. Các triệu chứng bao gồm nước da nhợt nhạt và vàng, vẻ mệt mỏi, đau dai dẳng ở vùng bụng dưới bên phải, kịch phát, đau nhức rơ rệt, đau dội ngược và căng cơ, khối to bằng ḷng bàn tay, ớn lạnh và sốt, chân tay lạnh khi đau dữ dội, rêu lưỡi vàng , có dịch, mạch hoạt sác . Nhiệt độ cơ thể là 38,7°C, số lượng bạch cầu là 20.000/mm3. Đây thuộc loại hàn thấp ứ đọng và chuyển hóa nhiệt, cần được xử lư bằng ôn dương, khứ thấp và thanh nhiệt. Dùng 90 gam Ư rĩ, 30 gam rễ phụ tử (nước sắc trước) và 30 gam Bại tương thảo: Hướng dẫn sắc đặc và uống hết trong 1 lần. Sau 4 thang, cơn đau giảm đi nhiều, hết nôn mửa, thân nhiệt trở về b́nh thường, tổng số bạch cầu giảm xuống c̣n 13.000/mm3. Sau khi tiếp tục uống 6 thang trên, tổng số bạch cầu trong máu là 10.000/mm3, chỉ c̣n lại khối ở vùng bụng dưới. Sau khi uống hơn 20 liều thuốc trên, khối u biến mất và lành hẳn.

(Trích từ “Tạp chí Y học cổ truyền Trung Quốc Thượng Hải” 5:5: 1982).



肠痈者,少腹肿痞,按之即痛,如淋,小便自调,时时发热,自汗出,复恶 寒。其脉迟紧者, 脓未成,可下之,当有血;脉洪数者,脓已成,不可下也,大 黄牡丹汤主之。
4/Tràng ung giả, thiếu phúc thũng bĩ, án chi tức thống, như lâm, tiểu tiện tự điều, thời thời phát nhiệt, tự hạn xuất, phục ố hàn. Kỳ mạch tŕ khẩn giả, nùng vị (chưa) thành, khả hạ chi, đáng hữu huyết. Mạch hồng sác giả, nùng dĩ thành, bất khả hạ dă. Đại hoàng mẫu đơn thang chủ chi. (4) Đại hoàng mẫu đơn thang phương Đại hoàng 4 lượng, mẫu đơn 1 lượng, đào nhân 50 hột, qua tử 0,5 thăng, mang tiêu 3 hợp. Dùng 6 thăng nước sắc c̣n 1 thăng bỏ bă cho mang tiêu vô sắc sôi rồi uống. Hữu nùng đáng hạ (có mủ th́ sẽ tiêu ra mủ) vô nùng, đáng hạ huyết (không mủ th́ sẽ tiêu ra máu).

【Giải thích】

Đoạn văn này biện chứng luận trị chứng tràng ung chưa thành mủ. Hoả độc tà khí ứ đọng trong ruột, tuy tụ lại thành h́nh, nhưng chưa gây rữa nát hoá mủ, v́ thế xuất hiện bụng dưới sưng thũng bĩ tắc, thũng bĩ ứ trở bức bách bàng quang, v́ thế khi ấn vào th́ đau như bị bệnh lậu, mà thực ra th́ không phải bệnh lậu, v́ thế tiểu tiện điều hoà. Do độc tà tụ ở trong, khí vinh vệ tương tranh, v́ thế luôn luôn phát sốt, xuất mồ hôi và sợ lạnh. Huyết nhiệt ứ trệ, kết lại không thông, mạch máu co lại, nên mạch tŕ mà khẩn. Đây là nhiệt phục huyết ứ, ung nhọt chưa thành, v́ thế có thể công hạ để ngăn chặn, khiến ung nhọt tiêu tán. Nếu mạch không tŕ khẩn, mà lại là mạch hồng sác, là biểu hiện của nhiệt thế đă thành, vinh khí rữa nát thành mủ, v́ thế không thể công hạ. Căn cứ theo quan sát lâm sàng, chứng này công hạ cũng tựa như vô hại.

Điều trị dùng thang Đại hoàng Mẫu đan b́, tiết nhiệt trục ứ là chính. Trong phương có Đại hoang, Đan b́, Đào nhân tả nhiệt trục ứ, tiêu tán ung thũng, Qua tử và Mang tiêu, tẩy rửa tích tụ, trừ mủ, thay cũ đổi mới, bên dưới phương thang có câu: “Đốn phục chi, hữu nùng đáng hạ, như vô nùng, đáng hạ huyết” (顿服之,有脓当下,如无脓,当下 血。) là uống hết thuốc trong 1 lần, có mủ th́ tiêu ra mủ, nếu không có mủ th́ tiêu ra máu.Cho thấy chứng tràng ung bất luận có hay không có mủ, phàm thuộc chứng thực nhiệt, đều có thể dùng phép tẩy nhiệt hành ứ, khiến ứ nhiệt được trừ khứ theo đại tiện và chứng tràng ung có thể được trị lành.

Nếu tà độc gây rữa nát thịt hoá thành mủ, khí độc nhiệt lan ra khắp nơi, tổn thương chính khí, v́ thế xuất hiện mạch hồng sác. Điều trị nên thanh nhiệt giải độc, trừ mủ tiêu thũng. Nhưng nên thận trọng khi sử dụng phép công hạ, để tránh tổn thương chính khí.

Ư rĩ Phụ tử Bại tương tán và thang Đại hoàng Mẫu đan b́ đểu trị bệnh tràng ung, phương trước thích hợp với chứng tràng ung đă thành mủ, chính khĩ cũng đă thụ thương, lư nhiệt không nhiều; Phương dược sau thích hợp với chứng tràng ung chưa hoá mủ, thuộc thực chứng nhiệt độc nhiều.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị chú》:“Chứng tràng mà bụng dưới không thể ấn nắn, là do dương tà kết ở dưới, và vị trí bị lôi kéo. Ấn vào như bị bệnh lậu, h́nh dung dạng đau, là do như vậy. Mà huyết bị bệnh mà khí không bệnh, v́ thế tiểu tiện điều hoà, nhưng dương tà đă nhiều, vệ khí hư, liền phát sốt xuất hăn và cũng sợ lạnh, đây chính là biểu hiện của chứng tràng ung. Điều trị có sự khác biệt giữa đă thành mủ và chưa thành mủ, phương pháp nhận biết th́ không thể bỏ qua mạch, mạch tŕ khẩn cho biết nhiệt phục gây huyết ứ ở trong, không thành mủ, công hạ cần sớm, chẳng phải nên dùng thang Đào nhân thừa khí ư? Nếu mạch hồng sác, th́ ung đă thành mủ, đâu phải cứ ứ th́ có thể công hạ, thang Đại hoàng Đan b́ điều đàm trừ nhiệt là thế tất dụng của bệnh.”

【Bệnh án】

Họ Lâu××, nam, 20 tuổi. Đến khám bác sĩ ngày 8 tháng 9 năm 1977. Đau lan xuống bụng dưới bên phải đă 2 ngày. Có ấn đau và ấn đau hồi ứng, buồn nôn, khô miệng, táo bón, test đại cơ eo dương tính, ấn đau vùng ruột thừa chi dưới bên phải, rêu lưỡi mỏng màu vàng, mạch huyền sác, nhiệt độ cơ thể 37,3°C, bạch cầu 12.000/ milimét khối, trung tính 79%. Chẩn đoán: nhọt đường ruột (viêm ruột thừa cấp tính). Uống thang Đại hoàng Mẫu Đan b́ gia giảm: Đại hoàng sống 12g, Mẫu đan b́ Đào nhân Đông qua nhân Mộc hương Chỉ xác đều 9g Kim ngân hoa Hồng đằng Bồ công anh để 30g Mang tiêu Cam thảo sống đều 6g. Trong ngày uống 2 thang, sắc xong phân thành 4 lần uống, sau khi uống thuốc bn đi tả 3 lần, đau bụng giảm nhẹ, sau đó dùng nguyên phương trên khứ Mang tiêu, uống mỗi ngày 1thang, uống liên tiếp 6 thang th́ mọi chứng trạng đều biến mất.

【Bệnh án 2】

Họ Từ ××, nam, 44 tuổi. Ông phàn nàn rằng ông bị đau bụng sau khi phẫu thuật cắt trĩ. Tiến hành điều trị bằng thuốc xổ, khi khám th́ phát hiện có một vật giống như sợi dây ở đại tràng xuống bên trái, đè vào một bên cơ thể, đau không chịu nổi, bệnh nhân không ăn uống được và không thể uống được. tiêu chảy, có mủ và chất giống như thịt thối trong phân. Mỗi ngày đại tiện 5,6 lần, có chưng trạng lư cấp hậu trọng (mót rặn có cảm giác nặng nề mà không đại tiện được) Mạch huyền hoạt, rêu lưỡi vàng nhầy.

Biện chứng: Nhiệt tà ở can đảm, bức bách dến ruột, tổn thương đến khí huyết, hiệp theo ứ trệ, từ đó h́nh thành chứng này.

Trị pháp: Thông nhân thông dụng (dùng thuốc thông lợi để điều trị chứng thông tiết thực tính), tả ứ trệ trong ruột, tiêu ứ trệ ngưng kết, phương dùng thang Đại hoàng Mẫu đan b́.

Xử phương: Đại hoàng 12g Đào nhân 12g Đông qua nhân 30g Bại tương thảo 15g Kê huyết đằng 30g Song hoa15g Hải tảo 15g Phật thủ 15g Sài hồ 12g Chỉ thực 10g.

Sau khi uống thuốc bn đi tả ra rất nhiều phân uế trọc, uống đến thang thứ ba th́ cơ bản là khỏi bệnh hoàn toàn. (Kinh nghiệm trị bệnh của Lưu Độ Châu)



问曰:寸口脉浮微而涩,法当亡血,若汗出,设不汗者云何?答曰:若身 有疮,被刀斧所伤,亡血故也。
5/Vấn viết: Thốn khẩu mạch phù vi nhi sáp, pháp đáng vong huyết, nhược hăn xuất. Thiết bất hăn giả vân hà? Đáp viết: Nhược thân hữu sang, bị đao phủ (cái ŕu) sở thương, vong huyết cố dă.

【Giải thích】

Đoạn văn này thảo luận mạch chứng của xuất huyết do kim sang (ngoại thương). V́ do các nguyên nhân như thổ huyết, khạc huyết, tự hăn,đạo hăn, di tinh, dẫn đến âm huyết khuy thiểu, huyết không lưu lợi, v́ thế mạch sáp. Âm huyết hư mà dương khí nổi ra ngoài, v́ thế lại là mạch phù mà vi (nhỏ), như khi huyết hoặc hăn xuất tổn thương vinh, nếu như không vong huyết, cũng không xuất hăn th́ là v́ sao? Nguyên nhân ở đây là, nếu thân thể có mụn nhọt, hoặc bị thương do đao búa, là nguyên do của mất máu.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Huyết và mồ hôi đều thuộc âm; Âm vong, th́ huyết lưu không vận hành, mà khí cũng không phụ giúp, v́ thế mạch phù vi nhi sáp dă (nhỏ bé mà sáp rít) 《Kinh》vân: Đoạt huyết giả vô hăn, đoạt hăn giả vô huyết (Đă mất máu th́ không được phát hăn, đă xuất mồ hôi th́ không được khứ huyết, v́ sẽ làm cho t́nh trạng bệnh tệ hơn). Owrddaay không xuất hăn mà thân có ung nhọt,th́ biết do bị thương do dao búa mà mất máu, với xuất hăn không ngừng, dấu vết th́ khác mà lư th́ cũng tương đồng.



病金疮,王不留行散主之。
6/Bệnh Kim Sang, vương bất lưu hành tán chủ chi.

Vương bất lưu hành tán phương

Vương bất lưu hành 10 phân (ngày 8 tháng 8 thu hái), Sóc diệu tế diệp (lá nhỏ) 10 phân (thu hái ngày 7 tháng 7); Tang đông nam, Căn bạch b́ 10 phân (rễ dâu tằm ăn hướng đông nam thu hái vào ngày 3 tháng 3), Cam thảo 18 phân, Xuyên tiêu 3 phân (bỏ mắt), hoàng cầm 2 phân, Can khương 2 phân, Hậu phác 2 phân, Thược dược 2 phân. Ba vị trước sao than tồn tính nhưng đừng cháy quá, tán riêng từng vị trộn đều. Mỗi lần dùng phương thốn chủy. Vết thương nhỏ th́ rắc trên bề mặt, vết thương lớn th́ vừa uống vừa rắc. Sản hậu cũng có thể uống. Ba vị trước đều âm can 100 ngày

【Giải thích】

Đoạn văn này thảo luận phương pháp điều trị kim sang, Do dao búa gây thương tích, kinh mạch da thịt gân xương bị găy đứt, doanh vệ khí huyết không thể tiếp tục, vết thương đau nhức, thậm chí khí huyết lở loét gây nhiễm trùng.

Điều trị dùng Vương bất lưu hành tán, nối mạch, trị lành vết thương, hoạt huyết hành khí, hoá ứ giảm đau. Trong phương có Vương bất lưu hành hoạt huyết khứ ứ, cầm máu, giảm đau làm quân dược; Tá dược là Sóc diệu tế diệp hành huyết thông kinh, tiêu ứ hoá trệ; Tang căn bạch b́ nối mạch lành vết thương. Ba vị trên thiêu tồn tính, dùng than để có tác dụng cầm máu. Khương, Tiêu, Hậu phác hành khí phá trệ, ôn thông huyết mạch, Hoàng cầm, Thược dược thanh huyết nhiệt, liễm huyết âm; rọng dụng Cam thảo bổ âm sinh cơ, điều hoà các vị thuốc,phối Hoàng cầm thanh nhiệt giải độc. Phương này phối hợp hàn và nhiệt, chiếu cố cả khí và huyết, có thể đắp thuốc bên ngoài, cũng có thể uống điều trị bên trong. Trong ngoài cùng điều trị, vận hành thông sướng khí huyết, điều hoà âm dương, sinh trưởng cơ nhục. “Tiểu sang tức phấn chi”, cho thấy khi da thịt bị tổn thương tương đối nhẹ th́ chỉ cần đắp thuốc bên ngoài mà không cần uống. “Đại sang đăn phục chi”, do tổn thương khá nặng, cần điều trị bên trong để an bên ngoài, v́ thế nên cần uống thuốc, hoặc điều trị cả bên trong và bên ngoài. “Sản hậu diệc khả phục” Sau khi sanh cũng có thể uống, v́ có công dụng tán ứ cầm máu, hành khí hoạt lạc. Nếu ngoại cảm phong hàn th́ khứ Tang căn bạch b́, để tránh dẫn bệnh tà vào trong. “Tiền tam vật giai âm can bách nhật” chính là gồm Vương bất lưu hành, Sóc diệu tế diệp, 3 vị này không nên phơi nắng to hoặc sao bằng lửa, chính là có ư để giữ dược tính hàn lương của thuốc.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Kim sang là đao gây thành vết thương, kinh mạch bị cắt đứt, vinh vệ tan nát rời rạc; Điều trị là phải hồi phục vận hành kinh lạc; doanh vệ mối kết. Thuốc tán Vương bất lưu hành là thuốc tốt để vận hành khí huyết và điều hoà âm dương.



【排脓散】方
7/ Bài nùng tán phương Chỉ thực 16 quả, Thược dược 6 phân, Cát cánh 2 phân. Tán bột mịn dùng 1 ḷng đỏ hột gà và một lạng bột thuốc tương đương trộn đều uống ngày một lần.

Bài nùng thang phương Cam thảo 2 lạng, Cát cánh 3 lượng, Sinh khương 1 lạng, đại táo 10 quả. Dùng 3 thăng nước sắc lấy 1 thăng uống lúc ấm 5 hợp.

【Giải thích】

Hai phương thuốc trên thảo luận về trị pháp của chứng sang ung đă thành mủ, chính khí bị tổn thương. V́ hoả độc phát viêm, tụ vào một nơi, khí huyết không thông sướng, nhiệt uất huyết ứ, , chưng rữa nát huyết nhục hoá thành mủ và tổn thương chính khí. Nếu âm phận bị tổn thương, điều trị dùng phương Bài nùng tán, bổ âm hoạt huyết, hành khí trừ mủ. Trong phương có Kê tử hoàng, Thược dược bổ âm dưỡng huyết, mát máu giải độc, hoạt huyết tán ứ, Chỉ thực và Cát cánh một thăng một giáng, khai khí hành trệ, khiến đại khí xoay chuyển, uất kết liền tan. Các vị thuốc hợp lại, có thể dưỡng âm bảo hộ chính khí, khiến mủ chảy ra ngoài, có thể giải nhiệt độc. Nếu chính khí bị tổn thương, điều trị dùng thang Bài nùng. Trong phương có cam thảo điều trung trừ mủ, thanh nhiệt giải độc, Cát cánh khai đề phế khí, đại khí tự chuyển, uất kết có thể tan, Sinh khương Đại táo cay ngọt thuộc dương, điều hoà vinh vệ, phù chính đạt tà. Phối hợp chư dược, để cùng trừ mủ giải độc, có công dụng điều trung khứ tà. Như thế có thể biết, phương Bài nùng tán trị ung mủ tổn thương huyết phận; Thang Bài nùng trị ung nhọt tổn thương khí phận. Nhưng cả hai đều có khả năng điều chỉ cơ chế thăng giáng, tiêu ứ trệ lâu ngày của ung nhọt, có thể điều trị bao quát các bệnh chứng ung nhọt lâu ngày không tan.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Biên chú》:“ Chứng tràng ung tất bắt đầu khi bệnh tà nghẽn tắc khí huyết mà thành, tắc nghẽn khí là nhiệt, hun chưng rữa nát máu thịt thành mủ, v́ thế với Kê tử hoàng, Thược dược chuên bổ âm huyết là chính, Cánh cánh khai đề phế khí mà đi xuống, Chỉ thực lan toả khí kết ở tràng vị. Khiến khí lợi th́ nùng hoá độc, v́ thế cũng dùng làm Bài nùng tán.”

Chứng tràng ung là thuộc đại tiểu tràng thụ bệnh, v́ thế dùng Cam thảo, Cát cánh nhập tốt và kinh thủ túc dương minh, thăng đề chư khí mà tuyên hành giải độc, với Khương, Táo thông điều doanh vệ mà trừ huyết là nùng. Hai phương này được thiết lập để điều trị bệnh của vị tràng trong cơ thể.

8.浸淫疮,从口流向四支者,可治;从四支流来入口者,不可治。

8/ Tẩm dâm sang, ṭng khẩu lưu hướng tứ chi giả, khả trị; Ṭng tứ chi lưu lai nhập khẩu giả, bất khả trị.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày tiên lượng của các bệnh ngoài da gọi là tẩm dâm sang (ghẻ, chàm …) tẩm dâm sang là bệnh ngoài da do thấp nhiệt hoá độc xâm phạm da thịt, ngứa trước đau sau, găi rách da chảy nước, lan dần ra toàn thân. Nếu tẩm dâm sang phát sinh từ tứ chi hướng về miệng, đó là phản ảnh nhiệt ở da thịt, qua huyết mạch truyền vào bên trong, bệnh tà từ ngoài hướng vào trong, từ nhẹ biến thành nặng, v́ thế khó trị. Nếu chứng tẩm dâm sang từ miệng hướng ra tứ chi, là nhiệt độc ở kinh tâm, lưu tán ra da thịt, thế bệnh hướng ra ngoài, từ nặng biến thành nhẹ, v́ thế có thể điều trị.

【Tuyển chú】

《Y Tôn Kim Giám》:“ Tẩm dâm sang, tẩm gọi là ngấm, dâm là không ngừng, cũng gọi tẩm dâm là không ngừng tŕ hoăn, bịn rịn, từ miệng ra tứ chi là bệnh nhẹ, cũng là từ miệng đi ra ngoài, nên viết là có thể điều trj, từ tứ chi đi vào miệng, là từ ngoài đi vào trong, là nghịch là từ nhẹ biến thành nặng do đó gọi là bệnh bất trị.



9. 浸淫疮,黄连粉主之。方未见
9/ Tẩm dâm sang, hoàng liên phấn chủ chi. (không thấy phương)

【Giải thích】

Đoạn văn này thảo luận về trị pháp của bệnh tẩm dâm sang. Ttaarm dâm sang là nhiệt độc ở tâm mạch, là bệnh ngoài da, điều trị dùng phương Hoàng liên phấn, thanh nhiệt giải độc. Trong phương có Hoàng liên đắng lạnh nhập tâm, không kể là uống hay bôi đắp bên ngoài, đều có công dụng giải nhiệt độc, mát máu táo thấp (khô ẩm thấp).

Căn cứ theo quan sát trên lâm sàng, dùng Hoàng liên, Lồ cam thạch lượng bằng nhau tán thafh bột mịn, dùng dầu mè, trộn để bôi đắp trên da, điều trị chứng chảy nước vàng của bệnh ngoài da có tác dụng rất tốt.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Thiển Chú》:“ Chưa thấy phương Hoàng liên phấn, nghĩ rằng chỉ dùng một vị Hoàng liên, tán bột đắp bên ngoài vết loét, thậm chí cũng có thể uống, các vết loét đau ngứa, đều thuộc tâm hoả. Vị Hoàng liên đắng lạnh tả tâm hoả, cho nên chủ trị chứng này.

Kết luận

Thiên này tŕnh bày nguyên nhân, cơ chế và phương pháp điều trị của các bệnh như mụn nhọt lở loét, mụn nhọt trong ruột, bệnh ngoài da, bị thương do dao búa. Ư rĩ Phụ tử Bại tương tán, trừ mủ tiêu thũng, trấn dương tiêu âm, có thể trị chứng mụn nhọt trong ruột đă thành mủ và chính khí bị tổn thương; Thang Đại hoàng Mẫu đan b́, tiết nhiệt trục ứ, trị chứng thực nhiệt tràng ung (nhọt trong ruột); Bài nùng tán có thể trị ung nhọt sưng phù kiêm hiện tượng âm bị tổn thương; Bài nùng thang có thể điều trị chứng ung nhọt kèm theo chứng trạng đặc trưng của khí bị tổn thương. Thuốc tán Vương bất lưu hành, có tác dụng hoạt huyết hành khí, cầm máu giảm đau, v́ thế có thể dùng điều trị chứng kim sang (ngoại thương do dao búa). Hoàng liên phấn có công dụng thanh nhiệt táo thấp, mát máu giải độc, dùng thích hợp với các bệnh ngoài da (tẩm dâm sang).

Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2025-12-28 21:12:18
19 PHU QUYẾT THỦ CHỈ TÍ THŨNG CHUYỂN CÂN ÂM HỒ SÁN HỒI TRÙNG BỆNH MẠCH CHỨNG TRỊ
19 Phu quyết thủ chỉ tí thũng chuyển cân âm hồ sán hồi trùng bệnh Mạch chứng trị
Khái thuyết

Trong thiên này chính là tŕnh bày biện chứng luận trị các chứng như phu quyết (趺蹶) là bệnh Parkinson, thủ chỉ tí thũng (手指臂肿) là hội chứng ống cổ tay, chuyển cân (转筋) là chứng chuột rút, âm hồ sán (阴狐疝) là chứng thoát vị bẹn, và bệnh giun đũa. Trong thiên có 8 điều văn, 5 phương. Trong đó từ điều 1 đến điều 4 thảo luận hội chứng và phương dược của các bệnh như phu quyết (Parkinson), thủ chỉ tí thũng (hội chứng đường hầm cổ tay, chuyển cân (chuột rút) và âm hồ sán (thoát vị bẹn). Từ điều 5 đến điều 8 chính là thảo luận về mạch chứng, cơ chế phát bệnh và phương pháp trị liệu của bệnh hồi trùng (bệnh giun đũa). Trọng điểm của thiên này là bệnh hồi trùng (bệnh giun đũa), các chứng khác th́ khá sơ lược , mà 5 loại bệnh này, đều có liên hệ với bệnh biến của quyết âm can kinh, v́ thế nên được hợp chung trong 1 thiên để thảo luận.

“Phu quyết” (趺蹶) và tên “Phu quyết” tựa như nói về bàn chân bị thương nên người bệnh chỉ có thể tiến về phía trước mà không thể lùi lại.

“Thủ chỉ tí thũng” (手指臂肿), là chỉ về hội chứng ngón tay và cánh tay phù thũng và run.

“Chuyển cân” (转筋) là chỉ t́nh trạng cánh tay, chân bị cứng không thể co duỗi (chuột rút).

“Âm hồ”, là chỉ về âm nang lớn nhỏ chênh lệch, lúc ở trên, lúc ở dưới, hoặc đau trướng, hoặc có cảm giác nặng đ́.

Hồi quyết, là do tạng hàn, Hồi (Giun) động không yên, nhiễu loạn lên ngực và hoành cách, xuất hiện các chứng trạng như khó chịu bất an, nôn ra giun, bụng đau kịch liệt, ẩu thổ đàm bọt, chân tay lạnh.



1/ 师曰:病趺蹶,其人但能前,不能却,刺腨入二寸,此太阳经伤也。
1/ Sư viết: Bệnh phu quyết, kỳ nhân đán năng tiền, bất năng khước, thích soan nhập nhị thốn, thử thái dương kinh thương dă.

【Từ giải】

Phu quyết (趺蹶) Phu là mu bàn chân, quyết là ngă từ trên cao, ngă lăn ra, là trắc trở, chứng phu quyết là bệnh chứng do té ngă, gây tổn thương cân mạch của kinh Túc thái dương mà thành bệnh.

Soan (腨) đề cập đến cơ bắp chân.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày nguyên nhân, chứng trạng và trị pháp của bệnh “Phu quyết” (Parkinson?). Thày viết: Bệnh phu quyết khiến bệnh nhân chỉ có thể đi lên phía trước mà không thể lùi lại. Kinh lạc trên cơ thể, dương minh tuần hành ở phía trước, thái dương tuần hành ở phía sau, nay v́ “Quyết” mà tổn thương khí của kinh Thái dương, v́ thế xuất hiện bệnh biến chỉ có thể tiến về phía trước mà không thể lùi về phía sau. Trị pháp dùng kim châm bắp chân, sâu 2 thốn, th́ có thể khỏi. V́ kinh Thái dương thông xuống phía trong bắp chân, mà bắp chân lại là nơi giao nhau của hai kinh Thái dương và Dương minh. V́ thế khi châm vào bắp chân sẽ có tác dụng điều hoà khí huyết của cả hai kinh.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú》,“ Trên cơ thể mạch lạc của kinh dương minh ở phía trước, mạch lạc của kinh Thái dương ở phía sau, v́ Dương minh khí vượng không bị bệnh, nên có thể tiến về phía trước, thái dương khí vượng không bị bệnh, nên có thể di chuyển về phía sau, đến nay, sau khi té ngă đă không c̣n như b́nh thường, chỉ có thể tiến mà không thể lùi, cần phải châm vào bắp chân sâu 2 thốn. V́ bụng chân, là nơi mạch Thái dương đi qua, tà tụ tại mạch thái dương giưa hai huyệt Hợp dương và Thừa cân, v́ thế cần phải tả châm để khứ tà, cũng có tác dụng trị tổn thương ở kinh Thái dương. Nhưng kinh Thái kinh quá nhiều, nên cần châm bụng chân, mà bụng chân cũng là bắp chân dưới, căn bản thuộc kinh Dương minh, mạch Thái dương đi qua đây, khi châm th́ khí của hai kinh Thái dương và Dương minh tương thông và (tiến) trước (lùi) sau sẽ được như ư.



2.病人常以手指臂肿动,此人身体𥆧𥆧者,藜芦甘草汤主之

2/Bệnh nhân thường dĩ thủ chỉ tí thũng động, thử nhân thân thể nhuận nhuận (co giật) giả, lê lô cam thảo thang chủ chi. Chưa thấy phương

【Giải thích】

Điều văn này tŕnh bày phong đàm cản trở lạc mạch mà thành chứng ngón tay cánh tay sưng thũng run rẩy. Bệnh này v́ đàm thấp ngưng trệ trong khớp nên sưng thũng, phong tà xâm nhập gây tổn thương kinh lạc khiến các ngón tay và cánh tay run rẩy. Khi phong đàm cản trở kinh lạc th́ dương khí trỗi dậy trừ khứ bệnh tà, phong đàm muốn khứ mà không khứ được, v́ thế thân thể bệnh luôn rung động co giật.

Điều trị dùng thang Lê lô Cam thảo. Phương dược dù đă thất tán, nhưng người viết đoán đây là thang tễ có tác dụng gây ẩu thổ, chính là “Nhân thế lợi đạo” (因势利导) trị pháp lợi dụng hoàn cảnh để trừ khử phong đàm trên hoành cách. Vị Lê lô dũng thổ phong đàm, nâng dương khí, Cam thảo có thể giải độc của Lê lô và hoà trung dưỡng vị. Phương này khiến phong đàm được tiêu trừ, khí cơ của phế tạng thông sướng, th́ các chứng có thể lành.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú》,“ Thấp đàm ngưng trệ trong khớp th́ gây phù thũng, phong tà xâm phạm kinh lạc th́ ngón tay, cánh tay run rẩy, co giật, thân thể co giật là phong đàm ở hoành cách công phá khắp chi thể; Trần Vô Trạch gọi là đàm dăi lưu tại trên và dưới lồng ngực hoành cách, biến hoá sinh ra các bệnh, tay chân cổ lưng đau như bị co kéo, đi lại thường không ổn định. Vị Lê lô thổ đàm trên hoành cách, Cam thảo cũng có thể gây ẩu thổ, dù chưa thấy phương, nhưng đại lược th́ đây là thang tễ dũng (thổ mạnh) vậy.



3. 转筋之为病,其人臂脚直,脉上下行,微弦,转筋入腹者,鸡屎白散主 之。

3/Chuyển cân chi vi bệnh, kỳ nhân tí cước trực, mạch thượng hạ hành, vi huyền. Chuyển cân nhập phúc giả, kê thỉ bạch tán chủ chi.

Kê thỉ bạch tán phương:

Kê thỉ bạch (phân gà màu trắng) tán bột pha 1 phương thốn chủy với 6 hợp nước uống ấm.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp của chứng chuyển cân (chuột rút). V́ thấp trọc hoá nhiệt động phong, nhiệt khiến âm huyết bị tổn thương, gân mạch không được nuôi dưỡng, co cứng và tê, v́ thế tay chân người bệnh bị tê cứng, mạch th́ thẳng lên và xuống, hơi huyền. Nếu chứng chuyển cân nặng th́ đau không chịu nổi và lan lên bụng dưới, cơn đau lan từ hai chân lên bụng dưới và đau kịch liệt, đây là bệnh tà của tạng can trực tiếp tấn công tạng tỳ.

Điều trị dùng Kê thỉ bạch tán, có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp khứ phong. Trong phương có Kê thỉ bạch khổ hàn tiết nhiệt, lợi tiểu tiện, lợi thấp khứ phong, khiến tà khí theo xuống dưới mà bị trừ khứ, nên kinh lạc khí huyết thông sướng, cân mạch được nhuận hoạt và chứng chuyển cân tự khỏi.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển:“ Tạng can chủ gân, bên trên ứng với phong khí; Bệnh ở tạng can sinh phong, là chứng chuyển cân (chuột rút), người bệnh cánh tay và chân bị tê cứng, mạch đi lên xuống dưới và hơi huyền. Kinh viết: Các chứng tê cứng mạnh (cường trực) đều thuộc về phong. Chứng chuyển cân lan vào bụng là tỳ thổ hư và can mộc thừa tỳ, Kê thuộc mộc, mà thỉ (phân gà) lại lợi tỳ khí, v́ thế có tác dụng trị bệnh; Cùng loại t́m nhau, nên càng dễ xâm nhập.



4.阴狐疝气者,偏有小大,时时上下,蜘蛛散主之。

4/ Âm hồ sán khí giả, thiên hữu tiểu đại, thời thời thượng hạ, tri thù tán chủ chi.

Tri thù tán phương

Tri thù 14 con (sao vàng), quế chi 0,5 lạng. Tán bột mỗi lần uống 8 phân 1 chủy ngày 2 lần, hoà nước uống. Có thể làm mật hoàn uống.

【Giải thích】

Đoạn văn tŕnh bày hội chứng và trị pháp của chứng âm hồ sán khí. Chứng âm hồ sán khí, là do phong hàn xâm phạm kinh quyết âm can gây ra, v́ thế dịch hoàn hoặc thiên về trái hoặc thiên về phải mà có lớn có nhỏ, khi phát bệnh th́ nặng đ́, bệnh ngừng th́ thu lên, v́ thế bệnh khi phát khi ngừng th́ có biến hoá lên hoặc xuống. Nếu chứng này nặng th́ âm nang co kéo bụng dưới gây đau kịch liệt.

Điều trị dùng Tri thù tán, ôn tán phong hàn, thông lợi khí huyết, nhanh chóng phá kết thông lợi, khứ phong hạ khí, tiêu tán bệnh tà ở kinh can, Quế chi tân ôn, làm ấm hàn tà ở kinh Quyết âm, phong hàn tiêu tán th́ kinh mạch thuận lợi thông sướng, có thể giải trừ các chứng. Dưới phương có ghi chú: “Mật hoàn diệc khả” (cũng có thể dùng mật làm hoàn), là có ư là bệnh cấp bách th́ dùng thuốc tán, hoà hoăn th́ có thể dùng viên hoàn mật.

【Tuyển Chú】

《Y Tôn Kim Giám》:“ Thiên lệch có lớn nhỏ, gọi là dịch hoàn trái phải cũng có lớn nhỏ. Khi lên khi xuống, gọi là dịch hoàn nhập vào bụng, khi nhập khi xuất. Sán là bệnh của kinh Quyết âm. Chủ trị dùng Tri thù tán, nhập can để trị chứng đau co thắt ở bụng dưới.

【Bệnh án】

Bành Thái, nam, 8 tuổi.

Kể rằng: Đă bị thoát vị trong sáu năm. B́u to như một quả trứng nhỏ, không có màu đỏ, có khi sưng sang trái, có khi sang phải, ban đêm khi trẻ nằm xuống th́ vật sưng thũng ở bụng dưới bụng dưới. Ban ngày khi hoạt động th́ vật sưng thũng nhập vào âm nang và có cảm giác đau nhức, mấy năm nay đà dùng các thuốc chữa thoát vị như sơ can giải uất, lợi khí giảm đau…Nhưng khối vật vẫn xuất hiện như cũ, chưa thấy hiệu quả. Bệnh nhi có tố chất khoẻ mạnh, ăn uống và đại tiểu tiện b́nh thường, không bị trở ngại, rêu lưỡi không vàng, chất lưỡi không hồng, mạch tượng huyền hoăn



Chẩn đoán: Thoát vị âm hồ sán do hàn khí ngưng tụ trong kinh can.

Nguyên tắc điều trị: Tân ôn thông lợi, phá kết giảm đau.

Phương dược: Nguyên phương Tri thù tán trong《Kim Quỹ Yếu Lược 》

Nhện đen to (nên chọn nhện đen to có mạng lưới rộng ở mái hiên, mỗi con to cỡ ngón tay cái, bỏ đầu và chân, nếu lạm dụng nhện hoa có thể bị trúng độc) sáu con, đặt chúng trên một viên gạch từ tính và nướng đến khi thành màu vàng và khô, 12g Quế chi. Hai vị trên dùng chung làm bột, mỗi ngày lấy 4g ḥa với một cốc nước nhỏ và rượu uống trong bảy ngày.

Tác dụng: Sau khi dùng thuốc, cơn đau thuyên giảm, t́nh trạng sưng tấy và đau đớn biến mất sau bảy ngày. Thoát vị bẹn đă khỏi hoàn toàn sau một năm theo dơi.

(Trích từ “Tạp chí Trường Cao đẳng Y học Cổ truyền Trung Quốc Thành Đô” 2:18, 1981)



5.问曰:病腹痛有虫,其脉何以别之?师曰:腹中痛,其脉当沉,若弦反洪 大,故有蚘虫。

5/Vấn viết: Bệnh phúc thống hữu trùng, kỳ mạch hà dĩ biệt chi? Sư viết: Phúc trung thống, kỳ mạch đáng trầm nhược huyền, phản hồng đại (lớn), cố hữu hồi trùng.

【Giải thích】

Đoạn văn này sử dụng thủ pháp so sánh chủ khách để tŕnh bày đặc điểm mạch chứng của bệnh đau bụng do giun đũa. Hỏi viết: Bệnh đau bụng có giun, mạch có ǵ để phân biệt? Đáp viết: Đau bụng mà do hàn tà xâm phạm tỳ khí gây ra th́ có mạch tượng trầm hoặc mạch huyền; Nếu đau bụng do hồi trùng (giun đũa) nhiễu loạn gây ra, th́ mạch không trầm mà không huyền. Mà xuất hiện mạch hồng đại, chính là hồi trùng nhiễu động khí huyết, là hiện tượng nhiệt khí phù động ra ngoài. Đồng thời kèm theo các chứng trạng như đau bụng, lúc đau lúc không, lợm giọng ẩu thổ, thổ dăi bọt, phát sinh ban trắng trên mặt, nghiến răng trong khi ngủ, muốn ăn mà không tiêu hoá, đại tiện không điều hoà, mũi rất ngứa.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển:“ Đau bụng thường thấy mạch phục, là dương khí bế tắc ở bên trong; Hoặc là tà khí nhập vào trong. Nếu mạch hồng đại, th́ không phải là bệnh do chính khí hoặc tà khí gây ra, mà là giun nhiễu động và khí quyết nghịch gây ra, tất nhiên sẽ kèm theo các chứng như ẩu thổ, đau tim, như viết ở điều văn bên dưới, là không nghi ngờ vậy.



6. 蚘虫之为病,令人吐涎,心痛发作时,毒药不止,甘草粉蜜汤主之。

6/Hồi trùng chi vi bệnh, lệnh nhân thổ diên, tâm thống phát tác hữu thời, độc dược bất chỉ, cam thảo phấn mật thang chủ chi. (6)

Cam thảo phấn mật thang phương

Cam thảo 2 lạng, phấn (bột gạo) 1 lạng, mật 4 lạng dùng 3 thăng nước sắc cam thảo trước lấy 2 thăng cho phấn và mật sắc tiếp giống như cháo loăng uống 1 thăng lúc ấm. Bệnh khỏi th́ ngưng uống.

【Từ giải】

Độc dược bất chỉ: 《Bản thảo kinh》chia vị thuốc thành 3 loại: Thượng, trung và hạ, loại hạ chứa nhiều độc tố. Độc dược bất chỉ, chính là chỉ về việc dùng quá nhiều loại thuốc khu trùng, không thể ngăn chặn.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị bệnh hồi trùng (giun đũa) Giun đũa kư sinh trong ruột, hoạt động quấy nhiễu không yên, nếu quấy nhiễu lên vị, th́ huyệt Liêm tuyền khai phóng (mở lớn), v́ thế người bệnh nôn ra bọt dăi; Hồi (Giun) hoạt động th́ gây đau, Hồi ngưng hoạt động th́ hết đau, nên cơn đau phát tác tuỳ lúc, chứng này nếu dùng thuốc độc để bẻ gẫy nó, th́ thuốc với trùng ghét nhau và trùng không thụ nhận thuốc độc, v́ thế viết: “Độc dược bất chỉ”.

Điều trị dùng thang Cam thảo phấn mật, trước tiên là dùng vị ngọt là vị hồi trùng ham thích, kế tiếp dùng duyên phấn có tác dụng sát trùng, huống chi Cam thảo phấn và Bạch mật có tác dụng dưỡng vị hoà trung, hoăn cấp giảm đau, để đề pḥng độc tính của Duyên phấn. Độc tính của Duyên phấn rất mạnh, không nên uống nhiều, v́ thế dưới phương có ghi chú: “Khỏi bệnh là ngừng uống”. Phấn (bột) trong thuốc có người chú thích là “Bột gạo”có vị ngọt, tính hoà b́nh. Có tác dụng điều hoà vị, giải độc, ưu tiên nhanh chậm (hoăn cấp), v́ sau khi uống thuốc sát trùng,không ngừng nôn ra bọt dăi và đau bụng, trong vị không điều hoà, vị khí đă bị tổn hại, v́ thế dùng mễ phấn (bột gạo) để dưỡng vị hoà trung, an hồi (giun) giảm đau, đợi khi chính khí khôi phục, t́nh trạng bệnh hoà hoăn, sau lại tiếp tục dùng thuốc sát trùng, đây là lư thuyết để cho mọi người cùng tham khảo.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị chú》:“ Ẩm thực vào vị, trong vị có nhiệt nên trùng hoạt động, hoạt động th́ vị hoà hoăn, vị hoăn th́ huyệt liêm tuyền mở rộng, nên thổ ra dăi bọt. Hồi (giun) xâm nhập lên hoành cách nên đau tim. Giun ngửi mùi thực phẩm th́ xuất ra, giun được ăn uống th́ yên, nên cơn đau phát tác tuỳ lúc. Gọi là độc dược bất chỉ, là ghét nên không ăn. Giun thích vị ngọt, nên dùng vị ngọt của Cam thảo, tuỳ theo t́nh h́nh mà sử dụng thuốc, hồ phấn ngọt lạnh, chủ diệt 3 loại trùng, khi giun gặp vị ngọt muốn ăn nên đầu hướng lên trên liền cho bn uống hồ phấn để diệt trừ giun, đây là nhờ làm trái ngược mà thu được hiệu quả.

【Bệnh án】

Vương thị hơn 20 tuổi, có tiền sử bệnh giun đũa. Vào giữa mùa hè năm 1943, bệnh cũ của bà tái phát, gây đau vùng thượng vị và bụng, nôn mửa, ăn không ngon, ngồi nằm không yên. Những viên thuốc Sơn đạo niên dược phiến không mang laị hiệu quả và tôi được yêu cầu đi kiểm tra. Thuốc khu trùng lư khí vẫn không thu được hiệu quả. Tôi nhớ lại có một đơn thuốc bột cam thảo và thuốc sắc mật ong trong “Kim Quỹ Yếu Lược” chủ yếu dùng trị bệnh giun đũa, nôn mửa, tiết nước bọt, đau tim. Nếu thỉnh thoảng lên cơn mà thuốc không khỏi th́ dùng thử. Sau đó dùng 15 gam cam thảo nguyên chất, sắc lấy nước, thêm 5 gam bột ch́, 30 ml mật ong trắng, trộn đều, nấu như cháo loăng, chia làm hai vị thuốc ấm, uống lần đầu đầu cơn đau hơi dịu. sau đó uống lại, cơn đau và nôn mửa sẽ dần chấm dứt, bạn sẽ đi đại tiện vào ngày hôm sau. Người bệnh đại tiện ra hơn 20 con giun đũa và đă khỏi bệnh.



7. 蚘厥者,当吐蚘,令病者静而复时烦,此为藏寒,蚘上入膈,故烦;须臾 复止,得食而呕,又烦者,蚘闻食臭出,其人当自吐蚘。

7/ Hồi quyết giả, đáng thổ hồi, kim bệnh giả tĩnh nhi phục thời phiền, thử vi tạng hàn, hồi thượng nhập cách, cố phiền, tu du phục chỉ, đắc thực nhi ẩu, hựu phiền giả, hối văn thực xú xuất, kỳ nhân đáng tự thổ hồi.

【Từ giải】

Tàng hàn: Tức là tạng hàn, chỉ về trong ruột bị lạnh.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày bệnh cơ của chứng hồi quyết. Chứng này v́ nóng trong tràng vị, hồi trùng (giun đũa) tránh lạnh theo ấm, quấy rối ở vị, hoặc chui vào ống mật, v́ thế có câu: Hồi lên hoành cách. Hồi trùng (giun) v́ lạnh mà động, vị (dạ dày) bị quấy nhiễu nên rất khó chịu. Nếu được ấm áp (hồi trùng) tắc an, v́ thế bệnh lại yên tĩnh. Nếu được ăn uống, giun ngửi mùi thức ăn, lại ra quấy nhiễu, nên bệnh nhân ăn vào là ẩu thổ, lại khó chịu mà thổ ra giun. V́ tạng hàn mà giun quấy nhiễu gây đau bụng, hàn nhiệt đan xen lẫn lộn, khí âm dương không liên tiếp nhau thuận lợi, nên chân tay lạnh ngược lên. V́ thế chứng này cũng có tên là chứng hồi quyết.

【Tuyển Chú】

《Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị Chú》:“ Hồi quyết là bệnh hồi trùng mà chân tay lạnh ngược lên. Bệnh hồi quyết đáng ra phải nôn ra trùng (giun), bệnh yên tĩnh nhưng bực bội, v́ tạng can lạnh mà hồi trùng nhập lên hoành cách, v́ thế nên bứt rứt khó chịu, nói giun sống ở tạng can, v́ can lạnh nên nhập vào hoành cách. Một lát lại ngừng, ăn vào ẩu thổ, lại bực bội, là hồi trùng ngửi mùi thực phẩm mà xuất vào vị, nên người bệnh thường nôn ra giun. Nói hồi trùng do phong mà sinh ở can, can hàn nên giun nhập vào hoành cách, ngửi mùi thực phẩm mà xuất vào vị.”



8. 蚘厥者,乌梅丸主之。

8/ Hồi quyết giả, ô mai hoàn chủ chi.

Ô mai hoàn phương

Ô mai 300 hột, tế tân 6 lạng, can khương 10 lạng, hoàng liên 1 cân, đương quy 4 lạng, phụ tử 6 lạng (bào), xuyên tiêu 4 lạng (khứ hạn), quế chi 6 lượng, nhân sâm 6 lượng, hoàng bá 6 lượng tán bột. Riêng ô mai dùng khổ tửu (giấm) ngâm 1 đêm bỏ hạt, chưng dưới 5 thăng gạo, gạo chín lấy ra giả thành bánh trộn các thuốc c̣n lại rồi đặt trong cối giả 2000 chày, ṿ viên to bằng hạt ngô, uống 10 hoàn trước ăn, ngày 3 lần, tăng dần tới 20 hoàn, kỵ đồ ăn sống lạnh hoạt, xú (nhờn, hôi).

【Giải thích】

Đoạn văn này thảo luận về trị pháp của chứng hồi quyết, chứng hồi quyết là do tạng hàn khiến hồi trùng nhiễu động, nhập lên hoành cách dẫn đến chứng hàn nhiệt hỗn tạp.

Điều trị dùng Ô mai hoàn, an hồi chỉ quyết (an hồi trùng, trị chứng tay chân lạnh), điều hoà can vị. Trong phương có Ô mai toan ôn (chua ấm) dưỡng can vị, hồi (giun) gặp vị chua th́ ngừng nhiễu động; Phụ tử, Can khương, Quế chi, Xuyên tiêu, Tế tân, vị cay tính nóng, có thể thông dương phá âm, đồng thời có tác dụng sát trùng; Hoàng liên, Hoàng bá đắng lạnh thanh tả nhiệt ở tâm vị, để trị ẩu phiền, lại có thể đưa giun đi xuống; Nhân sâm, Đương quy bổ dưỡng khí huyết, để phù trợ chính khí bị hư tổn. Phương này đồng dụng hàn nhiệt, khiến tạng hàn được ấm áp, vị nhiệt hạ xuống, khí huyết điều hoà, tạng an hồi (giun) xuống dưới, khiến các chứng đều được giải trừ.

【Tuyển chú】

《Y Tôn Kim Giám》:“ Lư viết: Ô mai vị chua, Hoàng liên, Hoàng bá vị đắng, Quế chi, Độc tiêu, Can khương, Tế tân vị cay, với hồi (giun) gặp vị chua th́ ngừng, vị đắng th́ an, gặp vị ngọt th́ nhiễu động lên trên, gặp vị cay th́ phục xuống dưới. Nhưng vị khí hư hàn, dùng Nhân sâm Phụ tử để ôn bổ, thổ mất tân dịch, Đương quy vị cay để tẩm nhuận th́ chứng hồi quyết có thể lành vậy.”

【Bệnh án】

Hoàng, nữ, 13 tuổi. Ngày 10 tháng 5 năm 1979, sau khi ăn sáng, đột nhiên bị đau bụng kịch phát ở vùng bụng trên bên phải, giống như bị dao cắt, nằm ngồi không yên, buồn nôn và nôn mửa. Chất nôn ra lúc đầu là cặn thức ăn, sau đó nôn ra mật và 2 con giun. khỏi bệnh nhờ điều trị. Cậu ta được đưa vào bệnh viện lúc 4h30 chiều ngày hôm đó. Khi chẩn đoán, bệnh nhân tỉnh táo và có biểu hiện bệnh cấp tính, cúi xuống ôm bụng, rên rỉ đau đớn, nằm ngồi không yên, nhiệt độ cơ thể 36,5°C, bụng phẳng, đau sâu ở vùng bụng trên bên phải, cơ bụng hơi căng, t́nh trạng b́nh thường. âm ruột b́nh thường. Chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch huyền. Không có tiền sử đau dạ dày và chẩn đoán là: Giun đũa ống mật. Điều trị: Ngay sau khi nhập viện, cho uống Ô mai hoàn gia vị:

Ô Mai 120g, Xuyên Liên 10g, Hoàng bá 10g, Phụ tử 6g, Can khương 6g, Quế chi 3g, Đảng sâm 10g, Đương quy 10g, Xuyên tiêu 6g Binh lang 30g, Sử quân tử 15g, Khổ luyện b́ 15g, Phỉ tử 15g, Mộc hương 10g. Một thang sắc uống liên tục, đến khoảng 8 giờ tối hôm đó, bệnh nhân hết đau và lặng lẽ ch́m vào giấc ngủ, buổi chiều ngày hôm sau, bn đại tiện ra hơn 10 con giun. 2 ngày sau đă hồi phục hoàn toàn và xuất viện. (Trích từ “Y học cổ truyền Quảng Tây” 3:47, 1981).



Kết ngữ



Bài viết này bàn về hội chứng, bệnh sinh và các bài thuốc như phu quyết (mu bàn chân bị cứng), sưng ngón tay và cánh tay, chuyển cân (chuột rút), âm hồ sán (thoát vị bẹn), Hồi trùng (giun đũa).

Nếu bệnh phu quyết th́ dùng kim châm vào bụng chân để khí huyết lưu thông thuận lợi th́ bệnh sẽ khỏi. Các ngón tay, cánh tay sưng tấy là do phong đàm. Dùng thang Lê lô Cam thảo dũng thổ (gây thổ mạnh) phong đàm th́ khỏi bệnh . Chuyển cân (chứng chuột rút) là do phong nhiệt hiệp với thấp gây bệnh, điều trị chứng chuyển cân dùng Kê thỉ bạch tán có tác dụng lợi thấp thanh nhiệt khứ phong. Bệnh âm hồ sán (Bệnh thoát vị bẹn), do bệnh tà hàn thấp xâm phạm kinh can, v́ thế dùng Tri thù tán, tân ôn (cay ấm) thông lợi, để giải bệnh tà. Bệnh hồi trùng (bệnh giun), gây đau tim thổ ra đàm dăi, thỉnh thoảng phát tác, đă dùng nhiều loại độc dược mà không trị khỏi bệnh, có thể dùng thang Cam thảo mật phấn, sẽ thu được hiệu quả tốt, dẫn dụ và sát hại hồi trùng; Đến như chứng hồi quyết (bệnh giun và tay chân lạnh) th́ dùng hoàn Ô mai để điều hoà âm dương, an vị và trừ khứ hồi trùng.

Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2025-12-28 21:15:10
20 PHỤ NHÂN NHÂM THẦN BỆNH MẠCH CHỨNG TỊNH TRỊ
Thiên 20
Bệnh mạch chứng và điều trị phụ nữ có thai

Thiên này tŕnh bày và thảo luận về biện chứng luận trị các bệnh thông thường của phụ nữ trong thời kỳ mang thai. Nội dung gồm phụ nữ bị nghén khi mang thai (nhâm thần ố trở), phụ nữ có thai bị bệnh trưng hà (ḥn khối) từ trước, đau bụng, ra máu, khó tiểu tiện, thuỷ khí bệnh (thuỷ tà đ́nh tụ, thuỷ thũng) và phương pháp an thai, dưỡng thai. Trong thiên có 11 điều văn và 9 phương dược. Trong đó điều 1 và 2 thảo luận về mạch chứng của phụ nữ có thai, mạch chứng và phương dược của phụ nữ có thai bị bệnh nhẹ. Các điều 3,4 và 5 thảo luận hội chứng và trị pháp, phụ nữ có thai bị đau bụng hoặc đau bụng đồng thời xuất huyết. Điều 6 thảo luận về phương dược và hội chứng của phụ nữ có thai bị ẩu thổ. Điều 7 và 8 thảo luận về biện chứng và phương dược của phụ nữ khi mang thai tiểu tiện khó khăn, điều 9, 10 và 11 thảo luận về phương dược an thai và dưỡng thai, và trị pháp khi thai bị tổn thương.

Trọng điểm của thiên này là thảo luận về chứng đau bụng và hạ huyết (âm đạo xuất huyết) trong thời kỳ mang thai. V́ đau bụng và hạ huyết trong thời kỳ mang thai, đều có khả năng dẫn đến lưu sản (sanh non), đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển của thai. V́ thế những phương diện này đă được tŕnh bày một cách khá cụ thể.



1.师曰:妇人得平脉,阴脉小弱,其人渴,不能食,无寒热,名妊娠,桂枝汤主之。方见利中.于法六十日当有此证,设有医治逆者,却一月,加吐下者,则绝之。

1/ Sư viết: Phụ nhân đắc b́nh mạch, âm mạch tiểu nhược, kỳ nhân khát, bất năng thực, vô hàn nhiệt, danh nhâm thần, Quế chi thang chủ chi phương kiến lợi trung.Vu pháp lục thập nhật đương hữu thử chứng, thiết hữu y trị nghịch giả,khước nhất nguyệt, gia thổ hạ giả, tắc tuyệt chi.

【Từ giải】

Tuyệt chi:Cấm tuyệt ư của y dược.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị của bệnh nhâm thần ố trở (nghén khi mang thai). Chứng nhâm thần ố trở, thường xuất hiện khi mang thai khoảng trên dưới 60 ngày. Lúc này thai nguyên bắt đầu kết, khí huyết về bào cung để dưỡng thai, thai khí chưa mạnh, âm huyết không đầy đủ, nên mạch xích tiểu nhược (nhỏ yếu), người bệnh khát nước. Âm huyết không đầy đủ, thai nhiệt nghịch lên khiến không thể ăn uống mà lợm giọng ẩu thổ. Mạch ở thốn và quan bộ b́nh hoà, thân thể không nóng lạnh, điều này cho biết là không bị bệnh mà đó là phản ứng của cơ thể khi mang thai, gọi là hiện tượng ố trở (nghén). Điều trị dùng thang Quế chi tư âm hoà dương, điều hoà doanh vệ. Trong phương thang có Quế chi điều hoà dương khí, Thược dược dưỡng âm huyết, Sinh khương, Đại táo, Cam thảo điều hoà tỳ vị, tư bổ sinh khí huyết.

Nếu phụ nữ ở giai đoan đầu của tắt kinh, thày thuốc không biết là đă có thai, cho rằng đây là chứng bế kinh mà ngộ trị (điều trị nhầm), ở tháng thứ nhất sau khi tắt kinh, th́ có thể xuất hiện chứng này, nếu như lại thêm thượng thổ hạ tả th́ nên đ́nh chỉ uống thuốc, cẩn thận quan sát biến hoá của bệnh, để tránh phát sinh vấn đề.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Huyền Giải》:“ Phụ nữ có mạch b́nh hoà, và xích mạch tiểu nhược, người này khát mà không thể ăn, bên ngoài không có biểu chứng hàn nhiệt, chính là có thai. 《Nan kinh》: Mệnh môn là nơi chốn của tinh thần, nơi ràng buộc nguyên khí. Nơi tàng chứa tinh khí của người nam, ràng buộc bào cung ở người nữ. Tử cung cũng thuộc thiếu âm thận, v́ thế biểu hiện ở bộ xích. Thai kết trong thời gian đầu, khí huyết ngưng tắc, nên không tràn đầy v́ thế mạch tượng tiểu nhược, thai đang h́nh thành, trung khí tắc măn (đầy), vị nghịch không giáng xuống, v́ thế lợm giọng ẩu thổ, không thể ăn ngon, vị nghịch nên kim hoả đều thăng, chính là phát khát. Cam thảo, Đại táo trong thang Quế chi có tác dụng bồi bổ tinh của tạng tỳ, Quế chi, Thược dược điều hoà huyết ở tạng can, Sinh khương giáng nghịch trị ẩu thổ, là phương pháp điều trị tốt cho phụ nữ có thai sơ khởi, với phép trị bệnh khi mang thai, trong ṿng 60 ngày có chứng này, thiết lập điều trị ẩu nghịch chứng, c̣n trong 1 tháng xuất hiện chứng này, gia thêm thổ hạ (thượng thổ hạ tả), th́ đây là trung khí suy bại, không liên quan đến thai chết, nên điều hoà trung khí và cũng hết bệnh.

2.妇人宿有癥病,经断未及三月,而得漏下不止,胎动在脐上者,为癥痼 害。妊娠六月动者,前三月经水利时,胎也。下血者,后断三月也。所以血不 止者,其癥不去做也,当下其癥,桂枝茯苓丸主之。

2/ Phụ nhân túc hữu chưng bệnh (bệnh u cục trong bụng), kinh đoạn vị cập tam nguyệt, nhi đắc lậu hạ bất chỉ, thai động tại tề thượng giả, vi chưng cố hại. Nhẫm thần lục nguyệt động giả, tiền tam nguyệt kinh thủy lợi thời, thai dă. Hạ huyết giả, hậu đoạn tam nguyệt phôi dă. Sở dĩ huyết bất chỉ giả, kỳ chưng bất khứ cố dă, đáng hạ kỳ chưng, Quế chi phục linh hoàn chủ chi.

Quế chi phục linh hoàn phương

Quế chi, Phục linh, Đan b́ (bỏ tâm),Thược dược, Đào nhân (bỏ vỏ, đầu nhọn, sao), các vị bằng lượng. Tán bột, luyện mật thành hoàn to bằng cục phân thỏ, mỗi ngày dùng 1 hoàn trước bữa ăn, không đỡ tăng 3 hoàn.

【Từ giải】

【词解】

Phôi: Huyết ngưng tụ không tan.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị phụ nữ mang thai đă có bệnh trưng hà. Người phụ nữ đă có bệnh trưng hà từ trước khi mang thai, kinh kỳ trướ đây b́nh thường, hiện tại đă đ́nh kinh thụ dựng thành thai, kinh ngừng đă 3 tháng, v́ bệnh trưng hà (ḥn khối trong bụng) cản trở huyết mạch, huyết không tuần hành theo đường lối thông thường, mà lậu hạ (ṛ rỉ máu) không ngừng, Ḥn khối cản trở khí huyết vận hành, nên trong bụng phập phồng máy động bất an. Tuy bệnh ở huyết phận, cũng thuộc động thai. V́ ứ mà lậu hạ, v́ thế trưng tích không được trừ khứ th́ chứng lậu hạ không thể ngừng, chỉ khi hạ khứ chưng tích, huyết mạch vận hành b́nh thường, th́ có thể an thai.

Điều trị dùng hoàn Quế chi Phục linh, khứ ứ hoá trưng tích. Trong phương có Quế chi thông huyết mạch; Thược dược lương huyết hoạt huyết; Đào nhân, Đan b́ hoạt huyết hoá ứ; Phục linh kiện tỳ hoá thấp trọc, khiến huyết thuận lợi, khí thông sướng và trưng tích được vận hành. Tuy mỗi ngày uống 1 hoàn trước khi ăn, nhưng cũng nên thận trọng.

Trong câu văn : “ Nhâm thần lục nguyệt động giả, tiền tam nguyệt kinh thuỷ lợi thời, thai dă” (妊娠六月动者,前三月经水利时,胎也) Có thai tháng thứ 6 động thai, trước khi đ́nh kinh 3 tháng kinh nguyệt b́nh thường, bây giờ động thai, điều này cho thấy đây là mang thai và không có bệnh ǵ khác.

Trong câu văn: “Hạ huyết giả, hậu đoạn 3 nguyệt dă” (下血者,后断三月也) Cho thấy có căn cứ của bệnh trưng hà. Trước khi đ́nh kinh 3 tháng, kinh nguyệt không b́nh thường, sau khi đ́nh kinh 3 tháng, lại xuất ứ huyết (lượng ít gọi là lậu) có màu tím đen, nếu kèm theo bụng dưới khiêu động (đập), th́ chính là trưng tích mà không phải là mang thai, điều này không có ǵ phải nghi ngờ nữa.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Trưng, huyết cũ tích lại, cũng là bệnh cũ, khối u tích tụ gây hại, khí của bệnh cũ, cũng hại cho thai. Mang thai 6 tháng, mà đang động thai, nay thai chưa đến 3 tháng, thai không đáng động mà bỗng nhiên động thai, là đặc trưng của khối u tích tụ gây hại. Chính là 6 tháng bị động là thai b́nh thường, 3 tháng bị động là không b́nh thường. Mà người bị bệnh trưng hà, th́ kinh nguyệt không thuận lợi nên không thể thụ thai, cộng thêm trước 3 tháng kinh nguyệt thuận lợi, tử cung sạch nên có thể kết thai. Thai đă kết cho nên kinh ngừng không trở lại, nhưng chưa đến 3 tháng mà phôi huyết trở xuống, cũng v́ sự cố gây hại của khối u tích tụ, với huyết lưu lại nuôi thai là b́nh thường, huyết ra không ngừng là biến chứng bất thường. Tóm lại, ḥn khối (trưng) không được trừ khứ, th́ không giữ được huyết, huyết không giữ được th́ cuối cùng thai không bằng an, v́ thế viết nên trừ khứ ḥn khối. Dùng hoàn Quế chi Phục linh với sức thuốc vừa nhẹ vừa hoà hoăn, v́ e ngại lực mạnh mẽ của thuốc sẽ gây tổn thương cho thai.



【Bệnh án】

Trương ××, nữ, 38 tuổi, xă viên, vào viện ngày 10/3/1978.

Kinh nguyệt của cô ta đă ngưng được 3 tháng. Cô bị sốt vào buổi chiều và chán ăn. Bệnh nhân được chẩn đoán huyết hư vị nhược, huyết hư bế kinh, điều trị dưỡng huyết kiện vị thư can kéo dài không có hiệu quả và t́nh trạng dần dần trở nên tồi tệ hơn. Bụng trướng to rơ ràng, giống như ở tháng thứ năm, thứ sáu của thai kỳ, khi ấn vào th́ cứng như đá, không di chuyển và đau ở bụng dưới, mạch trầm hoạt có lực, càng rơ hơn ở mạch quan bên phải. lưỡi có màu tím với đốm xuất huyết. Theo người viết: Đây là trường hợp có thai kèm theo bệnh trưng hà (ḥn khối). Tôn theo ư của thày Trọng Cảnh liền theo ư của phương Quế chi Phục linh hoàn : Quế chi 15g Đan b́ 15g Thược dược 20g Đào nhân 15g, cho bn uống 2 thang. Sau khi uống t́nh trạng bệnh vẫn như cũ. Sau đó dùng lại phương cũ nhưng tăng lượng Quế chi 25g Đào nhân lên 20g và cho bn uống 2 thang. Sau khi uống bn sôi bụng, sáng hôm sau đại tiện 2 lần, phân màu tím đen và cứng, chứng đau bụng giảm nhẹ. Khám lần 3: Tích khối cứng, cố định không di chuyển, da không nhuận, ŕa lưỡi tím, rêu lưỡi dày và khô, mạch trầm sáp. Lại dùng nguyên phương tăng Đan b́ lên 35g. Sau khi uống đi đại tiện đầy bồn máu, người nhà rất sợ. Sau đó bụng không c̣n quá to, ấn vào bụng cảm giác mềm mại, không đau, ăn uống tốt dần. Nhưng ở dưới rốn vẫn thấy một vật như quả trứng ngỗng, người viết gọi là khí thai, t́nh trạng bệnh nhân ổn định dần và bé gái chào đời đủ tháng.



3.妇人怀娠六七月,脉弦发热,其胎愈胀,腹痛恶寒者,少腹如扇,所以然 者,子藏开故也,当以附子汤温其藏。方未见

3/ Phụ nhân hoài thần lục thất nguyệt, mạch huyền phát nhiệt, kỳ thai dũ trướng, phúc thống ố hàn giả, thiếu phúc như phiến, sở dĩ nhiên giả, tử tạng khai cố dă, đáng dĩ Phụ tử thang ôn kỳ tạng. Phương dĩ kiến

【Từ giải】Thiểu phúc như phiến: Phiến là động từ, nói bụng dưới như vỗ cánh tạo gió có cảm giác mát lạnh.

【Giải thích】

Đoạn văn tŕnh bày biện chứng luận trị phụ nữ có thai đau bụng do dương hư hàn thịnh. Phụ nữ mang thai 6,7 tháng, mạch huyền phát sốt. Tựa như có biểu chứng, thai trướng và đau, vùng bụng ghét lạnh, thậm chí bụng dưới lạnh từng cơn, như là bị gió thổi vào. Sở dĩ như vậy là tạng con mở mà không đóng, và gió lạnh thừa cơ xâm phạm, dương hư có hàn, v́ thế thấy mạch huyền, dương hư khí phù cho nên phát sốt.

Điều trị dùng thang Phụ tử, ôn dương tán hàn, ấm tử cung an thai. Trong phương có Phụ tử ôn dương khí, tán âm hàn, Nhân sâm bổ nguyên khí, chấn hưng dương quang; Phục linh, Bạch truật kiện tỳ sinh tân (mới), bổ khí bổ huyết, Thược dược hoà huyết lại có thể liễm âm, kiềm chế tính táo nhiệt (khô nóng) của Phụ tử, liễm hư dương phù việt ra ngoài.



【Tuyển chú】

《Trương Thị Y Thông》:“Có thai mạch huyền là hư hàn, hư dương tán ra ngoài nên phát sốt, âm hàn nghịch vào trong nên thai trướng. Đau bụng ghét lạnh là bên trong không có dương, tạng con không thể bế tàng, v́ thế khí âm hàn như gió thổi nhẹ nhàng. Dùng thang Phụ tử để ấm tạng, th́ thai tự an.



【Bệnh án】

Họ Vương××, nữ, 35 tuổi, đă sinh con. Đang mang thai được bảy tháng, đột nhiên bị đau bụng liên miên không ngừng. Sau nhiều lần điều trị, bệnh càng tệ. Khi người viết khám th́ bệnh đă hơn 1 tháng, bệnh nhân sợ lạnh, đặc biệt là vùng bụng, trong miệng b́nh thường, thích uống nước nóng, chảy nước dăi, mạch huyền vô lực. Đầu tiên, người viết cho bệnh nhân uống thang Tiêu dao gia vị để điều khí an thai, không hiệu quả. Bất đắc dĩ lại dùng nguyên phương thang Phụ tử trong 《Thương hàn luận》(Phụ tử 15g, Phục linh 15g, Đảng sâm 25g, Bạch truật 25g, Bạch thược 15g), Uống liên tiếp 3 thang th́ khỏi bệnh. Đến kỳ sinh một bé trai khoẻ mạnh.



4.师曰:妇人有漏下者;有半产后因续下血都不绝者;有妊娠下血者,假令妊娠腹中痛,为胞阻,胶艾汤主之。

4/ Sư viết: Phụ nhân hữu lậu hạ giả, hữu bán sản hậu nhân tục (do liên tục) hạ huyết đô bất tuyệt giả, hữu nhâm thần hạ huyết giả, giả lệnh nhâm thần phúc trung thống, vi bào trở, Giao ngải thang chủ chi.

Khung quy giao ngải thang phương

Xuyên khung, A giao, Cam thảo mỗi loại 2 lạng, Ngải diệp, Đương quy mỗi loại 3 lạng, Thược dược 4 lạng, can Địa hoàng 6 lạng. Dùng 5 thăng nước pha chung 3 thăng thanh tửu sắc c̣n 3 thăng, bỏ bă, ḥa tanAgiao uống lúc ấm 1 thăng ngày 3 lần. Chưa hết bệnh uống tiếp.



【Từ giải】

Bào trở: Tên hội chứng, khí huyết bất hoà trong tử cung, cản trở khả năng sinh hoá.



【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị ba loại lậu hạ (xuất huyết tử cung) ở phụ nữ. Phụ nữ xuất huyết, trong đó có 3 loại bệnh chứng: Một là kinh nguyệt nhỏ giọt không ngừng; Hai là sau khi sẩy thai xuất huyết liên tục với lượng ít gọi là lậu hạ; Ba là bệnh bào trở (胞阻) là đau bụng ra huyết khi đang mang thai, (tương tự như tây y gọi là doạ sảy thai). Bệnh bào trở, v́ hai mạch xung và nhâm hư hàn, cản trở huyết không thể giữ lại bên trong (nội thủ), huyết dịch rỉ ra (lậu hạ), không thể nhập vào để nuôi bào thai, ảnh hưởng đến sự phát triển b́nh thường của thai, v́ thế nên đau bụng. Có thai ra máu và đau bụng gọi là hội chứng bào trở. Bệnh cơ của lậu hạ và xuất huyết không ngừng sau khi sảy thai cũng chính v́ hai mạch xung nhâm hư hàn, cản trở huyết không thể giữ lại bên trong gây ra.

Ba loại lậu hạ này tuy khác nhau. Đều có thể dùng thang Giao ngải bổ huyết cố (củng cố) kinh, điều hoà hai mạch xung nhâm mà khỏi bệnh. Trong phương có A giao dưỡng huyết cầm máu; Ngải diệp ấm áp kinh mạch và tử cung; Đương quy, Xuyên khung, Địa hoàng, Bạch thược bổ huyết dưỡng can, liễm âm ích vinh (phận), để nuôi dưỡng bào thai; Cam thảo điều hoà chư dược, hoà hoăn trung tiêu giải trừ cấp bách, hợp lại có công hiệu ấm áp tử cung và điều bổ hai mạch xung nhâm.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Phụ nữ kinh nguyệt nhỏ giọt và thai sản trước sau xuất huyết không ngừng, đều do xung nhâm hư hàn nên âm khí không thể giữ lại, duy chỉ dùng thang Giao ngải để có thể bồi bổ và củng cố, trong phương có Khung, Quy có thể vận hành khí trong huyết; Ngải diệp lợi âm khí, giảm đau an thai, v́ thế được dùng cho phụ nữ có thai đau bụng gọi là bào trở. Bào trở là mạch bào thai bị cản trở ứ trệ, huyết ít nên khí không thể vận hành.

【Bệnh án 1】

Chu ××, 25 tuổi, được chẩn đoán vào ngày 19 tháng 10 năm 1973. Sau khi sinh 40 ngày, huyết hôi không sạch, đau bụng dưới, kém ăn, lưỡi mềm, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng màu vàng, mạch nhu tế. Sau khi sinh khí huyết hư nhược, tử cung ứ nhiệt, người viết cho bn uống thang Giao ngải tứ vật gia giảm: Xuyên khung (sao) Xích, Bạch thương Đảng sâm (sao) Bạch truật đạm Hoàng cầm Xuyên đoạn Thất tiếu tán (gói), mỗi vị 10g Ích mẫu thảo Sinh địa Thục địa Hoàng ngư yêu giao mỗi vị 12g, Ngải nhung thán 3g. Uống 5 thang th́ hết huyết hôi, duy bụng c̣n đau nhẹ, ăn uống chưa tốt, dùng nguyên phương gia Cốc nha, uống 5 thang th́ khỏi bệnh.

【Bệnh án 2】

Túc ××, nữ, 32 tuổi, giáo viên. Đến pḥng khám vào ngày 25 tháng 11 năm 1979.

Kinh nguyệt một tháng 2 lần đă hơn một năm, Tây y chẩn đoán bn bị xuất huyết tử cung chức năng. Đă uống hàng chục liều Quy tỳ và Bổ trung ích khí, nhưng hiệu quả không đáng kể. Lần này bn bị đau bụng kinh, lượng nhiều, màu nhạt, loăng, đă mười ngày mà vẫn kéo dài không hết, thân thể mệt mỏi, yếu ớt, chóng mặt, sắc mặt tái nhợt, toàn thân và thắt lưng ớn lạnh, bụng chướng và đau lưng, kém ăn. và đôi khi có cảm giác hồi hộp, tê tay chân, phù nề chi dưới, lưỡi hơi béo, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch trầm tế vô lực. Hội chứng được chẩn đoán là do thận hư, hai mạch xung nhâm không kiên cố, huyết hải không bế tàng, dùng thang Giao ngải tứ vật trong 《Kim Quỹ Yếu Lược》gia vị:

Thục địa 20g Bạch thược, Đương quy, Đỗ trọng, Thố ti mỗi vị 12g Tục đoạn 15g Sơn thù 10g Xuyên khung 3g Phục linh 10g Ngải diệp thán 10g A giao 15g (chưng riêng)

Sau khi uống 5 thang, thuốc đă có tác dụng ban đầu, các chứng đều giảm, dùng 15 thang vẫn giữ nguyên công thức ban đầu. Vào tháng 12, kinh nguyệt đến một lần b́nh thường, nhưng số lượng vẫn c̣n nhiều. Lời khuyên chẩn đoán thứ ba là bắt đầu dùng năm liều theo đơn ban đầu mỗi lần sau khi thấy kinh nguyệt, trong ba tháng liên tục. Sau khi ngừng thuốc nửa năm, mà kinh nguyệt vẫn b́nh thường.



5.妇人怀娠腹中㽲痛,当归芍药散主之。

5/ Phụ nhân hoài thần phúc trung cấp thống, Đương quy Thược dược tán chủ chi.

Đương quy thược dược tán phương Đương quy 3 lượng, Thược dược 1 cân, Xuyên khung 0,5 cân, Phục linh 4 lượng, Bạch truật 4 lượng, Trạch tả 0,5 cân. Tán bột dùng phương thốn chủy ḥa với rượu uống ngày 3 lần.

【Từ giải】

㽱痛: Bụng đau liên miên.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng phụ nữ có thai đau bụng. Phụ nữ có thai can huyết hư mà tỳ thấp lại nhiều, khiến khi huyết can tỳ bất hoà nên trong bụng co thắt mà đau liên miên, thấp tà không hoá nên tiểu tiện không thuận lợi khiến hạ chi phù thũng.

Điều trị dùng Đương quy Thược dược tán, dưỡng huyết điều tiết can, kiện tỳ lợi thấp. Trong phương trọng dụng Thược dược, b́nh can khí để an tỳ vị, phối hợp với Đương quy, Xuyên khung điều hoà can dưỡng huyết để hoà huyết khí; Bạch truật kiện tỳ táo thấp, phối hợp Phục linh, Trạch tả thấm thấp lợi thuỷ, tiết trọc trừ thũng. Như thế khiến cho hết đau bụng và thai tự an.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Luận chú》:“ 㽲痛者là đau liên miên, không như đau quặn thắt của chứng hàn sán, cũng như đau nhói của khí huyết. Mà chính khí không đầy đủ, khiến cho âm lấn dương, và thuỷ khí thắng thổ, tỳ uất bất thân (không giăn ra), uất mà cầu thân (ứ đọng muốn giăn ra), thổ khí không điều hoà, nên đau liên miên. V́ thế Quy Thược dưỡng huyết, Linh Truật phù tỳ, Trạch tả khứ bớt thuỷ tích tụ có thừa, Khung cùng muốn trục bớt huyết khí. Không dùng vị Hoàng cầm, đau bụng liên miên là do hư tổn, có kèm theo chút hàn lănh; Nhưng không dùng nhiệt, v́ không phải là đại hàn, nên khi chính khí sung măn th́ vi hàn tự khứ thôi.

【Bệnh án】

Họ Phó ××, nữ, 24 tuổi, nông dân, sinh một bé trai vào tháng 10 năm 1979. Sau khi sinh, cô bị chảy máu rất nhiều, hai tháng sau khi sinh, cô vẫn bị chảy máu âm đạo bất quy tắc, máu chảy rỉ rả liên tục và màu sắc nhợt nhạt. Kèm theo đau bụng dưới, chán ăn, bơ phờ, da tái nhợt, gầy g̣, khám phụ khoa cho thấy tử cung phục vị kém. Cho uống hai thang Đương quy Thược dược. Sau 4 ngày tái khám âm đạo xuất huyết rất ít và cơn đau bụng biến mất. Cô được khuyên dùng ba thang Đương quy Thược dược tán gia Đảng sâm, Hoàng kỳ. Sau khi uống thuốc tất cả các triệu chứng đều biến mất, và bệnh không tái phát trong thời gian theo dơi sáu tháng.



6. 妊娠呕吐不止,干姜人参半夏丸主之。

Nhâm thần ẩu thổ bất chỉ, Can khương Nhân sâm Bán hạ hoàn chủ chi.

Can khưong nhân sâm bán hạ hoàn phương

Can khương 1 lạng, Nhân sâm 1 lạng, bán hạ 2 lạng. Tán bột mịn dùng sinh khương trấp làm hoàn to bằng hạt ngô đồng, uống lần 10 hoàn, ngày 3 lần.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng ẩu thổ của phụ nữ có thai do vị hư yếu và có hàn ẩm. Do tỳ vị hư hàn, thuỷ dịch ngưng trệ, tích tụ thành đàm ẩm, trọc âm nghịch lên khiến ẩu thổ đàm bọt và nước. Ẩm đ́nh trệ ở trung tiêu, thường xuất hiện các chứng trạng như khó chịu trong dạ dày và không thể ăn, mạch huyền, rêu lưỡi trơn.

Điều trị dùng Can khương Nhân sâm Bán hạ hoàn. Can khương trong phương có tác dụng ôn trung tiêu tán hàn, chấn hưng trung dương (dương của trung tiêu); Nhân sâm kiện tỳ bổ chính; Bán hạ giáng nghịch trị ẩu thổ; Nước gừng tươi trừ ẩm giáng nghịch. Phương dược này có thể khiến trung dương được chấn hưng, tiêu trừ hàn ẩm, vị khí thuận giáng và chứng ẩu thổ tự ngừng.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị Chú》:“ Đây là bệnh mà hậu thế gọi là ố trở (nghén). Đầu tiên do tỳ vị hư nhược, tân dịch lưu trệ, tích lại thành đàm ẩm, sau khi thai được 2 tháng, phôi hoá thành thai, trọc khí xung lên, trung tiêu không thắng được nghịch trọc, đàm ẩm phun ra, không ngừng ẩu thổ, hàn ẩm ở trung tiêu trỗi dậy. V́ thế dùng vị Can khương trị hàn, Nhân sâm bổ hư, Bán hạ Sinh khương trị đàm và tán nghịch.”



7. 妊娠小便难,饮食如故,当归贝母苦参丸主之。

7/Nhâm thần, tiểu tiện nan, ẩm thực như cố, Đương quy Bối mẫu Khổ sâm hoàn chủ chi.

Đương quy Bối mẫu Khổ sâm hoàn phương: (nam tử gia Hoạt thạch 0,5 lạng). Đương quy 4 lạng, Bối mẫu 4 lạng, Khổ sâm 4 lạng. Tán bột luyện mật làm hoàn bằng hạt đậu nhỏ, uống 3 hoàn, gia tăng tới 10 hoàn.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng có thai tiểu tiện khó khăn. Phụ nữ có thai tiểu tiện khó, ăn uống như thường, cho thấy bệnh ở hạ tiêu mà không ở trung tiêu. V́ khi mang thang mà huyết hư, hạ tiêu lại có thấp nhiệt, dẫn đến tiểu tiện khó khăn không thuận lợi sảng khoái.

Điều trị dùng Đương quy Bối mẫu Khổ sâm hoàn, vị Đương quy hoà huyết nhuận táo, Bối mẫu khai kết giải uất, Khổ sâm thanh lợi thấp nhiệt. Ba vị thuốc hợp lại, th́ can được điều tiết và huyết được thuận lợi, khí khai mở thấp được vận hành và tiểu tiện tự thuận lợi. Phương dược này dùng trên lâm sàng đă thu được hiệu quả không ngờ.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa》:“ Phụ nữ có thai tiểu tiện khó khăn, ăn uống như thường, huyết hư sinh nhiệt, tân dịch bị tổn thương nên khí hoá bất lợi, Chủ trị với Đương quy Bối mẫu Khổ sâm hoàn, Đương quy sinh huyết, Bối mẫu thanh nguồn khí hoá, Khổ sâm giáng hoả của huyết nhiệt, lại cũng là trị pháp lập riêng cho phụ nữ hư nhiệt mang thai.



8. 妊娠有水气,身重,小便不利,洒浙恶寒,起即头眩, 葵子茯苓散主之。

8/Nhâm thân hữu thủy khí, thân trọng tiểu tiện bất lợi, sái tích ố hàn, khởi tức đầu huyễn, Quỳ tử Phục linh tán chủ chi.

Quỳ tử phục linh tán phương

Quỳ tử 1 cân Phục linh 3 lạng. Tán bột mỗi lần dùng phương thốn chuỷ ngày 3 lần, tiểu tiện thuận lợi là khỏi.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng thuỷ khí của phụ nữ có thai. Phụ nữ mang thai có thuỷ khí, thường do sau khi có thai, kinh lạc huyết mạch không vận hành thông sướng, khí hoá bị trở ngại, v́ thế tiểu tiện không thuận lợi. Thuỷ khí đ́nh trệ bên trong, tràn ra da thịt, khiến thân thể phù thũng nặng nề, kinh lạc huyết mạch không vận hành dễ dàng, thuỷ thấp ngưng trệ, dương khí không thông ra da thịt, nên có vẻ ngoài run rẩy sợ lạnh. Thanh dương không thăng, nên đầu huyễn. Điểm then chốt của biện chứng là tiểu tiện không thuận lợi, cần phải chú ư.

Điều trị dùng Quỳ tử Phục linh tán thông lạc lợi thuỷ. Trong phương có Phục linh kiện tỳ hoá khí, thấm thấp thông lạc, lợi thuỷ khứ thấp; Quỳ tử hoạt khiếu hành thuỷ, khiến thủy lợi thấp khứ. Quỳ tử Phục linh tán khiến mạch lạc vận hành thông sướng, thuỷ thấp hạ hành thuận lợi. Cho nên tiểu tiện thuận lợi th́ mọi chứng đều có thể khỏi.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Xiển Nghĩa》:“Phụ nữ mang thai có thuỷ khí, thuỷ là vật âm thấp, dương toàn thân tất bị kiềm chế lấn át, như dương của cơ nhục không vận hành nên thân thể nặng nề, dương của bàng quang không hoá mà tiểu tiện bất lợi, vệ dương không kiên cố mà bên ngoài ghét lạnh, vị dương không thăng nên đầu huyễn. Quỳ tử Phục linh tán chủ trị bệnh này, Quỳ tử có tác dụng hoạt lợi thông dương, Phục linh vị nhạt thấm thấp thông dương, khi thuỷ âm thấp tiết xuống dưới th́ chư dương đều thông.”



9.妇人妊娠,宜常服当归散主之。

9/ Phụ nhân nhâm thần, nghi thường phục Đương quy tán chủ chi.

Đương quy tán phương

Đương quy Hoàng cầmThược dược Xuyên khung mỗi loại 1cân bạch truật 0, 5 cân. Tán bột uống phương thốn chuỷ với rượu. Phụ nữ có thai uống thường th́ dễ sinh, thai nhi không bệnh, sản hậu chủ trị trăm bệnh.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày phương pháp dưỡng thai cho phụ nữ có thai huyết hư nội nhiệt. Sau khi có thai, thai đoạt khí huyết, can huyết hư tổn nên sinh nội nhiệt, tỳ khí hư nên sinh nội thấp, bệnh do huyết hư kết với thấp nhiệt xuất hiện các chứng trạng như thân thể gầy yếu, trong người nóng nhiệt phiền muộn, vựng đầu tức ngực, ăn ít lợm giọng, đau bụng động thai, thậm chí sảy thai.

Nên thường xuyên uống Đương quy tán có tác dụng dưỡng huyết kiện tỳ, tiêu hoá thấp nhiệt. Trong phương có Đương quy, Thược dược bổ can dưỡng huyết, hoà huyết liễm âm, Xuyên khung hoạt huyết giải uất, điều đạt can khí; Bạch truật kiện tỳ hoá thấp; Hoàng cầm thanh nhiệt kiên âm, hợp lại th́ có công hiệu an thai.

Hội chứng can tỳ lưỡng hư, thật bất công với công dụng của thuốc, nếu không uống thường xuyên.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Xiển Nghĩa》:“ Phụ nữ mang thai dùng huyết dưỡng thai, huyết bị thai đoạt mất nên hư tổn mà sinh nhiệt là lẽ thường. ‘Nên uống thường xuyên ’ , là không bị bệnh cũng nên uống thường xuyên. Đương quy, Thược dược, hai vị một tĩnh một động để dưỡng huyết, Xuyên khung điều đạt can dương, Hoàng cầm thanh nhiệt hoà âm, Bạch truật kiện tỳ thắng thấp, uống một th́a cổ (phương thốn chuỷ) thuốc với rượu, theo huyết phận để điều hoà hai tạng can và tỳ.”

【Bệnh án】

Họ Lư ××, nữ, 27 tuổi, có ba lần mang thai sau khi kết hôn hai năm, tất cả đều bị sảy thai khoảng hai tháng sau khi mang thai. Cô đến gặp bác sĩ vào tháng 7 năm 1976. Cố đă tắt kinh nguyệt hơn 40 ngày, hơi buồn nôn, chóng mặt và đau bụng nhẹ, không ra máu, mạch nhu hoạt mà sác, đầu lưỡi hơi hồng. Để ngăn ngừa sảy thai lần nữa, người viết cho bệnh nhân uống Đương quy tán: Đương quy 10g Hoàng cầm 10g Bạch thược 10g sao Xuyên khung 5g Bạch truật 10g Tử tô cánh 10g Thanh Trúc nhự 10g Sau khi uống hơn 20 thang, thai đă hoàn thành đủ tháng.



10. 妊娠养胎,白术散主之。

10/ Nhâm thần dưỡng thai, Bạch truật tán chủ chi.

Bạch truật tán phương: Bạch truật Xuyên khung mỗi loại 4 phân Thục tiêu 3 phân Mẫu lệ 2 phân. Tán bột mịn uống 1 chỉ với rượu ngày 3 lần đêm 1 lần. Nếu đau nhiều gia Thược dược. Tâm hạ thống gấp đôi luợng Xuyên khung; tâm phiền ẩu thổ không ăn uống được gia Tế tân 1 lạng Bán hạ 20 củ, uống cùng giấm nếu nôn khan. Nếu không giảm uống thêm nước tiểu mạch. Xuất hiện miệng khát th́ uống thêm cháo đại mạch. Bệnh tuy đă khỏi, uống hết đừng bỏ.

【词解】

Thố tương thuỷ: Một tên là Toan tương thuỷ, một loại nước uống cổ xưa, có tác dụng kiện vị tiêu nhiệt.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày phương pháp dưỡng thai của thai phụ tỳ hư hàn thấp. Sau khi có thai, thai chiếm đoạt khí huyết, nếu can kinh hư hàn mà huyết thiểu (ít), không thể nuôi dưỡng thai khiến thai động bất an. Tỳ kinh hư hàn mà sinh ra hàn thấp, hàn thấp gây trở ngại trung tiêu, nên xuất hiện các chứng trạng như có lúc đau bụng, nôn ra nước trong.

Điều trị dùng Bạch truật tán, ấm áp can tỳ, trừ thấp an thai. Trong phương có Thục tiêu ấm áp can tỳ, kiện vị dưỡng thai, Xuyên khung thư can hoà huyết, Bạch truật kiện tỳ hoá thấp, Mẫu lệ liễm âm tiềm dương, có thể kết hợp với Thục tiêu để thúc đẩy vị tràng tiêu hoá.

Hội chứng nêu trên nếu thuộc can huyết sáp thiểu, âm huyết bất lợi, trong bụng bị ḱm nén gây đau th́ gia Bạch thược để hoà âm huyết, ứ huyết gây trở trệ, âm huyết không thể xuống đến bào thai, tâm hạ đau đớn th́ gia Xuyên khung phá ứ thông lạc, vận hoá huyết của thai đi xuống (hạ hành); Nếu hàn thấp đ́nh lưu ở trung tiêu, đàm thấp uất trệ v́ thế gây tức ngực phiền muộn, ẩu thổ bọt dăi, đau bụng không thể ăn uống, th́ gia Tế tân ôn hoá hàn ẩm, tán trầm hàn cố lănh (hàn lănh lâu ngày); Nếu ẩu thổ khí nghịch th́ gia Bán hạ kiện tỳ hoá đàm, hoà vị chỉ ẩu. Nếu sau khi uống vẫn không ngừng ẩu thổ, th́ thay bằng nước tiểu mạch có vị ngọt để điều hoà vị (dạ dày). Nếu đă ngừng ẩu thổ, tân dịch trong dạ dày không đầy đủ, người bệnh khát nước th́ ăn cháo Đại mạch để bổ tỳ điều hoà trung tiêu, sinh tân dịch trị khát nước.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Xiển Nghĩa》:“ Dưỡng thai, là thai không sinh trưởng, uống thuốc để nuôi dưỡng cơ hội sinh trưởng, không phải vô cớ mà uống thuốc, điều cần của thai là chú trọng hai tạng can và tỳ, tạng can là nguồn sinh huyết, thổ là mẹ vạn vật, chủ yếu với Bạch truật tán, Xuyên khung lợi cho tạng can, Bạch truật bồi bổ thổ, Thục tiêu hỗ trợ can dương, Mẫu lệ hoà can âm, khi can tỳ âm dương điều hoà th́ sức sống sẽ mạnh mẽ thôi.”



11.妇人伤胎怀身,腹满不得小便,从腰以下重,如有水气状,怀身七月, 太阴当养不养,此心气实,当刺泻劳宫及关元,小便微利则愈。見《玉函》.

11/ Phụ nhân thương thai hoài thân, phúc măn bất đắc tiểu tiện, tùng yêu dĩ hạ trọng, như hữu thủy khí trạng, hoài thân thất nguyệt, thái âm đáng dưỡng bất dưỡng, thử tâm khí thực, đáng thích tả Lao cung cập Quan nguyên, tiểu tiện vi lợi (hơi thông) tắc dũ. Kiến 《Ngọc hàm》

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị của hoài dựng thương thai. Mang thai 7 tháng, thủ thái âm phế kinh cần phải dưỡng thai, nhưng do tâm hoả khí thực, gây tổn thương phế âm, phế khí, phế không giáng xuống được nên không thể dưỡng thai, lại không thể thông điều thuỷ đạo,v́ thế động thai bất an, đầy bụng và tiểu tiện bất lợi, từ eo lưng trở xuống nặng nề phù thũng, như có thuỷ khí. Hội chứng này là tâm hoả khí thực, truyền vào phế kinh, tổn thương thai khí, v́ thế không thể trị phế, mà phải tả tâm khí và vận hành thuỷ khí. Tâm hoả giáng th́ phế khí tự hành, tiểu tiện thông lợi th́ tâm khí có thể hạ giáng. Dùng kim châm huyệt Lao cung để tả tâm khí, châm huyệt Quan nguyên để vận hành thuỷ khí. Hai huyệt Lao cung và Quan nguyên, khi dùng cho phụ nữ có thai phải cẩn thận, châm sâu cường tả (tả mạnh) có thể gây sảy thai, v́ vậy phép châm nên châm nông và nhẹ nhàng.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Trực Giải》:“ Tháng thứ 7 thủ thái âm phế kinh dưỡng thai, kim bị hoả thừa (lấn), nên phế kim thụ thương mà thai không được dưỡng, lại không thể thông điều thuỷ đạo, v́ thế xuất hiện chứng trạng đầy bụng và khó tiểu tiện, từ eo trở xuống như có thuỷ khí. Huyệt Lao cung trong bàn tay, là chủ huyệt quyết âm tâm, dùng phép tả để hoả không thừa kim. Huyệt Quan nguyên ở dưới rốn, là mộ huyệt của tiểu tràng, dùng tả pháp để tiểu tiện thông lợi. Các huyệt này phải dùng cẩn thận nhẹ nhàng, châm sâu tả mạnh có thể gây sảy thai.

Lời kết

Thiên này chủ yếu là tŕnh bày biện chứng luận trị của bệnh tật trong thời gian mang thai.

Có thai ẩu thổ, có hội chứng âm huyết không đầy đủ, vị hư yếu có nhiệt, có thể dùng thang Quế chi, điều hoà tỳ vị, sinh trưởng khí huyết; Có hội chứng vị hư và hàn ẩm nghịch lên th́ có thể dùng Can khương Nhân sâm Bán hạ hoàn, chấn hưng dương ở trung tiêu, trừ hoá hàn ẩm. Có thai đau bụng, thuộc dương hư hàn thịnh, có thể dùng thang Phụ tử, ôn dương tán hàn, ấm tử cung an thai. Nếu can tỳ không điều hoà, có thể dùng Đương quy Thược dược tán, dưỡng huyết sơ (tiết) can, kiện tỳ lợi thấp. Có thai xuất huyết, có chưng tích (ḥn khối) lậu hạ (ra máu rỉ rả), có thể dùng Quế chi Phục linh hoàn, khứ ứ hoá chưng tích, chưng tích khứ th́ huyết tự cầm. Nếu hai mạch xung nhâm hư hàn, không thể thống nhiếp huyết dịch, có thể dùng thang Giao ngải, bổ huyết kiên cố kinh mạch, điều hoà hai mạch xung nhâm.

Phụ nữ mang thai có hai chứng tiểu tiện không thuận lợi và tiểu tiện khó khăn, tiểu tiện khó khăn thường thuộc khí uất huyết hư, sinh nhiệt hoá táo, có thể dùng Đương quy Bối mẫu Khổ sâm hoàn, hoà huyết giải uất, thanh nhiệt nhuận táo. Tiểu tiện không thuận lợi thường do khí hoá bị trở ngại, có thể dùng Quỳ tử Phục linh tán, hoá khí thông lạc lợi thuỷ, khi thuỷ có đường ra th́ thuỷ khí sẽ tự tiêu.

Phụ nữ dưỡng thai, nếu can huyết hư thiểu và tỳ kinh thấp nhiệt th́ có thể dùng Đương quy tán, dưỡng huyết kiện tỳ, thanh hoá thấp nhiệt. Nếu can huyết sáp thiểu, tỳ kinh hàn thấp, th́ có thể dùng Bạch truật tán, có công dụng ấm áp can tỳ, trừ thấp an thai. Đại pháp dưỡng thai cần chú trọng điều chỉnh hai tạng can và tỳ. V́ tạng can chủ về trữ tàng huyết dịch, mà huyết sung túc th́ có thể dưỡng thai, tạng tỳ chủ về hoá sinh khí huyết, tạng tỳ kiện vượng th́ nguồn khí huyết sẽ sung túc, và từ đó sẽ đạt được mục đích của dưỡng thai và an thai.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2025-12-28 21:18:17
21 PHỤ NHÂN SẢN HẬU BỆNH MẠCH CHỨNG TRỊ
Thiên 21 Mạch chứng và điều trị bệnh sản hậu
Khái thuyết

Thiên này tŕnh bày biện chứng luận trị bệnh tật của phụ nữ sau sinh. Sau khi sinh do tổn háo tân dịch mất máu, mà có 3 hội chứng lớn sau: Hội chứng co thắt, Uất mạo (trầm cảm sau sinh), đại tiện nan (táo bón). Sau đó là xoay quanh đặc điểm của cơ thể sau khi sanh, tŕnh bày các bệnh chứng và điều trị như đau bụng, trúng phong, phát sốt, hạ lợi.

Thiên này gồm có 11 điều, 9 phương dược, 2 phương phụ. Từ điều 1 đến điều 3 tŕnh bày tương đối chuyên sâu về cơ chế phát bệnh, hội chứng đến biện chứng luận trị và phương dược của các chứng như kính bệnh, uất mạo và đại tiện nan của phụ nữ sau sinh. Từ điều văn 4 đến điều 7 thảo luận về mạch chứng, biện chứng và phương dược của chứng đau bụng do ứ huyết sau sinh. Điều 8 và 9 thảo luận về hội chứng và phương điều trị của chứng trúng phong sau sinh. Điều 10 và 11 là biện chứng và phương dược của hai chứng gồm hư tổn trong thời kỳ nuôi con và chứng hạ lợi.

1. 问曰:新产妇人有三病,一者病痓(痉),二者病郁冒,三者大便难,何谓也? 师曰,新产血虚,多汗出,中风,故令病症;亡血复汗,寒多,故令郁冒:亡 津液胃燥,故大便难。

1/ Vấn viết: Tân sản phụ nhân hữu tam bệnh, nhất giả bệnh kinh, nhị giả bệnh uất mạo, tam giả đại tiện nan, hà vị dă? Sư viết: Tân sản huyết hư, đa hạn xuất, hỷ (dễ) trúng phong, cố lệnh bệnh kinh; Vong huyết phục hạn, hàn đa, cố lệnh uất mạo; Vong tân dịch, vị táo cố đại tiện nan.

【Từ giải】

Xí (痓): Là bệnh co thắt, bệnh phong

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày nguyên nhân và cơ chế các bệnh sau khi sanh như bệnh co thắt, uất mạo và táo bón. Sau khi sinh sản phụ bị tổn thương tân dịch và mất máu nên rất dễ phát sinh ba loại bệnh nêu trên.

Bệnh kính (co thắt), là do sau khi sanh mất quá nhiều máu, doanh huyết hư thiếu, doanh vệ không điều hoà, thớ thịt không săn chắc vững vàng, xuất quá nhiều mồ hôi nên dễ cảm thụ phong tà. Âm huyết hư thiếu nên không thể nuôi dưỡng cân mạch, lại cảm thụ phong tà, nên rất dễ hoá táo (khô khan) thương gân, v́ thế mà chứng co giật chuột rút theo đó mà phát tác h́nh thành chứng kính (co thắt).

Uất mạo, là do sau khi mất quá nhiều máu, mồ hôi cũng nhiều, âm và huyết cùng hư. Dễ dàng cảm thụ hàn tà. Hàn tà bó ở ngoài nên dương khí khó thông ra ngoài, âm hư huyết thiểu nên thế của hư dương tất sẽ xung lên, v́ thế h́nh thành uất mạo (chóng mặt, lú lẫn, trầm cảm).

Đại tiện khó khăn, do sản hậu mất máu quá nhiều, nhiều mồ hôi nên tổn thương âm, âm huyết không đầy đủ, không thể nhu nhuận (làm ẩm ướt) đại tràng khiến cho đại tiện khó khăn.. Cơ chế của ba bệnh trên đều do tân dịch và huyết bị hư tổn gây ra, v́ thế khi điều trị đều phải chú ư chiếu cố đến tân dịch.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Kính (co thắt) là bệnh ở gân, huyết hư hăn xuất, nên cân mạch không được nuôi dưỡng, phong nhập lại làm cho gân càng cứng hơn. Uất mạo cũng là bệnh về tinh thần; Vong âm huyết hư, dương khí quyết nghịch mà hàn lại uất (ứ đọng) nên vựng đầu hoa mắt. Đại tiện khó khăn, là bệnh của tân dịch, vị trữ tàng tân dịch và thấm tưới cho dương, dịch vị khô khan nên đại tràng không được thấm nhuận mà đại tiện cũng khó khăn. Ba bệnh tuy khác biệt, nhưng vong huyết và tổn thương tân dịch là nguyên nhân th́ chỉ có một, đều là bệnh sở hữu của phụ nữ sau sanh.



2、产妇郁冒,其脉微弱,呕不能食,大便反坚,但头汗出,所以然者,血虚而厥, 厥而必冒,冒家欲解,必大汗出,以血虚下厥,孤阳上出,故头汗出。所以产妇喜汗出者,亡阴血虚,阳气独盛,故当汗出,阴阳乃复。大便坚,呕不能食,小柴胡汤主之。 方见呕吐中

2/ Sản phụ uất mạo, kỳ mạch vi nhược, ẩu bất năng thực, đại tiện phản kiên, đán đầu hăn xuất. Sở dĩ nhiên giả, huyết hư nhi quyết, quyết nhi tất mạo. Mạo gia dục giải, tất đại hăn xuất. Dĩ huyết hư hạ quyết, cô dương thượng xuất, cố đầu hăn xuất. Sở dĩ sản phụ hỷ hăn xuất giả, vong âm huyết hư, dương khí độc thịnh, cố đáng hăn xuất, âm dương năi phục. Đại tiện kiên, ẩu bất năng thực, Tiểu sài hồ thang chủ chi. (xem trong ẩu thổ)

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị hai chứng uất mạo và đại tiện khó khăn cùng xuất hiện ở phụ nữ sản hậu (sau sanh). Sản hậu mất quá nhiều máu, vinh vệ mất điều hoà, thấu lư (thớ thịt) không kiên cố nên dễ xuất mồ hôi, lại e rằng xuất mồ hôi nhiều sẽ tổn thương âm dịch, và dễ cảm thụ ngoại tà. V́ hư đa tà thiểu (hư tổn nhiều và ít bệnh tà), v́ thế xuất hiện mạch vi nhược, trung tiêu hư tổn nên ẩu thổ và không thể ăn, tân dịch trong vị tràng khô cạn nên phân bị cứng, nhiệt không vượt ra ngoài nên thân thể không có mồ hôi nhưng lại xuất mồ hôi trên đầu. Sở dĩ như vậy, ở câu tự chú, chỉ ra rằng v́ huyết hư mà dương quyết nghịch, mà quyết nghịch th́ tất sẽ uất mạo (hoa mắt vựng đầu), muốn giải chứng uất mạo th́ phải xuất đại hăn, làm cho uất dương được thân triển (giăn ra) th́ khỏi bệnh, đó là lư do, sản phụ thường xuất hăn, là để điều hoà vinh vệ, nên có câu “Âm dương năi phục” (âm dương b́nh hành), Nếu đại tiện phân cứng, ẩu thổ không thể ăn uống, th́ liên quan đến hội chứng ẩu thổ của kinh Thiếu dương, v́ thế có thể dùng thang Tiểu sài hồ để hoà giải.

“Mạo gia dục giải tất đại hăn xuất” (冒家欲解,必大汗出) chứng uất mạo muốn giải th́ phải xuất nhiều mồ hôi, phản ảnh t́nh trạng huyết hư vong âm, dương khí nhiều hơn (thiên thịnh), biểu hàn bế uất, cô dương xuất lên mà uất mạo, tất cần toàn thân xuất hăn, khiến dương khí thông đạt ra ngoài mà giải uất, dương khí xuất ra ngoài mà không xuất lên trên, cho nên bệnh uất mạo có thể được giải. Điều trị dùng thang Tiểu sài hồ, phù trợ chính khí đạt tà (đưa tà bên trong ra ngoài), hoà lợi xu cơ (điều hoà thuận lợi điểm then chốt giữa biểu và lư) . Trong phương có Sài hồ điều đạt (không g̣ bó) thiếu dương, khiến khí thanh dương thông đạt ra ngoài, phát tán uất tà của kinh thiếu dương; Hoàng cầm thanh tiết lư nhiệt, thu liễm dương khí, Sinh khương hoà vị giáng nghịch trị ẩu thổ; Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo phù chính đạt tà, điều bổ tỳ vị, khiến thượng tiêu được thông, tân dịch có thể hạ giáng, vị khí điều hoà, khiến trấp nhiên hăn xuất mà giải trừ bệnh (trấp nhiên hăn xuất) là xuất hăn đặc thù của kinh dương minh, đầu tiên dùng thang Tiểu sài hồ là phương pháp để hoà điều, trong đó hàm ư “Cố đương hăn xuất, âm dương năi phục” Xuất hăn để âm dương thăng bằng trở lại.

【Tuyển chú】

《Y Tôn Kim Giám》:“Sản phụ hôn mạo (váng đầu hoa mắt đầu óc tối tăm), mạch vi nhược, là ứng với chẩn đoán của khí huyết đều hư yếu. Không thể ăn là hội chứng ứng với vị khí cũng chưa hoà giáng. Đại tiện phân cứng chính là ứng với bệnh của vị tràng khô khan. Xem xét cẩn thận cho thấy rằng chứng uất mạo sở dĩ như vậy là do huyết hư nên âm hư, mà âm hư th́ dương khí thượng nghịch mà thành chứng uất mạo. Muốn giải uất mạo tất phải xuất đại hăn, chính là dương khí uất tiết ra ngoài mà được giải, v́ thế nên sản phụ thường hay xuất hăn (mồ hôi). Do đó suy ra, huyết ứ gây uất mạo, giải trừ tất phải hạ huyết, chính là âm khí uất được chuyển vào trong để giải. Điều tối kỵ là chỉ xuất hăn trên đầu, đó là biểu hiện của âm vong hạ quyết, cô dương xuất lên trên. Đại tiện phân cứng, ẩu thổ không thể ăn, dùng thang Tiểu sài hồ, tất người bệnh lưỡi có rêu, thân không xuất mồ hôi, h́nh thể không suy là bệnh đă sẵn sàng được giải, và cũng có thể tự ăn. Nếu có mồ hôi th́ giảm Sài hồ, không phát sốt th́ giảm Hoàng cầm, ẩu thổ th́ bội Bán hạ, Sinh khương, hư yếu th́ bội Nhân sâm, cũng là những biến thông (xử lư không câu nệ quy tắc) trên lâm sàng.



3. 病解能食,七八日更发热者,此为胃实,大承气汤主之。见痓病中.

3/ Bệnh giải năng thực, thất bát nhật cánh phát nhiệt giả, thử vi vị thực, Đại thừa khí thang chủ chi.

【Giải thích】

Đoạn văn này tiếp theo đoạn văn trên tŕnh bày bệnh uất mạo đă được giải trừ, vị khí hoà đă có thể ăn uống, sau 7,8 ngày lại phát sốt, nhưng phát sốt mà không sợ lạnh là biết bệnh không ở biểu mà ở lư, lại do ăn được mà phát sốt th́ biết không phải là hư mà là thực chứng, v́ ăn lại phát sốt th́ đại tiện phân tất cứng, và bụng cũng sẽ đau, nên viết “Thử vi vị thực”, có thể dùng thang Đại thừa khí để công hạ.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú》:“ Đây là đại tiện phân cứng, ẩu thổ không thể ăn, dùng thang Tiểu sài hồ bệnh giải là có thể ăn. Bệnh giải là chứng uất mạo đă giải. Có thể ăn, là dư tà c̣n ẩn phục ở trong, phong nhiệt mănh liệt mà tiêu hoá ngũ cốc, nhưng thực phẩm vào vị, hỗ trợ dư tà, v́ thế sau 7,8 ngày lại phát sốt, v́ thế nên tả thực, chủ yếu là tẩy rửa dư tà ở vị, v́ thế dùng thang Đại thừa khí công kiên mạnh mẽ, khiến tà vô h́nh theo ứ trệ hữu h́nh tảo trừ một lần ra hết, th́ không c̣n bệnh. Ư của Trọng Cảnh là tuy phát hiện sản hậu khí huyết tuy hư, nhưng v́ có thực chứng, th́ nên trị thực, không thể v́ lo ngại hư chứng, mà để bệnh tệ hơn.



4. 产后腹中㽲痛,当归生姜羊肉汤主之。并治腹中寒疝,虚劳不足。

4/ Sản hậu phúc trung hư thống (đau ngầm ngầm), Đương quy Sinh khương Dương nhục thang chủ chi; Tịnh trị phúc trung hàn sán, hư lao bất túc.

Đương quy Sinh khương Gương nhục thang phương xem trong Hàn sán.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp của chứng sản hậu huyết hư mà hàn khách vào bụng. Sản hậu huyết hư, khách hàn cản trở đ́nh trệ khí huyết khiến bụng đau âm ỉ, và có đặc điểm là bụng thích ấn nắn và ấm áp.

Điều trị dùng thang Đương quy Sinh khương Dương nhục , ấm trung tiêu điều hoà huyết mạch, dưỡng huyết bổ hư, ôn hàn chỉ thống. Trong phương có Đương quy bổ huyết, ôn thông huyết mạch; Sinh khương ôn trung tán hàn; Dương nhục ôn bổ can huyết. Phương dược này ngoài việc điều trị chứng huyết hư thụ hàn, bụng đau âm ỉ, lại có thể điều trị can huyết hư hàn mà hai mắt nh́n vật không rơ.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Sản hậu đau bụng, khác với chứng đau bụng khi mang thai, đó là do huyết hư và thấp nhiễu loạn bên trong, c̣n ở đây là huyết hư và hàn động ở trung tiêu. Đương quy, Xuyên khung ôn trung tán hàn. Tôn Tư Mạc viết: Dương nhục có lợi cho sản phụ.



5. 产后腹痛,烦满不得卧,积实芍药散主之。

5/ Sản hậu phúc thống, phiền măn bất đắc ngọa, Chỉ thực Thược dược tán chủ chi.

Chỉ thực thược dược tán phương

Chỉ thực (sao đen)Thược dược bằng lượng tán bột mỗi lần dùng phương thốn chuỷ ngày 3 lần, cũng chữa ung nùng uống thêm cháo đại mạch.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp chứng sản hậu đau bụng do khí huyết không thông sướng. Sau khi sanh khí trệ huyết ứ, khí huyết không thông sướng, v́ thế nên đau bụng, đầy bụng, phiền muộn khó chịu không thể nằm.

Điều trị dùng Chỉ thực Thược dược tán hành khí hoà huyết để giải trừ đau đớn. Trong phương dùng vị Chỉ thực sao đen nhập huyết, hành khí khứ ứ, hạ hành (xuống dưới) phá kết; Thược dược thông lợi huyết mạch giảm đau. Chỉ thực và Bạch thược hai vị thuốc hợp lại có thể điều chỉnh khí huyết, phá kết tụ và giảm đau; Dùng cháo đại mạch chiêu thuốc có tác dụng hoà vị khí và điều khí huyết. Chỉ thực, Thược dược thuốc ít lượng thuốc nhỏ, lực phá ứ yếu nhược, chỉ nên dùng trị chứng ứ huyết nhẹ. Phương này có khả năng hoạt huyết hành khí, v́ thế lại có thêm tác dụng tiêu tán ung nhọt và bài trừ mủ độc.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú》:“ Đây là khí trệ đau bụng, sau khi sanh tất nhiên khí sẽ hư yếu, hư yếu th́ khí trệ mà ăn cũng trệ, cho nên đau bụng, rất đầy bụng nên không thể nằm, không nghi ngờ việc xác định đau bụng sau sinh là do ứ huyết.V́ thế dùng Chỉ thực phá ứ hành trệ, Thược dược thu âm mà hoà tỳ dưỡng huyết. V́ sản hậu huyết hư, cho nên dùng như vậy. Phương dược này hành khí hoà huyết nên chủ trị ung nhọt có mủ, dùng cháo đại mạch chiêu thuốc để hoà can khí và dưỡng tâm tỳ.”



6.师曰:产妇腹痛,法当以积实芍药散,假令不愈者,此为腹中有干血着脐下,宜下瘀血汤主之。亦主经水不利。

6/ Sư viết: Sản phụ phúc thống, pháp đương dĩ Chỉ thực Thược dược tán, giả lệnh bất dũ giả, thử vi phúc trung hữu can huyết trước tề hạ, nghi hạ ứ huyết thang chủ chi. Diệc chủ kinh thủy bất lợi.

Hạ ứ huyết thang phương

Đại hoàng 2 lạng Đào nhân 20 hột, Giá trùng 20 con (sao bỏ chân) ba vị trên tán bột luyện mật làm hoàn (làm 4 hoàn) dùng 1 thăng rượu sắc 1 hoàn lấy 8 hợp uống. Tân huyết hạ như đồn can (gan lợn).

【Từ giải】

Can huyết (huyết khô): Huyết dịch không chảy.

【Giải thích】

Đoạn văn này kế tiếp đoạn văn trên tŕnh bày hội chứng của Chỉ thực Thược dược tán, nếu uống thuốc không khỏi bệnh, là do bệnh nặng mà thuốc nhẹ, bên trong có huyết khô, ngưng kết trong bụng dưới, đau bụng không thích ấn nắn.

Điều trị dùng thang Hạ ứ huyết, công kiên phá tích, thanh nhiệt nhuận táo. Trong phương có Đại hoàng thanh nhiệt phá kết để trục huyết ứ, Đào nhân phá huyết trừ ứ, nhuận táo trừ ngưng trệ, Thổ miết trùng (䗪虫tên cổ) tính hàn, phá ứ thông lạc. Dùng mật luyện hoàn, là phép công hạ chậm. Dùng rượu sắc thuốc, dẫn thuốc nhập huyết, và khiến ứ huyết được bài xuất ra ngoài cơ thể. Đại tiện có màu như gan lợn, là thuốc đă trúng bệnh.

【Tuyển chú】

《Y Tôn Kim Giám》:“ Sản phụ đau bụng, thuộc khí kết huyết ứ, dùng Chỉ thực Thược dược tán để điều trị; Giả như uống thuốc mà không khỏi bệnh, là do nhiệt nung đốt huyết khô, kết ở dưới rốn gây đau, chứng này không thể trị bằng Chỉ thực, Thược dược. Nên hạ ứ huyết, chủ trị dùng thang Hạ ứ huyết để công hạ ứ huyết. Đồng thời chủ trị kinh nguyệt không thông, cũng do nhiệt thiêu đốt huyết khô mà thành bệnh.

【Bệnh án】

Dương, nữ, 32 tuổi. Đến ngày thứ 4 sau khi sinh, sản dịch chảy không thông suốt, thỉnh thoảng có cục máu đông, bụng dưới căng chướng, không chịu ấn nắn, vùng thượng vị ngột ngạt buồn nôn, cảm giác khí xung lên. Chất lưỡi hồng, mép lưỡi bên phải có đốm tím, rêu lưỡi màu trắng tro. Bệnh do sản dịch và ứ huyết gây ứ trệ, có xu hướng máu ứ dồn lên trên. Điều trị ngay t́nh trạng ứ máu. Dùng thang Hạ ứ huyết gia vị:

Công thức: Đại hoàng 6g gam (sắc sau), Đào nhân 10 gam, Thổ miết trùng 6g Xuyên khung 6 gam, Đương quy 10 gam, Xích thược 10g Ngưu tất 10g Cam thảo 5g. Sau khi uống hai thang, sản dịch tăng dần, kèm theo cục máu tím, cơn đau bụng cũng thuyên giảm. Đơn thuốc ban đầu có tác dụng nên tôi đổi đơn thuốc ban đầu thành 6 gam Đào nhân, 4 gam Đại hoàng và thêm 3 gam lá ngải diệp. Sau khi uống thêm hai thang, cơn đau bụng đă thuyên giảm, cảm giác đầy bụng không c̣n nữa. bệnh đă khỏi.



7. 产后七八日,无太阳证,少腹坚痛,此恶露不尽,不大便,烦躁发热,切脉微实,再倍发热,日晡时烦躁者,不食,食则谵语,至夜即愈,宜大承气汤主 之。热在里,结在膀胱也。见痉病中.

7/ Sản hậu thất bát nhật, vô thái dương chứng, thiếu phúc kiên thống, thử ác lộ bất tận; Bất đại tiện, phiền thao phát nhiệt, thiết mạch (bắt mạch) vi thực, tái bội phát nhiệt, nhiệt bô thời phiền thao giả, bất thực, thực tắc chiêm ngữ, chí dạ tức dũ, Đại thừa khí thang chủ chi. Nhiệt tại lư, kết tại bàng quang dă. (phương xem trong kinh bệnh)

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị sản hậu ứ huyết nội trở (cản trở bên trong) lại kiêm dương minh lư thực chứng. Sau khi sanh 7,8 ngày, không có thái dương biểu chứng. V́ sau khi sanh âm huyết hư thiếu, nội nhiệt mạnh mẽ, nhiệt kết ở hạ tiêu, thiêu đốt ứ huyết, huyết khô ngưng kết dưới rốn, v́ thế bụng dưới cứng và đau. Nhiệt thiêu đốt vị tràng, làm tổn háo tân dịch, thực nhiệt kết trệ ở vị tràng, v́ thế đại tiện khô táo không thông mà bực bội, phát sốt. Thiết mạch thấy mạch vi trầm mà thực, cho thấy vị tràng thực nhiệt đă có tích trệ, đến giờ thân khí vượng ở kinh dương minh th́ bệnh nhân sốt càng cao. Khi ăn thực phẩm vào vị, th́ khí mạnh ở dương minh, nếu không ăn th́ thôi, mà ăn vào là hỗ trợ vị nhiệt. Thực nhiệt quá mạnh mẽ, nhiễu loạn tinh thần nên phát sinh nói nhảm. Đến tối th́ khí dương minh chuyển sang suy yếu, bệnh hơi giảm, sốt nhẹ và nói nhảm tạm ngừng.

Điều trị dùng thang Đại thừa khí, làm sạch thực nhiệt tích trệ trong vị tràng, loại bỏ nhiệt kết trong huyết phận; Chỉ thực trị bế tắc phá kết, lại có thể trị chứng vị tràng trướng đầy, lại có thể thông lợi khí huyết, Hậu phác lư (điều chỉnh) khí, tiêu trướng đầy trong bụng; Vị Mang tiêu mặn lạnh, thanh nhiệt nhuyễn kiên (làm mềm). Chứng này dùng thang Đại thừa khí, th́ thực nhiệt ở vị tràng được trừ khứ, hạ tiêu vận hành được ứ huyết, có thẻ thu được hiệu quả một công đôi việc.

【Tuyển chú】

《Y Tôn Kim Giám》:“ Lư Văn viết: Đây là một tiết mà bên trong có đủ 2 chứng, một là hội chứng thái dương tích tụ huyết, hai là dương minh thực chứng. V́ văn pháp của người xưa phức tạp nên khó phân biệt rơ ràng. Không có thái dương chứng , cũng gọi là không có biểu chứng. Bụng dưới cứng đau, với can tàng huyết, bụng dưới là bộ phận của kinh can, v́ thế huyết tất nhiên kết tụ ở đó. Chứng huyết hôi không hết, chính là nhiệt ở bên trong, kết tại bàng quang, đây cũng là hội chứng huyết tích tụ (súc huyết) của kinh thái dương, nên hạ khứ ứ huyết. Nếu không đại tiện, bực bội, mạch thực, nói nhảm cũng là chứng lư thực ở kinh dương minh, tái phát sốt là nhiệt tại lư, phát rơ rệt ra ngoài. Kinh Dương minh vượng ở thân dậu tuất, Nhật bộ là hướng thời vượng của kinh dương minh, v́ thế đến đêm th́ khỏi bệnh. Đó cũng là dương minh phủ bệnh, nên dùng thang Đại thừa khí hạ chứng vị thực.



8.产后风,续之数十日不解,头微痛恶寒,时时有热,心下闷,干呕汗出, 虽久,阳旦证续在耳,可与阳旦汤。即桂枝汤。方见下利中.

8/ Sản hậu phong tục chi sác thập nhật bất giải, đầu vi thống, ố hàn, thời thời hữu nhiệt, tâm hạ muộn, can ẩu, hạn xuất, tuy cửu, dương đán chứng tục tại nhĩ, khả dĩ dương đán thang. (tức là quế chi thang, phương xem trong hạ lợi)

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng thi trị chứng sản hậu trúng phong. Sản hậu huyết hư nên vinh vệ không điều hoà, tấu lư (thở thịt) không săn chắc kiên cố, phong tà xâm phạm, biểu chứng kéo dài mấy chục ngày không giải. Vệ phận và ngoại tà tương tranh, dương khí phù động, nên luôn luôn phát sốt, Vinh phận bị quấy nhiễu không thể bảo vệ giữ ǵn nên xuất hăn, ghét lạnh. Phong hàn gây trở ngại ở kinh thái dương gây đau đầu nhẹ và luôn luôn phát sốt. Biểu tà nhập lư nên dạ dày khó chịu và nôn khan.

Sau khi sanh trúng phong thời gian tuy lâu, nhưng hội chứng của thang Dương đán vẫn tồn tại th́ có thể dùng thang Dương đán giải tán phong hàn, điều hoà doanh vệ. Trong phương có Quế chi ôn tán phong hàn, giải cơ khứ phong; Thược dược hoà doanh, liễm âm cầm mồ hôi; Quế chi phối Thược dược, là ở trong phát hăn lại có công dụng liễm hăn, Quế chi tán, Thược dược thu (liễm), một tán một thu th́ doanh vệ có thể điều hoà, có thể giải bệnh tà ở biểu; Sinh khương phối Quế chi có thể phát hăn giải cơ; Đại táo phối Thược dược tư bổ âm và liễm vinh; Cam thảo tính b́nh có tác dụng điều hoà âm dương, điều hoà vinh vệ.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú》:“ Trúng phong nhẹ, vài chục ngày chưa giải, tựa hồ như không thể trách biểu, nhưng đau đầu ớn lạnh xuất mồ hôi, có lúc sốt đều là chứng trạng của bệnh tà ở biểu. Dạ dày khó chịu, nôn khan, bệnh tà ở kinh thái dương muốn xâm nhập mà bên trong không cảm thụ. T́m hiểu trong 《Thương hàn luận》có thang Dương đán, là thang Quế chi gia Hoàng cầm để trị chứng thái dương trúng phong hiệp nhiệt, nay phong kéo dài và nhiệt không hết, là tồn tại hội chứng thang Dương đán, tại sao không dùng thang Dương đán mà lại tuân theo quy tắc để dẫn đến sai lầm.”

【Bệnh án】

Họ Vương ××, nữ, 22 tuổi, cán bộ.

Cô ta đến bệnh viện vào tháng 3 năm 1975. Bệnh nhân bị nôn mửa và ăn rất ít từ 10 ngày trước khi sinh đến ngày thứ 7 sau khi sinh. Các phương pháp điều trị dự pḥng bằng phương pháp Trung Quốc và phương Tây đều không hiệu quả. Sau khi thăm khám kỹ lưỡng bệnh nhân, người ta phát hiện bệnh nhân có các triệu chứng như đổ mồ hôi, sợ gió nhẹ, rêu lưỡi mỏng và trắng, mạch hơi phù.

Sau đó sử dụng công thức ban đầu của thang Quế chi và thêm 10 gram Bán hạ. Do bị nôn mửa nên bn được yêu cầu uống một lượng nhỏ với nhiều lần. Sau hai liều thuốc, bệnh nhân không c̣n nôn mửa sau khi ăn, các triệu chứng như sợ gió cũng biến mất.



9.产后中风,发热,面正赤,喘而头痛,竹叶汤主之。

9/ Sản hậu trúng phong, phát nhiệt, diện chính xích (đỏ), Suyễn nhi đầu thống, Trúc diệp thang chủ chi.

Trúc diệp thang phương

Trúc diệp 1 nắm, Cát căn 3 lạng, Pḥng phong, Cát cánh, Quế chi, Nhân sâm, Cam thảo mỗi thứ 1 lạng, phụ tử 1 củ (bào), đại táo 15 trái, sinh khương 5 lạng. Dùng 1đấu nước sắc lấy 2, 5 thăng, chia 3 lần uống lúc ấm, đắp mền hơi ra mồ hôi. Đầu gáy cứng dùng phụ tử 1 củ xắt nhỏ như hạt đậu sắc hớt bọt. Ẩu thổ gia bán hạ 0,5 cân (rửa sạch).

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng sản hạu trúng phong. Sau khi sanh khí huyết đại hư, hư dương vượt lên v́ thế sắc mặt đỏ, khí suyễn. Chính khí thậm hư, lại cảm thụ phong tà v́ thế đau đầu, phát sốt. Khi điều trị, nếu nguyên nhân là ngoại cảm phong tà, th́ dùng đơn thuần phát hăn giải biểu, th́ phù dương dễ thoát; C̣n nếu là hư dương vượt lên mà đơn thuần dùng thuốc tư âm, sẽ khiến biểu tà không được giải trừ.

Điều trị dùng thang Trúc diệp, phù trợ chính khí và trừ khứ tà khí, cùng chiếu cố biểu và lư. Trong phương có Trúc diệp thanh nhiệt giáng hoả, bẻ gẫy thế dương phù, Cát căn sinh tân dịch, tư nhuận cân mạch co thắt, Cát cánh đi lên thanh phế khí; Pḥng phong tán phong mà không gây khô táo; Nhân sâm, Cam thảo bổ trung ích khí, Sinh khương Đại táo điều hoà doanh vệ; Phụ tử, Quế chi phù trợ dương và khu trừ tà khí. Để điều trị chứng sản hậu trúng phong chính hư tà thịnh, mà lập thành phương này có tác dụng bổ chính và tán tà.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú》:“ Trúng phong phát sốt đau đầu, là bệnh tà tại biểu, Nhưng mặt đỏ, cũng không là chuyện nhỏ có thể là màu hồng nhạt, là mặt mất vẻ b́nh thường, cũng là chân dương thượng phù, cộng thêm khí suyễn, cũng là khí trên cao không hạ. Rơ ràng là sau khi sanh hư tổn rất nặng, không có dương nên không thể tự củng cố, mà lại thêm có biểu tà, tự nên công bổ cùng thi thố, cho nên với Quế, Cam, Pḥng, Cát, Cát cánh, táo để thanh trừ bệnh tà ở trên, Trúc diệp thanh nhiệt của đảm phủ, và Sâm, Phụ bồi bổ nguyên khí, thay đổi t́nh trạng dục thoát của dương. Tuy nhiên với thang Trúc diệp, cần biết là bản hàn tiêu nhiệt, đảm cư trung đạo (ở giữa), thanh nhiệt ở đường viền giao tiếp, th́ tiêu bản đều an, Trúc diệp thực là có công đầu vậy.



10.妇人乳中虚,烦乱,呕逆,安中益气,竹皮大丸主之。

10/ Phụ nhân nhũ trung hư, phiền loạn, ẩu nghịch, an trung ích khí, Trúc b́ đại hoàn chủ chi.

Trúc b́ đại hoàn phương

Sinh trúc nhự 2 phân, Thạch cao 2 phân, Quế chi 1 phân, Cam thảo 7 phân, Bạch vi 1 phân. Tán bột, Táo nhục ḥa hoàn bằng viên đạn. Uống 1 hoàn lúc ăn. Ngày 3 đêm 1. Nếu hữu nhiệt gia bội liều Bạch vi, suyễn phiền gia Bá thực 1 phân.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng hư nhiệt ẩu nghịch trong thời kỳ cho con bú. Sản phụ trong thời kỳ cho con bú, cho con bú tốn nhiều sữa làm cho trung khí hư yếu, âm huyết không đầy đủ dẫn đến tâm can hoả vượng. Tâm hư hoả động nên lo lắng bất an. Trung khí hư nhiệt, vị khí thượng nghịch nên ẩu thổ.

Điều trị dùng Trúc b́ đại hoàn có tác dụng an trung ích khí, thanh giáng hoăn trung. Trong phương có Trúc nhự, Thạch cao thanh nhiệt trừ phiền, giáng nghịch trị ẩu thổ; Bạch vi mát máu, thanh nhiệt trừ phiền; Quế chi, Cam thảo tân cam (cay ngọt) hoá khí, kiến (xây dựng) trung (tiêu) bổ hư; Táo nhục bồi bổ âm huyết; Nếu hư hoả phạm phế gây suyễn, gia thêm Bá thực dưỡng huyết nhuận phế. Trong phương dùng lượng Cam thảo nhiều để có tác dụng kiến trung bổ huyết, ích âm tả hoả, mà lượng Quế chi th́ rất ít để có công dụng ôn trung hoá khí, thông mạch thư can, việc sắp xếp tễ lượng của hai vị thuốc cũng cần có điểm nhẫn nại của người thày.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Phụ nhân hư tổn trong thời kỳ cho con bú, bất an ẩu thổ, khi con bú, khí hư hoả thắng, nội loạn nghịch lên. Trúc như Thạch cao cam hàn (ngọt lạnh) trừ nhiệt ở vị; Quế chi Cam thảo cay ngọt hoá khí; Bạch vi tính hàn nhập kinh dương minh, trị cuồng hoặc (tinh thần thác loạn) do tà khí, v́ thế viết an trung ích khí.”



11. 产后下利虚极,白头翁加甘草阿胶汤主之。

11/Sản hậu hạ lợi hư cực, Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao thang chủ chi.

Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao thang phương

Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao mỗi loại 2 lạng Tần b́ Hoàng liên, Bá b́ mỗi loại 3 lạng. (Bá b́ là Hoàng bá). Dùng 7 thăng nước sắc lấy 2,5 thăng

cho A giao khuấy tan chia 3 lần uống lúc ấm.



【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng sản hậu hạ lợi. Sau khi sanh khí huyết đều hư, thường có các chứng như sắc mặt vàng úa yếu sức, bực bội mất ngủ, lại có thấp nhiệt tích trệ ở vị tràng, mất chức năng dẫn truyền, ́ ạch không thể giải, gây tổn thương mạch lạc đường ruột, thường thấy các chứng như sốt, đau bụng, mót rặn (lư cấp hậu trọng), hạ lợi máu mủ.

Điều trị dùng thang Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao, thanh nhiệt táo thấp, hoăn trung dưỡng huyết. Trong phương có Bạch đầu ông, Hoàng bá, Hoàng liên, Tần b́ thanh nhiệt táo thấp, mát máu giải độc, trừ thấp nhiệt ở vị tràng để trị hạ lợi; A giao tư âm, dưỡng huyết cầm máu; Cam thảo bổ khí kiến trung, hoăn giải vị đắng của Liên Bá. Là phương thường dùng của chứng hạ lợi sau sinh.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“Thương hàn nhiệt lợi hạ trọng, thang Bạch đầu ông chủ trị chứng này; Hàn th́ thắng nhiệt, vị đắng cũng táo thấp. Đây là chứng nhiệt lợi hạ trọng của sản phụ hư yếu cực độ, nên gia A giao để cứu âm, Cam thảo bổ trung sinh dương, lại hoà hoăn được vị đắng của Liên Bá.

【Bệnh án】

Bệnh nhân là nữ, trên 60 tuổi. Vào tháng 7 năm 1965, đại tiện ra màu đỏ và trắng hàng chục lần, kèm theo cảm giác mót rặn. Cho bênh nhân dùng Nitrofuran trong hai ngày, nhưng hiệu quả không rơ ràng. Sốt không cao, miệng khô không đầy bụng,chất lưỡi đỏ nhạt, mép lưỡi có chấm đỏ nhỏ, khô không có tân dịch, mạch tế. Người ta cho rằng người cao tuổi không đủ tân dịch và máu v́ mắc hội chứng nhiệt nên tân dịch dễ bị tổn háo.

Dùng thang Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao: Bạch đầu ông 12 gam Hoàng liên 6g, Hoàng bá 6g, Tần b́ 9g, A giao 9g (nóng chảy), Cam thảo 6g, nấu c̣n 200ml, chia 2 lần uống. (Trước giờ ngọ (giữa trưa) uống 1 thang, đến tối th́ đại tiện đă thay đổi, uống thêm 1 thang nữa th́ khỏi bệnh)

“Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao” nguyên xuất từ 《Kim Quỹ Phụ nhân Sản hậu Bệnh Mạch chứng Trị 21》chủ trị “sản hậu hạ lợi hư cực”, theo chữ cực để nói đến yếu nhược. Dù trường hợp này không phải là sản hậu, nhưng theo những chứng trạng biểu hiện suy yếu của cơ thể, nên không cần thiết phải ràng buộc với t́nh trạng “sau sinh” và cũng có thể chữa khỏi bằng phương pháp này.



Phụ phương:

《Thiên Kim》【Thang Tam vật Hoàng cầm】Điều trị sản hậu cảm thụ phong tà. Tứ chi phiền nhiệt, đầu thống dùng thang Tiểu sài hồ; Đầu không đau mà bực bội, th́ dùng thang này (Tam vật Hoàng cầm).

Hoàng cầm 1 lạng, Khổ sâm 2 lạng, Can địa hoàng 4 lạng

3 vị trên dùng 6 thăng nước, nấu c̣n 3 thăng, uống thuốc lúc c̣n ấm 1 thăng, thổ nhiều hạ trùng.

【Từ giải】

Thảo nhục: Chỉ thảo đế, tức sản hậu lúc ngồi trên cỏ.

【Giải thích】

Phương dược này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng sản hậu phát sốt.. Sản hậu phát sốt, do cảm thụ phong hàn, bệnh tà tại kinh Thiếu dương, lại có bệnh độc thấp nhiệt, kết ở hạ tiêu, hai dạng này có rất nhiều trên lâm sàng.

Phân tích phương chứng thang Tiểu sài hồ : Sau khi sanh âm và huyết cùng hư tổn nên dương khí độc thịnh (nhiều và mạnh), khi chưa rời khỏi nơi sanh, có chút không cẩn thận để cảm thụ phong hàn, làm cho tà khách kinh Thiếu dương dưới cạnh sườn, chính tà phân tranh, văng lai hàn nhiệt, và phát nhiệt tệ hơn, tay chân rất nóng, tà nhiệt lên trên nên gây đau đầu.

Điều trị dùng thang Tiểu sài hồ để hoà giải bệnh tà ở kinh Thiếu dương.

Trong phương có Sài hồ sơ tán bệnh tà ở kinh Thiếu dương, Hoàng cầm có thể trừ nhiệt tích chứa trong đảm phủ; Sinh khương Bán hạ điều vị (dạ dày) trị ẩu thổ; Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo ích khí hoà trung, phù trợ chính khí khứ tà. Phương dược kiêm cả công và bổ, bổ chính khí thoái tà khí, là một công đôi việc.

Thang Tam vật Hoàng cầm phương chứng phân tích: Sản hậu âm huyết cùng hư tổn, dương khí độc thịnh (mạnh và nhiều), khi chưa rời khỏi nơi sanh, hạ tiêu cảm thụ bệnh độc thấp nhiệt, thấp nhiệt hun xông, phát sốt tệ hại, chân tay rất nóng, thấp nhiệt kết ở hạ tiêu v́ thế không gây đau đầu. Điều trị nên dùng thang Tam vật Hoàng cầm thanh nhiệt táo thấp. Trong phương có Hoàng cầm thanh nhiệt táo thấp, giáng hoả giải độc, trừ phiền nhiệt; Khổ sâm thanh nhiệt táo thấp, lợi tiểu sát trùng; Can địa hoàng bổ huyết dưỡng âm. Phương dược này có thể thanh nhiệt táo thấp, trừ nhiệt do thấp nhiệt huân chưng (hun xông), lại có thể bổ huyết dưỡng âm, thoái nhiệt của huyết hư.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Luận chú》:“ Đây là nói về sản phụ tạm thời cảm thụ phong nhẹ, hoặc tại bán biểu lư, hoặc tại hạ tiêu, phong hợp với thấp hoặc sinh trùng, đều có thể xuất hiện chứng tứ chi rất nóng, nhưng có sự khác biệt là đau đầu hoặc không đau đầu. Cho nên khi lâm sản, ngồi trên chiếu rơm, lúc chưa rời khỏi nơi sanh. Tự tiếp xúc với phong, do thiếu thận trọng khi cởi bỏ chăn áo mà cảm thụ phong. Sản hậu âm hư, tứ chi sau khi mất máu, th́ dương khí độc thịnh, lại thêm cảm thụ vi phong, nên tứ chi rất nóng; V́ biểu tà nhiều và nhập lên trên nên đau đầu, nếu cảm thụ xuống dưới và thấp nhiệt kết ở hạ tiêu tất sinh trùng mà không đau đầu, v́ thế với vị Hoàng cầm là quân dược, Khổ sâm khứ phong sát trùng vi thần, mà Địa hoàng bổ nguyên âm vi tá. Có câu viết thổ nhiều ra trùng, nói rằng được Khổ sâm tất bất an, xuất lên trên hay xuất xuống dưới, cũng chưa thể biết được.”

【Bệnh án】

Bệnh nhân họ Phu ××, nữ, 26 tuổi, đă lập gia đ́nh, là xă viên.

Cô đến bệnh viện chúng tôi để điều trị vào ngày 20 tháng 12 năm 1971 v́ cơn đau kịch phát ở cả hai chi dưới trong hơn một tháng.

Bệnh sử: Cách đây hơn một tháng, bệnh nhân thấy đau rát ở cả hai chi dưới, có khi đau dữ dội từng trận, phần giữa bắp chân và hai bàn chân đỏ sậm, nhiệt độ da tăng cao, ḷng bàn chân toát mồ hôi lạnh. Dễ phát tác khi tiếp xúc với nhiệt. Bệnh nhân thường thích để chân ra ngoài chăn. Các triệu chứng thuyên giảm khi trời lạnh.

Kiểm tra: Dinh dưỡng phát triển ở mức vừa phải. Vùng dưới giữa bắp chân và cả hai bàn chân đỏ sậm, da nóng rát, mạch đập của động mạch hai chi dưới b́nh thường. Không có phát hiện bất thường ở cả hai chi trên. Rêu lưỡi trắng nhầy và hơi vàng, chất lưỡi có màu đỏ nhạt. Mạch nhu nhược.

Ấn tượng: Chứng đau chi có tính hồng ban.

Quá tŕnh điều trị: Trường hợp đau nhức hồng ban này chủ yếu là do âm hư và nội nhiệt, phương pháp điều trị là bổ âm, thanh nhiệt, mát máu. Dùng thang Tam vật Hoàng cầm: Sinh địa 60g, Hoàng cầm, Khổ sâm đều 30g, sắc uống. Đêm đó bệnh nhân uống 3 thang, cơn đau rát ở cả hai chi dưới đă thuyên giảm đáng kể. Bắt đầu từ ngày thứ hai, uống hai liều mỗi ngày trong ba ngày. Các triệu chứng ở cả hai chi dưới hoàn toàn biến mất và bệnh nhân khỏi bệnh. Theo dơi vào tháng 4 năm 1977 cho thấy bệnh không tái phát sau khi khỏi bệnh.

《Thiên Kim》【Nội bổ Đương quy Kiến trung thang】Trị phụ nữ sản hậu hư yếu gầy g̣, liên tục đau nhói trong bụng, hô hấp kém, đau từ bụng lan sang eo lưng, không thể ăn uống. Sau khi sanh 1 tháng uống 4,5 thang trong một ngày là tốt, khiến người người bệnh khoẻ mạnh.

Đương quy 4 lạng, quế chi 3 lạng, thược dược 6 lạng, sinh khương 3 lượng, đại táo 12 trái. Dùng 1 đấu nước sắc lấy 3 thăng chia 3 lần uống lúc ấm, uống trong 1 ngày.

Nếu hư suy nặng gia di đường 6 lạng (sau khi sắc xong để nhỏ lửa ḥa tan di đường). Nếu mất máu quá nhiều, băng huyết, nục huyết không cầm gia Địa hoàng 6 lạng, A giao 2 lạng, hợp bát vị. Sắc xong cho a giao vào. Nếu không có đương quy thay thế bằng xuyên khung. Nếu không có sinh khương có thể dùng can khương.



【Từ giải】

Nuy (羸): Là gầy yếu.

Hô hấp: H́nh dung diện mạo thiếu khí khi thở.

【Giải thích】

Phương dược này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng sản hậu đau bụng. Phụ nữ sau khi sanh khí huyết đều hư yếu, lại thêm tỳ vị hư nhược, không thể sản sinh ra huyết, huyết hải trống rỗng, nên người bệnh gầy yếu. Tỳ vị hư nhược nên ăn kém, hô hấp kém. Khí huyết hư thiếu nên không thuận lợi, không thể ôn nhuận hạ tiêu, nên bụng đau co thắt đau lan sang eo lưng. Khí huyết bất lợi, khi bệnh tiến triển tệ hơn sẽ h́nh thành khí trệ huyết ứ, khiến trong bụng đau nhói không ngừng.

Điều trị dùng thang Nội bổ Đương quy kiến trung. Trong phương có Đương quy, Thược dược bổ huyết ích âm, vận hành doanh khí; Quế chi ôn trung, thông hành khí huyết; Cam thảo, Di đường bổ trung phù hư; Sinh khương, Đại táo để điều hoà doanh vệ. Chứng này thuộc sản phụ sau sinh gầy yếu không đầy đủ, nếu chỉ đơn thuần bổ âm th́ hàn sẽ ngưng tụ, c̣n đơn thuần ôn dương th́ e rằng sẽ hại đến âm, cho nên dùng Kiến trung bổ huyết là phương pháp điều hoà daonh vệ. Có khả năng cùng chiếu cố cả khí và huyết mà không bị thiên lệch. Phép gia giảm của phương: Nếu sản hậu mất quá nhiều máu, hoặc băng huyết, nục huyết bên trong, âm huyết quá hư tổn có thể dùng phương này gia thêm Địa hoàng, A giao để bổ huyết liễm âm.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú》:“ Tuy thân thể của sản phụ không có bệnh, nhưng huyết hải bị hư tổn. Nếu trung khí sung thực, khí huyết tuy hư vẫn dễ phục hồi, mà hậu thiên không thể sinh huyết để bổ sung huyết hải, nên xuất hiện cơ thể yếu nhược không đầy đủ. Nhưng huyết hải hư th́ kinh lạc hư yếu là điều không cần bàn. V́ khí huyết bất lợi mà ứ nên trong bụng không ngừng đau nhói. Bên trong Xung, nhâm, đốc, đới hư yếu,th́ bụng dưới đau lan sang eo lưng. Tỳ vị khí hư, th́ hấp ít khí, và không thể ăn uống, Dùng thang Quế chi điều hoà doanh vệ. Gia Đương quy có nhiều công dụng bổ huyết; Nếu hư thậm gia đường mạch nha, tuấn bổ tỳ vị và sinh khí huyết, nếu mất quá nhiều máu, băng huyết, nục huyết bên trong mà huyết hải và chân âm hư thậm, v́ thế gia Địa hoàng, A giaođể bồi bổ. Dưới phương viết không có Sinh khương có thể thay bằng Can khương. Là trong thuốc ôn bổ lại có thuốc dẫn huyết, nhập huyết phận để sinh huyết, và ư nghĩa càng thêm vi diệu.



Lời kết

Thiên này tŕnh bày biện chứng luận trị những bệnh thường gặp sau khi sanh.

Sản hậu uất mạo kèm theo đại tiện khó khăn là t́nh trạng bệnh khá phức tạp, bên trong huyết hư, bên ngoài cảm thụ hàn tà, điều trị dùng thang Tiểu sài hồ phù trợ chính khí và khứ tà, điều hoà thuận lợi cho xu cơ (xu cơ là ch́a khoá vận động của vạn vật). Sản hậu khí huyết hư, mà có hội chứng vị gia thực, có thể dùng thang Đại thừa khí để tẩy rửa thực nhiệt tích trệ ở vị tràng. Tóm lại, ba dại chứng của phụ nữ sau sinh gồm: Bệnh kính, uất mạo và đại tiện khó, khi điều trị cần phải dưỡng huyết ích âm, lại phải nắm vững biện chứng luận trị, không câu nệ theo một quy tắc nào, đừng v́ nguyên nhân hư yếu, giữ tư tưởng bảo thủ mà bỏ sót bệnh cơ, khiến cho t́nh trạng bệnh tăng nặng.

Chứng đau bụng sau sinh có 4 loại t́nh trạng bệnh thường gặp, một là huyết hư nội hàn, điều trị nên dùng thang Đương quy dương nhục để bổ huyết tán hàn; Hai là khí huyết không thông sướng, điều trị nên dùng Chỉ thực Thược dược tán để hành khí hoà huyết; Ba là ứ huyết đ́nh trệ bên trong, điều trị nên dùng thang Hạ ứ huyết; Bốn là ứ huyết gây trở ngại bên trong kiêm chứng dương minh lư thực, điều trị nên dùng thang Đại thừa khí, công hạ tích trệ ở vị tràng, kiêm tả thực nhiệt ở huyết phận.

Sản hậu trúng phong, nếu do phong hàn bên ngoài xâm phạm, có thể dùng thang Dương đán điều hoà doanh vệ. Nếu do hư dương vượt lên, lại thêm cảm thụ phong tà, có thể dùng thang Trúc diệp, phù chính khứ tà.

Ngoài ra, trong thiên này dùng Trúc b́ đại hoàn, an trung ích khí, thanh giáng hoăn trung, để trị liệu chứng hư nhiệt ẩu nghịch trong thời kỳ cho con bú. Dùng thang Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao, thanh nhiệt táo thấp, bổ trung dưỡng huyết, điều trị chứng sản hậu nhiệt lợi. Tóm lại, biện chứng luận trị bệnh sản hậu, cần chiếu cố đến những đặc điểm của sản hậu, lại không nên quá câu nệ vào những cấm kỵ của sản hậu.

Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2025-12-28 21:21:44
22 PHỤ NHÂN TẠP BỆNH MẠCH CHỨNG TỊNH TRỊ
Thiên 22

Phụ nhân tạp bệnh mạch chứng tịnh trị



Khái thuyết

Thiên này tŕnh bày biện chứng luận trị tạp bệnh phụ khoa. Nội dung gồm hơn 10 loại bệnh như Nhiệt nhập huyết thất, mai hạch khí, tạng táo, bĩ chứng, ứ huyết, lậu hạ, phúc thống, kinh thuỷ bất lợi, chuyển bào và tật bệnh ở tiền âm. Thiên gồm 22 điều văn, 14 phương dược và 1 phương phụ. Trong thiên từ điều 1 đến điều 4 thảo luận về biện chứng luận trị và phương dược của chứng nhiệt nhập huyết thất; Từ điều 5 đến điều 7 thảo luận về biện chứng luận trị và phương dược của các bệnh như Mai hạch khí, tạng táo và chứng bĩ; Điều thứ 8 chính là đối với nguyên nhân, cơ chế bệnh, các loại biến hoá và phương pháp chứng trị trên lâm sàng được tŕnh bày có tính cương lĩnh và có thể coi là tổng luận của thiên này; Điều 9, điều 11 đến điều 12 chính là thảo luận về chứng trị và phương dược của chứng lậu hạ; Điều 10, điều 13 đến điều 15 là thảo luận về biện chứng và trị pháp của chứng kinh thuỷ bất lợi, trong đó điều 13 chính là thảo luận về hội chứng và điều trị chứng thuỷ kết với huyết; Điều 16 đến điều 19 thảo luận về biện chứng và trị pháp chứng đau bụng, chuyển bào (phụ nữ có thai bí tiểu) của phụ nữ. Từ điều 20 đến điều 22 thảo luận về chứng trị các bệnh ở tiền âm (sinh thực khí quan và niệu đạo) như âm hàn, lở loét trong âm đạo, âm suy (khí thoát ra từ âm đạo).

Thiên này tŕnh bày nguyên nhân chủ yếu của tạp bệnh ở phụ nữ, gồm ba phương diện như chính khí hư yếu, hàn lănh tích tụ và khí uất kết. Trên phương diện biện chứng, trước tiên nên nên phân rơ vị trí để xác định vị trí bệnh ở thượng , trung hoặc hạ tiêu; Kế tiếp là biện tính chất của bệnh xem bệnh thuộc âm hay dương, hàn hay nhiệt hoặc hư hay thực. Trên phương diện trị liệu, đối với t́nh trạng bệnh, hoặc châm cứu hoặc uống thuốc, phải có mục đích rơ ràng để có thể đạt được mục đích chuyển nguy thành an.

1.妇人中风七八日,续来寒热,发作有时,经水适断,此为热入血室。其血必结,故使如疟状,发作有时,小柴胡汤主之。方见呕吐中

1/ Phụ nhân trúng phong thất bát nhật, tục lai hàn nhiệt, phát tác hữu thời, kinh thủy thích đoạn, thử vi nhiệt nhập huyết thất, kỳ huyết tất kết, cố sứ như ngược trạng, phát tác hữu thời, tiểu sài hồ thang chủ chi. (Phương xem trong ẩu thổ)

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị nhiệt nhập huyết thất (tử cung, xung nhâm huyết hải, cũng là huyết phận) khi kinh nguyệt vừa dứt. Thái dương trúng phong đă 7,8 ngày, nếu chính khí có sức mạnh đề kháng tà khí, th́ bệnh tà hàn nhiệt được giải trừ. Nếu gặp lúc hành kinh của phụ nữ, huyết khí cạn, tà khí phong nhiệt xâm nhập huyết thất, tranh đấu hỗ tương với huyết, kết lại mà không vận hành v́ thế kinh nguyệt ngừng lại. Nhiệt kết ở huyết thất, kết tụ không tán, khiến chính tà phân tranh, tiến thoái giữa biểu và lư, v́ thế nên hàn nhiệt văng lai, tựa như sốt rét, lúc phát tác lúc ngừng. Nhiệt nhập huyết thất, bên trong liên hệ can đảm, đă không thể phát hăn, lại không thể công hạ. V́ thế dùng thang Tiểu sài hồ, hoà giải trong ngoài (biểu lư), thấu đạt nhiệt tà th́ có thể tán huyết kết. Tuỳ thuộc tính chất lâm sàng, phương này có thể gia thêm các dược phẩm thích hợp như Đan b́, Sinh địa, Hồng hoa th́ hiệu quả trị liệu càng tốt đẹp.

【Tuyển Chú】

《Chú Giải Thương Hàn Luận》:“ 7,8 ngày, là thời gian bệnh tà truyền nhập lư, căn bản là không hàn nhiệt, mà tiếp tục hàn nhiệt, kinh nguyệt dừng lại là do biểu tà thừa hư mà nhập vào huyết thất, đấu tranh làm cho huyết kết lại không vận hành, kinh thuỷ v́ thế mà cũng ngừng lại. Huyết khí với bệnh tà phân tranh, dẫn đến nóng lạnh như sốt rét và phát tác tuỳ lúc, dùng thang Tiểu sài hồ để giải bệnh tà truyền kinh.”

【Bệnh án】
Họ Trần ××, nữ, 22 tuổi, sau khi sinh ba ngày, ban ngày tỉnh táo nhưng lại bị đau đầu, chóng mặt, nóng lạnh, ra mồ hôi nhẹ, khó chịu và buồn nôn; Ban đêm, dần dần trở nên lú lẫn, nói năng hồ đồ vô nghĩa, và không thể đối đáp rơ ràng, khi cơn mê sảng biến mất, đầu óc lại tỉnh táo như b́nh thường. Các thành viên trong gia đ́nh đều sợ hăi. Thuốc an thần tây y mà họ sử dụng tại trung tâm y tế đều không có tác dụng và cơn mê sảng không thể kiểm soát được. Cô ấy đến khoa sản phụ khoa của bệnh viện chúng tôi để điều trị. Cô ấy vẫn dùng thuốc an thần nhưng cơn đau lại tái phát như cũ vào ban đêm. Tôi được mời đến tư vấn vào ngày thứ ba. Người nhà cho biết sau khi sinh ra máu nhiều và kéo dài thời gian (ở phụ nữ sinh con lần đầu, cô ấy bị đau đầu, cảm lạnh vào ngày thứ hai sau khi sinh và nói năng hồ đồ vào đêm ngày thứ ba). Các triệu chứng bao gồm nước da nhợt nhạt, tinh thần mệt mỏi, nhức đầu và chóng mặt, hàn nhiệt văng lai , nhiệt độ cơ thể 37,8 ~ 38,5 ° C, khó chịu, hoảng hốt chán ăn và ẩu thổ, không trướng đau vùng bụng dưới, có một lượng nhỏ sản dịch, đại tiểu tiện điều hoà, chất lưỡi nhạt , rêu lưỡi màu trắng và ở giữa vàng hơi nhờn. Mạch nhẹ tay hơi phù, ấn mạnh tay (trọng án) th́ mạch huyền hư, kèm theo hơi khẩn. Phân tích kết hợp toàn diện tứ chẩn cho thấy đây là nhiệt nhập huyết thất, việc điều trị nên dưỡng huyết an thần, thu liễm và trấn áp phù dương, để hỗ trợ th́ dùng thang tễ hoà giải xu cơ (Tiểu sài hồ).
Phương dược: Đảng sâm 12g Đương quy 9g Phục thần 9g Toam táo nhân 9g Kinh giới tuệ 4,5g Bắc Sài hồ 6g pháp Bán hạ 6g Hoàng cầm 4,5g Tiêu Sơn tra 4,5g Long xỉ 12g Ngũ vị 3g chích Cam thảo 3g Hồng táo 5 quả. Dùng tạm một liều, ban ngày uống nước đầu, gần tối uống nước 2. Phục chẩn thấy bệnh nhân ngủ ngon không khó chịu, chưa thấy hiện tượng nói năng hồ đồ. Chứng đau đầu và nóng lạnh đều giảm, ăn uống tăng nhẹ, rêu lưỡi đang dần biến chuyển, mạch hoà hoăn vô lực. Uống thêm hai thang như trên, quan sát trong hai đêm, đều rất an tĩnh, các chứng đều được giải trừ. Dặn bệnh nhân sau khi xuất viện chú ư dùng thực phẩm để điều dưỡng.

2.妇人伤寒发热, 经水适来,昼日明了,暮则谵语,如见鬼状者,此为热入血室。治之无犯胃气及上二焦,必自愈。

2/ Phụ nhân thương hàn phát nhiệt, kinh thủy thích lai, trú nhật minh liễu, mộ tắc chiêm ngữ, như kiến quỷ trạng giả, thử vi nhiệt nhập huyết thất, trị chi vô phạm vị khí cập thượng nhị tiêu, tất tự dũ.

【Giải thích】
Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng nhiệt nhập huyết thất khi kinh thuỷ vừa đến. Phụ nữ khi thương hàn phát nhiệt, vừa lúc kinh thuỷ đến, khiến cho ngoại tà thừa hư tổn mà xâm nhập huyết thất (ở đây là tử cung), mà thành bệnh ở huyết phận. Chứng này người bệnh ban ngày tinh thần minh mẫn b́nh thường, mà tối đêm th́ nói nhảm, nói năng không theo lẽ thường, mà như nh́n thấy ma quỷ. V́ kinh thuỷ vừa đến mà phát bệnh, nên có thể xác định là chứng nhiệt nhập huyết thất. Phương pháp điều trị là không được dùng vị thuốc gây tổn hại vị khí, không được dùng phép thổ, phép hăn e rằng tổn thương thượng tiêu và trung tiêu, được như thế th́ hy vọng sẽ khỏi bệnh. Thời Tống Quách Bạch Vân cho rằng chứng này dùng thang Tiểu sài hồ để điều trị, viết ra đây để cùng tham khảo.

【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Thiển chú Bổ chính》:“ Cách giải thích cũ cho rằng bệnh này tất sẽ tự khỏi, không cần điều trị, mà bệnh tà sẽ tự giải. Mà chứng nói nhảm, có thực là dễ giải, huống chi ở đây rơ ràng có hai chữ trị chi, th́ hà cớ ǵ lại không điều trị? 《Thương hàn luận》vốn có chứng nhiệt nhập huyết thất, nói nhảm vào chiều tối, dùng thang Tiểu sài hồ, lại tiếp theo phần trên nói về thang Tiểu sài hồ, như vậy là hai chữ trị chi, tức là cũng dựa theo phép dùng thang Tiểu sài hồ. Đoạn dưới nói đến không phạm vị khí và thượng nhị tiêu, lại v́ nguyên nhân chứng nói nhảm thường dùng phương dược điều trị là thang Thừa khí, công hạ vị và thượng nhị tiêu.Bệnh nói nhảm ở đây thuộc hạ tiêu huyết thất, khác với chứng nói nhảm thông thường, sợ có người ngộ trị, v́ thế người xưa cảnh giới mà viết: Vô phạm vị khí, cập thượng nhị. Ư muốn nói là chứng nói nhảm là do hạ tiêu huyết thất, điều trị khỏi chứng này th́ chứng nói nhảm tự lành, mà không thể ngộ trị chứng nói nhảm (nhiệt nhập huyết thất) bằng thang Thừa khí.

3.妇人中风,发热恶寒,经水适来,得七八日,热除,脉迟,身凉和,胸胁满,如结胸状,谵语者,此为热入血室也,当刺期门,随其实而取之。
3/Phụ nhân trúng phong, phát nhiệt ố hàn, kinh thủy thích lại, đắc chi thất bát nhật, nhiệt trừ, mạch tŕ, thân lương ḥa , hung hiếp măn, như kết hung trạng, chiêm ngữ giả, thử vi nhiệt nhập huyết thất dă, đáng thích kỳ môn, tùy kỳ thực nhi thủ chi.

【Giải thích】
Đoạn văn này tiếp tục thảo thuận hội chứng và trị liệu can kinh ứ nhiệt, nhiệt nhập huyết thất. Phụ nữ trúng phong, phát nhiệt ố hàn, kinh thuỷ vừa đến, được 7,8 ngày, biểu chứng đă hết, truyền nhập lư (vào trong), v́ thế thân thể hết nóng, mạch không phù mà tŕ. Hiện tại nhiệt tà thừa hư mà xâm nhập huyết thất, làm cho nhiệt kết với huyết, dẫn đến khí cơ của can đảm không thuận lợi, nên ngực sườn trướng đau, tựa như chứng kết hung. Tà nhiệt nhiễu loạn lên tâm, tâm chủ về lời nói v́ thế bệnh nhân nói nhảm. Phương pháp điều trị nên châm huyệt Kỳ môn, dùng phép tả để hành nhiệt th́ khỏi bệnh.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Trừ khứ nhiệt, mạch tŕ, thân thể mát mà nói nhảm, cũng là bệnh đă rời biểu mà nhập lư. Huyết thất, là mạch xung nhâm, can là chủ huyết thất, mạch của can phân bố ở cạnh sườn, nối lên hoành cách, nhánh của nó từ hoành cách đi vào phế; Huyết thất trống không, nhiệt tà độc thắng, không chỉ có thể nhập cung, mà c̣n đến tất cả bộ phận của nó, chính là ngực sườn đầy tức như chứng kết hung.

阳明病,下血谵语者,此为热入血室,但头汗出,当刺期门,随其实而泻之。濈然汗出者愈。
4/ Dương minh bệnh, hạ huyết chiêm ngữ giả, thử vi nhiệt nhập huyết thất, đán đầu hăn xuất, đáng thích kỳ môn, tùy kỳ thực nhi tả chi, trấp nhiên hăn xuất giả dũ.

【Từ giải】
Trấp: Đổ mồ hôi

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày về hội chứng và điều trị bệnh nhiệt nhập huyết v́ bệnh của kinh dương minh. Phụ nữ bị nhiệt bệnh ở kinh dương minh, trung tiêu nhiệt thịnh, tuy không đúng kinh kỳ, nhiệt tà cũng có thể hăm nhập huyết thất, tà nhiệt bức bách huyết vọng hành, v́ thế nên hạ huyết (ra máu), nói nhảm; Nhiệt bốc lên đầu mặt mà không thể vượt ra ngoài, v́ thế chỉ xuất hăn trên đầu, mà thân thể th́ không. Phương pháp điều trị, nên châm huyệt Kỳ môn, để tả nhiệt tà khiến khí cơ của can đảm được điều hoà, toàn thân xuất hăn mà khỏi bệnh.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Thiển chú》:“ Điều này có nghĩa là bệnh ở kinh Dương Minh cũng có nhiệt nhập huyết thất, không câu nệ ở thời điểm bắt đầu hay kết thúc kinh nguyệt, nhưng hội chứng xuất huyết, và đầu xuất hăn là hội chứng độc nhất vô nhị. Nhiệt của Dương Minh, huyết theo khí mà xâm nhập vào tử cung, gây chảy máu và nói mê sảng, không cần phải nhân dịp bắt đầu hành kinh th́ sau đó nhiệt tà mới xâm nhập. Đó là kinh nguyệt đă dứt, nhiệt thừa hư mà xâm nhập, và huyết c̣n bị bức bách mà tự hạ. Tuy nhiên đă nhập huyết thất, th́ không phải dương minh là chính, mà hai mạch xung nhâm và kinh Quyết âm của can là chính, hai mạch xung nhâm là kỳ mạch, với khí quyết âm là chủ, khí quyết âm không thông nên toàn thân vô hăn, bế uất và cầu thông, được toại ư là nhờ Thiếu dương mà thông đạt, v́ thế trên đầu xuất hăn, trị pháp nên châm huyệt Kỳ môn để tả thực. Châm rồi toàn thân xuất hăn, và âm bị bế toả được thông, v́ thế nên khỏi bệnh.”

妇人咽中如有炙脔,半夏厚朴汤主之。
5/Phụ nhân yết trung như hữu chích luyến, bán hạ hậu phác thang chủ chi.

Bán hạ hậu phác thang phương: Bán hạ 1 thăng, hậu phác 3 lạng, phục linh 4 lạng, sinh khương 5 lạng, can tô diệp 2 lạng. Dùng 7 thăng nước sắc lấy 4 thăng chia 4 lần uống lúc ấm, ngày 3 đêm 1. Thiên kim dùng chữa hung măn, tâm hạ kiên, hầu trung niêm niêm (nhớt dính) như hữu chích nhục, thổ bất xuất, thôn bất hạ (khạc không ra, nuốt không xuống).

【Từ giải】
Chích luyến (炙脔): Cục thịt nướng.

【Giải thích】
Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng đàm ngưng khí trệ trong cổ họng phụ nữ. Bệnh này người đời sau gọi là bệnh “Mai hạch khí”. V́ t́nh chí (phản ứng cảm xúc) uất kết (tích tụ), khí uất hoá hoả, luyện (cô đặc) thành đàm, ngưng đọng ở họng, có cảm giác như có khối thịt gây tắc nghẽn, thổ không ra, nuốt không xuống. Kèm theo các chứng trạng như tinh thần ưu uất, lồng ngực bực bội hay thở dài. Chứng này không chỉ thấy ở phụ nữ, mà nam nhân cũng bị bệnh này.
Điều trị dùng thang Bán hạ Hậu phác, giải uất hoá đàm, lư khí khai kết. Trong phương vị Tử tô có hương thơm, có tác dụng tán uất điều chỉnh khí cơ; Hậu phác giáng khí, khai ngưng trệ tán uất kết và thông lợi đàm và khí; Phục linh hành ẩm hoá ẩm, thanh lọc đàm, Bán hạ giáng khí điều (tẩy rửa) đàm; Sinh khương ôn trung tiêu hoá ẩm để trừ khứ đàng ngưng đọng, th́ cảm giác cổ họng như có miếng thịt có thể được loại trừ.

【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Đó là khí kết nghẽn tắc ở cổ họng, 《Thiên kim》gọi là cổ họng như tiếp xúc với thịt nướng, đồng thời nuốt không xuống, thổ không ra cũng chính là bệnh này. Bán hạ, Hậu phác, Sinh khương vị cay tán kết, vị đắng giáng nghịch; Phục linh tá trợ Bán hạ để lợi đàm khí, Tử tô hương thơm, nhập phế để tuyên (lan toả) phế khí.”

【Bệnh án】

Thạch Dương, nữ, 71 tuổi. Đến khám bác sĩ ngày 28/10/1980.

Tôi mắc bệnh tâm thần hơn 4 năm, đă điều trị bằng chlorpromazine, diazepam, Tailden và các loại thuốc khác nhưng không thấy cải thiện đáng kể. Trong tháng vừa qua, các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn, người bệnh đôi khi lo lắng và đôi khi chán nản. Cô ấy nói nhiều về nỗi sợ hăi, nói năng bất kể thân sơ, cảm thấy buồn và muốn khóc, chạy khắp nơi và thường xuyên lẩm bẩm. đặc biệt là vào ban đêm. Vào sáng sớm và trước buổi trưa, người bệnh thường có vẻ uể oải, thường xuyên ẩn ḿnh vào bóng tối, miệng chảy dăi. Ho có nhiều đàm, đờm loăng, ăn uống kém. Quan sát thấy nước da của bệnh nhân vàng úa, dinh dưỡng kém, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng và nhờn, mạch huyền hoăn. Tham khảo chứng và mạch, có liên hệ rơ rệt với khí cơ uất kết, phế vị tuyên giáng thất thường, đàm dăi ngưng tụ, cộng thêm khí trệ đàm ngưng, tỳ hư không thể hoá thấp, đàm thấp giao kết gây trở ngại, quấy nhiễu tinh thần. Xử phương dùng thang Bán hạ Hậu phác gia giảm:
Bán hạ 10g Hậu phác 10g Phục linh 12g Sinh khương 6g Tô diệp 8g Quất hồng 9g Đảm nam tinh 12g, sắc uống, 3 thang.
Sau khi uống chứng trạng về tinh thần đại giảm, có thể đối thoại b́nh thường, không c̣n chảy dăi, ho giảm nhẹ. Duy vẫn c̣n nói nhảm vào ban đêm và ít ngủ. Dặn bệnh nhân uống thêm 3 thang như trên, sau khi uống tinh thần người bệnh trở lại b́nh thường, đă có thể sinh hoạt nhẹ nhàng, theo dơi thêm nửa năm và bệnh chưa thấy tái phát.

(Trích từ “Y học cổ truyền Thiểm Tây” 5:12, 1981)

妇人藏躁,喜悲伤,欲哭,象如神灵所作,数欠伸,甘麦大枣汤主之。
6/Phụ nhân tạng táo, hỷ bi thương, dục khấp, tượng như thần linh sở tác, sác khiếm thân (ngáp vươn vai), Cam mạch Đại táo thang chủ chi.
Cam mạch đại táo thang phương Cam thảo 3 lạng, Tiểu mạch 1 thăng, Đại táo 10 trái. Dùng 6 thăng nước sắc lấy 3 thăng chia 3 lần uống lúc ấm. Cũng có tác dụng bổ tỳ khí.
【Giải thích】
Đoạn văn này tŕnh bày phần biện chứng luận trị của bệnh tạng táo. Lục phủ là dương, ngũ tạng là âm. Dương là khí, âm là huyết, huyết hư không thể thấm ướt th́ sinh tạng táo. Là bệnh mà tâm can là hai tạng đứng đầu, v́ tâm chủ huyết và can tàng trữ huyết, v́ thế khi bị bệnh th́ người bệnh có cảm giác bi thương muốn khóc, h́nh tượng như thần linh làm ra, đó là phản ảnh của tâm bệnh, hay ngáp và thích vươn vai là h́nh tượng của bệnh can thận. Sở dĩ như vậy v́ huyết hư không thấm ướt (nhu nhuận), bên trong tất có liên quan đến tạng tâm, âm tạng đă tổn thương và cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến tạng thận, v́ thế điều trị nên dùng thuốc có vị ngọt, đó là lư do bổ huyết của tâm can và cũng để thấm ướt nơi khô táo.
Điều trị dùng thang Cam thảo Tiểu mạch Đại táo, tưới nhuần khô khan của ngũ tạng. Trong phương có Cam thảo, Đại táo trợ tỳ ích huyết, có thể tưới nhuần ngũ tạng, hoà hoăn t́nh trạng khô khan cấp bách; Tiểu mạch bổ dưỡng huyết của tâm can, trừ nhiệt của tạng táo, liễm tâm khí mà an thần chí.
【Tuyển chú】
《Y Tôn Kim Giám》:“ Tạng, cũng là tạng tâm, tâm an tĩnh th́ thần ẩn tàng. Nếu v́ t́nh chí làm tổn thương, th́ tâm không được tĩnh, mà tinh thần bồn chồn bất an, v́ thế hay bi thương muốn khóc, cũng chính là thần không làm chủ được t́nh cảm; Như tinh thần phải dựa vào, chính là tâm cũng không thể sáng suốt, tức là bệnh thất chí điên cuồng hiện nay, ngáp, hay ngáp và chán nản là bệnh của tạng can, mẫu năng linh tử thực, v́ thế là chứng cứ có thể hiểu được
【Bệnh án】
Năm 1936, một người đàn ông ở Bệnh viện huyện Hà Trạch, tỉnh Sơn Đông được khám bệnh lần 1. Ông khoảng 30 tuổi, dáng người trung b́nh, nước da trắng bệch và đă đến Bệnh viện Tâm thần Tế Nam hai lần để điều trị nhưng vô hiệu. Kiểm tra có những triệu chứng điển h́nh là khóc buồn, cười thất thường và thỉnh thoảng run rẩy, giống như hội chứng “phù thủy bắt chước thần thánh”. Sau đó, bn được cho uống thuốc thang Cam mạch Đại táo: Cam thảo 9g, Tiểu mạch 9g và 6 quả táo tàu. Sau khi uống 7 thang thuốc, bn đă được theo dơi trong 3 năm chưa thấy tái phát.
Năm 1940, tại huyện Loan, ông chẩn đoán và điều trị cho một phụ nữ 19 tuổi tên là Từ thị. Cô ấy bồn chồn, khóc và cười thất thường, được chẩn đoán người bệnh bị chứng tạng táo, cũng uống phương dược trên. Cha cô ấy nói. Sẽ làm thuốc như đồ ăn b́nh thường.” Sau khi trở về, ông lấy trong kho khoảng 500 gam lúa ḿ và 500 gam táo tàu, mua một nắm to Cam thảo, cho vào nồi đun sôi, bắt cô con gái uống thỏa thích. Sau khi uống thuốc, bệnh nhân cảm thấy rất chóng mặt, sau đó ngủ thiếp đi cả ngày lẫn đêm mới tỉnh dậy, ngày hôm sau người cha đến mô tả quá tŕnh uống thuốc và được thày thuốc dặn anh cho bệnh nhân uống thuốc theo hướng dẫn. Tôi đă cho bệnh nhân uống một số thang và đă lâu bệnh không tái phát.

妇人吐涎沫, 医反下之,心下即痞,当先治其吐涎沫,小青龙汤主之。涎沫止,乃治痞,泻心汤主之。
7/ Phụ nhân ẩu thổ diên mạt, y phản hạ chi, tâm hạ tức bĩ, đương tiên trị kỳ thổ diên mạt, Tiểu thanh long thang chủ chi; Diên mạt chỉ, năi trị bĩ, Tả tâm thang chủ chi.
Tiểu thanh long thang phương: Xem trong đàm ẩm.
Tả tâm thang phương: Xem trong Kinh quư.
【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày trị pháp của chứng hàn ẩm trước và sau khi ngộ hạ (hạ nhầm). Phụ nữ thượng tiêu có hàn ẩm đ́nh tụ, lại thêm cảm thụ hàn tà, bên trong là ẩm bên ngoài là hàn, bức bách lên phế, v́ thế ho ra dăi bọt. Điều trị dùng thang Tiểu thanh long để ôn tán hàn ẩm. Nếu thày thuốc dùng nhầm thuốc khổ hàn (đắng lạnh) để công hạ, gây tổn thương vị khí, hàn ẩm ngưng kết, khí ở tâm hạ bị cản trở mà tác bĩ (bế tắc). Vẫn c̣n lạnh ở trên, v́ thế không ngừng thổ ra dăi bọt. Chứng này nếu đầu tiên dùng thang Tả tâm để trị chứng bĩ, th́ hàn tà sẽ truyền vào trong, mà chứng hàn ẩm sẽ càng tệ; Nếu trước tiên dùng thang Tiểu thanh long giải tán ngoại hàn, tiêu trừ nội ẩm, th́ khí bĩ không có ngoại viện nên dễ loại trừ. V́ thế trước tiên nên trừ diên mạt (dăi bọt), thang Tiểu thanh long chủ trị chứng này, Dăi bọt đă hết, chuyển sang điều trị chứng bĩ và thang Tả tâm là phương dược khó có thể thay đổi.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Thổ dăi bọt là trên có hàn, không dùng thuốc ôn tán mà lại dùng thuốc công hạ nên hàn tà nhập nội mà gây thành chứng bĩ, cũng như chứng thương hàn công hạ sớm. Tuy là chứng bĩ nhưng vẫn c̣n dăi bọt, th́ hàn ở trên chưa hết nên không thể trị bĩ mà trước tiên nên trị hàn ở thượng tiêu, sau đó điều trị bĩ ở trung tiêu, cũng như lấy chứng thương hàn làm ví dụ, biểu giải rồi th́ mới có thể công hạ.



8.妇人之病,因虚积冷结气,为诸经水断绝,至有历年,血寒积结胞门。 寒伤经络,凝坚在上,呕吐涎唾 ,久成肺痈,形体损分;在中盘结,绕脐寒疝,或两胁疼痛,与藏相连,或结热中,痛在关元,脉数无疮,肌若鱼鳞,时著 男子,非止女身;在下未多,经候不匀,令阴掣痛,少腹恶寒;或引腰脊,下根气街,气冲急痛,膝胫疼烦。

奄忽眩冒,状如厥癫,或有忧惨,悲伤多嗔,此皆带下,非有鬼神。久则赢瘦,脉虚多寒。

三十六病,千变万端,审脉阴阳,虚实紧弦,行其针药,治危得安,其虽同病,脉各异源,子当辩记,勿谓不然。
8/Phụ nhân chi bệnh, nhân hư tích lănh, kết khí, vi chư kinh thủy đoạn tuyệt, chí hữu lịch niên, huyết hàn tích kết bào môn. Hàn thương kinh lạc, ngưng kiên tại thượng, ẩu thổ diên thoá, cửu thành phế ung, h́nh thể tổn phân. Tại trung bàn kết, nhiễu tề hàn sán; hoặc lưỡng hiếp đông thống, dữ tạng tương liên; hoặc kết nhiệt trung, thống tại Quan nguyên, mạch sác vô sang, cơ nhược ngư lân, thời trước nam tử, phi chỉ nữ thân. Tại hạ vị đa, kinh hầu bất quân, lệnh âm xiết thống, thiếu phúc ố hàn; hoặc dẫn yêu tích, hạ căn khí nhai, khí xung cấp thống, tất hĩnh đông phiền. Yểm hốt huyền mạo, trạng như quyết điên; hoặc hữu ưu thảm, bi thương đa phẫn, thử giai đái hạ, phi hữu qủy thần. Cửu tắc luy sấu, mạch hư đa hàn.
Tam thập lục bệnh, thiên biến vạn đoan; thẩm mạch âm dương, hư thực khẩn huyền; hành kỳ châm dược, trị nguy đắc an, kỳ tuy đồng bệnh, mạch các dị nguyên; tử đáng biện kư, vật vị bất nhiên.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày nguyên nhân, bệnh cơ và nguyên tắc biện chứng luận trị tạp bệnh của phụ nữ. Đoạn thứ nhất thuyết minh về nguyên nhân tạp bệnh của phụ nữ, chủ yếu gồm có ba hội chứng: Hư, tích lănh và kết khí. “Hư”, là thể chất hư nhược, khí hư huyết thiểu, hoặc âm dương không đầy đủ, năng lực đề kháng bệnh bạc nhược, dễ cảm thụ tà khí. “Tích lănh”, là cảm thụ hàn tà, ngưng kết không tan, tích tụ lâu ngày th́ kiên cố. “Kết khí”, là can uất khí uất, khí cơ không thông suốt, lâu ngày khí kết không thông. Nếu như cùng nói đến những liên hệ của chúng th́ chính là khí hư huyết thiểu, phong lănh ngưng tụ, khí kết không thông mà dẫn đến kinh nguyệt không điều hoà, thậm chí bế kinh, bệnh kéo dài vài năm, huyết hàn tích kết ở tử cung mà h́nh thành bệnh căn khó chữa.
Đoạn thứ 2 thuyết minh về t́nh huống bệnh biến của hư lănh kết khí tại thượng, trung và hạ tiêu, hư lănh kết khí gây tổn thương kinh lạc, kinh lạc bị ngưng trệ, kết lại không thông, nếu kết tại thượng tiêu khiến phế khí không thể phân bố tân dịch, cho nên thổ ra bọt và ho không ngừng, và sẽ h́nh thành chứng phế nuy (liệt không cử động), hàn uất lâu ngày th́ có thể hoá nhiệt, nhiệt độc gây rữa nát thịt hoá thành mủ th́ thành chứng phế ung. Phế nuy, phế ung đều có thể tổn thương âm phận, âm hữu h́nh, âm tổn thương th́ h́nh thể gầy g̣.
Hư, lănh, kết khí quyện nhau ở trung tiêu, cũng có hai loại khả năng là hàn ngưng và hoá nhiệt. Hàn lănh ngưng tụ, khí kết không thông, gây tổn thương kinh lạc của can tỳ, xoắn quyện ở can tỳ gây đau quặn ở quanh rốn; Kết ở kinh can th́ đau ở hai bên sườn và đau lan đến nội tạng. Hàn lănh kết khí uất ở bên trong, chính tà tương tranh, hoá nhiệt ở trung tiêu, nhiệt gây khô huyết, h́nh thành ứ huyết, đ́nh trệ ở bụng dưới nên đau ở huyệt Quan nguyên. Uất nhiệt gây háo tổn doanh huyết, huyết khô không thể nuôi bên ngoài, v́ thế xuất hiện mạch sác phát nhiệt, chưa xuất hiện mụn nhọt mà thấy da thịt khô khan, giống như vảy cứng. Loại bệnh biến như vậy nam tử và phụ nữ đều có thể phát sinh. Mụn nhọt là thấp nhiệt hoả độc tụ vào một nơi, gây rữa nát thịt hoá mủ mà thành. Chứng này do nhiệt làm khô huyết, huyết khô không nuôi dưỡng được da thịt.
Nếu hư lănh kết khí ở hai mạch xung nhâm tại hạ tiêu, v́ khí hư huyết thiếu mà chính khí không đầy đủ, hàn lănh ngưng tụ, khí kết không thông và bệnh tà gây tổn thương kinh mạch, v́ thế xuất hiện các chứng trạng kinh nguyệt lượng ít, hành kinh không thông sướng dễ dàng, kinh nguyệt không điều hoà, đau ở tiền âm (khí quan sinh thực và niệu đạo) thêm bụng dưới sợ lạnh. Hàn lănh ngưng tụ, lôi kéo eo lưng, hoặc nối với khí nhai (thông lộ chung của kinh khí) ở dưới, th́ có thể phát sinh xung khí đau cấp bách, hoặc co kéo gây ra hiện tượng đau đùi gối và bắp chân.
Đoạn thứ ba thuyết minh “Hư lănh kết khí”, gây nên các loại bệnh tật trên phương diện tinh thần. Hư lănh kết khí gây tổn thương “Bào môn” là miệng tử cung ở dưới mạch đới, có hai loại khác nhau ở trên là huyết hư bất dưỡng và huyết nhiệt thượng kháng(thái quá): Huyết hư bất dưỡng, là âm huyết không thể tưới nhuần đầu mắt, v́ thế có thể đột nhiên xuất hiện choáng váng hoa mắt; Huyết nhiệt thượng kháng, là khí huyết uất trở hoá nhiệt và huyết nhiệt thượng kháng (thái quá), như một loại bệnh hôn quyết(ngất), điên cuồng; Huyết hư sinh nhiệt phát triển hoá táo, không thể nhuận (thấm ướt) vào nội tạng, v́ thế khiến người bệnh bực bội giận dữ. Đây đều là bệnh đái hạ của phụ nữ mà hư hàn tích kết ở bào môn gây ra, v́ thế có những cải biến tinh thần nêu trên, giống như có quỷ thần ám ảnh. Chứng này kéo dài không khỏi th́ không sinh ra khí huyết, v́ thế thân thể gầy yếu, mạch hư nhược.
Đoạn thứ 4 thuyết minh biện chứng luận trị tạp bệnh của phụ nữ. Tạp bệnh của phụ nữ gồm 36 loại, biến hoá đa đoan, cực kỳ phức tạp. Khi biện chứng cần ứng dụng phương pháp chẩn đoán như thiết mạch, phân biệt âm dương hàn nhiệt hư thực của hội chứng. Khi tiến hành thi trị, cần căn cứ vào kết quả của biện chứng, trị liệu thoả đáng dành cho châm cứu hoặc uống thuốc làm cho bệnh nhân chuyển nguy thành an. “Kỳ tuy đồng bệnh”, chính là nói về tuy nhiều bệnh tật có bệnh h́nh tương tự. Nhưng v́ mạch và h́nh tượng mạch xuất hiện ở các vị trí khác nhau, cho nên tính chất và vị trí của bệnh cũng sẽ khác biệt, thày thuốc cần nhận biết rơ ràng như phân biện thẩm tra, cần nắm vững những nguyên tắc biện chứng luận trị này, không nên sản sinh tư tưởng không quan trọng mà cho rằng không hợp lư.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“Nói về bệnh phụ nữ, nguyên nhân gồm 3 phương diện: Là Hư, lănh và kết khí. Huyết mạch quư ở sung túc tràn đầy, mà địa đạo thích ấm áp hoà hoăn (ôn hoà), sinh khí th́ muốn điều đạt, bế tắc th́ huyết hàn kinh tuyệt, bào môn đóng và kinh lạc bị cản trở; Mà biến chứng th́ có sự khác biệt ở thượng, trung và hạ tiêu. Tại thượng tiêu là cảm thụ của phế vị, là ẩu thổ dăi bọt, là phế ung, là h́nh thể tiêu tổn, bệnh tự hạ đến thượng, theo viêm thượng để hoá. Tại trung tiêu là cảm thụ của can tỳ, hoặc đau quặn quanh rốn, hoặc đau từ sườn vào đến tạng, bệnh này thuộc âm. Hoặc kết nhiệt ở trung tiêu, đau ở Quan nguyên, hoặc mạch sác, cơ bắp khô khan, thậm chí như cơ bắp nam giới, bệnh này nhiệt ở trung tiêu, là nơi giao nhau của âm dương, v́ thế hoặc hoá theo hàn hoặc cũng có thể hoá theo nhiệt. Tại hạ tiêu là cảm thụ của tạng thận, là kinh hậu không đều, là xiết thống trong âm, bụng dưới ghét lạnh; Hoặc kéo lên eo lưng, xuống gốc khí nhai, và đau gối và bắp chân. Tạng thận là bộ phận của âm, mà mạch xung là đại lạc của Thiếu âm, đồng thời bắt đầu ở tạng thận, nặng th́ đột nhiên choáng váng hoa mắt, tựa như quyết điên; Gọi là âm bệnh, đi xuống cực độ rồi lên. Hoặc ưu sầu cáu giận, giống như ma làm, bệnh tại âm th́ hay giận dữ, ưu sầu không vui. Tóm lại: Đây đều là đới hạ, đới hạ là bên dưới của mạch đới, người xưa sắp xếp bệnh theo kinh mạch, phàm 36 loại, đều gọi là bệnh đới hạ, và cũng không phải là chứng xích bạch đái hạ như người bây giờ nói đến. Đến như cơ chế âm dương hư thực, an nguy của châm dược, không phải thày thuốc mà có thể tuỳ tiện phân biệt và không nhầm lẫn được ư? 36 bệnh gồm 12 loại chưng (ḥn khối), 9 loại đau, 7 hại, 5 tổn thương và 3 tích tụ măn tính kiên cố (cố kết).”

问曰:妇人年五十所,病下利数十日不止,暮即发热,少腹里急,腹满, 手掌烦热,唇口干燥,何也?师曰,此病属带下。何以故?曾经半产,瘀血在少 腹不去。何以知之?其证唇口干燥,故知之。当以温经汤主之。
问曰:妇人年五十所,病下利数十日不止,暮即发热,少腹里急,腹满, 手掌烦热,唇口干燥,何也?师曰,此病属带下。何以故?曾经半产,瘀血在少 腹不去。何以知之?其证唇口干燥,故知之。当以温经汤主之。
9/ Vấn viết: Phụ nhân niên ngũ thập sở, bệnh hạ lợi số thập nhật bất chỉ, mộ tức phát nhiệt, thiếu phúc lư cấp, phúc măn, thủ chưởng phiền nhiệt, thần khẩu can táo, hà dă? Sư viết: Thử bệnh thuộc đái hạ. Hà dĩ cố? Từng kinh bán sản, ứ huyết tại thiếu phúc bất khứ. Hà dĩ tri tri? Kỳ chứng thần khẩu can táo, cố tri chi. Đương dĩ ôn kinh thang chủ chi.
Ôn kinh thang phương Ngô thù du 3 lạng, Đương quy 2 lạng, Xuyên khung 2 lạng, Thược dược 2 lạng, Nhân sâm 2 lạng, Quế chi 2 lạng, A giao 2 lạng, Sinh khương 2 lạng, Mẫu đơn b́ (bỏ tâm) 2 lạng, Cam thảo 2 lạng, Bán hạ 1,5 lạng, Mạch đông 1 thăng (bỏ tâm). Dùng một đấu nước sắc lấy 3 thăng chia 3 lần uống lúc ấm. Cũng chữa cả phụ nhân thiếu phúc hàn, cửu bất thụ thai. Hoặc băng huyết, kinh quá nhiều hoặc trễ kinh.
【Giải thích】
Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng băng lậu do ứ huyết gây ra. Phụ nữ trên dưới 50 tuổi, tuổi này hai mạch xung và nhâm đều đă hư yếu, dĩ văng đă từng trải qua sẩy thai, th́ chính khí tuy hư mà ứ huyết ở bụng dưới vẫn chưa hết sạch, huyết hàn tích kết ở bào môn, hàn tổn thương kinh lạc, huyết không quy kinh, đầy bụng bên trong cấp bách, huyết không quy kinh, đầy bụng muốn đại tiện, băng lậu hạ huyết (ra máu) nhiều ngày không cầm. Băng lậu th́ tổn huyết háo âm, âm hư th́ sinh nội nhiệt, v́ thế đến tối th́ phát sốt, ḷng bàn tay nóng và phiền muộn, tân dịch không thể tưới nhuần lên trên nên miệng môi bị khô.
Bệnh này là do hai mạch xung nhâm hư hàn, bụng dưới có ứ huyết, dẫn đến chứng băng lậu không cầm. Điều trị dùng thang Ôn kinh để ôn khí nhu (thấm ướt) huyết, điều hoà hai mạch xung nhâm. Trong phương có Ngô thù du, Quế chi Sinh khương ôn hoà can vị, để ấm áp bào môn (tử cung khẩu), Đương quy, Xuyên khung, Thược dược, A giao bổ huyết ích âm, để bổ can và vị, Đan b́ phối Thược dược mát máu thoái nhiệt, Mạch đông nhuận táo tục tuyệt (điều trị bệnh có tính nghiêm trọng), có công bổ dưỡng tâm phế; Nhân sâm, Cam thảo bổ khí phù hư để khai hoá nguồn; Bán hạ giáng nghịch trị ho để hoà vị khí. Hợp dụng các vị thuốc, có tác dụng ấm tử cung và kinh mạch, bổ huyết khứ ứ, v́ thế cũng được dùng để điều trị các chứng như phụ nữ tích hàn ở bụng dưới, băng lậu xuất huyết do ứ huyết đ́nh trệ bên trong, kinh nguyệt quá nhiều, nguyệt kinh trễ kỳ, kết hôn lâu ngày không thụ thai…
【Tuyển chú】
《Y Tông Kim Giám》:“ Phụ nữ đă 50 tuổi, hai mạch xung nhâm đều đă hư yếu, thiên quư kiệt (kinh nguyệt hết), địa đạo không thông. Nay xuất huyết mấy chục ngày không dứt, là
chứng lậu hạ, ngũ tâm (ḷng bàn tay bàn chân và ngực) phiền nóng, là âm huyết hư. Miệng môi khô khan, huyết ở hai mạch xung nhâm bị tổn thương, không thể nuôi bên trên; Bụng dưới đầy trướng, tử cung bị lạnh, ứ trệ bất hành. Đă từng sẩy thai băng huyết, khó sinh huyết mới, ứ huyết chưa hết sạch, phong hàn khách ở tử cung, là đái hạ, là băng huyết, là kinh thuỷ không đúng kỳ, là tử cung bị lạnh và hiếm muộn. Các chứng này đều có thể dùng thang Ôn kinh chủ trị, v́ phương này sinh tân khứ ứ, ấm áp tử cung và bồi bổ hai mạch xung nhâm.”
【Bệnh án】
Họ Trương, nữ, 30 tuổi. Bệnh nhân sinh con gái khi mới 21 tuổi. Sau sinh, cô uống quá nhiều nước lạnh do bị sốt trong kỳ kinh dẫn đến kinh nguyệt không đều. Đau kịch liệt vùng bụng dưới khi hành kinh, thân thể lạnh và sợ lạnh, thích chườm nóng, thích xoa bóp. Kinh hành thường trễ, có khi kéo dài hơn 40 ngày mới hành kinh. Mạch trầm tŕ, chất lưỡi nhạt có rêu trắng, mép lưỡi có ứ ban. Nguyên nhân gây bệnh là do hàn ngưng khí trệ và huyết ứ, v́ tử cung lạnh nên hiếm muộn, kinh nguyệt không điều hoà. Điều trị dùng thang Ôn kinh gia giảm, ấm tử cung và điều kinh.
Xử phương: Ngô thù du 5g Xuyên khung 6g Đương quy Bạch thược đều 10g Quế chi 8g Đan b́ 6g Sinh khương 3 phiến Cam thảo 3g Bán hạ 6g.
Dặn bệnh nhân uống từ 5 đến 7 thang trước khi hành kinh, khi hành kinh th́ ngừng uống. Uống liên tiếp nửa năm, kinh nguyệt dần trở lại b́nh thường, sau đó mang thai và sinh một bé trai. Phía dưới phương dược viết: Bà nội trợ bụng bị lạnh, đă lâu không có thai.” Đă sử dụng nó và có kết quả tốt.
(Trích từ “Tạp chí Y học Cổ truyền Trung Quốc Liêu Ninh” 8:14, 1980)

带下经水不利,少腹满痛,经一月再见者,土瓜根散主之。
10/ Đới hạ kinh thủy bất lợi, thiếu phúc măn thống, kinh nhất nguyệt tái kiến giả, Thổ qua căn tán chủ chi.
Thổ qua căn tán phương
Thổ qua căn, Thược dược, Quế chi, Thổ miết trùng mỗi loại 3 lạng, tán bột uống phương thốn chủy với rượu ngày 3 lần.
【Giải thích】
Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị kinh thuỷ không thuận lợi do ứ huyết. Ứ huyết đ́nh trệ, gây trở ngại quá tŕnh hành kinh, kinh nguyệt tựa như thông mà không thông, muốn ngừng mà không ngừng, v́ thế kinh nguyệt tuy hành nhưng không thuận lợi, không thuận lợi nên bụng dưới đầy và đau, ấn vào thấy khối cứng, kinh nguyệt không chuẩn, có tháng thấy 2 lần (Nhất nguyệt tái kiến).
Điều trị dùng Qua căn tán, hoạt huyết thông ứ. Trong phương có Thổ qua căn thông kinh tiêu ứ huyết, Giá trùng (Thổ miết trùng) phá huyết khai bế; Quế chi Thược dược ôn dương ích âm, thông hành doanh vệ và điều kinh.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú》:“ Đái hạ tức là trước đây đều gọi bệnh phụ nữ là đái hạ, và cũng không chuyên chỉ về chứng xích bạch đái hạ của hiện nay. Là cổ nhân liệt kê bệnh phụ nữ theo kinh mạch bị bệnh có 36 loại. Đều gọi là bệnh đái hạ, v́ thế phần này được gọi là đái hạ. Bất lợi, là kinh nguyệt không đúng kỳ, v́ hàn và ứ, nên bụng dưới đầy và đau; Tuy nhiên có ứ là không thuận lợi, là kinh kỳ lần trước hành chưa thông sướng, nên kinh hành tháng sau không thể đúng kỳ, bởi vậy sau một tháng sẽ xem lại. Điều trị chứng này dùng Thổ qua căn tán, Thổ qua cũng là thảo bộ Vương qua, tính đắng lạnh, chủ về trừ nhiệt hành ứ; Giá trùng kiêm hoạt huyết; Thược dược liễm chính khí trong âm; Quế chi vận hành kinh lạc bị ứ trệ, và tích lănh tự tán. V́ có ứ trệ, nên dùng Thổ qua là chủ dược, kết hợp với Quế chi, cũng gọi là v́ hàn mà dụng nhiệt vậy.”
寸口脉弦而大,弦则为减,大则为芤,减则为寒,芤则为虚,寒虚相搏, 此名曰革。妇人则半产漏下,旋复花汤主之。
11/Thốn khẩu mạch huyền nhi đại, huyền tắc vi giảm, đại tắc vi khâu, giảm tắc vi hàn, khâu tắc vi hư, hư hàn tương bác, thử danh viết cách, phụ nhân tắc bán sản hậu hạ, Toàn phú hoa thang chủ chi.
Toàn phú hoa thang phương: Toàn phú hoa 3 lạng, Thông (hành) 14 cọng, Tân giáng (Tây thảo) một chút.
3 vị trên, dùng 3 thăng nước, nấu c̣n 1 thăng, uống hết 1 lần.
【Giải thích】
Đoạn văn này thảo luận biện chứng luận trị chứng bán sản (sẩy thai) lậu hạ tinh huyết hư tổn. Phụ nữ âm huyết hư tổn dẫn đến hai loại t́nh trạng bệnh gồm dương khí suy vi và hư dương phù việt ra ngoài. Âm huyết suy yếu, dương khí suy vi, th́ âm hàn ngưng tụ kiên cố, v́ thế mạch huyền. Âm huyết hư tổn, hư dương phù ra ngoài, th́ dương nhiệt ngoại động, nên mạch khâu đại. Âm hàn ngưng tụ kiên cố với hư dương phù việt ra ngoài đồng thời tồn tại, xuất hiện mạch huyền khẩn, lớn mà trống rỗng, như ấn vào da trống, có tên là mạch cách. Dương khí suy vi, dương không củng cố âm, âm huyết không yên, th́ thấy mạch này, là phụ nhân sẩy thai băng lậu, tổn thương huyết dịch.
Điều trị dùng thang Toàn phú hoa, hỗ trợ khí huyết sinh hoá, vận hành khí huyết bị ứ trệ, để chờ sinh cơ tự hồi phục. Trong phương có Toàn phú hoa điều chỉnh khí uất kết, thông huyết mạch, điều hoà hàn nhiệt, điều tiết can để hỗ trợ khí khai phát; Thông bạch ôn thông dương khí, và có ư nghĩa dương sinh âm trưởng; Vị Tân giáng (Tây thảo) lư (điều chỉnh) huyết tán hàn, là có ư khứ ứ huyết để sinh ra huyết mới.
Chứng này hư tổn nhiều và khó bồi bổ, v́ sau khi sẩy thai lậu hạ (xuất huyết), th́ bên trong có ứ huyết, v́ thế điều trị phải chú trọng đến tạng can, hỗ trợ khí sinh hoá, vận hành khí huyết bị đ́nh trệ, và sau đó mới đến bổ dưỡng âm huyết, ôn tán âm hàn.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Bài này đă thấy trong chương hư lao, ở đây bỏ câu nam tử vong huyết thất tinh, viết thêm câu Toàn Phú hoa thang chủ chi, là thang dược chuyên dùng cho phụ nữ. Theo {Bản thảo} Toàn phú hoa trị khí kết, trừ hàn nhiệt ở giữa ngũ tạng, thông huyết mạch; Thông (bạch) chủ hàn nhiệt, trừ can tà, Ráng miên (Tây thảo, Thiến thảo) nhập can lư (điều chỉnh) huyết, không phù hợp với chứng hư hàn. Tuy nhiên can là âm tạng mà bỏ khí thiếu dương, với sinh hoá là công việc, lưu hành là sử dụng, chính là lư do hư mà không thể bổ, giải uất tụ tức là bổ; Hàn không thể ôn, vận hành khí huyết cũng chính là ôn; Từ xưa đến nay khi không thể chuyên bổ huyết v́ tổn thương khí, cũng không nhất định trước tiên phải tán kết tụ và sau đó ôn bổ , như thuyết của hai họ Triệu và Nguỵ.”

【Bệnh án】
Đái ××, nữ, xă viên, đến cơ quan chúng tôi chữa bệnh vào năm 1975. Cô phàn nàn rằng ḿnh bị chảy máu âm đạo sau khi sảy thai vào năm ngoái. Mạch tế sác, lưỡi hồng nhuận rêu trắng, bụng dưới thỉnh thoảng đau âm ỉ, tuy lượng máu không nhiều nhưng suốt ngày rỉ ra. Triệu chứng rơ ràng là sau sinh có huyết ứ kết tụ, có thể dùng Toàn Phú Hoa thang để chữa trị.

Đơn thuốcToàn phú hoa 10 gam (cho vào túi), Tân ráng (Thiến thảo) 12 gam, 10 củ hành lá (Thanh thông), Địa hoàng 15 gam, Đương quy 10 gam, Bạch thược 6 gam, Xuyên khung, 6 gam, ba thang .

Chẩn đoán lần thứ hai: Sau khi uống thuốc, xuất hiện một số cục máu đông, máu dần ngừng chảy và không c̣n đau bụng nữa. Sau đó tiếp tục điều lư bằng thang Thập toàn đại bổ và khỏi bệnh.

12.妇人陷经漏下,黑不解,胶姜汤主之。臣亿等校诸本无胶姜汤方,想是妊娠中胶艾汤.

12/ Phụ nhân hăm kinh lậu hạ, hắc (đen) bất giải, Giao khương thang chủ chi.

Lâm Ức hiệu đính rất nhiều sách nhưng không thấy có Giao khương thang và nghĩ có thể đây là Giao ngải thang.

【Từ giải】

Hắc bất giải (黑不解): Kinh huyết hạ hăm có sắc đen mà không giải.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị bệnh hư hàn lậu hạ (rong kinh). Hai mạch xung nhâm hư hàn, không sinh được huyết mới, huyết cũ ngưng tụ v́ hàn, bại huyết sáp trệ mà hạ (xuất ra), v́ thế lậu hạ không ngừng, màu huyết đen sẫm.

Điều trị dùng thang Giao ngải, ôn bổ xung nhâm, dưỡng huyết cầm máu. Trong phương có A giao dưỡng huyết để cầm máu, khứ ứ sinh tân; Sinh khương tán hàn đạt khí, tán uất cử hăm; Ngải diệp ôn kinh ấm bào (tử cung); Và Cam thảo bổ trung ích khí.

【Tuyển chú】

《Y Tôn Kim Giám》:“ Lư Văn viết: Hăm kinh lậu hạ (rong kinh), gọi là kinh mạch hạ hăm, mà huyết lậu hạ không ngừng, là khí không giữ được huyết. Hắc bất giải là không trừ khứ được ứ huyết, th́ không sinh được huyết mới, nên vinh khí cũng hủ bại mục nát. Nhưng khí huyết thích ấm áp và ghét lạnh, dùng thang Giao Khương ôn dưỡng khí huyết khiến khí thịnh vượng huyết sung túc, thay cũ đổi mới mà kinh nguyệt sẽ tự điều hoà thôi.”



13.妇人少腹满,如敦状,小便微难而不渴,生后者,此为水与血,俱结在血室也,大黄甘遂汤主之。

13/ Phụ nhân thiếu phúc măn, như đội trạng, tiểu tiện vi nan (hơi khó) nhi bất khát, sinh hậu giả, thử vi thủy dữ huyết câu kết tại huyết thất dă, đại hoàng cam toại thang chủ chi.

Đại hoàng cam toại thang phương

Đại hoàng 4 lạng, cam toại 2 lạng, a giao 2 lạng. Dùng 3 thăng

nước sắc lấy 1 thăng, uống hết, kỳ huyết đáng hạ.

【Từ giải】

Đội (敦): Là dụng cụ đựng, đong thức ăn, hai đầu hơi nhỏ giữa ph́nh to.

Sinh hậu (生后): Sau khi sanh (hậu sản).

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng sản hậu thuỷ và huyết đều kết ở huyết thất. Sau khi sanh ác lộ (huyết hôi) trong huyết thất chưa sạch, khí huyết không thông sướng, tân dịch không thể nhập vào kinh mạch hoá huyết để lưu chuyển lên trên xuống dưới, ngược lại, lại thấm vào huyết thất, thuỷ và huyết đều kết tại huyết thất, v́ thế bụng dưới trướng đầy, ph́nh to giống như cái đội (đồ đựng thực phẩm). Khí huyết trong huyết thất không thông sướng, nếu ảnh hưởng đến công năng khí hoá của bàng quang th́ người bệnh sẽ hơi khó tiểu tiện. Công năng khí hoá của thượng tiêu th́ vẫn b́nh thường, nên người bệnh không khát nước.

Điều trị dùng thang Đại hoàng Cam toại, phá huyết trục thuỷ. Trog phương vị Đại hoàng công trục ứ huyết; Cam toại trục tích thuỷ; A giao bổ huyết. Sau khi trừ khứ ứ trọc th́ âm huyết cũng hồi phục. Đây gọi là phép vừa công lại vừa thủ.

Bàng quang tích nước, là bàng quang không vận hành khí hoá, tân dịch không đưa lên trên, cũng không thông đạt xuống dưới, v́ thế miệng th́ khát và tiểu tiện th́ không thuận lợi. Nếu ứ huyết đ́nh lưu trong huyết thất, mà công năng khí hoá b́nh thường, v́ thế tiểu tiện sẽ tự thuận lợi.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa》:“Phụ nữ có bụng dưới đầy gồ lên, da bụng dầy, tiểu tiện hơi khó, là bệnh tà hữu h́nh cách trở ở dưới. Như thế đây là bệnh của thuỷ khí, ngăn trở tân dịch lên trên lồng ngực và yết hầu, gây khát nước, như vẫn thấy ở bệnh thuỷ khí. Nếu không khát, th́ biết không chỉ có thuỷ tà mà c̣n kết hợp với ứ huyết nữa. Tuy thuỷ và huyết đều kết hợp trong huyết thất, đều là vật hữu h́nh nên cũng có thể trục xuất và công hạ như những thực tà. Chủ yếu với thang Đại hoàng Cam toại, Đại hoàng hạ huyết, Cam toại trục thuỷ, cùng điều trị cả hai bệnh tà. Nhập vị A giao, là hạ thuỷ huyết nhị tà ở âm phận, nhờ A giao mà không tổn hại đến âm. Uống hết thuốc trong một lần (đốn phục), huyết đáng hạ, huyết hạ mà thuỷ cũng hạ theo. Là ứ huyết tích lại sau khi sanh, tuy ở huyết thất, lại khác biệt là dùng Để đương hoàn để công hạ, hạ bằng đại tiện, đây là thiên sản hậu nói về nhiệt tại lư kết tại bàng quang.. Chỉ đơn thuần là huyết, v́ thế dùng thang Đại thừa khí, ở đây có kiêm thuỷ tà, v́ thế dùng thang Đại hoàng Cam toại. Bệnh tà có chuyên có kiêm, điều trị cũng phân chuyên kiêm như vậy.



14.妇人经水不利下,抵当汤主之。亦治男子膀胱滿急有瘀血者.

14/Phụ nhân kinh thủy bất lợi hạ, Đế đương thang chủ chi, (cũng chữa nam tử bàng quang măn cấp có ứ huyết).

Đế đương thang phương Thủy điệt 30 con (sao), Manh trùng 30 con (sao bỏ cánh chân), Đào nhân 20 hột (bỏ vỏ, đầu), Đại hoàng 3 lạng (ngâm rượu). Tán bột 4 vị trên dùng năm thăng nước sắc lấy 3 thăng bỏ bă uống 1 thăng.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng kinh thuỷ bất lợi thuộc về ứ huyết kết thực. Kinh thuỷ không lợi hạ, tức là kinh bế tắc bất hành. V́ ứ huyết kết thực, ngày một tăng lớn gây trở ngại cho kinh huyết, v́ thế kinh bế tắc không thể vận hành. Chứng bế kinh do ứ huyết, thường thấy các chứng trạng như bụng dưới đầy cứng, kết lại gây đau và không thích ấn nắn, tiểu tiện thuận lợi, mạch trầm sáp tŕ.

Điều trị dùng thang Để đương, phá huyết trục ứ. Trong phương có Thuỷ điệt, Manh trùng công ứ, Đại hoàng, Đào nhân hạ huyết.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú》:“Bất lợi hạ là biết có huyết muốn vận hành mà không thể hạ lợi dễ dàng, nếu không phải bế tắc đă lâu th́ cũng là nếu vận hành mà không thông sướng. Nêu 1 tháng tái kiến (2 lần hành kinh), chính là có vật hữu h́nh ngăn trở, v́ thế dùng Đại hoàng, Đào nhân, Thuỷ điệt, Manh trùng để có thể công trục mạnh mẽ bệnh tà hữu h́nh.

【Bệnh án】

Họ Tống ××, nữ, 18 tuổi. Bị điên vào tháng 8 năm 1970. Đôi mắt của cô ấy không b́nh thường, đôi khi cô ấy trầm ngâm, đôi khi cô ta dường như đang nh́n thấy sự vật, đôi khi cô ta bắt chước các nhân vật trong kịch và hát theo động tác của chính ḿnh. Đặc biệt kịch tính là vào ban đêm, cô ấy nói những điều vô nghĩa và điên cuồng muốn rời đi. Nhiều phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây đều không hiệu quả. Sau nửa tháng bệnh, bệnh t́nh của cô ngày càng nặng, phải nằm liệt giường trong nhiều ngày, không ăn uống được. Khi kiểm tra mạch, thấy sáu bộ đều sác tật, xích bộ hoạt và có lực. Khi ấn vào phía trên bụng dưới và bàng quang thấy một kết tụ cứng. Hỏi về tiền sử bệnh, người nhà cho biết cô ta bị bệnh lúc đang hành kinh. Đại tiện đă hơn 1 tuần, tiểu tiện vẫn b́nh thường. Chất lưỡi hồng sậm và khô khan. Lại có câu: Vương thị viết trong {Mạch kinh}: “Xích mạch hoạt huyết khí thực, phụ nhân kinh thuỷ bất lợi”(Mạch bộ xích hoạt là khí huyết thực, phụ nữ hành kinh không thuận lợi)…. Tham khảo mạch và chứng, bệnh này thuốc ứ nhiệt phát cuồng, cần nhanh chóng tiết nhiệt phá ứ. Thang Để đương: Đào nhân 25g, Đại hoàng 10g Thuỷ điệt 10g Manh trùng 10g. Nếu thiếu Manh trùng, dặn cứ uống rồi xem xét sau, ngày hôm sau bệnh nhân đă đại tiện, các chứng trạng không thay đổi. Viết: Không nghi ngờ chứng này thuộc ứ nhiệt phát cuồng, v́ sao thang Để đương vô hiệu?

V́ hầu như không có ruồi nên chúng tôi cổ gắng để t́m Manh trùng gấp. Và gia đ́nh tôi đă bắt được hơn ba mươi con Manh trùng. Sau khi uống khoảng ba giờ, máu ứ dưới âm đạo có màu tím đen, có vệt máu và cục máu đông, trong phân c̣n có như keo đen, tôi ra lệnh cho cháu uống nước đường phèn rồi ngủ yên và tránh quấy rầy bệnh nhân. Sáng hôm sau, tôi thấy người bệnh tỉnh táo và đ̣i ăn nhưng lại có vẻ buồn ngủ. Tôi lấy một ít Sinh địa, Bạch vi, Đan sâm, Liên tâm, Hà diệp, Hổ phách sắc cho uống th́ khỏi bệnh. Sau khi b́nh phục, khi hỏi thăm th́ cô cho biết cô bị trầm cảm, tức giận, sợ hăi trong thời kỳ kinh nguyệt dẫn đến tắc nghẽn máu, sau đó phát bệnh. Hiện cô đă lập gia đ́nh và có con, đến nay bệnh chưa tái phát.



15,妇人经水闭不利,藏坚癖不止,中有干血,下白物,矾石丸主之。

15/Phụ nhân kinh thủy bế bất lợi, tạng kiên tích bất chỉ, trung hữu can huyết, hạ bạch vật, Phàn thạch hoàn chủ chi.

Phàn thạch hoàn phương

Phàn thạch 3 phân (đốt), hạnh nhân 1 phân. Tán bột luyện mật làm

hoàn to bằng hạt táo tàu, nội tàng trung (đặt âm đạo), kịch giả tái nội chi.

【Từ giải】

– Tạng kiên tích bất chỉ(藏坚癖不止): Trong bào cung có can huyết kiên (cứng) kết lại không tan.

– Bách vật (百物): tức Bạch đới.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng thấp nhiệt bạch đái. V́ trong bào cung có huyết khô không được trừ khứ, v́ thế kinh hành không thuận lợi, thậm chí dẫn đến bế kinh, ứ huyết cản trở bên trong, tích tụ thấp hoá nhiệt, thối rữa mà xuất ra bạch đái.

Điều trị dùng Phàn thạch hoàn thanh nhiệt táo thấp để cầm bạch đái. Trong phương có Phàn thạch thanh nhiệt táo thấp, giải độc sát trùng, hoá hủ bại thu liễm, có thể cầm bạch đái; Hạnh nhân thông lợi phế khí, hoá thấp lợi thuỷ, nhuận táo (trừ khô khan) và hành huyết. Phàn thạch hoàn là thuốc đặt, đặt vào trong âm đạo, có khả năng thanh nhiệt táo thấp và trị bạch đái, lại có thể nhuận can huyết bên trong và trừ khứ ḥn khối cứng trong bụng. Dùng phương dược này, hết bạch đái, trừ ứ huyết, chính là một công đôi việc. Nếu ứ huyết không hạ, huyết khô không nhuận, tái dụng các dược phẩm hoạt huyết thông kinh, cũng dễ thu được hiệu quả trị liệu.

【Tuyển chú】

《Y Tôn Kim Giám》:“ Tạng, là âm bên trong, bất chỉ, cũng là bất khứ, kinh thuỷ bế tắc không thông. Ứ, cũng là máu lưu lại, ở trong âm kiên quyết không rời, huyết khô ngưng tụ. Hạ bạch vật, cũng là huyết hoá thành bạch đái. Dùng thuốc đặt Phàn thạch hoàn. Phương này trị bệnh bạch đái, nếu hoá theo thấp th́ cũng có thể điều trị, chỉ e rằng không thể công hạ khi huyết khô đă kết thành khối cứng.”



16.妇人六十二种风,及腹中血气刺痛,红蓝花酒主之。

16/Phụ nhân lục thập nhị chủng phong, cập phúc trung huyết khí thích thống, Hồng lam hoa tửu chủ chi.

Hồng lam hoa tửu phương (nghi không phải của Trọng Cảnh) Hồng lam hoa 1 lạng, dùng hơn 1 thăng rượu sắc c̣n ½ thăng, uống ½, vị chỉ tái phục.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng đau bụng do phong hàn khí trệ và huyết ứ. Nhiều loại phong hàn tà khí, xâm phạm vào bụng, phong tà và khí huyết tụ lại đấu tranh, khí huyết không được lưu chuyển, làm cho tạng phủ không điều hoà, kinh nguyệt bế tắc, v́ thế khí huyết trong bụng gây đau nhói.

Điều trị nên dùng rượu Hồng lam hoa, có tác dụng ôn thông khí huyết, khí vận hành huyết khai mở th́ phong tự tán và chứng đau nhói tự ngừng.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa》:“ Phong tà nhập vào bụng, gây nhiễu loạn khí huyết, trong bụng tất sẽ đau nhói. Chủ trị dùng rượu Hồng Lam hoa. Rượu để ôn hoà khí huyết, Hồng Lam hoa vận hành tiêu tán huyết ứ và có thể giảm đau. Với tên của 62 loại phong, bất quá chỉ là có ư nói phong gây ra rất nhiều chứng, phong là đầu của trăm bệnh, v́ thế không nên v́ câu văn này mà phải khổ công cầu t́m.”



17.妇人腹中诸疾痛,当归芍药散主之。

17/Phụ nhân phúc trung chư tật thống, Đương qui thược dược tán chủ chi.

Đương qui thược dược tán: Xem trong phần nhâm thần.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng đau bụng do can tỳ bất hoà. Phụ nữ đau bụng, phần lớn do can tỳ bất hoà gây ra. Như tạng tỳ hư yếu không vận hoá mà sinh thấp, thấp thịnh khiến khí bị cản trở, từ đó can huyết không tưới thấm, v́ thế có thể dẫn đến đau bụng.

Điều trị nên dùng Đương quy Thược dược tán, bổ tỳ thấm thấp, dưỡng huyết b́nh can. Trong phương có Đương quy dưỡng huyết và nhu nhuận can; Xuyên khung điều hoà huyết và sơ tiết can; Thược dược dưỡng huyết b́nh can, khiến can hoà mà huyết mạch không co rút, khi huyết mạch không co rút th́ cơn đau sẽ ngừng lại; Phục linh, Bạch truật kiện tỳ hoá thấp; Trạch tả lợi thuỷ tư âm, khiến tỳ khí vận hành mạnh mẽ, thấp tà tự khứ, khí huyết thông sướng, th́ các chứng đau bụng tự khỏi.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Xiển Nghĩa》:“Bệnh của phụ nữ, phần nhiều là do can uất, uất th́ khí ngưng tụ và huyết ứ trệ, hoặc đau hoặc trướng hoặc ẩu thổ hoặc hạ lợi (tiết tả). Gọi là các bệnh tật ở trong bụng, từ “các bệnh”, cũng được hiểu như từ “nhất thiết”. Đương quy Thược dược tán có tác dụng thư uất lợi thấp, hoà huyết b́nh can, tức là nếu có kiêm chứng, cũng không bị trở ngại khi gia vị để điều trị bệnh, và phương dược này đă trở thành phương dược chính yếu của phụ nữ.”



18.妇人腹中痛,小建中汤主之。

18/Phụ nhân phúc trung thống, Tiểu kiến trung thang chủ chi.

Tiểu kiến trung thang: Xem trong Hư lao ở phần trước.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng đau bụng hư hàn. Bởi v́ tỳ vị hư hàn, nguồn khí huyết cung cấp không đầy đủ, không thể ấm áp nhu nhuận cân mạch, v́ thế bụng đau liên miên, thích ấm áp ấn nắn. Trên lâm sàng thường thấy bệnh nhân phiền muộn hồi hộp, sắc mặt không tươi, chất lưỡi nhạt và mềm, mạch huyền sáp.

Dùng thang Tiểu kiến trung điều hoà tỳ vị, bồi bổ dương ở trung tiêu để sinh hoá khí huyết, khí huyết lưu thông dễ dàng, ôn dưỡng cân mạch nên các hội chứng đau bụng tự ngừng.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Doanh không đầy đủ th́ mạch co rút (cấp), vệ không đầy đủ th́ bên trong lạnh; Hư hàn lư cấp nên đau bụng, tất sẽ dùng thuốc vị ngọt để bổ trung hoăn cấp là chính, hợp với vị cay (tân) để sinh dương, hợp với vị chua để sinh âm, âm dương hoà và doanh vệ vận hành, th́ có c̣n chứng đau bụng nào được nữa.”



19.问曰;妇人病,饮食如故,烦热不得卧,而反倚息者,何也?师日,此 名转胞,不得溺也。以胞系了戾,故致此病,但利小便则愈,宜肾气丸主之。

19/ Vấn viết: Phụ nhân bệnh ẩm thực như cố, phiền nhiệt bất đặc ngọa, nhi phản ỷ tức giả, hà dă? Sư viết: Thử danh chuyển bào bất đắc nịch dă, dĩ bào hệ liễu lệ, cố trí thử bệnh, đán lợi tiểu tiện tắc dũ, nghi Thận khí hoàn chủ chi.

Phương Thận khí hoàn

Can địa hoàng 8 lạng Thự dự 4 lạng Sơn thù 4 lạng Trạch tả 3 lạng Phục linh 3 lạng Mẫu đan b́ 3 lạng Quế chi Phụ tử mỗi vị 1 lạng.

8 vị trên tán bột luyện mật làm hoàn như hạt ngô đồng lớn, mỗi lần uống 15 hoàn với rượu, tăng đến 25 hoàn, ngày 2 lần.

【Từ giải】

Chuyển bào (转胞): Bào là bàng quang; Chuyển là chuyển động, chỉ về công năng dị thường.

Liễu lệ: Quyện vào nhau và không điều hoà.

Ỷ tức: Tựa lưng vào vật để thở, gọi là Ỷ tức.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng phụ nữ chuyển bào. V́ bệnh không ở tỳ vị cho nên bệnh nhân ăn uống như thường. Bởi v́ thận khí hư yếu, không thể sưởi ấm bàng quang, bàng quang hư hàn, không vận hành khí hoá nên không thể tiểu tiện. Nước tiểu tụ tại bàng quang không xuất ra được, nên thường thấy dưới rốn đau cấp bách. Thuỷ khí bị bệnh khiến thận dương không thể tiềm ẩn, cho nên người bệnh rất nóng;Thận không nạp khí nên phải ngồi thở mà không thể nằm.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Ăn uống như thường, v́ bệnh không ở trung tiêu. Liễu lệ cũng giống như liêu lệ đều là quyện vào nhau mà không thuận, tức là bàng quang chuyển động mà không thể tiểu tiện. Do hạ khí nghịch lên mà phải ngồi thở, thượng khí không thể thông xuống nên phiền nóng mà không thể nằm. Điều trị thận khí, thận chủ khí ở hạ tiêu, thận khí được điều chỉnh, quấn quyện được giải trừ, bế tắc được thông sướng.”

蛇床子散方 温阴中坐药。
20/Xà sàng tử tán phương, ôn âm trung tọa dược.

Xà sàng tử tán bột, dùng thêm vào bạch phấn (bột gạo) ḥa trộn, ṿ viên bằng đại táo, bọc trong vải đặt âm đạo, bệnh tự nhiên ổn.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng hàn thấp đái hạ. Bởi v́ bào môn thụ lạnh, âm lănh hàn thấp đ́nh lưu bên trong, v́ thế có các chứng trạng như bụng dưới ghét lạnh, âm đạo lạnh lẽo, hoặc âm đạo bị ngứa, bạch đái thấm ướt, viêm trong âm đạo.

Điều trị dùng Xà sàng tử tán, ôn tán hàn thấp trong âm đạo. Xà sàng tử nhân làm thành bột, một chút Diên phấn, hoà hợp với nhau, mỗi viên bằng quả táo, bọc trong bông đặt vào âm đạo. Trong phương có Xà sàng tử khổ ôn (đắng ấm), ấm cung trừ thấp, sát trùng trị ngứa, Bạch phấn là Diên phấn có công dụng táo thấp sát trùng.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“Âm hàn là hàn trong âm đạo. Hàn th́ sinh thấp, Xà sàng tử tính ấm nên khứ hàn, hợp với Bạch phấn khô táo là để trừ thấp. Bệnh này ở trong âm đạo và không liên quan đến tạng phủ, v́ thế chỉ cần đặt thuốc trong âm đạo là có thể khỏi bệnh.”



少阴脉滑而数者,阴中即生疮,阴中蚀疮烂者,狼牙汤洗之。
21/Thiếu âm mạch hoạt nhi sác giả, âm trung tức sinh sang, âm trung thực sang lạn giả, Lang nha thang tẩy chi.

Lang nha thang

Lang nha 3 lạng, dùng 4 thăng nước sắc lấy ½ thăng, rửa lau âm trung ngày 4 lần.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng nhọt loét trong âm đạo do thấp nhiệt gây ra. Thấp nhiệt tích trữ ở hạ tiêu, nên mạch thiếu âm hoạt mà sác, chủ về có phục nhiệt trong âm. Thấp nhiệt rót xuống, thối rữa lở loét, v́ thế phát sinh mụn nhọt trong âm đạo gây đau ngứa không ngừng. Điều trị dùng Lang nha thang để tẩy rửa âm đạo. Lang nha thảo vị đắng tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt táo thấp sát trùng.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“Mạch hoạt là chủ về thấp; Mạch sác chủ về nhiệt; Thấp nhiệt hợp lại, và liên hệ tại Thiếu âm, v́ thế trong âm đạo sinh nhọt loét, nặng th́ lở loét không ngừng. Lang nha vị chua đắng, trừ tà nhiệt khí, lở loét nghiêm trọng, trừ bạch trùng nên được dùng để trị bệnh này.



22.胃气下泄,阴吹而正喧,此谷气之实也,膏发煎导之。

22/Vị khí hạ tiết, âm xuy (thổi) nhi chính huyên, thử cốc khí chi thực dă, cao phát tiễn đạo chi. Cao phát tiễn phương: Xem trong hoàng đản.

【Giải thích】

Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng âm xuy. Nhiệt đ́nh trệ ở ruột, bụng trướng và phân khô cứng, đại tiện không xuống, chèn ép làm cho âm đạo hẹp lại, trọc khí đi xuống dưới, phát ra âm thanh, v́ thế gọi là “Âm xuy nhi chính huyên” (âm xuy phát ra ồn ào).

Điều trị dùng Cao phát tiễn, nhuận tràng thông tiện, bổ huyết hoà âm. Trong phương có trư cao bổ âm trị khô táo và hoạt nhuận đại tràng; Loạn phát (tóc rối) thông lợi quan cách, để vận hành âm khí, thăng giáng thích hợp, th́ chứng âm suy có thể hết.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“Âm suy, xuất ra từ âm đạo, giống như khi phát trung tiện, liên tục không ngừng, v́ thế có âm thanh ồn ào. Cốc khí thực, đại tiện bí kết không thông, chính là khí dương minh đi xuống, không theo được đường cũ, mà lại đi theo đường bên cạnh; Trư phát tiễn nhuận đạo đại tiện; Đại tiện thông th́ khí sẽ tự về thôi.”

【Bệnh án】

Họ Lâm, nữ, 40 tuổi, nhân viên bán hàng. Có tiền sử bệnh lao . Trong năm qua, tôi thường xuyên bị thở kḥ khè và ho, táo bón và x́ hơi âm đạo. Tất cả các triệu chứng đều trầm trọng hơn khi cảm lạnh. Sau khi dùng thuốc đông y được một năm, t́nh trạng thở kḥ khè và ho hiếm khi xảy ra, nhưng cơn âm xuy không giảm mà nặng hoặc nhẹ theo mức độ táo bón, sau đó chứng âm xuy ngày càng thường xuyên hơn và người ở gần có thể nghe thấy. Cô ta tự coi bệnh của ḿnh là một “Quái bệnh” căn bệnh lạ và không muốn t́m cách chữa trị. Cô ta thường uống thuốc nhuận tràng nặng, thỉnh thoảng đi tiêu và “âm suy” cũng thuyên giảm, nhưng khi ngưng thuốc th́ bệnh trở lại như cũ, bệnh có thể phát tác mội lúc, khi nằm, khi ngồi hoặc đi lại và cả khi làm việc không ngừng thổi nên đi khám. Ngoài táo bón và tiết dịch âm đạo ra th́ không có cảm giác đau đớn nào khác. Kiểm tra kết cấu lưỡi và màng lưỡi b́nh thường, mạch tế sác. Theo lư luận chứng âm suy của Trọng cảnh là xào 250g mỡ heo với 15g tóc sạch.

Cách pha chế: Gội đầu bằng nước xà pḥng để loại bỏ vết dầu, sau đó xả lại bằng nước sạch, lau khô và đặt sang một bên. Cắt mỡ lợn thành từng miếng, làm theo phương pháp lọc dầu thông thường, loại bỏ cặn dầu sau khi dầu chảy ra, ngâm tóc người vào dầu rồi tinh chế từ từ trên lửa nhỏ cho đến khi mỡ tan hết. Nếu nhiệt độ không được kiểm soát đúng cách hoặc nếu tóc không được ngâm hoàn toàn trong dầu và không thể ḥa tan hoàn toàn và dầu chuyển sang màu vàng th́ hăy ngừng nấu. Lấy phần tóc c̣n sót lại, cho vào chày giă mịn sau khi để nguội rồi trộn vào dầu là có thể lấy ra.

Cách dùng: Ngày 1 ngày 3 lần, mỗi lần khoảng 20ml, sau khi uống súc miệng bằng nước sôi để nguội.

Nếu bệnh nhân uống liên tục 3 ngày, t́nh trạng táo bón sẽ thuyên giảm và tần suất x́ hơi âm đạo cũng giảm đi. Sau khi uống được 1 tuần, người bệnh đi tiêu thuận lợi và hết chứng âm xuy. Sau 3 năm theo dơi, bệnh không tái phát.



23.小儿疳虫蚀齿方疑非仲景方

Tiểu nhi cam trùng thực xỉ phương. (nghi không phải của Trọng Cảnh)

Hùng hoàng đ́nh lịch. Tán bột dùng mỡ heo ḥa tan trộn kỹ dùng giấy làm bằng thân cây hoa ḥe bọc thuốc, đốt hơ chỗ đau.

【Giải thích】

Phương này thuyết minh về trị pháp của chứng cam trùng sâu răng của trẻ em. Trẻ em bị chứng thấp nhiệt đ́nh lưu ở vị tràng, nhiệt sinh trùng, trùng sâu răng gọi là nha cam. Trùng kư sinh trong ruột, háo thương khí huyết, nên bụng trướng gầy yếu, phiền nóng nhiều mồ hôi, gọi là chứng cam tích, bên dưới ăn ṃn tiền và hậu âm, gọi là thực sang.

Điều trị dùng Tiểu nhi cam tích trùng thực xỉ phương, thanh nhiệt lợi thấp, sát trùng. Trong phương có Hùng hoàng đắng cay lạnh và có độc, giải độc trị lở loét, diệt trăm loại trùng; Đ́nh lịch tử cay đắng lạnh, thông lợi thuỷ thấp; Trư cao được tinh chế không bị ôi thiu và được làm thành cao dược có tác dụng giải độc và diệt trùng.

【Tuyển chú】

《Kim Quỹ Yếu Lược Trực Giải》:“ Trẻ em trong dạ dày có cam nhiệt nên sinh ra trùng, răng bị trùng ăn. Hùng hoàng vị cay, Đ́nh lịch vị đắng, cay đắng có khả năng diệt trùng là v́ vậy.”



Lời Kết

Đoạn văn này tŕnh bày nguyên nhân tạp bệnh ở phụ nữ, chủ yếu có ba phương diện gồm : Hư, tích lănh và kết khí. Khí hư huyết thiếu, hàn lănh ngưng tụ, khí kết không thông, dẫn đến kinh nguyệt bị cắt đứt, lâu ngày huyết hàn tích kết ở tử cung, h́nh thành căn bệnh khó lành. Mà từ đó c̣n gây ra rất nhiều bệnh tật ở thượng, trung và hạ tiêu. Liên quan đến các nội dung như nguyên nhân, bệnh cơ, biện chứng tam tiêu, hàn hoá nhiệt hoá, nguyên tắc biện chứng luận trị, của tạp bệnh phụ nữ, cần kết hợp với nội dung của toàn thiên để tiến hành nghiên cứu.

Liên quan đến hội chứng và điều trị của chứng nhiệt nhập huyết thất. Khi kinh nguyệt vừa hết, phong nhiệt và huyết kết ở huyết thất, có thể dùng thang Tiểu sài hồ thanh giải tà nhiệt, xuất tà xuyên qua âm phận. Nhiệt nhập huyết thất khi bắt đầu hành kinh, dẫn đến huyết phận có nhiệt, điều trị dùng thang Tiểu sài hồ gia thêm Sinh địa, Đan b́, để có cùng lúc hai công dụng thanh nhiệt và mát máu, tất bệnh sẽ tự lành. Cũng có trường hợp nhiệt nhập huyết thất, ngực sườn đầy trướng như chứng kết hung, có thể châm huyệt Kỳ môn để tả ứ nhiệt của can đảm. Với kinh dương minh nhiệt thậm, nhiệt nhập huyết thất, hạ huyết và nói nhẩm, nhưng xuất hăn trên đầu, cũng có thể châm huyệt Kỳ môn để sơ tiết nhiệt ở can kinh.

Bệnh Mai hạch khí, là do đàm ngưng khí kết ở cổ họng gây ra, có thể dùng thang Bán hạ Hậu phác giải uất hoá đàm. Bệnh tạng táo, là nội tạng hư nhiệt, khô khan không nhuận (ẩm ướt), tinh thần không được nuôi dưỡng, có thể dùng thang Cam thảo tiểu mạch đại táo, bổ huyết để bổ tạng âm. Tâm hạ bĩ tắc, là do bên ngoài hàn bên trong có ẩm, diều trị nhầm bằng thuốc khổ hàn công hạ (tả hạ bằng thuốc đắng, lạnh), hàn ẩm kết ở trong mà thành bệnh. Đầu tiên dùng thang Tiểu thanh long tán hàn tiêu ẩm, lại dùng thang Bán hạ tả tâm điều hoà trung tiêu và trừ bế tắc.

Nếu hai mạch Xung Nhâm hư hàn, ứ huyết ở bụng dưới gay ra băng lậu, có thể dùng thang Ôn kinh dưỡng huyết khứ ứ huyết để sinh huyết mới. Nếu ứ huyết kết ở trong khiến cho kinh nguyệt không thuận lợi, có thể dùng Thổ qua căn tán để hoạt huyết tán ứ. Đến như chứng bán sản lậu hạ (sanh non rong kinh), tinh huyết hư tổn cực độ, có thể dùng thang Toàn phú hoa, phù trợ sinh khí, để làm sạch ứ huyết c̣n sót lại. Chứng hư hàn lậu hạ bất giải, có thể dùng thang Giao ngải, ôn bổ hai mạch Xung Nhâm để giữ ǵn kinh huyết. Nếu thuỷ và huyết đồng thời kết ở huyết thất, bụng dưới trướng đầy có h́nh dạng tựa cái thùng đựng thực phẩm, có thể dùng thang Đại hoàng Cam toại, phá huyết trục thuỷ th́ khỏi bệnh. Nếu bế kinh v́ ứ huyết, có thể dùng thang Để đương có tác dụng phá huyết trục ứ thông kinh.

Phong hàn khí trệ huyết ứ đau bụng, có thể dùng rượu Hồng Lam hoa ôn thông khí huyết; Đau bụng do can tỳ bất hoà, có thể dùng Đương quy Thược dược tán để điều hoà khí huyết, kiện tỳ hoá thấp; Đau bụng hư hàn, có thể điều trị bằng thang Tiểu kiến trung kiện tỳ hoăn cấp.

Thấp nhiệt bạch đái, có thể dùng Phàn thạch hoàn. Hàn thấp bạch đái, có thể dùng Xà sàng tử tán. Phụ nữ chuyển bào (bí tiểu tiện), điều trị nên dùng Thận khí hoàn. Lở loét âm đạo, điều trị nên dùng thang Lang nha. Bệnh âm xuy, có thể dùng Cao phát tiễn. Tinh thần của thiên này chính là quan sát mạch và hội chứng, theo chứng để trị liệu, xét một suy ra ba, tóm tắt phần c̣n lại mà thôi.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Reply with a quote

<< Trang trước 1 2 3 Trang kế >>

<< Trả Lời >>

Nội Quy | Góp Ý | © 2009 - 2025 yhoccotruyen.org