Trang Chính

  Dược Vị

  Toa Thuốc

  Diễn Đàn

  Đăng Nhập

  Đăng Ký

Diễn đàn >> Kiến Thức YHCT >> THƯƠNG HÀN THẬP TỨ GIẢNG

<< Đăng Chủ Đề Mới >>
THƯƠNG HÀN THẬP TỨ GIẢNG - posted by Trường Xuân (Hội Viên)
on February , 18 2026
BÀI GIẢNG 01
Lời nói đầu
Tôi biên soạn tập sách nhỏ này, chuyên đề tŕnh bày mười bốn vấn đề trong 《Thương hàn luận》. Nhưng những vấn đề này không tồn tại một cách rời rạc, mà có tính hệ thống và có mối liên hệ nội tại với nhau. Ví dụ: bài giảng thứ nhất tŕnh bày lịch sử diễn biến của 《Thương hàn luận》 và nhận thức về biện chứng lục kinh, nhằm giúp độc giả hiểu đúng hàm nghĩa của sách này; bài giảng thứ hai bàn về mối liên hệ hữu cơ trong cách sắp xếp các điều văn của 《Thương hàn luận》, phân tích tư tưởng và phương pháp biện chứng của 《Thương hàn luận》; bài giảng thứ ba nói về ư nghĩa thực tiễn của các chứng cương lĩnh khi lục kinh phát bệnh; bài giảng thứ tư giới thiệu học thuyết khí hóa của 《Thương hàn luận》, dùng y lư truyền thống để phân tích quy luật biến hóa âm dương của lục kinh, lục khí. Bốn bài giảng trên là tổng luận của cuốn sách, có tác dụng chỉ đạo các phần chuyên luận tiến hành biện chứng.
Từ bài giảng thứ năm đến bài giảng thứ mười ba thuộc các chuyên luận, áp dụng phương pháp quy nạp theo lối “lấy phương dẫn chứng”, tổng hợp các phương chứng chủ yếu của Thái dương bệnh, Dương minh bệnh, Thiếu dương bệnh, Thái âm bệnh, Thiếu âm bệnh, Quyết âm bệnh, đồng thời kèm theo phương chứng và y án của hậu thế để tăng cường ứng dụng lâm sàng.
Bài giảng cuối cùng là kinh nghiệm thể hội của bản thân tôi khi dùng kinh phương, cũng là sự tổng kết ngắn gọn, then chốt đối với các chuyên luận nêu trên. Mong sao có thể gợi mở về mặt lư luận, có chỗ tham khảo cho lâm sàng, đó chính là mục đích biên soạn cuốn sách này. Do tŕnh độ cá nhân có hạn, trong sách ắt c̣n nhiều chỗ thiếu sót, kính mong độc giả không tiếc lời phê b́nh chỉ chính.
Lưu Độ Chu, tháng 5 năm 1982 tại Bắc Kinh

MỤC LỤC
Bài giảng 1 Dẫn nhập “Thương hàn luận” ........................................ (1)1. Biến đổi lịch sử của “Thương hàn luận” .................................... (1)
2. “Thương hàn luận” là một bộ sách như thế nào .......................... (2)
3. Khái niệm Lục kinh ..................................................................... (4)
4. Phương pháp biện chứng Lục kinh ............................................. (5)
5. Lục kinh phát bệnh và sự truyền biến ......................................... (7)
6. Nguyên tắc điều trị của “Thương hàn luận” ................................ (9)
7. Các phương tễ (bài thuốc) của “Thương hàn luận” .................... (10)
8. Phương pháp học “Thương hàn luận” ........................................ (11)
Bài giảng 2 Thử bàn về ư nghĩa tổ chức – sắp xếp điều văn trong “Thương hàn luận” .... (12)
1. “Thiên Thái dương bệnh (thượng)” 30 điều ................................ (12)
2. “Thiên Thái dương bệnh (trung)” 97 điều .................................. (15)
3. “Thiên Thái dương bệnh (hạ)” 50 điều ....................................... (21)
4. “Thiên Dương minh bệnh” 84 điều ............................................ (24)
5. “Thiên Thiếu dương bệnh” 10 điều ........................................... (28)
6. “Thiên Thái âm bệnh” 8 điều ..................................................... (29)
7. “Thiên Thiếu âm bệnh” 45 điều ................................................. (30)
8. “Thiên Quyết âm bệnh” 56 điều ................................................ (32)
9. “Thiên Hoắc loạn bệnh” 10 điều ............................................... (35)
10. “Thiên Âm dương dịch biến, hậu lao phục bệnh” 7 điều .......... (35)
Bài giảng 3 Thử bàn về ư nghĩa “đề cương chứng” khi Lục kinh phát bệnh ............... (37)
1. Đề cương chứng của bệnh Thái dương ....................................... (38)
2. Đề cương chứng của bệnh Dương minh ..................................... (41)
3. Đề cương chứng của bệnh Thiếu dương ..................................... (43)
4. Đề cương chứng của bệnh Thái âm ............................................. (43)
5. Đề cương chứng của bệnh Thiếu âm ........................................... (44)
6. Đề cương chứng của bệnh Quyết âm ........................................... (45)
Bài giảng 4 Học thuyết “khí hoá” trong “Thương hàn luận” ............................. (47)
1. Khí hoá của kinh Thái dương ....................................................... (50)
2. Khí hoá của kinh Dương minh ..................................................... (51)
3. Khí hoá của kinh Thiếu dương ..................................................... (51)
4. Khí hoá của kinh Thái âm ............................................................ (52)
5. Khí hoá của kinh Thiếu âm .......................................................... (52)
6. Khí hoá của kinh Quyết âm .......................................................... (52)
Bài giảng 5 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của Quế chi thang ........ (54)
1. Các chứng thích ứng của Quế chi thang ......................................... (54)
2. Ứng dụng lâm sàng của Quế chi thang .......................................... (56)
3. Các phép gia giảm của Quế chi thang ............................................ (58)
Bài giảng 6 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của Ma hoàng thang ....... (63)
1. Các chứng thích ứng của Ma hoàng thang ...................................... (63)
2. Ứng dụng lâm sàng của Ma hoàng thang ....................................... (64)
3. Ứng dụng gia giảm của Ma hoàng thang ........................................ (64)
Bài giảng 7 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của Linh quế tễ ............. (69)
1. Khái niệm Thuỷ khí ....................................................................... (69)
2. Cơ chế phát bệnh của Thuỷ khí ...................................................... (70)
3. Biện chứng luận trị của Thuỷ khí .................................................... (72)
Bài giảng 8 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của nhóm bài Bạch hổ thang .... (80)
1. Bạch hổ thang ............................................................................... (80)
2. Bạch hổ gia Nhân sâm thang .......................................................... (81)
3. Bạch hổ gia Quế chi thang ............................................................. (83)
4. Trúc diệp Thạch cao thang ............................................................. (84)
5. Bạch hổ gia Thương truật thang .................................................. (85)
6. Ngọc nữ tiễn ................................................................................ (85)
7. Hoá ban thang .............................................................................. (87)
Bài giảng 9 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của nhóm Thừa khí thang .... (88)
1. Đại thừa khí thang ........................................................................ (88)
2. Tiểu thừa khí thang ....................................................................... (90)
3. Điều vị thừa khí thang ................................................................... (91)
4. Ma tử nhân hoàn ........................................................................... (92)
5. Đào nhân thừa khí thang ............................................................... (93)
6. Hậu phác Thất vật thang ............................................................... (94)
7. Hậu phác Tam vật thang ............................................................... (95)
8. Hậu phác Đại hoàng thang ............................................................ (95)
9. Đại hoàng Mang tiêu thang .......................................................... (95)
10. Đại hoàng Mẫu đơn b́ thang ....................................................... (96)
11. Tam vật thừa khí thang ................................................................ (97)
12. Hoàng long thang ........................................................................ (97)
13. Tăng dịch thừa khí thang ............................................................. (98)
Bài giảng 10 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của nhóm Sài hồ thang .... (100)
1. Chứng trị của Tiểu sài hồ thang ..................................................... (100)
2. Gia giảm và biện chứng luận trị của Tiểu sài hồ thang ................... (102)
Bài giảng 11 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của nhóm Lư trung thang .... (112)
1. Lư trung thang ............................................................................... (112)
2. Quế chi nhân sâm thang ............................................................... (113)
3. Cam thảo can khương thang ......................................................... (114)
Bài giảng 12 Thử bàn về gia giảm và biện chứng luận trị của nhóm Tứ nghịch thang .... (116)
1. Tứ nghịch thang ............................................................................ (116)
2. Tứ nghịch gia Nhân sâm thang ...................................................... (117)
3. Thông mạch tứ nghịch thang ........................................................ (118)
Bài giảng 13 Khái luận về các phương thang điều trị chứng “nhiệt kết – bĩ măn” .... (125)
1. Bán hạ tả tâm thang ........................................................................ (125)
2. Phụ tử tả tâm thang ........................................................................ (126)
3. Hoàng liên thang ............................................................................ (127)
4. Ô mai hoàn ..................................................................................... (128)
5. Ma hoàng thăng ma thang .............................................................. (129)
6. Can khương Hoàng cầm Hoàng liên Nhân sâm thang .................... (131)
Bài giảng 14 Mấu chốt dùng kinh phương là nắm vững “chủ chứng” .................. (133)
1. Thế nào là chủ chứng, v́ sao phải nắm chủ chứng trước ................. (133)
2. Nắm chủ chứng cũng là chú trọng biện chứng ................................ (134)
3. Sự h́nh thành chủ chứng và ư nghĩa lâm sàng của nó ..................... (135)
4. Đặc điểm của sự h́nh thành chủ chứng .......................................... (136)
5. Ví dụ điều trị dùng kinh phương: nắm chủ chứng ............................ (137)

Chú: Phàm những mục có dấu “◆” là các kinh phương dùng sau khi gia giảm.
Bài giảng 01 《Thương hàn luận》 dẫn nhập
I/ Sự biến đổi lịch sử của 《Thương hàn luận》
《Thương hàn luận》 nguyên danh là 《Thương hàn tạp bệnh luận》. Cũng có người gọi là 《Thương hàn thốt bệnh luận》, xét chữ thốt“卒” vốn là do chép nhầm chữ tạp“杂” mà ra.
Bộ sách này là tác phẩm do người đời Hậu Hán là Trương Cơ (tự Trọng Cảnh) viết vào khoảng sau các năm 196–204 sau Công nguyên.
Trương Trọng Cảnh, người Niết Dương thuộc Nam quận, ước sinh khoảng năm 150–219 sau Công nguyên; sự tích của ông trong Hán thư không có truyện. Theo sách đời Đường 《Minh y lục》 chép: “Người Nam Dương, tên Cơ, Trọng Cảnh là tự. Được cử hiếu liêm, làm quan đến Thái thú Trường Sa, ban đầu thụ thuật với Trương Bá Tổ cùng quận; người đương thời nói rằng sự hiểu biết và vận dụng tinh vi vượt hơn thầy. Lời bàn luận của ông tinh mà sâu, phép tắc giản mà tường, không phải hạng kiến văn nông cạn có thể với tới.”
Cuối đời Đông Hán, chiến tranh liên miên, dân chúng phiêu tán, dẫn đến dịch bệnh lưu hành, người chết rất nhiều.
Gia tộc Trương Trọng Cảnh là đại tộc Nam Dương có hơn hai trăm người; dưới tai họa của dịch bệnh, chưa đầy mười năm đă chết mất hai phần ba nhân khẩu, trong đó người chết v́ thương hàn chiếm bảy phần mười.
Trương Trọng Cảnh trong lời tựa từng than rằng: “Cảm thương cảnh suy vong thuở trước, đau xót v́ sự chết chóc lan khắp mà không cứu nổi”, từ đó khơi dậy chí nguyện viết sách cứu người. Để soạn sách cứu đời, ông cần cầu cổ huấn, góp nhặt nhiều phương, rộng răi hấp thu thành tựu y học trước đó, lại kết hợp thể nghiệm của chính ḿnh, trên nền tảng người trước mà có chỗ sáng tạo. Trải qua lao lực cần mẫn và nhiều lần kiểm chứng, cuối cùng viết thành tác phẩm 《Thương hàn tạp bệnh luận》 gồm mười sáu quyển.
Tác phẩm này vừa ra đời không lâu th́ gặp binh hỏa tàn phá, khiến nguyên thư mười sáu quyển bị thất lạc, khuyết thiếu không trọn vẹn.
Từ năm 256–316 sau Công nguyên, Thái y Tây Tấn là Vương Thúc Ḥa sưu tập một số bản c̣n sót, chỉnh lư và biên thứ thành thiên, nhưng chỉ chỉnh lư được mười quyển; diện mạo nguyên thủy của mười sáu quyển th́ không c̣n thấy lại. V́ vậy, từ đời Tấn về sau, 《Tùy thư·Kinh tịch chí》 và 《Đường thư·Nghệ văn chí》 chỉ ghi 《Thương hàn luận》 mười quyển, không c̣n gọi là mười sáu quyển nữa.
Đến năm 1065, niên hiệu Trị B́nh đời Tống, triều đ́nh sai Cao Bảo Hành, Lâm Ức cùng người khác hiệu chính y thư, đem bản 《Thương hàn luận》 mười quyển, tổng hai mươi hai thiên do Tiết độ sứ Cao Kế Xung tiến dâng vào niên hiệu Khai Bảo để hiệu đính, đồng thời khắc ván in và ban hành rộng răi. Cũng trong thời gian này, Hàn lâm học sĩ Vương Thù khi ở quán các, từ sách mục bị mọt đục mà t́m được 《Kim quỹ ngọc hàm yếu lược phương luận》 ba quyển, cũng đem hiệu chính rồi khắc in lưu hành.

II/《Thương hàn luận》 là một bộ sách như thế nào
《Thương hàn tạp bệnh luận》 vốn là một bộ sách bàn về thương hàn và tạp bệnh trong mối liên hệ hữu cơ, đem ra cùng luận. Từ khi đời Tống niên hiệu Trị B́nh khắc ván in mà gọi tắt là 《Thương hàn luận》, lại thêm thuyết của Lâm Ức v.v. nói rằng mười quyển luận thương hàn, sáu quyển luận tạp bệnh, khiến người ta hiểu lầm 《Thương hàn luận》 là chuyên luận thương hàn, c̣n 《Kim quỹ ngọc hàm yếu lược phương》 th́ chuyên luận tạp bệnh; cách nh́n này lưu truyền đến tận ngày nay.
Để hiểu đúng bộ sách này, trước hết cần giới thiệu: thế nào là thương hàn, thế nào là tạp bệnh, và mối liên hệ nội tại giữa thương hàn với tạp bệnh, như vậy mới có thể đánh giá đúng bộ sách này.
Trước nói về thương hàn: thương hàn có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. 《Tố vấn·Nhiệt luận》 nói: “Phàm bệnh nhiệt, đều thuộc loại thương hàn cả”, câu này là nói theo nghĩa rộng. C̣n theo nghĩa hẹp, th́ chỉ giới hạn ở phong hàn, không bao gồm các tà khí khác ngoài phong hàn.
Xét nội dung 《Thương hàn luận》 th́ chủ yếu bàn phong hàn, kiêm luận tạp bệnh; tuy cũng nhắc đến ôn bệnh v.v., nhưng là để phân biệt với phong hàn, xuất hiện như “chứng tương tự thương hàn”, v́ thế không được tŕnh bày toàn diện như phong hàn, cũng không có phép trị liệu hệ thống. Do đó, chưa thể nói 《Thương hàn luận》 là bàn về “thương hàn nghĩa rộng”.
Lại nói về tạp bệnh: thời Hán phân khoa bệnh tật chưa có tên gọi nội khoa, ngoại khoa như ngày nay; bấy giờ các bệnh nhiệt cấp tính do ngoại cảm phát sốt đều gọi là thương hàn; c̣n các bệnh ngoài thương hàn, bao gồm rất nhiều bệnh mạn tính, đều gọi chung là tạp bệnh.
Thương hàn và tạp bệnh vốn là hai h́nh thức phát bệnh khác nhau, nhưng Trương Trọng Cảnh dung hợp chúng vào một sách và đem ra cùng luận, là do liên quan tới mấy vấn đề sau:

1. Người bệnh phát thương hàn thuần túy th́ ít, mà kiêm kèm tạp bệnh th́ nhiều, cho nên hợp luận thương hàn với tạp bệnh mới đầy đủ.
2. Người có nam nữ, thể chất mạnh yếu khác nhau; cùng cảm một tà, nhưng phát bệnh khác; hơn nữa nội nhân là căn cứ của biến hóa, cho nên không hiểu tạp bệnh, không rơ hàn nhiệt hư thực của tạng phủ, th́ cũng không thể hiểu thương hàn. V́ vậy, chỉ luận thương hàn mà không luận tạp bệnh th́ không thể phát huy hết sở trường của biện chứng.
3. Có bệnh nhân trước mắc bệnh khác, sau mới cảm thương hàn; nội thương ngoại cảm, bệnh t́nh rối rắm, khó quy về một mối; không thể chỉ dùng một h́nh thức phát bệnh “thương hàn” mà bao quát hết các bệnh.
Bởi những vấn đề trên, nên Kha Vận Bá có trải nghiệm sâu sắc mà nói: “Trong thương hàn chứa nhiều tạp bệnh nhất, hư thực hiện lẫn; bởi vậy đem thương hàn và tạp bệnh hợp lại mà đối chiếu, đó là phép tóm yếu.”
Tổng hợp lại có thể thấy: 《Thương hàn luận》 thông qua sự thật cụ thể của thương hàn và tạp bệnh để phản ánh phương pháp biện chứng của nó. Cũng có thể nói: thương hàn với tạp bệnh phải cùng luận, mới hiển rơ ư nghĩa “lục kinh biện chứng” có thể thống nhiếp các bệnh. V́ vậy Kha Vận Bá lại nói: “Ngoài thương hàn đều là tạp bệnh, bệnh không thể ĺa lục kinh, nên lập đại kinh mà phân ty.” Câu này phản ánh sự thật lục kinh biện chứng thống nhiếp cả thương hàn lẫn tạp bệnh.
Đồng thời cần chỉ ra: bộ sách 《Thương hàn luận》 lời ít ư nhiều, cực giỏi hàm súc thu nạp, nên trong lập luận biện chứng có sức cảm hóa thấm dần, đạt hiệu quả “văn để tải đạo”.
Ngoài ra, c̣n nên thấy rằng tác giả trong lục kinh biện chứng chỉ nói “một kinh phát bệnh”, không nói “một kinh bị thương hàn”; đem trăm bệnh đều bao quát trong lục kinh mà không ra ngoài phạm vi ấy. V́ vậy, sách chỉ ở lục kinh mà t́m gốc, không ở “thương hàn” mà t́m cành lá, do đó làm nổi bật đặc điểm lục kinh biện chứng.
Phương Trung Hành cũng cho rằng 《Thương hàn luận》 là sách luận bệnh, không phải lập riêng cho một bệnh thương hàn; những nhận định ấy quả đă nắm được tinh thần chủ yếu của 《Thương hàn luận》.
Theo các lư do trên, có thể thấy thương hàn và tạp bệnh cùng luận để làm sáng tỏ đạo lư biện chứng luận trị, vốn không hề có thuyết “thương hàn ở trước, tạp bệnh ở sau”, hay “mười quyển luận thương hàn, sáu quyển luận tạp bệnh”. Học 《Thương hàn luận》 mục đích là ở biện chứng luận trị, tuyệt đối không được hạ thấp yêu cầu mà chỉ thỏa măn với việc biện “một bệnh thương hàn” mà thôi.
III/ Khái niệm về Lục kinh
Thực chất của Lục kinh: 《Thương hàn luận》 lấy lục kinh biện chứng làm hạt nhân; rốt cuộc thực chất của lục kinh có tồn tại hay không, trong thương hàn học cũng tranh luận rất nhiều, mỗi người một ư. Có học giả đem “lục kinh phát bệnh” quy nạp thành sáu loại chứng hậu để bao quát âm dương biểu lư, hàn nhiệt hư thực v.v. Như Đan Ba Nguyên Kiên trong 《Thương hàn luận thuật nghĩa》 từng nói: “Một bộ Thương hàn luận, toàn là sách về tính mệnh… Cái gọi là bệnh là ǵ? Chính là tam âm tam dương vậy. Nhiệt là dương, hàn là âm; mà biểu lư hư thực lại có khác nhau, thế là lập phân chia thành sáu.”
Có thể thấy ông đặt lục kinh trên nền các chứng hậu “dương nhiệt âm hàn”, chứ không đặt chứng hậu (hội chứng) lục kinh trên tạng phủ kinh lạc. V́ vậy ông lại chỉ ra: “Đến như lời nói về kinh lạc tạng phủ, trong kinh có lúc nhắc đến, nhưng vốn là nghĩa khác, không phải chủ chỉ về toàn kinh. Chỉ lấy hàn nhiệt định âm dương, th́ chỗ nào cũng sáng rơ, không ǵ không thông suốt.”
Từ đó có thể thấy quan điểm học thuật của Đan Ba Nguyên Kiên là phản đối việc dựa vào lư luận lục kinh của 《Tố vấn·Nhiệt luận》 để khảo sát thực chất lục kinh. Khuynh hướng này trong giới lâm sàng cũng có không ít người theo, thật cần phải làm rơ.
Tôi cho rằng lục kinh trong 《Thương hàn luận》 là kế thừa học thuyết lục kinh của 《Nhiệt luận》, có cơ sở vật chất là tạng phủ kinh lạc; v́ vậy lục kinh là “vật”, chứ không phải sáu kư hiệu. Nếu rời học thuyết kinh lạc truyền thống của Trung y mà giải thích lục kinh, th́ giống như da không c̣n, lông bám vào đâu. Bởi từ 《Nội kinh》 đến 《Thương hàn luận》, học thuyết tạng phủ kinh lạc vốn trước sau một mạch. Ví như đề cương bệnh Thái dương trong bản luận, trước nêu chứng “đầu gáy cứng đau”, hoàn toàn phù hợp với tinh thần 《Nhiệt luận》 nói “mạch của nó liên hệ với Phong phủ”.
Trong luận, ngoài dùng thang dịch trị bệnh, c̣n có nhiều phép phụ trợ “theo kinh mà lấy” v.v. Nếu như Đan Ba Nguyên Kiên phủ nhận kinh lạc, th́ chẳng khác nào nước không nguồn, cây không gốc. V́ vậy, chúng ta không thể rời tạng phủ kinh lạc mà bàn biện chứng luận trị.
Nhưng 《Thương hàn luận》 lại khác 《Nhiệt luận》. Ở lục kinh biện chứng, nó phát triển hơn 《Nhiệt luận》: không những biện được nhiệt chứng, thực chứng, mà c̣n biện được âm chứng, hàn chứng, hư chứng. Có thể nói 《Nhiệt luận》 lục kinh chỉ biện thương hàn, c̣n 《Thương hàn luận》 lục kinh vừa biện thương hàn, lại biện tạp bệnh, từ đó xây dựng hệ thống lư luận biện chứng luận trị.
Lục kinh là thế của tạng phủ kinh lạc; c̣n “biện chứng” là sự phản ánh sinh lư, bệnh lư tạng phủ kinh lạc và sự phân tích khách quan. Do đó có thể thấy tư tưởng biện chứng của y học cổ truyền được xây dựng trên cơ sở vật chất của tạng phủ kinh lạc, tuyệt không phải giáo điều rỗng tuếch, trừu tượng.
IV/ Phương pháp biện chứng lục kinh
Bốn, Phương pháp biện chứng lục kinh
《Thương hàn luận》 trong các y tịch cổ điển nổi tiếng là nhờ phương pháp “biện chứng luận trị”. Tuy nhiên, biện chứng luận trị cũng không phải bắt đầu từ 《Thương hàn luận》. Trong “Chân tự” có câu “并平脉辨证为伤寒杂病论十六卷” (gộp cả b́nh mạch và biện chứng thành 《Thương hàn tạp bệnh luận》 mười sáu quyển), đủ thấy thời cổ đă có trước tác chuyên về biện chứng. Học giả Nhật Bản Yamada Masachin từng nói: “Sách tục ngữ 《平脉辨证》 nay đều không truyền lại”. Thực ra, từ thời Chiến Quốc, sau khi học thuyết “âm dương” trong 《Hoàng đế nội kinh》 được đưa vào lĩnh vực y học, tầm nh́n của y gia trong việc nhận biết bệnh chứng đă được mở rộng rất lớn, và từ đó đặt nền tảng cho tư tưởng biện chứng của y học cổ truyền.
V́ vậy, “tam dương tam âm lục kinh biện chứng” của Trương Trọng Cảnh, cũng như “bát cương biện chứng” về sau, đều lấy “âm dương” làm cương lĩnh của biện chứng; điều này hoàn toàn phù hợp tinh thần trong 《Tố vấn·Âm dương ứng tượng đại luận》 rằng: “Người giỏi chẩn đoán, xét sắc bắt mạch, trước hết phải phân biệt âm dương.” Bởi khi khám bệnh, nếu vận dụng được tư tưởng biện chứng âm dương th́ có thể “biết xấu biết tốt, biết bệnh biết không bệnh, biết cao biết thấp, biết ngồi biết đứng, biết đi biết dừng, dùng có kỷ cương, đạo chẩn đoán mới đầy đủ”; nếu không th́ sẽ “biết trái không biết phải, biết phải không biết trái, biết trên không biết dưới, biết trước không biết sau, nên chữa chẳng lâu.” Do đó, học thuyết âm dương thấm vào mọi mặt của học thuật y học cổ truyền: không chỉ dùng để giải thích sinh lư và biến hóa bệnh lư của cơ thể, mà c̣n dùng để chỉ đạo chẩn đoán và điều trị lâm sàng.
Trương Trọng Cảnh kế thừa học thuyết âm dương, lại kết hợp thực tiễn lâm sàng khiến nó phát triển thêm bước mới. “Lục kinh biện chứng” trong 《Thương hàn luận》 lấy âm dương làm cương: dùng hai “đại cương” “tam dương” và “tam âm” thống lĩnh sáu kinh. V́ thế, biện chứng lục kinh trước tiên phải giải quyết: bệnh phát ở “âm” hay phát ở “dương”. Âm dương bệnh tính đă rơ th́ đó là con đường “cầu bản” khi trị bệnh, cũng là phép “lấy cương dẫn mục”. Sau đó, dưới sự chỉ đạo của hai cương âm dương, tiếp tục khảo sát vị trí bệnh, thuộc tính bệnh, thế tiến lui của bệnh, rồi phân định biểu–lư, hàn–nhiệt, hư–thực, tự nhiên sẽ giải quyết dễ dàng. “Bát cương biện chứng” có thể nói là điều kiện tiên quyết của biện chứng; nhưng nếu chỉ dừng ở mức bát cương th́ vẫn chưa đủ, v́ chưa gắn cụ thể những biến đổi bệnh lư của “tạng phủ kinh lạc” vào đó: giống như t́m người mới chỉ t́m được “đường phố” mà chưa t́m được “từng nhà”, vẫn chưa thể làm sáng tỏ chính xác và sâu sắc các biến hóa bệnh lư phức tạp, cũng chưa thể chỉ đạo điều trị lâm sàng tốt hơn. C̣n “lục kinh biện chứng” lại đúng là giải quyết được vấn đề này: nó “đặt” nội dung của bát cương xuống nền tảng tạng phủ–kinh lạc, khiến bát cương biện chứng và tạng phủ biện chứng kết hợp hữu cơ, nhờ đó bù đắp chỗ chưa đủ của bát cương biện chứng.
Bởi lục kinh biện chứng xuyên suốt bát cương và liên hệ với tạng phủ kinh lạc, nhất là lấy biến hóa sinh lư–bệnh lư của tạng phủ kinh lạc làm cơ sở vật chất, nên biện chứng “có vật để nói”, không phải lâu đài trên không. Người xưa khi nghiên cứu lục kinh của 《Thương hàn luận》 từng nói: “经者,径也” (kinh là “đường đi”), dựa vào kinh th́ biết đường đi đến/đi ra của tà khí; lại nói “经者,界也” (kinh là “ranh giới”), dựa vào kinh th́ biết bệnh có phạm vi, không lẫn lộn nhau. Có phạm vi, có ranh giới th́ khi biện chứng sẽ rơ ràng một mạch: như thấy đầu nặng cổ gáy cứng đau th́ biết Thái dương kinh thụ tà; thấy mặt đỏ, trán đau, mũi khô th́ biết Dương minh kinh bị tà; thấy tai điếc, ngực sườn đầy bứt rứt th́ biết Thiếu dương kinh thụ tà; thấy bụng đầy lúc đau th́ biết Thái âm kinh thụ tà; thấy đau họng th́ biết Thiếu âm kinh thụ tà; thấy đau đỉnh đầu, khan nôn, khạc dăi bọt th́ biết Quyết âm kinh thụ tà. Nếu rời kinh lạc học thuyết th́ cơ chế phát sinh của các chứng trạng trên sẽ không thể giải thích được.
Lại do hệ thống kinh lạc có sự liên lạc giao hội, khiến ngũ tạng lục phủ, biểu lư trên dưới, tứ chi cửu khiếu, b́ nhục cân mạch… liên kết thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất; v́ vậy, khi biện giải theo kinh cũng đặc biệt chú ư sự ảnh hưởng qua lại giữa bệnh lư tạng phủ–kinh lạc. Như phát nhiệt, ố hàn (ghét lạnh) mà mạch phù, là Thái dương kinh biểu thụ tà; nếu mạch không phù mà lại thấy trầm tượng, th́ biết biểu tà của Thái dương đă “liên” vào trong và quy tụ ở Thiếu âm. Thái dương và Thiếu âm là biểu lư; khi Thiếu âm dương khí bất túc mà lại ngoại cảm phong hàn, có thể hai kinh đồng thời thụ tà, h́nh thành “Thái dương–Thiếu âm lưỡng kinh đồng bệnh (hợp bệnh/kiêm bệnh)”.
“Do kinh lạc liên hệ biểu lư, các kinh khi phát bệnh cũng ảnh hưởng lẫn nhau. V́ thế mới có thuyết: bệnh “thực” thường quy về “Dương minh”; bệnh ở “Tỳ–Vị” có quan hệ biểu lư và tương tác khi sinh bệnh… Cho nên, biện chứng tuyệt đối không thể rời ‘kinh’. Học y trước hết phải ‘nhận kinh’; không biết kinh lạc th́ gặp chứng liền làm bừa, khó hợp phép tắc. Điều đó nói rơ ư nghĩa trọng yếu của việc nhận thức kinh lạc.”

V/ Sau khi lục kinh phát bệnh,
Lục kinh phát bệnh không ngoài sự tiến thoái biến hóa của cuộc đấu tranh giữa chính và tà; tuy nhiên chính khí có mạnh yếu khác nhau, tà khí có nhẹ nặng khác biệt, v́ vậy mới có vấn đề “truyền kinh” và “không truyền kinh”.
Nói chung, phàm tà khí từ biểu vào lư, từ dương vào âm, thuộc tà thịnh mà bệnh tiến; nếu chính khí chống tà có lực, có thể đẩy tà ra ngoài, từ lư xuất biểu, hoặc từ âm chuyển dương, th́ thuộc tà suy mà bệnh lui. Nhưng việc có truyền kinh hay không, quyết định ở chỗ chính khí thịnh suy và việc điều trị, chăm sóc có thích đáng hay không, trong đó đặc biệt lấy năng lực kháng tà của chính khí làm điều kiện tiên quyết.
Biện rơ sự truyền biến của tà bệnh, đối với điều trị và pḥng ngừa đều có ư nghĩa thực tiễn. Phép nhận biết, đúng như trong luận nói: “Thương hàn một ngày, Thái dương thụ chi, mạch nếu tĩnh là không truyền; hơi muốn nôn, nếu táo phiền, mạch sác cấp, là truyền vậy”. Tiếp đó Trọng Cảnh lại nói: “Thương hàn hai ba ngày, chứng Dương minh Thiếu dương không thấy, là không truyền vậy.” Ông nêu rơ: phân tích truyền kinh hay không truyền kinh phải bắt đầu từ biến hóa của chứng, chứ không phải dựa vào tŕnh tự lục kinh mà tự nhiên phát triển; càng không phải cứ mỗi ngày truyền một kinh, lấy ngày mà tính truyền kinh làm mục đích. H́nh thức tà khí truyền kinh, quy nạp lại khoảng có ba t́nh huống:

1. Truyền kinh thông thường: như tà ở Thái dương hoặc truyền Dương minh, hoặc truyền Thiếu dương.
2. Truyền kinh biểu–lư: như tà Thái dương nội truyền Thiếu âm, hoặc tà Thiếu dương nội truyền Quyết âm v.v. ......
3. Vượt kinh mà truyền: tà Thái dương không truyền Dương minh, Thiếu dương mà truyền sang Thái âm v.v.
Ngoài truyền kinh thông thường, nếu người ấy tạng khí bất túc lại có thuyết “trực trúng”. Trực trúng là chỉ tà bệnh không qua Thái dương, Dương minh, Thiếu dương mà vừa phát đă thấy chứng Thiếu âm, gọi là “trực trúng”. Điều này chủ yếu do dương khí hư suy, kháng tà vô lực, tà khí trực nhập thẳng vào, trực tiếp trúng tạng; v́ vậy nặng hơn các bệnh truyền kinh nói trên.
Ngoài truyền kinh, c̣n có “hợp bệnh” và “tịnh bệnh”. Theo Đan Ba Nguyên Kiên nói: “Hợp bệnh, tinh bệnh là biểu lư cùng bệnh. Khi cảm tà, biểu lư đồng thời thụ bệnh gọi là hợp bệnh. Biểu trước thụ bệnh, truyền sang lư, mà biểu vẫn c̣n, gọi là tinh bệnh. Hợp bệnh th́ nặng, tinh bệnh th́ dễ; đó là lược ư của hợp và tịnh.” Lời Đan Ba Nguyên Kiên trên đây nêu bật đặc điểm riêng của “hợp bệnh” và “tịnh bệnh”. Từ đó có thể thấy: phàm hai kinh, ba kinh đồng thời phát bệnh, không phân trước sau thứ tự, gọi là “hợp bệnh”; hợp bệnh phần nhiều là nguyên phát.
Hợp bệnh có bốn loại: Thái dương–Dương minh hợp bệnh, Thái dương–Thiếu dương hợp bệnh, Thiếu dương–Dương minh hợp bệnh, Tam dương hợp bệnh.
Nếu một kinh bệnh chưa khỏi, rồi kinh khác lại khởi, có phân trước sau thứ tự, gọi là “tịnh bệnh”; tịnh bệnh phần nhiều là tiếp phát.
Tinh bệnh có hai loại: Thái dương–Dương minh tinh bệnh, Thái dương–Thiếu dương tinh bệnh.
Tam âm kinh tuy không gọi là hợp bệnh, tinh bệnh, nhưng thực có nội dung thực tế của nó, ở đây không bàn nhiều.
VI/ Pháp tắc trị liệu của 《Thương Hàn Luận》
《Thương Hàn Luận》 là bộ sách có tŕnh tự “lư–pháp–phương–dược”. “Lư” là lư của lục kinh biện chứng, phần trước đă giới thiệu. “Pháp” là phương pháp điều trị và nguyên tắc chỉ đạo điều trị. Biện chứng rốt cuộc nhằm mục đích điều trị; dùng phương pháp ǵ để trị, dùng nguyên tắc ǵ để chỉ đạo trị liệu, là một vấn đề quan trọng trong lâm sàng.
《Thương Hàn Luận》 về trị pháp, xác lập hai tiền đề: một gọi “âm dương tự ḥa”, một gọi “bảo vị khí, tồn tân dịch”.
Ư nghĩa “âm dương tự ḥa” là nói bệnh thuộc về gốc, gốc ở âm dương; âm dương bất ḥa th́ bệnh, khiến cho âm dương tự ḥa th́ bệnh lui. V́ vậy khi điều trị phải lấy tiền đề điều ḥa âm dương làm căn bản mà suy xét.
Tinh thần “bảo vị khí, tồn tân dịch” là nói khi trị bệnh phải đặt đúng quan hệ giữa người–bệnh–thuốc, trong đó “người” là chủ yếu. V́ trị bệnh dùng thuốc rốt cuộc là v́ con người, cho nên trị bệnh đừng làm tổn thương con người; do đó mới đề ra pháp tắc “bảo vị khí, tồn tân dịch”. Nếu không có khuôn phép này, rất có thể trong điều trị lại làm thương chính khí trước; chính khí đă thương th́ kháng tà vô lực, khiến tà khí tăng trưởng phát triển, làm điều trị rơi vào thế bị động.
Phương pháp trị bệnh của 《Thương Hàn Luận》, quy nạp lại có: Ma, Quế (chi) của hăn pháp; qua (lâu), (thị) đế của thổ pháp; Mang tiêu, Đại hoàng của hạ pháp;Can khương, phụ tử của ôn pháp; Hoàng cầm, Hoàng liên của thanh pháp; Nhân sâm, Cam thảo của bổ pháp; sài hồ, hoàng cầm của ḥa pháp; Thổ miết, thủy điệt làm hoàn của tiêu pháp v.v.
Bát pháp trị liệu của Trung y, từ 《Thương Hàn Luận》 mà thể hiện, hậu thế y gia tôn làm khuôn thước. Lâm sàng trị liệu không rời phạm vi “bát pháp”, cho nên nhất định phải dưới sự chỉ đạo đúng đắn của “pháp” rồi mới tiến hành lập phương dùng thuốc.
VII/ Phương tễ trong 《Thương Hàn Luận》
Ghi chép phương tễ trong y tịch cổ c̣n lưu lại, sớm nhất thấy ở 《Hoàng Đế Nội Kinh》, nhưng chỉ chép 13 phương, xa không đủ nhu cầu điều trị lâm sàng. Đến đời Hán, do dược vật không ngừng phong phú và phát triển, đặc biệt là sự ứng dụng rộng răi của phục phương, khiến phương tễ học về lư luận phối ngũ và thực tiễn lâm sàng đều tiến bộ rất lớn. Những thẻ gỗ y dược đời Hán được khai quật mấy năm gần đây, cung cấp cho ta chứng cứ văn vật đáng tin. Từ một lô y dược mộc giản Đông Hán đầu kỳ khai quật tại Vũ Uy Cam Túc tháng 12/1972 mà xem, trong đó có hơn 30 bài y phương, lại hầu như toàn là phục phương, dùng thuốc khoảng 100 vị; đủ thấy khi ấy phương dược đă đạt tŕnh độ khá cao. V́ vậy có thể thấy phương dược ghi trong 《Thương Hàn Luận》 không phải Trương Trọng Cảnh tự sáng tạo hoàn toàn; nhưng Trương Trọng Cảnh đối với việc kế thừa và phát huy di sản y học trước Hán, thông suốt một mạch “lư–pháp–phương–dược”, khai sáng nguyên tắc trị liệu “biện chứng luận trị”, đă có cống hiến trọng đại.
Phương tễ của 《Thương Hàn Luận》, trên nối Kỳ Hoàng, dưới truyền trăm đời, được tôn là “tổ của phương thư”; thành tựu chủ yếu có mấy điểm sau:
1. Thể hiện bát pháp trị liệu, trong ứng dụng cụ thể lâm sàng đặt nền cho lư luận “phương do pháp lập, pháp do phương hiển”.
2. Lập phương tinh giản, phối ngũ nghiêm mật, qua ức vạn lượt thực hành mà hiệu quả luôn rơ rệt.
3. Phương–chứng kết hợp chặt chẽ, quả thực giải quyết yêu cầu của “chứng”, thành hệ thống “có chứng tất có phương”.
4. Lập phương không câu nệ một lối, tùy chứng mà thi triển, không thiên chấp một nhà, có thể làm phép tắc cho hậu thế.

VIII/ Phương pháp học 《Thương Hàn Luận》
Học 《Thương Hàn Luận》, chủ yếu là học tư tưởng và phương pháp biện chứng luận trị của nó; muốn làm được điều này, phải đối với lư luận cơ bản của y học liên quan, đặc biệt là học thuyết âm dương, sinh lư và biến hóa bệnh lư của tạng phủ kinh lạc, dung hội quán thông (tích hợp và thấm nhuần kiến thức). Từ sự phản ánh khách quan của biến hóa chứng trạng mà phân tích, tổng hợp, quy nạp, biện định thuộc phạm vi lục kinh nào, để chế định (lập ra) phép trị liệu tương ứng. Đồng thời phải đọc đi đọc lại nguyên văn, lĩnh hội tinh thần trong sách, ghi nhớ đặc điểm chứng hậu, cũng như các điều nghi kỵ (nên hoặc cấm kỵ) của phương tễ, liều lượng lớn nhỏ, cách sắc uống và yêu cầu của “phương hậu chú” (những yêu cầu khi uống thuốc). Lại c̣n phải làm rơ quan hệ và ư nghĩa giữa các điều văn, để tăng thêm sự thể hội sâu sắc đối với nguyên văn; v́ vậy bài giảng thứ hai chuyên bàn về ư nghĩa tổ chức sắp xếp điều văn.
Học phương pháp lục kinh biện chứng phải kết hợp lâm sàng mà học; chủ trương của Trần Tu Viên về việc kết hợp xem bệnh với đọc sách là rất có lư, v́ học như vậy th́ thu hoạch lớn, mà đối với 《Thương Hàn Luận》 cũng có thể có chỗ phát triển.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-02-18 03:46:56
BÀI GIẢNG THỨ HAI: THỬ LUẬN VỀ Ư NGHĨA CỦA VIỆC TỔ CHỨC VÀ SẮP XẾP CÁC ĐIỀU VĂN TRONG 《THƯƠNG HÀN LUẬN》
Kết cấu văn chương của 《Thương Hàn Luận》 được cấu thành theo h́nh thức điều văn. Theo bản Tống của 《Thương Hàn Luận》 do Triệu Khai Mỹ phục khắc, có đến 398 điều. V́ 《Thương Hàn Luận》 dùng điều văn để biểu đạt phương pháp biện chứng luận trị, cho nên một trong những yêu cầu cơ bản khi học 《Thương Hàn Luận》 là phải hiểu ư nghĩa mối liên hệ tương hỗ giữa các điều văn với nhau.
Cần thấy rằng 398 điều của 《Thương Hàn Luận》 là một chỉnh thể hữu cơ; giữa các điều văn, dù hiển hay ẩn, dù trước hay sau, đều có liên hệ với nhau. Tác giả về mặt bút pháp đă phát huy đầy đủ thủ pháp hư thực phản chính, hàm súc thổ nạp, đối chiếu hỗ minh, lời gọn ư dài, nhờ đó diễn đạt trọn vẹn phương pháp biện chứng luận trị.
V́ vậy, học 《Thương Hàn Luận》 trước hết phải lĩnh hội ư nghĩa của sự sắp xếp và kết hợp các điều văn; trong mỗi nội dung phải nh́n ra bố cục và mục đích viết của tác giả, học được điều ở ngoài điều văn, cộng hưởng với tư tưởng của tác giả, th́ mới thể hội được thực chất tinh thần trong sách.
Dựa trên yêu cầu ấy, thử tŕnh bày quan hệ tương hỗ của 398 điều trong 《Thương Hàn Luận》 theo phạm vi lục kinh, để làm tài liệu tham khảo cho việc học 《Thương Hàn Luận》.
《Thái dương bệnh thượng thiên》 30 điều
Điều văn của 《Thái dương bệnh thượng thiên》 có 30 điều. Từ điều 1 đến điều 11 là cương lĩnh của toàn bộ sách, có ư nghĩa chỉ đạo cho toàn thư và thống lĩnh biện chứng.
Ví như nội dung điều 7 biện bệnh phát ở âm hay dương; nội dung điều 11 biện bệnh có chân giả hàn nhiệt. Được xem là cương yếu biện chứng về âm dương hàn nhiệt của lục kinh, xuyên suốt toàn thư, giữ địa vị chỉ đạo.
Nội dung điều 1 là tổng cương của Thái dương bệnh, phản ánh chứng hậu chung của biểu chứng; về sau phàm khi nói Thái dương bệnh đều lấy điều này làm chuẩn. Nội dung điều 2, 3 là dưới tổng cương Thái dương bệnh lại phân ra hai loại biểu chứng: trúng phong và thương hàn; hai điều đặt song song không phân trước sau, dụng ư ở chỗ đối chiếu để phát minh, nhằm tăng cường phân tích trong biện chứng luận trị.
Nội dung điều 6 luận về ôn bệnh, thoạt nh́n dường như có ư “ba chân vạc” cùng với trúng phong, thương hàn; nhưng nó không đặt song song với điều 3, hiển nhiên tác giả xem như một loại “loại chứng” của phong hàn mà viết ra.
Hai điều 4, 5 nên liên hệ mà thể hội, th́ sẽ biết tác giả muốn người học từ biến hóa của mạch và chứng mà biện phương pháp truyền kinh hay không truyền kinh.
Nội dung điều 8 luận về Thái dương bệnh bảy ngày tự khỏi là tà hành kinh tận; nếu lúc ấy tà khí không suy th́ có biến hóa truyền kinh. Tác giả chỉ người châm Túc Dương minh kinh khiến không truyền để ngăn tà. Điều đó nói rơ trong Thái dương bệnh có sự khác nhau giữa “truyền kinh” và “hành kinh”, đồng thời cũng nêu phương pháp pḥng ngừa truyền kinh, và đối với chữ “truyền” ở điều 4 cũng đưa ra đáp án.
Nội dung điều 9, 10 luận về thời điểm “dục giải” của Thái dương bệnh và số ngày chờ kỳ tự khỏi của Thái dương trúng phong. Nó nói rơ chính phục tà lui phải có điều kiện, phải đến khi theo thời nhật chính khí được vượng th́ mới “dục giải”; điều đó cho thấy thời gian và không gian đối với bệnh tật có ảnh hưởng, nên điều này có ư nghĩa lâm sàng.
Trên đây tổng cộng 11 điều, đều “có luận mà không có phương”; trọng điểm là biện âm dương hàn nhiệt, biện dị đồng của biểu bệnh, biện truyền biến của tà bệnh, biện thời điểm dục giải; đó là cương lĩnh của toàn thư, cũng có thể xem là tổng luận của 《Thái dương thiên》.
Điều 12 bàn chứng trúng phong của Thái dương bệnh, là bổ sung trên cơ sở điều 2 về bệnh lư và phép trị của trúng phong.
Cần chỉ ra rằng Trương Trọng Cảnh trước tiên nêu Quế chi thang không phải ngẫu nhiên, mà là để thuyết minh nguyên tắc trị bệnh cốt ở điều ḥa âm dương. Quế chi thang tư âm ḥa dương nên làm đầu các phương; nó quan trọng ngang với điều 7 nói về biện bệnh phát âm dương.
Nội dung điều 13 thoạt nh́n như trùng lặp với điều 12; thực ra điều này không nói “trúng phong” mà nói “Thái dương bệnh”, nên mở rộng phạm vi trị liệu của Quế chi thang, hàm ư sâu hơn điều 12 một tầng.
Các điều 14, 18, 20, 21, 22, 28 v.v. là luận về các phép gia giảm của Quế chi thang; cách sắp xếp trước sau của chúng rất gợi suy nghĩ.
Tác giả trước tiên từ điều 14 “cổ gáy cứng, kinh lạc không lợi” dùng Quế chi gia cát căn thang mở đầu; sau lấy chứng “đầu cổ cứng đau, nóng nhẹ bốc bốc, không mồ hôi, tâm hạ đầy hơi đau nhẹ, tiểu tiện bất lợi” dùng Quế chi khứ quế gia phục linh bạch truật thang kết thúc. Dụng ư là: đem biểu chứng do kinh lạc Thái dương vận hành không thuận lợi xếp ở trước; c̣n Thái dương bệnh thuộc phủ (thiên về lư) th́ xếp ở sau; qua đó phân chia hai phép trị: phát hăn và lợi tiểu, để thể hiện ư nghĩa Thái dương bệnh “kinh–phủ” khác nhau th́ trị pháp khác nhau.
Sau các chứng gia giảm của Quế chi thang, c̣n xen vào chứng cấm kỵ của Quế chi thang, lập luận cả hai mặt thuận–nghịch, giúp dùng Quế chi thang được sử dụng chính xác.
Nội dung điều 15 bàn sau khi dùng hạ pháp sai lầm, Thái dương chi khí xung lên hay không xung lên; nếu không xung lên th́ cấm dùng Quế chi thang. Giải thích “khí thượng xung” có nhiều thuyết; nếu đối chiếu với câu “dương khí nội hăm” ở điều 134 th́ biết “khí thượng xung” tức là chưa đến mức dương khí hạ hăm, là nghĩa đối nhau.
Nội dung điều 16 bàn “hoại bệnh” không thể dùng Quế chi thang; và nói rơ đạo lư Thái dương bệnh không mồ hôi, biểu thực chặt (tế khẩn 际紧) cũng không thể dùng Quế chi thang.
Ba điều 23, 25, 27 bàn chứng trị của các phương hợp Quế–Ma. Khi Thái dương tiểu tà chưa giải, hoặc hàn nhiệt như ngược (sốt rét), hoặc nhiệt nhiều ít khác nhau, hoặc không ra mồ hôi nhẹ mà sau khi ra th́ thân tất ngứa. Lúc này nếu chỉ dùng Quế chi thang th́ ngại chậm, chỉ dùng Ma hoàng thang lại sợ quá gắt, nên hợp dùng hai phương, mà lại lấy Quế chi đứng đầu, hàm ư tôn chỉ “hộ chính khu tà”.
Nhưng câu “đây là vô dương vậy” ở điều 27, ư kiến các nhà chú giải khá bất nhất. Tôi cho rằng nếu hiểu là Thái dương biểu hàn sắp hết mà muốn giải, th́ gần đúng. Có thể tham khảo câu “vô dương tắc âm độc” ở điều 153; theo chú thích của Thành Vô Kỷ “biểu chứng hết th́ gọi là vô dương”, th́ nghĩa tự rơ.
Một ư nghĩa khác của phương hợp Quế–Ma là: tác giả lấy nó làm nét bút dẫn tuyến, từ chứng Quế chi thang ở 《Thái dương bệnh thượng thiên》 chuyển sang chứng Ma hoàng thang ở 《Thái dương bệnh trung thiên》, hàm ư tiến triển có thứ tự.
Điều 29 thoạt nh́n là bàn chứng cấm kỵ của Quế chi thang, nhưng nó bao hàm sự bổ bút cho điều 16 “quan kỳ mạch chứng, tri phạm hà nghịch, tùy chứng trị chi” (Xem xét mạch chứng, biết phạm nghịch ǵ, tuỳ chứng mà điều trị); cụ thể là nó làm mẫu mực cho việc “tùy chứng thi trị”. C̣n điều 30 chỉ là chú văn cho điều 29 mà thôi.
II/ 《Thái dương bệnh trung thiên》 97 điều
Điều văn của 《Thái dương bệnh trung thiên》 có 97 điều, từ điều 31 đến điều 127.
Nội dung điều 31, 33 bàn chứng Cát căn thang và chứng gia thêm. Trong đó điều 31 nên so sánh với điều 14; điều 32 lại nên đối chiếu với điều 36; rồi mới xét rơ: “cổ gáy cứng” có mồ hôi hay không mồ hôi khác nhau ra sao; “nhị dương hợp bệnh” khác nhau ở chỗ hạ lợi và bĩ đầy như thế nào. C̣n điều 34 nói dùng hạ pháp sai khiến hạ lợi không dứt, lại nên đối chiếu với câu “nhị dương hợp bệnh tất tự hạ lợi”, để biện một chứng “hạ lợi” mà biểu–lư, hàn–nhiệt có những khác biệt cụ thể.
Nội dung điều 35 là bổ sung trên cơ sở điều 3: thương hàn không mồ hôi mà suyễn và trị pháp Ma hoàng thang. Điều này cũng nên so sánh với chứng Quế chi thang ở điều 12 để thấy phép biện chứng: có mồ hôi là hư, không mồ hôi là thực.
Nội dung điều 36, 37 tiếp tục bàn chứng Ma hoàng thang, nhưng trọng điểm biện chứng mỗi điều khác nhau: điều 36 từ chứng mà biện “suyễn”; điều 37 từ mạch mà biện “phù”; cho thấy việc dùng Ma hoàng thang điều trị là có căn cứ.
Nội dung các điều 38, 39, 40, 41 v.v. luận về các chứng gia giảm của Ma hoàng thang, có đặc điểm biểu–lư kiêm trị.
Điều 38, 39 là chứng Đại thanh long thang, then chốt ở “không ra mồ hôi mà phiền táo”; điều 40, Điều 41 là chứng Tiểu thanh long thang, then chốt ở chỗ biểu chưa giải mà tâm hạ có thủy khí. Đại thanh long thang kiêm nội nhiệt, Tiểu thanh long thang kiêm nội ẩm, cho nên hai điều sắp xếp liền nhau để làm tư liệu đối chiếu phát minh (làm rơ) lẫn nhau.
Các điều 42, 43, 44, 45 v.v., sau Ma hoàng thang lại bàn chứng Quế chi thang để thay thế chỗ Ma hoàng thang trị chưa đến. Chỗ nối mạch là như điều 38 nói: “Mạch chỉ phù th́ dùng Ma hoàng thang”; nếu ngoại tà chưa giải mà mạch phù nhược th́ không dùng Ma hoàng, nên dùng Quế chi thang là hợp.
Điều 41 nói ho mà hơi “suyễn” th́ dùng Tiểu thanh long thang; nhưng điều 43 nói “hạ chi vi suyễn” th́ không thể dùng Tiểu thanh long thang mà dùng Quế chi gia hậu phác hạnh nhân thang, nhằm nêu rơ Quế chi và Ma hoàng khi trị “suyễn” có điểm khác nhau. Nội dung điều 44 bàn ngoại chứng chưa giải th́ không thể hạ; suy từ văn nghĩa hẳn có chứng không đại tiện; trị nên giải biểu trước, nên dùng Quế chi thang, và cấm dùng Ma hoàng thang, sợ ra mồ hôi quá làm tổn thương tân dịch, trái lại giúp táo của vị trường. Điều này nên kết hợp(参 )với điều 56 ở dưới th́ ư nghĩa càng rơ.
Điều 45 bàn sau khi đă phát hăn và hạ, mạch vẫn phù không khỏi; thoạt nh́n giống chứng Ma hoàng thang ở điều 37, nhưng ở đây lại dùng Quế chi thang. Tác giả cân nhắc rằng sau phát hăn, hạ pháp, đă khó chịu nổi tính mănh liệt của Ma hoàng thang.
Qua các điều văn trên có thể thấy: tác giả sau Quế chi thang th́ bàn phương hợp Quế–Ma; sau phương hợp Quế–Ma lại bàn Ma hoàng thang; sau Ma hoàng thang lại bàn Quế chi thang. Quế chi thang tuy một phương, nhưng cách dùng tùy chứng mà khác. Nói chung không mồ hôi th́ không dùng Quế chi, nhưng điều 56 không nêu “có mồ hôi” mà vẫn dùng Quế chi; văn nghĩa càng về sau càng sâu, phạm vi điều trị của Quế chi thang v́ vậy cũng càng rộng.
Điều 46 bàn t́nh trạng chứng sau khi uống Ma hoàng thang; ư nghĩa của nó giống điều 24 “uống Quế chi thang rồi mà phiền vẫn không giải”. Nhưng điều 24 là trước dùng châm thích(刺), rồi mới uống Quế chi thang; c̣n điều 46 là trước uống Ma hoàng thang phát hăn để chính khí kháng cự tà ra ngoài, nên tiếp đó chảy máu mũi th́ giải.
Điều 47 trước bàn thương hàn vô hăn (không mồ hôi), người thân cường (thân thể mạnh khoẻ) th́ có chảy máu mũi để thay cho cơ chế ra mồ hôi. Nếu đem so với phép Ma hoàng thang phát hăn ở điều 35 mà hợp tham (kết hợp), sẽ thấy ư “mồ hôi và huyết đồng nguồn, khác đường mà đồng quy” vậy.
Điều 48 bàn nguyên nhân h́nh thành “nhị dương tịnh bệnh”, cùng đặc điểm của Dương minh kinh chứng, phủ chứng, và mạch chứng do phát hăn không triệt để. Nếu so với điều 32 th́ phân biệt được chứng hậu候 khác nhau giữa “hợp bệnh” và “tịnh bệnh”.
Điều 49, 50 bàn các mạch không được phát hăn; điều 51, 52 bàn rằng nếu người ấy mạch ở xích không vi, không trầm, không tŕ mà phù sác, th́ vẫn có thể dùng Ma hoàng thang để phát tán biểu tà. Tuy chỉ nói mạch, nhưng chứng hậu候 cũng bao gồm trong đó.
Nội dung điều 53, 54 bàn chứng Quế chi thang “do doanh vệ bất ḥa”; mở đầu điều không liên quan đến trúng phong, hàn mà xưng “bệnh”, cho thấy điều này không liên quan trúng phong, mà đă liên đới sang phạm vi tạp bệnh.
Nội dung điều 55 nên đối chiếu với điều 47 để thấy chảy máu mũi trong thương hàn có phân giải hay không giải. Nếu chảy máu ít mà tà không ra, th́ lại nên dùng Ma hoàng thang phát hăn, vượt tà ở doanh phận ra ngoài, th́ chảy máu mũi cũng theo đó mà khỏi.
Điều 46 là “trước uống Ma hoàng thang mà bệnh không giải, sau chảy máu mũi th́ giải”; điều 55 lại là “trước chảy máu mũi mà không giải, sau dùng Ma hoàng thang phát hăn th́ giải”. Điều 55 thuộc “không phát hăn nên dẫn đến chảy máu mũi”; điều 47 thuộc “thân không mồ hôi mà tự chảy máu mũi th́ khỏi”. Mấy điều này nếu không liên hệ mà xem th́ thấy đầu không thấy cuối, liền thấy nhạt nhẽo vô vị.
Đến các điều 56, 57 bàn: dùng Ma hoàng thang phát hăn, nửa ngày sau bệnh lại phiền không giải; hoặc không đại tiện sáu bảy ngày, đầu đau có nhiệt mà tiểu tiện trong trắng; đều nên dùng Quế chi thang giải ngoại tà trước, để thay cho phép trị bằng Ma hoàng thang.
Hai điều 58, 59 đặt trước các biến chứng do trị sai, là sau khi đă biện “bệnh phát âm dương”, lại chỉ người rằng trị bệnh có thể khiến “âm dương tự ḥa” mới là tông chỉ khỏi bệnh. V́ thế, nó có ư nghĩa chỉ đạo đối với các điều 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70 v.v., nêu nguyên tắc cứu trị các “hoại chứng”.
Trong các biến chứng do trị sai từ điều 60 đến 70, có trong ngoài đều hư mà thân thể rét run; có dương hư âm thịnh mà phiền táo; có doanh vệ đều hư mà thân thể đau; có phế nhiệt gây suyễn(喘), tâm hư gây hồi hộp (悸), tỳ hư gây trướng; có thủy xen lẫn can khí nghịch lên, dưới rốn bồn chồn muốn phát “bôn đồn”; và các phân biệt như sau khi xuất mồ hôi mà ớn lạnh (ố hàn) là hư, không ố hàn chỉ phát nhiệt là thực… gồm các chứng biểu, lư, hàn, nhiệt, hư, thực, ngũ tạng lục phủ, phản ánh một mô thức biện chứng điển h́nh nơi thương hàn cùng tạp bệnh được bàn chung.
Các điều 71, 72, 73, 74 v.v. bàn chứng “bàng quang trữ thủy” khi Thái dương bệnh biểu lư đều chưa giải, lấy chứng trạng “khát muốn uống mà tiểu tiện bất lợi” làm chủ. Ở đây tác giả dùng bút pháp giả định chủ đề: trước luận chứng thiếu tân dịch do vị trung khô táo, phiền táo mất ngủ, muốn uống nước; rồi dẫn ra là nếu mạch phù, tiểu tiện bất lợi, hơi nhiệt tiêu khát là chứng trữ thủy. Một là thiếu tân dịch, một là tân ngưng trệ không hóa; bệnh lư khác nhau nhưng chứng hậu候 dễ lẫn, nên đem đối chiếu phân tích, nhờ đó thấy phép biện chứng.
Điều 75 bàn phát hăn quá nặng làm tổn thương cả dương khí của tâm và thận, khiến tâm hồi hộp悸 muốn ấn và hai tai ù điếc; nên so với điều 64 “người ấy chắp tay tự đè tâm, tâm hạ hồi hộp muốn được ấn nắn” để thấy chứng có nhẹ nặng, trị có phân biệt.
Các điều 76, 77, 78, 79, 80 v.v. bàn về các chứng hư phiền do hung trung hỏa uất. Về bệnh lư, thủy tích ở dưới mà hỏa bốc ở trên, nên chứng Chi tử thang đặt sau chứng Ngũ linh tán hàm ư biện thủy hỏa hai chứng. Một ư nghĩa khác: Thái dương bệnh nếu từ kinh truyền vào phủ th́ chủ về trữ thủy; nếu từ biểu truyền lư mà tà khí tất trước tiên xâm nhập hung (lồng ngực), nên sinh chứng “hung trung hỏa uất” kiểu hư nhiệt bốc lên. Hỏa uất ở ngực th́ trong tâm bứt rứt; khí không lợi th́ đầy tức ngực; huyết không lợi th́ tâm trung kết thống; nếu lan xuống nhập vị th́ tâm phiền đầy bụng, nằm ngồi không yên; nếu hung nhiệt mà tỳ hàn th́ đại tiện tất đường (lỏng nát) mà lại thân nhiệt phiền.
Điều 81 bàn chứng cấm kỵ của Chi tử thị thang.
Điều 82 bàn chứng Chân vũ thang do dương hư mà thủy khí tràn lan, cũng hàm ư nghĩa biện chứng “thủy hạ hỏa thượng”.
Từ điều 83 đến 89 bàn “không thể phát hăn”, là chỉ các chứng cấm kỵ của Ma hoàng thang. “Không thể phát hăn” là nói người tuy mắc thương hàn nhưng có các chứng chính khí bất túc như âm dương, khí huyết, doanh vệ, tân dịch v.v., nên không thể phát hăn. Nếu cưỡng phát mồ hôi của người hư, th́ có các nghịch chứng như tiện huyết, phát kinh, phiền… không ngủ, hàn quyết mà rung v.v. Nếu kết hợp với điều 49 “xích trung mạch vi” và điều 50 “xích trung mạch tŕ” mà xem, th́ mạch chứng cấm kỵ càng rơ.
Các điều 90, 91, 92 bàn bệnh có phân “trước hăn sau hạ”, cũng có biến “trước hạ sau hăn”; lại có khác nhau giữa trị “biểu lư cấp” và “lưỡng cảm” phong hàn: hoặc kiêm trị hoặc chuyên trị. Sau khi nêu cấm hăn, lại đưa ra cái ǵ là trị trước, cái ǵ là trị sau, cái ǵ là trị gấp, cái ǵ là trị chậm, cái ǵ là kiêm trị, cái ǵ là chuyên trị; thật có ư nghĩa khoa học vừa tổng kết phần trước vừa chỉ đạo phần sau.
Ba điều 93, 94, 95 đặt song song, phân tích ba cơ chế khác nhau của việc “không do lực thuốc mà tự ra mồ hôi”: điều 93 “mạo hăn” có thể quy lỗi về hư; điều 94 “chiến hăn” là tà đă giải ra ngoài; điều 95 “tự hăn” là vệ mạnh doanh yếu khiến tà phong không đi. Ba loại ra mồ hôi đem so sánh nhau để tăng cường tư duy biện chứng của người đọc.
Trương Trọng Cảnh viết đến điều 95, đă bàn đủ chứng trị kinh–phủ của Thái dương, phát hăn và cấm hăn cũng không c̣n ǵ phải bàn thêm, bèn từ phương diện Thái dương bệnh chuyển sang chứng trị Thiếu dương bệnh. Liên hệ với “nhị dương hợp bệnh” và “nhị dương tinh bệnh” (cùng bệnh) trước đó, có thể thấy bệnh tà từ Thái dương truyền nhập không nhất thiết cố định là truyền trước vào kinh nào.
Điều 96 bàn chứng hậu (hội chứng) và trị pháp tà truyền Thiếu dương, cũng có thể kết hợp với câu ở điều 37: “Nếu hung măn hiếp thống (ngực đầy sườn đau) th́ dùng Tiểu sài hồ thang”.
Điều 97 bàn người huyết khí hư suy, tà trúng Thiếu dương mà đánh vào hiếp hạ; so với điều 96 th́ có hai h́nh thức khác nhau: kế phát và nguyên phát.
Điều 98 bàn chứng cấm kỵ của Tiểu sài hồ thang: bệnh do thấp, ẩm làm tổn thương mà giống Thiếu dương, thực ra không phải Thiếu dương chứng; nếu đối chiếu với điều 99 về Tiểu sài hồ thang th́ nghi kỵ (điều nên và cấm kỵ) trong trị liệu sẽ tự rơ. Điều 100 bàn chứng trị Thiếu dương hiệp hư; điều 101 bàn trị Thiếu dương chứng không nhất thiết phải đủ hết, và trường hợp hạ nhầm Thiếu dương mà Sài hồ chứng chưa dứt, theo lư vẫn có thể lại dùng Tiểu sài hồ thang.
Điều 102 bàn chứng Tiểu kiến trung thang của chứng thương hàn hiệp hư; nó vừa có thể đối chiếu với điều 100, lại nên tham chiếu với điều 50 “mạch xích trung tŕ th́ không thể phát hăn”, để bổ sung phép trị thương hàn của người hư yếu bằng Tiểu kiến trung thang.
V́ Tiểu sài hồ thang là đại biểu của các phương “Sài hồ gia giảm”, cho nên trên tiền đề chủ chứng của Tiểu sài hồ thang: điều 103 bàn chứng Đại sài hồ thang (Thiếu dương kiêm Dương minh); điều 104 bàn chứng Sài hồ gia mang tiêu thang (Thiếu dương kiêm triều nhiệt); điều 105 bàn chứng Điều vị thừa khí thang do vị táo nội thực, gây Dương minh nói sảng; điều 106 bàn Thái dương bệnh không giải, nhiệt kết bàng quang, người như cuồng mà thiếu phúc cấp kết (bụng dưới cấp bách) — chứng Đào nhân thừa khí thang. Điều này đặt sau Đại sài hồ thang, dụng ư của tác giả là: hung hiếp măn dùng Tiểu sài hồ thang; tâm hạ cấp dùng Đại sài hồ thang; c̣n thiếu phúc cấp kết th́ dùng Đào nhân thừa khí thang. Nhằm nêu biện: thượng tiêu khí uất, trung tiêu nhiệt kết, hạ tiêu huyết ứ; cách viết đem khí uất và huyết ứ cùng nêu song hành rất gợi mở cho người đọc.
Điều 107 bàn Sài hồ thang gia long cốt mẫu lệ, đặt sau thang Đào hạch thừa khí là v́ c̣n có các chứng tinh thần như hung măn phiền kinh, nói sảng v.v., để đối chiếu phân biệt với chứng “trữ huyết như cuồng, thiếu phúc cấp kết” của Đào hạch thừa khí thang, rồi mới biết đặc điểm bệnh cơ mỗi bên.
Điều 108, 109 bàn sự biến hóa tà ở can đởm truyền tỳ, thừa phế; “nhật tung nhật hoành” hàm ư khíkháng亢 vọng hành, không bị ước chế.
Từ điều 110 đến 119 bàn các hoại chứng do dùng sai hỏa liệu; thời Hậu Hán phép này dùng khá rộng, nên luận mặt có hại đối với bệnh. C̣n các phương như Cứu nghịch thang, Quế chi gia quế thang, Quế chi cam thảo long cốt mẫu lệ thang… trong lâm sàng vẫn được nhiều y gia dùng rộng răi và được coi trọng.
Các điều 120, 121, 122, 123 bàn biến chứng do dùng thổ pháp sai trong Thái dương bệnh: điều 120 bàn sau thổ mà trúng hàn; điều 121 bàn sau thổ mà nội phiền; điều 122 bàn sau thổ mà khách nhiệt không thể tiêu cốc; điều 123 bàn Thái dương bệnh bị thổ hạ quá mức, vị trung bất ḥa mà uất uất vi phiền. Sau thổ chia bốn chứng, có hàn có nhiệt, nên đối chiếu nhau để tận dụng sở trường biện chứng.
Điều 124, 125, 126 luận về chứng “nhiệt và huyết kết” do tà của Thái dương theo kinh nhập lư; nên đem đối chiếu với chứng ở điều 106 dùng Đào hạch thừa khí thang, để biện rơ ba t́nh huống bệnh: nhiệt thắng hơn ứ; ứ thắng hơn nhiệt; và đàm nhiệt khá nhẹ.
Điều 127 luận về chứng Thái dương “súc thuỷ” (ứ nước). Nếu tiểu tiện lợi (thông suốt) th́ thuộc chứng Phục linh cam thảo thang: do uống nhiều nước mà tâm hạ quư (hồi hộp vùng thượng vị). Nếu tiểu tiện ít th́ thuộc chứng Ngũ linh tán: sau khi uống nước ắt sẽ “khổ lư cấp” (bức bách, gấp gáp ở bên trong). Điều này nên liên hệ với điều 73 th́ ư nghĩa mới đầy đủ.
III/ “Thái dương bệnh hạ thiên” (太阳病下篇): 50 điều.
“Thái dương bệnh hạ thiên” có tổng cộng 50 điều, từ điều 128 đến điều 178. Điều 128–129 luận về chứng trạng của kết hung (结胸) và tạng kết (脏结); đem kết hung và tạng kết đặt song song mà luận là lối viết đối chiếu hư–thực: lại lấy kết hung là thực, tạng kết là hư; kết hung là nhiệt, tạng kết là hàn, rồi đối chiếu phát huy lẫn nhau để tăng cường nhận thức biện chứng. Điều 130 bàn “tạng kết không có dương chứng”, điều 131 bàn nguyên nhân h́nh thành của kết hung và tâm hạ bĩ (心下痞); từ tạng kết mà luận kết hung không chỉ là phát minh qua lại, mà c̣n hàm ư “giả khách (tân) định chủ”. Điều 132–133 bàn rằng kết hung nếu hạ quá sớm th́ chết; nhưng đáng hạ mà không hạ khiến t́nh thế bệnh thêm kịch liệt th́ cũng chết; gộp hai điều mà lĩnh hội th́ ư nghĩa càng nổi bật. Điều 134 bàn chứng đại kết hung (大结胸) do hạ lầm (误下) khiến nhiệt cùng thuỷ kết, cùng phép trị; trong đó “dương khí nội hăm” (阳气内陷) đối ứng xa với điều 15 “khí thượng xung” (其气上冲), để nói rơ hai khả năng sau khi hạ lầm: nếu hạ lầm mà không thành kết hung, mà nhiệt với thấp kết gây tiểu tiện bất lợi, th́ thân tất phát hoàng; nhờ vậy biện cùng một hạ lầm mà có khác nhau giữa “thuỷ kết” và “thấp uất”. Điều 135 nêu ba chứng của kết hung: mạch trầm khẩn, tâm hạ đau, ấn vào cứng như đá; nắm chắc ba chứng th́ biện kết hung sẽ “trong ḷng có số” (hiểu rơ vấn đề). Điều 136–137 bàn phân biệt, phân tích giữa kết hung với chứng Đại sài hồ thang (大柴胡汤证) và chứng Đại thừa khí thang (大承气汤证), để tránh lẫn lộn các chứng. Điều 138 nêu ba chứng của tiểu kết hung (小结胸): chính ở tâm hạ, ấn vào th́ đau, mạch phù hoạt; nên đối chiếu với ba chứng đại kết hung ở điều 135 để phân tích, th́ phân biệt lớn–nhỏ tự nhiên rơ ràng. Điều 139 nói người ấy vốn có chứng “ẩm” do uống nước đọng ở trong, ở tâm hạ; nếu tà Thái dương hoá nhiệt nhập lư, cùng “ẩm” giao nhau, th́ thành kết hung; nếu không thành kết hung mà lại lầm hạ khiến hạ lợi không cầm, th́ gọi là “hiệp nhiệt lợi” (协热利); điều này cho thấy một nguyên nhân hạ lầm có thể phát sinh hai h́nh thái bệnh khác nhau. Điều 140 bàn phép “nhận chứng trước từ mạch” (先脉识证), để làm rơ sự phát sinh biến chứng kiểu “hạ lầm rồi phải cầu cứu/cứu chữa” (误下请救变证).
Điều 141 bàn dùng “thuỷ liệu” (nôn/tẩy bằng nước) để trừ nhiệt, nhưng nhiệt bị uất lại không thoát, khiến tà nhiệt bị che lấp ở phần biểu, mà thành chứng “b́ hạ thuỷ uất” (dưới da có nước); đồng thời thiết lập chứng hậu của kết hung hàn–thực. Từ các điều trên như 128, 131, 132, 133, 134, 135, 136, 137… mà xét, tác giả tập trung tŕnh bày một loạt vấn đề của đại kết hung: nguyên nhân bệnh (cơ chế h́nh thành), biện chứng và trị pháp, cấm kỵ, tiên hậu…; c̣n hai điều 129, 130 bàn nguyên nhân của tạng kết, th́ thiên về “chứng hậu” mà lược về “trị pháp”, v́ vậy nên xem là thuộc “thực chứng” của kết hung. Điều 142 bàn Thái dương kiêm bệnh, v́ chứng này có đặc điểm “thời như kết hung” (có lúc giống kết hung), nên đặt sau chứng kết hung để làm rơ chỗ khác biệt. Điều 143, 144, 145 ba điều bàn chứng trị “phụ nhân nhiệt nhập huyết thất” (nữ giới nhiệt tà nhập huyết thất); chứng này có liên quan Thiếu dương, lại có đặc điểm “như kết hung trạng”, tác giả đặt sau Thái dương kiêm bệnh, đồng thời lại phân biệt với chứng kết hung; sự tinh diệu trong văn pháp khiến người đọc suy ngẫm sâu.
Điều 146 bàn về Thái dương và Thiếu dương cùng bệnh. Điều 147 bàn về Thiếu dương bệnh kiêm chứng Tỳ hàn của Thái âm. Điều 148 bàn về phân tích “dương vi kết” của chứng Thiếu dương và “thuần âm kết”, qua đó cho thấy sự thật: Thiếu dương làm bệnh th́ biến hóa đa đoan (muôn mặt).
Điều 149 bàn về một chứng mà có ba biến, nêu phép biện chứng khiến người đọc bị cuốn hút, đồng thời mở ra đầu mối biện trị chứng tâm hạ bĩ.
Điều 151 bàn về đặc điểm của chứng bĩ, tuy viết không nhiều, nhưng là nét bút điểm nhăn, như vẽ rồng chấm mắt.
Hai điều 152 và 153: một bàn thực chứng, một bàn hư chứng, nhưng đều thấy tâm hạ bĩ, lại không thuộc trường hợp “chủ chứng”, nên có thể xem là các chứng tương tự của tâm hạ bĩ.
Điều 154 bàn về nhiệt bĩ, lấy mạch Quan phù làm căn cứ. Trên tiền đề nhiệt bĩ, điều 155 lại bàn về loại bĩ “trên nhiệt dưới hàn” có mồ hôi ra mà ác hàn; hai điều liền nhau cho thấy biện chứng được h́nh thành do các điều kiện liên quan lẫn nhau.
Điều 156 bàn về thủy bĩ, then chốt biện chứng là tiểu tiện bất lợi. Điều 157 bàn về bĩ do ẩm khí; nó có liên hệ nội tại với thủy, có thể hỗ trợ phát huy lẫn nhau. Điều 158 bàn về bĩ do Tỳ hư, khách khí thượng nghịch; bĩ và lợi đều nặng, lại kèm tâm phiền không yên. Tâm hạ bĩ là chứng Vị khí không ḥa; nếu không dùng Tả tâm thang mà lầm dùng phép công hạ, sẽ khiến người bệnh hạ lợi không dứt.
V́ vậy điều 159 nhắm vào chứng hạ lợi, nêu ra các phép biện chứng và trị pháp khác nhau như dùng Lư trung, cố sáp hạ tiêu, lợi tiểu tiện…
Điều 160 luận thuỷ khí bĩ mà khí huyết hư suy, lâu không khỏi th́ thành nuy;
điều 161 luận ứ đàm hiệp can khí mà thành bĩ, lại có ợ hơi không trừ; điều 163 luận hiệp nhiệt hạ lợi, tâm hạ bĩ ngạnh mà biểu lư không giải.
Điều 164 luận tâm hạ bĩ mà biểu chưa giải, nên trước giải biểu, sau trị bĩ; điều 165 luận can vị khí kết, thượng thổ hạ tả mà tâm hạ thành bĩ. Điều 166 luận “hung trung hàn” (hàn bĩ ở ngực) thuộc chứng có thể dùng phép thổ; điều 167 luận hạ sườn vốn có bĩ là tử chứng tạng kết.
Từ các điều 149 đến 167 nói trên đều xoay quanh chứng hậu của “bĩ”: hoặc ở tâm hạ (dưới tâm), hoặc ở hiếp hạ (dưới sườn), hoặc ở hung trung (trong ngực); hoặc hư hoặc thực; hoặc hàn hoặc nhiệt; hoặc hàn nhiệt đan xen; trong đó phân tích biện chứng khiến người đọc ngẫm măi không hết. Điều 168–169 bàn chứng Bạch hổ gia nhân sâm thang; điều 170 bàn chứng cấm kỵ của Bạch hổ thang, nhằm phản ánh rằng bệnh tà của Thái dương đă có cơ truyền sang Thiếu dương, cũng có khả năng truyền sang Dương minh; nếu truy lại văn ở điều 96 th́ ư nghĩa tự rơ.
Điều 171 bàn Thái dương–Thiếu dương “tịnh bệnh” (并病); điều 172 bàn Thái dương–Thiếu dương “hợp bệnh” (合病). Tiếp sau chứng Bạch hổ thang lại luận đến Thiếu dương, để cho thấy tà truyền nhập là do người mà khác, vốn không có nghĩa cố định. Điều 173 luận hung nhiệt, vị hàn mà không thành bĩ, cho thấy bệnh cơ tương tự nhưng chứng trạng khác nhau. Điều 174–175 luận hàn thấp tê thống, thuộc loại chứng “ thương hàn”, cũng là đoạn văn cộng luận Thương hàn và tạp bệnh. Điều 177 luận Thương hàn mạch kết đại, tâm động quư, để chỉ ra bệnh tuy khởi từ Thái dương, nhưng rốt cuộc liên luỵ đến Thiếu âm, nhờ đó thấy được ư nghĩa âm dương biểu lư phối hợp tương xứng.
IV/ “Dương minh bệnh thiên” (阳明病篇): 84 điều.
“Dương minh bệnh thiên” có tổng cộng 84 điều, từ điều 179 đến điều 262. Điều 179 bàn lư thực chứng của Dương minh bệnh, nguyên nhân tuy có ba, nhưng lấy “chính dương Dương minh” làm chủ.
Điều 180 bàn cương lĩnh chứng của Dương minh bệnh là “vị gia thực” (胃家实). Ư ở ngoài lời là: nếu biện ra được cái “thực” của Dương minh th́ mới đạt yêu cầu biện chứng. Điều 181 bàn nguyên nhân Dương minh bệnh; điều 182 bàn ngoại chứng của Dương minh; điều 183 bàn Dương minh bệnh không có chỗ “phục truyền”; điều 184 bàn Dương minh bệnh lúc đầu ố hàn (ghét lạnh), sau liền phản hăn xuất ố nhiệt (ghét nóng). Mấy điều này đều nêu các loại đặc điểm của Dương minh bệnh lấy “lư thực” làm hạch tâm. Điều 185 bàn phát hăn không triệt để mà bệnh tà truyền Dương minh; nếu đă truyền Dương minh th́ thấy y phục thấm mồ hôi mà ra; điều 186 nhằm vào câu ở điều 183 “bệnh có được một ngày, không phát nhiệt mà ố hàn”, và câu ở điều 184 “mới đầu ố hàn, đến ngày thứ hai tự dừng”, liền tiếp tục lại gọi “Thương hàn ba ngày, mạch Dương minh đại”. Từ điều 179 đến 186 là tổng luận về Dương minh “táo nhiệt thành bệnh”, tác giả nhấn mạnh: Dương minh lư chứng không đại tiện và ngoại chứng thân nóng mồ hôi tự ra mà không ố hàn là những điểm then chốt trước mắt.
Điều 187 bàn Dương minh và Thái âm tương biểu lư, có hai kiểu biến hoá bệnh lư: “từ thấp hoá” và “từ táo hoá”; điều 188 tiếp điều 186 nói rằng tà Thương hàn thuộc Dương minh mà không phạm tỳ th́ người bệnh có thể thấy “trấp trấp nhiên hăn xuất” (mồ hôi rịn ra lấm tấm). Điều 189 bàn Dương minh trúng phong, do tà khí “phù việt” ở ngoài nên không thể hạ; đối chiếu với điều 188 th́ là tà đă truyền lư nên mồ hôi rịn ra mà không ố hàn. Điều 190 lấy việc có thể ăn hay không ăn để biện “trúng nhiệt” và “trúng hàn”; có thể thấy tác giả hữu ư đem Thương hàn và tạp bệnh mà cùng luận ở đây.
Điều 191 bàn Dương minh trúng hàn không thể ăn: đó không phải không thể ăn do táo uất nội kết, mà là do trung khí hư khiến tay chân rịn mồ hôi; không phải do vị thực khiến tay chân rịn mồ hôi; tuy đại tiện cứng, nhưng chỉ là lúc đầu cứng, về sau tất lỏng—đây là muốn làm biểu hiện “cố giả” (固瘕) (tiên ngạnh hậu đường)…
, không phải là Dương minh bệnh thuộc “vị gia thực”. Điều này đứng từ góc độ tạp bệnh mà đối chiếu với phép “vị gia thực” của Thương hàn.
Điều 192 bàn chứng hàn thấp của Dương minh bệnh: nếu vị khí đă hồi phục, cốc khí thắng, th́ có cơ may ra mồ hôi mà giải.
Điều 193 luận về khi Dương minh bệnh muốn giải, lại đặt sau “cốc khí thắng”, tức có ư nghĩa là “chính phục th́ tà thoái”.
Điều 194 lấy không thể ăn và mạch tŕ để biện Dương minh vị khí hư, nên không thể dùng phép hạ, cần cùng tham khảo với điều 191.
Điều 195 bàn “mạch tŕ” của Dương minh bệnh thuộc cốc đản, tuy hạ nhưng bụng dưới trướng đầy như cái trống.
Điều 196–197 bàn cơ lư “hữu hăn tắc thực, vô hăn phản vi hư” (có mồ hôi là thực, không mồ hôi trái lại là hư). Có thể thấy trong Dương minh bệnh cũng có hàn chứng, thấp chứng, hư chứng; không phải chỉ bàn riêng một bệnh Thương hàn, mà c̣n kiêm luận tạp bệnh.
Điều 198 bàn hoả tà của Dương minh thượng viêm (bốc lên); điều 199–200 bàn chứng thấp nhiệt phát hoàng.
Điều 201–202–203–204–205 bàn Dương minh nhiệt ở ngoài mà chưa nhập lư, v́ “lư chưa thực” nên cấm dùng phép công hạ.
Điều 207 bàn “Dương minh bệnh có thể hạ” thuộc khinh chứng (chứng nhẹ), nên đối chiếu lẫn nhau với điều 208.
Điều 208 bàn táo thỉ (phân khô) có thể hạ, mấu chốt là có “triều nhiệt” (潮热); nếu nhiệt không triều, dù bụng trướng mà đại tiện không thông, cũng không thể dùng Đại thừa khí thang, chỉ có thể dùng Tiểu thừa khí thang để hoà vị khí.
Điều 209 bàn Dương minh bệnh có triều nhiệt: phải đợi đại tiện cứng mới được hạ, nhằm bổ sung ư “chưa hết” của điều 208, và nêu phép nhận định đại tiện đă “cứng” hay chưa—đó là bút pháp “nước đến th́ thành mương”. V́ vậy, cần hợp điều 208 với 209 mà xem, mới hết ư nghĩa. Điều 210 bàn rằng Dương minh “thực” th́ nói sảng (谵语), nhưng cần chú ư (phân biệt, không được lầm) các biểu hiện như “trực thị” (nh́n trừng trừng) do âm dịch kiệt ở hạ, cùng các chứng suyễn, đầy và hạ lợi.
Điều 211 lại bổ sung về “nói sảng”, đồng thời cũng kỵ gặp dấu hiệu “chính khí hư” là mạch đoản..
Điều 212 luận về chứng Đại thừa khí thang, và (t́nh huống) đáng hạ mà không hạ th́ xuất hiện các biểu hiện “lần áo, sờ giường” (循衣摸床), “kinh sợ hồi hộp” (惕) và “bất an”; đồng thời luận về tiên lượng và diễn biến (dự hậu và chuyển quy) của chứng đó.
Điều 213–214 bàn hăn xuất quá nhiều gây ra chứng vị táo,便鞭谵语 (phân khô cứng, nói sảng), bệnh cơ ở giữa “tân dịch tổn thương” (津液伤) và “vị trung táo” (胃中燥); hoặc nói sảng cuồng nhiệt, mạch không trầm thực mà trái lại hoạt sác; đều nên dùng Tiểu thừa khí thang thay cho Đại thừa khí thang mà điều trị.
Điều 215 tiếp theo các điều trên bàn nói sảng, triều nhiệt (sốt vào khoảng giờ thân (15h-17h) và lại không thể ăn, phản ánh trường vị thực mà “măn” (đầy) đă thành “táo thỉ” (燥屎); tương tự điều 194: nếu có thể ăn th́ đại tiện tuy cứng mà chưa thành táo thỉ (phân khô); đă thành phân khô th́ dùng Đại thừa khí thang, chưa thành phân khô th́ dùng Tiểu thừa khí thang.
Điều 216 bàn “Dương minh tại kinh” mà nhiệt không giải, lại có biến “nhiệt nhập huyết thất” (热入血室); điều này cũng giống các điều trên là bàn luận bệnh của phụ nhân. Điều 217–218 bàn Dương minh bệnh kiêm kinh tà chưa giải: phải đợi đến khi “quá kinh” rồi mới có thể hạ; nếu Dương minh bệnh mạch trầm mà suyễn măn (đầy), là bệnh ở lư, th́ không thể lại phát hăn để trị; kết hợp hai điều th́ sẽ nhận ra được độ chừng mực của hai phép hăn – hạ ở Dương minh bệnh.
Điều 219 bàn Tam dương hợp bệnh mà nhiệt thịnh: trị dùng Bạch hổ thang; điều 220 bàn Nhị dương tịnh bệnh, Dương minh đă thành thực chứng: điều trị dùng Đại thừa khí thang; điều 221 bàn Tam dương hợp bệnh mà nhiệt ở cách quản (hoành cách, vị quản): điều trị dùng Chi tử thang (栀子汤); điều 222 tiếp theo nếu thấy nhiệt ở trung tiêu mà khát muốn uống nước: điều trị dùng Bạch hổ gia nhân sâm thang; điều 223 tiếp theo nói nhiệt ở hạ tiêu mà tiểu tiện không thuận lợi: dùng Trư linh thang (猪苓汤). Các điều trên phản ánh phép trị của Trọng Cảnh biến hoá linh hoạt, không câu nệ một khuôn; về sau các y gia xưng là “Dương minh bệnh khai thủ tam pháp” (阳明病开手三法), đều là phép trị cho “nhiệt thịnh mà không thành thực (chứng)” (热盛而不成实). Điều 224 bàn chứng cấm kỵ của Trư linh thang (猪苓汤).
Điều 225–226 bàn “mạch phù mà tŕ”, chứng biểu nhiệt lư hàn, tựa như có dụng ư đối chiếu qua lại với các nhiệt chứng Dương minh nêu trên.
Điều 227 bàn Dương minh bệnh: nhiệt ở kinh th́ phát chảy máu mũi gọi là nục (衄); điều 228 bàn Dương minh bệnh: nhiệt tại thượng th́ tâm phiền đau đầu, đổ mồ hôi; điều 229 bàn Dương minh tà không thực mà Thiếu dương tà độc vẫn c̣n; điều 230 bàn Dương minh bệnh tuy không đại tiện, nhưng rêu lưỡi không vàng mà hạ sườn trướng đầy, Phân tích rằng khi ấy bệnh không thuộc Dương minh mà vẫn thuộc Thiếu dương. Các điều nêu trên đều là biện chứng “Dương minh nhiệt chứng nhưng chưa thành thực” (chưa kết thực).
Điều 231–232 bàn Tam dương hợp bệnh, mạch huyền phù đại, phân biệt các phép biện chứng như: châm刺 Dương minh, giải Thiếu dương, cùng phát hăn ở Thái dương. Điều 233 bàn phép biện chứng đối với Dương minh bệnh khi tân dịch bên trong đă suy kiệt: không thể công hạ mà có thể “ngoại đạo” (dẫn tà ra ngoài); nên đối chiếu với chứng Thừa khí thang mà xem. Điều 234–235 bàn về bệnh tà Dương minh c̣n ở kinh biểu chưa giải, mà có thể trị bằng hai phương Quế chi thang và Ma hoàng thang. Điều Điều 236 bàn về chứng trị thấp nhiệt phát hoàng; nếu đem đối chiếu phân biệt với chứng táo nhiệt th́ biện chứng sẽ càng nổi bật.
Điều 237 bàn về Dương minh bệnh có “túc huyết”, người bệnh hay quên; có thể xem chung với chứng “túc huyết phát cuồng” của Thái dương bệnh.
Từ điều 238 đến điều 242 bàn về biện chứng Dương minh bệnh: trường hợp có thể công hạ và trường hợp không thể công hạ.
Điều 243 bàn về Vị hàn gây nôn. Điều 244 bàn về lầm công hạ mà thành bĩ, qua đó thấy phương pháp biện chứng: tà khí hoặc chuyển vào Dương minh, hoặc thành chứng “tích thủy”.
Điều 245 bàn về ra mồ hôi quá nhiều: dương tuyệt ở trong, tân dịch mất ở ngoài, đại tiện v́ thế khô rắn; trong đó cũng hàm ư luận về thành phần “Tỳ ước”.
Điều 246 nối theo điều trước, bàn về mạch của “dương tuyệt ở trong”; điều 247 bàn về chứng trị của “Tỳ ước”. Ba điều trên đều luận về bệnh biến do mất tân dịch, khiến dương nhiệt bị bế trở ở lư.
Điều 248 bàn về Dương minh Vị táo gây “chưng chưng phát nhiệt”. Điều 249 bàn về nôn làm thương tân dịch gây bụng trướng đầy; trị pháp đều cần dùng Điều vị thừa khí thang để ḥa Vị khí.
Điều 250 bàn về Dương minh bệnh: không đại tiện, hơi phiền, tiểu tiện nhiều lần, đại tiện v́ thế khô rắn; thuộc chứng Tiểu thừa khí thang.
Điều 251 bàn về Dương minh bệnh: phân tuy khô rắn nhưng chưa thành táo, v́ c̣n ăn được, nên dùng Tiểu thừa khí thang để ḥa nhẹ. Nếu uống xong vẫn không đại tiện th́ có thể tăng liều: dùng Tiểu thừa khí thang một thăng. Phàm dùng Đại thừa khí thang th́ phải tiểu tiện lợi, phân chắc chắn đă khô rắn mới có thể công hạ.Từ điều 248 đến điều 251 luận về chứng có thể công hạ , nhưng lại có phân biệt ở Vị hay ở Trường , thành cứng hay thành táo, v́ vậy ba bài Thừa khí thang (các loại) được đan xen phân tích với nhau, giúp người đọc nâng cao tŕnh độ biện chứng luận trị .
Điều 252, 253, 254 luận về ba “cấp hạ” chứng của Dương minh bệnh : mục đích là cấp hạ để tồn âm , dùng phép tả nhiệt – trừ thủy (tân dịch ứ trệ) . Nhưng trọng điểm biện chứng là cứu âm . Qua đó thấy rằng Dương minh bệnh nếu kéo dài, chậm trễ dễ dẫn tới sai lầm bệnh cơ; thường vong âm th́ mọi việc đều thất bại.
Điều 255 luận về có thể công hạ khi chứng đầy bụng (phúc măn) không giảm . Điều 256 luận về Dương minh – Thiếu dương hợp bệnh mà đại tiện ắt hạ lợi , và “ mạch không dựa vào cơ chế thuận”. Nếu mạch hoạt mà sác, là khí thực của Dương minh , và bên trong có túc thực , th́ nên tả hạ để giải trừ.
Điều 257 luận về điều trị chứng phát nhiệt bất giải của Dương minh nhiệt kèm huyết ứ. Nên đối chiếu tham khảo với điều 237 có câu “vốn có cửu ứ huyết” .
Điều 258 luận về Dương minh nhiệt bức ở ruột gây hạ lợi mủ máu ; đây là hai loại bệnh biến do cùng một nguyên nhân như điều 257 mà ra.
Điều 259 luận về chứng hàn thấp phát hoàng (vàng da) th́ không được công hạ . Điều 260 luận về thấp nhiệt phát hoàng , nhưng nếu lư thực, bụng đầy th́ có thể công hạ . Hai điều sắp cạnh nhau nhằm tạo ư so sánh đối chiếu.
Điều 261 luận về chứng thân vàng, phát nhiệt dùng Chi tử bá b́ thang . Điều 262 luận về thương hàn, ứ nhiệt ở lư , thân ắt phát hoàng, dùng Ma hoàng liên kiều xích tiểu đậu thang .
Điều 260 nói thấp nhiệt ở lư , điều 262 nói thấp nhiệt ở biểu , điều 261 bàn thấp nhiệt không ở biểu cũng không ở lư (phi biểu phi lư) ; v́ vậy phải xem gộp cả ba điều mới hiểu trọn ư điều trị
5. “Thiếu dương bệnh thiên” – 10 điều
“Thiếu dương bệnh thiên” có 10 điều , từ điều 263 đến điều 272 .
Điều 263 luận về đề cương phủ chứng của Thiếu dương bệnh , lấy các chứng nhiệt như miệng đắng, họng khô, mắt hoa (chóng mặt) làm chủ.
Điều 264 và 265 luận về mạch chứng của kinh Thiếu dương trong trường hợp trúng phong hoặc thương hàn . Kinh Thiếu dương ở khoảng giữa biểu và lư (bán biểu bán lư) , nên khi trị liệu cấm dùng phép phát hăn (ra mồ hôi) và phép thổ – hạ .
Điều 266 luận về hội chứng và trị pháp khi bệnh tà của Thái dương chuyển nhập Thiếu dương.
Điều 267 luận về “hoại chứng” của Thiếu dương do điều trị lầm, nên xem chung với “hoại chứng” ở điều 264 và 265.
Điều 268 luận về tam dương hợp bệnh mà nhiệt ở Thiếu dương , xuất hiện chứng đạo hăn (mồ hôi trộm) . Điều 269 luận về thương hàn ngày thứ sáu, bảy , bệnh tà từ chốt xoay (xu cơ) của Thiếu dương có cơ chế ra vào , và từ đó có thể từ dương kinh tiến nhập vào âm kinh.
Điều 270 nối theo điều trước, luận rằng tam âm không bị bệnh tà xâm phạm ; v́ người bệnh ăn được mà không nôn phản ánh vị dương mạnh và không suy yếu .
Điều 271 luận về mạch tượng khi bệnh tà Thiếu dương đă giải trừ. Điều 272 luận về thời điểm Thiếu dương sẽ được giải ; hai điều liên hệ với nhau để làm rơ căn cứ mạch và thời khi Thiếu dương “dục giải”.
Phần lớn nội dung về Thiếu dương bệnh đă được bàn trong “Thái dương bệnh thiên” từ điều 96 đến điều 108 , v́ vậy có thể đối chiếu tham khảo với các điều văn liên quan.
6. “Thái âm bệnh thiên” – 8 điều
“Thái âm bệnh thiên” có 8 điều , từ điều 273 đến điều 280 .
Điều 273 luận về đề cương chứng của Thái âm bệnh , nên đối chiếu với “Vị gia thực” của Dương minh bệnh , để thấy hàn – nhiệt, hư – thực khi phản ánh lên Tỳ Vị th́ biểu hiện thành các hội chứng khác nhau .
Điều 274 và điều 276 nên xem cùng (hợp khán), để luận về chứng điều trị biểu chứng của kinh Thái âm.
Điều 275 luận về thời điểm Thái âm bệnh “dục giải” , được đặt sau câu ở điều 274: “dương vi, âm sáp mà trường giả, vi dục dũ” ; hàm ư có chỗ chính khí hồi phục, tà khí thoái lui , hai mặt nương hỗ trợ nhau .
Điều 277 bàn tự lợi mà không khát th́ thuộc Thái âm ; nên đối chiếu với điều 282: “tự lợi mà khát th́ thuộc Thiếu âm” , để so sánh lẫn nhau.
Điều 278 luận về Thái âm thấp nhiệt phát hoàng : mạch chứng và cơ chế Tỳ gia thực ; dùng thấp nhiệt tiết tả làm đường “giải” (chuyển cơ).
Điều 279 luận về chứng trị chứng đầy bụng có lúc đau của Tỳ gia khí huyết bất ḥa rồi chuyển sang chứng trị tương ứng của Dương minh đại thực thống.
Nếu đem điều 277, 278, 279 gộp lại để lĩnh hội, th́ tác giả trước luận về hàn , sau luận về thấp , rồi luận về thực , nhằm thể hiện tầng thứ (các lớp) bệnh của Thái âm .

Điều 280 luận về Thái âm bệnh đại tiện lỏng (tự lợi) mà mạch yếu , kèm bụng đầy đau ; th́ nên giảm bớt vị thuốc công hạ mạnh như Đại hoàng Thược dược, v́ đây là trường hợp Vị khí vốn đă hư hàn.
7. “Thiếu âm bệnh thiên” – 45 điều
“Thiếu âm bệnh thiên” có 45 điều , từ điều 281 đến điều 325 .
Điều 281 và 282 luận đề cương của Thiếu âm bệnh , chủ yếu là lấy mạch chứng của âm dương lưỡng hư và biến hoá bệnh lư của dương hư bất chưng đằng (bốc hơi nóng) tân dịch.
Điều 283 bàn Thiếu âm bệnh hàn thịnh vong dương. Điều 284 luận Thiếu âm bệnh bị hỏa khí bức thương âm. Điều 285 luận Thiếu âm bệnh âm hư cấm phát hăn. Điều 286 luận Thiếu âm bệnh Dương hư cấm phát hăn và mạch cấm công hạ.
Bốn điều trên luận về các điều cấm kỵ trong điều trị bệnh ở kinhThiếu âm , cần hiểu từ hai mặt Dương hư và Âm hư.
Điều 287 luận Thiếu âm bệnh Dương hồi (dương khí trở lại) hàn khứ. Điều 288 nói Thiếu âm bệnh hạ lợi cầm và tay chân chuyển ấm. Điều 289 luận Thiếu âm bệnh Dương hồi th́ tự phiền muốn bỏ bớt chăn áo. Điều 290 nói Thiếu âm bệnh mạch dương vi âm phù là bệnh sắp khỏi.
Bốn điều trên luận về các biểu hiện Dương khí hồi phục, hàn tà tiêu thoái, là các dấu hiệu tốt của bệnh sắp khỏi.
Điều 291 luận về Thiếu âm bệnh “dục giải” (sắp giải), nên đặt sau điều 290; ư nghĩa của nó th́ tương đồng với Thái âm bệnh.
Điều 292 luận về Thiếu âm bệnh thổ lợi , tay chân không lạnh ngược (nghịch lănh) , nếu người bệnh phát nhiệt th́ không chết . Điều 293 luận bệnh tà ở kinhThiếu âm xuất ra kinh Thái dương , toàn thân tay chân đều nóng; do nhiệt kết ở bàng quang nên tiểu tiện ra máu . Hai điều đều có “thân nhiệt”, nhưng khác nhau ở chỗ dương khí hồi phục hay tà khí thoát ra ngoài .
Điều 294 luận Thiếu âm dương hư th́ tuy không ra mồ hôi , nhưng nếu cưỡng ép phát hăn sẽ động huyết , có thể gây nguy hiểm kiểu “hạ quyết thượng kiệt” , thành nguy cơ cho tính mạng.
Điều 295 luận Thiếu âm bệnh: thân đau mà lỵ , tay chân lạnh ngược . Điều 296 luận: hạ lợi phiền táo , tứ nghịch . Điều 297 bàn: hạ lợi đă dứt nhưng đầu choáng , lúc nào cũng tự bốc mồ hôi . Điều 298 luận về tứ nghịch, ố hàn mà thân co quắp; mạch không đến; không phiền mà lại táo. Điều 299 luận về Thiếu âm bệnh đến ngày thứ sáu bảy th́ hơi thở gấp và ngắn (tức cao). Điều 300 luận về tự lợi, lại thêm phiền táo, không thể nằm yên ngủ được. Những chứng nêu trên phản ánh Thiếu âm âm hàn bên trong quá thịnh, dương khí đă bại, chân khí đă kiệt, thuộc loại tử chứng. Cần dựa vào đặc điểm của từng chứng hậu để phân tích nguyên nhân v́ sao cấu thành tử chứng và t́nh trạng bệnh, nhằm nâng cao tŕnh độ lư luận.
Tổng kết lại: từ điều 281 đến điều 300 thuộc phần tổng luận của Thiếu âm bệnh , tŕnh bày sự biến hóa bệnh lư và đặc điểm chứng hậu của Âm – Dương (Thủy – Hỏa) trong Thiếu âm thăng giáng xuất nhập; đồng thời nêu vấn đề liên quan đến âm dương hư – thực và chính tà tiến – thoái, và những vấn đề tiên lượng hữu quan. V́ vậy, đây là cương lĩnh biện chứng của Thiếu âm bệnh.

Điều 301 luận về Thiếu âm bệnh lúc mới mắc mà tà ở Thái dương, biểu chứng chưa giải, xuất hiện chứng “lưỡng cảm” . Có thể cùng xem với điều 92 (bệnh phát nhiệt, đầu đau, mạch phản trầm) để thấy quan hệ biểu – lư giữa Thái dương và Thiếu âm.
Điều 302 tiếp tục luận về chứng hậu của điều 301: nếu kéo dài đến hai, ba ngày mà vẫn không có Thiếu âm lư chứng hàn , th́ vẫn có thể điều trị bằng phép vi phát hăn (nhẹ).
Điều 303 luận về Thiếu âm âm hư phát nhiệt , lấy chứng tâm phiền và không thể nằm yên làm chủ. Từ đó có thể lĩnh hội được Thiếu âm bệnh thực sự có liên quan đến Tâm Thận.
Điều 304 và 305 luận về Phụ tử thang chứng của Thiếu âm bệnh. Một là dùng điều trị Thiếu âm dương hư bối bộ ố hàn (ớn lạnh ở lưng), hai là trị chứng Thiếu âm dương hư đau xương khớp mà lạnh tay chân. Lưng là phủ của dương, tứ chi là căn bản của dương, v́ thế với hàn tượng của hai điều trên, để tŕnh bày dương khí dă suy yếu của kinh Thiếu âm.
Điều 306, 307, 308 đều luận về Thiếu âm bệnh hạ lợi mủ máu ; trong đó có phân biệt hàn – nhiệt và cố sáp tràng chỉ lỵ .
Điều 309 luận về Thiếu âm bệnh nôn và hạ lợi , lấy “ nôn ” làm chủ chứng của Ngô thù du thang chứng; cần đối chiếu với điều 378 th́ ư nghĩa sẽ rơ hơn.
Điều 310 đến 313 luận về Thiếu âm bệnh đau họng . Kinh mạch Thiếu âm “ nó thẳng (trực) th́ từ Thận lên qua Can, vào Phế, lên họng”; v́ vậy Thiếu âm thụ bệnh có đặc điểm là đau họng , và có các phép điều trị khác nhau theo hàn – nhiệt .

Điều 314 luận về “bạch thông thang chứng” của Thiếu âm bệnh hạ lợi; điều 315 luận về uống “bạch thông thang” mà hạ lợi không dứt, quyết nghịch và không có mạch, nôn khan phiền táo, phản ánh không chỉ tổn thương Dương mà c̣n tổn thương Âm. Nên phối hợp dùng bạch thông thang gia thêm Trư đởm (mật lợn) để kiêm trị cả Âm lẫn Dương, cũng là làm mẫu của phép “song trị”.
Điều 316 luận về “chân vũ thang chứng” của Thiếu âm bệnh Dương hư thủy phiếm; điều 317 luận về “cách dương chứng” do lư hàn ngoại nhiệt của Thiếu âm bệnh.
Điều 318 luận về “tứ nghịch tán chứng” do Thiếu âm bệnh dương uất không vươn ra; nên so sánh với chứng “Thiếu âm dương hư hàn chứng”.
Điều 319 luận về Súc thuỷ chứng âm hư hữu nhiệt của Thiếu âm bệnh. Có thể đối chiếu với điều 316 và 303: so sánh thủy phân hàn nhiệt, so sánh chứng để biện Âm Dương, so sánh tâm phiền không ngủ do hỏa thượng hay thủy hạ.
Điều 320, 321, 322 luận về “tam cấp hạ” của Thiếu âm bệnh. Nên xem chung với điều 252, 253, 254 để thấy góc độ “táo nhiệt thương âm” khi cấp hạ ở các phần khác nhau th́ không giống nhau.
Điều 323 luận về Thiếu âm bệnh: mạch trầm th́ cấp ôn; nên dùng tứ nghịch thang. Điều này được đặt sau phần cấp hạ, để đối chiếu giữa táo nhiệt và vong âm, so sánh mỗi bên có chỗ trọng yếu riêng.
Điều 324 luận về chứng “hung trung đàm thực” (đàm kết trong ngực) và điều trị chứng “cách thượng hữu hàn ẩm” (trên cơ hoành có hàn ẩm); điều 325 luận về nôn mà xuất mồ hôi, tất phải đổi áo. Hai điều này có phân biệt hư – thực, nên chứng “ẩu thổ” cũng có chỗ khác nhau; cũng có thể tham khảo cùng điều 166.
8. “Quyết âm bệnh thiên” – 56 điều
“Quyết âm bệnh thiên” có 56 điều, từ điều 326 đến điều 381.
Điều 326 luận về đề cương chứng của Quyết âm: lấy phong dương chi khí bốc lên quấy nhiễu Tâm gây tâm trung đau nóng; lại lấy Tỳ Vị hư hàn, ăn vào liền nôn; công hạ th́ hạ lợi không dứt, thuộc chứng hàn nhiệt hỗn tạp làm chủ.
Điều 327, 328, 329 luận về mạch, thời, chứng của Quyết âm sắp khỏi bệnh; ư nghĩa cũng giống như trên.
Điều 330 luận về Dương hư hàn quyết, không thể công hạ; nên tham khảo cùng điều 335 có câu “quyết ứng hạ chi”. 32
Điều 331 luận về Quyết âm hàn quyết: sau thấy dương khí hồi lại phát nhiệt th́ hạ lợi ắt tự dứt; nhưng nếu lại thấy quyết th́ lại tiếp tục hạ lợi.
Điều 332 luận về t́nh huống thắng phục giữa nhiệt và quyết, và việc dương nhiệt quá mạnh mà không suy th́ ắt phải phát ung nhọt.
Điều 333 luận về Thái dương trúng hàn mà lầm dùng Hoàng cầm thang, bụng ắt lạnh; nếu trái lại vẫn ăn được th́ gọi là “trừ trung”, về sau phần nhiều tiên lượng không tốt.
Điều 334 luận về Quyết nhiệt thắng phục: nếu dương khí hồi lại quá mạnh mà ra mồ hôi ngược lại th́ phát “hầu tư” (đau/tắc họng); nếu phát nhiệt mà không ra mồ hôi th́ hạ lợi không dứt, ắt đại tiện ra mủ máu. Điều này nên xem chung với điều 332 để chứng minh rằng dương nhiệt làm thương âm có phân biệt ở trên, ở dưới và ở ngoài.
Điều 335 luận về chứng hậu và phép trị của “trước nhiệt sau quyết”, “sau quyết lại nhiệt” trong Dương nhiệt quyết. Điều này nên đối chiếu với điều 354 (dương hư hàn quyết), đồng thời cũng nên xem chung với điều 330 có câu “Các tứ nghịch quyết th́ không thể công hạ”.
Điều 336 vẫn bàn biện chứng Quyết nhiệt thắng phục. Nhưng “quyết nhiệt không quá năm ngày, với nhiệt năm ngày”, nghĩa là quyết và nhiệt tương đương, v́ vậy có thể đoán là sẽ tự khỏi.
Điều 337 luận về bệnh cơ và chứng trạng của Quyết âm. Điều này liên hệ với điều 7 và điều 58: từ biện chứng âm dương, biện bệnh cơ âm dương, đến phép trị âm dương đều có thể suy rộng mà hiểu.
Điều 338 dùng bút pháp “khách chủ” để viết ra phân tích tạng quyết với hồi quyết và phương pháp chứng trị của hồi quyết.
Điều 339 luận về bệnh muốn khỏi (dục dũ) của “nhiệt ít quyết ít”, với “quyết mà nôn”, “ngực sườn phiền muộn” sau đó tất sẽ đại tiện ra mủ máu.
Điều 340 luận về “kết ở quan nguyên bàng quang” gây bụng dưới đầy và tay chân quyết lănh.
Điều 341 và 342 luận về nhiệt không hạ của Quyết nhiệt thắng phục, cùng với chứng “dương khí suy thoái” của lạnh nhiều nhiệt ít (hàn đa nhiệt thiểu).
Điều 343, 344, 345, 346 luận về tử chứng của âm thịnh dương tuyệt. Trong đó hàm ư khuyên nên ưu tiên ǵn giữ dương khí.
Điều 347 luận về “mạch hư phục quyết” th́ không thể công hạ; tham khảo điều 330 sẽ hiểu rơ. 33
Điều 348 luận về chứng “phát nhiệt mà quyết”, là chứng khó trị của “bảy ngày hạ lợi”.
Điều 349 luận về “hàn quyết” có thể cứu; điều 350 luận về “nhiệt quyết” có thể thanh; điều 351 luận về các phương pháp trị “huyết hư hàn quyết” có thể ôn. Điều 353 và 354 luận về phép trị “dương hư hàn quyết”. Điều 355 luận về phép trị “hung trung thực mà quyết”. Điều 356 luận về phép trị “tâm hạ thủy khí” gây quyết. Điều 357 luận về phép trị “tà uất ở lư” gây quyết và hạ lợi do hàn nhiệt hỗn tạp.
Các điều trên nói về chứng trị của “quyết”, cần đối chiếu phân tích để thấy được tinh túy của biện chứng.
Điều 358 luận về hội chứng tiền khu (đi trước) của hàn lợi. Điều 359 luận về chứng trị chứng “ăn vào liền nôn”.
Điều 360, 361, 362, 363, 366, 367, 368, 369 luận về chẩn đoán sống chết (tiên lượng sinh tử) của chứng hạ lỵ.
Điều 364 luận về “hạ lợi thanh cốc” không thể công biểu. Điều 365 luận về chứng hạ lợi thấy mạch khác nhau th́ bệnh cơ cũng theo đó mà khác; đây là phép dùng mạch để kiểm nghiệm chứng.
Điều 370 luận về phép trị “hạ lợi thanh cốc” mà “lư hàn ngoại nhiệt”. Điều 371 luận về phép trị “nhiệt lợi hạ trọng”. Hai điều nên đem so sánh đối chiếu để phân rơ chứng “hàn nhiệt hạ lợi”.
Điều 372 luận về nguyên tắc điều trị “lư hàn với biểu tà”, nên tham khảo cùng điều 91.
Điều 373 luận về chứng trị của quyết âm nhiệt lợi”. Điều 374 luận về chứng trị “nhiệt kết bàng lưu”. Điều 375 luận về chứng trị “hạ lợi hư phiền”.
Từ điều 367 đến điều 375 đều xoay quanh vấn đề “hạ lợi”: hoặc biện tiên lượng, hoặc biện hàn nhiệt hư thực và các loại trị pháp tương ứng.
Điều 376 luận về chứng nội ung (ung nhọt ở trong) gây nôn: chỉ trị đau mà không trị nôn. Điều này nên tham khảo cùng điều 19.
Điều 377 luận về nôn do “lư hàn ngoại nhiệt”. Điều 378 luận về chứng nôn do “can vị hàn ẩm thượng nghịch”. Điều 379 luận về nôn do bệnh ở tạng chuyển về phủ.

Từ điều 376 đến điều 379 đều xoay quanh vấn đề “nôn”, để biện chứng luận trị.

Điều 380 luận về “oẹ” (nôn oẹ) có hư thực. Điều 381 luận về chứng nôn oẹ của lục phủ tà thực. Đem hư – thực đối chiếu thành văn, giúp người đọc tăng cường nhận thức biện chứng. 34
9. “Hoắc loạn bệnh thiên” – 10 điều
“Hoắc loạn bệnh thiên” có 10 điều, từ điều 382 đến điều 391.
Điều 382 luận về đặc điểm chứng hậu của hoắc loạn: là vừa nôn lại đồng thời hạ lợi .
Điều 383 bàn rằng hoắc loạn ngoài nôn và hạ lợi c̣n có các biểu chứng như phát nhiệt, ố hàn .
Điều 384 luận về chẩn đoán phân biệt giữa thương hàn và hoắc loạn .
Ba điều trên là đề cương của bệnh hoắc loạn, có tác dụng chỉ đạo lâm sàng.
Điều 385 luận về dương hư âm thịnh , mạch vi lại hạ lợi; nếu hạ lợi tự dứt th́ là vong huyết và tổn thương tân dịch, là sự phản ánh của dương hư cập âm.
Điều 386 luận về các phép trị khác nhau của thấp hoắc loạn và hàn hoắc loạn , lấy chứng trạng muốn uống hay không muốn uống nước làm căn cứ biện chứng.
Điều 387 luận về phép trị thổ lợi dứt mà thân đau không ngừng ; Chứng này và Ngũ linh tán chứng của thổ lợi không ngừng có hàm ư đối chiếu phát minh.
Điều 388 luận về phép trị dương hư thổ lợi và ra mồ hôi , tay chân quyết lạnh .
Điều 389 luận về phép trị thổ mà lại lợi , nội hàn ngoại nhiệt , mạch vi muốn tuyệt .
Điều 390 bàn về chứng trị của t́nh trạng âm dương lưỡng hư: nôn và hạ đă dứt, mồ hôi ra mà quyết, tứ chi co rút căng cứng không giải. Điều này nên đối chiếu với điều 385 để thấy các cách trị khác nhau khi tân dịch hao tổn .

Điều 391 luận về chứng nôn hạ đă hồi phục , nhưng tân dịch mới hư không thắng được khí , gây tiểu phiền (bực bội nhẹ) . Từ điều 385 đến 390 đều có luận về phương và chứng, mỗi điều đều có ư nghĩa riêng.

10. “Âm dương dịch sái hậu lao phục bệnh thiên” – 7 điều (十、《阴阳易瘥后劳复病篇》7条)
“Âm dương dịch sái hậu lao phục bệnh thiên” có 7 điều, từ điều 392 đến điều 398.
Điều 392 bàn về đặc điểm chứng hậu và phương pháp điều trị của bệnh “âm dương dịch” (phạm pḥng) trong Thương hàn.
Điều 393 bàn về phép trị chứng lao phục và thực phục sau khi đại bệnh vừa khỏi; tuy mô tả chứng không nhiều, nhưng suy từ phương thuốc mà đoán th́ ắt sẽ có biến hóa dạng phiền nhiệt.
Điều 394 luận về mấy cách biện chứng và phép trị khác nhau đối với t́nh huống thương hàn đă khỏi rồi mà lại phát sốt trở lại. Từ điều 392 đến điều 394 luận về các phép trị đối với những nguyên nhân gây phát sốt sau thương hàn như ăn uống, nam nữ, lao lực quá mức, lại bị ngoại cảm trở lại, khiến người đọc thấy thấm thía.
Điều 395 luận về chứng trị khi đại bệnh vừa khỏi, từ eo lưng trở xuống có thủy khí. Điều 396 luận về chứng trị khi đại bệnh vừa khỏi, khí hư mà phần ngực trên có hàn. Điều 397 luận về chứng trị khi thương hàn đă khỏi, cơ thể hư suy ít khí, khí nghịch muốn nôn, thuộc hư nhiệt; một hàn một nhiệt, đối chiếu rất tinh tế, phát huy hết khả năng so sánh biện giải.
Điều 398 bàn rằng mạch của người bệnh đă giải, nhưng đến chiều tối hơi phiền, thuộc tỳ vị khí nhược, do không tiêu hóa được ngũ cốc mà ra; v́ vậy không cần dùng thuốc điều trị, chỉ cần giảm ăn (bớt ngũ cốc) th́ khỏi. Điều này cho thấy sau khi đại bệnh vừa lành cần chú ư vấn đề ăn uống, có ư nghĩa phổ quát.
Các điều văn của Thương hàn luận, nhất là điều 398, có “kinh” có “vĩ”, liên hệ dọc ngang chặt chẽ: hoặc bổ sung cho nhau, hoặc đối chiếu với nhau, hoặc phát minh cho nhau, làm được “văn dĩ tải đạo”(lời văn truyền tải được đạo lư), phát huy đầy đủ năng lực biện chứng luận trị. V́ vậy, ai học Thương hàn luận đều phải làm rơ mục đích và ư nghĩa sắp xếp các điều văn của sách, nhờ đó mới có thể vào được cửa, nắm được tinh thần thực chất trong trước tác của Trọng Cảnh, để việc học Thương hàn luận thu hoạch được nhiều hơn.
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-02-18 05:12:37
BÀI GIẢNG 03 KHÁM PHÁ Ư NGHĨA CỦA “LỤC KINH” NHƯ LÀ ĐỀ CƯƠNG CỦA HỘI CHỨNG BỆNH
Lục kinh làm đề cương của hội chứng bệnh, là cương lĩnh của biện chứng trong 《Thương hàn luận》. Lục kinh bệnh, mỗi kinh đều có một cương lĩnh; người xưa ví như đại tướng dựng cờ nổi trống, khiến sĩ tốt nh́n đó mà biết chỗ hướng tới, mới có thể khống chế trận thế, chỉ huy quyết đoán. Xét trong các bệnh phức tạp nhiều biến hóa của Trương Trọng Cảnh, việc nêu ra hội chứng chủ yếu tương ứng với lục kinh, chính là dựng cờ nổi trống, dùng để phản ánh quy luật của bệnh, khiến người ta biết chỗ quy về. Bởi vậy, đề cương chứng của lục kinh có ư nghĩa hết sức quan trọng.
Muốn giải thích đề cương chứng của lục kinh, trước hết phải làm rơ đối tượng và phạm vi của biện chứng lục kinh. Tôi cho rằng, phương pháp biện chứng lục kinh vốn là lập luận dựa trên “tà khí tổn thương người”, chứ không chỉ chuyên nhằm riêng một bệnh “thương hàn”.
Kha Vận Bá trong lời tựa của 《Thương hàn luận dực》 nói: “Nguyên tắc của Trọng Cảnh về lục kinh là lập pháp cho trăm bệnh, chứ không chỉ riêng một khoa thương hàn. Điều trị Thương hàn tạp bệnh không có hai đường, đều quy về khuôn phép của lục kinh.” Kha thị xem biện chứng lục kinh là để lập pháp cho trăm bệnh, thật đă thấu được cái tâm của Trương Trọng Cảnh; nhờ đó cũng quét sạch được cái nh́n hạn hẹp chỉ trị thương hàn một bệnh, mở rộng phạm vi của biện chứng lục kinh. Nói gọn lại, bộ sách này bao gồm hai loại bệnh: một loại là thương hàn thuộc nhiệt bệnh cấp tính, một loại là tạp bệnh thuộc bệnh mạn tính. Hai loại phát bệnh tuy khác, nhưng y lư đều thông, đều không thể rời khuôn phép của lục kinh. V́ vậy nội dung của sách này lấy biện chứng lục kinh làm tôn chỉ.
Bản thân lục kinh là sáu hệ thống do tạng phủ kinh lạc cấu thành; chúng thuộc phạm trù vật chất, nên có quy luật vận động riêng, để phản ánh biến hóa về sinh lư và bệnh lư. Phương pháp biện chứng chính là căn cứ quy luật khách quan của lục kinh mà phân tích bệnh, mà nhận thức bệnh tật, cần đem chúng thống nhất lại một cách khách quan, như vậy mới đạt được mục đích biện chứng.
Nhưng biện chứng nhất định phải “nói có vật”, tuyệt đối không thể tách rời sự tồn tại của vật chất. Lục kinh tuyệt không phải tṛ chơi danh từ trống rỗng; nó vừa có “thể” bị tà xâm phạm, lại vừa có “nguyên nhân” làm phát bệnh. Có thể có chỗ quy nạp, để thấy chứng do thể sinh, lư do thể định. V́ phép biện chứng là từ “thể” của lục kinh mà t́m chứng; do “thể” của mỗi kinh khác nhau nên đặc điểm chứng hậu (hội chứng) của mỗi kinh cũng theo đó mà khác. Điều này tạo ra điều kiện thuận lợi cho biện chứng. Nhưng cũng cần thấy rằng: những chứng hậu do lục kinh phản ánh lại có quy luật chung có thể theo; v́ sự phát sinh chứng hậu quyết định bởi quy luật biến hóa đối lập âm dương của lục kinh. Cho nên âm với dương đối lập: có dương chứng ắt phải có âm chứng; biểu với lư đối lập: có biểu chứng ắt phải có lư chứng; hàn với nhiệt đối lập: có hàn chứng ắt phải có nhiệt chứng; hư với thực đối lập: có hư chứng ắt phải có thực chứng. Tám loại chứng hậu sinh ra từ sự đối lập như vậy vừa là vật đối lập âm dương trong bệnh tật, lại là sự thống nhất của các mặt đối lập trong bệnh tật. V́ chúng không vượt ra ngoài quy luật phát bệnh của âm dương, biểu lư, hàn nhiệt, hư thực đối lập mà sinh, nên người xưa gọi là biện chứng “bát cương”.
Biện chứng bát cương bắt nguồn từ lục kinh; quan hệ giữa hai bên chỉ là khác nhau ở phạm vi “thể dụng”, chứ không khác nhau về bản chất. Hiểu được đạo lư này sẽ đặt nền tảng lư luận cho sự kết hợp giữa lục kinh và bát cương trong biện chứng.
Trên đây đă giới thiệu ư nghĩa của biện chứng lục kinh và mối quan hệ với biện chứng bát cương, nhằm tạo thuận tiện cho phần tŕnh bày ở dưới.
I/ Đề cương chứng của Thái dương bệnh
Thái dương là chỉ kinh Túc Thái dương Bàng quang. Ngô Côn nói: Thái dương có tác dụng tàng chứa dương khí, khí của nó hướng ra ngoài, nên vừa chủ về biểu lại vừa chủ về khai (mở).
Biểu là chỉ phần ngoài của cơ thể, bao gồm da lông, thấu lư (thớ thịt). Mạch của Thái dương đi lên tới Phong phủ, đi xuống tới thắt lưng thận, nhờ dương khí của Thận làm điều kiện trợ giúp, cho nên gọi là Thái dương chủ khí; có thể thống lĩnh lục kinh, bao bọc vệ khí, làm hàng rào bên ngoài của toàn thân.《Linh khu – Bản tạng thiên》 nói: “Thận hợp với Tam tiêu Bàng quang; Tam tiêu Bàng quang là nơi tấu lư lông mao của nó.” Câu này giải thích chức năng khí hóa của thủy phủ, thủy đạo trong cơ thể người; nó có các tác dụng: một mặt làm vệ khí, tân dịch nuôi dưỡng phần biểu, mặt khác vừa ôn dưỡng vừa giữ ǵn phần biểu. V́ vậy, hễ phong hàn ngoại tà phạm biểu th́ Thái dương tất phải chịu sự xâm phạm trước. Khi đó chính tà tương tranh ở biểu, nên biểu hiện chứng hậu đúng như điều 1 (lấy số thứ tự điều văn theo bản 《Thương hàn luận》 gốc, giống vậy, phần dưới) đă nói: “Thái dương chi vi bệnh, mạch phù, đầu cổ cứng đau mà ố hàn.” Kha Vận Bá cho rằng điều này là “lấy mạch làm đề cương”, đều là chứng hậu, chỉ riêng Thái dương lấy mạch làm đề cương, v́ hàn tà làm thương biểu. Do đó có thể thấy: mạch PHÙ của chứng này là phản ánh của tà khách ở biểu, khí hướng ra ngoài chống tà; cho nên đây là cương lĩnh của biểu chứng. C̣n đầu cổ cứng đau, ố hàn là cương lĩnh của hàn chứng. Có thể nâng mạch chứng lên mức “cương” để chỉ đạo lâm sàng, th́ quả có tác dụng biện chứng luận trị.
Trước hết nói về mạch đề cương của Thái dương bệnh: mạch phù chủ biểu, điều này ai cũng biết. Nhưng muốn nâng lên nhận thức “mạch là cương lĩnh của biểu”, th́ lại không dễ được người ta coi trọng. Tác giả trong bản thiên này là trước luận mạch rồi mới luận chứng, mạch ở trước chứng, cũng phản ánh tầm quan trọng của mạch. Ví dụ: người bệnh có chứng đầu đau, ố hàn, thoạt nh́n rất giống biểu chứng, nhưng nếu mạch lại không phù, th́ rất khó nói đó là Thái dương bệnh, dĩ nhiên cũng không thể dùng phép phát hăn giải biểu. Từ đó cho thấy: khi chấn chỉnh biện chứng, mạch ở trước chứng, là điều không thể xem nhẹ. V́ vậy, hễ đă cắt được mạch phù, th́ bất luận là bệnh ǵ, cũng không nên chỉ chăm chăm vào bệnh lư đă lâu bao nhiêu, mà cần trước hết nghĩ xem bệnh này có phải “biểu tà không giải” hay do “biểu tà không giải” dẫn phát các bệnh khác. Phải phân tích nghiêm túc, tuyệt đối đừng để sai lầm. Tuy nhiên, cũng có lúc mạch phù không chủ biểu; đó lại thuộc về một vấn đề khác. Nhưng vẫn phải lập trên cơ sở “biểu chứng” mà phân tích, mới không đến nỗi lạc hướng.
Tôi đối với vấn đề “mạch phù chủ biểu” vừa có kinh nghiệm vừa có bài học: tôi nhớ trước đây từng gặp một người bệnh đầu đau phát nhiệt, mạch phù; vốn là ngoại cảm phong nhiệt, lúc ấy chỉ cần hơi phát hăn là khỏi. Thế nhưng v́ tôi nắm không chắc được cái “cương” là mạch phù chủ biểu, nên không dùng phép phát hăn giải biểu, lại lầm dùng một số thuốc hàn lương kết quả đă thành ra sai lầm. T́nh huống tương tự như vậy không chỉ một người gặp; cho nên có sự tổng kết là cần thiết.
Vấp một lần đau, khôn thêm một chút; trải qua lần giáo huấn này, tôi mới dần dần hiểu rơ sai lầm của ḿnh, đồng thời có sự cảm nhận thiết thân hơn về giá trị thực dụng của “mạch phù chủ biểu”. Từ đó, dưới sự chỉ đạo lư luận “mạch phù chủ biểu”, tôi đă trị các chứng như thủy thũng, khí suyễn, tả lỵ, ho… đều theo phép phát hăn giải biểu mà thu được hiệu quả. Cũng chỉ sau khi được rèn luyện bằng kinh nghiệm giáo huấn ở cả hai mặt đúng và sai, tôi mới có nhận thức mới đối với “phù” của Thái dương bệnh như là cương mạch của biểu.
Sự xuất hiện của “đầu cổ cứng đau” có liên quan đến việc tà phạm Thái dương, khiến kinh mạch khí huyết bất lợi. 《Linh khu – Bản tạng thiên》 nói: “Kinh mạch là nơi khí huyết vận hành mà vinh dưỡng âm dương; gân cơ xương khớp là chỗ lợi của nó.” V́ vậy kinh mạch Thái dương bị tà xâm phạm th́ có thể xuất hiện chứng đầu cổ cứng đau. Tuy nhiên tam dương kinh đều đi lên đầu, chỉ riêng Thái dương kinh độc hành ở phía sau đầu và dọc xuống gáy, đó là đặc điểm riêng của kinh Thái dương. V́ thế “đầu cổ cứng đau” trở thành đặc điểm chứng hậu của Thái dương bệnh.
Ngoài ra, Thái dương chủ biểu, mà đầu lại là nơi cao nhất của cơ thể, nên phản ánh tà ở biểu, v́ vậy chỗ này lại càng linh mẫn. Ví dụ điều 8 nói: “Thái dương bệnh, đầu đau đến bảy ngày trở lên mà tự khỏi, là do kinh khí đă hết vậy.” Trương Trọng Cảnh lấy đầu đau làm câu hỏi để xét biết tà kinh có c̣n hay không, điều đó cho thấy tầm quan trọng của đau đầu. Suy rộng mà nói: trong 《Thương hàn luận》 nhắc đến chứng đầu đau không dưới mười mấy chỗ, trong đó thuộc Thái dương bệnh chiếm đến chín chỗ; điều này cũng chứng tỏ đầu đau quả là một tiêu chí quan trọng của Thái dương bệnh.
C̣n “ố hàn” (ớn lạnh) là chứng tối hậu của biểu chứng. Nó phản ánh vệ dương bị thương, không thể ôn nhuận phần biểu. Theo nghiên cứu của các học giả Thương hàn, phàm trong câu văn có chữ “nhi” th́ chứng trạng sau đó đều hàm ư then chốt. Như “vô hăn nhi suyễn” th́ chữ “suyễn”; “bất hăn xuất nhi phiền táo” th́ chữ “nhiền táo” v.v. đều là chứng trạng then chốt vậy. Cho nên “nhi ố hàn” th́ chứng trạng “ố hàn” trở thành chứng trạng then chốt của biểu chứng.
Người xưa nói: “Có một phần ố hàn th́ có một phần biểu chứng”; hễ chứng thấy “ố hàn” thường hàm ư tà ở biểu chưa giải. Đúng như điều 164 nói: “Thương hàn đại hạ hậu, phục phát hăn”, tâm hạ bĩ, ố hàn, là biểu chưa giải vậy. Xét điều này là trong “Điệp kinh trị liệu” mà ố hàn vẫn c̣n, th́ không thể trước hết trị đau, mà phải trước tiên giải biểu; v́ ố hàn không dứt là nguyên do biểu chứng chưa giải. Trở lại xem cách nói ở điều 48: “Nhị dương hợp bệnh, Thái dương lúc mới thụ bệnh, phát hăn; hăn ra không dứt, bèn chuyển thuộc Dương minh, tiếp theo tự ra mồ hôi, không ố hàn, …” Ở đây chữ “không ố hàn” phản ánh biểu tà đă hết, mà bệnh đă nhập lư, truyền vào Dương minh. Điều này cho thấy tác giả căn cứ vào sự có hay không của “ố hàn” ở hai điều trên để phân biệt biểu hay lư, hăn hay hạ. V́ vậy, nắm chắc “ố hàn” làm cương lĩnh của biểu chứng, quả thật có giá trị chỉ đạo lâm sàng.
Tổng hợp những điều đă nói, đề cương chứng về mạch của Thái dương bệnh quả có ư nghĩa thực tiễn rất mạnh. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, các mạch chứng không phải là cô lập, mà có mối liên hệ qua lại; như người có mạch phù th́ cũng nên có đầu đau, hoặc là ố hàn. Cho nên không thể xem mạch chứng một cách cô lập; làm như vậy mới có lợi cho biện chứng luận trị.

II/ Đề cương chứng của Dương minh bệnh
Dương minh là chỉ kinh Túc Dương minh Vị. Hai dương hợp lại gọi là Dương minh. Ngô Cư nói: Dương minh có tác dụng thu nạp dương khí, khí hướng vào trong, cho nên chủ lư mà lại chủ hợp.
Lư ở đây là chỉ trường vị (ruột và dạ dày); đó là tà táo nhiệt, kết hợp với cặn bă, mà không thể bài xuất ra ngoài cơ thể, tạo thành bệnh biến.
Điều 180 nói: “Dương minh chi vi bệnh, Vị gia thực dă.” Điều này Trương Trọng Cảnh không lấy chứng hậu làm cương lĩnh, mà lấy bệnh lư “Vị gia thực” làm cương. Ư nghĩa của nó bao hàm: một là phạm vi chứng hậu mà Dương minh bệnh bao gồm rất rộng, không phải lời nói vài câu có thể nói hết; hai là Trương Trọng Cảnh có ư thức nêu bật chữ “thực”, dẫn người biện chứng từ thực chứng của Dương minh bệnh mà nhập thủ, v́ chỉ cần nêu bật thực chứng là đă đạt được mục đích nắm cương. Thanh nhân Uông Ngang từng có cảm khái đối với cách nêu “Vị gia thực” của Trương Trọng Cảnh, ông nói: “Trọng Cảnh lấy Vị thực làm chính của Dương minh bệnh, lấy công hạ làm pháp trị của nó.” Lời nói của ông khẳng định một cách chuẩn xác, đă nói trúng yếu chỉ của Dương minh bệnh.
Dương minh vị thuộc phủ, mà chức năng sinh lư là truyền hóa vật mà không tàng chứa. Tức là đồ ăn vào Vị th́ Vị thực; thông qua sự làm chín và tiêu hóa của Vị, khiến vật đă chuyển hóa đi xuống tràng (ruột); khi ấy Tràng thực mà Vị hư. Chỉ khi luôn giữ được tŕnh tự hư thực luân phiên giữa Vị và Trường như vậy, mới phù hợp sinh lư “Dương minh lấy thông làm thuận”. Nếu Vị Trường táo nhiệt làm tân dịch khô kiệt, cặn bă dính kết, biến thành phân khô táo mà không thể bài xuất ra ngoài, th́ Tràng thực mà Vị đầy. Phủ khí không được thông giáng, liền có thể h́nh thành các chứng táo thực của Dương minh bệnh.
Do đó có thể thấy: Dương minh bệnh là do nhiệt thành táo, v́ táo thành thực, cho nên có đặc điểm phát bệnh là đại tiện bí kết không thông. Đại tiện đă không xuống, v́ thế có thể sinh các chứng bụng trướng không giảm, đau quặn liên tục, đau quặn co rút… thuộc các chứng trạng ở bụng, đây cũng là dấu hiệu tất thấy của chứng Vị Tràng thực.
Dương minh đă táo nhiệt bên trong kết lại th́ cặn bă đă thành; thế tất phải thông tiết ra ngoài. Hoặc thấy tay chân bừng nóng mà ra mồ hôi, hoặc dưới nách mồ hôi như rót, hoặc mồ hôi chảy rịn rả mà lại tiểu tiện nhiều lần. Đó là trọc tà phải đi lối thoát; nếu trọc tà lại đi xuống mà thành đại tiện th́ là do tân dịch hư; đại tiện xanh thẫm mà mùi rất hôi. Nếu tân dịch bị đoạt mà mất, Vị Tràng càng không được nhu nhuận, th́ đại tiện càng khô cứng bế tắc, nên đó là dấu hiệu táo phân đă thành. Táo phân đă không ra được, th́ Vị khí bị trở trệ, cho nên lại có đặc điểm “chuyển thỉ khí” (hơi trong ruột chạy ngược).
Dương minh là thịnh dương, sức kháng tà mạnh; nếu Vị khí cùng táo nhiệt giằng co, thường đến giờ Thân (15h~17h) th́ phát triều nhiệt. Triều nhiệt, nhiệt đến có giờ, đúng lúc mà đến. Nhiệt ấy một khi hiện ra th́ đại tiện phần nhiều đă thành táo. Lại nữa Vị lạc thuộc Tâm, Tâm chủ thần chí và ngôn ngữ, cho nên chứng Dương minh táo thực thường thấy nói nhảm, lời lẽ lộn xộn. Tổng hợp lại, Dương minh bệnh lấy thực chứng làm chủ, v́ vậy lấy các dấu hiệu: không đại tiện, bụng trướng đau, nhiệt bức tân dịch, chuyển thỉ khí, triều nhiệt, thần hôn nói sảng làm căn cứ biện chứng; mạch th́ hoặc hồng đại hữu lực, hoặc trầm tŕ hữu lực; rêu lưỡi th́ hoặc vàng khô, hoặc đen khô làm chuẩn.
Qua các chứng hậu trên, phản ánh Dương minh bệnh lấy “Vị gia thực” làm chủ; như vậy mới có thể nêu bật đặc điểm Dương minh làm bệnh, từ đó đạt được yêu cầu cụ thể của đề cương chứng Dương minh bệnh.
III/ Đề cương chứng của bệnh Thiếu dương
Thiếu dương là chỉ kinh Thiếu dương Đởm. Thiếu dương ở vùng ngực sườn, nằm giữa biểu và lư, gọi là vị trí bán biểu bán lư; nó có thể vận chuyển dương khí, giống như trục xoay, cho nên khí của Thiếu dương chủ về “then chốt”.
Kinh Đởm của Thiếu dương phụ thuộc ở Can, bên trong cùng thuộc tướng hỏa, tính ưa sơ tiết, ưa thông suốt. Nếu Thiếu dương bị tà phạm, th́ khí uất mà hỏa động, bức dịch mật bốc lên gây miệng đắng; làm tân dịch hao tổn th́ họng khô; phong mộc bốc động th́ thành chứng mắt hoa chóng mặt. Đúng như điều 263 nói: “Thiếu dương chi vi bệnh, khẩu khổ, yết can, mục huyễn dă.” Đề cương chứng của Thiếu dương bệnh đặt “miệng đắng” lên trước, “họng khô, mắt hoa” ở sau, phản ánh tầm quan trọng của miệng đắng trong biện chứng.
《Nội kinh》 nói: “Mạch của hỏa th́ đắng; đốt kinh của nó là hỏa; nên miệng đắng.” Lại nói: “Nếu Can Đởm có hỏa, th́ thường thấy miệng đắng.” V́ vậy miệng đắng phản ánh Thiếu dương tà nhiệt có ư nghĩa hiện thực. Nhưng chứng miệng đắng nằm ở khâu hỏi bệnh của thầy thuốc: không hỏi th́ người bệnh thường không nói; đến lúc biện chứng, chớ nên sơ suất. Họng khô và mắt hoa, trên lâm sàng cũng dễ bị xem nhẹ mà không nhận ra; huống chi ư nghĩa biện chứng của chúng lại càng quan trọng.
Tôi từng chữa một người bệnh viêm gan mạn, thường có miệng đắng và đau hông sườn, liền dùng Tiểu sài hồ thang. Một ngày người bệnh nói lỡ miệng, uống thuốc xong đau hông sườn gần như hết, lại đồng thời mất hẳn các chứng đầu váng mắt hoa. Từ đó mới biết những chứng đề cương mà Trọng Cảnh nêu ra, không điều nào không xuất phát từ thực tiễn, tuyệt chẳng phải lời suông.
IV/ Đề cương chứng của Thái âm bệnh
Thái âm là chỉ kinh Tỳ của Thái âm. Tỳ ở trung châu, chủ vận hóa thủy thấp, có tác dụng kích bố âm khí, cho nên khí của Thái âm chủ về “khai” (mở).

Thái âm thụ bệnh: Tỳ dương không vận, hàn thấp kết ở trong, phát ra đầy bụng, nôn ói, trong bụng lạnh đau, đại tiện lỏng, mà ăn uống không xuống. Đúng như điều 273 nói: “Thái âm chi vi bệnh, phúc măn nhi thổ, thực bất hạ, tự lợi ích thậm, thời phúc tự thống; nhược hạ chi, tất hung hạ kết ngạnh.”
Phàm Dương minh và Thái âm là biểu lư; Dương minh chủ “hạp” (đóng), đại tiện bí kết là thực chứng. Thái âm chủ “khai”, đại tiện lỏng là hư chứng. Bụng đầy đau của Dương minh là do đại tiện không thông; c̣n bụng đầy đau của Thái âm là do đại tiện hạ lợi. Tuy đều thuộc bệnh ở Tam âm kinh mà đều có hạ lợi, nhưng “tự lợi mà không khát th́ thuộc Thái âm”. V́ vậy Thái âm bệnh tuy thấy nôn và lợi cùng xuất hiện, nhưng nhất định lấy đại tiện hạ lợi (tiêu chảy) làm chứng đề cương của Thái âm bệnh.
Do đó, trên lâm sàng bất luận là bệnh ǵ, thời gian bao lâu, hễ thấy bụng trướng đầy mà lại hạ lợi nặng, nên trước tiên xét đến Thái âm hư hàn làm bệnh, th́ gần đúng lắm.000
V/ Đề cương chứng của Thiếu âm bệnh
Thiếu âm là chỉ kinh Túc Thiếu âm Thận. Ngô Côn cho rằng: Thiếu âm nếu tinh khí sung măn th́ Tỳ được bẩm thụ mà có thể “khai”, Can được nó trợ mà có thể “hạp”, cho nên khí của Thiếu âm chủ xu (trụ xoay).
Bệnh đến Thiếu âm th́ tổn hại đến căn bản, âm dương đều bị thương, v́ vậy mạch đến vi tế, c̣n chứng thấy tinh thần uể oải “chỉ muốn ngủ”. Đúng như điều 281 nói: “Thiếu âm chi vi bệnh, mạch vi tế, nhưng muốn ngủ vậy.” Vi chủ dương hư, tế chủ âm hư; vi đứng trước tế, phản ánh Thiếu âm bệnh tuy âm dương đều hư nhưng dương hư làm chủ. “Chỉ muốn ngủ” là muốn ngủ mà lại không thể ngủ say, là hiện tượng dương hư âm thịnh.
Vưu Tại Kinh nói: “Phàm Thiếu âm là Tam âm; dương ở đó mà vào, âm ở đó mà ra; cho nên tuy Thái âm, Quyết âm đều là âm tạng, nhưng làm bệnh thực là Thiếu âm mà thôi. … Trọng Cảnh đặc biệt nêu điều này, cho rằng lúc từ dương nhập âm, mạch chứng biến đổi có dạng như vậy.” Từ đó có thể thấy: dương chứng biến âm, truyền vào Thiếu âm, th́ dương mạch vốn phù mà đại sẽ chuyển thành vi mà tế; hơn nữa người không ngủ được th́ sẽ chuyển thành chỉ muốn ngủ. Dùng đó để biện Thiếu âm thương hàn càng là then chốt, tuyệt đối không được xem nhẹ.
Từng trị một người bệnh đái tháo đường, tuổi đă cao, cuối đông bị ngoại cảm, đầu đau phát nhiệt, mũi chảy nước trong; tự uống thuốc thành “Thích chí hoàn” để giải biểu, trước sau uống tới sáu hoàn. Tinh thần càng mệt mỏi, tay chân phát lạnh, bèn đến tôi khám. Chẩn mạch không lâu, người bệnh liền cúi đầu muốn ngủ; mạch không phù mà trầm. Tôi nói với nhà bệnh nhân: người già dương hư, lại lạm dùng thuốc tân tán cay ấm, ắt làm Thận dương bị tổn trước, âm hàn thừa cơ, e phát biến nguy; bèn gấp cho dùng Tứ nghịch thang để hồi dương cứu nghịch, bệnh mới chuyển nguy thành an.
Từ ví dụ này mà xét, “nhưng muốn ngủ” (đăn dục thuỵ)làm đề cương của Thiếu âm bệnh, lời người xưa thật không sai. V́ vậy trên lâm sàng, bất luận bệnh ǵ, hễ thấy mạch vi tế, thấy chứng muốn ngủ, th́ có thể đoán: tà đă nhập vào Thiếu âm; phép trị phải từ thịnh chuyển suy, lấy ôn Thiếu âm làm chủ, mới không mất cái then chốt của nó.
Từng trị một bệnh nhân họ Đường, tuổi đă ngoài bảy mươi, tháng mùa đông bị ngoại cảm, đau đầu phát nhiệt, mũi chảy nước trong; tự uống thành dược Linh kiều giải độc hoàn, trước sau tổng cộng uống sáu hoàn. Cảm thấy tinh thần mệt mỏi, tay chân lạnh, bèn nhờ tôi khám. Bắt mạch chưa lâu, người bệnh liền nghiêng đầu nhắm mắt, như muốn ngủ; mạch không phù mà trầm. Tôi nói với người nhà bệnh nhân rằng: người già dương hư, lại nhiều lần dùng thuốc tân lương, th́ khiến thận dương bị tổn trước, âm hàn thừa cơ nắm quyền, e sinh điều khó lường; bèn gấp cho dùng Tứ nghịch thang để bổ dương tiêu âm, bệnh liền khỏi.
Từ ví dụ này mà xét, “chỉ muốn ngủ” quả thật là chứng đề cương chứng của Thiếu âm bệnh, người xưa quả không lừa ta. V́ vậy, khi lâm chứng, bất luận bệnh ǵ, hễ bắt được mạch vi tế, lại thấy chứng muốn ngủ, th́ có thể khẳng định (断言) bệnh đă từ dương nhập âm, từ thịnh chuyển suy; lúc ấy phải gấp dùng phép ôn Thiếu âm, chớ để vuột mất thời cơ.
VI/ Đề cương chứng của bệnh Quyết âm
Quyết âm là chỉ kinh Túc Quyết âm Can. “Hai âm giao tận gọi là Quyết âm.” Ngô Côn nói: Quyết âm có tác dụng tiếp nhận âm khí, cho nên khí của âm chủ “hạp”.
Kha Vận Bá nói: “Hai âm giao tận gọi là Quyết âm, lại gọi là âm tuyệt dương; lẽ ra không có nhiệt. Nhưng Quyết âm chủ Can, mà Đởm nang ở trong Can, th́ các chứng nhiệt của Quyết âm đều là Thiếu dương tướng hỏa bốc phát ở trong. Cần biết Thiếu dương và Quyết âm cùng một tướng hỏa: tướng hỏa uất ở trong là Quyết âm, phát ra biểu là Thiếu dương.” Những lời trên cho thấy họ Kha chỉ nói được một mặt là nhiệt chứng của Quyết âm. Nhưng Quyết âm làm bệnh dường như lại không thể hoàn toàn quy về nhiệt chứng. V́ sao biết vậy? Bởi Quyết âm bệnh phát từ âm, cho nên không thể rời âm hàn mà thành dương nhiệt. Do đó, bệnh này chính ở giai đoạn chuyển hóa âm dương: âm chưa hết tiêu, dương chưa hết phục, là một biến hóa tiến thoái giữa âm và dương. Nó biểu hiện bằng hội chứng hàn nhiệt hỗn hợp, mà h́nh thành đặc điểm riêng của Quyết âm bệnh. Chữ “quyết” trong Quyết âm có ư “tận” và “cực”: âm hàn đă đến cực điểm, dương khí cũng suy đến cực độ. Tuy nhiên sự vật đến “cực” th́ sẽ xảy ra “đột biến” từ lượng biến sang chất biến; người xưa gọi là “vật cùng tất biến”, ư nghĩa cũng gần như vậy. Cho nên “cực” chính là điều kiện bên trong của sự biến hóa. Nếu không hiểu đạo lư này, thấy “biến” mà không biết v́ sao, th́ cũng không thể dùng tư tưởng biện chứng để chỉ đạo thực tiễn.
V́ vậy, Quyết âm bệnh khi âm hàn đến cực th́ cũng bắt đầu chuyển hóa theo hướng suy thoái; c̣n dương khí đối lập với âm hàn th́ lại từ hướng suy mà phát triển sang hướng phục hồi. Do dương khí bị âm hàn ức chế đă lâu, nên khi nó “lai phục” tất nhiên biểu hiện rất mạnh. Đúng như điều 326 nói: “Quyết âm chi vi bệnh, tiêu khát, khí thượng xung tâm, tâm trung thống nhiệt…” v.v., phản ánh thế hung hăng của tướng hỏa Quyết âm và tà phong dương. Nhưng đồng thời chứng ấy lại có “đói mà không muốn ăn, ăn th́ nôn ra, hạ th́ tiêu chảy không dứt” — là đặc điểm bệnh lư âm hàn chưa tiêu và tỳ vị hư hàn. V́ thế, bệnh này không thể xem là hoàn toàn nhiệt, cũng không được cho là hoàn toàn hàn; phải là một loại bệnh âm dương xen tạp, hàn nhiệt lẫn lộn mới là luận đúng. Dĩ nhiên trong Quyết âm bệnh cũng có nhiệt chứng đơn thuần và hàn chứng đơn thuần, nhưng riêng đề cương chứng th́ nhất định phải kiêm cả hàn lẫn nhiệt, thiếu một không được.
V́ vậy, trên lâm sàng hễ thấy can nhiệt kiêm hàn, hoặc thượng nhiệt hạ hàn, hàn là thật hàn, nhiệt là thật nhiệt, lại hoàn toàn không thể so với các chứng “cách dương” hay “đới dương” của Thiếu âm, th́ đều nên quy vào Quyết âm bệnh để t́m phép chữa.
Xưa Trương Tố Tử từng nói: “Từng thấy vài chứng Quyết âm tiêu khát, lưỡi đỏ rực, quyết lạnh mạch vi, khát rất dữ; dùng Bạch hổ, Hoàng liên… đều không cứu được khát. V́ Quyết âm tiêu khát đều là tà hàn nhiệt hỗn hợp, không phải chứng thuần dương cang nhiệt, há Bạch hổ Hoàng liên có thể trị được sao?”

Do đó mà xét, lâm sàng gặp dương chứng mà âm mạch, hoặc các chứng âm dương xen lẫn, lại có chứng “khí thượng xung tâm”, đều phải nắm lấy cương lĩnh Quyết âm để biện chứng luận trị, th́ mới đạt được mục đích “nắm cương”. V́ vậy, tôi cho rằng học các chứng đề cương của lục kinh bệnh không chỉ phải học về lư luận, mà quan trọng hơn là nghiên cứu từ quy luật phát bệnh của người bệnh. Trải qua nhiều lần thực tiễn kiểm nghiệm, mới có thể cảm nhận được giá trị khoa học của đề cương chứng lục kinh và ư nghĩa chỉ đạo lâm sàng của nó.
Đề cương chứng của lục kinh bệnh là then chốt của biện chứng; nó có hệ thống quy luật để t́m. Nó đem phương pháp biện chứng của 398 điều, mà quy thống dưới đề cương chứng lục kinh, đối với việc học toàn văn đă tạo hiệu quả “cương cử mục trương” (Thu thập ư chính và để các chi tiết được làm rơ). V́ vậy, thành tựu khoa học của nó thật không thể xem nhẹ.
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-02-18 17:39:05
BÀI GIẢNG 04 HỌC THUYẾT KHÍ HÓA CỦA THƯƠNG HÀN LUẬN
Có rất nhiều nghiên cứu lư luận biện chứng lục kinh của Thương hàn luận. Dùng lư luận “tiêu, bản, trung kiến” để chỉ đạo chứng trị lục kinh th́ gọi là học thuyết khí hóa. Đại biểu của học phái này có Trương Ẩn Am, Trần Tu Viên… Học thuyết khí hóa có nguồn gốc từ học thuyết Vận khí của Nội kinh, qua các nhà Thương hàn tiếp thu và phát huy, dùng để giải thích lục kinh lục khí theo quan hệ tiêu, bản theo lư luận của trung kiến, để phản ánh đặc điểm sinh lư – bệnh lư khi lục kinh phát bệnh mà chỉ đạo lâm sàng.
V́ vậy, khi tŕnh bày học thuyết này, trước hết phải bắt đầu từ thiên “Tố Vấn · Lục vi chỉ đại luận”. Sách nói:
“Trên Thiếu dương th́ hỏa khí chủ trị, trung khí thấy Quyết âm; trên Dương minh th́ táo khí chủ trị, trung khí thấy Thái âm; trên Thái dương th́ hàn khí chủ trị, trung kiến thấy Thiếu âm; trên Quyết âm th́ phong khí chủ trị, trung khí thấy Thiếu dương;
trên Thiếu âm th́ nhiệt khí chủ trị, trung khí thấy Thái dương; trên Thái âm th́ thấp khí chủ trị, trung khí thấy Dương minh. Cái gọi là ‘Bản’ là ở phía dưới Bản mà thấy Trung; ở phía dưới ‘Thấy (Trung)’ là khí của ‘Tiêu’.” Do lư luận âm dương lục khí “tiêu – bản” như trên được thiết lập, nên đă cung cấp căn cứ lư luận cho học thuyết “lục kinh khí hóa” của Thương hàn học.
Học thuyết khí hóa âm dương của Nội kinh mà cần nêu ra ở đây là một công cụ lập luận dựa trên tri thức quan sát khí hậu tự nhiên của cổ nhân; do quan hệ “người ứng với trời đất” (Thiên nhân tương ứng) nên mới có thuyết “vật sinh ra th́ có sự ứng hợp của nó, khí mạch nhờ đó mà h́nh thành”. V́ vậy có thể viện dẫn học thuyết khí hóa để chỉ đạo lư luận và quy luật về “tiêu bản trung kiến” của lục kinh. Phương pháp xét tiêu bản trung kiến của lục kinh (lấy Thái dương làm ví dụ) là: kinh mạch Thái dương ở ngoài làm “tiêu”, Túc Thái dương phủ ở trong làm “bản”; sau đó Thái dương lại biểu lư với Thiếu âm (bàng quang và thận kinh mạch thông nhau), cho nên hệ Thái dương bàng quang lấy Thiếu âm thận làm “trung khí”. Các kinh khác suy theo đó, không cần rườm dẫn.
Lục kinh phân âm dương, âm dương là “tiêu”; lục kinh lại phân lục khí, lục khí là “bản”. Quan hệ biểu lư âm dương được duy tŕ giữa tiêu và bản gọi là “trung khí”. “Trung khí” có ư nghĩa quan trọng trong khí hóa tiêu bản của lục kinh: nó khiến âm dương phối ngẫu để điều tiết thịnh suy của khí hóa, làm cho sinh cơ không ngừng nghỉ, giữ phát huy tác dụng then chốt như trục xoay. V́ vậy người viết cho rằng quan hệ giữa tiêu, bản và trung không phải là cô lập mà là một chỉnh thể hữu cơ liên hệ lẫn nhau; trong quá tŕnh khí hóa, cả ba đều gánh một phần trách nhiệm khí hóa nhất định. Do đó, đối với cách nêu trong “Chí chân yếu đại luận” rằng “Thiếu dương Thái âm theo bản, Thiếu âm Thái dương theo tiêu theo bản, Dương minh Quyết âm không theo tiêu bản mà theo trung kiến”, th́ không nhất thiết phải máy móc rập khuôn, chết v́ câu chữ. Tôi cũng cho rằng chữ “theo” mà cổ nhân nói là lời nói tương đối chứ không phải luận(断) tuyệt đối; nhưng nhiều nhà chú giải không nhận ra điểm lư thú ấy, không dám vượt một bước nên trói buộc tác dụng của nó. Ví dụ Thiếu dương bản thuộc hỏa mà tiêu thuộc dương, Thái âm bản thuộc thấp mà tiêu thuộc âm, khí của tiêu và bản đồng tính; v́ vậy khi vận dụng, cổ nhân có khi theo “bản” của hỏa khí Thiếu dương, có khi theo “bản” của thấp khí Thái âm; dùng cách “lấy bản dẫn tiêu” để phản ánh biến hóa bệnh lư của Thiếu dương, Thái âm th́ nhất định là đúng. Nhưng khi theo bản, cổ nhân tuyệt không bỏ mặc “trung khí”; nếu Thiếu dương và Thái âm không có khâu “trung khí” th́ âm dương mất phối ngẫu, khiến lư luận “theo bản” không thể đạt đến sâu thấu và tường tận. V́ vậy khi bàn học thuyết khí hóa tiêu, bản, trung của lục kinh, trước hết phải xây dựng mối liên hệ hữu cơ giữa ba mặt ấy. Để làm rơ vấn đề, dưới đây kết hợp học thuyết khí hóa “tiêu bản trung kiến” trong bệnh lục kinh mà lần lượt tŕnh bày như sau:

I/ Bệnh ở kinh Thái dương
Thái dương là kinh hàn thủy, gốc vốn hàn mà ngọn lại nhiệt, “trung kiến” là sự nhiệt hóa của Thiếu âm. Do khí của Thái dương ở phần tiêu và phần bản khác nhau, nên mới có thuyết “theo bản” và “theo tiêu”. Tuy nhiên, hàn thủy tuy là cái “bản” của Thái dương, nhưng vẫn có thể sinh ra cái nhiệt “tiêu dương”, bởi v́ “trung khí” của Thái dương là Thiếu âm. Khí của Thiếu âm thuộc nhiệt; khi cái nhiệt này làm ấm hóa hàn thủy của Thái dương thành khí, th́ khí ấy phát ra ngoài theo Thái dương, đạt đến thể biểu, phân bố khắp chu thân, nhờ đó phát huy tác dụng “tiêu dương” là cố biểu ngự tà. Có thể thấy “khí” sinh từ “thủy”, c̣n “thủy” lại do “khí” hóa mà thành, hai mặt không thể thiếu một. Cũng cho thấy Thái dương phải nương nhờ tác dụng khí hóa của “trung khí”. Ngoài ra, trong bệnh Thái dương cũng xuất hiện khá nhiều chứng hàn của Thiếu âm; việc này không phải ngẫu nhiên, mà có quan hệ mật thiết với t́nh trạng khí hóa của “trung khí” bất cập (không đủ), v́ thế không thể xem nhẹ mà bỏ qua nghiên cứu.
Dựa vào những điều trên, khi xét Thái dương về tiêu, bản, trung phải đồng thời bao quát cho đầy đủ, không nên chỉ g̣ vào một khuôn “theo tiêu” hay “theo bản” mà thôi. Ví như ngoại tà mới khách ở biểu, thấy ố hàn th́ có thể hiểu là theo cái hàn của bản khí; thấy phát nhiệt th́ có thể hiểu là theo cái nhiệt của tiêu khí. Nếu bệnh ở phần tiêu của kinh Thái dương lan tới bản phủ, th́ tiêu kinh có bệnh sẽ mạch phù, phát nhiệt; bản phủ có bệnh th́ khát mà tiểu tiện bất lợi; dùng Ngũ linh tán là phép phát hăn để lợi tiểu. Nếu bệnh ở bản phủ Thái dương lan tới phần tiêu của kinh, th́ bản phủ có bệnh sẽ tiểu tiện bất lợi, vùng tâm hạ đầy hơi đau nhẹ; tiêu kinh có bệnh th́ đầu gáy cứng đau, vô hăn mà sợ lạnh phát sốt; dùng Quế chi khứ quế gia Phục linh Bạch truật thang là phép lợi tiểu để giải ngoại tà. Đường Dung Xuyên lĩnh hội hai điều này rất sâu, ông nói: “Ngũ linh tán dùng Quế chi với liều lượng để phát hăn; phát hăn chính là để lợi thủy. Bài này (chỉ Quế chi khứ quế gia Phục linh Bạch truật thang) trọng Phục linh, Bạch truật để lợi thủy; lợi thủy chính là để phát hăn. Thật hiểu rằng thủy có thể hóa khí, khí có thể hành thủy, cho nên bên này cũng hợp, bên kia cũng hợp.”
Chữ “khí” mà họ Đường nói có hàm nghĩa tiêu dương, chữ “thủy” mà ông nói có hàm nghĩa bản hàn; ông vừa chỉ rơ mối liên hệ phát bệnh giữa tiêu và bản của Thái dương, lại nêu bật vai tṛ của “trung khí” trong phát bệnh, nhận xét rất mới mẻ, sáng rơ.
II/ Bệnh ở kinh Dương minh
Dương minh vốn tính táo (khô ráo), bề ngoài là dương; nhưng ở phần “trung” lại thấy sự hóa của thấp thuộc Thái âm. Người xưa cho rằng Dương minh không theo “tiêu–bản”, mà theo sự “hóa” được thấy ở Thái âm nơi phần trung. V́ hai dương hợp lại mà sáng rơ, gọi là Dương minh, tức dương khí sung thịnh, điều này cũng có thể thấy. Cho nên nhất định phải dùng âm để chế ước th́ khí mới điều ḥa mà không sinh bệnh; v́ vậy, cần ở trong Dương minh mà thấy Thái âm để làm cho được quân b́nh.
Lại nữa, Dương minh ghét táo mà ưa thấp; táo gặp thấp th́ tương trợ, điều ḥa là tốt. Nếu thấp quá thịnh, hoặc táo quá thịnh, th́ mất quân b́nh mà thành bệnh. V́ vậy, nếu “trung khí” của Dương minh không đủ, th́ sẽ không theo trung hóa mà theo bản khí mà hóa táo; hoặc theo tiêu dương mà hóa nhiệt; do đó táo nhiệt bốc thịnh, h́nh thành chứng “Vị gia thực” của Dương minh, hoặc chứng nhiệt thịnh của Dương minh. Như vậy mà xét, Dương minh táo th́ theo bản, nhiệt th́ theo tiêu, nhưng đều không ngoài liên quan đến việc “thấp” của “trung khí” không đủ. Người xưa bảo chúng ta từ mặt đối lập của thấp mà nhận thức vấn đề táo nhiệt, đó gọi là tư tưởng biện chứng “một phân thành hai”.
Mặt khác, cũng cần thấy rằng trong bệnh Dương minh vẫn có nhiều biến hóa bệnh lư thuộc thấp. Trương Ẩn Am nói: “Dương minh phát nhiệt mà khát, đại tiện táo kết, đó là bệnh Dương minh thuộc dương. Nếu trong vị hư lạnh, thủy cốc không lợi, ăn ngũ cốc vào liền muốn nôn, mạch tŕ, sợ lạnh, th́ đó là Dương minh cảm trúng, biểu hiện ra sự hóa của âm thấp ở trong.” Họ Trương tuy nói hàn thấp, nhưng các chứng thấp nhiệt đều đă hàm chứa ngoài lời nói. V́ vậy, học thuyết Dương minh theo sự “hóa” của “trung khí”, lư lẽ của nó rất tinh vi, thấu đáo.
III/ Bệnh ở kinh Thiếu dương
Thiếu dương vốn thuộc hỏa, bề ngoài là dương; ở phần “trung” lại thấy Quyết âm phong mộc. Do “tiêu” và “bản” đồng khí, nên Thiếu dương theo bản khí là hỏa để khái quát cái “tiêu” của nó. Nhưng Thiếu dương là dương mới sinh khởi, vừa mới xuất hiện trên mặt đất, khí c̣n non yếu, tất phải nhờ cái phong dương ở phần “trung” để thôi động và phát dương, khiến khí Thiếu dương sinh phát, thăng lên mà chưa dừng.
V́ Thiếu dương có các chứng: miệng đắng, họng khô, mắt hoa chóng mặt, th́ quy về bản khí hỏa hóa, lư lẽ vốn đă rơ. Nhưng bệnh của “trung khí” phong mộc cũng vốn đă hàm trong hỏa. Xin xem chứng đầu mắt choáng váng của bệnh Thiếu dương: không phải do phong mộc hóa th́ là ǵ? Không chỉ vậy, hai kinh khi phát bệnh, chứng trạng cũng khá gần giống nhau: như họng khô của Thiếu dương bệnh, so với tiêu khát của Quyết âm bệnh; phiền ở tâm của Thiếu âm bệnh, so với đau nóng ở trong ḷng của Quyết âm bệnh; lặng lẽ không muốn ăn uống của Thiếu dương bệnh, so với đói mà không muốn ăn của Quyết âm bệnh; hay nôn của Thiếu dương bệnh, so với nôn ọe của Quyết âm bệnh; hàn nhiệt văng lai của Thiếu dương bệnh, so với quyết nhiệt thắng phục của Quyết âm bệnh—hai kinh về mặt chứng hậu đều có vẻ “h́nh như mà thần hợp”.
Từ đó mà xét, Thiếu dương không chỉ theo bản, mà cũng chưa từng không theo sự “hóa” của trung khí.
IV/ Bệnh ở kinh Thái âm
Thái âm vốn thuộc thấp, bề ngoài là âm; ở phần “trung” lại thấy sự táo hóa của Dương minh. Do khí của “tiêu” và “bản” đồng nhất mà không trái nhau, nên Thái âm theo “bản” để khái quát cái “tiêu”.
Phàm Thái âm theo bản khí hàn thấp mà phát bệnh, th́ hàn thấp rối loạn ở trung tiêu, thanh trọc thăng giáng mất điều ḥa, nên thấy các chứng: trong bụng trướng đầy, nôn mửa, hạ lợi, ăn uống không xuống, thỉnh thoảng bụng tự đau.
Tuy nhiên, xét theo phép biện chứng, hàn thấp Thái âm thịnh tất cũng do ở phần “trung” Dương minh táo hóa không đủ, dương không thắng được âm, nên hàn thấp mới có thể lưu lại mà thành bệnh. Cho nên có thể thấy chứng này có liên quan đến sự thịnh suy của “trung khí”, cũng không thể không biết.
V/ Bệnh ở kinh Thiếu âm
Thiếu âm bản là nhiệt mà tiêu là âm, ở phần “trung” lại thấy sự hóa của hàn khí Thái dương. Do khí của “tiêu” và “bản” khác nhau rất xa, nên Thiếu âm phải “hai đường đều theo”: vừa theo bản vừa theo tiêu. Phản ánh vào bệnh Thiếu âm th́ có hai loại: hàn hóa và nhiệt hóa. Hàn chứng th́ thấy tay chân quyết lạnh, hạ lợi phân trong lẫn đồ ăn chưa tiêu (hạ lợi thanh cốc), chỉ muốn ngủ… Nhiệt chứng th́ thấy tâm phiền không nằm được, hạ lợi kèm đau họng…
Thiếu âm ngoài việc theo tiêu–bản ra, c̣n có liên quan đến “trung kiến Thái dương”. Như tà ở Thiếu âm hóa nhiệt rồi xuất ra Thái dương, có thể thấy toàn thân và tứ chi đều nóng; v́ nhiệt ở bàng quang tất sẽ tiện huyết. Nếu hàn của Thiếu âm va chạm, liên lụy đến Thái dương, th́ có thể thấy tiểu tiện bất lợi mà thiếu phúc đau. Hơn nữa, Thiếu âm phần nhiều gặp hàn chứng, v́ c̣n kiêm sự hàn hóa của “trung khí” nữa. Cho nên, Thiếu âm không chỉ có hàn–nhiệt theo tiêu–bản, mà cũng có hàn–nhiệt theo “trung khí” vậy.
VI/ Bệnh ở kinh Quyết âm
Bản khí của Quyết âm là phong, tiêu khí là âm, ở phần “trung” lại thấy hỏa khí Thiếu dương. Người xưa cho rằng Quyết âm không theo tiêu–bản mà theo trung khí. Bởi v́ hai âm giao hội đến cùng cực, gọi là Quyết âm. Âm khí đến đây cực tận th́ “âm cực dương sinh”, bèn theo sự “hóa” của “trung thấy Thiếu dương”. Từ âm chuyển sang dương, khiến âm dương tiếp nối nhau mà không đến nỗi tuyệt diệt. V́ vậy, Quyết âm phát bệnh chính là đang ở giai đoạn biến đổi, chuyển hóa giữa âm và dương.
Do sự đấu tranh “thắng–phục” giữa âm và dương, nên có thể xuất hiện t́nh trạng “quyết” và “nhiệt” qua lại, đồng thời mức độ có thể nhiều ít khác nhau; điều đó cho thấy đây là sự phản ánh cụ thể của cuộc tranh chấp giữa chính và tà trong quá tŕnh biếncách của âm dương. V́ vậy, cũng có thể nêu rơ lư do Quyết âm “từ trung thấy Thiếu dương hóa”, để làm sáng tỏ quy luật đối lập–thống nhất, chuyển hóa và biến đổi của âm dương.
Những điều tŕnh bày ở trên thông qua học thuyết “tiêu–bản–trung thấy khí” khi lục kinh phát bệnh, nhằm phản ánh cơ chế vận hành khí cơ và khí hóa âm dương của lục kinh lục khí, đă thể hiện đầy đủ rằng học thuyết khí hóa là một lư luận uyên thâm trong Thương hàn học. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và vận dụng nó vẫn c̣n rất chưa đầy đủ, chưa thể khiến giới học giả coi trọng đúng mức. Lại có người c̣n xem đó là “bă rượu” và huyền học mà phủ định, khiến người mới học bị ảnh hưởng mà cho là luận thuyết hoang đường. Bởi vậy mà “đại pháp vi ngôn” không được phát huy rạng rỡ, thật đáng tiếc!
Học thuyết khí hóa trong “tiêu–bản–trung” có tư tưởng biện chứng và quan điểm duy vật. Nó có thể phân tích một cách hệ thống sinh lư–bệnh lư của lục kinh cũng như quy luật phát bệnh, từ đó chỉ đạo lâm sàng; được các y gia qua nhiều đời coi trọng, hẳn không phải không có nguyên nhân. Đáng tiếc thay, một số nhà chú giải Thương hàn bị trói buộc bởi những lời trong 《Nội kinh》 về “ṭng bản, ṭng tiêu, ṭng trung kiến”, rồi máy móc bê nguyên như công thức để áp dụng, mà lại muốn t́m cầu tính hệ thống của khí hóa—điều đó hiển nhiên là không thể. V́ vậy, không ngại nông cạn, tôi nêu ra quan điểm chỉnh thể về “tiêu–bản–trung”, lại tŕnh bày thêm ư nghĩa quan trọng của “trung khí” trong vận dụng, mong được các đồng đạo phê b́nh và chỉ chính.
** Chú
“Tiêu bản trung kiến” (标本中见) là một thuật ngữ của học thuyết lục kinh khí hóa. “Tiêu” (标) chỉ phần ở ngoài, biểu, ngọn, thường quy về kinh mạch và biểu hiện bên ngoài; “Bản” (本) chỉ phần ở trong, lư, gốc, thường quy về tạng phủ và căn nguyên bên trong; “Trung” (中) là mối liên hệ ở giữa, tức quan hệ biểu lư âm dương phối đôi giữa hai hệ; “Kiến” (见) nghĩa là “thấy/biểu hiện ra”. Gộp lại, “trung kiến” là “cái khí ở giữa mà biểu hiện ra”, dùng để nói rằng khi xét bệnh theo lục kinh không chỉ nh́n tiêu hay bản riêng lẻ, mà phải nh́n khí hóa trung gian (quan hệ phối đôi biểu lư) đang “hiện ra” và chi phối diễn biến bệnh; v́ thế mới có cách nói kiểu “trên kinh này chủ khí ǵ, trung kiến là kinh kia”, nhằm chỉ đạo biện chứng và lựa chọn phép trị (giải biểu, thanh nhiệt, ôn dương, hóa thấp, nhuận táo… ) cho đúng trọng tâm.
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-02-18 22:42:45
BÀI GIẢNG 05 THẢO LUẬN VỀ CÁC BIẾN THỂ VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CỦA THANG QUẾ CHI第五讲试论桂枝汤的加减证治
Các chứng thích ứng với thang Quế chi
Thang Quế chi là chủ phương điều trị chứng Thái dương trúng phong. Thái dương trúng phong là chỉ về sau khi phong tà từ ngoài xâm nhập, trên cơ sở mạch chứng đề cương của bệnh Thái dương lại xuất hiện các mạch chứng như phát nhiệt, ra mồ hôi, sợ gió, mạch hoăn, th́ gọi là chứng Thái dương trúng phong. V́ vậy, nó khác với “trúng phong” do y học cận đại nói về “tai biến mạch máu năo”. Phong là dương tà, xâm phạm vệ biểu, vệ dương giao tranh với phong tà, nên trước hết thấy phát nhiệt. Hơn nữa, chứng trạng phát nhiệt xuất hiện vừa nhanh lại vừa nổi bật, khác với biểu hiện lâm sàng của chứng Thái dương thương hàn lấy ố hàn (ghét lạnh) làm chứng trạng chủ yếu. Vệ dương bị phong tà làm tổn thương, mất tác dụng bảo vệ cơ biểu, quản lư sự đóng mở của lỗ chân lông, lại thêm phong tà không ngừng sơ tiết, ép doanh âm không thể cố thủ ở trong, v́ vậy có thể xuất hiện chứng “tự hăn xuất”. Nhưng mồ hôi trong trúng phong không phải ra nhiều kéo dài liên tục, mà chỉ là da hơi ẩm nhuận, dùng tay sờ vào biết có mồ hôi là căn cứ để phân biệt. Ra mồ hôi lại càng làm tấu lư lỏng lẻo không vững, vệ khí theo đó mà suy yếu. Phản ánh trên mạch tượng tức là mạch hoăn. Trương Trọng Cảnh ở điều 12 đă mô tả rất h́nh tượng và giải thích rất tốt chứng này: mạch “dương phù nhi âm nhược”, tức là ấn nhẹ tay thấy thừa, ấn mạnh tay thấy thiếu, là dạng mạch phù mà mềm yếu.
“翕翕发热”, “浙浙恶风”, “啬啬恶寒” (hấp hấp phát nhiệt, triết triết ố phong, sắc sắc ố hàn) là những cách h́nh dung: phát nhiệt như mặc nhiều áo thấy hầm hập; sợ gió như bị nước lạnh dội lên người; c̣n sợ lạnh th́ biểu hiện một dáng vẻ co rụt. Đồng thời do phong tà từ ngoài xâm nhập, ảnh hưởng đến phế khí tuyên phát và vị khí giáng xuống: phế khí không thuận lợi th́ nghẹt mũi; vị khí thượng nghịch th́ nôn khan. Bệnh lư của Thái dương trúng phong có thể khái quát bằng bốn chữ “荣弱卫强” (Doanh nhược vệ cường). “Doanh nhược” là nói âm mất sự cố hộ (củng cố bảo hộ) của vệ dương mà thoát ra ngoài, phản ánh một mặt chính khí bất túc; “vệ cường” là chỉ phong tà phạm vào phần vệ, phản ánh một phương diện tà khí thịnh thực. Tóm lại mà xét, phong tà từ ngoài xâm nhập làm doanh vệ bất ḥa chính là đặc điểm bệnh lư cơ bản nhất của chứng Thái dương trúng phong.
Chứng trúng phong của Thái dương bệnh th́ nên dùng thang Quế chi để điều trị, nhưng thang Quế chi lại không chỉ giới hạn ở việc trị chứng Thái dương trúng phong. Như vốn thuộc chứng Thái dương thương hàn, sau khi đă phát hăn hoặc tả hạ mà biểu tà vẫn chưa giải, hoặc tuy đă phát hăn mà giải, nhưng lại bị cảm phong hàn lần nữa, bệnh c̣n ở biểu, th́ đều có thể dùng thang Quế chi để tái giải biểu. V́ sao không dùng thang Ma hoàng? Đó là v́ bệnh tuy nguyên thuộc thương hàn, nhưng đă qua phát hăn tả hạ, dù biểu chứng c̣n, cũng không nên lại dùng phép phát hăn mạnh. Dùng thang Quế chi có thể giải cơ phát biểu, điều ḥa doanh vệ, tuy phát hăn mà khu tà, nhưng lại không làm tổn thương chính khí. Đúng như điều 57 nói: “Thương hàn phát hăn đă giải, nửa ngày chừng lại phiền, mạch phù sác, có thể lại phát hăn, nên dùng Quế chi thang”. C̣n một t́nh huống nữa: có người nội tạng không biểu hiện bệnh ǵ, chỉ thỉnh thoảng tự ra mồ hôi, hoặc kèm phát nhiệt; đó là nguyên nhân ǵ? Đó là v́ “vệ khí bất ḥa”, “vệ khí không cùng doanh khí hài ḥa nên như vậy”. Nghĩa là tuy doanh khí của người bệnh vẫn ḥa thuận, nhưng vệ khí không ḥa, không thể phối hợp chặt chẽ với doanh khí, khiến doanh vệ ai nấy làm việc của ḿnh, vệ khí không thể bảo vệ ra ngoài, doanh âm không thể giữ ở trong, v́ thế “thường tự ra mồ hôi”, hoặc “thỉnh thoảng phát nhiệt tự ra mồ hôi mà không khỏi”. Loại doanh vệ bất ḥa này vừa không phải Thái dương trúng phong, lại “tạng vô tha bệnh”, cũng nên dùng Quế chi thang uống trước khi phát cơn để lấy mồ hôi, khiến doanh vệ điều ḥa th́ khỏi bệnh.
Quế chi thang gồm Quế chi, Thược dược, Chích cam thảo, Đại táo, Sinh khương. Trong phương, Quế chi ôn thông vệ dương, phối với vị cay của Sinh khương để giải phong tà ở phần vệ; Thược dược vị hơi khổ toan (đắng chua nhẹ), có thể liễm âm ḥa doanh, phối với vị ngọt của Đại táo có thể tư dưỡng phần doanh âm bị hao tổn; Cam thảo ḥa trung phù hư, trợ Quế, Thược để điều ḥa âm dương. Năm vị thuốc này hàm chứa các vị tân, toan, cam… do tân cam hóa dương có thể trợ vệ, toan cam hóa âm có thể ḥa doanh, nên Quế chi thang có công hiệu điều ḥa doanh vệ. Cách uống phương này yêu cầu sau khi uống thuốc phải uống cháo loăng nóng, và tránh ẩm thấp, phong hàn; mục đích là làm cốc khí ở trong sung túc, vừa có thể giúp Quế chi phát hăn khu trừ tà ở phần vệ, vừa có thể nuôi dưỡng nguồn mồ hôi ở trong để điều ḥa t́nh trạng hư yếu của doanh âm.
Kha Cầm khi đánh giá thang Quế chi đă nói: “Đây là đứng đầu các phương của Trọng Cảnh, là tổng phương phát hăn để tư âm ḥa dương, điều ḥa doanh vệ. Phàm đầu đau phát sốt, sợ gió sợ lạnh, mạch phù mà nhược, tự ra mồ hôi, bất kể kinh nào, không luận trúng phong, thương hàn hay tạp bệnh, đều có thể dùng phương này để phát hăn; nếu phát hăn bừa, tả hạ bừa mà biểu không giải, vẫn phải dùng phương này để giải cơ. Như các bệnh đầu đau, phát sốt, sợ lạnh, sợ gió, nghẹt mũi, nôn khan… chỉ cần thấy một chứng là đă đúng, không nhất thiết phải đủ cả, chỉ cần lấy mạch nhược tự hăn làm chủ mà thôi.”
Thang Quế chi có tác dụng điều tiết hai chiều. Nó có thể phát hăn để chỉ hăn, phát hăn mà không thương chính, chỉ hăn mà không lưu tà. Bên ngoài nó có công điều ḥa doanh vệ, bên trong lại có tác dụng điều ḥa khí huyết. Đặc điểm của nó là lấy điều ḥa âm dương tỳ vị ở trung tiêu làm chính, v́ vậy có thể điều chỉnh t́nh trạng bất ḥa của khí huyết, doanh vệ v.v. Xem năm vị thuốc trong phương như Sinh khương, Đại táo, Cam thảo đều là những thứ gia vị có trong trong bếp, và có công kiện tỳ khai vị; lại Quế chi thơm mà vị thuần, có thể thúc đẩy khẩu vị, c̣n có công hiệu thông dương, lư khí. Phương này là phần dư của “Thang dịch kinh” thời cổ hay là do tay Y Doăn chế ra chăng.
Trong 113 phương của Thương hàn luận, có 41 phương dùng Quế chi, c̣n các phương lấy Quế chi làm chủ để gia giảm th́ không dưới 29 phương. V́ vậy trong lâm sàng, cơ hội ứng dụng thang Quế chi khá nhiều. Do đó, chúng ta không chỉ nên khảo luận về mặt lư luận, mà c̣n phải kết hợp thực tiễn để kiểm chứng. Nay kèm theo một số y án lâm sàng liên quan đến điều trị để làm tham khảo khi dùng thang Quế chi.
II/ Ứng dụng lâm sàng của thang Quế chi
(1) Điều trị chứng thỉnh thoảng phát nhiệt tự ra mồ hôi
Lư xx, nữ, 53 tuổi. Mỗi ngày đều có hai ba lần phát nhiệt kèm ra mồ hôi, từng cơn từng cơn phát tác. Bệnh đă một năm, ăn uống đại tiểu tiện c̣n khá. Từng điều trị theo phép âm hư phát nhiệt, uống thuốc hơn 20 thang không hiệu quả. Bắt mạch thấy hoăn nhuyễn, xem lưỡi nhạt rêu trắng, bèn biện là chứng doanh vệ bất ḥa. Doanh vệ là âm với dương. Doanh vệ điều ḥa th́ doanh âm đến giúp vệ dương, nên nhiệt không phát; vệ dương đến che chở doanh âm, nên mồ hôi không ra. Nay doanh vệ bất ḥa, ai làm việc nấy, hai bên không tương trợ, nên thỉnh thoảng phát nhiệt mà tự ra mồ hôi.
Phép trị nên điều ḥa doanh vệ, ḥa âm dương của nó, khiến doanh vệ nương tựa nhau th́ bệnh khỏi. Bèn kê thang Quế chi, sau khi uống lấy chút mồ hôi nhẹ th́ khỏi.
Hai mươi năm trước, khi tôi cùng bạn học khoa Trung y đi thực tập lâm sàng ở khu mỏ phía tây Kinh thành, t́nh cờ bị cảm phong hàn mà phát bệnh, chứng thấy phát nhiệt, và khi phát nhiệt th́ kèm ra mồ hôi khắp người, bèn tự thấy bực bội muốn mát; nhưng hễ vừa vén chăn áo ra th́ lại dần dần sợ gió sợ lạnh. Mũi chảy nước trong, rỉ rả không dứt, toàn thân khó chịu, thỉnh thoảng nôn khan, bắt mạch là phù… Tôi tự biết là chứng Thái dương bệnh trúng phong, dùng thang Quế chi nguyên phương, theo phép uống cháo lấy mồ hôi mà khỏi. Từ đó, đối với thứ tự kể chứng của điều 2 Thương hàn luận: “Thái dương bệnh, phát nhiệt, ra mồ hôi, sợ gió, mạch hoăn”, tôi có thêm nhận thức và cảm ngộ mới.
(二) Điều trị mề đay
Một bệnh nhân nam, 60 tuổi. Bị mề đay, ngứa găi như khoan vào tim, khó chịu không sao chịu nổi, mấy tháng không khỏi. Bắt mạch thấy phù mà hoăn, lại có chứng ra mồ hôi sợ gió, xem rêu lưỡi th́ trắng nhuận.
Biện chứng: chứng thuộc phong tà lưu lại ở cơ tấu, doanh vệ thất ḥa mà thành “phong chẩn”.
Phép trị: khu phong, điều ḥa doanh vệ.
Phương: thang Quế chi.
Uống thuốc xong, uống cháo lấy mồ hôi, th́ ngứa dứt, ban lặn, da bong nhiều đến nắm đầy tay.
(三) Điều trị chứng ra mồ hôi thiên lệch
Tôn xx, nam, 39 tuổi. Nửa thân trái thường xuyên ra mồ hôi, c̣n nửa thân phải lại không ra mồ hôi, ranh giới rất rơ. Mạch hoăn hơi phù, rêu lưỡi mỏng trắng.
Biện chứng: “Tố Vấn · Âm dương ứng tượng đại luận” nói: “Trái phải là con đường của âm dương”. Chứng này mạch phù mà hoăn, là hư phong ở kinh, doanh vệ không điều, khí huyết hai bên trái phải không ḥa, khiến âm dương trái nghịch mà thành bệnh.
Phép trị: giải cơ phát hăn, điều ḥa âm dương, điều ḥa khí huyết.
Phương: thang Quế chi.
Uống xong dùng cháo lấy mồ hôi nhẹ, từ đó khỏi bệnh.
III/ Ứng dụng gia giảm của thang Quế chi
Gia giảm thang Quế chi, chỉ riêng theo ghi chép trong Thương hàn luận, có thể chia làm ba loại: gia vị Quế chi thang, giảm vị Quế chi thang và vừa gia vừa giảm (gia giảm) thang Quế chi, nay lần lượt tŕnh bày như sau.
(一) Gia vị thang Quế chi
1. Quế chi gia Quế thang: phương này do thang Quế chi gia tăng lượng Quế chi mà thành. Trị các chứng do “hỏa kiếp” cưỡng bức ra mồ hôi, chỗ châm bị lạnh, nổi cục đỏ, tất phát “bôn đồn”, khí từ thiếu phúc xung lên tim v.v.
Thôi xx, nữ, 50 tuổi. Bệnh rất lạ, tự cảm thấy có một luồng khí từ mắt cá trong men theo mặt trong đùi chạy lên, đến tiểu phúc th́ trướng, lên tới vùng tim ngực th́ khó thở hồi hộp, đầu toát mồ hôi lạnh; chốc lát khí đi xuống th́ các chứng giảm theo. Mỗi ngày phát tác hai ba lần, rất sợ hăi. Sắc mặt xanh vàng không nhuận, lưỡi nhạt non, trắng mà nhuận, mạch huyền sác nhưng ấn xuống vô lực.
Biện chứng: chứng này trong Trung y gọi là “bôn đồn”, nhưng dạng như vậy thật hiếm. Bôn đồn phát tác đều do tâm dương hư ở trên, không đủ sức trấn giữ, tà ở hạ tiêu thừa cơ xung lên. Nay âm đến đánh dương mà tranh nhau, nên mạch huyền sác mà ấn xuống vô lực. Huống chi huyền mạch thuộc âm, âm khí thượng nghịch nên mạch huyền. Nơi “bôn khí” đi qua th́ trướng, bức bối, hồi hộp… lần lượt xuất hiện, cũng không lạ. Lưỡi nhạt non là dấu hiệu tâm dương hư.
Phép trị: trợ tâm dương, liễm âm giáng xung.
Phương: Quế chi gia Quế thang, uống thêm Hắc tích đan 6g.
Uống tổng cộng 5 thang, bệnh dứt hẳn, không tái phát.
2. Quế chi gia Thược dược thang: phương này do Quế chi thang tăng gấp đôi Thược dược mà thành. Trong Thương hàn luận điều 279 dùng trị Thái dương sau khi công hạ, bụng đầy đau từng cơn. Tôi lấy ư ấy dùng trị bệnh mạn có hiệu quả, ghi án như sau:
Vương xx, nam, 46 tuổi. Mỗi ngày đại tiện 3–6 lần, phân không thành khuôn, lại có chất nhầy đỏ, kèm lư cấp hậu trọng. Mạch trầm huyền mà hoạt, lưỡi đỏ rêu trắng. Tây y chẩn đoán lỵ khuẩn mạn, xét phân có hồng bạch cầu. Bệnh kéo dài một năm, điều trị không hiệu quả.
Biện chứng: can tỳ không điều, khí huyết bất ḥa, can mộc khắc tỳ, tỳ mất vận hóa, khiến âm dương không thăng giáng được, nên hạ lợi mà mạch huyền. Chứng này không hàn không nhiệt, nằm giữa hư và thực, bồi bổ không hiệu, trị hàn nhiệt cũng vô dụng.
Phép trị: b́nh can ḥa tỳ, điều ḥa khí huyết, th́ dù không trị lỵ trực tiếp mà cũng có thể dứt.
Phương: thang Quế chi gia Thược dược.
Uống 4 thang, đại tiện dần thành khuôn mà khỏi.
Nếu phương này gia Đại hoàng th́ gọi là thang Quế chi gia Thược dược Đại hoàng (c̣n gọi là thang Quế chi gia Đại hoàng), trị bụng đầy đau, hoặc hạ lợi mủ máu hậu trọng khó thông… mà mạch huyền hữu lực, miệng không khát, uống có hiệu.
3.Thang Quế chi gia Cát căn: do Quế chi thang gia Cát căn mà thành. Trị trúng phong ra mồ hôi sợ gió mà lại thấy gáy lưng cứng đờ “kỷ kỷ” v.v. Có tác dụng khu phong thông kinh và nhuận dưỡng kinh mạch. Lâm sàng trị đau ngực lưng trong bệnh mạch vành, đau vùng chẩm trong tăng huyết áp xơ cứng động mạch, dùng đúng đều có hiệu quả.
Trương xx, nữ, 26 tuổi. Do đi xe khách đường dài, mặt hướng cửa sổ mở, gió mạnh tạt vào mặt, lúc đó thấy mát. Về nhà sau đó mặt co cứng, miệng mắt méo lệch. Bắt mạch phù, rêu lưỡi trắng nhuận.
Biện chứng: phong trúng kinh lạc Dương minh, đúng như Kim quỹ yếu lược nói: “Lạc mạch không hư, tặc tà không tiết, hoặc trái hoặc phải, tà khí phản chậm, chính khí liền gấp, chính khí dẫn tà, oai tích bất toại” là loại chứng đó.
Phép trị: khu phong tà ở kinh lạc Dương minh.
Phương: Thang Quế chi gia Cát căn, gia thêm Bạch phụ tử, Toàn yết.
Uống 2 thang, ra mồ hôi tà giải, bệnh khỏi.
4.Thang Quế chi gia Nhân sâm (gọi tắt Tân gia thang): phương này do Quế chi thang tăng lượng Thược dược, Sinh khương rồi gia Nhân sâm mà thành. Trị chứng sau phát hăn thân đau, mạch lại trầm tŕ v.v. Tôi dùng lâm sàng trị phụ nữ sau sinh, hoặc sau kỳ kinh, do mất máu doanh hư không nuôi dưỡng được tứ chi mà đau nhức toàn thân, mạch tŕ sáp vô lực, dùng phương này thường hiệu nghiệm.
Phàn x, nữ. Sau sinh bỗng thân đau, dùng Sinh hóa thang không hiệu. Học viên theo tôi học chẩn là khí huyết lưỡng hư thân đau, dùng Thập toàn đại bổ thang tuy có hiệu nhưng không nhanh. Bắt mạch trầm hoăn vô lực, xem lưỡi nhạt rêu mỏng trắng. Bèn đổi dùng Quế chi thang gia Nhân sâm, 3 thang th́ hết đau. Học viên không hiểu, tôi nói: hiệu quả là nhờ Quế chi, Sinh khương trong phương giúp tác dụng bổ khí huyết của Nhân sâm, Thược dược đạt tới biểu, bổ mà không trệ, lại làm chức năng doanh vệ tăng mạnh, nên hiệu quả rơ.
5. Quế chi gia Phụ tử thang: tức Quế chi thang gia Phụ tử. Trị sau phát hăn, mồ hôi chảy măi không dứt, sợ gió, tiểu tiện khó, tứ chi hơi co rút, khó co duỗi v.v. Có tác dụng cố dương nhiếp âm chỉ hăn. Tôi cho rằng người già dương hư cảm hàn, mạch trầm mà ra mồ hôi sợ gió, dùng phương này tăng liều Phụ tử để ôn kinh phù dương, thật là kế sách kiêm cố cả chính lẫn tà. Phân biệt với chứng Ma hoàng phụ tử tế tân thang ở chỗ có hay không có mồ hôi. Nếu uống thang Quế chi gia Phụ tử mà không giảm, th́ nên gấp củng cố cái gốc, dùng thang Tứ nghịch.
6. Quế chi gia Hoàng kỳ thang: do Quế chi thang gia Hoàng kỳ. Trọng Cảnh dùng trị hoàng đản mạch phù, bệnh lâu ngày vệ hư. Ư ngoài lời là trong đó c̣n có chứng phát nhiệt ra mồ hôi. Phương này lâm sàng trị viêm dây thần kinh ngoại biên, tê tay chân v.v. cũng có hiệu.
7. Quế chi gia Qua lâu căn thang: tức Quế chi thang gia Qua lâu căn. Trị do tân dịch bất túc khiến kinh mạch Thái dương táo cấp mà sinh chứng co quắp. Chứng thấy thân cứng, kỷ kỷ, mạch trầm tŕ. So với Cát căn thang th́ khác ở mạch phù hay mạch trầm, khát hay không khát.
8. Quế chi gia Hậu phác Hạnh tử thang: do Quế chi thang gia Hậu phác, Hạnh tử. Trị Thái dương trúng phong kiêm “khí suyễn”. Lâm sàng phàm thấy suyễn do ngoại cảm phong hàn, mạch phù mà hoăn, rêu lưỡi trắng đều có thể dùng. Nếu so với chứng Ma hạnh cam thạch thang th́ khác ở hàn nhiệt; nếu so với chứng Ma hoàng thang th́ khác ở hư thực.
(二) Giảm vị Quế chi thang
Thang Quế chi khứ Thược dược: phương này trị Thái dương bệnh sau khi công hạ, mạch xúc, ngực đầy. Lâm sàng dùng trị bệnh tim kèm ngực đầy, đoản khí, ho v.v. cũng có hiệu.
(三) Vừa gia vừa giảm thang Quế chi (tức gia giảm Quế chi thang)
9. Quế chi khứ Quế gia Phục linh Bạch truật thang: phương này trị đă uống Quế chi thang, hoặc đă công hạ, mà vẫn đầu gáy cứng đau, hâm hấp phát nhiệt, vô hăn, tâm hạ đầy hơi đau nhẹ, tiểu tiện bất lợi. Tôi dùng phương này trị “thủy” và “thủy bĩ”, khi khám bụng có co cứng cơ bụng, có hiệu. Xưa Trần Tu Viên năm Gia Khánh Mậu Th́n, trị người thân của quan họ Tạ ở Bộ Lại: đầu gáy cứng đau, thân đau, tâm hạ đầy, tiểu tiện bất lợi, uống thuốc giải biểu không ra mồ hôi lại càng phiền, lục mạch hồng sác. Lúc đầu nghi là Thái dương Dương minh hợp bệnh, suy nghĩ hồi lâu, nói: trước bệnh ở Thái dương vô h́nh, nay bệnh ở Thái dương hữu h́nh; chỉ cần khiến Thái dương hữu h́nh tiểu tiện được lợi, th́ mọi khí bệnh đều theo kinh khí vô h́nh mà ra mồ hôi giải hết. Dùng Quế chi khứ Quế gia Phục linh Bạch truật thang liền khỏi.
10. Quế chi khứ Thược dược gia Thục tất Mẫu lệ Long cốt cứu nghịch thang: phương này trị “hỏa kiếp” bức hăn, tâm ngực dương hư, khiến đàm thủy tà thượng mê tâm khiếu, phát thành kinh cuồng nằm ngồi không yên v.v. Tôi theo ư ấy dùng trị tâm thần phân liệt, lưỡi nhạt rêu nhuận, thử có hiệu. Sau uống thuốc có người phản ứng nôn, cũng cần biết.
11. Thang Quế chi khứ Thược dược gia Phụ tử: phương này trị Thái dương bệnh sau công hạ, mạch xúc ngực đầy, lại có dương hư sợ lạnh v.v. Tôi theo nghĩa đó trị “tâm ngực dương hư, hàn tà ngưng trệ” của chứng hung tư cũng có hiệu, ghi án như sau:
Vương xx, nam, 46 tuổi, thợ xây. Nhiều năm ngực đầy tức, thậm chí đau, gặp thời tiết lạnh th́ nặng hơn, kèm ho, khó thở v.v. Bắt mạch trầm huyền mà hoăn, nắm tay th́ lạnh, hỏi tiểu tiện th́ trong dài, xem lưỡi nhạt non rêu trắng hơi nhớt.
Biện chứng: tâm dương không chấn, âm u che phủ trong ngực, khí huyết v́ thế không thông lợi, cũng thuộc loại chứng hung tư.
Phép trị: ôn bổ tâm dương, để giải hàn ngưng.
Phương: Thang Quế chi khứ Thược dược gia Phụ tử.
Uống liền 6 thang, chứng dần nhẹ, nhiều năm ngực tức đau, từ đó được giải.
Tổng kết, có thể thấy thang Quế chi vừa có thể giải cơ phát hăn, lại có thể điều ḥa khí huyết doanh vệ, âm dương tỳ vị, lại có thể giáng khí hạ xung, giăn nở mạch máu, làm dịu co thắt, v́ thế phép gia giảm của nó nhiều không kể xiết, nay chỉ liệt kê vài điều như trên để tham khảo mà thôi.
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-02-18 22:52:46
BÀI GIẢNG 6: THẢO LUẬN SƠ BỘ VỀ THANG MA HOÀNG GIA GIẢM ĐỂ ĐIỀU TRỊ CÁC HỘI CHỨNG KHÁC NHAU
I. Chứng thích ứng của thang Ma hoàng
Thang Ma hoàng là chủ phương để trị chứng Thái dương thương hàn. “Thái dương thương hàn” là chỉ về sau khi hàn tà từ ngoài xâm nhập, trên cơ sở các chứng đề cương của bệnh Thái dương lại xuất hiện thêm các chứng trạng: đau người, đau lưng, đau nhức xương khớp, ố hàn, phát nhiệt, không ra mồ hôi mà suyễn… th́ gọi là chứng Thái dương thương hàn. V́ vậy, nó khác với “thương hàn đường ruột” của y học hiện đại. Hàn tà trong lục dâm thuộc âm tà, xâm phạm cơ thể, dễ làm tổn thương dương khí nhất. Dương khí của cơ thể bị hàn tà làm hại, mất tác dụng ôn ấm b́nh thường, nên tất thấy ố hàn. ố hàn trong Thái dương thương hàn thường rất nặng; dù mặc nhiều áo, đắp nhiều chăn, hoặc sưởi ấm, phần nhiều vẫn không giảm. Hàn chủ ngưng trệ, chủ đau, lại chủ co rút, nên ngoài ố hàn c̣n thấy nhiều chứng đau nhức. Ngoại cảm hàn tà làm doanh vệ ngưng sáp bất lợi, b́ mao tấu lư co rút bế tắc, nên thân thể không ra mồ hôi. Dù sờ da thấy nóng rát tay, nhưng hoàn toàn không có chút dấu hiệu mồ hôi nào, điều này trong chẩn đoán rất có giá trị. “Phế chi hợp b́ dă, kỳ vinh mao dă”, b́ mao, lỗ chân lông bị hàn tà bế uất th́ phế khí không tuyên phát được; phế khí mất tuyên phát th́ khí nghịch gây suyễn; nếu ảnh hưởng đến vị khí ḥa giáng c̣n có thể thấy ẩu nghịch. Chứng này không mồ hôi mà biểu thực, lại do hàn tà làm thương, khiến mạch khẩn mà hữu lực, nên mạch phù khẩn, khác với trúng phong là phù hoăn. Chứng Quế chi và chứng Ma hoàng đều thuộc bệnh Thái dương, nên đều có mạch phù, đầu gáy cứng đau; ố phong hàn là chứng cùng thấy. Nhưng chứng Quế chi là biểu hư, lấy ra mồ hôi, ố phong, mạch phù hoăn làm chủ; chứng Ma hoàng là biểu thực, lấy không mồ hôi, ố hàn, ḿnh đau, mạch phù khẩn làm chủ. Hai chứng có khác nhau, không được lẫn lộn.
Thang Ma hoàng gồm bốn vị: ma hoàng, quế chi, hạnh nhân, chích cam thảo. Ma hoàng cay ấm, có thể phát tán phong hàn, khai tấu lư mà phát hăn, tuyên phế b́nh suyễn; quế chi thông dương giải cơ, giúp ma hoàng phát tán phong hàn; hạnh nhân đắng ấm lợi phế, giúp ma hoàng tuyên phế b́nh suyễn; cam thảo điều ḥa các vị thuốc và bảo hộ chính khí. Phương này là tân ôn phát hăn tuấn tễ, nhưng tỷ lệ liều lượng ma hoàng với cam thảo lấy ba so một làm chuẩn, dùng như vậy mới phát huy được tác dụng phát hăn.

II. Ứng dụng lâm sàng của thang Ma hoàng
Thang Ma hoàng không chỉ là thuốc phát hăn giải biểu, mà c̣n là thánh dược trị suyễn. Bác sĩ trên thế giới đều biết ma hoàng có thể trị suyễn, nhưng họ lại không biết người đầu tiên nêu ma hoàng trị suyễn chính là Trương Trọng Cảnh thời Đông Hán ở Trung Quốc. Điều đó cũng cho thấy y học cổ truyền quả là một kho tàng vĩ đại. Thang Ma hoàng ngoài phát hăn b́nh suyễn c̣n trị “tư thống” (đau khớp) và các loại đau thuộc hàn tính, v́ vậy hậu thế hễ trị chứng tư đau nhức hầu như không thể thiếu ma hoàng, cũng có thể hiểu được. Phương này ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế, hiện nay vẫn có giá trị thực dụng, không nên xem nhẹ.
Người viết năm 1967 theo đoàn y tế đến Cam Túc, lúc ấy giữa mùa đông giá rét, v́ vị bị phong hàn mà mắc “thương hàn” chứng, toàn thân khớp không chỗ nào không đau, ố hàn đặc biệt nặng, nhiệt độ 39,8℃, không mồ hôi, ho, mạch phù khẩn. Tôi tự kê một thang Ma hoàng, uống xong nằm trên giường đất có sưởi để phát hăn, khoảng hơn một canh giờ, toàn thân mồ hôi ra rồi khỏi. Theo ghi chép y án, phương này c̣n có tác dụng thúc sinh, đó là v́ vào mùa đông lạnh, sản phụ bị nhiễm lạnh khiến khí huyết co rút mà sinh nở khó khăn; nếu dùng thang Ma hoàng th́ hàn tán khí ḥa, huyết mạch lưu thông mà đạt mục đích điều trị.

III. Vận dụng gia giảm của thang Ma hoàng
Gia giảm của thang Ma hoàng là để trị các kiêm chứng khác nhau của thương hàn; suy rộng ra cũng có thể trị nhiều chứng tạp bệnh. Nói về kiêm chứng thương hàn, trong đó gồm chứng thang Tiểu thanh long của thương hàn kiêm thủy ẩm gây ho suyễn, hội chứng thang Đại thanh long của dương uất không thư mà phiền táo, và hội chứng thang Cát căn của thái dương kinh du bất lợi. Nói về tạp bệnh, thang Tiểu thanh long có thể trị chi ẩm; thang Đại thanh long có thể trị dật ẩm; c̣n thang Cát căn lại có thể trị “cương kính” (cơ co cứng) v.v.

(1) Thang Tiểu thanh long
Phương này trị thương hàn lại kiêm chứng thủy ẩm. 《Thương hàn luận》 khái quát bệnh cơ của nó là: “Thương hàn biểu bất giải, tâm hạ hữu thủy khí”. “Thương hàn biểu bất giải” là nói c̣n có các biểu chứng Thái dương thương hàn như ố hàn, phát nhiệt, không mồ hôi, ḿnh đau nhức… “Tâm hạ hữu thủy khí” là chỉ về việc vốn có thủy ẩm đ́nh trệ bên trong phạm vị, vị khí không giáng th́ thượng nghịch gây ẩu thổ; ngoại hàn nội ẩm, ảnh hưởng lên phế (xạ phế), phế mất tuyên giáng th́ ho suyễn. Do thủy tà biến động không ở yên, có thể theo khí cơ thăng giáng mà gây hại khắp nơi, nên có thể thấy thủy hàn đ́nh trệ ở dưới gây tiểu tiện bất lợi, bụng dưới đầy trướng; thủy hàn ủng trệ ở trên làm trở ngại khí cơ gây nghẹn; thủy ẩm nội đ́nh khiến khí không hóa tân gây khát… đều có thể gặp. V́ thuộc hàn ẩm làm bệnh nên mạch huyền, rêu lưỡi trắng mà nhuận hoạt. Nếu biện theo đàm: thường ho khạc đàm loăng trong dạng bọt, rơi xuống đất hóa thành nước; hoặc đàm hàn trong sáng như ḷng trắng trứng. Những mạch chứng này có ư nghĩa quan trọng để phân biệt bản chứng. Trị dùng thang Tiểu thanh long: ngoài giải phong hàn, trong tán thủy ẩm.
Thang Tiểu thanh long gồm: ma hoàng, quế chi, thược dược, tế tân, can khương, bán hạ, chích cam thảo, ngũ vị tử . Trong phương dùng ma hoàng phát tán phong hàn, b́nh suyễn lợi thủy; phối quế chi tăng công năng thông dương tuyên tán; can khương, tế tân tán hàn hóa ẩm; bán hạ trừ đàm giáng nghịch; chích cam thảo phù chính ḥa trung. Sợ tân tán quá mức làm hao thương chính khí nên dùng ngũ vị tử toan thu để bảo vệ khí của phế thận; lại dùng thược dược toan khổ hơi hàn, liễm doanh âm mà pḥng động huyết. Phối ngũ như vậy khiến tà đi mà chính khí không bị tổn thương.
Phương này trên lâm sàng không chỉ giới hạn trị chứng “biểu hàn nội ẩm”; dù không có biểu chứng, chỉ cần thuộc hàn ẩm ho suyễn vẫn có thể dùng. Nếu hàn ẩm có xu hướng hóa nhiệt, như thấy phiền táo mà suyễn, có thể gia sinh thạch cao. Chỉ cần biện chứng chính xác th́ lâm sàng dùng phương này phần nhiều có hiệu quả. Nhưng v́ nó không chỉ phát tán dương khí mà c̣n có thể thương âm động huyết; tuy có ngũ vị tử, thược dược để hộ chính, vẫn không nên dùng lâu. Với ho suyễn ở một số bệnh tim, lao phổi… càng phải thận trọng.
Nhớ có lần tôi dẫn sinh viên thực tập ngoại trú, gặp một nam bệnh nhân ho suyễn đàm nhiều không nằm ngửa được. Xem sắc mặt đen sạm, rêu lưỡi trắng trơn, mạch huyền cứng, khạc đàm bọt trắng loăng. Biện là hàn ẩm xạ phế. Lúc ấy mùa đông giá buốt, tôi kê thang Tiểu thanh long nguyên phương hai thang; bệnh nhân đi rồi không quay lại. Mùa xuân năm sau bệnh nhân lại đến, nhờ tôi khám. Thấy sắc mặt héo úa không nhuận, thân thể rất gầy yếu, tôi hỏi nguyên do. Bệnh nhân nói: mùa đông năm trước uống thuốc thấy hiệu quả, đêm đă nằm ngửa được, đàm suyễn đều giảm, mừng quá nên tự theo nguyên phương uống tiếp hơn mười thang; dần phát ra chóng mặt, hồi hộp, đêm không ngủ… Sau tiết Đông chí bỗng bị chảy máu mũi dữ dội không cầm, phải đốt điện cầm máu ở bệnh viện. Nhưng do mất máu nhiều, mệt lả, nên lại đến chữa. Tôi nói: thuốc trước là thang Tiểu thanh long, tuy tán hàn ẩm nhưng cũng động dương khí; dùng lâu th́ “hạ phạt căn bản” (phạt xuống căn bản), khiến tinh khí Thiếu âm không tàng, nên thương âm động huyết là điều tất nhiên. Bèn dùng thang Nhân sâm dưỡng vinh gia long cốt, mẫu lệ… uống vài chục thang, thể lực mới dần hồi phục.

(2) Thang Đại thanh long
Phương này trị trường hợp “đáng ra phải ra mồ hôi mà không ra mồ hôi” (Đáng hăn bất hăn), tà biểu uất lại không giải, khiến dương uất hóa nhiệt, h́nh thành chứng “không mồ hôi mà phiền táo” : biểu hàn kiêm nội nhiệt. Biểu hàn chưa giải nên mạch phù khẩn, phát nhiệt, ố hàn, ḿnh đau nhức… vẫn đầy đủ. Đáng ra phải ra mồ hôi mà không ra được, vệ dương bị uất mà hóa nhiệt, dương nhiệt quấy rối bên trong nên thấy phiền táo. Ở đây biểu hàn và nội nhiệt tuy là hai biến hóa bệnh lư khác nhau, nhưng giữa chúng có liên hệ nội tại mật thiết.
《Thương hàn luận》 nói “không mồ hôi mà phiền táo” chính là chỉ ra phiền táo do không ra được mồ hôi, dương uất không tuyên. Chỉ biểu hàn không giải th́ dùng thang Ma hoàng phát hăn là đủ; nhưng chứng này là ngoại hàn kiêm nội nhiệt, nên thang Ma hoàng không c̣n thích hợp, mà phải dùng thang Đại thanh long: ngoài giải phong hàn, trong thanh phiền nhiệt.
Thang Đại thanh long là do thang Ma hoàng tăng gấp đôi ma hoàng, lại gia sinh khương, đại táo, sinh thạch cao , nên có thể nói là phương gia vị của thang Ma hoàng. Trong phương trọng dụng ma hoàng, phối quế chi, sinh khương để phát hăn giải biểu; dùng hạnh nhân lợi phế khí, giúp ma hoàng tuyên phát; sinh thạch cao tân cam đại hàn, phối ma hoàng giải cơ để khai dương khí uất bế, lại thanh nhiệt trừ phiền; cam thảo, đại táo ḥa trung phù chính, trong thuốc phát hăn c̣n có tác dụng trợ giúp “hăn nguyên” (nguồn mồ hôi).
Thang Đại thanh long thuộc phát hăn “tuấn tễ” (thuốc mạnh mẽ), người thể chất cường tráng mới dùng được, người thể chất hư nhược th́ không dùng. Nếu người bệnh mạch vi nhược, ra mồ hôi ố phong, thuộc trúng phong biểu hư, cũng không dùng. Nếu dùng nhầm có thể do phát hăn quá nhiều mà xảy ra tứ chi quyết nghịch, cơ nhục khiêu động là biến chứng“vong dương”. Để pḥng “hăn đa vong dương”, Trương Trọng Cảnh đặc biệt chú sau phương: “Mồ hôi ra nhiều th́ dùng ôn phấn phủ lên. Uống một lần ra mồ hôi th́ ngừng, không uống tiếp.” Ôn phấn tức bột gạo sao ấm, phủ lên người để chỉ hăn.
Có một bác sĩ họ Khâu đến viện tôi dự thính lớp 《Thương hàn luận》, khi giảng đến chứng thang Đại thanh long, ông kể một nghiệm án: quê ông có một xă viên tráng niên, lúc chống hạn đánh giếng, trong t́nh trạng mồ hôi ra như tắm mà thả dây xuống giếng. Xuống đáy giếng th́ hàn khí ép người, mồ hôi lập tức hết, rồi phát bệnh. Chứng thấy phát nhiệt, ố hàn, toàn thân đau nhức, phiền táo khó chịu… Khâu cho là chứng thang Đại thanh long, nhưng v́ đang mùa hè nên không dám dùng thuốc vội. Sau được các bác sĩ khác khích lệ và giúp đỡ, ông kê thang Đại thanh long. Mới uống một thang, bệnh nhân liền mồ hôi ra khắp người, nhiệt lui thân mát, tinh thần yên.
Lại có một nữ, 32 tuổi, người Bắc Kinh, mắc chứng tay sưng, cánh tay đau lâu ngày không khỏi, rất khổ. Đến khám, nâng tay để bắt mạch cũng thấy khó. Điều trị nhiều cách đều không hiệu quả. Mạch phù huyền cứng, chất lưỡi đỏ, rêu nước trơn, ăn uống nhị tiện đều được, kinh nguyệt cũng điều. Hỏi bệnh nhân, tự kể trời lạnh giặt đồ, nước lạnh làm tay nhiễm lạnh; giặt vài lần th́ thấy đau dữ, tay sưng, ê buốt không chịu nổi.
Biện chứng: thủy hàn tà uất lại dương khí không tuyên tiết được, nên khí trệ thủy kết, phù hợp với chứng “dật ẩm”. V́ lưỡi đỏ sẫm, thân lại tráng, nên có thể phát hăn thanh nhiệt để khứ ẩm.
Phương: thang Đại thanh long nguyên phương.
Uống một thang liền ra mồ hôi mà yên.

(3) Hội chứng thang Cát căn
Phương này có thể giải biểu, sinh tân dịch, sơ thông kinh mạch; dùng trị Thái dương bị hàn tà tổn thương, kinh mạch bất lợi, có các chứng trạng như “cổ gáy lưng co cứng, không mồ hôi, ố phong”…
Thang Cát căn gồm: cát căn, ma hoàng, quế chi, sinh khương, thược dược, chích cam thảo, đại táo . Dùng cát căn vừa giải tà ở cơ biểu, vừa thăng tân dịch, nhu dưỡng cân mạch để làm dịu sự co cứng ở cổ gáy lưng; ma hoàng, quế chi, sinh khương tân ôn tán hàn, có thể phát hăn giải biểu; thược dược trợ cát căn, có thể lợi huyết mạch để thư cân cấp; cam thảo, đại táo ḥa doanh vệ mà thủ trung tiêu, cũng có thể chế ước sự phát tán của ma hoàng, quế chi. Uống phương này xong thường thấy lưng nóng, tiếp đó mồ hôi ra ở lưng, rồi lan khắp thân, cổ gáy lưng hết co cứng.
Bệnh Thái dương là tà ở biểu; đă ở biểu th́ nên “đương hăn nhi phát chi” (phát hăn). V́ vậy, có mồ hôi là biểu hư, trị theo loại thang Quế chi; không mồ hôi là biểu thực, trị theo loại thang Ma hoàng. Tuy chưa thể nói là đầy đủ hết phép hăn, nhưng cũng có thể từ một góc mà suy ra ba góc.

 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-02-19 18:33:34
BÀI GIẢNG 07: THỬ LUẬN VỀ CHỨNG TRỊ GIA GIẢM CỦA LINH QUẾ TỄ
Thang thuốc nhóm Linh Quế là chỉ các phương tễ trong 《Thương hàn luận》 lấy phục linh và quế chi làm chủ dược, trong đó gồm thang Linh quế truật cam, thang Linh quế khương cam, Ngũ linh tán… Để nội dung bài giảng này được hoàn bị hơn, nên cũng bổ sung thêm các thang thuốc thuộc nhóm Linh Quế trong 《Kim quỹ yếu lược》 và một số phương tự chế. Thang thuốc nhóm Linh Quế chủ yếu dùng để điều trị chứng “thủy khí thượng xung”. Đây là bệnh thường gặp và hay tái phát, các y gia qua nhiều đời đều khá coi trọng, lâm sàng cũng có nhiều phát triển. Chứng thủy khí thượng xung rải rác thấy trong 《Thương hàn luận》 và 《Kim quỹ yếu lược phương luận》; Trương Trọng Cảnh đă nêu ra phép trị tương ứng của một loại phương tễ lấy Linh Quế làm chủ dược. Nhưng các chứng phương Linh Quế trong văn bản lại được phân tán ở những thiên bệnh khác nhau, thiếu sự quy nạp hệ thống và liên hệ hữu cơ, khiến người học khó nắm toàn diện. V́ vậy, tổng hợp các điều khoản liên quan đến phương chứng, kết hợp kinh nghiệm lâm sàng, tŕnh bày việc gia giảm vận dụng thang thuốc nhóm Linh Quế trong lâm sàng, để điều trị các bệnh liên quan đến thủy khí, bao gồm cả chứng phủ của bệnh Thái dương.

I. Khái niệm “thủy khí”
Người xưa nhận thức về khái niệm thủy khí cũng không hoàn toàn thống nhất. Có người cho thủy khí là “hàn khí của nước”, như Thành Vô Kỷ chú về thủy khí thượng xung nói: “thủy hàn tương bác, phế hàn khí nghịch”; cũng có người cho thủy khí chính là thủy ẩm, như Tiền Thiên Lai chú: “thủy khí, thuộc loại thủy ẩm vậy”. Tôi cho rằng hai cách nh́n trên dường như mỗi bên nói đúng một nửa: trong thực tế, nước với hàn, nước với ẩm thường hiệp đồng gây bệnh; “thủy” chỉ h́nh, “hàn” chỉ khí, “ẩm” chỉ tà; ba thứ nương nhau mà phát, nên không thể tách rời.
V́ vậy, hiểu thủy khí là vừa có thủy ẩm, vừa có hàn khí th́ tương đối thỏa đáng.

II. Cơ chế bệnh của thủy khí thượng xung
Cơ chế bệnh của thủy khí thượng xung có liên quan đến dương khí hư suy của tâm, tỳ, thận; trong đó tâm dương suy yếu lại là then chốt của phát bệnh.

Tâm thuộc hỏa, là dương trong dương tạng, ở trên ngực, có thể vận hành dương lệnh và chế ước âm ở dưới. Nếu tâm dương bất túc, “trấn giữ” không đủ quyền, không thể giáng phục hạ âm, th́ hàn thủy sẽ thượng phạm, phát thành thủy khí thượng xung. Đồng thời, tỳ khí hư không thể trị thủy ở dưới, thủy không được kiềm chế cũng dễ thượng xung mà gây hại. Ngoài ra, thận chủ thủy và có tác dụng chủ tể thủy khí; nếu thận dương bất túc, khí hóa vô quyền, không thể chủ thủy ở dưới, cũng có thể dẫn đến thủy khí thượng xung. Do đó có thể thấy, thủy khí thượng xung thật sự liên quan đến dương khí hư của tâm, tỳ, thận; trong đó đặc biệt lấy tâm dương hư không giáng phục hạ âm làm tiền đề.
Điểm khởi phát của thủy khí thượng xung có hai: một là khí từ “tâm hạ” (dạ dày) xung lên, một là khí từ “tề hạ” (dưới rốn) xung lên. Khí từ tâm hạ xung lên đa do tâm tỳ khí hư; khí từ tề hạ xung lên đa do tâm thận khí hư. Về nhận biết chứng này: điển h́nh có thể xuất hiện cảm giác khí từ dưới xung động lên rơ rệt; không điển h́nh th́ tuy không có cảm giác “khí xung” rơ, nhưng các biểu hiện lần lượt từ dưới lên trên như trướng, đầy, hồi hộp… vẫn rất rơ, nên cũng không khó biện là chứng thủy khí thượng xung.
Chứng thủy khí thượng xung khởi từ tâm hạ: do khí thủy hàn trước tiên phạm vào vùng vị quản ở tâm hạ, nên trong dạ dày trướng đầy; nếu lại xung lên ngực, v́ ngực là “thành quách” của tâm, là nơi hội tụ dương khí, nay bị thủy hàn ức chế th́ tự thấy bức bối, nghẹt tức; ngực lại là nơi tâm phế cư trú, thủy hàn phạm ngực th́ tâm phế tất bị hại: phế khí bị trở th́ ho, đoản khí; tâm dương bị lấn hiếp th́ tâm quư bất an. Nếu thủy khí lại xung lên họng, khí kết thành tư, giống như “mai hạch khí”: tự thấy có vật nghẹn ở họng, nhổ không ra, nuốt không xuống. Nếu thủy khí xung lên cao nữa th́ tất che lấp thanh dương, thấy đầu mắt choáng váng, động th́ càng nặng. Ở vùng đầu mặt, mắt tai mũi lưỡi đều thuộc “thanh khiếu”, nhờ thanh dương ôn dưỡng mà tai nghe rơ, mắt sáng, mũi phân biệt mùi, miệng biết vị. Nay trọc âm che lấp thanh dương, thanh dương không ôn dưỡng được thanh khiếu th́ thường xuất hiện tai điếc, mắt mờ, mũi nghẹt, miệng mất vị giác… V́ vậy, thủy khí thượng xung thường có các chứng ở mắt, tai, mũi, họng, cần đặc biệt chú ư.

Chứng thủy khí thượng xung khởi từ tề hạ (dưới rốn): do tâm thận dương hư khiến khí thủy hàn thừa cơ phát thành thủy khí thượng xung. Chứng này do thủy với khí tương bác, triệu chứng tiên khởi tất thấy tề hạ (dưới rốn) hồi hộp động, kèm tiểu tiện bất lợi. Nếu không trị kịp thời, khí từ tề hạ xung lên họng, thế đến đột ngột, đi rất nhanh; nơi khí đi qua có thể trướng, có thể hồi hộp, có thể bế tắc, dấu hiệu rất rơ ràng; người xưa gọi là “bôn đồn khí”. Đặc biệt khi xung đến họng thường làm người ta bức bối, nghẹt thở, toát mồ hôi lạnh, sinh ra cảm giác kinh hăi như đối diện cái chết; nhưng chốc lát khí suy lại hạ xuống, các chứng cũng theo đó giảm nhẹ.
Ngoài hai đặc điểm nêu trên, c̣n có thể dựa vào sắc chẩn và mạch chẩn để chẩn đoán, điều này cũng rất cần thiết.

1. Sắc chẩn
Thủy là âm tà, thượng lấn vào tâm; “tâm chi hoa tại diện”. Nay âm tà bác (đánh) dương, doanh vệ ngưng sáp, tâm huyết không vinh, nên người bệnh mặt có vẻ phù hư, sắc đen sạm; hoặc xuất hiện “thủy ban” (vùng trán, má, sống mũi, khóe miệng… bên trong da ngoài thịt xuất hiện đốm đen, giống như lắng đọng sắc tố). Xưa Trần Tu Viên ở Bảo Định nh́n Đinh Phan Long thấy “trên mặt, trong da đen sạm, quanh miệng càng nặng, ngọa tàm hơi sưng, trên mũi hơi xanh…”, bèn nói thẳng: “Ông có bệnh thủy ẩm, gốc kiêm can khí, hoành hành không kiêng dè.” Hỏi lại Đinh th́ bệnh t́nh quả đúng như lời Trần nói. Chứng này lại do tâm dương trước hư, chất lưỡi tất nhạt non; thủy từ dưới lên trên, rêu lưỡi thủy hoạt (ướt trơn), chủ tân dịch bất hóa.

2. Mạch chẩn
Trọng Cảnh cho rằng thủy khí thượng xung mạch nên trầm khẩn; đối chiếu lâm sàng, “khẩn” thường nên hiểu theo “huyền” th́ hợp hơn. V́ huyền và khẩn, người xưa đôi khi dùng thay cho nhau. Trầm mạch chủ thủy, huyền mạch chủ ẩm; hai mạch đều thuộc âm, nên phản ánh thủy hàn chi tà làm bệnh.
Những điều trên về thủy khí thượng xung, chỉ cần thấy một hai chứng mà sắc mạch tương ứng, có thể biện là thủy khí thượng xung, không nhất thiết phải đủ hết mọi chứng.
III. Chứng trị thủy khí thượng xung
Phàm thủy khí thượng xung, khởi từ dưới tâm trở lên, phép trị nên ôn dương giáng xung, hóa ẩm lợi thủy, dùng thang Linh quế truật cam. Thang này gồm bốn vị: phục linh, quế chi, bạch truật, chích cam thảo. Trong phương lấy phục linh, quế chi làm chủ dược, bạch truật, cam thảo làm phối ngũ. Phục linh trong phương có bốn tác dụng: một là cam đạm lợi thủy để tiêu âm; hai là ninh tâm an thần mà định quư; ba là hành “chế tiết chi lệnh” của phế mà thông lợi tam tiêu; bốn là bổ tỳ “cố đê” để pḥng thủy thượng phạm, nên là chủ dược, đặt đứng đầu. Quế chi trong phương có ba tác dụng: một là thông dương để tiêu âm; hai là hạ khí để giáng xung; ba là bổ tâm để chế thủy, cũng là dược vị quan trọng, đặt thứ hai. Phương này nếu có phục linh mà không có quế chi th́ không thể hóa khí để hành tân dịch; nếu có quế chi mà không có phục linh th́ không thể lợi thủy để phạt âm. V́ vậy Linh và Quế nương nhau mà thành, thiếu một không được. C̣n bạch truật hiệp với phục linh bổ tỳ để lợi thủy; cam thảo giúp quế chi phù tâm dương để giáng xung. Các vị phối ngũ tinh xác, hiệu quả chắc chắn, nên đứng đầu trong các thang thuốc nhóm Linh Quế. Các chứng gia giảm dưới đây đều do phương chứng này diễn dịch mà ra.

1. Thang Linh quế truật cam trị nghiệm
Trần xx, nữ, 52 tuổi. Đại tiện bí kết, năm sáu ngày mới đi một lần, phân khô cứng như phân dê, kèm miệng khô khát nhưng lại không thể uống. Tự cảm có khí xung lên, đầu choáng, tâm quư, ngực đầy. Khi đêm đến theo thế xung lên càng nặng, đầu mắt hôn huyễn càng tệ. Toàn thân phù nhẹ, tiểu tiện ngắn ít, bất lợi; mặt phù hư; dưới mắt sắc xanh; lưỡi to, chất nhạt; rêu lưỡi thủy hoạt (ướt trơn).
Biện chứng: chứng này là tâm tỳ dương hư, thủy khí thượng thừa “dương vị”; thủy khí không hóa, tân dịch không hành, nên đại tiện bí kết mà tiểu tiện bất lợi. Thủy khí thượng xung, âm đến bác (đánh) dương, nên tâm quư, ngực đầy, huyễn vựng. Thủy tà lưu dật (chảy tràn), nên thân mặt phù thũng.
Pháp trị: ôn thông dương khí, phạt thủy giáng xung.
Phương dược: phục linh 30g, quế chi 10g, bạch truật 10g, chích cam thảo 6g.
Uống hai thang, đầu choáng, tâm quư và cảm giác khí xung đều giảm, đây là biểu hiện thủy ẩm được ôn hóa. Lần khám thứ hai bèn gia vào phương trên thêm nhục quế 3g để trợ dương tiêu âm, trạch tả 12g để lợi thủy hành tân dịch. Uống hai thang, miệng khô dứt, đại tiện tự thông, tinh thần khá lên, khí xung lại giảm thêm. Lần khám thứ ba chuyển phương dùng hợp thang Linh quế truật cam với thang Chân vũ: quế chi 10g, phục linh 24g, trư linh 10g, sinh khương 10g, phụ tử 10g, bạch thược 10g.
Uống đến ba thang, các chứng đều hết, sắc mặt cũng chuyển hồng nhuận, từ đó khỏi hẳn.
(2) Linh quế hạnh cam thang trị nghiệm
Thang Linh quế hạnh cam là do phương trên giảm bạch truật, thêm hạnh nhân mà thành. Phương này trị thủy khí thượng xung, bức phế khí không lợi, không thể thông điều thủy đạo, nên thấy tiểu tiện khó, mặt mắt phù thũng cùng các chứng ho suyễn. Năm 1980, tôi dẫn nghiên cứu sinh khóa 78 thực tập ở pḥng khám ngoại trú, chữa một phụ nữ lớn tuổi: ho mà hơi suyễn, mặt mắt phù, tiểu tiện tương đối ngắn ít. Bà đă uống thuốc không dưới hơn trăm thang mà mặt vẫn sưng chưa tiêu. Bắt mạch thấy huyền, lưỡi hơi to, rêu thủy hoạt (ướt trơn).
Biện chứng: thủy khí lấn phế th́ ho mà hơi suyễn; phế khí không thể thông điều thủy đạo th́ tiểu tiện bất lợi mà mặt sưng.
Pháp trị: thông dương hạ khí, lợi phế tiêu thũng.
Phương: phục linh 12g, quế chi 10g, hạnh nhân 10g, chích cam thảo 6g.
Bệnh nhân thấy phương chỉ có bốn vị, lại đều là thuốc thường, rất nghi hiệu quả. Nhưng uống năm thang th́ tiểu tiện thông lợi, mặt sưng tiêu, ho suyễn đều b́nh mà khỏi.

(3) Ngũ linh tán trị nghiệm
Ngũ linh tán là do thang Linh quế truật cam giảm cam thảo, thêm trư linh, trạch tả mà thành. Phương này có thể trị chứng “khát muốn uống nước, nước vào liền nôn” thuộc thủy nghịch (là một loại trong thủy khí thượng xung), và trị chứng động kinh “dưới rốn có quư (hồi hộp), nôn nước dăi bọt mà phát điên giản (động kinh)”.
Vương xx, nam, 18 tuổi. Tự thấy có một luồng khí từ tiểu phúc xung lên; đến vị (dạ dày) th́ nôn, đến tâm hung th́ phiền muộn không chịu nổi, xung lên đầu th́ choáng ngất, bất tỉnh nhân sự. Chốc lát khí đi xuống th́ tỉnh lại, tiểu tiện ít mà đi nhiều lần. Mạch trầm, lưỡi nhạt non, rêu trắng nhuận hoạt.
Biện chứng: tâm tỳ dương hư, khí không hóa tân, phát thành chứng thủy khí thượng xung. Thủy khí bốc lên che thanh dương nên phát cơn động kinh. Mạch trầm chủ thủy, lưỡi nhạt là tâm dương hư, tiểu tiện bất lợi là thủy khí không hóa. V́ vậy biết chứng này do thủy khí gây nên.
Pháp trị: lợi thủy hạ khí, thông dương tiêu âm.
Phương: phục linh 30g, trạch tả 12g, trư linh 10g, bạch truật 10g, quế chi 10g, nhục quế 3g.
Uống ba thang, số lần phát bệnh giảm; tiểu tiện thông lợi; uống tiếp sáu thang th́ hết bệnh.

(4) Thang Linh quế vị cam trị nghiệm
Thang Linh quế vị cam là do phương trên giảm bạch truật, thêm ngũ vị tử mà thành. Phương này một là trị người vốn thận khí hư, do dùng nhầm thang Tiểu thanh long làm phát động thận khí, dẫn đến khí thận không được kiềm chế. Điều này khiến khí dồn từ bụng dưới lên ngực, thậm chí gây chóng mặt, mờ mắt, mặt đỏ như say, tâm quư, mạch kết, thiếu khí mà suyễn… Hai là trị người già hạ hư, không chủ nhiếp nạp, ẩm từ dưới dâng lên, khí bị trở thăng giáng mà thành biến chứng suyễn ho. Xưa Diệp Hương Nham dùng phương này, hoặc gia thêm khương táo, trị chứng ấy hiệu quả rất lư tưởng. V́ ông lấy cam ôn hóa ẩm, toan ôn nạp khí để điều trị, nên rất đắc pháp Trọng Cảnh chữa bệnh. 《Lâm chứng chỉ nam》 có ghi án này, có thể làm tham khảo, nên không chép nhiều.

(5) Thang Linh quế khương cam trị nghiệm
Thang Linh quế khương cam nguyên danh là thang Phục linh cam thảo. Để dễ nhớ, nên đổi tên nay và xếp vào nhóm thang thuốc Linh Quế.
Phương này là do thang Linh quế truật cam giảm bạch truật, thêm sinh khương mà thành. Trị thủy ẩm trệ lưu ở vị, bức khí và ẩm tương bác, chứng thấy tâm hạ quư động bất an. Nếu thủy ẩm trong vị thượng nghịch th́ có thể xuất hiện “thủy thổ” (nôn ra nước); nếu thủy ẩm trong vị hạ chảy vào tràng (ruột) th́ có thể xuất hiện “thủy tả” (tiêu chảy ra nước); nếu thủy ẩm trong vị ngăn trở thanh dương không đạt đến tứ chi th́ thấy tay chân quyết lạnh, gọi là “thủy quyết”.
Nông dân Trần xx, nam, 26 tuổi. Mùa hè chống hạn, gánh nước tưới ruộng; lao lực xong mồ hôi ra rất nhiều, trong miệng khô khát đặc biệt nặng, bèn cúi đầu vào thùng nước mà uống ừng ực. Lúc ấy thấy rất sảng khoái; chẳng bao lâu phát hiện tâm hạ quư động rất mạnh, ảnh hưởng đến giấc ngủ. Nhiều lần đi chữa, uống thuốc không kể xiết, nhưng bệnh không dứt. Nhờ bạn bè giới thiệu, mời tôi khám. Cho anh nằm ngửa trên giường, dùng tay sờ vùng tâm hạ th́ thấy nhảy động chạm tay; lại dùng tay rung lắc thượng phúc th́ nghe nước trong vị ọp ẹp vang lên, tiếng nghe ra ngoài. Tôi nói: đó là “chấn thủy âm”, là dấu hiệu vị trung hữu thủy (trong dạ dày có nước). Hỏi tiểu tiện vẫn c̣n lợi; mạch huyền, rêu thủy hoạt (trơn ướt.
Phương dược: phục linh 12g, quế chi 10g, sinh khương trấp một đại bôi (ly lớn), chích cam thảo 6g.
Dặn sắc thuốc xong pha sinh khương trấp vào mà uống. Uống xong liền thấy vị cay nóng thẳng đến dạ dày, mà tiếng động trong vị c̣n rơ hơn. Không bao lâu thấy đau bụng muốn tả, đi cầu ra rất nhiều nước, v́ vậy bệnh giảm. Uống theo phương thêm một thang nữa th́ không c̣n hồi hộp.

(6) Thang Linh quế táo cam trị nghiệm
Hội chứng thang Linh quế táo cam là tâm dương hư ở trên , hàn thủy động ở dưới, sắp phát mà chưa phát, trước hết thấy “dưới rốn có quư (hồi hộp)”, “muốn phát bôn đồn”. Đây là một dạng thủy khí tà từ tề hạ (dưới rốn) xung lên. Lấy phương thang Linh quế truật cam giảm bạch truật, thêm đại táo, đồng thời tăng liều phục linh; dùng “cam lan thủy” nấu thuốc, uống th́ khỏi. Phương này trị “bôn đồn” đă phát, cũng có hiệu quả giống như vậy.
Chứng bôn đồn là khí từ bụng dưới xung lên họng, bức bối muốn chết, làm người bệnh tinh thần căng thẳng; nơi khí xung đi qua có thể trướng, có thể hồi hộp, có thể bế tắc, tất cả những điều này đều được ghi chép rơ ràng.. Chốc lát khí đi xuống, các chứng liền giảm nhẹ.
Quách xx, nam, 56 tuổi. Mắc chứng bôn đồn khí: lúc phát, khí từ thiếu phúc (bụng dưới) xung nghịch lên, đến tâm hung th́ quư phiền (hồi hôp) bất an, ngực đầy bức khí, hô hấp bất lợi, đầu ḿnh ra mồ hôi. Mỗi ngày phát hai ba lần. Bắt mạch trầm huyền vô lực; xem lưỡi chất nhạt, rêu thủy (ướt); hỏi tiểu tiện th́ rất ít, lại có cảm giác tiểu không hết.
Biện chứng: thủy khí hạ súc (tích tụ ở dưới), thừa tâm tỳ dương hư mà phát bôn đồn. Xét Trọng Cảnh trị bôn đồn có hai phương; người tiểu tiện bất lợi th́ dùng phương này là thích hợp.
Phương: phục linh 30g, quế chi 12g, đại táo 12 quả, chích cam thảo 6g.
Dặn bệnh nhân dùng chậu lớn chứa nước, dùng gáo múc nước hất lên; mặt nước nổi như có năm sáu ngàn hạt “châu” đuổi nhau, dùng thứ nước ấy để nấu thuốc.
Bệnh nhân uống hai thang, tiểu tiện thông sướng, “bôn đồn” không phát. Chuyển phương lại dùng quế chi 10g, chích cam thảo 6g để phù tâm dương, mà khỏi bệnh.
Trên đây đă liệt kê mười một án gia giảm của thang thuốc nhóm Linh Quế, là để người học tùy chứng gia giảm, xúc loại bàng thông (suy từ trường hợp này sang trường hợp khác), thấy được cái diệu của “viên cơ hoạt pháp” (Cơ chế và cách tiếp cận linh hoạt). Nhưng tôi có điều suy nghĩ: với các loại bệnh tim mạch hiện nay, trong số người tôi từng khám, có một phần khá lớn thuộc chứng thủy khí thượng xung. Mà hiện nay trị bệnh mạch vành lại thường chỉ giữ một pháp hoạt huyết hóa ứ; hay th́ hay, nhưng pháp chưa trọn. Nếu có thể từ chứng thủy khí thượng xung mà bổ sung vào phần c̣n thiếu, th́ đă được quá nửa.
(7) Thang Linh quế hạnh dĩ trị nghiệm
Thang Linh quế hạnh dĩ là do thang Linh quế truật cam giảm bạch truật, cam thảo, thêm hạnh nhân, ư dĩ mễ mà thành. Phương này trị thủy tà thượng nghịch, kiêm hiệp thấp trọc, thủy thấp tương nhân mà làm bệnh. Thường gặp ho nhiều đàm, đầu nặng như bị quấn, ngực đầy như bị bít, tiểu tiện bất lợi, toàn thân mỏi ê ẩm, không muốn ăn uống…
Từng chữa một bệnh nhân họ Lư, tuổi đă ngoài tám mươi, nhưng thân thể c̣n khỏe, sinh hoạt vẫn tự lo được. Từ khi vào đông, liền thường cảm ngực đầy tức, khí đoản (thở ngắn), ho khạc đàm trắng, toàn thân uể oải đau mỏi, không muốn hoạt động. Không thích béo ngọt, lại thích ăn thanh đạm. Bắt mạch huyền hoăn vô lực; xem lưỡi chất nhạt, rêu trắng nhầy.
Biện chứng: tâm hung dương hư, tác dụng của khói bụi, nên ngực đầy khí đoản; thủy thấp đều thịnh, hóa thành đàm, trở ở phế th́ ho khạc đàm; thấp trọc trệ ở vị, vận hóa không lợi, nên không muốn ăn béo ngọt mà lại muốn ăn thanh đạm.
Pháp trị: thông dương hóa ẩm, thấm lợi thủy thấp.
Phương: phục linh 12g, quế chi 10g, hạnh nhân 6g, tiêu ư dĩ mễ 12g.
Uống sáu thang th́ các chứng đều giảm. Chuyển phương dùng Ngũ vị dị công tán để củng cố hiệu quả, để tốt về sau.

(8) Thang Linh quế giới cam trị nghiệm
Thủy là âm tà, tính vốn đi xuống. Nếu phát thành thượng xung, cũng có khi do can khí kích dương mà nên. Thanh nhân Trương Lệnh Thiều, Trần Tu Viên… chú giải chứng thang Linh quế truật cam có thuyết “tỳ hư mà can thừa, nên nghịch măn”, có đạo lư nhất định, có thể tham khảo. Theo đó, tôi lâm sàng trị thủy khí thượng xung mà lại có can khí gây ợ hơi, đầu choáng mắt trướng, lại nặng về ban đêm, mạch trầm huyền… th́ dùng thang Linh quế truật cam giảm bạch truật, lại thêm bạch giới tử 3g để sơ can hạ khí, khai tà âm ngưng, thường thu hiệu quả.
Từng chữa một phụ nữ họ Tào, 43 tuổi. Ngực sườn đầy tức, vào đêm càng nặng; đầu mắt huyễn vựng; tâm quư khí đoản; thường hay ợ hơi; lại dễ nổi giận. Hỏi kinh nguyệt th́ đến trễ, lại kèm bụng dưới tức trướng. Mạch trầm huyền; rêu thủy hoạt (ướt trơn); sắc mặt xanh đen.
Biện chứng: thủy khí thượng xung, kiêm hiệp can khí, nên khí huyết không ḥa mà ái khí (ợ hơi), bụng trướng, kinh nguyệt hậu kỳ (trễ kỳ).
Pháp trị: ôn dương hóa ẩm, sơ can lư khí.
Phương: phục linh 12g, quế chi 10g, bạch giới tử 3g, hương phụ 6g, chích cam thảo 6g.
Uống liên tiếp sáu thang, các chứng đều giảm, đặc biệt ái khí không c̣n, ngực sườn khoan khoái. Chuyển phương dùng hoàn Quế chi phục linh với liều nhỏ sắc thang, lại gia uất kim, hương phụ… các vị giải uất mà đạt toàn công.

(9) Thang Linh quế thiến hồng trị nghiệm
Thang Linh quế thiến hồng là do thang Linh quế truật cam giảm bạch truật, cam thảo, thêm hồng hoa, thiến thảo mà thành. Đây là phương tôi tự chế, thường dùng cho một số bệnh nhân bệnh mạch vành. Họ vừa có chứng thủy khí thượng xung, lại có các chứng khí huyết ứ trở như đau vùng trước tim lan lên lưng và tê các ngón tay… Phương này dùng Linh Quế thông dương hóa ẩm; hồng hoa, thiến thảo hoạt huyết mạch mà hành ứ trệ. Theo quan sát lâm sàng, uống vào hiệu quả khá rơ. Ví dụ từng chữa một người họ Tào ở Thái Nguyên, tự xưng mắc bệnh mạch vành. Gần đây đầu choáng, ngực đầy lại đau, kéo sang sau lưng. Bắt mạch huyền; xem ŕa lưỡi có ban ứ huyết, rêu th́ thủy hoạt (ướt trơn) như sắp nhỏ giọt. Tôi biện là thủy khí thượng xung kiêm huyết mạch ứ trệ, bèn nghĩ ra phương này, tạm thử. Bệnh nhân uống liền năm thang, tự thấy triệu chứng giảm nhiều, mừng ngoài mong đợi. Sau đó tôi lại dùng vài lần trong lâm sàng, cũng đều hiệu quả như vậy. Hơn nữa, gặp bệnh nhân huyết áp hơi cao, có thể gia ngưu tất 10g, có tác dụng hạ áp rất tốt.

(10) Thang Linh quế long mẫu trị nghiệm
Thang Linh quế long mẫu là do thang Linh quế truật cam giảm bạch truật, thêm long cốt, mẫu lệ mà thành. Phương này trị thủy khí thượng xung kèm các chứng: trong tâm kinh quư, ngủ nằm không yên, đầu choáng tai ù, đêm không ngủ…
Họ Lục xx, nam, 42 tuổi, v́ bệnh mạch vành vào viện. Điều trị hơn hai tháng, bệnh t́nh chưa giải. Chứng trạng là đau vùng trước tim, bức khí, tâm quư (hồi hộp), sợ hăi như muốn chết. Mỗi khi cơn đau tim phát, tự thấy có khí xung lên họng, nghẹn bít rất nặng, toàn thân toát mồ hôi lạnh. Mạch huyền mà kết, lưỡi nhạt, rêu trắng.
Biện chứng: đây là tâm dương hư suy, trấn giữ vô quyền; thủy khí thượng xung, âm đến bác (đánh) dương làm hung dương liệt tắc, khiến tâm hung đau; thủy khí lăng (xâm phạm) tâm nên tâm quư và rối loạn nhịp tim; tâm luật thất điều nên mạch huyền mà kết; khói bụi dày đặc, hung dương không phấn chấn, nên ngực bức khí mà họng bế tắc. Thủy tà phát động, thận dương mất sự ước thúc, v́ chí của thận là khủng (sợ hăi), nên người bệnh sợ hăi muốn chết.
Pháp trị: thông dương hạ khí, lợi thủy ninh tâm.
Phương: phục linh 18g, quế chi 10g, chích cam thảo 6g, long cốt 12g, mẫu lệ 12g.
Uống ba thang, tâm thần được yên, khí nghịch được b́nh, nhưng mạch vẫn kết, lại kèm hiện tượng ố hàn rơ rệt và tay chân lạnh. Chuyển phương dùng thang Chân vũ gia quế chi, cam thảo rồi dần hồi phục và xuất viện.
Trường Xuân dịch
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-02-20 03:39:10
BÀI GIẢNG 08: THỬ LUẬN VỀ CHỨNG TRỊ GIA GIẢM CỦA CÁC BÀI THUỘC LOẠI THANG BẠCH HỔ
Loại thang Bạch hổ là chỉ vê bảy phương sau: Thang Bạch hổ, Thang Bạch hổ gia nhân sâm, thang Bạch hổ gia quế chi, thang Trúc diệp thạch cao, thang Bạch hổ gia thương truật, Ngọc nữ tiễn, thang Hóa ban. Bảy phương này lấy thang Bạch hổ làm đại biểu; sáu phương c̣n lại đều dựa trên nền tảng thang Bạch hổ mà gia giảm biến hóa thành.
I/ Thang Bạch hổ
Thang Bạch hổ là chủ phương trị Dương minh nhiệt chứng. Dương minh nhiệt chứng là chỉ Dương minh lư nhiệt bừng thịnh, nhưng chưa liễm kết thành phủ thực; nhiệt ở Dương minh khí phận mà lan khắp toàn thân, tràn đầy trong ngoài, biểu hiện thành hội chứng “biểu lư đều nhiệt”. So với Dương minh phủ thực chứng, phủ chứng có thể nói là “lư thực hữu h́nh”, c̣n nhiệt chứng là “lư nhiệt vô h́nh”. V́ thân nhiệt của nhiệt chứng phát từ lư, không phải tà ở kinh biểu, nên cũng khác với Dương minh kinh chứng.
Dương minh lư nhiệt lan khắp toàn thân, tràn đầy trong ngoài, nên toàn thân trong ngoài đều nóng; nhiệt thịnh bức tân dịch tiết ra ngoài nên ra mồ hôi; nhiệt thịnh tổn thương tân dịch nên miệng và lưỡi khô, phiền khát mà thích uống lạnh; Dương minh nhiệt làm khí huyết sôi sục nên mạch hồng đại, hoặc phù hoạt mà sác. Những điều nói trên: đại nhiệt, đại hăn, đại khát, mạch hồng đại chính là “tứ đại chứng”, có thể xem là chứng hậu (hội chứng) điển h́nh của chứng Dương minh nhiệt, cũng là điểm then chốt trong biện chứng. Trong đó đặc biệt lấy phiền khát và ra mồ hôi làm căn cứ chủ yếu để dùng phương này.
Thang Bạch hổ gồm bốn vị: thạch cao, tri mẫu, cam thảo (chích), gạo tẻ (cánh mễ). Trong phương, thạch cao đại hàn, giỏi thanh nhiệt ở Dương minh khí phận mà không tổn thương tân dịch; tri mẫu khổ hàn mà nhuận, vừa thanh nhiệt vừa tư dưỡng âm của phế vị; cánh mễ và cam thảo tư dưỡng vị khí tân dịch, để tránh tệ hại hàn làm tổn thương trung tiêu. Bốn vị hợp lại có công năng thanh nhiệt sinh tân.
Tôn ××, nữ, 3 tuổi. Sau khi lên sởi, sốt cao không lui, toàn thân ra mồ hôi; t́nh trạng mồ hôi ra là vừa ra hết một lượt lại ra tiếp một lượt khác, lau đến đâu ra đến đó, có thể nh́n thấy rơ. Tôi liền nghĩ đến chứng trấp trấp hăn xuất“濈濈汗出” mà Trọng Cảnh nói, sao mà giống đến thế. Trẻ khát nước, môi khô, uống nước không ngừng; bắt mạch hoạt sác, xem lưỡi thấy rêu vàng mỏng.
Biện chứng: là Dương minh khí phận nhiệt chứng, do nhiệt bức tân dịch thấm ra ngoài. Nên thanh nhiệt sinh tân để pḥng biến chứng kinh quyết.
Xử phương: Thạch cao sống 30g, Tri mẫu 6g, Cam thảo 6g, Cánh mễ một nắm lớn.
Uống 1 thang, liền nhiệt lui thân mát, hết mồ hôi mà khỏi bệnh.
Trịnh ××, nam, 22 tuổi. Ngoại cảm thời tà, sốt cao mê sảng, tay chân quyết lạnh như băng, lại thường đ̣i uống nước; ngủ th́ luôn nói mê. Mạch hồng đại, ấn vào vẫn mạnh; xem lưỡi chất đỏ sẫm mà rêu vàng; hỏi đại tiểu tiện đều thông, chỉ tiểu tiện có sắc vàng.
Biện chứng: là Dương minh “nhiệt quyết” chứng, nhiệt tà có nguy cơ nội bế. Nên dùng tân hàn trọng tễ để thanh nhiệt ở kinh Dương minh, kiêm tá trợ vị hương thơm khai khiếu, để ngăn chặn bệnh tà truyền vào Quyết âm tâm bào.
Xử phương: Thạch cao sống 30g, Tri mẫu 9g, Cam thảo 6g, Cánh mễ một nắm lớn, Quảng giác 3g, Thạch xương bồ 3g, Liên kiều tâm 3g, Uất kim 3g.
Uống chung 2 thang, nhiệt lui quyết hồi, khỏi bệnh bằng an.

II/ Bạch hổ gia nhân sâm thang
Thang Bạch hổ gia nhân sâm trị Dương minh biểu lư đều nhiệt, biểu hiện miệng khô lưỡi ráo, phiền khát rất nặng, đến mức “muốn uống vài thăng nước”, đồng thời lại thấy thêm “luôn luôn sợ gió”, “lưng hơi ố hàn” (ớn lạnh), hoặc đại khát mà mạch ấn vào th́ rỗng (khâu). Điều này cho thấy đại nhiệt không chỉ tổn thương tân dịch mà c̣n háo khí. Âm tân đại thương, không có dịch để nhuận dưỡng nên miệng lưỡi khô, phiền khát không giải; nguyên khí tổn hại, không đủ bảo vệ bên ngoài nên thường sợ gió (ố phong), lưng hơi sợ lạnh; nhiệt thịnh mà khí âm bất túc nên mạch đại mà khâu. Lúc này nếu chỉ dùng thang Bạch hổ để thanh nhiệt th́ rơ ràng không đủ, cần gia nhân sâm để ích khí sinh tân, chính tà đều được chăm lo mới có thể đầy đủ.
Lư ××, nam, 52 tuổi. Bị đái tháo đường, khát uống nhiều, uống xong lại khát, như có cảm giác nước không giải được khát. Đường niệu dương tính, đường huyết vượt phạm vi b́nh thường. Người bệnh khát mà uống được, nhưng ăn không nhiều, đại tiện cũng không bí kết. Hỏi tiểu tiện th́ màu vàng đỏ mà thuận lợi, song so với lượng nước uống vào th́ lượng tiểu tiện lại ít. Mạch nhuyễn đại, chất lưỡi đỏ không rêu.
Biện chứng: phế vị nhiệt thịnh, khí âm lưỡng thương. Bệnh này thuộc “thượng tiêu”. Trị nên thanh nhiệt ở thượng, trung tiêu, đồng thời bổ ích khí âm hư.
Xử phương: Thạch cao sống 40g, Tri mẫu 10g, Cam thảo 6g, Cánh mễ một nắm lớn, Nhân sâm 10g, Hoa phấn 10g.
Uống 5 thang, khát giảm nhiều, thể lực và tinh thần đều khá hơn. Xét nghiệm đường huyết và đường niệu đều giảm. Chuyển phương dùng: Sa sâm 12g, Ngọc trúc 12g, Mạch môn 30g, Hoa phấn 10g, Thái tử sâm 15g, Cam thảo 6g, Tri mẫu 6g.
Uống hơn mười thang, bệnh t́nh cải thiện rơ rệt, sau dùng hoàn tễ để củng cố hiệu quả.
Lâm ××, nữ, 38 tuổi. Ngày hè sau khi ngủ trưa, hôn mê không biết người, thân nóng tay chân quyết, mồ hôi nhiều, hơi thở thô như suyễn, không nói không đáp, hàm răng cắn chặt. Rêu lưỡi vàng khô, mạch tượng hồng đại mà khâu.
Biện chứng: thuộc thử chứng. Tà đại nhiệt đốt Dương minh nên thân nhiệt bừng thịnh; thử nhiệt hun hấp bên trong, bức tân dịch thoát ra ngoài nên mồ hôi nhiều, khí thô như suyễn; nhiệt uất khí cơ nên tứ chi trái lại quyết lạnh; tà nhiệt bức bên trong quấy nhiễu tâm thần, chính khí lại không thắng tà nên hôn mê không nói; mạch hồng đại mà khâu. Trị pháp: thanh thử tiết nhiệt, ích khí sinh tân.
Xử phương: Thang Bạch hổ gia nhân sâm.
Bạch sâm Triều Tiên, Tri mẫu, Cánh mễ mỗi vị 15g; Thạch cao 30g; Cam thảo 9g.
Uống 1 thang, mạch yên, tay chân ấm lại, thần thức tỉnh táo, liên tiếp kêu khát, lại muốn uống lạnh. Cho uống thêm 1 thang th́ khỏi.
Dẫn từ “Tô Bá Uẩn trị án”.
III/ Thang Bạch hổ gia quế chi
Thang Bạch hổ gia quế chi xuất xứ từ “Kim quỹ yếu lược phương luận”, dùng trị bệnh “ôn ngược”. Ôn ngược là chứng chỉ về nhiệt mà không hàn; tà khí ẩn tàng ở Thận, đến mùa xuân hè phát ra, là chứng “phục khí ngoại xuất”. V́ hàn cũng hóa nhiệt, nên không ố hàn mà phát nhiệt; tà từ Thận xuất, ngoài “xá” là ở chỗ hợp của nó, nên đau xương khớp; thường hay nôn là v́ tà nhiệt thượng bức vào Dương minh vị; mạch như người b́nh thường là v́ bệnh không phải mới cảm đột ngột nên biến hóa mạch tượng không lớn.
Bạch hổ gia quế chi thang gồm năm vị: tri mẫu, thạch cao, chích cam thảo, cánh mễ, quế chi. Phương này dùng Bạch hổ thang để thanh nhiệt phục ở trong; gia quế chi để dẫn thạch cao, tri mẫu đi lên đến Phế, từ vệ phận mà tiết nhiệt, khiến tà uất ở biểu trong chốc lát được điều ḥa, th́ ôn ngược có thể dứt.
Trương ××, nữ. Sau sinh mới 9 ngày, đă ra khỏi pḥng sinh, cảm thụ phong hàn, đột nhiên phát bệnh. Tự thấy nửa trên phiền nhiệt không chịu nổi, mồ hôi ra nhiều; mà nửa dưới th́ không mồ hôi, lạnh thấu xương; lại khát muốn uống, uống nước mà khát vẫn không giải.
Xem sắc mặt đỏ bừng, mồ hôi ra làm tóc ướt rồi chảy xuống mặt. Bắt mạch phù, ấn xuống th́ đại. Xem lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng mỏng. Hỏi đại tiểu tiện vẫn b́nh thường, chỉ tiểu tiện vàng. Lại hỏi có đau đầu không, đáp có; sợ gió không, đáp có.
Biện chứng: mạch phù ố phong là biểu có tà; khát, mặt đỏ, nửa trên phiền nhiệt, mồ hôi ra nhiều, mạch ấn xuống đại là tượng Dương minh khí phận có nhiệt. Tà nhiệt nội thịnh, dương bị cản trở ở trên, không thể hạ đạt đến eo gối, nên nửa dưới không mồ hôi mà trái lại lạnh thấu xương.
Trị pháp: thanh nhiệt sinh tân, kiêm sơ giải tà ở vệ phận.
Xử phương: Thạch cao sống 30g, Quế chi 6g, Bạch vi 9g, Ngọc trúc 9g, Tri mẫu 9g, Cam thảo 6g, Cánh mễ một nhúm.
Chỉ uống 1 thang, bệnh liền khỏi hẳn.

IV/ Thang Trúc diệp thạch cao.
Thang Trúc diệp thạch cao trị chứng sau khi thương hàn đă giải, người bệnh hư gầy, thiểu khí, khí nghịch muốn nôn, không muốn ăn uống. Phương này gồm bảy vị: trúc diệp, thạch cao, bán hạ, nhân sâm, chích cam thảo, cánh mễ, mạch môn đông. Không khó thấy rằng phương này do Bạch hổ gia nhân sâm thang giảm tri mẫu, rồi thêm mạch môn đông, trúc diệp, bán hạ mà thành. Trong phương dùng thạch cao, trúc diệp để thanh hư nhiệt mà ḥa vị; mạch môn đông, nhân sâm, cam thảo, cánh mễ để lưỡng bổ khí âm mà phù hư; bán hạ vị tân để giáng khí nghịch mà trị nôn.
Dương ××, nữ, 23 tuổi. Bị viêm tuyến vú đă phẫu thuật điều trị, bệnh không khỏi mà sốt 39°C. Tây y chẩn đoán do viêm nhiễm, dùng các loại kháng sinh mà sốt không lui, lại thêm niêm mạc miệng mọc đầy nấm. Tây y lại lo sẽ thành nhiễm khuẩn huyết. Bác sĩ trong bệnh viện là Hà quân, chủ trương mời Trung y hội chẩn, bèn mời tôi đến khám. Mạch bệnh nhân sác mà vô lực; xem lưỡi th́ v́ bôi thuốc tím gentian nên cũng không phân biệt được. Sau khi t́m hiểu toàn diện, ngoài sốt ra bệnh nhân c̣n có tâm phiền, nôn ói, không ăn được; chỉ có đại tiểu tiện c̣n điều ḥa, tinh thần vẫn khá.
Biện chứng: sau phẫu thuật viêm tuyến vú, khí dịch đều tổn thương. Nhũ pḥng nội hợp Dương minh Vị kinh, nên nhiệt tà phạm Vị, vị khí thượng nghịch mà nôn. Nay khí dịch của Vị đều hư, chống tà không lực, nên bệnh kéo dài, điều trị không hiệu.
Trị pháp: thanh nhiệt tư dịch, ḥa vị phù hư.
Xử phương: thạch cao sống 30g, trúc diệp 10g, mạch môn đông 20g, đảng sâm 10g, cam thảo 10g, cánh mễ một nắm, bán hạ 10g.
Phương này trước sau uống tổng cộng 8 thang, sốt lui thân mát, nôn dứt Vị khai (mở), do đó khỏi bệnh.
Trương ××, nữ, 25 tuổi, nằm viện huyện ××. V́ viêm tuyến vú, sau phẫu thuật sốt trong khoảng 38,5°C–39,5°C. Tây y cho là nhiễm trùng sau mổ, tiêm đủ loại kháng sinh mà vô hiệu. Sau dùng “Analgine” phát hăn hạ nhiệt, nhưng vừa hạ lại lên, không thể củng cố. V́ sau mổ lại nhiều lần phát hăn, bệnh nhân mệt mỏi không chịu nổi. Chứng thấy nôn mà không muốn ăn uống, tâm phiền, miệng khô, chóng mặt, tay chân run. Bắt mạch sác mà vô lực. Lưỡi non đỏ, rêu vàng mỏng. Tôi hỏi bác sĩ điều trị: đây là bệnh ǵ? Đáp: đây là nhiễm khuẩn huyết, không biết Trung y có chữa khỏi không? Tôi nói: bệnh nhân đă khí âm lưỡng thương, lại đặc biệt là vị dịch thiếu hụt; mà khí nghịch gây nôn, không ăn vào được, th́ chính khí lấy ǵ chống đỡ? Phải thanh nhiệt phù hư, khí âm đều chăm lo, mới là trị pháp phù hợp.
Xử phương: thạch cao sống 30g, mạch môn đông 24g, đảng sâm 10g, chích cam thảo 10g, cánh mễ một nhúm, trúc diệp 10g.
Chỉ uống 4 thang, sốt lui nôn dứt, và bệnh ăn uống tốt hơn.
Tổng hợp hai án trên mà phân tích: phàm viêm tuyến vú sau phẫu thuật, phần nhiều kèm Dương minh khí phận nhiệt tràn đầy không lui, lại làm khí và tân dịch đều tổn thương, vị nghịch gây nôn… Có lẽ thuộc một quy luật thường gặp sau mổ chăng; ghi lại để cung cấp tham khảo cho lâm sàng.

V/ Thang Bạch hổ gia thương truật.
Thang Bạch hổ gia thương truật xuất xứ từ “Thương hàn loại chứng hoạt nhân thư”, dùng trị thấp ôn bệnh. Chứng trạng là thân nặng, ngực đầy, đau đầu, nói sảng, nhiều mồ hôi, hai cẳng chân nghịch lạnh v.v. Phương này gồm thạch cao, tri mẫu, cam thảo, cánh mễ, thương truật năm vị. Bài này dùng thang Bạch Hổ để thanh trừ tà ôn nhiệt ở phần khí; gia Thương truật nhằm khu trừ thấp tà ở trung tiêu của chứng ôn, đồng thời loại bỏ sự ngưng trệ của thấp trọc. 《Y tông kim giám》 lại gia thêm Phục linh vào phương này để lợi thấp, rất đáng tham khảo.
Cam Túc, Chu ××, nam, 24 tuổi. Phát bệnh sốt, đau đầu, thân thể đau, ngực giữa đầy tức, buồn nôn không muốn ăn uống. Tây y từng tiêm “Analgine” 2 ống, mồ hôi ra rất nhiều mà sốt không lui, nhiệt độ 39,6°C, lại luôn nôn, ngủ th́ nói mê; mạch phù sác, rêu lưỡi trắng nhờn. Tôi thấy có ngực đầy nôn và rêu nhờn, biện là thấp ôn uẩn ở thượng trung nhị tiêu mà gây. Bèn định cho một thang Tam nhân thang. Bệnh nhân uống thuốc xong sốt vẫn không lui; đến chiều thân thể đau không chịu nổi, người nhà thúc giục tái khám. Bắt mạch nhu sác; lưỡi đỏ mà rêu trắng vàng lẫn nhờn; mặt đỏ bừng; lại khát muốn uống; hai chân lại lạnh; tiểu tiện vàng đỏ, đại tiện không táo. Tôi suy xét kỹ: bệnh này đă từng phát hăn, tân dịch Dương minh bị tổn là điều biết được; mà khát thích uống, ngủ nói mê, nhiệt ở Dương minh không c̣n nghi ngờ. Nhưng nhiệt tuy nặng mà vô hăn, thân đau mà nặng, ngực đầy nôn, chân lạnh tiểu vàng, rêu lưỡi lại nhờn: rơ ràng là nhiệt trung hiệp thấp, thấp trở khí cơ. Chứng này không dùng Bạch hổ th́ không đủ thanh nhiệt; không dùng thương truật th́ không thể khứ thấp hóa trọc để giải trừ tà.
Xử phương: Thương truật 9g, thạch cao sống 30g, tri mẫu 10g, cam thảo 6g, cánh mễ một nắm lớn.
Chỉ uống 1 thang, sốt lui đau dứt mà khỏi.

VI/ Ngọc nữ tiễn
Ngọc nữ tiễn là phương của Trương Cảnh Nhạc, trị âm hư vị hỏa gây đau răng v.v. Phương gồm thạch cao sống, tri mẫu, thục địa, mạch môn đông, ngưu tất năm vị; tức Bạch hổ thang giảm cam thảo, cánh mễ, gia thục địa, mạch môn đông, ngưu tất. Phương này nếu trị ôn bệnh khí huyết cùng bị nhiệt, th́ thục địa nên đổi thành sinh địa, và bỏ ngưu tất mới hợp.
Quách ××, nữ, 38 tuổi. Đau răng lợi sưng, mũi thỉnh thoảng chảy máu, tâm phiền miệng khô, muốn uống lạnh; nhưng đại tiện không táo, tiểu tiện vàng. Bắt mạch hồng đại; lưỡi đỏ ít rêu mà khô.
Biện chứng: Dương minh khí phận có nhiệt, lâu ngày không trị, nhập vào huyết phận, nên đau răng lại kèm chảy máu mũi.
Trị pháp: lưỡng thanh khí huyết phận bừng nhiệt.
Xử phương: Ngọc nữ tiễn gia giảm: thạch cao sống 30g, tri mẫu 10g, sinh địa 10g, mạch môn đông 12g, ngưu tất 6g, đan b́ 10g.
Uống 2 thang, các chứng đều khỏi.

VII/ Thang Hóa ban.
Thang Hóa ban là phương của Ngô Cúc Thông. Phương này trị Thái âm ôn bệnh, lầm dùng thuốc ôn để phát hăn: mồ hôi không ra th́ tất phát ban chẩn; mồ hôi ra quá nhiều th́ tất thần hôn nói sảng. Nếu đă phát ban th́ dùng phương này trị. Phương gồm thạch cao sống, tri mẫu, cam thảo, huyền sâm, tê giác, bạch cánh mễ sáu vị. Ngô Cúc Thông giải phương này rằng: đây là tà nhiệt tràn lan bên trong, điều trị dùng các vị hàm hàn (vị mặn lạnh), tá bằng phép khổ cam (đắng ngọt). Người trước đều dùng Bạch hổ thang làm Hóa ban thang v́ đó là Dương minh chứng. Dương minh chủ cơ nhục, ban chẩn khắp thân đều đỏ, từ trong ra ngoài, nên dùng thạch cao thanh nhiệt của phế vị (trừ nhiệt ở phế vị); tri mẫu thanh kim bảo phế mà trị nhiệt độc thắng ở Dương minh; cam thảo thanh nhiệt giải độc ḥa trung; cánh mễ thanh vị nhiệt mà bảo vệ vị dịch… Riêng phương này gia thêm huyền sâm, tê giác là v́ ban sắc chính đỏ, mộc hỏa quá thịnh, biến hóa càng nhanh; chỉ dùng loại Bạch hổ táo kim để thanh túc thượng tiêu e không kham nổi, nên gia huyền sâm để khởi khí của Thận kinh, thượng giao với Phế, độ “thủy thiên nhất khí” trên dưới tuần hoàn, không đến nỗi nguồn suối bạo tuyệt (hết nhanh). Tê giác vị mặn lạnh, bẩm thụ khí của Thủy, là khí tương sinh của Mộc, Hỏa, là loài thú linh dị; thể chất dương cương, chủ trị trăm thứ độc. Lấy tính mặn lạnh của nó để cứu thận thủy mà tế tâm hỏa, bài trừ ban cho phát ra ngoài, lại có thể giải độc và tránh ôn dịch. Khi bệnh đă đến mức phát ban, không chỉ c̣n ở khí phận nữa, nên lại gia thêm hai vị thuốc lương huyết.
Các phương chứng gia giảm của thang Bạch hổ c̣n rất nhiều, hạn chế bởi độ dài, nên không dẫn thêm. Nếu có thể từ các phương trên mà hiểu được ư nghĩa gia giảm trị liệu, “Ứng dụng linh hoạt các nguyên tắc và phương pháp”th́ điều kỳ diệu là ở trong tâm; tùy chứng hóa tài (tuỳ chỉnh theo những thay đổi), há lại chỉ mấy phương trên mà có thể nói hết ư.
Trường Xuân dịch
 
Reply with a quote


<< Trả Lời >>

Nội Quy | Góp Ý | © 2009 - 2025 yhoccotruyen.org