Trang Chính

  Dược Vị

  Toa Thuốc

  Diễn Đàn

  Đăng Nhập

  Đăng Ký

Diễn đàn >> Kiến Thức YHCT >> THƯƠNG HÀN THẬP TỨ GIẢNG

<< Đăng Chủ Đề Mới >>
THƯƠNG HÀN THẬP TỨ GIẢNG - posted by Trường Xuân (Hội Viên)
on February , 18 2026
BÀI GIẢNG 01
Lời nói đầu
Tôi biên soạn tập sách nhỏ này, chuyên đề tŕnh bày mười bốn vấn đề trong 《Thương hàn luận》. Nhưng những vấn đề này không tồn tại một cách rời rạc, mà có tính hệ thống và có mối liên hệ nội tại với nhau. Ví dụ: bài giảng thứ nhất tŕnh bày lịch sử diễn biến của 《Thương hàn luận》 và nhận thức về biện chứng lục kinh, nhằm giúp độc giả hiểu đúng hàm nghĩa của sách này; bài giảng thứ hai bàn về mối liên hệ hữu cơ trong cách sắp xếp các điều văn của 《Thương hàn luận》, phân tích tư tưởng và phương pháp biện chứng của 《Thương hàn luận》; bài giảng thứ ba nói về ư nghĩa thực tiễn của các chứng cương lĩnh khi lục kinh phát bệnh; bài giảng thứ tư giới thiệu học thuyết khí hóa của 《Thương hàn luận》, dùng y lư truyền thống để phân tích quy luật biến hóa âm dương của lục kinh, lục khí. Bốn bài giảng trên là tổng luận của cuốn sách, có tác dụng chỉ đạo các phần chuyên luận tiến hành biện chứng.
Từ bài giảng thứ năm đến bài giảng thứ mười ba thuộc các chuyên luận, áp dụng phương pháp quy nạp theo lối “lấy phương dẫn chứng”, tổng hợp các phương chứng chủ yếu của Thái dương bệnh, Dương minh bệnh, Thiếu dương bệnh, Thái âm bệnh, Thiếu âm bệnh, Quyết âm bệnh, đồng thời kèm theo phương chứng và y án của hậu thế để tăng cường ứng dụng lâm sàng.
Bài giảng cuối cùng là kinh nghiệm thể hội của bản thân tôi khi dùng kinh phương, cũng là sự tổng kết ngắn gọn, then chốt đối với các chuyên luận nêu trên. Mong sao có thể gợi mở về mặt lư luận, có chỗ tham khảo cho lâm sàng, đó chính là mục đích biên soạn cuốn sách này. Do tŕnh độ cá nhân có hạn, trong sách ắt c̣n nhiều chỗ thiếu sót, kính mong độc giả không tiếc lời phê b́nh chỉ chính.
Lưu Độ Chu, tháng 5 năm 1982 tại Bắc Kinh

MỤC LỤC
Bài giảng 1 Dẫn nhập “Thương hàn luận” ........................................ (1)1. Biến đổi lịch sử của “Thương hàn luận” .................................... (1)
2. “Thương hàn luận” là một bộ sách như thế nào .......................... (2)
3. Khái niệm Lục kinh ..................................................................... (4)
4. Phương pháp biện chứng Lục kinh ............................................. (5)
5. Lục kinh phát bệnh và sự truyền biến ......................................... (7)
6. Nguyên tắc điều trị của “Thương hàn luận” ................................ (9)
7. Các phương tễ (bài thuốc) của “Thương hàn luận” .................... (10)
8. Phương pháp học “Thương hàn luận” ........................................ (11)
Bài giảng 2 Thử bàn về ư nghĩa tổ chức – sắp xếp điều văn trong “Thương hàn luận” .... (12)
1. “Thiên Thái dương bệnh (thượng)” 30 điều ................................ (12)
2. “Thiên Thái dương bệnh (trung)” 97 điều .................................. (15)
3. “Thiên Thái dương bệnh (hạ)” 50 điều ....................................... (21)
4. “Thiên Dương minh bệnh” 84 điều ............................................ (24)
5. “Thiên Thiếu dương bệnh” 10 điều ........................................... (28)
6. “Thiên Thái âm bệnh” 8 điều ..................................................... (29)
7. “Thiên Thiếu âm bệnh” 45 điều ................................................. (30)
8. “Thiên Quyết âm bệnh” 56 điều ................................................ (32)
9. “Thiên Hoắc loạn bệnh” 10 điều ............................................... (35)
10. “Thiên Âm dương dịch biến, hậu lao phục bệnh” 7 điều .......... (35)
Bài giảng 3 Thử bàn về ư nghĩa “đề cương chứng” khi Lục kinh phát bệnh ............... (37)
1. Đề cương chứng của bệnh Thái dương ....................................... (38)
2. Đề cương chứng của bệnh Dương minh ..................................... (41)
3. Đề cương chứng của bệnh Thiếu dương ..................................... (43)
4. Đề cương chứng của bệnh Thái âm ............................................. (43)
5. Đề cương chứng của bệnh Thiếu âm ........................................... (44)
6. Đề cương chứng của bệnh Quyết âm ........................................... (45)
Bài giảng 4 Học thuyết “khí hoá” trong “Thương hàn luận” ............................. (47)
1. Khí hoá của kinh Thái dương ....................................................... (50)
2. Khí hoá của kinh Dương minh ..................................................... (51)
3. Khí hoá của kinh Thiếu dương ..................................................... (51)
4. Khí hoá của kinh Thái âm ............................................................ (52)
5. Khí hoá của kinh Thiếu âm .......................................................... (52)
6. Khí hoá của kinh Quyết âm .......................................................... (52)
Bài giảng 5 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của Quế chi thang ........ (54)
1. Các chứng thích ứng của Quế chi thang ......................................... (54)
2. Ứng dụng lâm sàng của Quế chi thang .......................................... (56)
3. Các phép gia giảm của Quế chi thang ............................................ (58)
Bài giảng 6 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của Ma hoàng thang ....... (63)
1. Các chứng thích ứng của Ma hoàng thang ...................................... (63)
2. Ứng dụng lâm sàng của Ma hoàng thang ....................................... (64)
3. Ứng dụng gia giảm của Ma hoàng thang ........................................ (64)
Bài giảng 7 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của Linh quế tễ ............. (69)
1. Khái niệm Thuỷ khí ....................................................................... (69)
2. Cơ chế phát bệnh của Thuỷ khí ...................................................... (70)
3. Biện chứng luận trị của Thuỷ khí .................................................... (72)
Bài giảng 8 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của nhóm bài Bạch hổ thang .... (80)
1. Bạch hổ thang ............................................................................... (80)
2. Bạch hổ gia Nhân sâm thang .......................................................... (81)
3. Bạch hổ gia Quế chi thang ............................................................. (83)
4. Trúc diệp Thạch cao thang ............................................................. (84)
5. Bạch hổ gia Thương truật thang .................................................. (85)
6. Ngọc nữ tiễn ................................................................................ (85)
7. Hoá ban thang .............................................................................. (87)
Bài giảng 9 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của nhóm Thừa khí thang .... (88)
1. Đại thừa khí thang ........................................................................ (88)
2. Tiểu thừa khí thang ....................................................................... (90)
3. Điều vị thừa khí thang ................................................................... (91)
4. Ma tử nhân hoàn ........................................................................... (92)
5. Đào nhân thừa khí thang ............................................................... (93)
6. Hậu phác Thất vật thang ............................................................... (94)
7. Hậu phác Tam vật thang ............................................................... (95)
8. Hậu phác Đại hoàng thang ............................................................ (95)
9. Đại hoàng Mang tiêu thang .......................................................... (95)
10. Đại hoàng Mẫu đơn b́ thang ....................................................... (96)
11. Tam vật thừa khí thang ................................................................ (97)
12. Hoàng long thang ........................................................................ (97)
13. Tăng dịch thừa khí thang ............................................................. (98)
Bài giảng 10 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của nhóm Sài hồ thang .... (100)
1. Chứng trị của Tiểu sài hồ thang ..................................................... (100)
2. Gia giảm và biện chứng luận trị của Tiểu sài hồ thang ................... (102)
Bài giảng 11 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của nhóm Lư trung thang .... (112)
1. Lư trung thang ............................................................................... (112)
2. Quế chi nhân sâm thang ............................................................... (113)
3. Cam thảo can khương thang ......................................................... (114)
Bài giảng 12 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của nhóm Tứ nghịch thang .... (116)
1. Tứ nghịch thang ............................................................................ (116)
2. Tứ nghịch gia Nhân sâm thang ...................................................... (117)
3. Thông mạch tứ nghịch thang ........................................................ (118)
Bài giảng 13 Khái luận về các phương thang điều trị chứng “nhiệt kết – bĩ măn” .... (125)
1. Bán hạ tả tâm thang ........................................................................ (125)
2. Phụ tử tả tâm thang ........................................................................ (126)
3. Hoàng liên thang ............................................................................ (127)
4. Ô mai hoàn ..................................................................................... (128)
5. Ma hoàng thăng ma thang .............................................................. (129)
6. Can khương Hoàng cầm Hoàng liên Nhân sâm thang .................... (131)
Bài giảng 14 Mấu chốt dùng kinh phương là nắm vững “chủ chứng” .................. (133)
1. Thế nào là chủ chứng, v́ sao phải nắm chủ chứng trước ................. (133)
2. Nắm chủ chứng cũng là chú trọng biện chứng ................................ (134)
3. Sự h́nh thành chủ chứng và ư nghĩa lâm sàng của nó ..................... (135)
4. Đặc điểm của sự h́nh thành chủ chứng .......................................... (136)
5. Ví dụ điều trị dùng kinh phương: nắm chủ chứng ............................ (137)

Chú: Phàm những mục có dấu “◆” là các kinh phương dùng sau khi gia giảm.
Bài giảng 01 《Thương hàn luận》 dẫn nhập
I/ Sự biến đổi lịch sử của 《Thương hàn luận》
《Thương hàn luận》 nguyên danh là 《Thương hàn tạp bệnh luận》. Cũng có người gọi là 《Thương hàn thốt bệnh luận》, xét chữ thốt“卒” vốn là do chép nhầm chữ tạp“杂” mà ra.
Bộ sách này là tác phẩm do người đời Hậu Hán là Trương Cơ (tự Trọng Cảnh) viết vào khoảng sau các năm 196–204 sau Công nguyên.
Trương Trọng Cảnh, người Niết Dương thuộc Nam quận, ước sinh khoảng năm 150–219 sau Công nguyên; sự tích của ông trong Hán thư không có truyện. Theo sách đời Đường 《Minh y lục》 chép: “Người Nam Dương, tên Cơ, Trọng Cảnh là tự. Được cử hiếu liêm, làm quan đến Thái thú Trường Sa, ban đầu thụ thuật với Trương Bá Tổ cùng quận; người đương thời nói rằng sự hiểu biết và vận dụng tinh vi vượt hơn thầy. Lời bàn luận của ông tinh mà sâu, phép tắc giản mà tường, không phải hạng kiến văn nông cạn có thể với tới.”
Cuối đời Đông Hán, chiến tranh liên miên, dân chúng phiêu tán, dẫn đến dịch bệnh lưu hành, người chết rất nhiều.
Gia tộc Trương Trọng Cảnh là đại tộc Nam Dương có hơn hai trăm người; dưới tai họa của dịch bệnh, chưa đầy mười năm đă chết mất hai phần ba nhân khẩu, trong đó người chết v́ thương hàn chiếm bảy phần mười.
Trương Trọng Cảnh trong lời tựa từng than rằng: “Cảm thương cảnh suy vong thuở trước, đau xót v́ sự chết chóc lan khắp mà không cứu nổi”, từ đó khơi dậy chí nguyện viết sách cứu người. Để soạn sách cứu đời, ông cần cầu cổ huấn, góp nhặt nhiều phương, rộng răi hấp thu thành tựu y học trước đó, lại kết hợp thể nghiệm của chính ḿnh, trên nền tảng người trước mà có chỗ sáng tạo. Trải qua lao lực cần mẫn và nhiều lần kiểm chứng, cuối cùng viết thành tác phẩm 《Thương hàn tạp bệnh luận》 gồm mười sáu quyển.
Tác phẩm này vừa ra đời không lâu th́ gặp binh hỏa tàn phá, khiến nguyên thư mười sáu quyển bị thất lạc, khuyết thiếu không trọn vẹn.
Từ năm 256–316 sau Công nguyên, Thái y Tây Tấn là Vương Thúc Ḥa sưu tập một số bản c̣n sót, chỉnh lư và biên thứ thành thiên, nhưng chỉ chỉnh lư được mười quyển; diện mạo nguyên thủy của mười sáu quyển th́ không c̣n thấy lại. V́ vậy, từ đời Tấn về sau, 《Tùy thư·Kinh tịch chí》 và 《Đường thư·Nghệ văn chí》 chỉ ghi 《Thương hàn luận》 mười quyển, không c̣n gọi là mười sáu quyển nữa.
Đến năm 1065, niên hiệu Trị B́nh đời Tống, triều đ́nh sai Cao Bảo Hành, Lâm Ức cùng người khác hiệu chính y thư, đem bản 《Thương hàn luận》 mười quyển, tổng hai mươi hai thiên do Tiết độ sứ Cao Kế Xung tiến dâng vào niên hiệu Khai Bảo để hiệu đính, đồng thời khắc ván in và ban hành rộng răi. Cũng trong thời gian này, Hàn lâm học sĩ Vương Thù khi ở quán các, từ sách mục bị mọt đục mà t́m được 《Kim quỹ ngọc hàm yếu lược phương luận》 ba quyển, cũng đem hiệu chính rồi khắc in lưu hành.

II/《Thương hàn luận》 là một bộ sách như thế nào
《Thương hàn tạp bệnh luận》 vốn là một bộ sách bàn về thương hàn và tạp bệnh trong mối liên hệ hữu cơ, đem ra cùng luận. Từ khi đời Tống niên hiệu Trị B́nh khắc ván in mà gọi tắt là 《Thương hàn luận》, lại thêm thuyết của Lâm Ức v.v. nói rằng mười quyển luận thương hàn, sáu quyển luận tạp bệnh, khiến người ta hiểu lầm 《Thương hàn luận》 là chuyên luận thương hàn, c̣n 《Kim quỹ ngọc hàm yếu lược phương》 th́ chuyên luận tạp bệnh; cách nh́n này lưu truyền đến tận ngày nay.
Để hiểu đúng bộ sách này, trước hết cần giới thiệu: thế nào là thương hàn, thế nào là tạp bệnh, và mối liên hệ nội tại giữa thương hàn với tạp bệnh, như vậy mới có thể đánh giá đúng bộ sách này.
Trước nói về thương hàn: thương hàn có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. 《Tố vấn·Nhiệt luận》 nói: “Phàm bệnh nhiệt, đều thuộc loại thương hàn cả”, câu này là nói theo nghĩa rộng. C̣n theo nghĩa hẹp, th́ chỉ giới hạn ở phong hàn, không bao gồm các tà khí khác ngoài phong hàn.
Xét nội dung 《Thương hàn luận》 th́ chủ yếu bàn phong hàn, kiêm luận tạp bệnh; tuy cũng nhắc đến ôn bệnh v.v., nhưng là để phân biệt với phong hàn, xuất hiện như “chứng tương tự thương hàn”, v́ thế không được tŕnh bày toàn diện như phong hàn, cũng không có phép trị liệu hệ thống. Do đó, chưa thể nói 《Thương hàn luận》 là bàn về “thương hàn nghĩa rộng”.
Lại nói về tạp bệnh: thời Hán phân khoa bệnh tật chưa có tên gọi nội khoa, ngoại khoa như ngày nay; bấy giờ các bệnh nhiệt cấp tính do ngoại cảm phát sốt đều gọi là thương hàn; c̣n các bệnh ngoài thương hàn, bao gồm rất nhiều bệnh mạn tính, đều gọi chung là tạp bệnh.
Thương hàn và tạp bệnh vốn là hai h́nh thức phát bệnh khác nhau, nhưng Trương Trọng Cảnh dung hợp chúng vào một sách và đem ra cùng luận, là do liên quan tới mấy vấn đề sau:

1. Người bệnh phát thương hàn thuần túy th́ ít, mà kiêm kèm tạp bệnh th́ nhiều, cho nên hợp luận thương hàn với tạp bệnh mới đầy đủ.
2. Người có nam nữ, thể chất mạnh yếu khác nhau; cùng cảm một tà, nhưng phát bệnh khác; hơn nữa nội nhân là căn cứ của biến hóa, cho nên không hiểu tạp bệnh, không rơ hàn nhiệt hư thực của tạng phủ, th́ cũng không thể hiểu thương hàn. V́ vậy, chỉ luận thương hàn mà không luận tạp bệnh th́ không thể phát huy hết sở trường của biện chứng.
3. Có bệnh nhân trước mắc bệnh khác, sau mới cảm thương hàn; nội thương ngoại cảm, bệnh t́nh rối rắm, khó quy về một mối; không thể chỉ dùng một h́nh thức phát bệnh “thương hàn” mà bao quát hết các bệnh.
Bởi những vấn đề trên, nên Kha Vận Bá có trải nghiệm sâu sắc mà nói: “Trong thương hàn chứa nhiều tạp bệnh nhất, hư thực hiện lẫn; bởi vậy đem thương hàn và tạp bệnh hợp lại mà đối chiếu, đó là phép tóm yếu.”
Tổng hợp lại có thể thấy: 《Thương hàn luận》 thông qua sự thật cụ thể của thương hàn và tạp bệnh để phản ánh phương pháp biện chứng của nó. Cũng có thể nói: thương hàn với tạp bệnh phải cùng luận, mới hiển rơ ư nghĩa “lục kinh biện chứng” có thể thống nhiếp các bệnh. V́ vậy Kha Vận Bá lại nói: “Ngoài thương hàn đều là tạp bệnh, bệnh không thể ĺa lục kinh, nên lập đại kinh mà phân ty.” Câu này phản ánh sự thật lục kinh biện chứng thống nhiếp cả thương hàn lẫn tạp bệnh.
Đồng thời cần chỉ ra: bộ sách 《Thương hàn luận》 lời ít ư nhiều, cực giỏi hàm súc thu nạp, nên trong lập luận biện chứng có sức cảm hóa thấm dần, đạt hiệu quả “văn để tải đạo”.
Ngoài ra, c̣n nên thấy rằng tác giả trong lục kinh biện chứng chỉ nói “một kinh phát bệnh”, không nói “một kinh bị thương hàn”; đem trăm bệnh đều bao quát trong lục kinh mà không ra ngoài phạm vi ấy. V́ vậy, sách chỉ ở lục kinh mà t́m gốc, không ở “thương hàn” mà t́m cành lá, do đó làm nổi bật đặc điểm lục kinh biện chứng.
Phương Trung Hành cũng cho rằng 《Thương hàn luận》 là sách luận bệnh, không phải lập riêng cho một bệnh thương hàn; những nhận định ấy quả đă nắm được tinh thần chủ yếu của 《Thương hàn luận》.
Theo các lư do trên, có thể thấy thương hàn và tạp bệnh cùng luận để làm sáng tỏ đạo lư biện chứng luận trị, vốn không hề có thuyết “thương hàn ở trước, tạp bệnh ở sau”, hay “mười quyển luận thương hàn, sáu quyển luận tạp bệnh”. Học 《Thương hàn luận》 mục đích là ở biện chứng luận trị, tuyệt đối không được hạ thấp yêu cầu mà chỉ thỏa măn với việc biện “một bệnh thương hàn” mà thôi.
III/ Khái niệm về Lục kinh
Thực chất của Lục kinh: 《Thương hàn luận》 lấy lục kinh biện chứng làm hạt nhân; rốt cuộc thực chất của lục kinh có tồn tại hay không, trong thương hàn học cũng tranh luận rất nhiều, mỗi người một ư. Có học giả đem “lục kinh phát bệnh” quy nạp thành sáu loại chứng hậu để bao quát âm dương biểu lư, hàn nhiệt hư thực v.v. Như Đan Ba Nguyên Kiên trong 《Thương hàn luận thuật nghĩa》 từng nói: “Một bộ Thương hàn luận, toàn là sách về tính mệnh… Cái gọi là bệnh là ǵ? Chính là tam âm tam dương vậy. Nhiệt là dương, hàn là âm; mà biểu lư hư thực lại có khác nhau, thế là lập phân chia thành sáu.”
Có thể thấy ông đặt lục kinh trên nền các chứng hậu “dương nhiệt âm hàn”, chứ không đặt chứng hậu (hội chứng) lục kinh trên tạng phủ kinh lạc. V́ vậy ông lại chỉ ra: “Đến như lời nói về kinh lạc tạng phủ, trong kinh có lúc nhắc đến, nhưng vốn là nghĩa khác, không phải chủ chỉ về toàn kinh. Chỉ lấy hàn nhiệt định âm dương, th́ chỗ nào cũng sáng rơ, không ǵ không thông suốt.”
Từ đó có thể thấy quan điểm học thuật của Đan Ba Nguyên Kiên là phản đối việc dựa vào lư luận lục kinh của 《Tố vấn·Nhiệt luận》 để khảo sát thực chất lục kinh. Khuynh hướng này trong giới lâm sàng cũng có không ít người theo, thật cần phải làm rơ.
Tôi cho rằng lục kinh trong 《Thương hàn luận》 là kế thừa học thuyết lục kinh của 《Nhiệt luận》, có cơ sở vật chất là tạng phủ kinh lạc; v́ vậy lục kinh là “vật”, chứ không phải sáu kư hiệu. Nếu rời học thuyết kinh lạc truyền thống của Trung y mà giải thích lục kinh, th́ giống như da không c̣n, lông bám vào đâu. Bởi từ 《Nội kinh》 đến 《Thương hàn luận》, học thuyết tạng phủ kinh lạc vốn trước sau một mạch. Ví như đề cương bệnh Thái dương trong bản luận, trước nêu chứng “đầu gáy cứng đau”, hoàn toàn phù hợp với tinh thần 《Nhiệt luận》 nói “mạch của nó liên hệ với Phong phủ”.
Trong luận, ngoài dùng thang dịch trị bệnh, c̣n có nhiều phép phụ trợ “theo kinh mà lấy” v.v. Nếu như Đan Ba Nguyên Kiên phủ nhận kinh lạc, th́ chẳng khác nào nước không nguồn, cây không gốc. V́ vậy, chúng ta không thể rời tạng phủ kinh lạc mà bàn biện chứng luận trị.
Nhưng 《Thương hàn luận》 lại khác 《Nhiệt luận》. Ở lục kinh biện chứng, nó phát triển hơn 《Nhiệt luận》: không những biện được nhiệt chứng, thực chứng, mà c̣n biện được âm chứng, hàn chứng, hư chứng. Có thể nói 《Nhiệt luận》 lục kinh chỉ biện thương hàn, c̣n 《Thương hàn luận》 lục kinh vừa biện thương hàn, lại biện tạp bệnh, từ đó xây dựng hệ thống lư luận biện chứng luận trị.
Lục kinh là thế của tạng phủ kinh lạc; c̣n “biện chứng” là sự phản ánh sinh lư, bệnh lư tạng phủ kinh lạc và sự phân tích khách quan. Do đó có thể thấy tư tưởng biện chứng của y học cổ truyền được xây dựng trên cơ sở vật chất của tạng phủ kinh lạc, tuyệt không phải giáo điều rỗng tuếch, trừu tượng.
IV/ Phương pháp biện chứng lục kinh
Bốn, Phương pháp biện chứng lục kinh
《Thương hàn luận》 trong các y tịch cổ điển nổi tiếng là nhờ phương pháp “biện chứng luận trị”. Tuy nhiên, biện chứng luận trị cũng không phải bắt đầu từ 《Thương hàn luận》. Trong “Chân tự” có câu “并平脉辨证为伤寒杂病论十六卷” (gộp cả b́nh mạch và biện chứng thành 《Thương hàn tạp bệnh luận》 mười sáu quyển), đủ thấy thời cổ đă có trước tác chuyên về biện chứng. Học giả Nhật Bản Yamada Masachin từng nói: “Sách tục ngữ 《平脉辨证》 nay đều không truyền lại”. Thực ra, từ thời Chiến Quốc, sau khi học thuyết “âm dương” trong 《Hoàng đế nội kinh》 được đưa vào lĩnh vực y học, tầm nh́n của y gia trong việc nhận biết bệnh chứng đă được mở rộng rất lớn, và từ đó đặt nền tảng cho tư tưởng biện chứng của y học cổ truyền.
V́ vậy, “tam dương tam âm lục kinh biện chứng” của Trương Trọng Cảnh, cũng như “bát cương biện chứng” về sau, đều lấy “âm dương” làm cương lĩnh của biện chứng; điều này hoàn toàn phù hợp tinh thần trong 《Tố vấn·Âm dương ứng tượng đại luận》 rằng: “Người giỏi chẩn đoán, xét sắc bắt mạch, trước hết phải phân biệt âm dương.” Bởi khi khám bệnh, nếu vận dụng được tư tưởng biện chứng âm dương th́ có thể “biết xấu biết tốt, biết bệnh biết không bệnh, biết cao biết thấp, biết ngồi biết đứng, biết đi biết dừng, dùng có kỷ cương, đạo chẩn đoán mới đầy đủ”; nếu không th́ sẽ “biết trái không biết phải, biết phải không biết trái, biết trên không biết dưới, biết trước không biết sau, nên chữa chẳng lâu.” Do đó, học thuyết âm dương thấm vào mọi mặt của học thuật y học cổ truyền: không chỉ dùng để giải thích sinh lư và biến hóa bệnh lư của cơ thể, mà c̣n dùng để chỉ đạo chẩn đoán và điều trị lâm sàng.
Trương Trọng Cảnh kế thừa học thuyết âm dương, lại kết hợp thực tiễn lâm sàng khiến nó phát triển thêm bước mới. “Lục kinh biện chứng” trong 《Thương hàn luận》 lấy âm dương làm cương: dùng hai “đại cương” “tam dương” và “tam âm” thống lĩnh sáu kinh. V́ thế, biện chứng lục kinh trước tiên phải giải quyết: bệnh phát ở “âm” hay phát ở “dương”. Âm dương bệnh tính đă rơ th́ đó là con đường “cầu bản” khi trị bệnh, cũng là phép “lấy cương dẫn mục”. Sau đó, dưới sự chỉ đạo của hai cương âm dương, tiếp tục khảo sát vị trí bệnh, thuộc tính bệnh, thế tiến lui của bệnh, rồi phân định biểu–lư, hàn–nhiệt, hư–thực, tự nhiên sẽ giải quyết dễ dàng. “Bát cương biện chứng” có thể nói là điều kiện tiên quyết của biện chứng; nhưng nếu chỉ dừng ở mức bát cương th́ vẫn chưa đủ, v́ chưa gắn cụ thể những biến đổi bệnh lư của “tạng phủ kinh lạc” vào đó: giống như t́m người mới chỉ t́m được “đường phố” mà chưa t́m được “từng nhà”, vẫn chưa thể làm sáng tỏ chính xác và sâu sắc các biến hóa bệnh lư phức tạp, cũng chưa thể chỉ đạo điều trị lâm sàng tốt hơn. C̣n “lục kinh biện chứng” lại đúng là giải quyết được vấn đề này: nó “đặt” nội dung của bát cương xuống nền tảng tạng phủ–kinh lạc, khiến bát cương biện chứng và tạng phủ biện chứng kết hợp hữu cơ, nhờ đó bù đắp chỗ chưa đủ của bát cương biện chứng.
Bởi lục kinh biện chứng xuyên suốt bát cương và liên hệ với tạng phủ kinh lạc, nhất là lấy biến hóa sinh lư–bệnh lư của tạng phủ kinh lạc làm cơ sở vật chất, nên biện chứng “có vật để nói”, không phải lâu đài trên không. Người xưa khi nghiên cứu lục kinh của 《Thương hàn luận》 từng nói: “经者,径也” (kinh là “đường đi”), dựa vào kinh th́ biết đường đi đến/đi ra của tà khí; lại nói “经者,界也” (kinh là “ranh giới”), dựa vào kinh th́ biết bệnh có phạm vi, không lẫn lộn nhau. Có phạm vi, có ranh giới th́ khi biện chứng sẽ rơ ràng một mạch: như thấy đầu nặng cổ gáy cứng đau th́ biết Thái dương kinh thụ tà; thấy mặt đỏ, trán đau, mũi khô th́ biết Dương minh kinh bị tà; thấy tai điếc, ngực sườn đầy bứt rứt th́ biết Thiếu dương kinh thụ tà; thấy bụng đầy lúc đau th́ biết Thái âm kinh thụ tà; thấy đau họng th́ biết Thiếu âm kinh thụ tà; thấy đau đỉnh đầu, khan nôn, khạc dăi bọt th́ biết Quyết âm kinh thụ tà. Nếu rời kinh lạc học thuyết th́ cơ chế phát sinh của các chứng trạng trên sẽ không thể giải thích được.
Lại do hệ thống kinh lạc có sự liên lạc giao hội, khiến ngũ tạng lục phủ, biểu lư trên dưới, tứ chi cửu khiếu, b́ nhục cân mạch… liên kết thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất; v́ vậy, khi biện giải theo kinh cũng đặc biệt chú ư sự ảnh hưởng qua lại giữa bệnh lư tạng phủ–kinh lạc. Như phát nhiệt, ố hàn (ghét lạnh) mà mạch phù, là Thái dương kinh biểu thụ tà; nếu mạch không phù mà lại thấy trầm tượng, th́ biết biểu tà của Thái dương đă “liên” vào trong và quy tụ ở Thiếu âm. Thái dương và Thiếu âm là biểu lư; khi Thiếu âm dương khí bất túc mà lại ngoại cảm phong hàn, có thể hai kinh đồng thời thụ tà, h́nh thành “Thái dương–Thiếu âm lưỡng kinh đồng bệnh (hợp bệnh/kiêm bệnh)”.
“Do kinh lạc liên hệ biểu lư, các kinh khi phát bệnh cũng ảnh hưởng lẫn nhau. V́ thế mới có thuyết: bệnh “thực” thường quy về “Dương minh”; bệnh ở “Tỳ–Vị” có quan hệ biểu lư và tương tác khi sinh bệnh… Cho nên, biện chứng tuyệt đối không thể rời ‘kinh’. Học y trước hết phải ‘nhận kinh’; không biết kinh lạc th́ gặp chứng liền làm bừa, khó hợp phép tắc. Điều đó nói rơ ư nghĩa trọng yếu của việc nhận thức kinh lạc.”

V/ Sau khi lục kinh phát bệnh,
Lục kinh phát bệnh không ngoài sự tiến thoái biến hóa của cuộc đấu tranh giữa chính và tà; tuy nhiên chính khí có mạnh yếu khác nhau, tà khí có nhẹ nặng khác biệt, v́ vậy mới có vấn đề “truyền kinh” và “không truyền kinh”.
Nói chung, phàm tà khí từ biểu vào lư, từ dương vào âm, thuộc tà thịnh mà bệnh tiến; nếu chính khí chống tà có lực, có thể đẩy tà ra ngoài, từ lư xuất biểu, hoặc từ âm chuyển dương, th́ thuộc tà suy mà bệnh lui. Nhưng việc có truyền kinh hay không, quyết định ở chỗ chính khí thịnh suy và việc điều trị, chăm sóc có thích đáng hay không, trong đó đặc biệt lấy năng lực kháng tà của chính khí làm điều kiện tiên quyết.
Biện rơ sự truyền biến của tà bệnh, đối với điều trị và pḥng ngừa đều có ư nghĩa thực tiễn. Phép nhận biết, đúng như trong luận nói: “Thương hàn một ngày, Thái dương thụ chi, mạch nếu tĩnh là không truyền; hơi muốn nôn, nếu táo phiền, mạch sác cấp, là truyền vậy”. Tiếp đó Trọng Cảnh lại nói: “Thương hàn hai ba ngày, chứng Dương minh Thiếu dương không thấy, là không truyền vậy.” Ông nêu rơ: phân tích truyền kinh hay không truyền kinh phải bắt đầu từ biến hóa của chứng, chứ không phải dựa vào tŕnh tự lục kinh mà tự nhiên phát triển; càng không phải cứ mỗi ngày truyền một kinh, lấy ngày mà tính truyền kinh làm mục đích. H́nh thức tà khí truyền kinh, quy nạp lại khoảng có ba t́nh huống:

1. Truyền kinh thông thường: như tà ở Thái dương hoặc truyền Dương minh, hoặc truyền Thiếu dương.
2. Truyền kinh biểu–lư: như tà Thái dương nội truyền Thiếu âm, hoặc tà Thiếu dương nội truyền Quyết âm v.v. ......
3. Vượt kinh mà truyền: tà Thái dương không truyền Dương minh, Thiếu dương mà truyền sang Thái âm v.v.
Ngoài truyền kinh thông thường, nếu người ấy tạng khí bất túc lại có thuyết “trực trúng”. Trực trúng là chỉ tà bệnh không qua Thái dương, Dương minh, Thiếu dương mà vừa phát đă thấy chứng Thiếu âm, gọi là “trực trúng”. Điều này chủ yếu do dương khí hư suy, kháng tà vô lực, tà khí trực nhập thẳng vào, trực tiếp trúng tạng; v́ vậy nặng hơn các bệnh truyền kinh nói trên.
Ngoài truyền kinh, c̣n có “hợp bệnh” và “tịnh bệnh”. Theo Đan Ba Nguyên Kiên nói: “Hợp bệnh, tinh bệnh là biểu lư cùng bệnh. Khi cảm tà, biểu lư đồng thời thụ bệnh gọi là hợp bệnh. Biểu trước thụ bệnh, truyền sang lư, mà biểu vẫn c̣n, gọi là tinh bệnh. Hợp bệnh th́ nặng, tinh bệnh th́ dễ; đó là lược ư của hợp và tịnh.” Lời Đan Ba Nguyên Kiên trên đây nêu bật đặc điểm riêng của “hợp bệnh” và “tịnh bệnh”. Từ đó có thể thấy: phàm hai kinh, ba kinh đồng thời phát bệnh, không phân trước sau thứ tự, gọi là “hợp bệnh”; hợp bệnh phần nhiều là nguyên phát.
Hợp bệnh có bốn loại: Thái dương–Dương minh hợp bệnh, Thái dương–Thiếu dương hợp bệnh, Thiếu dương–Dương minh hợp bệnh, Tam dương hợp bệnh.
Nếu một kinh bệnh chưa khỏi, rồi kinh khác lại khởi, có phân trước sau thứ tự, gọi là “tịnh bệnh”; tịnh bệnh phần nhiều là tiếp phát.
Tinh bệnh có hai loại: Thái dương–Dương minh tinh bệnh, Thái dương–Thiếu dương tinh bệnh.
Tam âm kinh tuy không gọi là hợp bệnh, tinh bệnh, nhưng thực có nội dung thực tế của nó, ở đây không bàn nhiều.
VI/ Pháp tắc trị liệu của 《Thương Hàn Luận》
《Thương Hàn Luận》 là bộ sách có tŕnh tự “lư–pháp–phương–dược”. “Lư” là lư của lục kinh biện chứng, phần trước đă giới thiệu. “Pháp” là phương pháp điều trị và nguyên tắc chỉ đạo điều trị. Biện chứng rốt cuộc nhằm mục đích điều trị; dùng phương pháp ǵ để trị, dùng nguyên tắc ǵ để chỉ đạo trị liệu, là một vấn đề quan trọng trong lâm sàng.
《Thương Hàn Luận》 về trị pháp, xác lập hai tiền đề: một gọi “âm dương tự ḥa”, một gọi “bảo vị khí, tồn tân dịch”.
Ư nghĩa “âm dương tự ḥa” là nói bệnh thuộc về gốc, gốc ở âm dương; âm dương bất ḥa th́ bệnh, khiến cho âm dương tự ḥa th́ bệnh lui. V́ vậy khi điều trị phải lấy tiền đề điều ḥa âm dương làm căn bản mà suy xét.
Tinh thần “bảo vị khí, tồn tân dịch” là nói khi trị bệnh phải đặt đúng quan hệ giữa người–bệnh–thuốc, trong đó “người” là chủ yếu. V́ trị bệnh dùng thuốc rốt cuộc là v́ con người, cho nên trị bệnh đừng làm tổn thương con người; do đó mới đề ra pháp tắc “bảo vị khí, tồn tân dịch”. Nếu không có khuôn phép này, rất có thể trong điều trị lại làm thương chính khí trước; chính khí đă thương th́ kháng tà vô lực, khiến tà khí tăng trưởng phát triển, làm điều trị rơi vào thế bị động.
Phương pháp trị bệnh của 《Thương Hàn Luận》, quy nạp lại có: Ma, Quế (chi) của hăn pháp; qua (lâu), (thị) đế của thổ pháp; Mang tiêu, Đại hoàng của hạ pháp;Can khương, phụ tử của ôn pháp; Hoàng cầm, Hoàng liên của thanh pháp; Nhân sâm, Cam thảo của bổ pháp; sài hồ, hoàng cầm của ḥa pháp; Thổ miết, thủy điệt làm hoàn của tiêu pháp v.v.
Bát pháp trị liệu của Trung y, từ 《Thương Hàn Luận》 mà thể hiện, hậu thế y gia tôn làm khuôn thước. Lâm sàng trị liệu không rời phạm vi “bát pháp”, cho nên nhất định phải dưới sự chỉ đạo đúng đắn của “pháp” rồi mới tiến hành lập phương dùng thuốc.
VII/ Phương tễ trong 《Thương Hàn Luận》
Ghi chép phương tễ trong y tịch cổ c̣n lưu lại, sớm nhất thấy ở 《Hoàng Đế Nội Kinh》, nhưng chỉ chép 13 phương, xa không đủ nhu cầu điều trị lâm sàng. Đến đời Hán, do dược vật không ngừng phong phú và phát triển, đặc biệt là sự ứng dụng rộng răi của phục phương, khiến phương tễ học về lư luận phối ngũ và thực tiễn lâm sàng đều tiến bộ rất lớn. Những thẻ gỗ y dược đời Hán được khai quật mấy năm gần đây, cung cấp cho ta chứng cứ văn vật đáng tin. Từ một lô y dược mộc giản Đông Hán đầu kỳ khai quật tại Vũ Uy Cam Túc tháng 12/1972 mà xem, trong đó có hơn 30 bài y phương, lại hầu như toàn là phục phương, dùng thuốc khoảng 100 vị; đủ thấy khi ấy phương dược đă đạt tŕnh độ khá cao. V́ vậy có thể thấy phương dược ghi trong 《Thương Hàn Luận》 không phải Trương Trọng Cảnh tự sáng tạo hoàn toàn; nhưng Trương Trọng Cảnh đối với việc kế thừa và phát huy di sản y học trước Hán, thông suốt một mạch “lư–pháp–phương–dược”, khai sáng nguyên tắc trị liệu “biện chứng luận trị”, đă có cống hiến trọng đại.
Phương tễ của 《Thương Hàn Luận》, trên nối Kỳ Hoàng, dưới truyền trăm đời, được tôn là “tổ của phương thư”; thành tựu chủ yếu có mấy điểm sau:
1. Thể hiện bát pháp trị liệu, trong ứng dụng cụ thể lâm sàng đặt nền cho lư luận “phương do pháp lập, pháp do phương hiển”.
2. Lập phương tinh giản, phối ngũ nghiêm mật, qua ức vạn lượt thực hành mà hiệu quả luôn rơ rệt.
3. Phương–chứng kết hợp chặt chẽ, quả thực giải quyết yêu cầu của “chứng”, thành hệ thống “có chứng tất có phương”.
4. Lập phương không câu nệ một lối, tùy chứng mà thi triển, không thiên chấp một nhà, có thể làm phép tắc cho hậu thế.

VIII/ Phương pháp học 《Thương Hàn Luận》
Học 《Thương Hàn Luận》, chủ yếu là học tư tưởng và phương pháp biện chứng luận trị của nó; muốn làm được điều này, phải đối với lư luận cơ bản của y học liên quan, đặc biệt là học thuyết âm dương, sinh lư và biến hóa bệnh lư của tạng phủ kinh lạc, dung hội quán thông (tích hợp và thấm nhuần kiến thức). Từ sự phản ánh khách quan của biến hóa chứng trạng mà phân tích, tổng hợp, quy nạp, biện định thuộc phạm vi lục kinh nào, để chế định (lập ra) phép trị liệu tương ứng. Đồng thời phải đọc đi đọc lại nguyên văn, lĩnh hội tinh thần trong sách, ghi nhớ đặc điểm chứng hậu, cũng như các điều nghi kỵ (nên hoặc cấm kỵ) của phương tễ, liều lượng lớn nhỏ, cách sắc uống và yêu cầu của “phương hậu chú” (những yêu cầu khi uống thuốc). Lại c̣n phải làm rơ quan hệ và ư nghĩa giữa các điều văn, để tăng thêm sự thể hội sâu sắc đối với nguyên văn; v́ vậy bài giảng thứ hai chuyên bàn về ư nghĩa tổ chức sắp xếp điều văn.
Học phương pháp lục kinh biện chứng phải kết hợp lâm sàng mà học; chủ trương của Trần Tu Viên về việc kết hợp xem bệnh với đọc sách là rất có lư, v́ học như vậy th́ thu hoạch lớn, mà đối với 《Thương Hàn Luận》 cũng có thể có chỗ phát triển.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 


<< Trả Lời >>

Nội Quy | Góp Ý | © 2009 - 2025 yhoccotruyen.org