Trang Chính

  Dược Vị

  Toa Thuốc

  Diễn Đàn

  Đăng Nhập

  Đăng Ký

Diễn đàn >> Kiến Thức YHCT >> THƯƠNG HÀN THẬP TỨ GIẢNG 9-14

<< Đăng Chủ Đề Mới >>
THƯƠNG HÀN THẬP TỨ GIẢNG 9-14 - posted by Trường Xuân (Hội Viên)
on February , 24 2026
THƯƠNG HÀN THẬP TỨ GIẢNG 9-14
BÀI GIẢNG 09: THỬ LUẬN VỀ CHỨNG TRỊ CỦA CÁC LOẠI THANG THỪA KHÍ GIA GIẢM
Loại thang Thừa khí gồm mười ba phương sau: thang Đại thừa khí, thang Điều vị thừa khí, thang Tiểu thừa khí, Ma tử nhân hoàn, thang Đào nhân thừa khí, thang Hậu phác thất vật, thang Hậu phác tam vật, thang Hậu phác đại hoàng, thang Đại hoàng tiêu thạch, thang Đại hoàng mẫu đơn b́, thang Tam nhất thừa khí, thang Hoàng long, thang Tăng dịch thừa khí. Mười ba phương này lấy thang Đại thừa khí làm đại biểu; mười hai phương c̣n lại đều dựa trên nền tảng thang Đại thừa khí gia giảm biến hóa thành.
I/ Thang Đại thừa khí
Thang Đại thừa khí dùng để điều trị bệnh ở kinh Dương minh, phủ khí thực mà táo kết đă thành. Phải có đặc điểm chứng hậu là bụng bĩ măn (bế tắc và đầy), đại tiện táo cứng, mới có thể dùng.
Người viết cho rằng “đại tiện cứng” là chủ chứng của thang Tiểu thừa khí, c̣n “đại tiện táo” mới là chủ chứng của thang Đại thừa khí. Hai chứng đều có đại tiện không thông, nhưng mức độ nặng nhẹ khác nhau. Như điều 215 nói: “Dương minh bệnh, nói sảng có triều nhiệt, trái lại không thể ăn, th́ trong Vị tất có táo phân năm sáu viên. Nếu ăn được th́ chỉ là phân cứng thôi.” Từ đoạn này có thể thấy khái niệm “phân táo” và “phân cứng” là không giống nhau. “phân cứng” là chỉ phân khô cứng nhưng vẫn thành khuôn dài; “phân táo” là chỉ phân thành viên h́nh tṛn, không thành khuôn dài, nên mới nói “phân táo năm sáu viên” (táo thỉ ngũ lục mai). Nó phản ánh táo nhiệt đốt tân dịch, cặn bă ngưng kết, h́nh như phân dê, kẹt trong ruột mà không thể thải ra ngoài. Chứng này táo nhiệt đă sâu, phủ khí bế tắc, nên có thể năm sáu ngày, thậm chí hơn mười ngày không đại tiện; dẫn đến bụng đầy đau, hoặc đau quanh rốn, bụng đầy không giảm, dù rặn cũng không ích ǵ. Chứng này tràng thực mà vị măn (đầy), phủ khí bị cản trở, nên trái lại không thể ăn; táo nhiệt bên trong thiêu đốt, ngoài việc tổn thương tân dịch của bản thân gây xuất mồ hôi , triều nhiệt, nói sảng, c̣n có thể “hạ kiếp” (đi xuống cướp) âm của Can Thận, xuất hiện các dấu hiệu thương âm như “mắt nh́n không rơ, con ngươi không điều ḥa” v.v.
Phạm vi chứng thang Đại thừa khí rất rộng, do hạn chế dung lượng nên không thể liệt kê hết; xin đối chiếu phần trước “Thử luận ư nghĩa đề cương chứng của lục kinh bệnh” mà tham khảo lẫn nhau th́ gần đúng.
Thang Đại thừa khí đề cập trong “Thương hàn luận” tổng cộng là mười chín lần, v́ vậy phạm vi trị liệu rộng hơn thang Điều vị thừa khí và thang Tiểu thừa khí. Do đó, việc nắm vững biện chứng thang Đại thừa khí th́ đối với các loại “Vị thực” của Dương minh bệnh sẽ có tác dụng suy rộng liên thông, lấy một suy ba.
Thang Đại thừa khí gồm: Đại hoàng (tửu tẩy), Hậu phác (chích), Chỉ thực (chích), Mang tiêu. Phương dùng đại hoàng tả hạ nhiệt kết, tống rửa phân táo trong ruột; mang tiêu hàm hàn (mặn lạnh), nhuyễn kiên nhuận táo, hiệp đại hoàng để tả hạ phân táo; hậu phác lư khí trừ trướng; chỉ thực phá khí tiêu bĩ; các vị phối hợp, để thúc đẩy tác dụng tả hạ của Mang tiêu và Đại hoàng. Phương này tả nhiệt phá kiên, tẩy trừ trường vị, công trục lục phủ, lực rất mạnh nên gọi là “Thang Đại thừa khí”.
Thang Điều vị thừa khí cùng với thang Đại thừa khí, thang Tiểu thừa khí đều lấy “thừa khí” mà đặt tên. “Thừa khí” nghĩa là thuận theo Vị khí đi xuống để hạn chế sự thái quá của nó. V́ phủ khí không thông thuận là do táo nhiệt kết ở đại trường; ba thang thừa khí đều có tác dụng tả hạ thực nhiệt để làm phủ khí thư thuận, Vị khí được giáng xuống, nên gọi là “thừa khí” mà đặt tên thang.
Trước giải phóng người viết từng trị một bệnh nhân họ Lư, 35 tuổi, làm nghề bán vải. Mùa hè trời nóng, đi khắp phố phường ngơ hẻm rao bán liên tục, rất vất vả. Một ngày mắc hạ lỵ, bụng đau, hậu môn như bị hơ nóng, lại thêm mót rặn nặng mà khó thông. Mẹ bèn cho uống “Thập tích thủy”. Uống xong lúc đó bụng đau có vẻ giảm, tiêu chảy được khống chế không phát, bèn cho là đă khỏi. Đến ngày thứ tư, bụng đau lại phát, nặng hơn trước; đại tiện ra toàn chất nhầy đỏ trắng, trong bụng bức bách mà có cảm giác đi không hết. Mạch bệnh nhân trầm mà hữu lực; xem rêu lưỡi vàng dày; lấy tay ấn bụng th́ đau.
Biện chứng: vị trường tích nhiệt, lại dùng nhầm “Thập tích thủy” là thuốc nhiệt, khiến tà nhiệt càng ngưng kết không mở, dẫn đến hủ hóa khí huyết mà thành chứng lỵ đỏ trắng. Phủ khí ngưng tụ, uế vật không ra, nên bụng rất đau. Dùng Trị pháp “thông nhân thông dụng”, lấy phép tống rửa kết trệ trong ruột là chính.
Phương: Đại hoàng 10g, Nguyên minh phấn 10g (cho sau), Chỉ thực 6g, Hậu phác 6g, Hoạt thạch 10g, Thanh đại 3g, Cam thảo 3g.
Uống 1 thang, đại tiện tả ra nhiều lần, là phân nhầy uế trọc. Từ đó đau bụng không phát nữa; người mệt rũ muốn ngủ, hạ lỵ v́ thế mà khỏi.
II/ Thang Tiểu thừa khí
Thang Tiểu thừa khí trị Dương minh bệnh khi phân đă cứng, nhưng chưa đến mức “táo” như thang Đại thừa khí. V́ vậy nó nặng hơn thang Điều vị thừa khí về tà táo nhiệt. Theo ư kiến lăo danh y Hồ Hy Thứ, biến hóa táo nhiệt của thang Tiểu thừa khí nên ở giai đoạn tiểu trường; thuyết này có thể tham khảo.
H́nh thành hội chứng thang Tiểu thừa khí, nói khái quát có hai t́nh huống: một là Thái dương bệnh sau khi dùng các pháp hăn, thổ, hạ…đă tổn thương tân dịch, tà nhiệt nhập lư, vị trường khô táo mất nhuận, khiến phân cứng. Vị trường táo nhiệt rất mạnh, cướp ép tân dịch thấm sang bàng quang mà ra theo tiểu tiện, nên không thể điều tiết sự khô táo của vị tràng, do đó đại tiện táo kết và tiểu tiện nhiều lần là hai đặc điểm của của hội chứng thang Tiểu thừa khí. T́nh huống khác là Dương minh bệnh lư nhiệt thịnh, bức tân dịch thoát ra ngoài làm mồ hôi ra nhiều; mồ hôi ra nhiều th́ tân dịch càng tổn thương, dẫn đến vị trường khô táo, đại tiện thành cứng.
Thang Tiểu thừa khí được đề cập 18 lần trong “Thương hàn luận”. Chủ yếu trị Dương minh bệnh do đại tiện cứng gây bụng trướng măn, nói mê sảng, tâm phiền, mạch hoạt sác v.v. Thang Tiểu thừa khí gồm: Đại hoàng (tửu tẩy), Chỉ thực (chích), Hậu phác (chích). Trong phương, đại hoàng khổ hàn để tả hạ kết táo nhiệt của Dương minh; hậu phác khổ ôn để tiêu bụng măn; chỉ thực khổ hàn để tiết bĩ khí. Hai vị phối hợp th́ có thể dẫn trệ hạ hành, giúp thúc đẩy tác dụng tả hạ của đại hoàng. Phương này trị theo thế “đi mà không giữ” (tẩu nhi bất thủ), nên lực tả hạ mạnh hơn thang Điều vị thừa khí, nhưng chậm hơn thang Đại thừa khí, nên có tên là thang Tiểu thừa khí.
Trần Tiểu Minh, nam, 12 tuổi. Tết Đoan Ngọ ăn nhiều bánh ú lạnh, hôm sau đau dạ dày bụng trướng, khóc không ngừng. Cha em mua “Nhất li đan” uống mà không hiệu, đau lại tăng, bèn mời tôi khám. Mạch trầm hoạt hữu lực, xem lưỡi rêu vàng trắng nhờn. Cởi áo xem bụng ph́nh như úp ngói, lấy tay ấn th́ khóc than đau. Hỏi đại tiện biết đă ba ngày chưa đi.
Biện chứng: ăn quá nhiều, vị tràng trở trệ, khí cơ không thuận lợi.
Phương: Đại hoàng 9g, Hậu phác 9g, Chỉ thực 9g, Hoắc hương ngạnh 6g, Sinh khương 6g.
Uống thuốc chưa đến hai giờ, trong bụng khí động có tiếng, rồi tiêu chảy, mùi rất chua thối. Đi lỏng liên tiếp hai lần th́ hết đau bụng và buồn ngủ. Chuyển phương dùng Bảo ḥa hoàn gia giảm mà khỏi bệnh.
III/ Thang Điều vị thừa khí
Thang Điều vị thừa khí trị Dương minh táo nhiệt mới kết, táo nhiệt ở Vị mà chưa hoàn toàn thực. Chủ chứng là đại tiện không thông, lại kèm tâm phiền, bồn chồn bất an, sốt âm ỉ hầm hập, hoặc bụng trướng măn, hoặc nói mê sảng v.v.
Thang Điều vị thừa khí gồm: Đại hoàng (rửa rượu), Cam thảo (chích), Mang tiêu. Trong phương, đại hoàng khổ hàn tiết nhiệt; mang tiêu hàm hàn (mặn lạnh) nhuận táo nhuyễn kiên; cam thảo cam (ngọt) ḥa hoăn trung tiêu, khiến tác dụng của đại hoàng, mang tiêu chậm lại ở Vị, có tác dụng “tải thuốc lên trên”, lại có thể bồi dưỡng Vị khí để phù hư do hăn pháp và hạ pháp. Từ Trung Khả nói: Trọng Cảnh dùng phương này tổng cộng bảy lần, hoặc do thổ hạ làm khô tân dịch, hoặc do phiền măn khí nhiệt, đều là v́ Vị trung táo nhiệt bất ḥa, chứ không phải đại thực măn; nên không muốn cho tả nhanh mà bỏ chỉ thực hậu phác, muốn cho thuốc “luyến cách” (thuốc lưu luyến ở hoành cách) mà sinh tân dịch, đặc biệt gia cam thảo để điều ḥa, nên gọi là “Điều vị”.
Phương này có hai cách dùng cũng không thể không biết. Như điều 29, thang Điều vị thừa khí uống “uống ít một, uống thuốc ấm”, ư lấy điều ḥa Vị khí, không muốn tả nhanh; c̣n điều 70, thang Điều vị thừa khí “sắc lấy một thăng, bỏ bă… uống một lần”, ư vừa ḥa Vị khí vừa tả đại tiện, nên phải “uống một lần” th́ lực thuốc mới đủ. “Vệ sinh bảo giám” dựa vào đặc điểm thang Điều vị thừa khí trị táo nhiệt thượng tiêu, gia hoàng liên, tê giác để trị “liệu diện” (nóng đỏ bừng mặt) do Dương minh hỏa nhiệt bốc lên mặt, khá hiệu quả. Tôi học theo thuyết ấy, dùng trị đau răng lợi sưng, hôi miệng đau đầu, chảy máu mũi, tâm phiền mà đại tiện bí kết cũng hiệu quả. Trong đó c̣n một đoạn y thoại: năm 1960 tôi từng trị một người tâm phiền khó ngủ, mạch hoạt sác, rêu lưỡi vàng dày. Tôi biện là hỏa nhiệt nhiễu tâm, tâm thần bất an. Nhiều lần dùng các thuốc thanh nhiệt như cầm liên… mà bệnh không khỏi, rêu lưỡi vẫn không lui. Chợt nhớ “Kim quỹ” có ghi “Thiệt hoàng vị hạ giả, hạ chi hoàng tự khứ”, bèn dùng thang Điều vị thừa khí. Uống thuốc xong đại tiện tả ra, mùi rất thối uế; tâm phiền lập tức giải, đêm ngủ ngon. Soi gương xem lưỡi th́ rêu màu vàng đă hết.
IV/ Ma tử nhân hoàn
Ma tử nhân hoàn trị chứng “Tỳ ước” (chứng táo bón). Dương minh và Thái âm biểu lư tương quan, khí của tạng và phủ thông nhau; Tỳ v́ Vị mà vận hành tân dịch, làm cho táo thấp điều ḥa, duy tŕ cân bằng âm dương của tạng phủ. Nếu Dương minh Vị khí mạnh mà Thái âm Tỳ âm yếu, th́ từ cân bằng phối hợp chuyển thành lấn át cướp đoạt: Vị dương mạnh lại lấn Tỳ âm yếu, khiến Tỳ âm bị “ước” (hạn chế) không thể v́ Vị mà vận hành tân dịch; tân dịch không thể trở vào Vị, vị tràng mất nhuận mà sinh khô táo, đại tiện v́ thế thành cứng; Vị khí vốn mạnh, táo nhiệt bức bách tân dịch lại thiên về theo xuống dưới, nên tiểu tiện lại nhiều và đi nhiều lần. Chứng này thường gặp ở người táo bón mạn tính, v́ vậy không thể dùng Thừa khí thang tả hạ, mà nên dùng Ma tử nhân hoàn nhuận trường, ḥa Tỳ âm, đồng thời tả cái thực của Dương minh th́ bệnh mới khỏi.
Ma tử nhân hoàn gồm: Đại hoàng, Chích chỉ thực, Chích hậu phác, Ma tử nhân, Thược dược, Hạnh nhân. Trong phương dùng đại hoàng, hậu phác, chỉ thực (tức thang Tiểu thừa khí) để tả Vị khí cang mạnh của Dương minh; dùng ma tử nhân nhuận trường tư táo; hạnh nhân nhuận táo thông tiện bí; thược dược dưỡng âm ḥa huyết; mật làm hoàn, mỗi lần uống mười viên, lấy ư “chậm trên, nhuận dưới” (hoăn thượng nhuận hạ).
Từng trị bệnh nhân Lưu ××, nam, 28 tuổi: đại tiện táo kết, năm sáu ngày mới đi một lần. Mỗi lần đại tiện khó vô cùng, thường v́ rặn quá sức mà mồ hôi tuôn như mưa. Môi khô, lấy lưỡi liếm th́ nổi lớp da dày như vảy, xé ra th́ môi nứt chảy máu. Mạch trầm hoạt, rêu lưỡi vàng.
Biện chứng: thuộc chứng Tỳ ước do Vị mạnh Tỳ yếu. V́ “Tỳ vinh tại môi”, nên Tỳ bất túc th́ môi khô nứt.
Phương: Ma tử nhân hoàn một liều.
Uống xong th́ khỏi bệnh.
V/ Thang Đào nhân thừa khí
Thang Đào nhân thừa khí trị Thái dương uất nhiệt ở biểu theo kinh nhập lư, kết với huyết, h́nh thành hạ tiêu ứ huyết sơ kết. V́ nhiệt kết với huyết, chứng thuộc thực, nên thiếu phúc co cấp, thậm chí cứng đau, ấn vào càng đau hơn. Thiếu âm Tâm chủ huyết mạch mà tàng thần; nếu trọc nhiệt trong huyết quấy nhiễu Thiếu âm th́ tâm thần không yên, nên thấy phiền táo. Nhưng chưa đến mức cuồng loạn, nên gọi là “người như cuồng” (ḱ nhân như cuồng).
Thang Đào hạch thừa khí gồm: Đào nhân, Đại hoàng, Quế chi, Chích cam thảo, Mang tiêu. Trong phương, đại hoàng, mang tiêu tả nhiệt, nhuyễn kiên, phá kết; đào nhân phá ứ huyết để sinh tân huyết, hiệp với Mang tiêu Đại hoàng công trục ứ huyết; quế chi thông dương hành khí để thông lợi ứ trệ của huyết mạch; cam thảo điều vị ḥa trung để bảo hộ chính khí. Phương này hàm chứa tác dụng của thang Điều vị thừa khí, nên vẫn là phương gia giảm thuộc Thừa khí thang. Uống xong làm cho ứ nhiệt theo đại tiện ra ngoài, v́ vậy sau phương thang có ghi chú “sau khi uống thuốc phân sẽ hơi lỏng”.
Lưu ××, nữ, người Thiên Tân. Bệnh đă hai năm. Tự nói sau sinh bị trúng gió, từ đó mắt đau, ít ngủ, thị lực bắt đầu giảm. Trước khởi ở mắt phải, thị lực từ 1,2 giảm xuống 0,1. Khoa mắt Tây y chẩn đoán “viêm vơng mạc trung tâm”, đáy mắt phù nề, vùng hoàng điểm có tổn thương màu nâu đen. Ngoài bệnh mắt, người này thường đau lưng, đau vùng bụng dưới bên phải; mỗi kỳ kinh th́ hai chân trướng, lại thêm trí nhớ suy giảm, hay quên, suốt ngày sợ hăi bất an. Mạch huyền hoạt hữu lực, chất lưỡi đỏ sẫm có điểm ứ.
Biện chứng: hạ tiêu ứ huyết, rối loạn chức năng gan; Can khai khiếu ra mắt, nên thị lực giảm, lại hay quên.
Trị pháp: hoạt huyết hóa ứ, trục cựu sinh tân.
Phương: Đào nhân 15g, Đại hoàng 10g, Đan b́ 10g, Manh trùng 6g, Thủy điệt 6g, Xích thược 6g.
Vừa uống 1 thang, liền phát đau vùng sau chẩm, kèm cảm giác giật nảy. Sau đó tiểu phúc đau, đại tiện tả, tiểu tiện ra rất nhiều vật như máu. Lập tức cảm thấy đầu mắt sáng rơ, trí nhớ tốt lên, mừng ngoài dự liệu. Chuyển phương dùng Huyết phủ trục ứ thang gia Thạch quyết minh, Ích mẫu tử. Uống 6 thang, thị lực phục hồi như người thường. Khám mắt lại, tổn thương nâu đen vùng hoàng điểm đă nhạt đi và thu nhỏ. Hiệu quả nhanh chóng, vượt ngoài tưởng tượng.
VI/ Thang Hậu phác thất vật
Thang Hậu phác thất vật là phương của Trương Trọng Cảnh, có trong “Kim quỹ: Phúc măn hàn sán túc thực”. Phương này có tác dụng biểu lư lưỡng giải, nên trị bụng đầy táo bón mà phát sốt, mạch phù th́ hiệu quả. Thang Hậu phác thất vật gồm bảy vị: Hậu phác, Cam thảo, Đại hoàng, Đại táo, Chỉ thực, Quế chi, Sinh khương. Theo dược vị không khó thấy: phương này là thang Tiểu thừa khí hợp với thang Quế chi (giảm Thược dược) mà thành. Vưu Tại Kính chú giải: “Chỉ, phác, đại hoàng là để công lư; quế chi, sinh khương là để công biểu; cam thảo, đại táo v́ công trong ngoài cùng lúc, nên dùng để an tạng khí, cũng để điều ḥa dược khí.”
Tôi cho rằng: tuy phương này biểu lư lưỡng giải, nhưng Hậu phác nguyên phương dùng nửa cân, c̣n Quế chi chỉ hai lạng; phương này giỏi trị bụng trướng và thiên về lư chứng là điều không cần nói cũng rơ.
Tôi từng trị một bé trai, 8 tuổi. Ngoại cảm phong hàn, nội hiệp thực trệ, bụng trướng đau, đại tiện không lợi; lại kèm đau đầu phát sốt, mạch phù khẩn, rêu lưỡi trắng vàng lẫn nhờn.
Biện chứng: Chứng thương hàn kiêm thực.
Phương: Hậu phác 9g, Chỉ thực 6g, Đại hoàng 6g, Quế chi 3g, Ma hoàng 3g, Hạnh nhân 3g, Cam thảo 3g.
Uống 1 thang th́ đại tiện thông, mồ hôi ra sốt lui, yên.
VII/ Thang Hậu phác tam vật
Thang Hậu phác tam vật xuất xứ “Kim quỹ: Phúc măn hàn sán túc thực”. Phương này trị chứng bụng đau táo bón, lục phủ khí không vận hành. Thành phần dược vật giống thang Tiểu thừa khí, chỉ khác ở liều lượng. Thang Tiểu thừa khí dùng Hậu phác hai lạng, c̣n thang Hậu phác tam vật dùng Hậu phác tám lạng, nên quyết định hai phương trị liệu khác nhau. Vưu Tại Kính có lời rất tinh: “Tam vật thang với Tiểu thừa khí giống nhau; nhưng Thừa khí ư ở tống thực, nên quân dược là Đại hoàng; Tam vật ư ở hành khí, nên quân dược là Hậu phác.” V́ vậy, nếu bụng trướng rất nặng mà đại tiện bế, dùng phương này là hợp.
VIII/ Thang Hậu phác đại hoàng
Thang Hậu phác đại hoàng là phương trong “Kim quỹ: Đàm ẩm ho suyễn”. Trọng Cảnh dùng trị chi ẩm gây bệnh mà ngực đầy rất nặng. Phương này chính là thang Tiểu thừa khí, chỉ khác Đại hoàng dùng sáu lạng, Hậu phác một thước. Vưu Tại Kính cho rằng: “Ngực đầy nghi giống bụng đầy. Chi ẩm phần nhiều ngực đầy, sao lại riêng dùng hạ pháp? Hậu phác, đại hoàng giống Tiểu thừa khí; nếu không phải bụng đau bế, th́ chưa nên dễ thử.”
Tôi cho rằng chi ẩm có phân hàn nhiệt. Nếu chi ẩm thuộc nhiệt, ẩm cùng nhiệt ngưng, khí bế không lợi, nên ngực đầy rất nặng. Dùng thang này tả nhiệt để trục ẩm, lư khí để tiêu măn, cũng không phải không có chỗ dùng.
IX/ Thang Đại hoàng tiêu thạch
Thang Đại hoàng tiêu thạch xuất xứ “Kim quỹ: Hoàng đản”. Trọng Cảnh dùng trị hoàng đản, bụng trướng măn, tiểu tiện sắc đỏ mà không lợi, lại tự hăn xuất; đây là biểu ḥa lư thực chứng, nên dùng thang này để tả hạ thấp nhiệt kết trệ.
Thang Đại hoàng tiêu thạch gồm: Đại hoàng, Hoàng bá, Tiêu thạch, Chi tử bốn vị. Không khó thấy đây là phương gia giảm của thang Điều vị thừa khí. Theo Vưu Tại Kính chú: “Bụng đầy, tiểu tiện không lợi mà đỏ là thực; tự hăn xuất là biểu ḥa. Đại hoàng, tiêu thạch cũng là phép hạ nhiệt khứ thực; so với Chi tử đại hoàng thang và Nhân trần hao thang th́ mạnh hơn.” Tôi lâm sàng trị hoàng đản mà đại tiện bế, tiểu vàng đỏ mà ít, bụng trướng măn mà ra mồ hôi, th́ không dùng Nhân trần hao thang mà dùng thang này, uống một lần, phần nhiều hiệu quả.
X/ Thang Đại hoàng mẫu đơn b́
Thang Đại hoàng mẫu đơn b́ thấy trong “Kim quỹ: Sang dương trường ung…”. Phương này trị tràng ung: tiểu phúc sưng đau, tiểu tiện tự điều, thỉnh thoảng phát sốt, mồ hôi ra rồi lại ố hàn, rêu lưỡi vàng dày, mạch huyền khẩn hữu lực.
Thang Đại hoàng mẫu đơn b́ gồm năm vị: Đại hoàng, Mẫu đơn b́, Đào nhân, Đông qua nhân, Mang tiêu. Phương dùng đại hoàng, mang tiêu tả nhiệt phá kết, khiến độc theo đại tiện bài xuất; đào nhân, đông qua nhân bài mủ trục ứ để thông lợi ứ trệ ở huyết phận; phối mẫu đơn b́ lương huyết thanh nhiệt, tiêu viêm giảm đau. Phương này có mủ th́ hạ mủ, không mủ th́ hạ huyết, nên bất luận đă thành hay chưa thành đều có thể dùng.
Từ ××, nam, 44 tuổi. Do mổ trĩ, sau lại dùng thuốc thụt, v́ vậy gây vùng hố chậu trái (đại tràng) có một dải như dây, lên đến hiếp vị, trướng đau không chịu nổi; bụng đau đi lỵ, lẫn chất nhầy và phân như thịt nát, mỗi ngày đi 5–6 lần, lại đi không sảng khoái; ăn uống giảm, người mệt vô lực. Mạch huyền hoạt, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng.
Biện chứng: ruột có ung mủ, cùng tà thấp nhiệt keo kết mà gây hại khí huyết, thành loại “tràng thống” (đau ruột).
Trị pháp: bài mủ tả nhiệt, sơ can lợi thấp.
Phương: Đại hoàng 12g, Đào nhân 12g, Đan b́ 12g, Đông qua nhân 30g, Ư dĩ sống 30g, Bại tương thảo 10g, Thanh b́ Trần b́ mỗi 6g, Sài hồ 12g.
Uống liền 3 thang, tả ra uế vật rất nhiều; đau trướng tiểu phúc và đau lan lên hiếp vị (cạnh sườn dạ dày) đều giảm rơ rệt.
Chuyển phương dùng Quế chi phục linh hoàn, lại gia Đại hoàng, Hải tảo, Bối mẫu, Sài hồ v.v. Uống xong đại tiện càng tả mà uế vật lại càng ít, cuối cùng khỏi hẳn. Tổng cộng uống thuốc hơn hai mươi thang.
XI/ Thang Tam nhất thừa khí
Thang Tam nhất thừa khí thấy trong “Thương hàn trực cách” của Lưu Hà Gian. Ông nói: “Hoạt nhân thư: Đại thừa khí khẩn cấp nhất, tiếp theo là Tiểu thừa khí, rồi đến Điều vị thừa khí. Mà hạ chậm hạ gấp, giỏi khai phát mà khó uất kết, có thể thông dụng, th́ thang Đại thừa khí là ảo diệu nhất. Nay gia cam thảo, gọi là thang Tam nhất thừa khí, thông trị ba thừa khí thang, công hiệu rất nhanh mà không hại.”
Thang Tam nhất thừa khí trị: Đại thừa khí chứng bụng đầy thực; Điều vị chứng nói sàm hạ lợi; Tiểu thừa khí chứng nội nhiệt không đại tiện. V́ vậy trị thương hàn, tạp bệnh, uẩn nhiệt nội thịnh, táo thực kiên táo đều có hiệu. Tuy nhiên Thành Vô Kỷ cho rằng phương này gom “hoăn” và “tuấn” vào một phương, không phải ư của Trọng Cảnh, dùng cũng e có sai. Có thể tham khảo.
XII/ Thang Hoàng long
Thang Hoàng long thấy trong “Thương hàn lục thư” của Đào Hoa, dùng trị lư thực mà chính hư, như tự lợi nước trong, sắc xanh thuần, nói sàm, bụng đau chống ấn nắn, miệng lưỡi khô ráo, thân nóng, tinh thần mỏi mệt; hoặc đại tiện bí, bụng đầy cứng đau, thần hôn chi quyết (tinh thần hôn ám, chân tay lạnh), rờ áo (tuần y) bốc không (bắt chuồn chuồn), rêu lưỡi cháy vàng hoặc cháy đen, mạch hư.
Thang Hoàng long gồm: Đại hoàng, Mang tiêu, Chỉ thực, Hậu phác, Cam thảo, Đương quy, Nhân sâm, Cát cánh, Sinh khương, Đại táo. Trong phương dùng bộ Chỉ–Phác–Tiêu–Hoàng của thang Đại thừa khí để tả nhiệt thông tiện, tẩy trừ thực nhiệt tích trệ ở tràng vị, cấp hạ để giữ chính khí; nhân sâm, đương quy song bổ khí huyết; cam thảo phù dưỡng vị khí; cát cánh khai phế để đại tiện; khương táo ḥa trung điều vinh vệ, đồng thời giám chế tính mạnh mẽ của tiêu hoàng, thành phép công bổ kiêm thi (Công bổ cùng thi thố).
Hà Tú Sơn nói: phương này lập phép cho chứng “thất hạ” (lỡ mất phép hạ), rờ áo bốc không, thần hôn chi quyết, hư truyền nhiệt thịnh, không hạ tất chết; nên dùng thang Đại thừa khí gấp hạ để tồn âm, lại dùng sâm, quy, thảo, táo song bổ khí huyết để phù chính. Đây là lương phương tà chính hợp trị khi khí huyết đều suy.
XIII/ Thang Tăng dịch thừa khí
Thang Tăng dịch thừa khí là phương trong “Ôn bệnh điều biện” của Ngô Cúc Thông. Trị Dương minh thấp nhiệt bệnh tà ngưng kết ở vị trường, phân táo không xuống, âm dịch cạn kiệt, chính hư tà thực, tà không có đường ra.
Thang Tăng dịch thừa khí gồm: Huyền sâm, Mạch môn đông, Tế sinh địa, Đại hoàng, Mang tiêu. Trong đó Huyền sâm, Mạch môn đông, Sinh địa gọi là “Tăng dịch thang”, có tác dụng tư âm tăng dịch, nhuận trường thông tiện; lại phối với Mang tiêu, Đại hoàng để nhuyễn kiên tả kết, tiết nhiệt thông tiện, hợp thành tác dụng “tăng dịch để phù chính, thừa khí để trục tà”.
Tôn ××, nữ, 67 tuổi. Nửa mặt phải nặng, có lúc tiếng khóc kêu nghe sang cả hàng xóm. Đau dữ th́ lấy tay vả vào má cũng không thấy đau. V́ kéo đến răng đau, răng nhổ gần hết. Huyết áp 190/120 mmHg. Mạch thốn huyền, quan hoạt đại; lưỡi đỏ không rêu. Hỏi đại tiện th́ nói khô táo khó đi; tiểu tiện vàng đỏ và ngắn ít.
Biện chứng: vị táo tân khuy, lại Can Đởm uất hỏa thượng chạy theo hai kinh Đởm Vị mà gây đau. Táo nhiệt không hạ th́ không lui; vị âm không bồi bổ th́ không hồi phục; lại cần tá thêm dược phẩm b́nh can, mới mong thu được hiệu quả.
Phương: Huyền sâm 30g, Sinh địa 12g, Mạch môn đông 30g, Đại hoàng 6g, Nguyên minh phấn 6g (cho vào sau), Đan b́ 10g, Bạch thược 12g, Cam thảo 6g.
Uống 2 thang, tả ra vài cục phân đen khô, đau giảm, đêm ngủ được. Chuyển phương bỏ mang tiêu, gia Linh dương giác bột 1g (ḥa uống), Thạch quyết minh 30g, Hạ khô thảo 10g. Từ đó đau không phát nữa, huyết áp cũng dần hạ xuống gần b́nh thường.

Trường Xuân dịch
 


<< Trả Lời >>

Nội Quy | Góp Ý | © 2009 - 2025 yhoccotruyen.org