Trang Chính

  Dược Vị

  Toa Thuốc

  Diễn Đàn

  Đăng Nhập

  Đăng Ký

Diễn đàn >> Kiến Thức YHCT >> CỬU GIẢNG HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TINH YẾU

<< Đăng Chủ Đề Mới >>
CỬU GIẢNG HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TINH YẾU - posted by Trường Xuân (Hội Viên)
on April , 07 2026
CỬU GIẢNG HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TINH YẾU
Lời tựa đề cử
Giáo sư Mă Liệt Quang là chuyên gia nghiên cứu Nội Kinh nổi tiếng của Đại học Trung Y Dược Thành Đô. Ông đă chuyên tâm nghiên cứu Nội Kinh suốt bốn mươi năm, khai phát cổ nghĩa, thu thập rộng răi(博采) sở trường của nhiều nhà, thành quả rất phong phú. Ông chủ biên hơn mười bộ chuyên khảo về nghiên cứu Nội Kinh, đối với nhiều vấn đề đều có những kiến giải độc đáo. Trong mấy chục năm gần đây, giáo sư Mă lại càng tận lực dốc sức vào công tŕnh nghiên cứu học thuật về dưỡng sinh trong Nội Kinh, đến nay đă trở thành một trong những người dẫn đầu lĩnh vực nghiên cứu dưỡng sinh tại Trung Quốc. Có thể nói: “Trong cơi trời đất dưỡng sinh, ngựa già họ Mă quen đường.”
“Muốn lên núi Thái, không có đường th́ chẳng thể đi; muốn đến Phù Tang, không có thuyền th́ không thể tới.” Giáo sư Mă đạt được thành tựu như vậy trong nghiên cứu Nội Kinh, nguyên nhân là bởi ông xuất thân từ danh môn. Vào thập niên 1970 của thế kỷ XX, ông theo học tại Học viện Trung y Thành Đô. Khi ấy trong trường danh gia tụ hội như mây, khiến người ta chỉ biết ngước nh́n. Sau khi tốt nghiệp, ông được giữ lại công tác tại pḥng nghiên cứu giảng dạy Nội Kinh của trường. Người giữ chức chủ nhiệm pḥng khi đó chính là giáo sư Lư Khắc Quang, chuyên gia nổi tiếng về nghiên cứu Nội Kinh. Giáo sư Mă nhiều năm được cụ Lư trực tiếp chỉ bảo, truyền dạy từng điều, có thể nói là lĩnh hội gần như trọn vẹn chân truyền. Trong pḥng nghiên cứu, giáo sư Quách Trọng Phu cũng là bậc danh gia về Nội Kinh, đối với ông cũng chỉ điểm rất nhiều. Giáo sư Mă lại c̣n có giao t́nh với nhiều danh gia Trung y trên toàn quốc, như ân sư của tôi là tiên sinh Phương Dược Trung. Thầy tôi là người Trùng Khánh, trước kia mỗi lần về Trùng Khánh thường phải đi qua Thành Đô. Giáo sư Mă theo ủy thác của giáo sư Lư Khắc Quang, đă nhiều lần thay mặt đón tiễn, nên đương nhiên thường có dịp thỉnh giáo. Sau khi ân sư trở về Bắc Kinh, ông thường nhắc với tôi về việc ấy, v́ vậy tôi đối với giáo sư Mă lại càng thêm ngưỡng mộ.
Nay được đọc bản thảo đầu tiên của cuốn Hoàng Đế Nội Kinh tinh yếu cửu giảng của giáo sư Mă, tôi đọc kỹ từng phần, quả thực rất xứng với hai chữ “tinh yếu”. Bút lực của danh gia quả nhiên khác hẳn người thường. Chín giảng ấy gồm: khái yếu, dưỡng sinh, âm dương ngũ hành, tạng tượng, kinh lạc, bệnh nhân bệnh cơ, chẩn pháp, trị tắc trị pháp, bệnh chứng. Từng mục được phân tích rơ ràng, nắm cương lĩnh mà nâng giữ(提挈) đầu mối, hóa phức tạp thành giản minh; điều ấy nếu không lâu năm thấm đẵm(浸淫) trong Nội Kinh th́ không thể làm được. Văn của sách lưu loát, dùng từ chính xác, khảo cứu thận trọng, lại chú ư đến tính thông tục và tính thực dụng, thực là một tác phẩm chú giải phân loại rất hay về Nội Kinh. Dù là người mới học hay người nghiên cứu đều có thể từ đó gạn lấy tinh hoa. Tôi tin rằng sự xuất bản của cuốn sách này sẽ góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu Nội Kinh, đồng thời giúp đông đảo quần chúng hiểu biết hơn về Nội Kinh. Sách sắp đưa in, tôi vui ḷng viết mấy lời làm tựa.
Vương Kỳ
Lời tựa của tác giả
Hoàng Đế Nội Kinh, dưới đây gọi tắt là Nội Kinh, không chỉ là bộ cự tác rực rỡ cổ xưa nhất c̣n tồn tại trong kho tàng y học của tổ quốc, mà c̣n là báu vật trong nền văn hóa truyền thống của dân tộc Trung Hoa. Nhưng bởi v́ “văn của nó giản, ư của nó rộng, lư của nó sâu áo, và vô cùng hấp dẫn (thú của nó u vi)”, lại thêm những yếu tố như niên đại xa xưa, không phải thành sách trong cùng một thời, một nơi, hay do một người chấp bút, nên khiến đông đảo học giả nh́n vào mà cảm thán, kính phục mà e dè. Bởi vậy trong giới hành y mới có lời than rằng: “Hoàng Đế Nội Kinh là đỉnh Everest của Trung y học.” Trên cơ sở đó, cùng với 40 năm kinh nghiệm giảng dạy và thực hành lâm sàng về Nội Kinh, và với mục đích khám phá Nội Kinh một cách sâu sắc và dễ tiếp cận, cũng như làm sáng tỏ các nguyên tắc cốt lơi của nó, tôi đă biên soạn cuốn sách này.
Cuốn sách này chủ yếu lấy giáo tŕnh quy hoạch dùng cho các trường đại học Trung y là Nội Kinh giảng nghĩa, bản thứ năm, làm chỗ tham khảo, đồng thời đối chiếu với các bản giáo tŕnh Nội Kinh qua nhiều thời kỳ cùng các văn hiến liên quan, và đă có những cải tiến tương đối lớn về thể lệ biên soạn cũng như việc lựa chọn nội dung. Với yêu cầu lấy nguyên tác làm tông, ngoài giảng thứ nhất là “khái yếu”, tám giảng c̣n lại chủ yếu đi sâu giải thích một cách giản minh, dễ hiểu về âm đọc, nghĩa của chữ từ, nhận thức học thuật cùng những điểm ứng dụng chủ yếu của các đoạn kinh văn tinh tuyển. Mỗi giảng đều đặt phần “Học thuật chỉ yếu sơ nghĩa” ở đầu, giới thiệu vắn tắt những điểm cốt yếu của nội dung giảng ấy, đi thẳng vào vấn đề, nêu rơ tông chỉ ngay từ đầu. Tiếp đó là phần “Đại biểu kinh văn chú tích”, lấy nhận thức học thuật làm cương, chọn những đoạn nguyên văn tinh diệu, có tính tiêu biểu mà chú thích và phân tích. Sau cùng, mỗi giảng đều có thêm mục “Tham khảo kinh văn hiệt tụy”, tuyển lấy những đoạn kinh văn liên quan đặc sắc mà liệt kê rộng răi vào đó, phong phú mà không tạp loạn.
“Người biết được cái cốt yếu th́ một lời là xong; người không biết cái cốt yếu th́ tản mạn vô cùng.” Nếu người đọc có thể chuyên tâm nghiền ngẫm, “mở rộng đến tận nguồn y học, tinh cần không mỏi”, th́ sẽ có thể đắc được tinh hoa của Nội Kinh, thông được chỗ diệu yếu của kinh điển, thần hội mà minh thông, không thầy cũng tự hiểu. V́ tŕnh độ và năng lực của bản thân c̣n có hạn, sai sót ắt khó tránh, kính mong đồng đạo và các bậc thức giả bốn phương chỉ cho những ư kiến quư báu.
Đại học Trung Y Dược Thành Đô
Mă Khắc
BÀI GIẢNG THỨ NHẤT
Bài giảng thứ nhất
Khái yếu
Quá tŕnh thành sách và sự diễn biến lưu truyền của Nội Kinh
Hoàng Đế Nội Kinh (sau đây gọi tắt là Nội Kinh) là sự tổng hợp đại thành của lư luận Trung y từ hơn hai ngh́n năm trước. Nội dung chủ yếu của sách bắt nguồn từ thời Chiến Quốc, từ đời Tần Hán trở về sau lại có bổ sung qua nhiều thời đại; việc biên tập, gom lại thành sách có lẽ vào thế kỷ I trước Công nguyên, tức vào trung hậu kỳ Tây Hán. V́ vậy, bộ sách này không phải do một thời, một nơi, một người viết ra, mà là một tập đại thành gồm các bài luận y học đă được nhiều y gia ở nhiều khu vực khác nhau biên soạn, sửa chữa trong một thời kỳ khá dài. Tên sách đội chữ “Hoàng Đế” chỉ là mượn danh mà thôi. Hiện nay bản lưu hành của Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn và Hoàng Đế Nội Kinh Linh Khu lần lượt được Vương Băng đời Đường chỉnh lư, biên định, bổ chú; Lâm Ức cùng các học giả đời Tống hiệu chính; lại được Sử Tùng đời Nam Tống chỉnh lư, khảo đính, nhờ đó mới được bảo tồn và lưu truyền cho đến nay.
(Tương thăng Đại Nhạc, phi kính hề vi; dục nghệ Phù Tang, vô chu mạc thích.): Muốn lên núi Thái Sơn mà không đi theo đường th́ làm sao lên được; muốn tới đất Phù Tang mà không có thuyền th́ không thể đến nơi. Câu này ví việc nghiên cứu Nội Kinh cũng phải có đường lối, phương pháp và căn cứ thích đáng.
Từ sau Nội Kinh trở đi, người nghiên cứu rất đông, mà phương thức nghiên cứu chủ yếu gồm hiệu khảo, chú giải, phân loại v.v. Trong đó, loại phân loại chú giải lấy Dương Thượng Thiện, Trương Giới Tân, Lư Trung Tử làm đại biểu; loại chỉ chú giải riêng Tố Vấn lấy Vương Băng, Ngô Côn, Cao Thế Thức làm đại biểu; loại chú giải toàn bộ lấy Mă Th́, Trương Chí Thông làm đại biểu. Thành quả nghiên cứu Nội Kinh của các y gia历代 là tài liệu tham khảo hết sức quan trọng cho việc học tập và nghiên cứu Nội Kinh của chúng ta.
Quá tŕnh thành sách của Nội Kinh
Nội Kinh chia làm hai bộ phận là Tố Vấn và Linh Khu, mỗi bộ 81 thiên, cộng cả thảy 162 thiên. Tên sách Hoàng Đế Nội Kinh sớm nhất thấy trong thư mục Nghệ Văn Chí, phần Phương Kỹ Lược của Hán Thư. Về niên đại thành sách và tác giả của Nội Kinh, xưa nay vẫn là vấn đề mà học giả và y gia tranh luận không ngừng. Tựu trung, có thể quy nạp thành ba cách nh́n chính: thứ nhất, cho rằng đây là sách đời Hoàng Đế; thứ hai, cho rằng thành sách vào thời Xuân Thu Chiến Quốc đến Tần Hán; thứ ba, cho rằng việc mở rộng, biên tập hoàn chỉnh thành sách là vào đời Tây Hán.
Niên đại thành sách của Nội Kinh nên được nh́n theo hai giai đoạn: một là giai đoạn sáng tác lư luận, hai là giai đoạn biên tập thành sách.
Việc sáng tác lư luận của Nội Kinh bắt đầu từ thời Xuân Thu Chiến Quốc; từ đời Tần Hán trở về sau lại có bổ sung qua các đời. Có ba căn cứ chính: một là luận chứng của các học giả历代; hai là so sánh với các tác phẩm cùng thời; ba là phân tích khí tượng văn tự.
Xét từ luận chứng của các học giả历代, tông sư học phái Bách Nguyên đời Tống là Thiệu Ung đă chỉ ra trong Hoàng Cực Kinh Thế, Tâm Học rằng:
(“Tố Vấn”, “Âm Phù”, thất quốc thời thư dă.)

Tố Vấn và Âm Phù đều là sách thời Chiến Quốc. Ư nói hai tác phẩm này không phải trước tác quá cổ như người đời sau thường gán, mà phần lớn nên đặt vào bối cảnh học thuật thời Chiến Quốc.
Chu Hy trong Chu Tử Toàn Thư, phần Hữu Sử Dư Luận cũng nói:
(Chí ư Chiến Quốc chi thời, phương thuật chi sĩ, bút chi ư thư, dĩ tương truyền thụ, dĩ Liệt tử chi sở dẫn, dữ phù “Tố Vấn”, “Ác Kỳ” chi thuộc, cái tất hữu thô đắc kỳ di ngôn chi phảng phất giả, như Hứa Hành sở đạo Thần Nông chi ngôn nhĩ.):
Đến thời Chiến Quốc, các sĩ nhân làm nghề phương thuật mới chép thành sách để truyền thụ cho nhau; những ǵ như Liệt Tử dẫn dụng, cùng các sách như Tố Vấn, Ác Kỳ v.v., hẳn chỉ là phảng phất c̣n giữ được đôi phần di ngôn của Hoàng Đế, cũng giống như lời Hứa Hành nói về Thần Nông mà thôi. Ư kiến này cho rằng các sách ấy là sản phẩm biên chép, tập hợp về sau, chứ không thể xem hoàn toàn là nguyên tác trực tiếp của bậc thượng cổ.
Phương Hiếu Nhu đời Minh trong Tốn Chí Trai Tập, bài Độc Tam Phần Thư cũng nói:
(Thế chi ngụy thư chúng hĩ, như “Nội Kinh” xưng Hoàng Đế, “Cấp Trủng Thư” xưng Chu, giai xuất ư Chiến Quốc, Tần, Hán chi nhân.)
Sách ngụy trong đời rất nhiều; như Nội Kinh xưng là của Hoàng Đế, Cấp Trủng Thư xưng là của nhà Chu, kỳ thực đều do người thời Chiến Quốc, Tần, Hán làm ra. Ở đây “ngụy” không hẳn chỉ sự giả tạo hoàn toàn, mà chủ yếu muốn nói là mượn danh cổ nhân.
Thôi Thuật đời Thanh trong Bổ Cổ Thượng Khảo Tín Lục, Hoàng Đế Thuyết chỉ rơ:
(Thế sở truyền “Tố Vấn” nhất thư, tải Hoàng Đế dữ Kỳ Bá vấn đáp chi ngôn, nhi “Linh Khu”, “Âm Phù Kinh”, diệc xưng vi Hoàng Đế sở tác. Chí Chiến Quốc chư tử thư thuật Hoàng Đế giả vưu chúng.)
Tố Vấn lưu truyền trong đời chép lời hỏi đáp giữa Hoàng Đế và Kỳ Bá; c̣n Linh Khu, Âm Phù Kinh cũng đều xưng là do Hoàng Đế làm ra. Đến thời Chiến Quốc, sách chư tử nói đến Hoàng Đế lại càng nhiều. Điều đó cho thấy nhiều trước tác mượn danh Hoàng Đế vốn là hiện tượng học thuật phổ biến thời ấy.
Có thể thấy rằng các học giả历代 đều cho rằng, trừ bảy thiên đại luận ra, phần lớn Nội Kinh là tác phẩm của thời Chiến Quốc.
Xét từ nội dung so với các tác phẩm cùng thời, những phần liên quan đến bệnh tật và vệ sinh trong Lă Thị Xuân Thu và Chu Lễ có nội dung tương quan với Tố Vấn gần như giống nhau, chỉ khác ở mức độ tường lược. Ngoài ra, từ thập niên 70 của thế kỷ 20 trở đi, trong các văn vật khai quật tại Trường Sa, Mă Vương Đôi v.v. đă phát hiện một lượng lớn y thư viết trên thẻ tre và lụa. Trong đó tuy không có thiên quyển nào mang tên Hoàng Đế Nội Kinh hoặc Tố Vấn, nhưng nội dung của chúng lại có sự liên hệ nhất định với Nội Kinh, nhờ vậy cũng trở thành căn cứ đáng tin cậy để khảo định nguồn gốc một số thiên chương và niên đại trước tác của Nội Kinh.
Xét từ khí tượng văn tự của Nội Kinh, bối cảnh xă hội, cách ghi năm tháng, tư tưởng học thuật, mức độ tinh thô của y lư, việc vận dụng kỹ thuật chẩn liệu, cùng bút pháp văn chương, cách dùng chữ, tài liệu được trích dẫn trong từng thiên đều có khác biệt thời đại rất rơ. Điều đó cho thấy Nội Kinh là bản tổng kết thành văn, được h́nh thành trên cơ sở tập hợp, biên soạn, chỉnh lư và gia công các lư luận và kinh nghiệm y học lưu truyền trước đời Hán, mang tính chất của một tập đại thành các bài luận.
Thời đại mà Nội Kinh được biên tập thành sách, căn cứ theo ghi chép có liên quan trong sử thư, có thể đại khái suy đoán là vào thời Tây Hán. Tên sách Hoàng Đế Nội Kinh xuất hiện sớm nhất trong Hán Thư, Nghệ Văn Chí, Phương Kỹ Lược:
(“Hoàng Đế Nội Kinh” thập bát quyển, “Ngoại Kinh” tam thập thất quyển, “Biển Thước Nội Kinh” cửu quyển, “Ngoại Kinh” thập nhị quyển, “Bạch Thị Nội Kinh” tam thập bát quyển, “Ngoại Kinh” tam thập lục quyển, “Bàng Thiên” nhị thập ngũ quyển.)
Hán Thư, Nghệ Văn Chí do Ban Cố căn cứ vào Thất Lược mà “lược bỏ phần cốt yếu để bị thành thiên tịch” mà thành.
(San kỳ yếu, dĩ bị thiên tịch.)
Lược bỏ phần yếu lược để bổ sung hoàn chỉnh thư mục. Câu này nói rơ Hán Thư, Nghệ Văn Chí kế thừa và chỉnh lư thành quả thư mục học trước đó.

Thất Lược là bộ mục lục phân loại sách đầu tiên của Trung Quốc, do cha con Lưu Hướng, Lưu Hâm cuối đời Tây Hán phụng chiếu biên soạn; trong đó người phụ trách hiệu đính phương thư là Lư Trụ Quốc. Sử chép thời gian Lư Trụ Quốc hiệu khảo y thư là năm 26 trước Công nguyên, tức năm Hà B́nh thứ ba đời Tây Hán. Đây nên được coi là mốc dưới của niên đại Nội Kinh được biên thành.
C̣n mốc trên của việc biên thành Nội Kinh th́ Sử Kư là một bằng chứng quan trọng. Sử Kư ghi chép lịch sử hơn ba ngh́n năm từ Hoàng Đế đến Hán Vũ Đế; trong sách thuật lại tường tận sự phát triển của khoa học văn hóa各代, giới thiệu các chư tử tiên Tần và trước tác của họ, đồng thời c̣n viết riêng truyện cho các y gia như Biển Thước, Thương Công. Nếu Nội Kinh đă hoàn thành và lưu hành trước khi Tư Mă Thiên viết Sử Kư, th́ Tư Mă Thiên ắt hẳn phải thấy được; nhưng trong Sử Kư lại không hề nhắc tới tên Nội Kinh. Trong Sử Kư, Biển Thước Thương Công Liệt Truyện có nói, Thương Công vào năm thứ tám đời Cao Hậu, tức năm 180 trước Công nguyên, đă gặp thầy ḿnh là Dương Khánh. Dương Khánh truyền cho ông một số y thư như Thượng Hạ Kinh, Ngũ Sắc, Kỳ Khái Thuật, Kỳ Hằng, Quỹ Độ, Âm Dương Ngoại Biến v.v.; những sách này đều là y thư được Nội Kinh dẫn dụng, cho thấy Nội Kinh nhất định được thành sách sau thời Thương Công. Sử Kư được viết sau khi tác giả bị ngục năm 99 trước Công nguyên; từ đó suy ra, thời đại biên thành Nội Kinh nên nằm trong khoảng thế kỷ I trước Công nguyên, sau Sử Kư và trước Thất Lược.
Hơn nữa, một đặc điểm học thuật quan trọng của toàn bộ Nội Kinh là đă vận dụng rộng răi và sâu sắc học thuyết âm dương và học thuyết ngũ hành. Học thuyết âm dương và ngũ hành vốn đều có nguồn gốc rất cổ, trong một thời gian lịch sử khá dài chúng phát triển riêng rẽ. Việc nêu ra hệ thống sinh khắc của ngũ hành và sự hợp lưu của nó với học thuyết âm dương bắt đầu từ Trâu Diễn, một đại biểu Âm Dương gia cuối thời Chiến Quốc. Măi đến trung kỳ Tây Hán, trước tác của Đổng Trọng Thư, Hoài Nam Vương Lưu An v.v. mới phác họa ra một đồ thức vũ trụ hoàn chỉnh, trong đó bao hàm trời đất, âm dương, bốn mùa, ngũ hành cùng quy luật sinh khắc chế hóa giữa vạn vật, dùng để giải thích vô số sự vật và mối quan hệ trong vũ trụ, kể cả hoạt động sinh mệnh của con người. Đến lúc ấy, học thuyết âm dương ngũ hành mới tương đối hoàn bị và trở thành hệ tư tưởng chiếm địa vị thống trị lúc bấy giờ. Nội Kinh tiếp thu rộng răi học thuyết âm dương ngũ hành, điều đó từ mặt bên cho thấy việc gia công cuối cùng và biên thành của Nội Kinh phải vào trung kỳ Tây Hán hoặc muộn hơn một chút.
V́ thời đại trước tác của Nội Kinh kéo dài từ Xuân Thu Chiến Quốc sang đến Hán đại, cho nên tác giả của Nội Kinh hiển nhiên không thể là một người, một nơi, một thời, mà phải là sự tập hợp lư luận và kết tinh kinh nghiệm của nhiều y gia. Phần lớn các thiên chương của Nội Kinh được viết theo thể tài hỏi đáp giữa Hoàng Đế và Kỳ Bá v.v., lại lấy “Hoàng Đế” đặt ở tên sách, điều đó chỉ là tôn cổ và mượn danh mà thôi. Thực ra, Hoàng Đế không chỉ một cá nhân, mà là đại biểu cho một thị tộc hùng mạnh. Bộ tộc Hoàng Đế ban đầu cư trú ở vùng Tây Bắc, sống đời du mục di chuyển vô thường; về sau đánh bại bộ tộc Viêm Đế, dần dần định cư ở khu vực trung bộ. Bộ tộc Hoàng Đế ở vào giai đoạn phát triển cuối của xă hội nguyên thủy. Sau Hoàng Đế, các đời đều tôn Hoàng Đế là thủy tổ, v́ thế toàn thể dân tộc Trung Hoa đều được xem là con cháu Viêm Hoàng và lấy đó làm vinh dự. Có thể thấy, học giả đời sau đặt hai chữ “Hoàng Đế” lên tên sách của ḿnh, chẳng qua chỉ là để truy nguyên t́m gốc, biểu thị học thuật của ḿnh có chỗ căn nguyên mà thôi. Như Hoài Nam Tử nói:
(Thế tục chi nhân, đa tôn cổ nhi tiện kim, cố vi đạo giả, tất thác chi ư Thần Nông, Hoàng Đế nhi hậu phương năng nhập thuyết.)
Người đời thường trọng cổ mà khinh kim, cho nên người luận đạo ắt phải gửi gắm lời ḿnh vào Thần Nông, Hoàng Đế rồi sau mới dễ được chấp nhận. Câu này cho thấy việc mượn danh Thần Nông, Hoàng Đế để trước tác là hiện tượng rất phổ biến trong bối cảnh học thuật đương thời.
Trong Hán Thư, Nghệ Văn Chí, số sách được mượn danh Thần Nông, Hoàng Đế mà thành thư đă có đến mấy chục loại, hơn nữa số quyển rất lớn, phạm vi nội dung lại rộng và sâu. V́ vậy Khổng An Quốc khi viết lời tựa cho Thượng Thư đă cảm khái mà nói:
(Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế chi thư, vị chi Tam Phần, ngôn Đại Đạo dă.)
Sách của Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế được gọi là Tam Phần, là để nói về Đại Đạo. Ư nói những trước tác đội tên các bậc thượng cổ ấy được người đời xem là nơi kư thác đạo lư gốc rễ, nền tảng lớn lao của văn minh và học thuật.
Nội Kinh được lưu truyền
Sau khi Nội Kinh ra đời, trải qua nhiều phen sao chép, truyền tay, thất lạc và bổ chú, từ lâu đă không c̣n giữ nguyên diện mạo ban đầu. Theo ghi chép trong Hán Thư, Nghệ Văn Chí, Hoàng Đế Nội Kinh từng được lưu hành dưới dạng bản mười tám quyển, cùng với Hoàng Đế Ngoại Kinh và các y kinh khác của bảy nhà y học. Từ sau Thất Lược cho đến một khoảng thời gian trước cuối Đông Hán, Nội Kinh được lưu truyền như thế nào th́ sử sách không có ghi chép. Hán Thư, Nghệ Văn Chí không chép riêng tên Tố Vấn và Linh Khu, tức Cửu Quyển; bộ sách sau này rất có thể là do sau khi các y kinh như Hoàng Đế Nội Kinh bị tản thất, người đời lại thu gom và biên tập lần nữa mà thành.
Vào cuối đời Đông Hán, Trương Cơ, tức Trương Trọng Cảnh, trong lời tựa của Thương Hàn Luận có nói:
(Năi cần cầu cổ huấn, bác thái chúng phương, soạn dụng “Tố Vấn”, “Cửu Quyển”, “Bát thập nhất nạn”, “Âm dương đại luận”, “Thai lư dược lục”, tịnh b́nh mạch biện chứng.)
Bèn siêng năng t́m cầu lời dạy xưa, rộng răi thu thập các phương thuốc, soạn dùng Tố Vấn, Cửu Quyển, Bát Thập Nhất Nạn, Âm Dương Đại Luận, Thai Lư Dược Lục, lại kết hợp với b́nh mạch biện chứng. Câu này cho thấy Trương Trọng Cảnh đă trực tiếp tham khảo nhiều điển tịch y học cổ, trong đó có Tố Vấn và Cửu Quyển.
Trong số các cổ y thư mà Trương Cơ dùng làm tư liệu, có nhắc tên Tố Vấn và Cửu Quyển, nhưng không thấy nhắc đích danh Hoàng Đế Nội Kinh, nên khó thể trực tiếp xác định quan hệ giữa Tố Vấn, Cửu Quyển và Hoàng Đế Nội Kinh. Tuy nhiên, Trương Trọng Cảnh đă liệt kê các danh y cổ đại như Thần Nông, Hoàng Đế, Kỳ Bá, Bá Cao, Lôi Công, Thiếu Du, Thiếu Sư, Trọng Văn, Trường Tang, Biển Thước, Công Thừa Dương Khánh, Thương Công v.v. Trong đó, Hoàng Đế và Kỳ Bá có thấy trong Thất Lược; c̣n Hoàng Đế, Kỳ Bá, Bá Cao, Lôi Công, Thiếu Du và Thiếu Sư th́ đều thấy trong Tố Vấn và Linh Khu. Điều này cho thấy Tố Vấn và Linh Khu, xưa gọi là Cửu Quyển, có mối liên hệ nhất định với Hoàng Đế Nội Kinh. Tố Vấn là một bộ phận của Hoàng Đế Nội Kinh, c̣n Cửu Quyển là bộ phận c̣n lại của Hoàng Đế Nội Kinh, tức chính là Linh Khu ngày nay.
Đến thời Ngụy Tấn, Hoàng Phủ Mật đă xác nhận điều đó khi nói:
(Án “Thất Lược”, “Nghệ Văn Chí”, “Hoàng Đế Nội Kinh” thập bát quyển, kim hữu “Châm Kinh” cửu quyển, “Tố Vấn” cửu quyển, nhị cửu thập bát quyển, tức “Nội Kinh” dă. Diệc hữu sở vong dật.)
Xét theo Thất Lược và Nghệ Văn Chí, Hoàng Đế Nội Kinh có mười tám quyển; nay có Châm Kinh chín quyển, Tố Vấn chín quyển, hai lần chín là mười tám quyển, tức chính là Nội Kinh vậy. Tuy nhiên, cũng đă có phần thất lạc. Câu này là chứng cứ rất quan trọng để xác lập rằng Tố Vấn và Châm Kinh hợp lại chính là Hoàng Đế Nội Kinh.
Châm Kinh là tên mà Hoàng Phủ Mật đặt cho Cửu Quyển, rất có thể bắt nguồn từ câu “tiên lập Châm Kinh” ở thiên đầu tiên Cửu Châm Thập Nhị Nguyên của sách ấy.
(Tiên lập Châm Kinh.)
Trước hết lập nên Châm Kinh. Câu này cho thấy phần nội dung châm pháp trong sách có địa vị đặc biệt quan trọng, nên về sau được lấy làm tên sách.
Đến đời Đường, Vương Băng lại đổi tên Châm Kinh thành Linh Khu, và nói rằng:
(“Hoàng Đế Nội Kinh” thập bát quyển, “Tố Vấn” tức kỳ kinh chi cửu quyển dă, kiêm “Linh Khu” cửu quyển, năi kỳ số yên.)
Hoàng Đế Nội Kinh có mười tám quyển; Tố Vấn tức là chín quyển của bộ kinh ấy, cộng thêm Linh Khu chín quyển nữa, mới đủ số đó. Đây là lời giải thích trực tiếp của Vương Băng về cấu tạo hai phần của Nội Kinh.
T́nh h́nh lưu truyền của Tố Vấn và Cửu Quyển, tức Châm Kinh, từ sau đời Tấn cũng có một số ghi chép trong sử liệu. Tùy Thư, Kinh Tịch Chí có ghi Hoàng Đế Tố Vấn chín quyển, phần chú thích nói rằng “Lương có tám quyển”, cho thấy bản Tố Vấn chín quyển đến thời Nam Bắc triều đă mất một quyển rồi. Tùy Chí cũng chép có Hoàng Đế Châm Kinh chín quyển. Cựu Đường Thư, Kinh Tịch Chí chép các sách như Hoàng Đế Tố Vấn tám quyển, Hoàng Đế Châm Kinh mười quyển, Linh Bảo chú Hoàng Đế Cửu Linh Kinh mười hai quyển. Tân Đường Thư, Nghệ Văn Chí th́ ghi: Hoàng Đế Châm Kinh mười quyển, Toàn Nguyên Khởi chú Hoàng Đế Tố Vấn chín quyển, Linh Bảo chú Hoàng Đế Cửu Linh Kinh mười hai quyển, Vương Băng chú Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn hai mươi bốn quyển. C̣n Tống sử, Nghệ Văn Chí th́分别 ghi: Hoàng Đế Linh Khu Kinh chín quyển, Hoàng Đế Châm Kinh chín quyển, Hoàng Đế Cửu Linh Kinh mười hai quyển. Cửu Linh Kinh hẳn là một bản truyền khác của Châm Kinh.
Những tư liệu ấy cho thấy rằng cho đến các đời Tùy, Đường, Tống, Nội Kinh vẫn được lưu hành riêng rẽ dưới hai tên sách là Tố Vấn và Châm Kinh, với nhiều dị bản khác nhau, số quyển cũng có đôi chút thay đổi. Đồng thời lại xuất hiện thêm tên gọi khác là Cửu Linh Kinh, c̣n tên cũ là Cửu Quyển th́ dần dần biến mất khỏi sử chí và thư tịch.
Tố Vấn với tư cách là một bộ phận của Nội Kinh, trước khi được nhắc đến trong lời tựa của Thương Hàn Luận do Trương Trọng Cảnh viết, đă từng được lưu hành độc lập trong một thời gian rất dài. Khi Hoàng Phủ Mật soạn Châm Cứu Giáp Ất Kinh, gọi tắt là Giáp Ất Kinh, ông phát hiện Nội Kinh “có phần thất lạc”; đối chiếu rồi mới biết phần bị tản thất chính là nội dung quyển thứ bảy của Tố Vấn. Đến cuối thế kỷ thứ năm, vào thời Tề Lương, Toàn Nguyên Khởi đă viết chú giải cho Tố Vấn, đời sau gọi là Tố Vấn Huấn Giải. Bản chú này đều được chép trong Cựu Đường Thư, Tân Đường Thư và Tống Sử. Đến đời Tống, Lâm Ức và các học giả khác đă dựa vào đó để hiệu chính bản Tố Vấn của Vương Băng, nhờ vậy thứ tự quyển và thiên mục mới được bảo tồn trong bản của Vương Băng. Sau đời Tống, toàn bộ bản của Toàn Nguyên Khởi đă thất lạc, không c̣n thấy nữa.
Trong lịch sử, người có công lớn nhất trong việc chỉnh lư Tố Vấn phải kể đến Vương Băng đời Đường. Vào niên hiệu Bảo Ứng, trên cơ sở một toàn bản tám quyển đă bị khuyết thiếu, ông đối chiếu với “bí bản của Trương công” cất giữ trong nhà, rồi tiến hành một lượng lớn công việc như bổ những phần thất lạc, dời chỗ, lập mục riêng, thêm chữ, phân định phần rườm và giản, khiến cho Tố Vấn khôi phục lại con số cũ là tám mươi mốt thiên, rồi cải biên thành bản hai mươi bốn quyển để lưu hành. Trong đó, “bảy thiên vận khí” cùng với một đoạn nói về vận khí ở thiên Lục Tiết Tàng Tượng Luận đều là do Vương Băng bổ sung vào, văn thể của chúng cũng khác biệt rơ so với các thiên khác. Sau khi Vương Băng bổ sung bảy thiên vận khí, vẫn c̣n thiếu hai thiên là Thích Pháp Luận và Bản Bệnh Luận; tên thiên chỉ c̣n lưu trong mục lục, về sau người đời bổ ra rồi gọi là Tố Vấn Dật Thiên. Vương Băng làm việc hết sức nghiêm cẩn:
(Phàm sở gia tự, giai chu thư kỳ văn, sử kim cổ tất phân, tự bất tạp nhu.)
Phàm những chữ được thêm vào, đều viết bằng mực son để phần cũ và phần mới nhất định được phân biệt, câu chữ không bị lẫn lộn vào nhau. Câu này cho thấy thái độ học thuật nghiêm cẩn của Vương Băng trong khi hiệu đính, chú giải và bổ khuyết văn bản.
Chính nhờ công việc thành tích tuyệt vời ấy mà Tố Vấn mới có thể tiếp tục được lưu truyền một cách khá hoàn chỉnh. Đáng tiếc là về sau sách được sao chép truyền tay nhiều đời, đến nỗi mực son và mực đen không c̣n phân biệt được nữa. Bản Tố Vấn do Vương Băng chú truyền đến đời Tống th́ đă ở vào t́nh trạng “văn chú phấn thác, nghĩa lư hỗn hào”: Chú thích này không chính xác và gây hiểu nhầm. Vào niên hiệu Gia Hựu đời Tống Nhân Tông, Cao Bảo Hành, Lâm Ức cùng nhiều người khác phụng mệnh triều đ́nh hiệu khảo y tịch, lại một lần nữa khảo chứng bản của Vương Băng, “sửa hơn sáu ngh́n chữ sai lầm, thêm hơn hai ngh́n điều chú giải nghĩa lư”, rồi định tên là Trùng Quảng Bổ Chú Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn.
(Chính mậu ngộ giả lục thiên dư tự, tăng chú nghĩa giả nhị thiên dư điều.)
Sửa những chữ sai lầm hơn sáu ngh́n chữ, thêm chú giải nghĩa lư hơn hai ngh́n điều. Câu này cho thấy công tŕnh hiệu khảo của các học giả đời Tống đối với bản Tố Vấn là rất lớn.
Bản hiệu của Lâm Ức và các đồng sự được xem như bản định h́nh của Tố Vấn; từ sau đời Tống, các triều Nguyên, Minh, Thanh đều dựa vào đó mà khắc in lại. Tuy số quyển có lúc tăng giảm, chia hợp khác nhau, nhưng văn tự th́ không có thay đổi lớn. Đến đời Minh, bản Tố Vấn do Cố Ṭng Đức影宋刊 hành có thể xem là thiện bản, cũng là bản chủ yếu được dùng làm căn cứ ngày nay.
Linh Khu là một truyền bản khác của Châm Kinh, tên sách này sớm nhất thấy trong lời tựa và chú của Vương Băng đối với Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn. Trong Tân Hiệu Chính, Lâm Ức nói:
(Án “Tùy Thư · Kinh Tịch Chí” vị chi “Cửu Linh”, Vương Băng danh vi “Linh Khu”.)
Xét theo Tùy Thư, Kinh Tịch Chí th́ sách ấy gọi là Cửu Linh, c̣n Vương Băng đặt tên là Linh Khu. Điều này chỉ ra rằng tên Linh Khu là do Vương Băng đổi từ tên Cửu Linh Kinh.
Trong Tân Hiệu Chính, khi hiệu chú phần chú của Vương Băng ở thiên Điều Kinh Luận thuộc Tố Vấn, lại chỉ rơ rằng:
(Tường thử chú dẫn “Châm Kinh viết”, dữ “Tam Bộ Cửu Hậu Luận” chú dẫn chi, tại bỉ vân “Linh Khu” nhi thử viết “Châm Kinh”, tắc Vương thị chi ư, chỉ “Linh Khu” vi “Châm Kinh” dă. Án kim “Tố Vấn” chú dẫn “Châm Kinh” giả, đa “Linh Khu” chi văn, đăn dĩ “Linh Khu” kim bất toàn, cố vị đắc tận tri dă.)
Xem kỹ chỗ chú này dẫn “Châm Kinh viết”, đem so với chỗ chú dẫn trong Tam Bộ Cửu Hậu Luận th́ ở kia gọi là Linh Khu, ở đây lại gọi là Châm Kinh, vậy ư của họ Vương là xem Linh Khu chính là Châm Kinh. Nay trong chú của Tố Vấn, những nơi dẫn Châm Kinh phần nhiều đều là văn của Linh Khu, chỉ v́ Linh Khu hiện nay không c̣n toàn vẹn, nên chưa thể biết hết được. Đoạn này chứng minh khá rơ rằng Châm Kinh và Linh Khu thực chất là cùng một sách.
Điều đó cho thấy Châm Kinh, Cửu Linh Kinh và Linh Khu thực ra là những truyền bản khác nhau của cùng một bộ sách, và đến đời Tống th́ Linh Khu đă không c̣n đầy đủ nữa. Lâm Ức cùng các học giả khác cũng từng hiệu khảo bản tàn quyển của Linh Khu, nhưng những quyển tàn được họ hiệu đính ấy từ lâu đă mất hẳn.
Theo khảo chứng, vào năm thứ bảy niên hiệu Nguyên Hựu đời Bắc Tống, tức năm 1092, sứ giả nước Cao Ly sang Tống đă dâng bản Hoàng Đế Châm Kinh. Sang tháng giêng năm sau, Tống Triết Tông hạ chiếu ban phát bộ Hoàng Đế Châm Kinh do Cao Ly dâng lên cho thiên hạ, khiến bộ sách này lại được lưu hành trở lại trong đời. Đến cuối đời Bắc Tống, quân Kim nam xâm, chiến loạn nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến việc bảo tồn và lưu truyền y tịch, khiến những cổ tịch như Châm Kinh đứng trước vận mệnh tản thất và thất truyền.
Đến năm thứ hai mươi lăm niên hiệu Thiệu Hưng đời Nam Tống, tức năm 1155, người đất Cẩm Quan là Sử Tùng v́ “đau xót rằng Linh Khu đă không truyền lâu rồi, trong đời không ai có thể...”, bèn đối chiếu các sách, lại lần nữa hiệu chính bản cũ chín quyển Linh Khu cất trong nhà, gồm tám mươi mốt thiên, tăng thêm phần âm thích ở cuối quyển, rồi chia thành hai mươi bốn quyển, đặt tên là Hoàng Đế Nội Kinh Linh Khu Kinh và cho khắc in lưu hành trong đời.
(Đăn hận “Linh Khu” bất truyền cửu hĩ, thế mạc năng… tham đối chư thư, tái hành hiệu chính gia tàng cựu bản “Linh Khu” cửu quyển, cộng bát thập nhất thiên, tăng tu âm thích, phụ ư quyển mạt, lặc vi nhị thập tứ quyển.)
Chỉ tiếc rằng Linh Khu đă không được truyền lâu rồi, người đời không ai có thể… bèn đối chiếu các sách, lại hiệu chính bản cũ Linh Khu chín quyển được cất giữ trong nhà, gồm tám mươi mốt thiên, thêm sửa phần chú âm, gắn vào cuối quyển và chia thành hai mươi bốn quyển. Câu này cho thấy công lao của Sử Tùng trong việc chỉnh lư và khôi phục Linh Khu vào đời Nam Tống.
Bản in do Sử Tùng hiệu chính, về sau người đời không sửa đổi thêm nữa, và đă trở thành bản gốc mẫu để các triều Nguyên, Minh, Thanh tiếp tục khắc in.
Giải thích ư nghĩa các tên gọi liên quan
Ư nghĩa tên sách Nội Kinh
Tên sách Nội Kinh, sớm nhất thấy trong Hán Thư, Nghệ Văn Chí. Chữ “nội” trong Nội Kinh là nói đối lại với chữ “ngoại”. Người trước tác sách vào thời Tiên Tần và Lưỡng Hán thường chia một bộ sách thành hai phần là nội và ngoại. Chẳng hạn trong thư mục của Hán Thư, Nghệ Văn Chí có chép nhiều loại như Hoàng Đế Nội Kinh, Ngoại Kinh; Biển Thước Nội Kinh, Ngoại Kinh; Bạch Thị Nội Kinh, Ngoại Kinh v.v. “Nội” và “ngoại” chỉ đơn thuần biểu thị sự phân loại về nội dung, chứ không nhất thiết mang hàm ư sâu xa. Đúng như Đan Ba Nguyên Dận trong Y Tịch Khảo đă nói, nội và ngoại “cũng như nội ngoại quái của Kinh Dịch, nội ngoại truyện của Xuân Thu, nội ngoại thiên của Trang Tử, các thiên nội ngoại thuyết của Hàn Phi Tử, chỉ là dùng để gọi tên theo thứ tự, không nhất thiết phải có thâm ư ǵ”.
(Du “Dịch” nội ngoại quái, cập “Xuân Thu” nội ngoại truyện, “Trang Tử” nội ngoại thiên, “Hàn Phi Tử” nội ngoại chư thuyết, dĩ thứ đệ danh yên giả, bất tất hữu thâm ư.)
Nghĩa là cũng giống như nội quái ngoại quái của Kinh Dịch, nội truyện ngoại truyện của Xuân Thu, nội thiên ngoại thiên của Trang Tử, hay các thiên nội ngoại thuyết của Hàn Phi Tử, đều chỉ là đặt tên theo trật tự phân loại, không nhất thiết phải gượng giải là có dụng ư cao xa nào đặc biệt. Câu này nhằm nhấn mạnh rằng chữ “nội” trong Nội Kinh trước hết nên hiểu là một quy ước phân loại sách vở.
Chữ “kinh” trong Nội Kinh, theo Thuyết Văn Giải Tự th́:
(Kinh, chức dă.)
“Kinh” nghĩa là dệt. Nghĩa gốc của chữ này là chỉ sợi dọc trong tấm vải. Từ nghĩa gốc ấy, chữ “kinh” được dẫn rộng thành ư nghĩa chỉ cái trục chính, cái thường đạo, cái chuẩn tắc bất biến.
Lục Đức Minh trong Kinh Điển Thích Văn lại giải thích là:
(Thường dă, pháp dă, kính dă.)
Nghĩa là cái thường hằng, cái pháp tắc, cái đường lối. Từ đó, chữ “kinh” được mở rộng thành nghĩa thường đạo, tức quy phạm, pháp tắc, nguyên tắc. Sách cổ mang tên “kinh” có như Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Đạo Đức Kinh v.v. Đến thời Tây Hán, phạm vi dùng chữ “kinh” lại mở rộng thêm, dùng để chỉ các trước tác chuyên luận về một lĩnh vực học thuật hay kỹ nghệ cụ thể, như Tinh Kinh, Thủy Kinh, Nội Kinh, Nạn Kinh v.v. Văn Sử Thông Nghĩa nói rằng: (Thuật số chư gia, quân xuất Thánh môn chế tác…… nhi tập thị thuật giả phụng vi y quy, tắc diệc bất đắc bất dĩ vi kinh ngôn giả dă.)
Các nhà thuật số đều từ cửa Thánh nhân mà ra, người học những thuật ấy đều tôn làm chỗ nương tựa, nên cũng không thể không gọi đó là “kinh”. Câu này muốn nói rằng, hễ trước tác nào được người trong một ngành học xem là căn bản, làm chuẩn mực để noi theo, th́ đều có thể được tôn xưng là “kinh”. Cho nên Nội Kinh được gọi là “kinh” là v́ người làm nghề y tôn sùng bộ sách này, xem đó là nguyên tắc lư luận mà người học y nhất thiết phải tuân theo.

Ư nghĩa tên sách Tố Vấn
Tên Tố Vấn, sớm nhất thấy trong lời tựa của Thương Hàn Tạp Bệnh Luận. Về ư nghĩa tên sách Tố Vấn, các nhà giải thích không hoàn toàn thống nhất. Tân Hiệu Chính dẫn lời Toàn Nguyên Khởi rằng:
(Tố giả, bản dă. Vấn giả, Hoàng Đế vấn Kỳ Bá dă. Phương trần tính t́nh chi nguyên, ngũ hành chi bản, cố viết “Tố Vấn”.)
“Tố” là gốc, là cái bản nguyên; “vấn” là Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá. V́ sách này tŕnh bày cái nguồn của tính t́nh, cái gốc của ngũ hành, nên gọi là Tố Vấn. Cách giải này nhấn mạnh chữ “tố” theo nghĩa căn bản, nguyên sơ.
Mă Th́, Ngô Côn, Trương Giới Tân và nhiều người khác th́ cho rằng nghĩa của Tố Vấn chính là “cuốn sách hỏi đáp về những điều b́nh tố”. Hiện nay giới học thuật phần nhiều cho rằng cách nói của Lâm Ức và các học giả trong Tân Hiệu Chính gần với kinh chỉ hơn. Sách ấy nói:
(Phù hữu h́nh sinh ư vô h́nh, cố hữu Thái Dịch, hữu Thái Sơ, hữu Thái Thủy, hữu Thái Tố. Thái Dịch giả, vị kiến khí dă; Thái Sơ giả, khí chi thủy dă; Thái Thủy giả, h́nh chi thủy dă; Thái Tố giả, chất chi thủy dă.)
Hữu h́nh sinh ra từ vô h́nh, cho nên có Thái Dịch, có Thái Sơ, có Thái Thủy, có Thái Tố. Thái Dịch là giai đoạn chưa thấy khí; Thái Sơ là lúc khí bắt đầu; Thái Thủy là lúc h́nh bắt đầu; Thái Tố là lúc chất bắt đầu. Đây là cách người xưa phân chia các giai đoạn h́nh thành trời đất vạn vật. Dẫn đoạn này để giải thích chữ “tố” là muốn nói Tố Vấn bàn đến cái gốc rất sớm, rất nguyên thủy của sinh mệnh và vũ trụ.
Sau đó Tân Hiệu Chính lại nói tiếp:
(Khí h́nh chất cụ, nhi sái do thị manh sinh, cố Hoàng Đế vấn thử Thái Tố chất chi thủy dă, “Tố Vấn” chi danh nghĩa hoặc do thử.)
Khi khí, h́nh, chất đă đầy đủ th́ bệnh tật cũng từ đó mà nảy sinh; v́ thế Hoàng Đế hỏi về cái khởi đầu của “Thái Tố”, cho nên tên gọi Tố Vấn có lẽ từ đây mà ra. Ư ở đây là Tố Vấn xuất phát từ b́nh diện rất rộng của trời đất, vũ trụ để truy nguyên nguồn gốc sự sống, từ đó luận giải quan hệ thiên nhân và quy luật sinh bệnh.
Thái Dịch, Thái Sơ, Thái Thủy, Thái Tố là bốn giai đoạn mà người xưa dùng để bàn về quá tŕnh h́nh thành trời đất. Tố Vấn chính là xuất phát từ b́nh diện vĩ mô của thiên địa vũ trụ, vận dụng học thuyết tinh khí và âm dương ngũ hành để giải thích, luận chứng mối quan hệ giữa trời và người, cũng như quy luật hoạt động sinh mệnh và quá tŕnh phát sinh phát triển của bệnh tật. Quả thực trong đó có ư vị “trần nguyên vấn bản”, tức tŕnh bày nguồn gốc và hỏi tới cái gốc. Tên sách Hoàng Đế Nội Kinh Thái Tố do Dương Thượng Thiện chỉnh lư biên soạn, về ư nghĩa cũng cùng phát xuất từ đây.

Ư nghĩa tên sách Linh Khu
Linh Khu ban đầu gọi là Cửu Quyển, như thấy trong lời tựa của Thương Hàn Tạp Bệnh Luận. Đến đời Tấn, Hoàng Phủ Mật trong lời tựa của Châm Cứu Giáp Ất Kinh gọi sách này là Châm Kinh. Tới đời Đường, khi Vương Băng chỉnh lư Nội Kinh, ông đổi gọi thành Linh Khu. Vậy “Linh Khu” có ư nghĩa ǵ?
Một số học giả cho rằng cách hiểu của Đan Ba Nguyên Dận người Nhật là khá đúng, tức tên gọi này có liên quan đến việc Vương Băng, đạo hiệu là Khải Tử, sùng tín Đạo giáo. Tuy nhiên, Nhậm Ứng Thu lại cho rằng các cách giải thích của các nhà trước đây hoặc là “đọc lên mà không nắm được đầu mối”, hoặc là “vẫn không hiểu được rơ”. V́ vậy, ông căn cứ vào bản nghĩa của thiên Cửu Châm Thập Nhị Nguyên trong Linh Khu, cùng với cách giải của một vài nhà chú thích, mà nêu ra cách giải khá rơ ràng như sau:
(Linh giả, nghiệm dă. Châm thích liệu hiệu, chí vi linh nghiệm, đăn tất đắc kỳ thích pháp chi xu cơ nhi hậu linh, cố danh chi viết “Linh Khu”.)
“Linh” nghĩa là linh nghiệm, ứng nghiệm. Hiệu quả trị liệu của châm thích vốn rất linh nghiệm, nhưng nhất định phải nắm được then chốt, cơ trục của phép châm th́ sau đó mới có thể đạt tới sự linh nghiệm ấy; cho nên sách được gọi là Linh Khu. Cách giải của Nhậm Ứng Thu rất có kiến địa, có lẽ phù hợp với ư nghĩa vốn có và thực tế nội dung của sách Linh Khu.
Các nhà chú giải và các bản chú thích chủ yếu của Nội Kinh
Sau khi Nội Kinh ra đời, y gia các thời đại đều tôn sùng bộ sách này như khuôn vàng thước ngọc, trước sau có hơn hai trăm nhà diễn giải, phát huy, khảo đính, biên thứ và chú thích nghiên cứu, với hơn bốn trăm bộ trước tác. Hiện c̣n những nhà chú giải và các bản chú thích chủ yếu như sau.
Hoàng Đế Nội Kinh Thái Tố: bộ sách này do Dương Thượng Thiện đời Tùy biên tập và chú giải, là một trong những tác phẩm chú thích Nội Kinh ra đời sớm. Dương thị dùng phương pháp “dĩ loại tương ṭng” để biên soạn và chú giải nguyên văn của Tố Vấn và Linh Khu, mở ra tiền lệ cho việc phân loại nghiên cứu Nội Kinh ở đời sau. Phần nguyên văn Nội Kinh được trích dẫn trong sách này, xét trong các y thư hiện c̣n, là gần với cổ bản và gần với diện mạo nguyên thủy nhất; hơn nữa, những chỗ hiệu khảo và chú giải của Dương thị cũng có nhiều điểm độc đáo riêng, cho nên sách này là thư tịch không thể thiếu đối với người học Nội Kinh.
(Dĩ loại tương ṭng.)
Lấy loại mà quy theo nhau, tức đem những nội dung cùng loại, cùng tính chất xếp về một nhóm để biên soạn và chú giải. Đây là một phương pháp phân loại học thuật rất quan trọng trong nghiên cứu Nội Kinh.
Trùng Quảng Bổ Chú Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn: bộ sách này do Vương Băng đời Đường biên thứ và chú giải, về sau lại được Lâm Ức cùng các học giả đời Tống hiệu chính, chính là bản Tố Vấn thông hành hiện nay. Thái độ trị học của Vương thị rất nghiêm cẩn, không chỉ chỉnh lư, sắp xếp lại, tăng giảm nguyên thư, mà c̣n dẫn nhập nhiều quan điểm học thuật của Đạo gia vào trong phần chú giải. V́ vậy, sách này có ư nghĩa rất quan trọng đối với việc hiểu sâu tông chỉ của Tố Vấn và chỉ đạo thực tiễn lâm sàng.
Tố Vấn Chú Chứng Phát Vi và Linh Khu Chú Chứng Phát Vi: cả hai sách đều do Mă Th́ đời Minh trước tác. Mă thị khôi phục lại thể lệ mỗi bộ Tố Vấn và Linh Khu gồm chín quyển, mỗi quyển chín thiên, để hợp với số cũ là chín lần chín thành tám mươi mốt thiên; đồng thời, ông cũng thay đổi cách chú giải từng câu của người trước, mà dùng phương pháp chia chương chia tiết rồi chú thích, nhờ vậy bảo tồn được tính hệ thống của nguyên tác. Mă thị vốn giỏi về châm cứu và kinh mạch, nên phần chú chứng của ông đối với Linh Khu rất tường tận, được người đời sau khen ngợi rất nhiều, có thể nói là khởi điểm cho việc chuyên nghiên cứu Linh Khu.
Loại Kinh: bộ sách này là tác phẩm phân loại nghiên cứu toàn bộ Nội Kinh, gồm cả Tố Vấn lẫn Linh Khu, đầy đủ nhất c̣n lưu truyền đến nay, do Trương Giới Tân đời Minh trước tác. Trương thị có kinh nghiệm lâm sàng phong phú, học rộng tài cao, văn bút giản dị mà thông đạt; phần chú giải của ông phần nhiều đều kết hợp được với thực tế, lại c̣n đối với một số vấn đề trọng yếu mà chuyên đề phát huy sâu sắc, kiến giải khá thâm nhập. V́ vậy, đây là sách tham khảo tất yếu đối với người học Nội Kinh.
Tố Vấn Tập Chú và Linh Khu Tập Chú: hai sách này là tác phẩm tập thể của cha con Trương Chí Thông cùng môn nhân đời Thanh, mở ra tiền lệ chú thích Nội Kinh theo h́nh thức tập thể. Tập Chú của Trương thị là kết quả của việc tập hợp trí tuệ nhiều người, không câu nệ theo lối cũ, cũng không拾人唾餘, mà có sự lĩnh hội khá sâu đối với kinh chỉ, khi chú giải th́ cố gắng giảng tường tận cái lư, bởi vậy rất được các học giả đời sau coi trọng.
(Thập nhân thóa dư.)
Nhặt lấy nước bọt thừa của người khác, nghĩa bóng là chỉ việc lặp lại ư kiến cũ của người đi trước một cách máy móc, không có sáng kiến riêng. Câu này dùng để khen Trương thị không hề rập khuôn theo người xưa.
Tố Vấn Trực Giải: sách này do Cao Thế Thức đời Thanh trước tác. Cao thị trước hết giải thích tên thiên, rồi sau đó chia tiết ngay trong từng thiên. Văn từ của sách ngắn gọn, lời giải thích rơ ràng thông suốt, khiến người đọc có thể nh́n vào là hiểu ngay. Bộ sách này, trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của người đi trước, đă phát huy thêm ư nghĩa của kinh văn, liên hệ thực tế, giảng giải sâu mà vào nông, thông tục dễ hiểu, cho nên đặc biệt có ích cho người mới học Nội Kinh.
Ngoài ra, các nhà chú giải khác cũng đều có chỗ sở trường. Chẳng hạn như Tố Vấn Ngô Chú do Ngô Côn trước tác, phần phát huy đại ư thiên chương khá tường tận, mà chú thích kinh văn cũng có chỗ độc đáo riêng. Sách Tố Vấn Kinh Chú Tiết Giải của Diêu Chỉ Am cũng có một số sáng kiến nhất định; đối với những chỗ Vương Băng có sai lầm, phần nhiều ông đều có thể nêu ra ư kiến khá xác đáng.
Nội Kinh Tri Yếu của Lư Trung Tử tuyển chọn rất tinh, chú thích ngắn gọn rơ ràng, lại có chỗ phát huy riêng, nên khá được người mới học yêu thích. Các sách Tố Vấn Thức và Linh Khu Thức của Đan Ba Nguyên Giản người Nhật, cùng Tố Vấn Thiệu Thức của Đan Ba Nguyên Kiên v.v. đều chọn lọc tinh hoa chú giải của nhiều nhà, chú trọng khảo cứ, lập luận công bằng, cho nên cũng có giá trị tham khảo rất lớn. Từ thập niên 60 của thế kỷ 20 trở lại đây, các công tŕnh hiệu chú, dịch giải và phân tích Nội Kinh xuất hiện không ít, cho tới nay đă có hàng chục chuyên trước nghiên cứu ra đời. Ngoài ra, người ta cũng triển khai rất nhiều nghiên cứu Nội Kinh theo hướng tổng hợp đa ngành, phạm vi rộng, nội dung phong phú, cố gắng từ nhiều con đường, nhiều phương diện, nhiều phương pháp mà khai thác nghiên cứu Nội Kinh, nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của y học Trung y.
Những tư tưởng học thuật cơ bản của Nội Kinh
Nội Kinh là bộ sách đặt nền tảng cho lư luận Trung y, không chỉ có một hệ thống lư luận độc đáo và hoàn chỉnh của riêng ḿnh, mà c̣n có những tư tưởng học thuật cơ bản xuyên suốt trong các bộ phận của Trung y học và đóng vai tṛ chỉ đạo. Đó là quan niệm sinh mệnh mang tính duy vật biện chứng và quan niệm điều khiển tổng thể. Những tư tưởng học thuật cơ bản ấy của Nội Kinh không chỉ là cái khung để xây dựng nên toàn bộ hệ thống lư luận của Nội Kinh, mà c̣n đă trở thành quy tắc tư duy và tư tưởng chỉ đạo của Trung y học trong việc thăm ḍ quy luật sinh mệnh cũng như pḥng trị bệnh tật; đồng thời, đây cũng là phương pháp tư duy mà người học Nội Kinh nhất thiết phải nắm vững.
Quan niệm sinh mệnh duy vật biện chứng
Mặc dù Nội Kinh ra đời trong “thời đại thần quyền”, nhưng nó đă vứt bỏ quan niệm mê tín cho rằng quỷ thần sáng tạo và chi phối sinh mệnh, tiếp thu học thuyết cho rằng “tinh khí” là căn bản của vạn vật do Đạo gia cuối thời Chiến Quốc đề xuất, từ đó cho rằng vũ trụ vạn vật, kể cả cơ thể con người, đều do một loại yếu tố vật chất cực kỳ vi tế mà có sức sống vô hạn, gọi là “khí”, cấu thành. Bởi vậy, “khí” vừa là vật chất cơ bản cấu thành cơ thể con người, vừa là động lực của sự sống nơi thân thể, khiến cho khoa học về sinh mệnh được dẫn dắt vào lĩnh vực duy vật luận. Trong quá tŕnh h́nh thành hệ thống lư luận của Nội Kinh, dưới ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng này, người xưa đă dùng tư tưởng duy vật biện chứng cổ đại để nhận thức, nghiên cứu và thăm ḍ điều huyền diệu của sinh mệnh, từ đó h́nh thành nên một quan niệm sinh mệnh duy vật biện chứng đă tồn tại không suy suốt hàng ngh́n năm và luôn có hiệu lực chỉ đạo thực tiễn y học.
“Tinh khí” là nguồn gốc của vạn vật và sinh mệnh
Trung Quốc từ rất sớm đă xuất hiện thuyết “khí nhất nguyên”. Trong Lăo Tử, thiên Tượng Nguyên có câu:
(Vạn vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh, tịch hề liêu hề, độc lập nhi bất cải, chu hành nhi bất đăi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu.)
Vạn vật ở trong trạng thái hỗn hợp mà thành, sinh trước cả trời đất, lặng lẽ mênh mang, tự tồn tại mà không đổi, vận hành chu lưu mà không cùng tận, có thể làm mẹ của thiên hạ. Câu này chỉ ra rằng trong vũ trụ tồn tại một loại vật chất hỗn độn, sinh thành trước trời đất, không h́nh không tượng, độc lập tồn tại, vận động không ngừng, và có thể xem là gốc ban đầu của muôn vật trong thiên hạ.
Điều đó cho thấy trước thời Tiên Tần, con người đă nhận thức được sự tồn tại của yếu tố vật chất cấu thành vũ trụ. Đến thời Chiến Quốc, Đạo gia đất Tắc Hạ mà đại biểu là Tống Nghiên và Doăn Văn đă nêu ra một cách rơ ràng học thuyết “tinh khí”. Họ cho rằng bản nguyên của vũ trụ chính là “tinh khí”, mà “tinh khí” là một loại vật chất cực kỳ vi tế; vũ trụ vạn vật đều do “tinh khí” sinh ra. Như trong Quản Tử, thiên Nội Nghiệp có nói:
(Tinh dă giả, khí chi tinh dă.)
Tinh, chính là phần tinh túy của khí. Câu này xác định “tinh” không phải là vật ǵ tách rời “khí”, mà chính là phần tinh hoa, tinh vi nhất của khí.
Lại nói:
(Phàm vạn vật chi tinh, thử tắc vi sinh, hạ sinh ngũ cốc, thượng vi liệt tinh…… thị cố danh khí.)
Phàm cái tinh của vạn vật, th́ từ đó mà sinh ra sự sống; ở dưới sinh ra ngũ cốc, ở trên thành ra các v́ sao… cho nên gọi đó là khí. Đoạn này cho thấy phần tinh hoa của khí vẫn thuộc phạm trù vật chất; vạn vật không có ngoại lệ, đều do tinh khí hóa sinh mà thành, nên loại vật chất vận động ấy được gọi là “khí”.
Trang Tử, thiên Tri Bắc Du th́ càng nói rơ hơn:
(Thông thiên hạ nhất khí nhĩ.)
Khắp thiên hạ chỉ là một khí mà thôi. Câu này trực tiếp nêu ra quan niệm “khí nhất nguyên”, cho rằng mọi tồn tại trong vũ trụ xét đến cùng đều thống nhất ở một loại vật chất căn bản là khí.

Lại c̣n miêu tả sâu hơn về loại vật chất nhỏ nhiệm mà mắt không thể nh́n thấy ấy:
(Hôn nhiên dục vong nhi tồn, du nhiên bất h́nh nhi thần, vạn vật súc nhi bất tri, thử chi vị bản căn.)
Mờ mịt như muốn mất mà vẫn c̣n, âm thầm không thành h́nh mà vẫn rất thần diệu, vạn vật đều tích chứa trong đó mà không tự biết, ấy gọi là cái gốc rễ căn bản. Câu này cho thấy vật chất vô h́nh mới là cái gốc của vật chất hữu h́nh; sở dĩ gọi là vô h́nh chỉ v́ khi nó c̣n ẩn tàng th́ con người không cảm nhận được, chứ thật ra nó vẫn là một loại vật chất có thực, và chính nhờ sự tồn tại của nó mà muôn vật từ chỗ vô h́nh dần dần sinh ra thành hữu h́nh.
Nội Kinh tiếp thu quan điểm duy vật ấy và cho rằng “tinh khí” là nguồn gốc của vạn sự vạn vật trong thế giới khách quan. Tố Vấn, thiên Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận nói:
(Thái hư liêu khuếch, triệu cơ hóa nguyên, vạn vật tư thủy, ngũ vận chung thiên, bố khí chân linh, tổng thống khôn nguyên. Cửu tinh huyền lăng, thất diệu chu tuyền, viết âm viết dương, viết nhu viết cương. U hiển kư vị, hàn thử tŕ trương, sinh sinh hóa hóa, phẩm vật hàm chương.)
Cơi thái hư mênh mang rộng lớn là nền móng đầu tiên của hóa nguyên; vạn vật nhờ đó mà bắt đầu, ngũ vận vận hành khắp trời, chân khí được phân bố, thống nhiếp toàn bộ nguyên khí của đất; chín sao sáng treo, bảy ánh vận chuyển, gọi là âm, gọi là dương, gọi là mềm, gọi là cứng; khi chỗ ẩn và chỗ hiện đều đă định vị, lạnh nóng co giăn, th́ sinh sinh hóa hóa, muôn vật đều hiển lộ rơ ràng. Đoạn này vạch ra quy luật tự nhiên của sự diễn hóa thiên thể và sự phát triển của sinh mệnh: trước khi trời đất h́nh thành, vật chất vi tế khó phân biệt mà luôn vận động, tức “tinh khí”, đă tràn đầy trong toàn bộ thái hư và là nền tảng nguyên thủy để h́nh thành trời đất; về sau, sự h́nh thành thiên thể và sự sinh hóa của vạn vật cũng đều lấy đó làm cơ sở vật chất.
Tố Vấn, thiên Lục Tiết Tàng Tượng Luận nói:
(Khí hợp nhi hữu h́nh, nhân biến dĩ chính danh.)
Khí tụ hợp lại th́ có h́nh, theo sự biến hóa mà định tên gọi cho đúng. Câu này chỉ ra rằng h́nh thể của vạn vật đều do khí của trời đất ḥa hợp mà thành; dương khí của trời giáng xuống, âm khí của đất bốc lên, âm dương giao ḥa th́ mới hóa sinh ra vật hữu h́nh.
Tố Vấn, thiên Bảo Mệnh Toàn H́nh Luận lại nói rơ:
(Thiên phú địa tải, vạn vật tất bị, mạc quư ư nhân, nhân dĩ thiên địa chi khí sinh, tứ thời chi pháp thành.)
Trời che, đất chở, vạn vật đều đầy đủ, không ǵ quư bằng con người; con người nhờ khí của trời đất mà sinh ra, nhờ pháp tắc của bốn mùa mà thành. Câu này khẳng định sự xuất hiện của sinh mệnh cũng chính là kết quả của sự vận động biến hóa của “tinh khí”.
Tố Vấn, thiên Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận lại viết:
(Tại thiên vi khí, tại địa thành h́nh, h́nh khí tương cảm, nhi hóa sinh vạn vật hĩ.)
Ở trên trời th́ là khí, ở dưới đất th́ thành h́nh; h́nh và khí cảm ứng lẫn nhau, nhờ đó mà hóa sinh vạn vật. Câu này nhấn mạnh sự cảm ứng qua lại giữa khí và h́nh là cơ chế sinh thành của muôn vật.
C̣n trong Tố Vấn, thiên Bảo Mệnh Toàn H́nh Luận có chép:
(Thiên địa hợp khí, mệnh chi viết nhân.)
Khí của trời đất ḥa hợp lại, gọi đó là con người. Đây là cách nói rất súc tích, trực tiếp chỉ ra rằng con người là kết quả của sự hội tụ khí hóa của trời đất.
Những câu trên đều nói rơ rằng “tinh khí” là nguồn gốc của vạn vật, cũng tức là vật chất căn bản nhất cấu thành cá thể sinh mệnh. Tố Vấn, thiên Kim Quỹ Chân Ngôn Luận nói:
(Phù tinh giả, thân chi bản dă.)
Tinh là gốc của thân thể. Chữ “bản” ở đây có nghĩa là căn bản, nền tảng.
Tinh của cơ thể người, xét theo nguồn gốc, được chia thành tiên thiên chi tinh và hậu thiên chi tinh. Tiên thiên chi tinh có sẵn từ khi sinh ra, do cha mẹ truyền bẩm, là vật chất nguyên thủy h́nh thành nên sinh mệnh. Hậu thiên chi tinh chỉ dần dần h́nh thành sau khi con người ra đời, nguồn gốc từ phần tinh vi trong thức ăn, từ thanh khí hít vào từ bên ngoài, và từ những chất tinh vi do chuyển hóa của tạng phủ, tổ chức mà sinh ra; đó là vật chất cơ sở duy tŕ sự sống. Tinh sinh dục của cha mẹ kết hợp với nhau là nguồn gốc ban đầu của tiên thiên chi tinh nơi con người, đúng như Linh Khu, thiên Quyết Khí nói:
(Lưỡng thần tương bác, hợp nhi thành h́nh, thường tiên thân sinh, thị vị tinh.)
Hai thần giao hợp với nhau, hợp lại mà thành h́nh, luôn có trước thân thể, đó gọi là tinh. Câu này chỉ rơ rằng tinh là vật chất có trước sự h́nh thành thân thể, là nguồn gốc vật chất ban đầu của sinh mệnh.
Tiên thiên chi tinh hóa sinh thai nguyên, phát triển trong cơ thể người mẹ rồi dần dần sinh thành cơ thể con người, đúng như Linh Khu, thiên Kinh Mạch nói:
(Nhân thủy sinh, tiên thành tinh, tinh thành nhi năo tủy sinh, cốt vi can, mạch vi doanh, cân vi cương, nhục vi tường, b́ phu kiên nhi mao phát trưởng.)
Con người lúc mới bắt đầu sinh thành th́ trước hết tinh được h́nh thành; tinh thành rồi th́ năo tủy sinh ra, xương làm cột trụ, mạch làm doanh vệ, gân làm sức cứng, thịt làm tường vách, da dẻ bền chắc rồi lông tóc mới mọc dài. Câu này tŕnh bày quá tŕnh phát triển của cơ thể từ tinh mà thành, cho thấy sinh mệnh được giải thích bằng sự phát triển dần dần của vật chất sống chứ không phải do thần linh tạo ra.
Nhận thức này của Nội Kinh đă hoàn toàn phủ định thuyết duy tâm cho rằng “thần” và “Thượng Đế” tạo ra sinh mệnh, đồng thời c̣n đem đến một lời giải thích mang tính vật chất về nguồn gốc của sự sống: sinh mệnh là kết quả của sự phát triển của toàn bộ tự nhiên, vật chất tự nhiên là nền tảng cho sự sinh thành và tồn tại của sự sống, c̣n sự vận động của khí trời đất là điều kiện cho sự phát sinh và phát triển của sinh mệnh. Quan niệm sinh mệnh vô thần luận như vậy của Nội Kinh đă khiến y học cổ đại Trung Quốc luôn không ngừng tiến về phía trước trên con đường duy vật.
Sự sống là một quá tŕnh vận động và biến hóa không ngừng
Nội Kinh cho rằng vận động vĩnh hằng và có trật tự là đặc trưng chủ yếu của “khí” trong vũ trụ và trong sinh mệnh. Tố Vấn, thiên Lục Vi Chỉ Đại Luận nói:
(Phù vật chi sinh ṭng ư hóa, vật chi cực do hồ biến, biến hóa chi tương bạc, thành bại chi sở do dă…… thành bại ỷ phục sinh hồ động, động nhi bất dĩ, tắc biến hĩ.)
Sự sinh ra của vạn vật là do hóa mà thành, sự phát triển đến cùng cực của sự vật là do biến mà nên; sự xung đột, tác động qua lại của biến và hóa là nguyên nhân dẫn đến thành và bại… Thành và bại nương tựa, ẩn phục trong vận động mà phát sinh; vận động không ngừng th́ ắt sẽ có biến đổi. Đoạn này chỉ rơ rằng từ sinh thành đến hưng suy của vạn vật đều gắn với vận động, và chính vận động không ngừng là căn nguyên của mọi biến hóa.
Lại nói:
(Bất sinh bất hóa, tĩnh chi kỳ dă.)
Không sinh không hóa, đó là thời điểm của trạng thái tĩnh. Câu này nói rằng sinh và hóa là biểu hiện của vận động, c̣n nếu hoàn toàn không c̣n sinh hóa th́ chính là rơi vào trạng thái tĩnh tuyệt đối, tức mất đi sức sống.
Những lời ấy cho thấy nguyên nhân tồn tại và phát triển của vạn vật đều bắt nguồn từ vận động. Toàn bộ giới tự nhiên, bao gồm cả cơ thể con người đang sống và sự phát sinh của bệnh tật, đều không phải là tĩnh chỉ, bất động hay cố định bất biến, mà luôn ở trong mâu thuẫn đối lập thống nhất của hai khí âm dương, vận động, phát triển và biến hóa một cách vĩnh hằng, có trật tự.
Xét trên toàn bộ quá tŕnh sống, hoạt động chức năng của con người cũng trải qua một quá tŕnh phát triển và biến đổi như vậy. Linh Khu, thiên Thiên Niên chép:
(Nhân sinh thập tuế, ngũ tạng thủy định, huyết khí dĩ thông, kỳ khí tại hạ, cố hiếu tẩu; nhị thập tuế, huyết khí thủy thịnh, cơ nhục phương trưởng, cố hiếu xu; tam thập tuế, ngũ tạng đại định, cơ nhục kiên cố, huyết mạch thịnh măn, cố hiếu bộ; tứ thập tuế, ngũ tạng lục phủ thập nhị kinh mạch, giai đại thịnh dĩ b́nh định, thấu lư thủy sơ, vinh hoa đồi lạc, phát phả ban bạch, b́nh thịnh bất dao, cố hiếu tọa; ngũ thập tuế, can khí thủy suy, can diệp thủy bạc, đởm trấp thủy diệt, mục thủy bất minh; lục thập tuế, tâm khí thủy suy, khổ ưu bi, huyết khí giải đăi, cố hiếu ngọa; thất thập tuế, tỳ khí hư, b́ phu khô; bát thập tuế, phế khí suy, phách ly, cố ngôn thiện ngộ; cửu thập tuế, thận khí tiêu, tứ tạng kinh mạch không hư; bách tuế, ngũ tạng giai hư, thần khí giai khứ, h́nh hài độc cư nhi chung hĩ.)nghĩa là: Con người đến mười tuổi th́ ngũ tạng bắt đầu ổn định, huyết khí đă lưu thông, khí thiên về ở phần dưới, nên thích chạy nhảy; hai mươi tuổi th́ huyết khí bắt đầu thịnh, cơ nhục mới lớn lên đầy đủ, nên thích chạy nhanh; ba mươi tuổi th́ ngũ tạng đại định, cơ nhục cứng chắc, huyết mạch sung măn, nên thích đi bộ; bốn mươi tuổi th́ ngũ tạng, lục phủ và mười hai kinh mạch đều thịnh mà ổn định, nhưng thấu lư bắt đầu thưa, vẻ tươi đẹp dần suy, tóc đă hơi điểm bạc, v́ khí huyết tuy vẫn sung mà không c̣n linh hoạt như trước, nên thích ngồi; năm mươi tuổi th́ can khí bắt đầu suy, lá gan bắt đầu mỏng, mật dịch bắt đầu giảm, mắt bắt đầu không c̣n sáng; sáu mươi tuổi th́ tâm khí bắt đầu suy, dễ ưu sầu buồn khổ, huyết khí biếng nhác, nên thích nằm; bảy mươi tuổi th́ tỳ khí hư, da dẻ khô; tám mươi tuổi th́ phế khí suy, phách rời, nên lời nói thường dễ sai lầm; chín mươi tuổi th́ thận khí tiêu kiệt, bốn tạng cùng kinh mạch đều trống rỗng hư suy; đến một trăm tuổi th́ ngũ tạng đều hư, thần khí đều rời đi, chỉ c̣n h́nh hài cô độc rồi kết thúc mà thôi.
Đoạn này đă tổng kết và quy nạp một cách khái quát quy luật lớn của quá tŕnh diễn biến sinh mệnh con người. Từ chỗ huyết khí dần dần sung măn, chức năng cơ thể phát triển đến cực盛, rồi từng bước đi vào suy thoái theo tuổi tác, Nội Kinh cho thấy sinh mệnh không phải là trạng thái bất biến, mà là một quá tŕnh vận động, phát triển rồi suy biến có quy luật.Tố Vấn · Lục vi chỉ đại luận nói: “Phi xuất nhập, tắc vô dĩ sinh trưởng tráng lăo dĩ, phi thăng giáng, tắc vô dĩ sinh trưởng hoá thu tàng. Thị dĩ thăng giáng xuất nhập, vô khí bất hữu”: Không có xuất nhập th́ không thể có sinh trưởng, cường tráng, già, mất; không có thăng giáng th́ không thể có sinh trưởng, hóa, thu, tàng. V́ vậy, thăng giáng xuất nhập, không cơ quan nào là không có. “Xuất nhập phế tắc thần cơ hoá diệt, thăng giáng tức tắc khí lập cô nguy” Xuất nhập bị phế bỏ th́ sinh lực bị huỷ diệt, thăng giáng ngừng th́ sinh khí bị cô lập và nguy hiểm. Điều đó cho thấy khí, với tư cách là một trong những vật chất cơ bản cấu thành thân thể và duy tŕ hoạt động sinh mệnh của con người, có năng lực hoạt động rất mạnh, không nơi nào không đến, thuỷ chung ở trong vận động, luôn luôn kích phát và thúc đẩy các hoạt động sinh lư trong cơ thể. Điều này chỉ ra rằng hoạt động sinh mệnh chính là quá tŕnh vận động biến hóa của khí, mà vận động của khí có thể quy nạp thành bốn h́nh thức cơ bản: thăng, giáng, xuất, nhập. Bất kỳ dạng thất thường nào trong một trong bốn vận động ấy đều có thể dẫn đến phát sinh bệnh tật, bởi vậy Tố Vấn · Cử thống luận mới nêu ra luận điểm “Bách bệnh sinh ư khí”: trăm bệnh sinh ra ở khí.
Chính tư tưởng học thuật “sinh mệnh là một quá tŕnh vận động và biến hóa” của Nội Kinh đă giúp lư luận Nội Kinh tránh được cách nh́n tĩnh tại, bất biến đối với hoạt động sinh mệnh, đồng thời công bố (揭示) hàm nghĩa sâu sắc của lư luận biện chứng luận trị, từ đó đặt nền tảng cho sự h́nh thành của phép biện chứng luận trị.
Quan niệm điều ḥa chỉnh thể
Nội Kinh với tư cách là một bộ y học cự著, luôn cố gắng làm sáng tỏ những quy luật cơ bản có liên quan đến sinh mệnh con người. Nội Kinh đă tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của triết học cổ đại, cho rằng vũ trụ là một chỉnh thể hữu cơ; chỉnh thể bao hàm các bộ phận, mà giữa các bộ phận có mối liên hệ mật thiết với nhau. Muốn hiểu bộ phận th́ trước hết phải nhận thức chỉnh thể; muốn hiểu cơ thể con người, vốn chỉ là một bộ phận trong chỉnh thể ấy, cũng phải bắt đầu từ sự nhận thức chỉnh thể. Mọi sự vật trong vũ trụ đều vận động và biến hóa có trật tự theo quy luật âm dương ngũ hành, nhờ đó duy tŕ được sự ổn định của toàn thể. V́ vậy, khi nghiên cứu quy luật sinh mệnh của con người, Nội Kinh cho rằng giữa các bộ phận trong cơ thể tồn tại mối liên hệ nội tại, bản chất và hữu cơ. Trong suốt toàn bộ quá tŕnh vận động của sinh mệnh, chúng có thể ảnh hưởng lẫn nhau; bất kỳ biến đổi nào ở một bộ phận cũng có thể dẫn đến biến đổi ở các bộ phận khác, thậm chí gây nên sự biến đổi của toàn bộ cơ thể. Từ đó, Nội Kinh xem con người là một chỉnh thể thống nhất hữu cơ có khả năng tự điều ḥa. Xa hơn nữa, Nội Kinh c̣n cho rằng thực thể khách quan thống nhất này nhất thiết phải giữ được mối liên hệ điều ḥa cân bằng với ngoại giới. Đó chính là quan niệm điều ḥa chỉnh thể của Nội Kinh. Nó là tư tưởng chủ đạo của toàn bộ hệ thống lư luận Nội Kinh, xuyên suốt các phương diện sinh lư, bệnh lư, chẩn đoán và trị liệu.
Sự điều ḥa chỉnh thể bên trong cơ thể người
Trên cơ sở tri thức giải phẫu cổ đại và kinh nghiệm lâm sàng tích lũy lâu dài, thông qua sự quan sát, kiểm chứng, tổng kết và quy nạp lặp đi lặp lại đối với các hiện tượng sinh lư và bệnh lư của cơ thể người, Nội Kinh đă nhận thức được rằng cơ thể con người là một chỉnh thể hữu cơ: lấy khí, huyết, tân, tinh, dịch làm cơ sở vật chất; lấy tâm làm chủ tể; lấy ngũ tạng làm trung tâm; lấy hệ thống kinh lạc làm thông đạo liên hệ; bên trong thuộc về tạng phủ, bên ngoài liên hệ với h́nh thể, quan khiếu, tóc lông; nội bộ th́ điều ḥa thống nhất, đồng thời lại tương ứng thông đạt với ngoại giới. Nội Kinh đặc biệt nhấn mạnh rằng vận động mâu thuẫn giữa hai mặt đối lập thống nhất là âm dương chính là quy luật khách quan phổ biến của hoạt động sinh mệnh nơi cơ thể người. Từ lúc h́nh thể sơ sinh cho đến khi h́nh thành đầy đủ, mọi loại kết cấu tổ chức cùng với cơ sở vật chất của chúng — khí, tinh, huyết, tân, dịch — không ǵ là không có hai mặt đối lập âm dương. Nội Kinh c̣n chỉ ra rằng toàn bộ kết cấu tổ chức của con người, từ biểu đến lư, từ trong đến ngoài, đều liên hệ lẫn nhau, đồng thời cũng tương tham, tương ứng với sự biến hóa âm dương của tự nhiên giới.
Cơ thể người đă là một thể thống nhất của sự đối lập âm dương, th́ hoạt động sinh mệnh của nó tất nhiên cũng phải vận hành theo nguyên tắc đối lập thống nhất của âm dương. Tố Vấn, thiên Sinh Khí Thông Thiên Luận nói:
(Sinh chi bản, bản ư âm dương.): Cái gốc của sự sống, gốc ở nơi âm dương. Câu này khẳng định rằng căn bản của sinh mệnh nằm ở sự phối hợp và vận hành của âm dương, chứ không tách rời khỏi quy luật âm dương.
Sự cùng nương nhau và cùng dùng lẫn nhau của hai mặt âm dương là h́nh thức duy nhất để sinh mệnh tồn tại. Nếu chỉ có âm mà không có dương, hoặc chỉ có dương mà không có âm, khiến âm dương mất đi điều kiện nương tựa lẫn nhau, th́ hoạt động sinh mệnh sẽ chấm dứt, đúng như câu gọi là:
(Âm dương ly quyết, tinh khí năi tuyệt.)
Âm dương mà chia ĺa, tách tuyệt, th́ tinh khí cũng liền đoạn tuyệt. Câu này chỉ rơ rằng sự tồn tại của sinh mệnh phụ thuộc vào mối liên hệ không thể tách rời giữa âm và dương.
Bất kỳ một phía nào của âm dương cũng không thể tách rời phía kia mà tồn tại đơn độc. Khi bệnh t́nh phát triển tới giai đoạn nghiêm trọng, hiện tượng vong âm và vong dương luôn nối tiếp nhau xuất hiện: âm kiệt th́ dương không c̣n chỗ nương tựa; dương vượt thoát th́ âm cũng không c̣n ǵ để cố thủ. Cho nên, sự duy tŕ lẫn nhau giữa âm và dương chính là then chốt quyết định sống c̣n của sinh mệnh.
Tố Vấn, thiên Sinh Khí Thông Thiên Luận c̣n chỉ ra:
(Âm b́nh dương bí, tinh thần năi trị.)
Âm được b́nh ḥa, dương được giữ kín vững chắc, th́ tinh thần mới yên ổn điều ḥa. Câu này lấy trạng thái cân bằng tương đối của âm dương làm tiêu chuẩn cơ bản phù hợp với yêu cầu sinh lư.
Đồng thời, Nội Kinh cũng cho rằng trạng thái quân b́nh âm dương trong cơ thể người không phải là bất biến cố định, mà là hai mặt ấy thay nhau tiêu trưởng, đồng thời trong sự vận động mâu thuẫn của tiêu trưởng âm dương mà không ngừng t́m lấy một sự cân bằng tương đối. Những vật chất hay công năng thuộc âm hoặc thuộc dương, nhất thiết phải duy tŕ được trạng thái cân bằng động tương đối trong quá tŕnh tiêu trưởng, th́ mới có thể duy tŕ hoạt động sinh lư b́nh thường của cơ thể. Chẳng hạn như sự hấp thu và bài tiết của thức ăn, sự hít vào và thở ra của khí thể, sự hưng phấn và ức chế của chức năng, sự tổng hợp và phân giải của vật chất, sự mở ra và khép lại của lỗ chân lông, hay sự chuyển hóa lẫn nhau giữa âm tinh và dương khí — sự tiêu trưởng âm dương giữa các mặt ấy đều không thể vượt quá một giới hạn nhất định. Nếu vượt quá, sẽ sinh ra hiện tượng âm dương thiên thịnh hoặc thiên suy, khiến cơ thể chuyển từ trạng thái sinh lư sang trạng thái bệnh lư.
Có thể thấy, tuy Nội Kinh nhấn mạnh sự quân b́nh âm dương, nhưng không hề bài xích sự tiêu trưởng âm dương vốn phù hợp với tŕnh độ sinh lư; trái lại, c̣n cho rằng sự biến hóa tiêu trưởng ấy là hết sức cần thiết. Như Tố Vấn, thiên Sinh Khí Thông Thiên Luận nói:
(Dương khí giả, nhất nhật nhi chủ ngoại, b́nh đán nhân khí sinh, nhật trung nhi dương khí long, nhật tây nhi dương khí dĩ hư, khí môn năi bế.): Dương khí trong một ngày th́ chủ về phần ngoài; lúc sáng sớm khí của người bắt đầu sinh ra, đến giữa trưa th́ dương khí thịnh lên, về chiều tà th́ dương khí đă suy, khi ấy khí môn mới khép lại. Đoạn này cho thấy trong suốt một ngày đêm, dương khí của cơ thể luôn không ngừng vận động tiêu trưởng, đồng thời giữ được sự thống nhất điều ḥa với hoàn cảnh bên ngoài.
Điều đó chứng tỏ rằng bất b́nh hành là tuyệt đối, c̣n b́nh hành chỉ là tương đối.
Sự điều ḥa chỉnh thể giữa con người và tự nhiên
Đối tượng nghiên cứu của Nội Kinh lấy con người làm chủ thể, nhưng không xem con người như một sinh vật cô lập, mà cho rằng trong toàn bộ quá tŕnh sinh, trưởng, tráng, lăo, dĩ của con người trong tự nhiên, luôn xuyên suốt sự điều ḥa chỉnh thể giữa con người và tự nhiên; con người luôn ở trong hoàn cảnh chủ quan và khách quan của “thiên nhân tương ứng”.
(1) Tự nhiên giới là nguồn gốc của sinh mệnh
Nội Kinh nghiên cứu nguồn gốc của sinh mệnh từ sự vận động mâu thuẫn nội tại của vật chất trong vũ trụ và tự nhiên giới, xem hoạt động sinh mệnh của con người là kết quả của sự vận động mâu thuẫn trong vũ trụ và tự nhiên giới, đồng thời cũng là một h́nh thức cao cấp của vận động vật chất. Tố Vấn, thiên Bảo Mệnh Toàn H́nh Luận chỉ ra:
(Thiên địa hợp khí, mệnh chi viết nhân.)
Khí của trời đất ḥa hợp lại, th́ gọi đó là con người. Câu này nhấn mạnh rằng con người là sản phẩm của sự hội hợp khí hóa giữa trời và đất.
Lại nói:
(Nhân dĩ thiên địa chi khí sinh, tứ thời chi pháp thành.)
Con người nhờ khí của trời đất mà sinh, nhờ pháp tắc của bốn mùa mà thành. Câu này cho thấy sự sống của con người vừa lấy khí của trời đất làm nguồn sinh, vừa lấy quy luật vận hành bốn mùa làm điều kiện trưởng thành.
Điều đó cho thấy con người chính là do vận động vật chất sinh hóa của vũ trụ mà thành, do khí âm dương của trời đất ḥa hợp mà sinh ra. Ngoài ra, trong Tố Vấn, thiên Bảo Mệnh Toàn H́nh Luận c̣n có câu:
(Thiên phú địa tải, vạn vật tất bị, mạc quư ư nhân.)
Trời che, đất chở, muôn vật đều đầy đủ, nhưng không ǵ quư bằng con người. Câu này đề cao vị trí của con người trong muôn vật, không phải v́ con người đứng ngoài tự nhiên, mà v́ con người là sinh mệnh có năng lực nhận thức và thích ứng cao nhất.
Linh Khu, thiên Ngọc Bản lại nói:
(Nhân giả, thiên địa chi trấn dă.)
Con người là cái trấn giữ của trời đất. Câu này nhấn mạnh địa vị đặc biệt của con người trong khoảng giữa trời đất, xem con người là sinh mệnh có vai tṛ trung tâm trong thế giới hữu sinh.
Những câu ấy luận rằng giữa trời đất, tuy có muôn vật tồn tại, nhưng không có ǵ quư hơn con người. Bởi v́ loài người không chỉ sinh, trưởng, tráng, lăo, dĩ trong sự thích ứng với hoàn cảnh khách quan của tự nhiên, mà c̣n có thể nhận thức tự nhiên, cải tạo tự nhiên, thậm chí ở một mức độ nhất định c̣n có năng lực vượt lên trên tự nhiên, từ đó trở thành chủ thể của tự nhiên, nắm giữ và điều khiển tự nhiên, đồng thời từ “vương quốc tất nhiên” mà t́m lấy tự do.
Tố Vấn, thiên Thượng Cổ Thiên Chân Luận c̣n đặc biệt nhấn mạnh:
(Hữu chân nhân giả, đề khiết thiên địa, bả ác âm dương…… ḥa ư âm dương, điều ư tứ thời…… du hành thiên địa chi gian, thị thính bát đạt chi ngoại.)
Có bậc chân nhân th́ nâng giữ trời đất, nắm bắt âm dương… ḥa hợp với âm dương, điều ḥa theo bốn mùa… đi lại giữa trời đất, nh́n nghe vượt ra ngoài tám phương. Câu này nói rằng chỉ cần biết khéo điều ḥa âm dương, xoay chuyển tạo hóa, thuận theo biến hóa của âm dương, ứng theo qua lại của bốn mùa, th́ sẽ có thể minh sát trời đất, nghe thấy tám phương, thấu hiểu sâu sắc sự huyền diệu của tự nhiên, từ đó chủ động nắm bắt quy luật vận động biến hóa của tự nhiên và kéo dài tuổi thọ tới mức lớn nhất.
(2) Con người tương ứng với trời đất
Nội Kinh không chỉ nhận thức rằng tự nhiên giới là nguồn gốc của sinh mệnh, là nơi cung cấp những điều kiện tất yếu để duy tŕ sự sống, mà c̣n đặc biệt nhấn mạnh rằng mọi vận động biến hóa của tự nhiên giới đều sẽ gây nên những phản ứng đáp ứng nhất định trong cơ thể con người. Chính loại phản ứng ấy giúp thực hiện sự điều ḥa chỉnh thể giữa trong và ngoài cơ thể, là điều bảo đảm cần thiết để hoạt động sinh mệnh diễn ra b́nh thường. Linh Khu, thiên Tuế Lộ đă nêu rơ:
(Nhân dữ thiên địa tương tham dă, dữ nhật nguyệt tương ứng dă.)
Con người tương tham với trời đất, tương ứng với mặt trời mặt trăng. Câu này nói rơ con người không thể tách rời quy luật vận hành của thiên địa nhật nguyệt, mà phải cùng tham dự, cùng ứng hợp với chúng.
Chỉ khi cơ thể con người luôn随時 làm ra phản ứng thích ứng đối với biến hóa của trời đất và sự vận hành của nhật nguyệt trong tự nhiên giới, th́ mới có thể giữ được sự điều ḥa chỉnh thể giữa hoàn cảnh bên trong và bên ngoài, duy tŕ hoạt động sinh mệnh b́nh thường. Nếu không, sự điều ḥa chỉnh thể giữa môi trường trong và ngoài cơ thể sẽ bị rối loạn, nhịp điệu sinh lư vốn có của cơ thể sẽ bị quấy nhiễu, năng lực thích ứng và chống bệnh sẽ tương ứng mà giảm xuống, từ đó tất yếu phát sinh bệnh tật, thậm chí nguy hại đến tính mạng.
Nội Kinh c̣n chỉ ra rằng sự điều ḥa chỉnh thể giữa cơ thể con người với ngoại giới chủ yếu là dựa vào dương khí của bản thân cơ thể mà tiến hành. V́ vậy Nội Kinh mới có thuyết “sinh khí thông thiên”. “Sinh khí” ở đây là chỉ dương khí của cơ thể người. Diêu Chỉ Am nói:
(Sinh khí giả hà? Sinh sinh chi khí, dương khí dă.)
Sinh khí là ǵ? Chính là khí sinh sinh không ngừng, tức là dương khí vậy. Câu này xác định rơ “sinh khí” trong Nội Kinh chủ yếu là chỉ dương khí mang công năng động, phát, hóa của cơ thể.
Lại nói:
(Duy nhân dương khí thượng dữ thiên thông.)
Chỉ có dương khí của con người là ở phía trên mà thông với trời. Chữ “thông” ở đây có nghĩa là liên hệ, tương thông lẫn nhau, cho rằng hoạt động của dương khí trong cơ thể có thể随時 đưa ra phản ứng đáp ứng trước biến hóa của thiên khí.
Chẳng hạn, để thích ứng với biến hóa của khí hậu, duy tŕ thân nhiệt hằng định và chuyển hóa thủy dịch b́nh thường, dương khí vệ ngoại tất phải thông qua tác dụng “tư khai hợp” mà điều tiết, nhờ đó mới giữ được thế điều ḥa cân bằng với ngoại cảnh. Linh Khu, thiên Ngũ Lung Tân Dịch Biệt nói:
(Thiên thử y hậu tắc thấu lư khai, cố hăn xuất…… thiên hàn tắc thấu lư bế, khí thấp bất hành, thủy hạ lưu ư bàng quang, tắc vi nịch dữ khí.)
Trời nóng mà mặc dày th́ thấu lư mở ra, cho nên mồ hôi thoát ra… trời lạnh th́ thấu lư đóng lại, khí thấp không vận hành ra ngoài, nước đi xuống lưu ở bàng quang, hóa thành nước tiểu và khí. Câu này nói rơ rằng khi trời nóng th́ thấu lư mở, dương khí thoát ra ngoài, v́ thế mồ hôi nhiều mà tiểu ít; khi trời lạnh th́ thấu lư khép, dương khí thu liễm vào trong, v́ thế ít mồ hôi mà tiểu nhiều. Đó chính là sự điều ḥa được thực hiện thông qua phản ứng thích ứng của dương khí.
Ngoài ra, những hoạt động sinh lư bên trong mà con người khó cảm nhận rơ, như khí của ngũ tạng lục phủ và mười hai kinh mạch, cũng thường phát sinh những biến hóa tương ứng theo khí âm dương ngũ hành của ngày đêm và bốn mùa. Tuy biến hóa âm dương của sáng chiều ngày đêm không rơ rệt bằng bốn mùa, nhưng vẫn có ảnh hưởng nhất định đối với cơ thể người. Linh Khu, thiên Doanh Vệ Sinh Hội nói: (Dạ bán vi âm lũng, dạ bán hậu nhi vi âm suy, b́nh đán âm tận, nhi dương thụ khí hĩ. Nhật trung nhi dương lũng, nhật tây nhi dương suy, nhật nhập dương tận, nhi âm thụ khí hĩ.): Nửa đêm là lúc âm thịnh, sau nửa đêm th́ âm bắt đầu suy; đến sáng sớm âm hết mà dương tiếp nhận khí. Giữa trưa là lúc dương thịnh, về chiều th́ dương suy; khi mặt trời lặn dương hết mà âm lại tiếp nhận khí. Câu này cho thấy dương khí của cơ thể người trong quá tŕnh tiêu trưởng âm dương ngày đêm bắt buộc phải giữ sự biến hóa nhịp nhàng tương ứng với ngoại giới.
Ngũ tạng và mười hai kinh mạch của cơ thể là những bộ phận cấu thành quan trọng của toàn bộ hệ sinh lư của con người. Trong quá tŕnh tiến hành hoạt động tân trần đại tạ, chúng thiết lập mối liên hệ đặc biệt với ngoại giới, từ đó h́nh thành nên những nhịp điệu chu kỳ khác nhau, giúp giữ sự điều ḥa chỉnh thể giữa môi trường trong và ngoài cơ thể, đồng thời duy tŕ thế quân b́nh động của âm dương.
Linh Khu, thiên Bản Tạng nói:
(Ngũ tạng giả, sở dĩ tham thiên địa, phó âm dương, nhi liên tứ thời; hóa ngũ tiết giả dă.)
Ngũ tạng là cái dùng để cùng tham với trời đất, phối hợp với âm dương, liên hệ với bốn mùa; cũng là cái biến hóa theo năm tiết khí. “Phó âm dương” tức là phối hợp với âm dương của bốn mùa; “hóa ngũ tiết” tức là tùy theo thời tiết do năm khí chủ quản mà sinh ra những biến hóa tương ứng. Điều đó cho thấy khí của ngũ tạng có tính nhịp điệu tương ứng với sự thăng, phù, giáng, trầm của âm dương trong bốn mùa.
Dương khí sinh phát vào mùa xuân, cho nên:
(Can vi âm trung chi thiếu dương.)
Can là thiếu dương ở trong âm. Ư nói gan tuy thuộc âm tạng, nhưng về công năng lại mang đặc tính sinh phát, vươn lên, nên có tính thiếu dương.
Dương khí thịnh trưởng vào mùa hạ, cho nên:
(Tâm vi dương trung chi thái dương.)
Tâm là thái dương ở trong dương. Ư nói tâm thuộc hỏa, chủ dương khí cực thịnh, ứng với sự bốc lên mạnh mẽ của mùa hạ.
Dương khí thu liễm vào mùa thu, cho nên:
(Phế vi dương trung chi thiếu âm.)
Phế là thiếu âm ở trong dương. Câu này theo ư văn bản hiệu chính, cho thấy phế tuy ứng với mùa thu là thời dương c̣n dư mà đă bắt đầu thu liễm, mang tính thiếu âm.
Dương khí bế tàng vào mùa đông, cho nên:
(Thận vi âm trung chi thái âm.)
Thận là thái âm ở trong âm. Ư nói thận chủ tàng, chủ thủy, ứng với mùa đông, là nơi âm khí thịnh và ẩn tàng sâu nhất.
Tỳ cư trung thổ, lên xuống qua lại, là đầu mối của sự thăng giáng âm dương, cho nên:
(Tỳ vi âm trung chi chí âm.)
Tỳ là chí âm ở trong âm. Ư nói tỳ thuộc thổ, ở trung ương, là nền tảng của sinh hóa khí huyết, mang tính âm rất rơ trong kết cấu của ngũ tạng.
Kết hợp biến hóa khí hậu bốn mùa với công năng sinh lư của ngũ tạng mà xét, th́ gan chủ sơ tiết, là tạng phong mộc, ứng với khí mùa xuân; tim dùng dương mà làm việc, là tạng hỏa nhiệt, ứng với khí mùa hạ; tỳ chủ vận hóa, là tạng thấp thổ, ứng với trường hạ; phế tính thanh túc, là tạng táo kim, ứng với khí mùa thu; thận chủ phong tàng, là tạng hàn thủy, ứng với khí mùa đông. Đó là quan hệ đồng bộ giữa ngũ tạng của cơ thể với sự vận động âm dương ngũ hành của bốn mùa.
Trương Trọng Cảnh trong lời tựa của Thương Hàn Luận cũng nói:
(Phù thiên bố ngũ hành, dĩ vận vạn loại, nhân bẩm ngũ thường, dĩ hữu ngũ tạng.)
Trời bày ra ngũ hành để vận hành muôn loại, con người bẩm thụ ngũ thường nên mới có ngũ tạng. Câu này chỉ ra rằng nhịp điệu hoạt động của ngũ tạng con người vốn bắt nguồn từ quy luật của ngũ hành trong tự nhiên, và đó là điều được bẩm thụ từ tiên thiên.
Điều đó cho thấy sự thích ứng của cơ thể con người với quy luật vận động quanh năm của ngũ khí là do tiên thiên mà có, được h́nh thành trong quá tŕnh tiến hóa lâu dài của loài người rồi truyền lại. Bởi vậy hoạt động sinh lư của ngũ tạng và biến hóa của âm dương ngũ hành bốn mùa có tính nhịp điệu tương ứng với nhau.
Mười hai kinh mạch của cơ thể bên trong thuộc về tạng phủ, bên ngoài liên lạc với chi tiết, mà hoạt động của tạng phủ cũng phải thông qua khí huyết mà phản ánh lên kinh mạch; giữa hai bên tồn tại mối liên hệ không thể phân cắt. Nếu ngũ tạng đă ứng với âm dương ngũ khí bốn mùa, th́ mười hai kinh mạch cũng không thể là ngoại lệ. Linh Khu, thiên Ngũ Loạn nói:
(Kinh mạch thập nhị giả, dĩ ứng thập nhị nguyệt, xuân thu đông hạ, kỳ khí các dị, doanh vệ tương tùy, doanh dưỡng dĩ ḥa, thanh trọc bất tương can, như thị tắc thuận chi nhi trị.)
Mười hai kinh mạch là để ứng với mười hai tháng; xuân, thu, đông, hạ th́ khí mỗi mùa mỗi khác; nếu doanh và vệ đi theo nhau, doanh dưỡng đă điều ḥa, thanh và trọc không xâm phạm lẫn nhau, th́ như vậy có thể thuận theo biến hóa tự nhiên mà giữ được sự trị b́nh. Đoạn này nói rằng mười hai kinh mạch cũng phải ứng với bốn mùa âm dương, và chỉ khi khí huyết vận hành điều ḥa th́ mới có thể thuận ứng tự nhiên mà duy tŕ sinh lư b́nh thường.
V́ vậy Linh Khu, thiên Kinh Biệt nói:
(Thập nhị kinh mạch giả, thử ngũ tạng lục phủ chi sở dĩ ứng thiên đạo dă.)
Mười hai kinh mạch chính là cái nhờ đó mà ngũ tạng lục phủ ứng với thiên đạo. Câu này nhấn mạnh rằng kinh mạch là môi giới để cơ thể con người thông ứng với quy luật tự nhiên.
Tóm lại, chỉ khi mười hai kinh mạch, ngũ tạng lục phủ của cơ thể người thực hiện được sự điều ḥa chỉnh thể với âm dương của bốn mùa, th́ mới có thể duy tŕ hoạt động sinh lư b́nh thường và sức khỏe của cơ thể.

Nội dung chủ yếu của hệ thống lư luận Nội Kinh
Nội Kinh đă tiếp thu những tư tưởng triết học tiên tiến đương thời cùng thành quả của nhiều ngành khoa học tự nhiên, nên biểu hiện ra tính chất khai phóng rất đầy đủ. V́ vậy, phạm vi mà hệ thống lư luận của Nội Kinh đề cập là hết sức rộng lớn, bao gồm nhiều phương diện như nền tảng triết học, lư luận cơ sở và lâm sàng của Trung y, thiên văn lịch pháp, địa lư, khí tượng, vật hậu, sinh vật học, tâm lư học, luân lư học v.v. Chỉ riêng xét về nội dung y học, y giacác thời đại đă dùng nhiều phương pháp khác nhau để phân loại. V́ người nhân th́ thấy theo cách của người nhân, người trí th́ thấy theo cách của người trí, nên cách phân loại cũng không hoàn toàn giống nhau; có chỗ th́ quá chặt, có chỗ th́ quá giản lược. Tựu trung mà quy nạp lại, ngoài những nội dung liên quan đến châm thích, du huyệt v.v., chủ yếu gồm mười một loại lớn là: dưỡng sinh, âm dương, ngũ hành, tàng tượng, kinh lạc, bệnh nhân, bệnh cơ, bệnh chứng, chẩn pháp, luận trị và vận khí.

Âm dương ngũ hành vốn thuộc phạm trù triết học cổ đại; Nội Kinh tiếp thu và phát triển chúng thành một thứ nhận thức luận và phương pháp luận mang tính y học, dùng đó để làm sáng tỏ sinh lư, bệnh lư của cơ thể người và chỉ đạo thực tiễn lâm sàng. Tàng tượng học nghiên cứu h́nh thái cấu trúc, quy luật hoạt động sinh lư và mối quan hệ tương hỗ của các loại tổ chức, khí quan trong cơ thể người, là hạt nhân của hệ thống lư luận Nội Kinh, đồng thời là cơ sở của các học thuyết khác. Kinh lạc th́ nối liền biểu lư (trong ngoài),thông suốt thượng hạ, bên trong thuộc tạng phủ, bên ngoài lạc đến chi tiết, vận hành khí huyết, là cơ sở để duy tŕ công năng chỉnh thể của cơ thể người. Bệnh nhân bệnh cơ học th́ nghiên cứu về các nhân tố gây bệnh, cơ chế phát sinh bệnh tật và quy luật truyền biến của bệnh chứng. Chẩn pháp học là học thuật của Nội Kinh, lấy bốn mùa, ngũ tạng, âm dương làm căn cứ, nghiên cứu cách thông qua vọng, văn, vấn, thiết để “tư ngoại suy nội”, từ bên ngoài mà suy biết bên trong, từ đó phán biệt nguyên nhân gây bệnh, cơ chế phát bệnh, loại h́nh bệnh chứng và xu thế bệnh thế.
(Tư ngoại sủy nội)
Xét cái biểu hiện ở bên ngoài mà suy đoán cái biến hóa ở bên trong. Đây là nguyên tắc cơ bản của chẩn đoán trong Trung y, nghĩa là dựa vào những dấu hiệu quan sát được mà t́m hiểu nội tại tạng phủ, khí huyết.
Luận trị học của Nội Kinh lấy chỉnh thể quan và biện chứng luận trị làm chỉ đạo, lấy việc khôi phục sức khỏe của cơ thể người làm mục đích, do các bộ phận như trị tắc, trị pháp và các loại liệu pháp hợp thành một hệ thống khá hoàn chỉnh. Học thuyết dưỡng sinh của Nội Kinh chú trọng mấy phương diện như thuận ứng tự nhiên, bảo dưỡng chính khí, điều nhiếp tinh thần, tránh tà khí từ bên ngoài, dự pḥng bệnh tật v.v. C̣n học thuyết vận khí th́ lấy ngũ hành, lục khí, tam âm tam dương làm hạt nhân lư luận, lấy vận động của đại khí, biến hóa của khí hậu cùng những hiện tượng sinh vật sinh hóa và bệnh dịch lưu hành tương ứng làm nội dung cơ bản, là môn học nghiên cứu quan hệ giữa quy luật biến hóa của thiên tượng, khí tượng trong tự nhiên với sự phát sinh và lưu hành bệnh tật trong quần thể người.

Học thuyết dưỡng sinh
Dưỡng sinh nghĩa là bảo dưỡng sự sống của con người, cũng gọi là nhiếp sinh. Học thuyết dưỡng sinh là một môn học nghiên cứu nguyên nhân của thọ yểu và suy lăo nơi cơ thể người, cùng với lư luận và phương pháp cường thân pḥng bệnh, kéo dài tuổi thọ, để đạt tới mục đích “tận chung kỳ thiên niên”. Quan niệm dưỡng sinh đă có từ thời Tiên Tần, như trong Lăo Tử, Trang Tử v.v. đều có những luận thuật chuyên biệt. Nội Kinh đă tiếp thu và tổng kết những thành tựu dưỡng sinh trước đời Tần Hán, thiết lập nên hệ thống lư luận của dưỡng sinh học, xác lập những quan niệm cơ bản của dưỡng sinh học Trung y, nêu ra những pháp tắc cơ bản của dưỡng sinh, đặt nền móng lư luận cho dưỡng sinh học, từ đó đóng vai tṛ承前啟後 đối với sự h́nh thành và phát triển của dưỡng sinh học.
(Tận chung kỳ thiên niên): Sống trọn vẹn cho đến hết tuổi trời được phú cho. Câu này chỉ mục tiêu lư tưởng của dưỡng sinh, tức sống hết tuổi thọ tự nhiên trong trạng thái tương đối khỏe mạnh.
Học thuyết dưỡng sinh của Nội Kinh được xây dựng dưới sự chỉ đạo của chỉnh thể quan “thiên nhân tương ứng”, và có những đặc điểm sau đây.
Đối với bên ngoài, lấy việc thuận ứng tự nhiên làm nguyên tắc quan trọng của dưỡng sinh: nhấn mạnh phải “pháp ư âm dương”, “thuận tứ thời nhi thích hàn thử”, “phục thiên khí nhi thông thần minh”. Nội Kinh cho rằng đối với biến hóa âm dương của tự nhiên giới, “nghịch chi tắc tai hại sinh, ṭng chi tắc kha tật bất khởi”.
(Pháp ư âm dương)
Lấy âm dương làm khuôn phép, tức hành xử và dưỡng sinh theo quy luật âm dương của tự nhiên.
(Thuận tứ thời nhi thích hàn thử)
Thuận theo bốn mùa để thích ứng với lạnh nóng. Ư nói đời sống con người phải tùy mùa mà điều chỉnh, không được trái nghịch thời khí.
(Phục thiên khí nhi thông thần minh)
Thuận phục thiên khí để thần minh được thông đạt. Ư nói khi con người ḥa hợp với khí trời th́ tinh thần sẽ sáng suốt, thân tâm dễ điều ḥa.
(Nghịch chi tắc tai hại sinh, ṭng chi tắc kha tật bất khởi)
Nghĩa là:
Làm trái lại th́ tai hại phát sinh, thuận theo th́ bệnh tật nghiêm trọng không nổi lên. Câu này khẳng định tầm quan trọng của việc thuận theo tự nhiên trong dưỡng sinh và pḥng bệnh.
Đối với bên trong, coi trọng việc điều hoà tinh thần t́nh chí: nhấn mạnh phải “điềm đạm hư vô”, “tích tinh toàn thần”, “tinh thần nội thủ”, từ đó khiến “h́nh thể bất tệ, tinh thần bất tán”.
(Điềm đạm hư vô)
Giữ tâm cảnh điềm đạm, hư tĩnh, không bị dục niệm quấy扰. Đây là trạng thái tinh thần mà Nội Kinh coi là rất quan trọng đối với dưỡng sinh.
(Tích tinh toàn thần)
Tích tụ tinh khí để bảo toàn thần. Nghĩa là phải ǵn giữ tinh, từ đó mới giữ được thần khí trọn vẹn.
(Tinh thần nội thủ)
Tinh thần được giữ vững ở bên trong, không tán loạn ra ngoài. Đây là yêu cầu then chốt để thân tâm ổn định, chống ngoại tà.
(H́nh thể bất tệ, tinh thần bất tán)
H́nh thể không suy bại, tinh thần không tán mất. Câu này mô tả trạng thái dưỡng sinh lư tưởng khi cả thân và tâm đều được bảo toàn.
Lấy việc bảo dưỡng chân khí làm chủ đạo của dưỡng sinh: Nội Kinh cho rằng “chính khí tồn nội, tà bất khả can”, cho nên bất kỳ hoạt động dưỡng sinh nào cũng phải lấy việc bảo vệ và tăng cường chính khí làm nguyên tắc cơ bản, từ đó đạt tới mục đích “tịch tà bất chí, trường sinh cửu thị”. Điều này làm nổi bật tư tưởng y học dự pḥng, pḥng bệnh trước khi chưa phát bệnh.
(Chính khí tồn nội, tà bất khả can)
Chính khí c̣n ở bên trong th́ tà khí không thể xâm phạm. Đây là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong dưỡng sinh và pḥng bệnh của Trung y.
(Tịch tà bất chí, trường sinh cửu thị)
Xua tà mà tà không đến, sống lâu và nh́n đời lâu dài. Ư nói khi chính khí mạnh, tà khí khó xâm phạm, con người có thể kéo dài tuổi thọ.
Những quan niệm cơ bản của học thuyết dưỡng sinh trong Nội Kinh chủ yếu có bốn phương diện sau.
Quan niệm thống nhất giữa môi trường trong và ngoài: Nội Kinh cho rằng con người và tự nhiên giới là một chỉnh thể thống nhất. V́ vậy, trong phương diện dưỡng sinh, Nội Kinh nêu ra yêu cầu phải “đề khiết thiên địa, bả ác âm dương”, tức nắm bắt và thuận theo pháp tắc biến hóa âm dương của tự nhiên giới, như cái gọi là “pháp ư âm dương, điều ư tứ thời”, “pháp thiên tắc địa, tượng tự nhật nguyệt, biện liệt tinh thần, nghịch ṭng âm dương” v.v., nhấn mạnh việc thích ứng với biến hóa tự nhiên, duy tŕ nhịp sinh lư b́nh thường, khiến cơ thể con người giữ được sự điều ḥa cân bằng với ngoại giới; điều đó có ư nghĩa vô cùng quan trọng trong việc pḥng chống suy lăo.
(Đề khiết thiên địa, bả ác âm dương)
Nâng giữ trời đất, nắm bắt âm dương. Câu này chỉ việc từ tầm nh́n lớn của thiên địa mà nắm lấy quy luật âm dương để điều chỉnh đời sống.
(Pháp ư âm dương, điều ư tứ thời)
Lấy âm dương làm phép tắc, điều ḥa theo bốn mùa. Đây là nguyên tắc cốt lơi của dưỡng sinh thuận tự nhiên.
(Pháp thiên tắc địa, tượng tự nhật nguyệt, biện liệt tinh thần, nghịch ṭng âm dương)
Noi theo trời, bắt chước đất, h́nh dung theo mặt trời mặt trăng, phân biệt các sao, thuận nghịch theo âm dương. Câu này diễn tả một quan niệm dưỡng sinh bao quát, đặt con người vào trong toàn bộ trật tự vũ trụ.
Dưới sự chỉ đạo của nguyên tắc ấy, Nội Kinh lại đưa ra những pháp tắc dưỡng sinh cụ thể như “xuân dưỡng sinh, hạ dưỡng trưởng, thu dưỡng thu, đông dưỡng tàng”, và “xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm”.
(Xuân dưỡng sinh, hạ dưỡng trưởng, thu dưỡng thu, đông dưỡng tàng)
Mùa xuân dưỡng sự sinh, mùa hạ dưỡng sự trưởng, mùa thu dưỡng sự thu, mùa đông dưỡng sự tàng. Đây là nguyên tắc dưỡng sinh theo bốn mùa rất nổi tiếng của Nội Kinh.
(Xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm)
Mùa xuân mùa hạ dưỡng dương, mùa thu mùa đông dưỡng âm. Câu này chỉ rơ trọng điểm dưỡng sinh khác nhau theo thời tiết.
Quan niệm dự pḥng lấy nội nhân làm chủ: Nội Kinh xem việc nâng cao tố chất cơ thể và tăng cường sức chống bệnh của con người là biện pháp quan trọng của dưỡng sinh. Từ mối quan hệ giữa bệnh tà và chính khí mà xét, th́ nội nhân của cơ thể giữ vai tṛ chủ yếu, như câu:
(Điềm đạm hư vô, chân khí ṭng chi, tinh thần nội thủ, bệnh an ṭng lai)
Tâm cảnh điềm đạm hư tĩnh th́ chân khí thuận theo mà điều ḥa, tinh thần giữ vững ở bên trong, như vậy bệnh từ đâu mà đến được? Câu này nhấn mạnh rằng muốn pḥng bệnh, trước hết phải giữ nội tâm điều ḥa và chính khí sung túc.
Bệnh tật là phản ứng của cơ thể dưới những điều kiện nhất định đối với các nhân tố có hại từ bên ngoài. Chính khí bên trong hư yếu là nhân tố nội tại gây phát bệnh, c̣n ngoại nhân tất phải thông qua nội nhân mới có thể phát huy tác dụng mà gây bệnh, đúng như Tố Vấn, thiên B́nh Nhiệt Bệnh Luận nói:
(Tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư)
Nơi nào tà khí tụ lại, nơi đó chính khí tất hư. Đây là nguyên lư rất căn bản trong bệnh cơ học của Trung y, đồng thời cũng là nguyên tắc dự pḥng bệnh tật.
V́ vậy, Nội Kinh hết sức nhấn mạnh phải giữ cho tư tưởng được an tĩnh b́nh ḥa, ngăn ngừa kích thích tinh thần, nhờ đó nâng cao năng lực pḥng ngự của cơ thể, xúc tiến sự sinh lư b́nh thường của tạng phủ khí huyết; điều đó có ư nghĩa rất quan trọng đối với dưỡng sinh và pḥng bệnh.
Quan niệm dưỡng sinh coi trọng đồng thời cả h́nh lẫn thần: h́nh thể là cơ sở vật chất của tinh thần, c̣n tinh thần là biểu hiện công năng của h́nh thể; hai bên nương tựa nhau mà dùng. V́ vậy Nội Kinh nhấn mạnh rằng dưỡng sinh không những phải tăng cường luyện tập và bảo dưỡng h́nh thể, mà đồng thời cũng phải chú ư đến việc điều摄 tinh thần, giữ cho tâm lư an tĩnh, b́nh ḥa, lạc quan, khai đạt. Chỉ khi “h́nh dữ thần câu” th́ mới có thể duy tŕ sự b́nh thường của hoạt động sinh lư tinh thần, khí huyết trong cơ thể người, từ đó đạt tới mục đích dưỡng sinh là “tận chung kỳ thiên niên”.
(H́nh dữ thần câu)
H́nh thể và tinh thần cùng tồn tại, cùng trọn vẹn. Đây là trạng thái dưỡng sinh lư tưởng, khi thân và tâm đều được nuôi dưỡng.
Quan niệm dưỡng sinh lấy việc bảo dưỡng thận tinh làm gốc: Nội Kinh nhấn mạnh rằng:
(Phù tinh giả, thân chi bản dă)
Tinh là gốc của thân thể. Câu này xác định thận tinh là một nền tảng sống c̣n đối với sinh trưởng, phát dục và duy tŕ sinh mệnh.
Thận là gốc của tiên thiên; tinh khí mà thận tàng giữ là cơ sở vật chất thúc đẩy sự sinh trưởng, phát dục và sinh殖 của cơ thể người, cũng là căn bản của sinh mệnh. V́ vậy, dưỡng sinh trong Nội Kinh đặc biệt nhấn mạnh việc lấy bảo dưỡng tinh, khí, thần làm hạt nhân, mà bảo dưỡng thận tinh là điều quan trọng bậc nhất. Tinh, khí, thần là một thể thống nhất không thể phân cắt; c̣n th́ cùng c̣n, mất th́ cùng mất. Tinh có thể hóa khí, khí có thể sinh thần; tinh, khí, thần nương tựa lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau, mà tinh lại là nguồn gốc của thần và khí.
Cho nên Nội Kinh mới có câu:
(Tích tinh toàn thần)
Tích giữ tinh để bảo toàn thần. Đây là một nguyên tắc dưỡng sinh cực kỳ quan trọng, đặt việc giữ tinh làm nền tảng cho việc an thần và kéo dài tuổi thọ.
Dưới sự chỉ đạo của những quan niệm cơ bản kể trên, học thuật dưỡng sinh của Nội Kinh đă từ nhiều phương diện mà bàn luận về quy luật hoạt động của con người qua các giai đoạn sinh, trưởng, tráng, lăo, dĩ, cũng như các phương pháp bảo dưỡng thân tâm, giữ ǵn sức khỏe, trừ bệnh và kéo dài tuổi thọ. Những luận thuật ấy liên quan rất rộng, bao gồm điều攝 tinh thần, luyện tập h́nh thể, điều dưỡng ăn uống, thích ứng hoàn cảnh, quy phạm sinh hoạt thường nhật, lễ nghi giao tiếp xă hội v.v. Các nội dung này rải rác thấy trong nhiều thiên như Tố Vấn, Sinh Khí Thông Thiên Luận; Tố Vấn, Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận; Linh Khu, Bản Thần; Linh Khu, Thông Thiên v.v. Trong đó, Tố Vấn, Thượng Cổ Thiên Chân Luận và Tố Vấn, Tứ Khí Điều Thần Đại Luận là hai thiên chuyên luận của Nội Kinh bàn riêng về dưỡng sinh.

Học thuyết âm dương ngũ hành
Âm dương và ngũ hành là những quy luật cơ bản mang tính triết lư để nhận thức tự nhiên, được con người từng bước tổng kết ra thông qua quá tŕnh quan sát và nhận thức lâu dài đối với sự vận động biến hóa của tự nhiên giới, đồng thời cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên cổ đại Trung Quốc mà dần dần được rút ra từ các ngành như thiên văn, khí tượng, lịch toán v.v. Nội Kinh đă tiếp thu và phát triển những học thuyết chủ yếu trong các trào lưu triết học cổ đại, dùng đó để xây dựng hệ thống lư luận của riêng ḿnh, h́nh thành nên nhận thức luận và phép biện chứng âm dương ngũ hành đặc hữu của Trung y học. Học thuyết ấy lấy “vạn vật vốn bắt nguồn từ khí” làm cơ sở, thông qua việc nghiên cứu quy luật vận động và chuyển hóa của khí mà nhận thức và giải thích vũ trụ vạn vật, đồng thời phân tích và luận chứng sinh lư, bệnh lư, dưỡng sinh, biện chứng, trị tắc, trị pháp, cũng như phép lập phương dùng thuốc của cơ thể người. Nội dung của nó vô cùng phong phú, xuyên suốt mọi phương diện trong hệ thống lư luận Trung y học. Hầu hết các thiên trong Nội Kinh đều vận dụng học thuyết âm dương và học thuyết ngũ hành để thảo luận, phân tích và quy nạp hoạt động sinh lư cũng như biến hóa bệnh lư của cơ thể người, khiến cho chúng trở thành bộ phận hữu cơ của hệ thống lư luận Trung y, có ư nghĩa chỉ đạo rất quan trọng đối với nghiên cứu lư luận và thực tiễn lâm chứng của Trung y học.
Âm dương là sự khái quát hai mặt có liên hệ với nhau và đồng thời giữ thế cân bằng thống nhất trong một hệ thống nhất định. Học thuyết âm dương cho rằng, trong nội bộ của bất kỳ một hệ thống nào, bất kể xét từ phương diện vật chất, hay từ phương diện công năng, hoặc từ quan hệ giữa vật chất và công năng, đều tồn tại hai mặt tương ứng với nhau; hai mặt ấy thông qua vận động cân bằng như cảm ứng giao hợp, hỗ căn hỗ dụng, tiêu trưởng, chuyển hóa và chế ước mà khiến cho toàn bộ hệ thống duy tŕ được trạng thái ổn định trong cân bằng động. Do quy mô của hệ thống có lớn nhỏ khác nhau, nên khái niệm âm dương ở những tầng cấp khác nhau cũng có nội hàm và ngoại diên cụ thể khác nhau. V́ thế, âm dương trong Trung y có đặc điểm là “lớn th́ không có cái ǵ ở ngoài, nhỏ th́ không có cái ǵ ở trong”.
(Kỳ đại vô ngoại, kỳ tiểu vô nội.)
Lớn đến mức không có ǵ ở ngoài nó, nhỏ đến mức không có ǵ ở trong nó. Câu này nói lên tính bao quát và tính phổ biến của phạm trù âm dương: từ vũ trụ lớn lao cho đến những đơn vị vi tế, đâu đâu cũng có thể dùng âm dương để nhận thức và phân tích.
Khi học học thuyết âm dương trong Nội Kinh, nhất định phải ghi nhớ đặc điểm này, để hiểu và lĩnh ngộ cho đúng nội dung cụ thể cũng như phạm vi thích dụng của học thuyết âm dương ở những tầng cấp khác nhau. Ngũ hành, tức là mộc, hỏa, thổ, kim, thủy, trên thực chất là sự phân chia tinh hơn đối với nội bộ của một hệ thống. Xét về mặt lư luận, ngũ hành đồng dạng cũng có đặc điểm “lớn th́ không có ǵ ở ngoài, nhỏ th́ không có ǵ ở trong”. Học thuyết ngũ hành chủ yếu thảo luận thuộc tính ngũ hành trong nội bộ hệ thống và quy luật mà ngũ hành thông qua sinh khắc chế hóa, kháng hại thừa chế để giữ thế cân bằng, duy tŕ ổn định cho toàn bộ hệ thống trong trạng thái động.
Tư tưởng phương pháp và quan điểm lư luận của âm dương ngũ hành dung hợp, xuyên suốt trong khắp các thiên của Tố Vấn và Linh Khu. Những thiên chuyên luận riêng về âm dương ngũ hành trong Nội Kinh không nhiều, nhưng các thiên chủ yếu tập trung tŕnh bày khái niệm và sự vận dụng của học thuyết âm dương ngũ hành gồm có trong Tố Vấn: Sinh Khí Thông Thiên Luận, Kim Quỹ Chân Ngôn Luận, Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận, Âm Dương Ly Hợp Luận, Lục Tiết Tàng Tượng Luận, Tạng Khí Pháp Thời Luận, Tuyên Minh Ngũ Khí; và trong Linh Khu: Âm Dương Hệ Nhật Nguyệt, Thuận Khí Nhất Nhật Phân Vi Tứ Thời, Ngũ Âm Ngũ Vị, Cửu Châm Luận v.v.
Học thuyết tàng tượng
Từ “tàng tượng” thấy ở thiên Lục Tiết Tàng Tượng Luận của Tố Vấn, là chỉ những hiện tượng sinh lư, bệnh lư của tạng phủ ẩn tàng bên trong mà biểu hiện ra bên ngoài. Đúng như Trương Giới Tân chú rằng:
(Tượng, h́nh tượng dă. Tàng cư ư nội, h́nh hiện ư ngoại, cố viết tàng tượng.)
“Tượng” nghĩa là h́nh tượng. Tạng ở bên trong, h́nh hiện ra bên ngoài, cho nên gọi là tàng tượng. Câu này giải thích rất rơ rằng “tàng” là phần ẩn bên trong, c̣n “tượng” là cái biểu hiện lộ ra ngoài có thể quan sát được.
Học thuyết tàng tượng là học thuyết nghiên cứu h́nh thái cấu trúc, đặc tính sinh lư, biến hóa bệnh lư và mối quan hệ lẫn nhau của tạng phủ, kinh mạch, h́nh thể, quan khiếu, tinh thần, khí huyết, tân dịch trong cơ thể người, cùng mối liên hệ của chúng với hoàn cảnh ngoại giới. Nó là hạt nhân trong hệ thống lư luận của Nội Kinh. Nền tảng triết học của nó là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng; phương pháp cơ bản của nó là thông qua việc quan sát, phân tích những hiện tượng sinh lư, triệu chứng bệnh lư và thể chinh biểu lộ ra bên ngoài để phán đoán những biến hóa sinh lư và bệnh lư ở bên trong. V́ vậy, “tàng” chính là tạng phủ, kinh lạc, tinh thần, khí huyết, tân dịch cùng những hoạt động biến hóa của chúng được ẩn giấu bên trong; c̣n “tượng” chính là những dấu hiệu hoặc h́nh tượng mà “tàng” phản ánh ra bên ngoài, và những “tượng” này chính là căn cứ để Trung y tiến hành biện chứng phân tích.
Nguồn gốc của lư luận tàng tượng trong Nội Kinh chủ yếu đến từ sự thể nghiệm đời sống lặp đi lặp lại và thực tiễn y liệu lâu dài của con người. Do phương pháp nhận thức của nó là từ “tượng” mà đo “tàng”, nên tạng phủ trong học thuyết tàng tượng không thể đem so sánh ngang với tạng khí trong Tây y học. Ngoài ra, học thuyết tàng tượng của Nội Kinh c̣n tập trung thể hiện chỉnh thể quan của Trung y học; chỉnh thể quan chính là đặc điểm nổi bật nhất của học thuyết tàng tượng trong Nội Kinh, cụ thể biểu hiện ở hai phương diện: tính chỉnh thể của cơ thể con người và mối liên hệ mật thiết giữa cơ thể con người với hoàn cảnh tự nhiên. Nội Kinh cho rằng con người là một chỉnh thể thống nhất; tạng với tạng, tạng với phủ, phủ với phủ đều liên hệ chặt chẽ với nhau về mặt sinh lư công năng. Lấy ngũ tạng làm hạt nhân, chúng tương hỗ điều ḥa với nhau để duy tŕ sự ổn định tương đối của môi trường nội tại. Ngũ tạng lại có mối liên hệ xác định với h́nh thể và các loại quan khiếu, sự hoạt động sinh lư của ngũ tạng cũng có liên quan mật thiết tới tinh thần t́nh chí, từ đó cấu thành nên hệ thống ngũ tạng làm trung tâm, bao gồm cả các nhân tố khác có liên hệ chặt với ngũ tạng như lục phủ, h́nh thể, các khiếu, tinh thần t́nh chí v.v. Xa hơn nữa, Nội Kinh cho rằng con người sống trong tự nhiên giới, cho nên hoàn cảnh nội tại của cơ thể và hoàn cảnh ngoại tại cũng là một chỉnh thể thống nhất, từ đó cấu thành nên một hệ thống lớn hơn là hệ thống thiên nhân. Có thể nói, học thuyết tàng tượng của Nội Kinh chính là sự nhận thức về quy luật vận động biến hóa của hệ thống ngũ tạng và hệ thống thiên nhân. Do học thuyết tàng tượng có khả năng quan sát và nắm bắt động thái biến hóa chỉnh thể của sinh lư và bệnh lư cơ thể người, nên nó có những ưu thế đặc thù riêng.
Do điều kiện lịch sử hạn chế, sự quan sát và nhận biết của Nội Kinh đối với h́nh thái tổ chức của cơ thể người c̣n khá thô lược; nhưng những nhận thức về kết cấu cơ thể và hoạt động sinh mệnh mà nó tổng kết được thông qua mối liên hệ rộng khắp giữa sinh lư và bệnh lư cơ thể, cũng như qua sự kiểm chứng lâm sàng lâu dài, lại khá sâu sắc. Linh Khu, thiên Bản Tạng nói:
(Thị kỳ ngoại ứng, dĩ tri kỳ nội tạng, tắc tri sở bệnh hĩ.) nghĩa là
Xem cái ứng hiện ra bên ngoài để biết tạng ở bên trong, th́ sẽ biết được chỗ bệnh. Câu này nêu rơ phương pháp nhận thức đặc trưng của học thuyết tàng tượng: không nhất thiết phải nh́n trực tiếp được cơ quan bên trong, mà có thể dựa vào biểu hiện bên ngoài để biết được t́nh trạng bên trong.
Điều đó cho thấy con người dù không phải lúc nào cũng có thể trực tiếp, tinh vi mà quan sát được các khí quan, tổ chức, nhưng vẫn có thể thông qua những hiện tượng có liên quan đến chúng mà gián tiếp nắm bắt được. Nội Kinh chính là thông qua phương pháp quan sát biểu hiện ở ngoài để đo biết t́nh trạng nội tạng bên trong, từ đó nắm bắt biến hóa của các tổ chức khí quan bên trong cơ thể và xác lập công năng cùng mối liên hệ của chúng với nhau. Học thuyết tàng tượng của Nội Kinh lấy tâm, can, tỳ, phế, thận năm tạng làm trung tâm, lấy kinh lạc làm thông đạo liên hệ, lấy hoạt động của khí huyết tinh thần làm cơ sở, từ đó liên kết tạng phủ ở bên trong với h́nh thể quan khiếu, tóc lông ở bên ngoài, h́nh thành nên một chỉnh thể hữu cơ lấy ngũ tạng làm trung tâm và ứng với âm dương bốn mùa bên ngoài, đồng thời được chia thành năm hệ thống sinh lư lớn.
Xét trên bản thân cơ thể người, học thuyết tàng tượng của Nội Kinh đem các kết cấu tổ chức ở các tầng cấp khác nhau trong cơ thể cùng với các loại vật chất cơ bản và hoạt động công năng liên quan lần lượt quy thuộc vào năm hệ thống lớn ấy. Trong toàn bộ hoạt động sinh mệnh, năm hệ thống lớn này ảnh hưởng lẫn nhau theo pháp tắc âm dương ngũ hành, đồng thời lấy “tâm” — cái chủ tŕ hoạt động tinh thần và sự vận hành của huyết mạch — làm chủ tể tối cao, từ đó thực hiện được sự cân bằng điều ḥa và thống nhất ở mức cao giữa các hệ thống. Hoạt động công năng được điều ḥa và thống nhất cao độ của tạng phủ, kinh lạc, tinh khí thần trong cơ thể người sẽ được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các hiện tượng sinh lư hoặc bệnh lư khác nhau; và chính những biểu hiện ấy lại trở thành căn cứ khách quan để con người nhận thức xem hoạt động của các tạng khí, tổ chức và công năng bên trong có được điều ḥa b́nh thường hay không.
Học thuyết tàng tượng của Nội Kinh c̣n càng đặt nền trên chỉnh thể quan “thiên nhân tương ứng”, cho rằng hoạt động sinh mệnh của cơ thể người, bao gồm cả công năng của tạng phủ, kinh lạc, doanh vệ, khí huyết, đều phải thích ứng với biến hóa của âm dương và ngũ khí trong bốn mùa của tự nhiên giới, và v́ thế tồn tại các loại nhịp điệu chu kỳ tương ứng. Như Tố Vấn, thiên Lục Tiết Tàng Tượng Luận chỉ ra:
(Tâm giả sinh chi bản…… vi dương trung chi thái dương, thông ư hạ khí; Phế giả khí chi bản…… vi dương trung chi thái âm, đương tác thiếu âm, thông ư thu khí; Thận giả chủ chập, phong tàng chi bản…… vi âm trung chi thiếu âm, đương tác thái âm, thông ư đông khí; Can giả băi cực chi bản…… vi dương trung chi thiếu dương, đương tác âm trung chi thiếu dương, thông ư xuân khí; Tỳ giả thương lẫm chi bản…… thử chí âm chi loại, thông ư thổ khí.)
Tâm là gốc của sinh… là thái dương ở trong dương, thông với khí mùa hạ; phế là gốc của khí… là thiếu âm ở trong dương, thông với khí mùa thu; thận là gốc của sự ẩn tàng, bế tàng… là thái âm ở trong âm, thông với khí mùa đông; can là gốc của sức chịu đựng, co duỗi… là thiếu dương ở trong âm, thông với khí mùa xuân; tỳ là gốc của kho lẫm… thuộc loại chí âm, thông với thổ khí. Đoạn này cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa hoạt động công năng của tạng phủ trong cơ thể với âm dương ngũ khí của bốn mùa, đồng thời cũng chỉ ra ư nghĩa chân thực của việc dùng thuộc tính ngũ hành để khái quát đặc điểm sinh lư của ngũ tạng.

Học thuyết tàng tượng
Học thuyết tàng tượng giữ địa vị đặc biệt quan trọng trong Nội Kinh, là hạt nhân của toàn bộ hệ thống lư luận Nội Kinh. Những thiên chuyên luận hoặc chủ luận về tàng tượng trong Nội Kinh gồm có ở Tố Vấn: Linh Lan Bí Điển Luận, Lục Tiết Tàng Tượng Luận, Ngũ Tạng Sinh Thành Luận, Ngũ Tạng Biệt Luận, Kinh Mạch Biệt Luận, Thái Âm Dương Minh Luận, Giải Tinh Vi Luận; và ở Linh Khu: Bản Thần, Cốt Độ, Ngũ Thập Doanh, Doanh Khí, Mạch Độ, Doanh Vệ Sinh Hội, Quyết Khí, Trường Vị, B́nh Nhân Tuyệt Cốc, Hải Luận, Ngũ Lung Tân Dịch Biệt, Bản Tạng, Thiên Niên, Âm Dương Nhị Thập Ngũ Nhân, Tà Khách, Thông Thiên, Vệ Khí Hành, Đại Hoặc Luận v.v.
Học thuyết kinh lạc
Học thuyết kinh lạc là học thuyết nghiên cứu h́nh thái cấu trúc, đường lối tuần hành, công năng sinh lư, biến hóa bệnh cơ của hệ thống kinh lạc trong cơ thể người, cùng mối quan hệ tương hỗ giữa kinh lạc với tạng phủ. Học thuyết kinh lạc xuyên suốt nhiều phương diện của Trung y như sinh lư, bệnh lư, chẩn đoán và trị liệu; đối với việc chẩn trị của các lâm sàng khoa đều có ư nghĩa chỉ đạo nhất định, đặc biệt là cơ sở lư luận chủ yếu của các ngành như châm cứu, thôi nă và khí công, cho nên là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống lư luận Nội Kinh. Bởi v́ kinh lạc “nội thuộc ư phủ tạng, ngoại lạc ư chi tiết”, trong hoạt động sinh mệnh là một chỉnh thể không thể tách rời với tạng phủ, cho nên cũng có thể xem học thuyết kinh lạc là một bộ phận quan trọng của học thuyết tàng tượng. Tuy nhiên, kinh lạc là một hệ thống rất lớn, có công năng vận hành khí huyết, liên lạc tạng phủ với h́nh thể quan khiếu, nối liền trong ngoài trên dưới (biểu lư thượng hạ) nội ngoại, cảm ứng truyền đạo, điều tiết cân bằng v.v., là một kết cấu tương đối độc lập, cùng với tạng phủ khí quan tạo thành nền tảng cho hoạt động sinh mệnh của cơ thể người. Nội Kinh cho rằng kinh lạc liên quan đến “sở dĩ nhân chi sinh, bệnh chi sở thành, nhân chi sở trị, bệnh chi sở khởi, học chi sở thủy, công chi sở chỉ”, có thể “quyết tử sinh, xử bách bệnh, điều hư thực”, cho nên từ xưa đến nay luôn được giới y gia đặc biệt coi trọng và tách riêng thành một trong những bộ phận cấu thành của hệ thống lư luận Nội Kinh.
(Nội thuộc ư phủ tạng, ngoại lạc ư chi tiết.)
Bên trong th́ thuộc về phủ tạng, bên ngoài th́ liên lạc đến tay chân, khớp xương. Câu này nhấn mạnh tính liên hệ trong ngoài của hệ thống kinh lạc, nối liền nội tạng với h́nh thể bên ngoài.
(Nhân chi sở dĩ sinh, bệnh chi sở dĩ thành, nhân chi sở dĩ trị, bệnh chi sở dĩ khởi, học chi sở thủy, công chi sở chỉ.)
Đó là cái làm cho con người có thể sống, bệnh có thể h́nh thành, con người được trị, bệnh phát sinh, là chỗ bắt đầu của học và là chỗ dừng lại của nghề. Câu này cho thấy kinh lạc là nền tảng cực kỳ quan trọng trong sinh lư, bệnh lư, chẩn trị và học thuật y học.
(Quyết tử sinh, xử bách bệnh, điều hư thực.)
Quyết định sống chết, xử lư trăm bệnh, điều chỉnh hư thực. Câu này nhấn mạnh công năng then chốt của kinh lạc trong chẩn đoán và điều trị.
Tuy bản chất của kinh lạc cho đến nay vẫn chưa thật rơ ràng, nhưng lư luận kinh lạc từ lâu đă được dùng rộng răi để chỉ đạo thực tiễn lâm sàng của các khoa trong Trung y, có ư nghĩa vô cùng quan trọng. Đúng như Lư Đĩnh đời Minh đă nói:
(Y giả bất minh kinh lạc, do nhập dạ hành vô chúc.)
Người làm nghề y mà không hiểu kinh lạc, cũng giống như đi đêm mà không có đèn. Câu này đề cao tầm quan trọng căn bản của kinh lạc đối với việc học và hành y.
Hệ thống kinh lạc bao gồm ba bộ phận: kinh mạch, lạc mạch và du huyệt. Kinh mạch lại chia thành mười hai chính kinh và kỳ kinh bát mạch; lạc mạch th́ chia làm ba loại là biệt lạc, phù lạc và tôn lạc. Biệt lạc tương đối lớn, tổng cộng có mười lăm đường; đó là những đường từ bản kinh tách ra đi sang kinh lân cận, có tác dụng tăng cường sự liên hệ và điều tiết giữa hai kinh biểu lư âm dương. Phù lạc là các lạc mạchphù hành ngoài mặt cơ thể, mắt thường có thể nh́n thấy. Tôn lạc th́ là những nhánh nhỏ mảnh nhất của lạc mạch. Du huyệt, cũng gọi là khí huyệt, là những lỗ huyệt mà nguyên chân chi khí của cơ thể xuất nhập, 输注(truyền vào) trên đường tuần hành của kinh lạc. Nội Kinh cho rằng cơ thể người có 365 du huyệt để ứng với số của chu thiên之數, tuy trên thực tế trong sách chỉ ghi lại 328 huyệt; về sau qua không ngừng phát triển và bổ sung, sách Châm Cứu Học cận đại đă ghi tới 670 huyệt.
Ngoài ra c̣n có mười hai kinh biệt, mười hai kinh cân và mười hai b́ bộ. Mười hai kinh biệt là các chính kinh tách riêng ra từ mười hai kinh mạch, khá giống với biệt lạc; mười hai kinh cân là hệ thống gân thịt và xương cốt được liên kết trên đường tuần hành của mười hai kinh mạch, chủ việc vận động của khớp; c̣n mười hai b́ bộ là những khu vực phản ứng đặc thù của da ngoài cơ thể tương ứng với kinh mạch. Ba loại vừa nói trên v́ vị trí cơ bản nhất trí với đường đi của mười hai kinh mạch, nên đều thống thuộc về mười hai kinh mạch, và tên gọi cũng giống như mười hai kinh mạch.
Những thiên chủ yếu bàn về kinh lạc trong Nội Kinh gồm ở Tố Vấn: Âm Dương Ly Hợp Luận, Huyết Khí H́nh Chí, B́ Bộ Luận, Kinh Lạc Luận, Khí Huyệt Luận, Khí Phủ Luận, Cốt Không Luận; và ở Linh Khu: Cửu Châm Thập Nhị Nguyên, Bản Du, Căn Kết, Kinh Mạch, Kinh Biệt, Kinh Thủy, Kinh Cân, Mạch Độ, Tứ Thời Khí, Nghịch Thuận Ph́ Sấu, Âm Dương Thanh Trọc, Bối Du, Vệ Khí, Động Du v.v.
Học thuyết bệnh nhân và bệnh cơ
Bệnh nhân là các nguyên nhân khác nhau gây nên bệnh tật nơi cơ thể người. Học thuyết bệnh nhân là học thuyết nghiên cứu loại h́nh, tính chất, điều kiện sinh ra và tồn tại, đặc điểm gây bệnh và biểu hiện lâm sàng của các loại yếu tố gây bệnh.
Học thuyết bệnh nhân của Nội Kinh đă thoát khỏi tư tưởng mê tín quỷ thần gây bệnh, mà được xây dựng trên cơ sở lấy chỉnh thể quan “con người tương tham với trời đất” làm chỉ đạo, đồng thời lấy các học thuyết như âm dương ngũ hành, tàng tượng, kinh lạc làm nền tảng lư luận. V́ vậy, nó có hai đặc điểm lớn.
Thứ nhất, căn cứ vào quan điểm con người và tự nhiên thống nhất, mà t́m kiếm yếu tố gây bệnh từ trong hoàn cảnh sinh hoạt và sản xuất của con người. Những yếu tố ấy, dù là thái quá hay bất cập, đều có thể làm cơ thể phát bệnh. Nguyên nhân khiến con người mắc bệnh là rất nhiều mặt, như cảm thụ ngoại tà, thất điều t́nh chí, ăn uống thất tiết, sinh hoạt nghỉ ngơi thất thường, lao dật thất độ, té ngă chấn thương v.v. Trong đó, nguyên nhân ngoại cảm từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể, thuộc dương; nguyên nhân nội thương từ bên trong sinh ra, thuộc âm.
Thứ hai, phương pháp lâm sàng để xác định bệnh nhân không phải là “tận mắt nh́n thấy” tà khí hay nguyên nhân, mà là căn cứ vào nguyên lư của học thuyết tàng tượng, “thẩm chứng” rồi “cầu nhân”. Nội Kinh cho rằng do các yếu tố gây bệnh khác nhau, nên đặc điểm gây bệnh cũng khác nhau, và biểu hiện chứng hậu theo đó cũng không giống nhau. Bởi vậy, trên lâm sàng có thể thông qua việc phân tích tổng hợp các biểu hiện bệnh biến của người bệnh để xác định bệnh nhân, lấy đó làm một trong những căn cứ để trị liệu. Đây chính là điều mà đời sau gọi là “thẩm chứng cầu nhân” và “thẩm nhân luận trị”.
(Thẩm chứng cầu nhân.)
Xét kỹ chứng trạng để t́m nguyên nhân gây bệnh. Đây là phương pháp nhận định bệnh nhân từ biểu hiện lâm sàng.
(Thẩm nhân luận trị.)
Xét rơ nguyên nhân rồi mới bàn phép trị. Câu này nhấn mạnh điều trị phải có căn cứ từ bệnh nhân đă được xác định.
Bệnh cơ là cơ chế phát sinh, phát triển và truyền biến của bệnh tật, tức là cơ chế mà sau khi yếu tố gây bệnh tác động lên cơ thể th́ cơ thể phát sinh một loạt phản ứng đáp ứng. Cái gọi là “biện chứng” chính là quá tŕnh thăm ḍ loại cơ chế này, cho nên bệnh cơ là căn cứ chủ yếu để thầy thuốc điều trị bệnh. “Bệnh cơ” là thứ luôn vận động biến đổi, nhưng cũng có tính ổn định tương đối; có tính ổn định th́ mới có thể lập phương điều trị được.
(Cơ giả, xu cơ dă.)
“Cơ” chính là then chốt, đầu mối vận động. Câu này giải thích chữ “cơ” trong “bệnh cơ”, nhấn mạnh rằng bệnh cơ là mấu chốt vận động, biến hóa của bệnh.
Nội dung của bệnh cơ bao gồm sự phát bệnh, biến hóa bệnh lư, sự truyền biến của bệnh v.v. Những nội dung ấy lại chia thành hai loại lớn: một là cơ chế tổng quát của các loại bệnh, như điều kiện phát bệnh, thất điều âm dương, biến hóa hư thực, bệnh cơ của tạng phủ kinh lạc, quy luật truyền biến của bệnh v.v.; hai là cơ lư cụ thể của từng loại bệnh chứng, từng loại chứng hậu riêng biệt.
Học thuyết bệnh nhân bệnh cơ của Nội Kinh trước hết nhấn mạnh rằng yếu tố nội tại của chính cơ thể là then chốt, cho rằng trong hai phương diện chính và tà th́ chính khí giữ vai tṛ quyết định. Mạnh hay yếu của chính khí không chỉ quyết định có phát bệnh hay không, mà c̣n quyết định mức độ nặng nhẹ của bệnh, tính chất hư thực và xu thế biến hóa chuyển归 của bệnh. Nhưng đồng thời, Nội Kinh cũng không xem nhẹ tác dụng của ngoại nhân; sự phát sinh và phát triển của đa số bệnh tật đều là kết quả của sự kết hợp giữa nội và ngoại. Xuất phát từ hai quan điểm cơ bản là: cơ thể người là một chỉnh thể thống nhất lấy tạng phủ làm hạt nhân, và hoạt động sinh mệnh của cơ thể người tất phải không ngừng điều ḥa với hoàn cảnh tự nhiên, Nội Kinh trong khi phân tích bệnh cơ vừa nhấn mạnh địa vị quan trọng của ngũ tạng lục phủ trong quá tŕnh bệnh biến, vừa coi trọng mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố tự nhiên như thời tiết thay đổi, khí hậu biến hóa với quá tŕnh bệnh biến.
Những thiên chuyên luận hoặc chủ luận về bệnh nhân bệnh cơ trong Nội Kinh gồm ở Tố Vấn: Sinh Khí Thông Thiên Luận, Ngọc Cơ Chân Tạng Luận, Tạng Khí Pháp Thời Luận, Nghịch Điều Luận, Khí Quyết Luận, Cử Thống Luận, Mạch Giải, Điều Kinh Luận, Tiêu Bản Bệnh Truyền Luận; và ở Linh Khu: Tà Khí Tạng Phủ Bệnh H́nh, Ngũ Tà, Ngũ Loạn, Bệnh Truyền, Thuận Khí Nhất Nhật Phân Vi Tứ Thời, Ngũ Biến, Bản Tạng, Luận Dũng, Luận Thống, Tặc Phong, Ngũ Vị Luận, Cửu Cung Bát Phong, Tuế Lộ Luận v.v.
Học thuyết bệnh chứng
“Bệnh chứng” mà Nội Kinh bàn đến có ba hàm nghĩa khác nhau. Thứ nhất là chỉ bệnh tật, tức một quá tŕnh bệnh lư có h́nh thức biểu hiện nhất định; sự phát sinh, phát triển, biến hóa và biểu hiện triệu chứng của mỗi loại bệnh đều có một quy luật đặc thù nhất định, như động kinh v.v. Thứ hai là chỉ triệu chứng, tức những cảm giác chủ quan bất thường của người bệnh và những biến đổi bất thường mà thầy thuốc phát hiện được khi khám bệnh, như ho, đau đầu, phát sốt, phù thũng v.v. Thứ ba là chỉ một loại bệnh lấy một triệu chứng nào đó làm chủ chứng, như nhiệt bệnh, nuy chứng v.v. Những bệnh chứng kể trên, lại căn cứ theo bệnh nhân bệnh cơ mà quy thuộc vào các loại biện chứng như nội thương, ngoại cảm, ngũ tạng lục phủ, kinh mạch v.v. Chẳng hạn, nhiệt bệnh th́ có loại nhiệt do phong hàn ngoại cảm và loại nhiệt do t́nh chí nội thương hoặc âm dương thiên về dư thừa; khái chứng th́ có ngũ tạng khái và lục phủ khái; quyết chứng th́ có lục kinh chi quyết, thập nhị kinh chi quyết v.v. Tất cả những điều ấy đều thể hiện đặc điểm cơ bản của phép biện chứng luận trị trong Trung y.

Nội dung học thuyết bệnh chứng của Nội Kinh cực kỳ phong phú, bàn luận rộng răi về bệnh cơ, triệu chứng cũng như phép pḥng trị của nhiều loại bệnh chứng khác nhau. Những bệnh chứng được ghi chép trong Nội Kinh có hơn 180 loại; có loại được chuyên thiên luận thuật, có loại lại tản kiến trong nhiều thiên khác nhau. Đối với từng loại bệnh chứng, Nội Kinh đều tiến hành giới thiệu một cách hệ thống mà vắn tắt về bệnh nhân bệnh cơ, triệu chứng lâm sàng, phân loại chẩn đoán, trị tắc trị pháp, tiên lượng và dự pḥng v.v. Những bệnh chứng ấy phản ánh tŕnh độ nhận thức của con người đương thời đối với bệnh tật. Tuy trong đó có những phân tích và lư giải đối với một số bệnh chứng vẫn chưa thật đầy đủ, nhưng không ít nội dung trong đó vẫn có tác dụng gợi mở và ư nghĩa chỉ đạo thực tế đối với việc nâng cao tŕnh độ lư luận Trung y và biện chứng luận trị.
Về lư luận bệnh tật trong Nội Kinh, có rất nhiều tên bệnh vẫn được tiếp tục sử dụng cho đến ngày nay. Tuy sự phân tích và lư giải của Nội Kinh về một số bệnh chứng có chỗ không hoàn toàn nhất chí với đời sau, nhưng đối với một số bệnh chứng, Nội Kinh đă có sự giới thiệu khá hệ thống về bệnh nhân, bệnh cơ, triệu chứng, chẩn đoán, trị tắc và trị pháp, đủ làm khuôn phép cho hậu nhân noi theo. V́ vậy, từ xưa đến nay nó luôn được giới y gia coi trọng, là nền tảng để đời sau phát triển, và cho đến hôm nay vẫn c̣n mang ư nghĩa chỉ đạo hết sức quan trọng.

Học thuyết chẩn pháp

Từ “chẩn pháp” thấy ở thiên Mạch Yếu Tinh Vi Luận của Tố Vấn, là chỉ các thủ đoạn và phương pháp để chẩn sát bệnh tật, dùng để chẩn đoán bệnh, phán đoán sự truyền biến và đo biết tiên lượng. Nói cách khác, đó là những phương pháp dùng cảm quan của thầy thuốc — thị giác, khứu giác, thính giác, xúc giác — cùng với việc đàm thoại ngôn ngữ để thu thập tư liệu bệnh t́nh; bao gồm bốn mặt là vọng, văn, vấn, thiết, thường gọi chung là “tứ chẩn”. Những tư liệu thu được nhờ phương pháp này sẽ được phân tích, quy nạp bằng các lư luận như âm dương, ngũ hành, tàng tượng, kinh lạc, bệnh nhân, bệnh cơ, từ đó trở thành căn cứ của biện chứng luận trị. Những tư liệu bệnh t́nh mà “tứ chẩn” thu thập được có toàn diện và chân thực hay không sẽ trực tiếp liên hệ đến độ chính xác của việc biện chứng và chất lượng hiệu quả của điều trị. Bởi vậy, “tứ chẩn” chính là công phu cơ bản của mỗi người làm lâm sàng Trung y.
Chẩn pháp mà Nội Kinh luận述 là một hệ thống phương pháp độc đáo dùng để chẩn đoán bệnh tật, được tổng kết ra từ quá tŕnh quan sát lâu dài các hiện tượng sinh lư, bệnh lư, cùng với lượng lớn thực tiễn lâm sàng; nó bao gồm hai phương diện là quan sát bệnh t́nh và phân tích bệnh t́nh, tức biện chứng. Căn cứ lư luận của nó là “chỉnh thể quan”, “tri thường đạt biến” và “tư ngoại suy nội”. Bởi v́ con người là một chỉnh thể hữu cơ có sự thống nhất rất cao giữa trong và ngoài, cho nên bệnh biến bên trong thường có thể thông qua kinh lạc mà biểu hiện ra quan khiếu hoặc tổ chức thể biểu, tức là “hữu chư nội tất h́nh chư ngoại”, v́ thế thầy thuốc có thể “xét cái ngoài mà biết cái trong”.
(Hữu chư nội tất h́nh chư ngoại.)
Cái ǵ có ở bên trong th́ tất sẽ hiện ra ở bên ngoài. Câu này nói lên nguyên lư căn bản của chẩn đoán Trung y: biến hóa nội tại tất sẽ có dấu hiệu phản ánh ra ngoài.
(Sát kỳ ngoại nhi tri kỳ nội.)
Xét cái biểu hiện bên ngoài mà biết được t́nh trạng bên trong. Đây là phương pháp nhận thức chủ yếu của chẩn pháp trong Trung y.
Những biểu hiện bệnh biến được “tứ chẩn” thu thập từ bốn phương diện tất nhiên mỗi mặt đều có tính phiến diện riêng; chỉ khi phối hợp,tham khảo tổng hợp(参合) lẫn nhau, mới có thể hiểu được bệnh t́nh một cách toàn diện và có hệ thống, từ đó đưa ra phán đoán sát hợp với thực tế. Đó chính là cái gọi là “tứ chẩn hợp tham”.
(Tứ chẩn hợp tham.)
Đem bốn phép chẩn là vọng, văn, vấn, thiết phối hợp tham chiếu với nhau. Đây là nguyên tắc quan trọng để tránh sai lệch khi chẩn đoán.
“Tri thường đạt biến” là phương pháp cụ thể của chẩn đoán. Nghĩa là muốn biết được cái khác thường của bệnh biến th́ trước tiên phải biết rơ cái b́nh thường của sinh lư; v́ thế, học chẩn pháp nhất thiết phải gắn chặt với học thuyết tàng tượng và kinh lạc.
(Tri thường đạt biến.)
Biết cái thường th́ mới hiểu được cái biến. Câu này nhấn mạnh rằng chẩn đoán bệnh tật phải lấy hiểu biết về sinh lư b́nh thường làm cơ sở.
Nội dung chẩn pháp trong Nội Kinh vô cùng phong phú, vừa có những thiên chuyên luận, vừa tản thấy trong nhiều thiên văn có liên quan khác. Thực tế đă chứng minh rằng vào thời kỳ Nội Kinh thành sách, các y gia cổ đại vô cùng coi trọng chẩn pháp, đă tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm và đạt được những thành tựu to lớn. Do điều kiện lịch sử hạn chế, một số chẩn pháp trong Nội Kinh ngày nay trên lâm sàng đă ít được sử dụng, c̣n có những thủ đoạn chẩn đoán cũng đă được cải tiến rất nhiều; nhưng những lư luận và phương pháp cơ bản của nó vẫn luôn được đời sau noi theo, đồng thời c̣n đặt nền móng cho sự phát triển của chẩn đoán học Trung y. V́ vậy, vẫn rất cần thiết phải kế thừa và nghiên cứu.
Những thiên chuyên luận hoặc chủ luận về chẩn pháp trong Nội Kinh gồm ở Tố Vấn: Âm Dương Biệt Luận, Di Tinh Biến Khí Luận, Ngọc Bản Luận Yếu, Mạch Yếu Tinh Vi Luận, B́nh Nhân Khí Tượng Luận, Ngọc Cơ Chân Tạng Luận, Tam Bộ Cửu Hậu Luận, Thông B́nh Hư Thực Luận, Đại Kỳ Luận, Trước Chí Giáo Luận, Thị Ṭng Dung Luận, Sơ Ngũ Quá Luận, Chinh Tứ Thất Luận, Âm Dương Loại Luận, Phương Thịnh Suy Luận; và ở Linh Khu: Tà Khí Tạng Phủ Bệnh H́nh, Sư Truyền, Ngũ Ngũ Sứ, Ngoại Suy, Cấm Phục, Ngũ Sắc, Luận Tật Chẩn Xích v.v.

Học thuyết luận trị
Học thuyết luận trị bao gồm nguyên tắc điều trị, lư luận trị pháp và các loại liệu pháp khác nhau. Tố Vấn, thiên Di Tinh Biến Khí Luận chỉ ra:
(Trị chi yếu cực, vô thất sắc mạch, dụng chi bất hoặc, trị chi đại tắc.)
Điều cốt yếu bậc nhất của việc trị bệnh là không được sai lầm về sắc và mạch; dùng được đúng mà không mê hoặc, đó là đại pháp tắc của trị liệu. Câu này cho thấy điều trị bệnh tật nhất thiết phải lấy chẩn đoán chính xác làm tiền đề.
Học thuyết luận trị của Nội Kinh nhấn mạnh rằng phải lấy chỉnh thể quan làm nền tảng, lấy lư luận “tứ thời ngũ tạng âm dương” làm chỉ đạo, vừa coi trọng nguyên nhân dẫn đến bệnh, vừa coi trọng cơ chế biến hóa của bệnh; đồng thời phải căn cứ vào thời令 mùa tiết, biến hóa khí hậu, điều kiện địa lư cũng như sự khác biệt cá thể v.v., rồi trên tiền đề phân biệt âm dương, biểu lư, hàn nhiệt, hư thực mà tiến hành biện chứng luận trị.
Trị tắc là nguyên tắc tổng quát để chữa bệnh được xác lập dưới sự chỉ đạo của chỉnh thể quan và tư tưởng biện chứng luận trị; c̣n trị pháp là phương pháp điều trị cụ thể được拟定 dưới sự chỉ đạo của trị tắc, căn cứ theo kết quả chẩn đoán mà xây dựng. Những trị tắc mà Nội Kinh bàn tới chủ yếu gồm có: trị bệnh cầu bản, tam nhân chế nghi, điều lư âm dương,扶正祛邪, tiêu bản tiên hậu, nhân thế lợi đạo, trị liệu sớm v.v. Dưới sự chỉ đạo của những trị tắc ấy, Nội Kinh đă nêu ra rất nhiều trị pháp; riêng trong Tố Vấn, thiên Chí Chân Yếu Đại Luận đă liệt kê mười bảy pháp chính trị và bốn pháp phản trị.
(Phù chính khư tà.): Nâng đỡ chính khí, khu trừ tà khí. Đây là một nguyên tắc điều trị rất căn bản của Trung y.
Đối với các loại liệu pháp khác nhau, Nội Kinh đă ghi chép rất nhiều biện pháp trị liệu hữu hiệu, như biếm thạch, châm thích, cứu炳, dược vật, hun rửa, thuốc chườm, thuốc đắp, xoa bóp, đạo dẫn, phẫu thuật, ẩm thực và liệu pháp tinh thần v.v.; ngay cả phương pháp chăm sóc cũng có bàn đến. Trong đó, riêng châm thích liệu pháp là được tŕnh bày đặc biệt đầy đủ, giữ địa vị cực kỳ quan trọng trong Nội Kinh. Chỉ riêng phép châm đă có hơn hai mươi loại, mà châm thích gần như được dùng để trị liệu hầu hết các loại bệnh, từ đó đặt nền tảng vững chắc cho sự phát triển của châm cứu học đời sau.

Lư luận chế phương trong Nội Kinh tuy có ghi chép khá tường tận, như việc提出 pháp độ tổ phương “quân, thần, tá, sứ”, xác lập các nguyên tắc tổ phương như hoăn phương, cấp phương, kỳ phương, ngẫu phương, đại phương, tiểu phương, lại c̣n luận thu kỹ phép phối phương trong bổ tả sáu khí dâm thắng và ngũ tạng sở dục, nhưng số lượng phương tễ thực tế được ghi chép trong Nội Kinh lại rất ít; toàn bộ sách kể cả phương thất lạc cũng chỉ có mười ba phương nhỏ.(Quân, thần, tá, sứ.)
Đây là nguyên tắc tổ phương cơ bản của Trung y: quân dược giữ vai tṛ chủ đạo, thần dược phụ trợ quân, tá dược hỗ trợ hoặc điều ḥa, sứ dược dẫn thuốc và điều ḥa toàn phương.
Những thiên có liên quan đến học thuyết luận trị trong Nội Kinh gồm ở Tố Vấn: Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận, Dị Pháp Phương Nghi Luận, Di Tinh Biến Khí Luận, Thang Dịch Lao Lễ Luận, Ngọc Bản Luận Yếu, Bát Chính Thần Minh Luận, Tiêu Bản Bệnh Truyền Luận, Chí Chân Yếu Đại Luận, Ngũ Thường Chính Đại Luận; và ở Linh Khu: Sư Truyền, Ngũ Loạn, Nghịch Thuận Ph́ Sấu, Ngũ Vị, Nghịch Thuận v.v. Những thiên chuyên luận hoặc chủ luận về phép châm刺 th́ có ở Tố Vấn: Chẩn Yếu Kinh Chung Luận, Bảo Mệnh Toàn H́nh Luận, Bát Chính Thần Minh Luận, Ly Hợp Chân Tà Luận, Thích Yếu Luận, Thích Tề Luận, Thích Cấm Luận, Thích Chí Luận, Châm Giải, Trường Thích Tiết Luận, Thủy Nhiệt Huyệt Luận, Điều Kinh Luận, Mậu Thích Luận, Tứ Thời Thích Nghịch Ṭng Luận; và ở Linh Khu: Cửu Châm Thập Nhị Nguyên, Tiểu Châm Giải, Thọ Yểu Cương Nhu, Quan Châm, Chung Thủy, Hàn Nhiệt Bệnh, Nghịch Thuận Ph́ Sấu, Huyết Lạc Luận, Âm Dương Thanh Trọc, Ngoại Suy, Nghịch Thuận, Ngọc Bản, Ngũ Cấm, Hành Châm, Tà Khách, Quan Năng, Thích Tiết Chân Tà, Cửu Châm Luận v.v.
Học thuyết vận khí
Vận khí, tức là ngũ vận lục khí. Học thuyết vận khí là học thuyết xuất phát từ tiết luật của vũ trụ để thăm ḍ quy luật vận động biến hóa của thiên tượng, khí tượng trong tự nhiên giới, cũng như ảnh hưởng của chúng đối với sinh vật, bao gồm cả con người. Học thuyết vận khí trong Nội Kinh xuyên suốt tư tưởng “thiên địa chi đại kỷ, nhân thần chi thông ứng”, lấy vận động của đại khí trong tự nhiên giới, sự biến hóa của khí hậu và phản ứng mà cơ thể sinh vật, bao gồm cả cơ thể người, sinh ra trước những biến hóa ấy làm cơ sở; lấy ngũ hành, lục khí, tam âm tam dương làm hạt nhân lư luận; lấy can chi và âm dương ngũ hành làm công cụ diễn giải, suy diễn; từ đó thống nhất hiện tượng khí hậu trong tự nhiên với hiện tượng sinh mệnh của sinh vật, thống nhất sự biến hóa khí hậu của tự nhiên với quy luật phát bệnh của con người, và v́ thế mà từ tiết luật của vũ trụ để thăm ḍ mối quan hệ giữa biến hóa khí hậu với sức khỏe và bệnh tật của con người.
(Thiên địa chi đại kỷ, nhân thần chi thông ứng.)
Đây là mối cương kỷ lớn của trời đất và là sự thông ứng giữa con người với thần khí. Câu này nhấn mạnh rằng vận khí học không chỉ bàn chuyện khí hậu đơn thuần, mà là xem xét mối liên hệ lớn giữa quy luật tự nhiên và hoạt động sinh mệnh của con người.
Do biến hóa khí hậu rất phức tạp, mà những nhân tố ảnh hưởng đến khí hậu cũng rất đa dạng, cho nên nội dung của học thuyết vận khí trong Nội Kinh liên quan đến rất nhiều loại tiết律 như vận hành của thiên thể, biến hóa của khí hậu, cũng như sinh lư và bệnh lư của cơ thể người. Xét về ngành học, ngoài y học ra, nó c̣n liên quan đến nhiều phương diện tri thức như thiên văn học cổ đại, khí tượng học, vật hậu học, lịch pháp học, sinh vật học v.v.
Điểm chủ yếu của học thuyết vận khí là nhấn mạnh sự kết hợp giữa “thời” và “khí”. Học thuyết vận khí trong Nội Kinh đặc biệt coi trọng biến hóa theo chu kỳ thời gian. Trong vận động khí hậu hằng năm, thời lệnh mùa tiết và khí hậu biến hóa là đồng bộ với nhau. Nói chung, đến thời điểm nào th́ sẽ xuất hiện loại khí hậu tương ứng với thời điểm ấy; đó là hiện tượng b́nh thường, phản ánh mối quan hệ vận động theo chu kỳ giữa mặt trời, mặt trăng và trái đất, đồng thời nhịp điệu thích ứng của cơ thể người với biến hóa tự nhiên cũng tương ứng với điều đó. Tuy nhiên, các nhân tố ảnh hưởng đến khí hậu là rất đa dạng; các yếu tố không gian và yếu tố mặt đất đều có thể bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu tác động đến biến hóa khí hậu, v́ vậy hiện tượng khí hậu bất thường tất yếu sẽ xuất hiện. Bởi thế, Nội Kinh thường lấy chu kỳ thời gian làm tiêu chuẩn quan trọng để cân nhắc(衡量) xem biến hóa khí hậu có b́nh thường hay không. Như trong Tố Vấn, thiên Lục Vi Chỉ Đại Luận nói:
(Chí nhi chí ḥa, chí nhi bất chí, lai khí bất cập dă; vị chí nhi chí, lai khí hữu dư dă.)
Đến thời mà khí cũng đến th́ là điều ḥa; đến thời mà khí chưa đến th́ là khí đến không đủ; chưa đến thời mà khí đă đến th́ là khí đến quá mức. Câu này cho thấy khi phán đoán khí hậu là b́nh thường hay biến thường, vừa không thể rời thực tế quan sát, lại cũng không thể tách khỏi thời lệnh mùa tiết.
Âm dương ngũ hành với tư cách là quy luật của tự nhiên là lư luận hạt nhân mà học thuyết vận khí dùng để khái quát và giải thích quy luật vận động của thiên thể cùng sự biến hóa của khí tượng. Cái gọi là “ngũ vận” tức là sự vận động của khí ngũ hành; c̣n “lục khí” tức là sự phân chia của khí tam âm tam dương. Ngũ vận đại biểu cho vận động của đại khí đến từ năm phương; lục khí đại biểu cho các yếu tố không gian, có liên hệ trực tiếp với hoạt động của mặt trời. Biến hóa khí hậu là kết quả của nhiều nhân tố tương tác với nhau; ngũ vận lục khí chính là cố gắng liên hệ các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến biến hóa khí hậu ấy lại với nhau để thăm ḍ các quy luật biến hóa của khí hậu.
Học thuyết vận khí là học thuyết vận dụng thiên can địa chi để suy diễn và tính toán. Trong học thuyết vận khí của Nội Kinh, thiên can địa chi không chỉ là kư hiệu để ghi ngày, tháng, năm, mà c̣n lần lượt đại biểu cho khí vận của âm dương ngũ hành. Khí của âm dương ngũ hành tồn tại quan hệ sinh khắc chế hóa; quy luật cang hại thừa chế giữa chúng chính là nền tảng để tự nhiên giới duy tŕ cân bằng. Khí hậu biến迁 qua hàng ức vạn năm vẫn chưa vượt ra ngoài phạm vi mà giới sinh vật có thể thích ứng được, chính là kết quả của việc khí âm dương ngũ hành tương sinh tương chế, không ngừng thay nhau và tương tác lẫn nhau.
Học thuyết vận khí có bối cảnh thiên văn học rất sâu sắc, và có thể t́m thấy những căn cứ khách quan nhất định trong các lĩnh vực như khí tượng, lịch pháp, vật hậu v.v.; đó chính là nền tảng khoa học của nó. Khi vận dụng học thuyết vận khí cần có thái độ đúng đắn, không được sinhứng dụng cứng nhắc搬硬套, bởi v́ biến hóa khí hậu vừa có quy luật chung, lại vừa có quy luật đặc thù riêng. Nội Kinh chỉ ra rằng:
(Thời hữu thường vị, nhi khí vô tất dă.)
Thời th́ có vị trí thường hằng, nhưng khí th́ không nhất định như nhau. Câu này nhắc rằng thời lệnh có thể cố định theo chu kỳ, nhưng khí hậu thực tế th́ vẫn có biến hóa, cho nên không thể máy móc áp đặt.
Chỉ khi “tri thường đạt biến” th́ mới có thể vận dụng đúng học thuyết vận khí. V́ vậy, đối với học thuyết vận khí, cần tránh cả hai thái độ: khẳng định tuyệt đối hoặc phủ định tuyệt đối.
Nội dung của học thuyết vận khí được chép một cách hệ thống và hoàn chỉnh trong bảy thiên đại luận của Tố Vấn, tức là: Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận, Ngũ Vận Hành Đại Luận, Lục Vi Chỉ Đại Luận, Khí Giao Biến Đại Luận, Ngũ Thường Chính Đại Luận, Lục Nguyên Chính Kỷ Đại Luận, Chí Chân Yếu Đại Luận; ngoài ra c̣n có hai thiên Thích Pháp Luận, Bản Bệnh Luận và một phần nội dung trong Lục Tiết Tàng Tượng Luận. Những nội dung này tuy được cho là do Vương Băng và hậu nhân bổ nhập, nhưng đă trở thành bộ phận không thể thiếu của Nội Kinh.
Trên đây là phần giới thiệu khái lược về những nội dung học thuật chủ yếu của Nội Kinh. Do khuôn khổ sách có hạn, không thể bàn khắp mọi mặt, cho nên trong các bài giảng sau chúng ta sẽ chọn những điểm trọng yếu mà thuật lại.

Phương pháp học Nội Kinh
Nội Kinh đă luận述 tương đối toàn diện và có hệ thống về hệ thống lư luận cũng như tư tưởng học thuật của Trung y, nên là sách bắt buộc phải đọc khi học Trung y. Nhưng văn chương của Nội Kinh phần nhiều xuất phát từ thời Tần Hán, niên đại thành sách đă rất lâu xa, văn từ cổ奥, lời ít mà ư sâu, thậm chí trong quá tŕnh sao chép truyền tay c̣n có chỗ sai lạc, thất thoát. Về nội dung, ngoài những quan điểm học thuật và nguyên tắc lư luận phản ánh hệ thống lư luận Trung y học, nó c̣n liên quan đến nhiều ngành tri thức như thiên văn, khí tượng, vật hậu, lịch pháp, triết học, toán học, tâm lư học v.v. Điều đó mang đến không ít khó khăn cho người học. V́ vậy, nắm vững phương pháp học là tiền đề để học tốt Nội Kinh. Sau đây xin nêu mấy điểm để tham khảo trong lúc học.
Xác định rơ mục đích, nắm lấy trọng điểm
Xác định rơ mục đích và nắm lấy trọng điểm là tiền đề của việc học bất cứ môn học nào. Nội Kinh với tư cách là một môn cơ sở lư luận căn bản nhất của Trung y học, th́ nhiệm vụ và mục đích hàng đầu của việc học là “nâng cao tŕnh độ lư luận Trung y”; v́ vậy, trọng điểm nên là học và nắm vững lư luận y học trong Nội Kinh. Mà muốn học tốt lư luận y học của Nội Kinh, trước hết phải nắm được nội hàm của cả hệ thống lư luận Nội Kinh, th́ mới có thể từ chỉnh thể mà nắm được nguyên lư y học của Nội Kinh; chỉ khi hiểu được những tư tưởng học thuật cơ bản của Nội Kinh, mới có thể hiểu tốt những lư luận y học cụ thể của Nội Kinh. Mỗi chương, mỗi tiết lại có trọng điểm riêng, đều cần được giải quyết từng bước. Ví dụ, chủ đề tư tưởng của Tố Vấn, thiên Tứ Khí Điều Thần Đại Luận là phát huy tiết luật sinh mệnh mà cơ thể người thích ứng với biến hóa tự nhiên, và luận述 những phương pháp dưỡng sinh khác nhau của bốn mùa. Chỉ khi hiểu sâu chỉnh thể quan “thời tàng âm dương” trong Nội Kinh th́ mới có thể hiểu và nắm tốt tư tưởng học thuật của thiên này.
Sử dụng công cụ thư tịch, làm rơ âm đọc và nghĩa chữ
Văn tự là vật chở truyền tri thức; chỉ khi đọc hiểu được ư nghĩa trên mặt văn bản th́ mới có thể tiến thêm một bước để hiểu ư nghĩa sâu hơn của nó. Văn từ trong Nội Kinh phần nhiều xuất phát từ Tiên Tần, cho nên nghĩa chữ và âm đọc khác với ngày nay; hơn nữa hiện tượng đồng âm giả tá lại rất nhiều. Nếu không phân biệt được âm đọc, không hiểu rơ huấn hỗ, th́ sẽ không thể hiểu đúng kinh văn. Ví dụ chữ “能” trong Tố Vấn, thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận, ở câu “năng bất năng”, “năng đông bất năng hạ” th́ thông với chữ “耐”; c̣n ở câu “thử âm dương cánh thắng chi biến, bệnh chi h́nh năng dă” trong chính thiên ấy th́ lại thông với chữ “熊”. Lại như trong Tố Vấn, thiên Âm Dương Biệt Luận, chữ “易” trong câu “tam âm tam dương bệnh, vi thiên khô nuy dị” phải đọc là “thí”, nghĩa tương đồng với “tŕ”, tức là chỉ sự buông lỏng, bại liệt của tứ chi. Ngoài ra, những hiện tượng như dùng lẫn giản thể và phồn thể — chữ “臟” viết thành “藏”, chữ “腑” viết thành “府”, chữ “納” viết thành “內” — hoặc những dị thể đồng âm như “腧”, “俞”, “輸” đều dùng theo nghĩa “du”, “寫” và “泄” đều dùng theo nghĩa “tiết”, đều thấy rất nhiều trong Nội Kinh. Bởi vậy, ngoài việc cần có nền tảng nhất định về cổ Hán ngữ, c̣n nhất thiết phải mượn đến các loại công cụ thư như tự điển, sách huấn hỗ khảo chứng v.v. th́ mới tránh được t́nh trạng xuyên tạc h́nh chữ, giải thích sai nghĩa văn và hiểu lầm kinh chỉ. Trong việc huấn hỗ hiệu勘 Nội Kinh, tiền nhân đă làm rất nhiều công việc. Những sách như Trùng Quảng Bổ Chú Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn của Lâm Ức, Tố Vấn Giảo Nghĩa của Hồ Thụ, Độc Thư Dư Lục của Du Việt, và Thế Bổ Am Y Thư, Nội Kinh Nan Tự Âm Nghĩa của Lục Cửu Chi đều là những sách vở tham khảo rất tốt.
Liên hệ trước sau, hiểu lư luận Nội Kinh một cách hệ thống
Do Nội Kinh về căn bản là một tập hợp các bài luận, nên nội dung của hệ thống lư luận phân tán trong từng thiên chương. Bởi vậy, khi học từng thiên, chúng ta cần liên hệ lẫn nhau và phân tích tổng hợp th́ mới có thể hiểu hệ thống lư luận của Nội Kinh. Chỉ khi đọc thông nguyên văn, hiểu được nguyên văn, lại chú ư thông suốt (贯通) trước sau, đối chiếu chứng minh lẫn nhau, nắm bắt được mối liên hệ nội tại của kinh văn, cố gắng để mỗi vấn đề đều có một sự hiểu biết tương đối toàn diện, th́ mới có thể thực sự nắm được tư tưởng học thuật của Nội Kinh, hiểu sâu ư nghĩa của kinh văn và nắm được thực chất của vấn đề.
Ví dụ, các thiên Kim Quỹ Chân Ngôn Luận, Linh Lan Bí Điển Luận, Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận, Lục Tiết Tàng Tượng Luận, Ngũ Tạng Sinh Thành của Tố Vấn, cùng các thiên Thiên Niên, Hải Luận, Bản Du, Bản Tạng của Linh Khu, đều có thảo luận về tạng phủ. Chủ đề tư tưởng của mỗi thiên khác nhau, cách thức thảo luận nội dung cũng không giống nhau. Chỉ khi đem những nội dung liên quan ấy liên kết lại, thông qua phân tích và tổng hợp, mới có thể hiểu toàn diện rằng “học thuyết tàng tượng” của Nội Kinh là một kết cấu đa tầng, lấy năm tạng can, tâm, tỳ, phế, thận làm chủ thể (主体), bên ngoài ứng với năm phương, năm mùa, bên trong liên hệ với năm phủ, ngũ thể, ngũ quan, ngũ hoa v.v. Lại như việc hiểu câu “can sinh ư tả, phế tàng ư hữu, tâm bộ ư biểu, thận trị ư lư, tỳ vi chi sử” trong Tố Vấn, thiên Thích Cấm Luận: nếu không liên hệ với lư luận thăng giáng âm dương của bốn mùa trong Nội Kinh, quan hệ tương ứng giữa ngũ tạng với âm dương bốn mùa, cũng như phản ánh của mạch tượng trong biến hóa khí hậu bốn mùa, th́ căn bản không thể hiểu được ư nghĩa của đoạn kinh văn này, thậm chí c̣n có thể hiểu lầm rằng nó đang bàn đến vị trí vật chất thực thể của nội tạng, từ đó dẫn ra kết luận sai lầm.
Kết hợp với các nhà chú giải để hiểu sâu nguyên văn
Muốn hiểu những lư luận học thuật trong nguyên văn Nội Kinh, ngoài việc trên nền tảng đọc thông nguyên văn mà dùng phương pháp tư duy của lư luận Trung y để suy nghĩ, thăm ḍ, c̣n nhất thiết phải tham khảo cách hiểu và tâm đắc(心得) của các nhà chú giải qua các thời đại đối với Nội Kinh, rồi từ đó tiếp tục nghiên cứu, phân tích sâu hơn. Chỉ có như vậy mới có thể nắm sâu tinh túy của lư luận Nội Kinh. Ví dụ, chữ “khí” trong câu “nhân ư khí vi thũng” của Tố Vấn, thiên Sinh Khí Thông Thiên Luận, người nay phần nhiều giải là khí hư gây thũng; nhưng Dương Thượng Thiện lại chú rằng:
(Nhân tà khí khách ư phân nhục chi gian, vệ khí ủng ế bất hành, toại tụ vi thũng.): Do tà khí xâm nhập vào khoảng giữa phần nhục, khiến vệ khí bị bế tắc không lưu hành được, v́ thế tụ lại mà thành thũng. Cách giải này cho thấy chữ “khí” ở đây không phải dễ dàng hiểu là chính khí hay khí hư, mà liên quan đến tà khí và khí cơ bế tắc.
Cao Sĩ Tông lại tiến thêm một bước mà chỉ ra:
(Khí do phong dă.)
Chữ “khí” ở đây cũng như là phong vậy. Khi nhận ra “khí” trong câu này là chỉ phong khí, th́ ta sẽ hiểu sâu hơn rằng kinh văn này đang từ hai phương diện — ngoại cảm phong, hàn, thử, thấp tà gây bệnh, và nội thương do dương tổn dẫn đến bệnh biến của thần, cân — mà phát huy ư nghĩa quan trọng của dương khí trong phát bệnh. Do học thuật quan điểm của các nhà chú giải không hoàn toàn giống nhau, cho nên đôi khi cách chú cho cùng một vấn đề cũng khác nhau. Thông qua việc tham tường suy nghĩ những cách giải thích khác nhau ấy, chúng ta có thể hiểu toàn diện hơn tư tưởng học thuật của nguyên văn, đồng thời c̣n bồi dưỡng được năng lực phân tích và giải quyết vấn đề.

Liên hệ với y gia đời sau để mở rộng tư duy học thuật

Lư luận của Nội Kinh là do khái quát và tổng kết từ thực tiễn mà thành. Trong hơn hai ngh́n năm qua, nó luôn phát huy vai tṛ chỉ đạo rất quan trọng trên lâm sàng. Không ít y gia đời sau đă kết hợp với thực tiễn điều trị của chính ḿnh, đem lư luận Nội Kinh cụ thể vận dụng vào lâm sàng, thu được kinh nghiệm phong phú, rồi tổng kết lại, khiến cho lư luận của Nội Kinh được làm giàu và phát triển thêm. Ví dụ, Thương Hàn Tạp Bệnh Luận của Trương Trọng Cảnh là một chuyên khảo biện chứng luận trị được viết thành trên cơ sở lư luận về nhiệt bệnh trong Nội Kinh, kết hợp với thực tiễn lâm sàng của chính ông. Châm Cứu Giáp Ất Kinh của Hoàng Phủ Mật là một chuyên khảo châm cứu được h́nh thành bằng cách phân loại và chỉnh lư nội dung về kinh mạch và phép châm trong Nội Kinh. Hà Gian học phái, lấy Lưu Hoàn Tố làm đại biểu, căn cứ vào bệnh cơ hỏa nhiệt của Nội Kinh mà sáng lập nên học thuyết hỏa nhiệt, công tà và dưỡng âm. Dịch Thủy học phái, lấy Trương Nguyên Tố làm đại biểu, căn cứ vào tạng phủ bệnh h́nh trong Nội Kinh mà phát minh ra học thuyết biện chứng tạng phủ và quy kinh của dược vật. Liên hệ với trước tác của các y gia đời sau có thể giúp chúng ta mở rộng tầm nh́n, khai mở tư duy và đào sâu thêm sự hiểu hiểu, vận dụng kinh văn.
Kết hợp với lâm sàng để gia sâu lĩnh ngộ trong thực tiễn
Lư luận đến từ thực tiễn và lại dùng để chỉ đạo thực tiễn. Mục đích cuối cùng của người thầy thuốc học Nội Kinh là nâng cao tŕnh độ y thuật. V́ thế mới có câu:
(Chỉ thượng đắc lai chung giác thiển, tuyệt tri thử sự yếu cung hành.): Những điều học được trên giấy tờ rốt cuộc vẫn thấy c̣n nông, muốn biết thật sự việc ấy th́ nhất định phải tự ḿnh thực hành. Câu này nhấn mạnh rằng học lư luận y học không thể chỉ dừng ở văn tự, mà phải kiểm nghiệm trong lâm sàng.
Học Nội Kinh không thể chỉ dừng lại ở mặt lư luận, mà phải gắn chặt với thực tiễn lâm sàng, kiểm chứng lư luận của nó, từ đó lĩnh ngộ sâu hơn kinh văn, đạt đến mức có thể vận dụng thành thạo. Ví dụ, Tố Vấn, thiên Điều Kinh Luận nói:
(Dương hư tắc ngoại hàn, âm hư tắc nội nhiệt, dương thịnh tắc ngoại nhiệt, âm thịnh tắc nội hàn.):Dương hư th́ ngoài lạnh, âm hư th́ trong nóng, dương thịnh th́ ngoài nóng, âm thịnh th́ trong lạnh. Đoạn này nêu ra quy luật lớn của biến hóa âm dương trong bệnh lư.
V́ sao lại nói “dương hư th́ ngoài lạnh” mà không nói trong lạnh? V́ sao “âm hư th́ trong nóng” mà không nói ngoài nóng? V́ sao “dương thịnh th́ ngoài nóng” mà không nói trong nóng? V́ sao “âm thịnh th́ trong lạnh” mà không nói ngoài lạnh? Tại sao trong “dương hư th́ ngoài lạnh” lại nhất thiết nói đến chứng “hàn lật”? Tại sao chứng hậu của “âm hư th́ trong nóng” lại thường gặp trong khí hư? Tại sao “dương thịnh th́ ngoài nóng” lại dẫn đến “thấu lư bế”? Và “âm thịnh th́ trong lạnh” là chỉ loại bệnh nào? Những nghi vấn ấy, thông qua thực tiễn lâm sàng sẽ dần sáng tỏ: bệnh cơ và triệu chứng mà nguyên văn liệt kê ra là nhằm vào những trường hợp bệnh lư đặc thù, chứ không khái quát hết mọi chứng hậu. Chẳng hạn, “âm hư th́ trong nóng” ở đây là nói trong bối cảnh trung khí hư suy; “dương thịnh th́ ngoài nóng” là nói trong bối cảnh hàn tà bó ở ngoài; c̣n câu “dương hư th́ ngoài lạnh, âm hư th́ trong nóng, dương thịnh th́ ngoài nóng, âm thịnh th́ trong lạnh” là bàn từ quy luật biến hóa bệnh lư của âm dương. Nghĩa là, khi âm dương mất đi thế quân b́nh tương đối trong trạng thái bệnh lư, th́ dương dư thừa sẽ biểu hiện ra nhiệt, âm dư thừa sẽ biểu hiện ra hàn; dương hư th́ âm tương đối dư thừa mà xuất hiện hàn tượng; âm hư th́ dương thiên thịnh mà xuất hiện nhiệt tượng. C̣n cái “trong” và “ngoài” mà câu ấy nói đến là căn cứ theo nguyên tắc “dương chủ vệ ngoại, âm chủ nội thủ” mà đề xuất, là quy luật mang tính phổ quát, chứ không hề phủ nhận khả năng dương hư có thể đưa tới nội hàn, âm hư có thể đưa tới ngoại nhiệt, dương thịnh có thể dẫn đến nội nhiệt, âm thịnh có thể gây ra ngoại hàn. Có liên hệ với lâm sàng như vậy, th́ việc lư giải kinh văn mới càng rơ ràng và sâu sắc hơn.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-04-07 19:05:50
BÀI GIẢNG THỨ HAI HỌC THUYẾT DƯỠNG SINH
Giải thích về các yếu tố thiết yếu trong học tập
Dưỡng sinh là một trong những tư tưởng quan trọng nhất của Nội Kinh. Theo quan điểm của Nội Kinh, “Thánh nhân bất trị dĩ bệnh trị vị bệnh...... phu bệnh dĩ thành nhi hậu dược chi...... bất diệc văn hồ?” :Thánh nhân không chữa bệnh đă thành mà chữa bệnh khi chưa phát...... bệnh đă thành rồi mới dùng thuốc chữa...... chẳng phải đă quá muộn sao? Pḥng bệnh đi trước chữa bệnh, pḥng bệnh tốt hơn chữa bệnh; pḥng bệnh th́ công ít mà hiệu quả nhiều, chữa bệnh th́ công nhiều mà hiệu quả ít. Mà phương pháp tốt nhất để pḥng bệnh, không ǵ hơn dưỡng sinh. V́ vậy, Vương Băng trong Bổ chú Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn đă xếp Thượng Cổ Thiên Chân Luận lên đầu các thiên.
Nội Kinh nhấn mạnh: “Hư tà tặc phong, tị chi hữu thời, điềm đạm hư vô, chân khí ṭng chi, tinh thần nội thủ, bệnh an ṭng lai.” :Hư tà tặc phong th́ phải biết tránh đúng lúc, giữ tâm điềm đạm tĩnh lặng th́ chân khí thuận theo, tinh thần giữ ở bên trong, như vậy bệnh từ đâu mà đến? Xuất phát từ chỉnh thể quan “thiên nhân tương ứng”, cho rằng dưỡng sinh pḥng bệnh không ngoài hai phương diện “nội - ngoại”: ở ngoài th́ phải cẩn thận tránh hư tà tặc phong để pḥng ngừa khí hậu thất thường gây tổn hại cơ thể; ở trong th́ phải bảo dưỡng chân khí, cố đạt tới trạng thái “điềm đạm hư vô, chân khí ṭng chi” : điềm đạm hư tĩnh th́ chân khí thuận theo. Nội Kinh nêu ra các nguyên tắc “pháp ư âm dương” : noi theo âm dương, “đề khiết thiên địa, bả ác âm dương”: nắm vững quy luật tự nhiên, làm chủ âm dương, “trần âm dương” :bày rơ lẽ âm dương, để nhấn mạnh rằng đại pháp căn bản của dưỡng sinh là phải hiểu và thuận theo tự nhiên, căn cứ vào sự tiêu trưởng của âm dương trong trời đất bốn mùa cùng biến hóa hàn thử mà điều nhiếp, khiến cơ thể thích ứng hài ḥa với ngoại cảnh, từ đó đạt tới các trạng thái: “cân mạch ḥa đồng, cốt tủy kiên cố, khí huyết giai ṭng” gân mạch điều ḥa, xương tủy vững chắc, khí huyết đều thuận; “nội ngoại điều ḥa, tà bất năng hại, nhĩ mục thông minh, khí lập như cố” : Trong ngoài điều ḥa, tà không thể hại, tai mắt sáng suốt, khí lực vẫn như cũ; “dữ vạn vật trầm phù ư sinh trưởng chi môn” cùng nổi ch́m với vạn vật nơi cửa sinh trưởng. Cách thức cụ thể để lấy âm dương làm phép mà dưỡng sinh, nói khái quát chính là phải “ḥa ư thuật số, thực ẩm hữu tiết, khởi cư hữu thường, bất vọng tác lao” : ḥa hợp với các phương pháp dưỡng sinh, ăn uống có tiết độ, sinh hoạt có thường quy, không lao tác bừa băi. Phải tập thành thói quen giữ nếp sống tốt có quy luật, từ mọi phương diện y thực trụ hành mà tổng hợp vận dụng nhiều phương pháp để điều dưỡng.
Thuận theo sự tiêu trưởng của âm dương trong tự nhiên là một nguyên tắc quan trọng của dưỡng sinh. Nội Kinh lặp đi lặp lại việc nhấn mạnh các nguyên tắc như “pháp ư âm dương”: noi theo âm dương, “ḥa ư âm dương, điều ư tứ thời” : ḥa với âm dương, điều hợp với bốn mùa, “pháp tắc thiên địa...... nghịch ṭng âm dương” :noi theo phép trời đất...... xét thuận nghịch âm dương. Bởi v́ “nhân dĩ thiên địa chi khí sinh, tứ thời chi pháp thành” : con người nhờ khí của trời đất mà sinh, nhờ phép tắc bốn mùa mà thành; “âm dương tứ thời giả, vạn vật chi chung thủy dă, tử sinh chi bản dă” : âm dương bốn mùa là đầu cuối của vạn vật, là gốc của sống chết. Con người phải có năng lực phản ứng nhạy bén trước sự tiêu trưởng của âm dương trong tự nhiên để thuận theo tự nhiên. Ví dụ, dương khí của con người trong một ngày th́ “b́nh đán nhân khí sinh, nhật trung nhi dương khí long, nhật tây nhi dương khí dĩ hư, khí môn năi bế” : buổi sáng khí người bắt đầu sinh, giữa trưa dương khí hưng thịnh, về chiều dương khí đă suy, khí môn bèn đóng. Quy luật sinh lư của con người phù hợp với quy luật tiêu trưởng âm dương của tự nhiên, v́ vậy cần chủ động thuận theo những quy luật ấy mà điều nhiếp, như “mộ nhi thu cự, vô nhiễu cân cốt, vô kiến vụ lộ” : chiều tối th́ nên thu liễm, không làm nhiễu loạn gân cốt, không để gặp sương mù móc; nếu không th́ “phản thử tam thời, h́nh năi khốn bạc” :trái ba thời ấy th́ h́nh thể sẽ mỏi mệt, suy nhược. Quan điểm này chính là cơ sở lư luận quan trọng của dưỡng sinh học trong Nội Kinh.
Tố Vấn · Tứ Khí Điều Thần Đại Luận đă có những luận thuật cụ thể về việc làm sao thuận theo âm dương bốn mùa của tự nhiên mà điều dưỡng tinh thần ư chí và rèn luyện h́nh thể. Thiên này chỉ ra rằng “nghịch nó th́ tai hại sinh ra, thuận nó th́ bệnh nặng không phát khởi, ấy gọi là đắc đạo” (Nghịch chi tắc tai hại sinh. Ṭng chi tắc hà tật bất khởi, thị vị đắc đạo), “thánh nhân thuận theo đó, cho nên thân không có bệnh lạ, vạn vật không mất điều ḥa, sinh khí không cạn kiệt”. Nếu biết cách tuân theo khí của bốn mùa để giữ ǵn sức khỏe th́ sẽ đạt đến “thuận chi tắc dương khí cố, tuy hữu tặc tà, phất năng hại dă”: khiến dương khí của cơ thể được kiên cố và kín đáo, cho nên dù có hư tà tặc phong xâm nhập cũng chưa chắc đă có thể làm tổn thương thân thể mà gây bệnh. Ngược lại, nếu đời sống không có quy luật, việc khởi cư lao tác lại trái nghịch với khí của bốn mùa, th́ có thể dẫn đến ngũ tạng chi khí mất điều ḥa, từ đó phát sinh nhiều loại bệnh tật. Dĩ nhiên, cũng cần phải “bát chính chi hư tà, tị chi nhi vật phạm dă” : tà khí hư của tám phương chính hướng th́ phải tránh đi, chớ để phạm phải. Nội Kinh nêu rằng: “Phù thiên chi sinh phong giả, phi dĩ tư bách tính dă, kỳ hành công b́nh chính trực, phạm giả đắc chi, tị giả đắc vô đăi, phi cầu nhân nhi nhân tự phạm chi” : Trời sinh ra gió vốn không phải thiên vị riêng ai, sự vận hành của nó công bằng ngay thẳng, ai phạm vào th́ mắc phải, ai tránh được th́ không bị nguy hại, không phải nó đi t́m người, mà là người tự phạm vào nó. Bởi vậy, con người nên chủ động tránh cho cơ thể khỏi bị tổn thương bởi bất chính chi khí của bốn mùa. Nội Kinh c̣n chỉ rơ: “Cẩn hậu hư phong nhi tị chi, cố thánh nhân viết tị hư tà chi đạo, như tị thỉ thạch nhiên, tà phất năng hại” : Phải cẩn thận ḍ xét hư phong mà tránh đi, cho nên thánh nhân nói đạo tránh hư tà cũng như tránh tên đá, th́ tà không thể làm hại được.
Đối với trạng thái sinh mệnh khỏe mạnh và trường thọ, Nội Kinh khái quát bằng câu “h́nh dữ thần câu, tận chung kỳ thiên niên” : h́nh và thần cùng đầy đủ, sống trọn hết tuổi trời. Sinh mệnh của con người không ngoài hai mặt “h́nh - thần”, mà dưỡng sinh cũng không ngoài hai phương diện “dưỡng h́nh” và “dưỡng thần”. Bởi v́ thần là chủ của h́nh, tinh thần ư thức chi phối hành vi thân thể của con người, mà hành vi của con người có hợp với đạo hay không lại tiến thêm một bước quyết định là khỏe mạnh hay sinh bệnh. V́ vậy, học thuyết dưỡng sinh của Nội Kinh càng nhấn mạnh “h́nh thần cộng dưỡng, dưỡng thần vi tiên” : h́nh và thần cùng được nuôi dưỡng, nhưng lấy dưỡng thần làm trước hết. “Điềm đạm hư vô” : tâm ư điềm đạm, hư tĩnh, tự nhiên sẽ khiến “chân khí ṭng chi” : chân khí thuận theo; “chí nhàn nhi thiểu dục” : giữ chí thanh nhàn, bớt ḷng ham muốn, th́ tự nhiên sẽ đạt đến “tâm an nhi bất cụ, h́nh lao nhi bất quyện, khí ṭng dĩ thuận, các ṭng kỳ dục, giai đắc sở nguyện” : tâm an mà không sợ hăi, thân có lao động mà không mệt mỏi, khí thuận mà điều ḥa, ai cũng thuận theo điều thích đáng của ḿnh mà đều đạt được điều mong muốn. T́nh chí bất ḥa sẽ dẫn đến nhiều loại bệnh tật, như câu “bách bệnh sinh ư khí dă, nộ tắc khí thượng, hỉ tắc khí hoăn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ...... kinh tắc khí loạn, lao tắc khí hao, tư tắc khí kết” : trăm bệnh sinh ra từ khí; giận th́ khí nghịch lên, vui quá th́ khí chùng hoăn, buồn th́ khí hao tán, sợ th́ khí hạ xuống...... kinh hăi th́ khí rối loạn, lao lực th́ khí hao tổn, suy nghĩ quá mức th́ khí kết tụ. Bởi vậy, cần phải bồi dưỡng tính t́nh, nâng cao sự tu dưỡng tư tưởng, loại bỏ sự kích thích của các nhân tố bất lợi, để khỏi tạo nên gánh nặng không cần thiết cho tinh thần, rồi từ đó ảnh hưởng đến sự an khang của cả tâm lẫn thân. “Mỹ kỳ thực, nhậm kỳ phục, lạc kỳ tục, cao hạ bất tương mộ” : thấy thức ăn của ḿnh là ngon, y phục của ḿnh là hợp, phong tục của ḿnh là vui, sang hèn không hâm mộ lẫn nhau, như vậy mới có thể giữ ǵn sức khỏe thân tâm.
Đối với việc điều dưỡng h́nh và thần, Nội Kinh đặc biệt nhấn mạnh “tích tinh toàn thần” : tích tụ tinh khí, bảo toàn tinh thần. Tinh giữ một địa vị vô cùng quan trọng trong hoạt động sinh mệnh của con người, như câu “tinh giả, thân chi bản dă” : tinh là gốc của thân. Tiên thiên chi tinh được tàng ở thận, mà thận cũng tiếp nhận tinh của hậu thiên ngũ tạng lục phủ rồi tàng chứa lại; phần tinh được chứa trong thận chính là phần tinh hoa vật chất của cơ thể người, là cơ sở để ngũ tạng lục phủ, tứ chi bách hài tiến hành các hoạt động sinh mệnh. Con người có được phần tinh ấy th́ mới có thể hóa khí sinh thần. V́ vậy, Nội Kinh đặc biệt nhấn mạnh việc bảo dưỡng thận tinh, bởi chỉ khi thận tinh luôn giữ được trạng thái sung măn th́ mới có thể giữ ǵn cái gốc của sinh mệnh.
Việc điều dưỡng cần phải căn cứ vào đặc điểm sinh lư của con người, thuận theo quy luật tổn ích của nó mà tiến hành. Câu “năng tri thất tổn bát ích, tắc nhị giả khả điều, bất tri dụng thử, tảo suy chi tiết”: nghĩa là: nếu biết rơ quy luật thất tổn bát ích th́ hai mặt ấy có thể điều ḥa được, nếu không biết vận dụng điều đó th́ sẽ bước vào giai đoạn suy sớm. Bởi vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau trong suốt tiến tŕnh sinh mệnh, đều phải căn cứ vào đặc điểm tổn ích sinh lư của giai đoạn ấy mà tiến hành điều hoà để dưỡng sinh, th́ mới có thể làm cho “tráng giả ích trị” : người đang thời cường tráng càng thêm được bồi dưỡng đúng mức; c̣n khi bước vào giai đoạn lăo suy th́ càng phải quư tiếc tinh khí, khiến “lăo giả phục tráng” ; người già lại có thể hồi phục phần nào sự tráng kiện. Cần tiết chế pḥng sự, tránh “dĩ vọng vi thường” : lấy điều không b́nh thường làm điều thường, tránh “dĩ dục kiệt kỳ tinh, dĩ hao tán kỳ chân” : v́ dục vọng mà làm cạn tinh, v́ hao tổn mà làm tán chân khí.
Thần tàng ở tâm, mà tâm là đại chủ của ngũ tạng lục phủ. Tâm thần thống lĩnh hồn, phách, chí, ư, trí, lự, chủ tể hoạt động tư duy của con người, đồng thời điều ḥa quan hệ công năng giữa các tạng phủ. V́ vậy, Nội Kinh nhấn mạnh rằng dưỡng thần th́ trước hết cốt ở dưỡng tâm thần, đồng thời chỉ rơ: “chủ minh tắc hạ an, dĩ thử dưỡng sinh tắc thọ, một thế bất đăi, dĩ vi thiên hạ tắc đại xương. Chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy, sử đạo bế tắc nhi bất thông, h́nh năi đại thương, dĩ thử dưỡng sinh tắc ương” nghĩa là: người chủ sáng suốt th́ các bộ phận bên dưới đều yên ổn, lấy đạo ấy mà dưỡng sinh th́ được trường thọ, suốt đời không gặp nguy, đem dùng để trị thiên hạ th́ thiên hạ đại thịnh; c̣n nếu người chủ không sáng th́ mười hai quan đều nguy, khiến cho đường vận hành bị bế tắc không thông, h́nh thể sẽ bị tổn thương nặng, lấy cách ấy mà dưỡng sinh th́ ắt thành tai họa.
Tinh là cơ sở vật chất để cấu thành h́nh chất và duy tŕ hoạt động sinh mệnh; thần là cơ năng phát động của sinh mệnh và cũng là dấu hiệu biểu hiện của hoạt động sống. Nhưng thần lại phải nhờ tinh khí điều ḥa th́ mới có thể hóa sinh. V́ vậy, bảo tinh và dưỡng thần là hai việc không thể tách rời nhau. Giữ cho thận tinh luôn sung măn, h́nh thể luôn khỏe mạnh, th́ thần cơ tự nhiên sẽ kiện vượng; ngược lại, khi thần cơ kiện toàn, ít bị khổ chí lao thần, th́ cũng có tác dụng rất quan trọng đối với việc bảo hộ tinh khí và h́nh thể. Bởi vậy mới gọi là “tích tinh toàn thần” 積精全神 tích tụ tinh khí, bảo toàn tinh thần.
Lại như câu: “cố yếu tu dưỡng ḥa thần dă, đạo quư thường tồn, bổ thần cố căn, tinh khí bất tán, thần thủ bất phân, nhiên tức thần thủ nhi tuy bất khứ, diệc năng toàn chân, nhân thần bất thủ, phi đạt chí chân” nghĩa là: bởi vậy cốt yếu là phải tu dưỡng để điều ḥa thần; đạo quư ở chỗ luôn giữ được bền lâu; bồi bổ thần để củng cố cái gốc; khiến tinh khí không tán, thần giữ vững không phân tán; như thế th́ thần được giữ mà tuy không ĺa bỏ, cũng vẫn có thể bảo toàn được chân; c̣n người nếu thần không giữ được th́ không thể đạt đến cảnh giới chân thật cao nhất.
Ăn uống là vật chất cơ bản mà con người nương vào để tồn tại, là nguồn để hóa sinh hậu thiên chi tinh và phát sinh năng lực hoạt động sinh mệnh. Nếu điều chỉnh (摄) ẩm thực thích đáng th́ nguồn hóa sinh của tỳ vị không cạn, ngũ tạng lục phủ, tứ chi bách hài đều được nuôi dưỡng. “Thực dưỡng” là một phương diện quan trọng của dưỡng sinh. Trong Nội Kinh, nội dung điều chỉnh ăn uống để dưỡng sinh rất phong phú, mà cương lĩnh trọng tâm nằm ở hai điểm: “thực ẩm hữu tiết” và “cẩn ḥa ngũ vị”. “Thực ẩm hữu tiết”, với tư cách là cương lĩnh cao nhất của thực dưỡng, nhấn mạnh rằng ăn uống cần phải có chừng mực. Không được bạo ẩm bạo thực, v́ “ăn uống quá độ th́ tràng vị bị tổn thương”, “nhân đó mà ăn quá no th́ gân mạch hoành giải (cơ và tĩnh mạch bị giăn), thành bệnh trĩ; “Nhân nhi đại ẩm, tắc khí nghịch” nghĩa là: V́ uống quá nhiều th́ khí sẽ nghịch. Ăn uống c̣n phải chú ư hàn ôn (lạnh ấm) thích độ. Nội Kinh nói: “Thực ẩm y phục, diệc dục thích hàn ôn...... thực ẩm giả, nhiệt vô chước chước, hàn vô thương thương, hàn ôn trung thích, cố khí tương tŕ, năi bất trí tà tích” nghĩa là: ăn uống áo mặc cũng đều phải thích hợp với hàn ôn...... đối với ăn uống, nóng không được quá nóng, lạnh không được quá lạnh, hàn ôn vừa phải th́ khí mới giữ được điều ḥa, nhờ đó không đến nỗi sinh tà lệch. Khi ăn uống c̣n phải đắc kỳ pháp độ, tức là hợp với phép tắc. Ví dụ như câu: “Dục lệnh tỳ thực, khí vô trệ băo, vô cửu tọa, thực vô thái toan, vô thực nhất thiết sinh vật, nghi cam nghi đạm” nghĩa là: muốn cho tỳ được vững chắc th́ chớ để ăn no đ́nh trệ, chớ ngồi lâu, ăn chớ quá chua, chớ ăn mọi thứ sống lạnh, nên dùng vị ngọt vừa phải và thanh đạm.
“Cẩn ḥa ngũ vị” : nhấn mạnh rằng chế độ ăn uống cần cân bằng với năm vị, tránh chế độ ăn uống và sở thích không cân bằng. Nội Kinh nói: “Âm chi sở sinh, bản tại ngũ vị, âm chi ngũ cung, thương tại ngũ vị” : nghĩa là: cái phần âm được sinh ra vốn gốc ở ngũ vị, mà năm tạng thuộc âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Ngũ vị trong ăn uống là nguồn vật chất để hóa sinh huyết khí và nuôi dưỡng ngũ tạng. Tuy nhiên, mỗi vị lại có cái mà nó ưa thích, cái mà nó đi vào, cái mà nó có lợi, cái mà nó thích hợp, cái mà nó phối hợp, cái mà nó dẫn tới, cái mà nó gây tổn thương, cái mà nó gây bệnh, và cái mà nó kiêng kỵ. V́ vậy, nhất định phải tùy thời, tùy địa, tùy người mà biện chứng phối hợp, th́ mới có thể đạt tới trạng thái: “Cốt chính cân nhu, khí huyết dĩ lưu, tấu lư dĩ mật...... cốt khí dĩ tinh...... trường hữu thiên mệnh” nghĩa là: xương ngay, gân mềm, khí huyết lưu thông, tấu lư kín chắc...... cốt khí tinh đầy...... nhờ đó mà được trường hưởng tuổi trời.
Ví dụ, Nội Kinh nói: “Vị quá ư toan, can khí dĩ tân, tỳ khí năi tuyệt. Vị quá ư hàm, đại cốt khí lao, đoản cơ, tâm khí ức. Vị quá ư cam, tâm khí suyễn măn, sắc hắc, thận khí bất hành. Vị quá ư khổ, tỳ khí bất nhu, vị khí năi hậu. Vị quá ư tân, cân mạch trở tŕ, tinh thần năi ương” nghĩa là: vị quá chua th́ can khí bị thiên lệch mà tỳ khí bị tổn thương đến tuyệt; vị quá mặn th́ đại cốt mỏi mệt, cơ nhục co rút, tâm khí bị ức; vị quá ngọt th́ tâm khí suyễn đầy, sắc mặt sẫm đen, thận khí mất điều ḥa; vị quá đắng th́ tỳ khí không được nhu ḥa, vị khí trở nên nặng trệ; vị quá cay th́ gân mạch chùng nhăo, tinh thần v́ thế mà suy tổn.
Ngũ vị cơ bản đi vào cơ thể và tương ứng với một cơ quan cụ thể. Nếu một người ăn quá nhiều một loại thực phẩm nào đó trong thời gian dài, điều đó chắc chắn sẽ dẫn đến sự hoạt động quá mức của cơ quan tương ứng và gây suy giảm chức năng của các cơ quan khác, từ đó dẫn đến bệnh tật.
Do đó, Nội Kinh Y học nhấn mạnh rằng việc tiêu thụ ngũ vị trong cuộc sống hàng ngày không nên quá mức, và đề xuất nguyên tắc "ngũ cốc là thực phẩm, trái cây là thực phẩm bổ sung, thịt là lợi ích, rau củ là chất bổ dưỡng, và hương vị của ngũ vị nên được kết hợp và tiêu thụ để bổ sung tinh khí và khí huyết".
Nội Kinh dưỡng sinh nhấn mạnh “ḥa ư thuật số” : ḥa hợp với các phương pháp dưỡng sinh, tức phải tổng hợp vận dụng nhiều phương pháp khác nhau để tiến hành dưỡng sinh. Trong đó, “đạo dẫn, án kiều” là một trong những phương pháp dưỡng sinh được Nội Kinh nhiều lần nhắc tới. Chữ “đạo” trong “đạo dẫn” chỉ đạo khí, tức điều chỉnh hô hấp, thổ cố nạp tân (thở ra cái cũ, nạp vào khí mới); chữ “dẫn” chỉ dẫn thể, tức là vận động chân tay hoặc tự xoa bóp. Quan trọng hơn nữa là phải kết hợp điều tức (hơi thở) với hoạt động thân thể, cho nên mới gọi là đạo dẫn. Quả đúng như Trang Tử · Khắc Ư đă nói: “Xuy hư hô hấp, thổ cố nạp tân, hùng kinh điểu thân, vi thọ nhi dĩ hĩ, thử đạo dẫn chi sĩ, dưỡng h́nh chi nhân, Bành Tổ thọ khảo giả chi sở hảo dă” nghĩa là: thở ra hít vào, thổ cái cũ nạp cái mới, bắt chước gấu vươn ḿnh chim duỗi cánh, đều là v́ cầu sống lâu mà thôi; đó là điều ưa thích của hạng người luyện đạo dẫn, của người nuôi dưỡng h́nh thể, của những ai mong được thọ như Bành Tổ. C̣n “án kiều” cũng thuộc về đạo dẫn. Vương Băng nói: “Án, vị ma sát; kiều, vị kiểu tiệp chi cử động thủ túc, thị sở vị đạo dẫn dă” nghĩa là: án là xoa bóp; kiều là cử động chân tay cho linh hoạt mạnh mẽ; đó chính là cái gọi là đạo dẫn. Thuật đạo dẫn chính là điều mà ngày nay gọi là khí công rèn luyện.
Khí công đạo dẫn nhấn mạnh ba khâu, tức là “điều ư, điều tức, điều h́nh” : điều chỉnh ư niệm, điều ḥa hơi thở, điều chỉnh h́nh thể. Câu “hô hấp tinh khí, độc lập thủ thần, cơ nhục nhược nhất” : hô hấp tinh khí, tự giữ tinh thần, khiến cơ nhục toàn thân như một khối, trong thiên Thượng Cổ Thiên Chân Luận có thể xem là sự khái quát rất cao của Nội Kinh đối với lư luận khí công đạo dẫn. Trong ba điều ấy, điều ư là quan trọng hàng đầu. Nội Kinh dùng các luận thuật như “tinh thần nội ninh” : tinh thần yên ổn ở bên trong, “độc lập thủ thần” : tự giữ lấy thần, “bác tinh thần” : gom tụ tinh thần, “tịnh thần bất loạn” : làm cho thần thanh tịnh mà không loạn, để nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thanh tịnh và an định tinh thần. Nội Kinh lại nói: “Chí chân chi yếu, tại hồ thiên huyền, thần thủ thiên tức, phục nhập bản nguyên, mệnh viết quy tông” nghĩa là: cái cốt yếu để đạt đến chân thật tối cao nằm ở chỗ huyền diệu của trời; thần giữ lấy hơi thở tự nhiên, rồi trở về bản nguyên, đó gọi là quy tông. Trên cơ sở ninh thần, dùng ư để dẫn khí, điều chỉnh hô hấp, t́m cái động trong cái tĩnh, lấy khí mà thống suất huyết, từ đó đạt mục đích điều chỉnh sự vận hành khí huyết của nội tạng và toàn thân, bao gồm cả tay chân và các quan khiếu. Dưới sự dẫn dắt của thần khí mà điều chỉnh tư thế h́nh thể, hoặc tiến hành tự xoa bóp, phối hợp với điều tức để thúc đẩy khí huyết vận hành, làm cho h́nh thể được thư giăn; ngược lại, điều đó lại càng có lợi cho việc chuyên nhất tinh thần, khiến ư thủ đi vào trạng thái tĩnh.
Đạo dẫn khí công có hiệu quả tu dưỡng chính khí. Nội Kinh chỉ ra rằng khi ngũ dịch lưu hành, nếu y giả có một tŕnh độ tu dưỡng khí công nhất định, th́ dù đi sâu vào bệnh thất, vẫn có thể thực hành phép “khí xuất ư năo” : khí phát ra từ năo và phép “ngũ khí hộ thân” : năm thứ khí bảo hộ thân thể, nhờ đó bảo vệ cơ thể không bị dịch tà xâm phạm. Mặc dù giá trị khoa học của những ghi chép trong Nội Kinh về việc vận dụng khí công để pḥng bệnh vẫn c̣n cần được tiếp tục nghiên cứu và kiểm chứng thêm, nhưng sự thật rằng các bậc thọ tinh qua nhiều đời phần nhiều đều là người có tu luyện, đă chứng minh đạo dẫn quả thật là một phương pháp quan trọng để dưỡng sinh và kéo dài tuổi thọ.
” Tự cổ thánh nhân chi tác thang dịch lao lễ giả, dĩ vi bị nhĩ. Từ xưa các bậc thánh nhân chế ra thang dịch, rượu thuốc, chỉ là để pḥng bị mà thôi. Nội Kinh cho rằng dưỡng sinh bảo kiện cốt ở chỗ b́nh thường phải coi trọng điều nhiếp và tăng cường thể chất; c̣n những người không chú ư đến dưỡng sinh bảo kiện th́ thường hay dùng thuốc để bồi bổ cơ thể. Bởi v́ phàm là thảo dược hay kim thạch đều có tính thiên lệch khá mạnh, đúng như câu “thị dược tam phần độc” : đă nói, tức là thuốc nào cũng có ba phần độc tính; chúng chỉ thích hợp để khử bệnh, chứ không giỏi ở chỗ bảo dưỡng chính khí. Quả đúng như Trương Ṭng Chính đă nói:” Phàm dược hữu độc dă, phi chỉ đại độc tiểu độc vị chi độc, tuy cam thảo, nhân sâm bất khả bất vị chi độc, cửu phục tất hữu thiên thịnh: Phàm thuốc đều có độc, không phải chỉ thuốc đại độc hay tiểu độc mới gọi là độc; dù là cam thảo, nhân sâm cũng không thể nói là không có độc, uống lâu ngày tất sẽ sinh thiên lệch quá mức.
Nhưng Nội Kinh cũng rất coi trọng tư tưởng chế thuốc để pḥng khi cấp bách và lấy dự pḥng làm chính. Với các loại “ngũ dịch” : năm thứ ôn dịch như thế, không thể không pḥng ngừa chúng làm tổn thương sinh mệnh. Nội Kinh đă nêu ra ba phương pháp pḥng trị là “đạo dẫn, dược vật, châm thích” : tức đạo dẫn, thuốc men và châm cứu. Xét riêng về phương diện dưỡng sinh, nếu so giữa châm và thuốc, th́ theo luận điểm của Nội Kinh, châm cứu có tác dụng “toàn thần dưỡng chân chi chỉ, diệc pháp hữu tu chân chi đạo, phi trị tật dă” : tức là có tôn chỉ làm toàn thần, dưỡng chân, cũng là một phương pháp có đạo tu chân, chứ không chỉ đơn thuần để chữa bệnh. V́ vậy, theo truyền thống, châm cứu được vận dụng vào dưỡng sinh khá nhiều.
Trên đây là tóm tắt những nội dung chính của lư thuyết giữ ǵn sức khỏe trong “Nội Kinh”. Bây giờ chúng ta sẽ tập trung vào việc chọn lọc một số nội dung để t́m hiểu thêm.

Đại biểu kinh văn chú tích
Ư nghĩa và pháp tắc của dưỡng sinh
Nguyên văn
Dư văn thượng cổ chi nhân, xuân thu giai độ bách tuế nhi động tác bất suy; kim thời chi nhân, niên bán bách nhi động tác giai suy giả, thời thế dị? nhân tương thất chi da? :Ta nghe người thời thượng cổ, tuổi tác đều vượt trăm năm mà động tác không suy; c̣n người thời nay, mới khoảng năm mươi tuổi mà động tác đều suy yếu, là do thời thế khác nhau chăng? Hay là con người đă làm mất đi điều ǵ đó?

Thượng cổ chi nhân, kỳ tri đạo giả, pháp ư âm dương, ḥa ư thuật số, thực ẩm hữu tiết, khởi cư hữu thường, bất vọng tác lao, cố năng h́nh dữ thần câu, nhi tận chung kỳ thiên niên, độ bách tuế năi khứ : Người thời thượng cổ, những người hiểu được đạo ấy, noi theo âm dương, ḥa hợp với thuật số, ăn uống có tiết độ, sinh hoạt có thường quy, không lao tác vọng động, v́ vậy có thể giữ cho h́nh và thần cùng đầy đủ, sống trọn hết tuổi trời, qua trăm tuổi rồi mới mất.
Kim thời chi nhân bất nhiên dă, dĩ tửu vi tương, dĩ vọng vi thường, túy dĩ nhập pḥng, dĩ dục kiệt kỳ tinh, dĩ hao tán kỳ chân, bất tri tŕ măn, bất thời ngự thần, vụ khoái kỳ tâm, nghịch ư sinh lạc, khởi cư vô tiết, cố bán bách nhi suy dă.: Người thời nay th́ không như vậy: lấy rượu làm nước uống, lấy điều vọng động làm thường, say sưa mà nhập pḥng, v́ dục mà làm cạn tinh, v́ hao tổn mà làm tán chân khí, không biết giữ cho đầy đủ, không biết tùy thời mà điều ngự tinh thần, chỉ lo làm vui thích cái tâm ḿnh, trái nghịch với cái vui của dưỡng sinh, sinh hoạt không có tiết độ, cho nên mới đến nửa trăm tuổi đă suy rồi.
Phù thượng cổ thánh nhân chi giáo hạ dă, giai vị chi, hư tà tặc phong, tị chi hữu thời, điềm đạm hư vô, chân khí ṭng chi, tinh thần nội thủ, bệnh an ṭng lai? Các bậc thánh nhân thời thượng cổ khi giáo hóa người dưới đều nói rằng: hư tà tặc phong th́ phải biết tránh đúng lúc, giữ tâm điềm đạm hư tĩnh th́ chân khí thuận theo, tinh thần giữ ở bên trong, như vậy bệnh từ đâu mà đến?
Thị dĩ chí nhàn nhi thiểu dục, tâm an nhi bất cụ, h́nh lao nhi bất quyện, khí ṭng dĩ thuận, các ṭng kỳ dục, giai đắc sở nguyện.: Bởi vậy nên chí được nhàn mà ít dục, tâm an mà không sợ hăi, thân có lao động mà không mệt mỏi, khí thuận mà điều ḥa, ai nấy đều thuận theo điều thích đáng của ḿnh mà đều đạt được điều mong muốn.
Cố mỹ kỳ thực, nhậm kỳ phục, lạc kỳ tục, cao hạ bất tương mộ, kỳ dân cố viết phác.: V́ vậy họ thấy thức ăn của ḿnh là ngon, y phục của ḿnh là hợp, phong tục của ḿnh là vui, sang hèn không hâm mộ lẫn nhau, nên dân ấy được gọi là chất phác.
Thị dĩ thị dục bất năng lao kỳ mục, dâm tà bất năng hoặc kỳ tâm, ngu trí hiền bất tiếu, bất cụ ư vật, cố hợp ư đạo.: V́ thế, ham muốn không thể làm nhọc mắt họ, tà dâm không thể mê hoặc tâm họ; dù là người ngu, người trí, người hiền hay kẻ bất tiếu, họ đều không sợ hăi v́ ngoại vật, cho nên hợp với đạo.
Sở dĩ năng niên giai độ bách tuế nhi động tác bất suy giả, dĩ kỳ đức toàn bất nguy dă.: Sở dĩ họ có thể sống đều qua trăm tuổi mà động tác không suy, là v́ đức của họ được bảo toàn, không bị nguy hại.
Thiên Thượng Cổ Thiên Chân Luận trong Tố Vấn.

Chú thích
1. Thượng cổ: chỉ chung thời cổ đại xa xưa, tức giai đoạn đầu của đời sống nhân loại.
2. Xuân thu: chỉ tuổi tác.
3. Nhân tương thất chi da: “tương” là liên từ lựa chọn, có nghĩa là “hay là”, “hoặc là”; “thất” là lỗi mất, sai mất. “Nhân tương thất chi da” nghĩa là hay là do con người tự đánh mất điều ấy?
4. Tri đạo giả: “đạo” tức là quy luật, ở đây chỉ quy luật dưỡng sinh. “Tri đạo giả” là người hiểu được quy luật dưỡng sinh.
5. Pháp ư âm dương: “pháp” là noi theo, lấy làm khuôn phép. “Pháp ư âm dương” tức là noi theo quy luật biến hóa âm dương của tự nhiên trong sự qua lại của hàn thử (lạnh nắng).
6. Ḥa ư thuật số: “ḥa” là điều ḥa, dẫn rộng là vận dụng thích đáng; “thuật số” là các phương pháp dưỡng sinh như đạo dẫn, án kiều, thổ nạp v.v. “Ḥa ư thuật số” tức là vận dụng đúng đắn các phương pháp dưỡng sinh.
7. Bất vọng tác lao: “vọng” đồng với “loạn”, nghĩa là trái với thường quy; “tác lao” tức là lao tác, bao gồm lao lực, lao tâm, pḥng lao v.v. “Bất vọng tác lao” tức là lao tác không trái thường quy.
8. H́nh dữ thần câu: H́nh thức và tinh thần ḥa hợp: H́nh thức đề cập đến thân thể vật lư; tinh thần đề cập đến tâm trí; và "ḥa hợp" là một trạng từ chỉ phạm vi, có nghĩa là hoàn chỉnh hoặc thống nhất, và mở rộng ra là lành mạnh và hài ḥa. Do đó, "h́nh thức và tinh thần ḥa hợp" có nghĩa là cả h́nh thức và tinh thần đều lành mạnh và hài ḥa.
9. Thiên niên: tuổi thọ trời cho, tức tuổi thọ tự nhiên.
10. Dĩ tửu vi tương: “tương” chỉ chung các loại nước uống dạng lỏng. Lấy rượu làm thức uống thông thường, h́nh dung việc thích rượu vô độ.
11. Dĩ vọng vi thường: xem lối sống không b́nh thường là chuyện thường.
12. Túy dĩ nhập pḥng: “túy” là sa đắm, ch́m mê. Tức là đắm ch́m vào pḥng sự.
13. Hao: chỉ sự tiêu hao, hao tán.
14. Bất tri tŕ măn: “tŕ” là giữ; “măn” là đầy đủ, sung măn. “Bất tri tŕ măn” là không biết giữ cho chân nguyên tinh khí được đầy đủ.
15. Bất thời ngự thần: “thời” là bốn mùa; “ngự” là điều nhiếp. “Bất thời ngự thần” là không biết căn cứ theo biến hóa khí hậu bốn mùa mà điều dưỡng tinh thần.
16. Vụ khoái kỳ tâm, nghịch ư sinh lạc: chỉ việc tham cầu niềm vui nhất thời mà trái với cái vui của dưỡng sinh trường thọ.
17. Thánh nhân: cách tôn xưng đối với người tinh thông thế sự, trí tuệ siêu thường. Ở đây chỉ người có sự tu dưỡng rất cao về đạo dưỡng sinh.
18. Hư tà tặc phong: chỉ chung khí hậu thất thường của bốn mùa và các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài.
19. Điềm đạm hư vô: “điềm đạm” là yên tĩnh; “hư vô” là trong ḷng không có tạp niệm. “Điềm đạm hư vô” tức là tư tưởng an nhàn thanh tịnh, không có tạp niệm.
20. Chân khí ṭng chi: “chân khí” là bản nguyên chi khí của thân người, c̣n gọi là “nguyên khí”; “ṭng chi” là thuận theo, điều ḥa.
21. Tinh thần nội thủ: tinh thần giữ ở bên trong mà không bị hao tán ra ngoài.
22. Chí nhàn nhi thiểu dục: “nhàn” vốn là hàng rào, vật ngăn chặn, dẫn rộng là hạn chế, khống chế. “Chí nhàn nhi thiểu dục” tức là khống chế ham muốn, từ đó khiến tư tưởng thanh tĩnh mà ít dục.
23. Cụ: nghĩa là lo âu, sợ hăi.
24. Khí ṭng dĩ thuận: “khí” là chân khí; “dĩ” nghĩa là “mà”. “Khí ṭng dĩ thuận” tức là chân khí điều đạt và ḥa thuận.
25. Nhậm kỳ phục: “nhậm” là tùy tiện, thuận tự nhiên; “phục” là y phục. Nghĩa là y phục ăn mặc tùy tiện.
26. Lạc kỳ tục: sống trong bất kỳ hoàn cảnh phong tục nào cũng đều cảm thấy vui vẻ.
27. Cao hạ bất tương mộ: Những người thuộc các tầng lớp xă hội khác nhau đều hài ḷng với cuộc sống của ḿnh và không ganh tị với nhau.
28. Phác: thuần phác, đôn hậu.
29. Thị dục bất năng lao kỳ mục: các loại ham thích, dục vọng đều không thể khiến mắt họ bị lôi cuốn mệt nhọc.
30. Ngu trí hiền bất tiếu: “ngu” là mê muội; “trí” là hiểu sâu đạo lư; “hiền” là người có phẩm đức cao; “bất tiếu” là kẻ phẩm đức xấu ác. Chỉ chung các hạng người khác nhau.
31. Bất cụ ư vật: không bị ngoại vật làm cho kinh nhiễu.
32. Đức toàn bất nguy: “đức toàn” tức là kiên tŕ thân thể lực hành, thực hiện đầy đủ đạo dưỡng sinh; “bất nguy” tức là không bị nội tà ngoại tà làm hại.
Phân tích
Kinh văn thông qua việc đối chiếu sự khác nhau về tuổi thọ giữa người xưa và người nay, đă làm sáng tỏ ư nghĩa quan trọng của dưỡng sinh, nêu ra năm pháp tắc lớn của dưỡng sinh, đồng thời tŕnh bày hai nguyên tắc có tính cương lĩnh để chỉ đạo các hoạt động dưỡng sinh.
(1) Ư nghĩa của dưỡng sinh
Kinh văn thông qua sự đối chiếu đă chỉ ra rằng: người thời thượng cổ hiểu được pháp tắc dưỡng sinh, lại biết coi trọng cả tri lẫn hành, thân thể lực hành, nên có thể sống qua trăm tuổi rồi mới mất; c̣n người đời nay th́ không hiểu đạo dưỡng sinh, mọi hành vi trong sinh hoạt hằng ngày đều đi ngược với pháp tắc dưỡng sinh, nên khoảng năm mươi tuổi đă suy lăo. Thông qua sự đối chiếu ấy, kinh văn làm rơ ư nghĩa quan trọng của dưỡng sinh, tức là “tri đạo nhi hành tắc thọ, bất tri kỳ đạo, bối đạo nhi hành tắc yêu” :biết đạo mà thực hành th́ trường thọ, không biết đạo, lại đi ngược với đạo th́ yểu thọ. Đồng thời, đoạn này cũng nhắc rằng việc dưỡng sinh bảo kiện phải bắt đầu từ tuổi thanh thiếu niên, phải xuyên suốt toàn bộ quá tŕnh hoạt động sinh mệnh của con người, tuyệt đối không nên đợi đến khi suy thoái hoặc bệnh tật quấn thân mới bắt đầu coi trọng. Quả đúng như Tố Vấn · Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận đă nhấn mạnh: “Tri chi tắc cường, bất tri tắc lăo, cố đồng xuất nhi danh dị nhĩ” :biết được th́ mạnh, không biết th́ già, cho nên cùng một nguồn mà tên gọi khác nhau.

(2) Pháp tắc của dưỡng sinh
“Pháp ư âm dương” : noi theo âm dương. Nội Kinh xem con người và tự nhiên là một chỉnh thể thống nhất, hài ḥa và không thể phân tách; hiện tượng sinh mệnh của con người là một bộ phận của hiện tượng tự nhiên; con người cùng với giới tự nhiên liên hệ mật thiết với nhau; c̣n sự h́nh thành và tồn tại của sinh mệnh th́ bắt nguồn từ sự tiêu trưởng biến hóa của âm dương trong bốn mùa của một năm. Tự cổ thông thiên giả, sinh chi bản, bản ư âm dương.: Từ xưa, cái gốc của sự sống, vốn ở nơi âm dương. V́ vậy, con người muốn được khỏe mạnh trường thọ th́ nhất định phải nắm được quy luật biến hóa âm dương của tự nhiên, tự giác thích ứng với sự thay đổi khí hậu của thiên nhiên, thuận theo quy luật biến hóa âm dương của bốn mùa, khiến âm dương trong cơ thể luôn giữ được thế điều ḥa cân bằng với môi trường tự nhiên, từ đó nâng cao năng lực thích ứng của cơ thể đối với ngoại cảnh, để “dữ vạn vật phù trầm ư sinh trưởng chi môn” : cùng với vạn vật mà nổi ch́m nơi cửa sinh trưởng.
Ở phần cuối thiên này, Nội Kinh c̣n nêu ra bốn hạng người là “chân nhân” 真人, “chí nhân” 至人, “thánh nhân” 聖人, “hiền nhân” 賢人, tức những người đă đạt đến mức đại thành trong dưỡng sinh. Phương pháp của họ tuy khác nhau, nhưng tất cả đều xem việc thuận theo quy luật tự nhiên là tiền đề hàng đầu và pháp tắc căn bản của dưỡng sinh. Chẳng hạn như: “Chân nhân giả, đề khiết thiên địa, bả ác âm dương. : Chân nhân là người nắm được trời đất, làm chủ âm dương. Chí nhân giả...... ḥa ư âm dương, điều ư tứ thời: Chí nhân là người ḥa với âm dương, điều hợp với bốn mùa. Thánh nhân giả, xử thiên địa chi ḥa, ṭng bát phong chi lư:Thánh nhân là người ở trong cái ḥa của trời đất, theo lẽ của tám hướng gió. Hiền nhân giả, pháp tắc thiên địa, tượng tự nhật nguyệt, biện liệt tinh thần, nghịch ṭng âm dương, phân biệt tứ thời: Hiền nhân là người noi theo phép tắc của trời đất, phỏng theo nhật nguyệt, phân biệt tinh tú, xét thuận nghịch âm dương, phân rơ bốn mùa. Những lời ấy đều nhằm nhấn mạnh rằng dưỡng sinh phải thích ứng với sự biến hóa của trời đất bốn mùa, ngày đêm âm dương.
Tố Vấn · Tứ Khí Điều Thần Đại Luận lại chỉ rơ thêm: Âm dương tứ thời giả, vạn vật chi chung thủy dă, tử sinh chi bản dă...... ṭng chi tắc kha tật bất khởi, thị vị đắc đạo: Âm dương bốn mùa là đầu cuối của vạn vật, là gốc của sống chết...... thuận theo th́ bệnh nặng không phát sinh, đó gọi là đắc đạo. Nhờ vậy cơ thể có thể trừ bệnh, kéo dài tuổi thọ, khỏe mạnh trường sinh; ngược lại, nghịch chi tắc tai hại sinh: tức trái nghịch lại th́ tai hại phát sinh. Nếu trái với quy luật biến hóa âm dương của bốn mùa và ngày đêm, th́ nhẹ sẽ sinh bất thích mà thành bệnh, nặng sẽ yểu thọ đoản mệnh. Bởi vậy, Nội Kinh cho rằng “pháp ư âm dương” : thuận theo quy luật tự nhiên của sự biến hóa âm dương chính là đại pháp dưỡng sinh căn bản nhất.
Ngoài ra, sự tiêu trưởng biến hóa của âm dương nhị khí trong tự nhiên c̣n có thể thay đổi ngay trong cùng một thời điểm, tùy theo sự chuyển dịch của không gian địa lư. V́ vậy, “pháp ư âm dương” c̣n hàm nghĩa thuận theo hoàn cảnh địa lư mà tiến hành dưỡng sinh. Ngay từ hơn hai ngh́n năm trước, Nội Kinh đă nhận ra rằng dưỡng sinh phải “nhân địa chế nghi” 因地制宜 tùy theo vùng đất mà lựa chọn phép thích hợp. Ở những địa vực khác nhau, trạng thái của âm dương nhị khí không giống nhau, ảnh hưởng của chúng đối với sinh mệnh cũng không giống nhau, v́ thế phương pháp dưỡng sinh và điều trị cũng phải khác nhau. Ví dụ, Tố Vấn · Ngũ Thường Chính Đại Luận chỉ ra rằng: Đông nam phương, dương dă, dương giả kỳ tinh giáng ư hạ...... tây bắc phương, âm dă, âm giả kỳ tinh phụng ư thượng...... âm tinh sở phụng kỳ nhân thọ, dương tinh sở giáng kỳ nhân yêu...... sùng cao tắc âm khí trị chi, ô hạ tắc dương khí trị chi...... cao giả kỳ khí thọ, hạ giả kỳ khí yêu...... tiểu giả tiểu dị, đại giả đại dị. Nghĩa là: phương đông nam thuộc dương, cái tinh của dương giáng xuống dưới; phương tây bắc thuộc âm, cái tinh của âm phụng lên trên; nơi âm tinh phụng lên th́ con người thường thọ, nơi dương tinh giáng xuống th́ con người dễ yểu; chỗ cao sùng th́ âm khí chủ trị, chỗ thấp ướt th́ dương khí chủ trị; nơi cao th́ khí chủ về thọ, nơi thấp th́ khí chủ về yểu; khác nhỏ th́ ảnh hưởng nhỏ, khác lớn th́ ảnh hưởng lớn. Tố Vấn · Dị Pháp Phương Nghi Luận cũng chỉ ra rằng biển thạch bắt nguồn từ phương đông, cứu pháp bắt nguồn từ phương bắc, c̣n đạo dẫn án kiều phát sinh từ trung nguyên. Trong xă hội hiện đại, giao thông phát triển, con người có thể trong thời gian ngắn mà di chuyển khoảng cách lớn trong không gian, khiến ảnh hưởng của biến đổi địa vực đối với âm dương trong cơ thể càng trở nên rơ rệt, điển h́nh như “thời sai phản ứng” 時差反應 phản ứng lệch múi giờ. V́ vậy, quan điểm thuận theo hoàn cảnh địa lư để dưỡng sinh cần được đặc biệt coi trọng trong thời đại ngày nay.
“Ḥa ư thuật số” 和於術數 nghĩa là vận dụng nhiều phương pháp dưỡng sinh khác nhau để rèn luyện h́nh thể. Nội Kinh vừa có phương pháp chủ động luyện h́nh là “đạo dẫn” 導引, lại vừa có phương pháp vận động xoa bóp bị động là “án kiều” 按蹺. Các nhà dưỡng sinh đời sau, trên cơ sở những phương pháp ấy, đă sáng tạo ra nhiều phép vận động thân thể, cường gân kiện cốt như Ngũ Cầm Hí, Dịch Cân Kinh, Bát Đoạn Cẩm, Thái Cực Quyền, vơ thuật v.v. Tuy Nội Kinh không trực tiếp dùng hai chữ “khí công” 氣功, nhưng lại luận thuật rất tinh tế và sâu sắc về nguyên lư cũng như yếu điểm luyện công. Câu trong thiên này nói: “呼吸精氣,獨立守神,肌肉若一” Hô hấp tinh khí, độc lập thủ thần, cơ nhục nhược nhất nghĩa là hô hấp tinh khí, tự giữ tinh thần, khiến cơ nhục toàn thân như một khối thống nhất. Câu ấy đă gợi rơ những phương pháp tu luyện khí công như điều chỉnh hơi thở, an tâm định thần, thả lỏng cơ nhục, tức chính là “tam điều” 三調 mà đời sau gọi là điều tâm, điều tức, điều thân. Đây cũng chính là ba yếu lĩnh lớn trong phép luyện khí công, và là nền tảng cho sự phát triển của khí công đời sau.
Nội Kinh c̣n đặc biệt nhấn mạnh vận động chi thể. Như trong Tố Vấn · Di Tinh Biến Khí Luận có câu: “動作以避寒” Động tác dĩ tị hàn nghĩa là vận động để tránh hàn. Điều đó cho thấy người xưa đă nhận thức được rằng động th́ sinh dương, có thể thúc đẩy khí huyết vận hành, làm cho tứ chi ấm áp, từ đó chống lại hàn khí. Qua đó có thể thấy, vào thời Nội Kinh đă rất thịnh hành nhiều phương pháp vận động rèn luyện khác nhau. Những phương pháp ấy, có cái chuyên rèn luyện vùng lưng eo chân tay để đạt công hiệu thu liễm, củng cố thận, bảo tồn tinh; có cái chuyên rèn luyện tai mắt để điều dưỡng can thận; có cái chuyên chú vào ư niệm, ngưng thần để khiến khí đầy, tinh sinh. Thông qua sự rèn luyện h́nh thể và điều nhiếp ư niệm, con người có thể giữ được tinh, làm mạnh khí, thông mạch, vượng thần, khiến ba mặt tinh, khí, thần đều được nuôi dưỡng. Nhờ đó, bên trong th́ ngũ tạng điều ḥa, bên ngoài th́ cơ phu nhuận trạch, gân xương cường kiện, dung nhan sáng đẹp, tai thính mắt tinh, tuy tuổi đă già mà vẫn c̣n cường tráng, đúng như câu: “所以能百歲而動作不衰” Sở dĩ năng bách tuế nhi động tác bất suy nghĩa là nhờ vậy mà có thể sống đến trăm tuổi mà động tác vẫn không suy.

“Ẩm thực hữu tiết” (飲食有節: ăn uống có chừng mực): tức là ăn uống phải có tiết chế, điều này bao gồm các mặt như lựa chọn thực phẩm, tiết luật ăn uống, phương pháp ăn uống v.v. Ăn uống là một trong những điều kiện cơ bản để cơ thể con người tồn tại. Tố Vấn · B́nh Nhân Khí Tượng Luận nói: “Nhân dĩ thủy cốc vi bản, cố nhân tuyệt thủy cốc tắc tử”: con người lấy thủy cốc làm gốc, nên nếu dứt bỏ ăn uống th́ sẽ chết. V́ vậy, việc điều nhiếp ăn uống có thích đáng hay không sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ của con người. “Ẩm thực hữu tiết” trên thực tế là chỉ thời gian, chất lượng và số lượng của việc ăn uống đều phải phù hợp với yêu cầu sinh lư.
Trước hết là định thời ẩm thực: ăn uống đúng giờ. Sở dĩ ăn uống cần đúng giờ là v́ có liên quan đến thời gian lưu lại và truyền tống của thức ăn trong trường vị. Tỳ vị mới có thể hoạt động hài ḥa và thư giăn, khiến thức ăn được tiêu hóa và hấp thu một cách có trật tự. V́ vậy, ăn uống đúng giờ là một phương pháp quan trọng để bảo vệ công năng tiêu hóa.
Tiếp theo là định lượng ẩm thực: ăn uống đúng mức. Tố Vấn · Tư Luận chỉ ra rằng: “Ẩm thực tự bội, trường vị năi thương”: ăn uống quá mức th́ ruột dạ dày bị tổn thương). Ăn uống quá nhiều sẽ làm tăng gánh nặng cho trường vị, khiến thức ăn dễ đ́nh trệ ở ruột dạ dày, không thể kịp thời tiêu hóa và hấp thu. Nhưng nếu tiết thực quá mức th́ lại dễ gây thiếu hụt dinh dưỡng, làm khí huyết hao tổn, mà kết quả vẫn không có lợi cho sức khỏe. Bất cứ việc ăn uống nào cũng không được quá mức. Tố Vấn · Ngũ Thường Chính Đại Luận nói: “Cốc nhục quả thái, thực dưỡng tận chi, vô sử quá chi, thương kỳ chính dă”: ngũ cốc, thịt, quả, rau đều dùng để nuôi dưỡng, nhưng không được quá mức, kẻo làm tổn thương chính khí. Nội Kinh nhiều lần khẳng định rằng việc tiêu thụ quá nhiều bất kỳ loại nào trong năm vị đều có hại cho sức khỏe, như Tố Vấn · Ngũ Tạng Sinh Thành nói: “Đa thực hàm, tắc mạch ngưng sáp nhi biến sắc”: ăn quá nhiều vị mặn th́ mạch sẽ ngưng trệ mà sắc diện thay đổi. Nghiên cứu hiện đại cũng chứng minh rằng việc hấp thu quá nhiều muối có thể ảnh hưởng đến thành phần huyết dịch và tuần hoàn máu, là một trong những yếu tố nguy hiểm dẫn đến bệnh cao huyết áp.
Hơn nữa, cần đảm bảo chất lượng thực phẩm, bao gồm chế độ ăn uống cân bằng và tránh các sở thích ăn uống đặc biệt. Ví dụ, Tố Vấn · Tạng Khí Pháp Thời Luận chỉ ra rằng: “Ngũ cốc vi dưỡng, ngũ quả vi trợ, ngũ súc vi ích, ngũ thái vi sung, khí vị hợp nhi phục chi, dĩ bổ tinh ích khí”: Ngũ cốc cung cấp dưỡng chất, trái cây hỗ trợ, thịt mang lại lợi ích, và rau củ bổ sung chất dinh dưỡng; khi hương vị và đặc tính của chúng được kết hợp và tiêu thụ, chúng sẽ phục hồi tinh chất và tăng cường năng lượng. Xét theo tư liệu nghiên cứu hiện đại, thực phẩm ngũ cốc chứa đường và một lượng nhất định chất đạm; thực phẩm từ thịt chứa chất đạm và chất béo; rau xanh và trái cây chứa nhiều vitamin và khoáng chất. Chỉ bằng cách kết hợp thịt và rau củ, cùng với việc tạo ra những sự kết hợp hợp lư giữa các loại thực phẩm khác nhau, chúng ta mới có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể con người.
Cuối cùng, c̣n phải chú ư đến phương pháp ăn uống, như tiến thực bất ngữ: ăn không nói chuyện, tế tước mạn yến: nhai kỹ nuốt chậm) v.v.
“Khởi cư hữu thường”: sinh hoạt nghỉ ngơi có quy luật: tức là giờ giấc sinh hoạt phải có quy luật, phải căn cứ theo sinh vật tiết luật b́nh thường của sinh mệnh mà sắp xếp nghỉ ngơi, làm việc. Tiết luật sinh mệnh của con người được h́nh thành trong quá tŕnh lâu dài tương tác và thích ứng với giới tự nhiên. Nội Kinh có nhận thức khá sâu sắc đối với niên tiết luật: nhịp sinh học theo năm, quư tiết luật: nhịp sinh học theo mùa, nguyệt tiết luật: nhịp sinh học theo tháng, nhật tiết luật: nhịp sinh học theo ngày v.v. Ví dụ, Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận nói: “Dương khí giả, nhất nhật nhi chủ ngoại, b́nh đán nhân khí sinh, nhật trung nhi dương khí long, nhật tây nhi dương khí dĩ hư, khí môn năi bế. Thị cố mộ nhi thu cự, vô nhiễu cân cốt, vô kiến vụ lộ, phản thử tam thời, h́nh năi khốn bạc”: dương khí trong một ngày chủ ở ngoài; buổi sớm khí người sinh, giữa trưa dương khí thịnh, chiều tà dương khí đă hư, khí môn bèn đóng. Do đó, nên tránh làm xáo động cơ bắp và xương khớp vào lúc hoàng hôn, và tránh tiếp xúc với sương mù và sương đọng. Nếu không tuân thủ ba nguyên tắc này, cơ thể sẽ trở nên yếu ớt và suy nhược. Điều này chỉ ra rằng phải thuận theo tiết luật ngày đêm mà sắp xếp sinh hoạt hằng ngày th́ mới giữ được sức khỏe; bằng không, cơ thể sẽ bị tà khí quấy nhiễu mà suy yếu. Ban ngày, dương khí của cơ thể thịnh vượng, hoạt động chức năng của các tổ chức cơ quan tương đối mạnh, cho nên là thời gian tốt nhất để bố trí công tác và học tập; c̣n ban đêm th́ dương khí của cơ thể tương đối hư hơn, chức năng sinh lư của các tổ chức cơ quan hạ thấp, nên thích hợp nghỉ ngơi. Lại như Tố Vấn · Tứ Khí Điều Thần Đại Luận nói rằng ba tháng mùa xuân th́ nên “dạ ngọa tảo khởi, quảng bộ ư đ́nh”: ngủ muộn dậy sớm, đi bộ thong thả ngoài sân; ba tháng mùa hạ th́ nên “dạ ngọa tảo khởi, vô yếm ư nhật”: ngủ muộn dậy sớm, không chán ánh nắng mặt trời); ba tháng mùa thu th́ nên “tảo ngọa tảo khởi, dữ kê câu hưng”: ngủ sớm dậy sớm, thức dậy cùng gà; ba tháng mùa đông th́ nên “tảo ngọa văn khởi, tất đăi nhật quang”: ngủ sớm dậy muộn, nhất định đợi có ánh sáng mặt trời. Quy luật sinh hoạt nghỉ ngơi cần được điều chỉnh tương ứng theo sự thay đổi của mùa. Ngoài ra, “khởi cư hữu thường” c̣n phải chú ư kết hợp lao và dật (làm việc và nghỉ ngơi), cho nên thiên này nhấn mạnh rằng: “H́nh lao nhi bất quyện, khí ṭng dĩ thuận”: thân có lao động mà không mệt mỏi, th́ khí sẽ điều ḥa thuận đạt). Tố Vấn · Tuyên Minh Ngũ Khí có lời răn: “Cửu thị thương huyết, cửu ngọa thương khí, cửu tọa thương nhục, cửu lập thương cốt, cửu hành thương cân”: nh́n lâu hại huyết, nằm lâu hại khí, ngồi lâu hại nhục, đứng lâu hại xương, đi lâu hại gân, và Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận cũng cảnh báo: “Khởi cư như kinh, thần khí năi phù”: sinh hoạt nếu hoảng hốt bất an th́ thần khí sẽ phù tán. V́ vậy, làm việc nghỉ ngơi thích đáng, sinh hoạt có quy luật, th́ mới có thể giữ sức sống lâu dài mà không suy.
“Bất vọng tác lao”: không lao nhọc một cách quá mức: tức là nhấn mạnh không nên lao lực quá độ. Trước hết cần chú ư rằng cả thể lực lao động lẫn năo lực lao động đều không được quá mức. Sinh mệnh nằm ở vận động; lao động thể lực vừa phải và rèn luyện thể dục thích hợp có thể làm cho kinh mạch lưu thông, sinh cơ thịnh vượng, là điều kiện quan trọng để giữ sức khỏe và trường thọ. Một khi lao động thể lực quá mức th́ sẽ dẫn đến “lao tắc khí hao”: lao lực th́ hao khí, như trong Tố Vấn · Cử Thống Luận đă nói, đồng thời làm tổn thương gân cốt v.v. V́ vậy, Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận mới có lời rằng: “Nhân nhi cường lực, thận khí năi thương, cao cốt năi hoại”: gắng sức quá mức th́ thận khí bị thương, xương cốt cũng bị tổn hại. Người biết dùng đầu óc đúng mức, tinh thần chuyên chú, th́ không thiếu người được trường thọ; nhưng nếu dùng năo quá độ th́ sẽ hao thương tâm thần, sinh ra biến bệnh về t́nh chí. Đoạn này c̣n chỉ ra rằng “bất thời ngự thần, vụ khoái kỳ tâm”: không kiểm soát được tinh thần và chỉ t́m kiếm khoái lạc cá nhân th́ sẽ dẫn đến hậu quả xấu là “bán bách nhi suy”: chưa tới già mà đă suy. Ngoài ra, “bất vọng tác lao” c̣n bao gồm cả việc không được pḥng lao quá độ. Thiên này đặc biệt nhấn mạnh rằng phải tiết chế sinh hoạt t́nh dục để “tích tinh toàn thần”: tích lũy tinh khí, bảo toàn tinh thần, mà di dưỡng thiên niên: dưỡng nuôi để hưởng trọn tuổi trời, đồng thời phê phán nghiêm khắc hiện tượng không biết tiết chế t́nh dục, không biết giữ tinh mà làm hao tán chân nguyên chi khí, để rồi dẫn đến t́nh trạng “bán bách nhi suy”. V́ vậy, thiên này đă đặc biệt nêu lời răn đối với hạng người “túy dĩ nhập pḥng, dĩ dục kiệt kỳ tinh, dĩ hao tán kỳ chân, bất tri tŕ măn”: đắm say pḥng sự, v́ dục mà làm cạn tinh, làm hao tán chân khí, không biết giữ cho đầy đủ tinh và khí. Đây chính là một đặc sắc lớn và cũng là một đóng góp quan trọng trong lư luận dưỡng sinh của thiên này.
(3) “Nội điều tinh thần, ngoại ngự tà khí”: bên trong điều ḥa tinh thần, bên ngoài chống giữ tà khí là cương lĩnh của hoạt động dưỡng sinh. Đoạn này nêu ra hai yêu cầu có tính cương lĩnh đối với dưỡng sinh.
Một là phải pḥng ngừa sự xâm nhập của ngoại lai bệnh tà, tức cái gọi là “hư tà tặc phong, tị chi hữu thời”: hư tà, tặc phong th́ phải biết tránh đúng lúc. Mỗi thời lệnh khác nhau th́ có những loại tà khí hiện hành khác nhau; sau khi xâm phạm vào cơ thể, chúng sẽ làm hao tổn chính khí, dẫn đến phát sinh những bệnh tật khác nhau. V́ vậy phải luôn chú ư tránh né sự xâm nhập của khí bất chính trong bốn mùa. Linh Khu · Cửu Cung Bát Phong nói: “Cẩn hậu hư phong nhi tị chi, cố thánh nhân viết tị hư tà chi đạo, như tị thỉ thạch nhiên, tà phất năng hại, thử chi vị dă”: cẩn thận nhận biết hư phong mà tránh đi, cho nên thánh nhân nói đạo tránh hư tà cũng như tránh tên đá, th́ tà không thể làm hại, chính là ư ấy. Đặc biệt đối với khí dịch độc có tính truyền nhiễm mạnh, lại càng phải tránh xa nguồn lây. Như Tố Vấn di thiên · Thích Pháp Luận nói: “Ngũ dịch chi chí, giai tương nhiễm dịch... như hà khả đắc bất tương nhiễm dịch giả... tị kỳ độc khí”: khi ngũ dịch đến th́ đều dễ lây nhiễm lẫn nhau... làm sao để không bị lây nhiễm... là phải tránh độc khí của nó. Trên cơ sở đó, người xưa c̣n sáng tạo ra một phương gọi là “tiểu kim đan”: một bài thuốc nhỏ tên Kim Đan để pḥng ngừa sự lây nhiễm của dịch độc lệ khí. Qua đó có thể thấy, dưỡng sinh trong Nội Kinh vừa coi trọng nội nhân là chính khí, vừa nhấn mạnh việc phải luôn làm tốt công tác dự pḥng, tránh sự xâm nhập của các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài.
Hai là phải pḥng ngừa sự kích thích bất lợi đối với tinh thần, tức cái gọi là “điềm đạm hư vô, chân khí ṭng chi”: giữ tâm điềm đạm, hư tĩnh, th́ chân khí sẽ theo đó mà điều ḥa. Những cảm xúc tiêu cực như lo lắng, thất vọng, sợ hăi, thiếu kiên nhẫn, căng thẳng, phấn khích, nhút nhát và ác cảm có thể gây ra ứ trệ khí, rối loạn khí huyết và mất cân bằng nội tạng, dẫn đến bệnh tật và tổn hại sinh lực của cơ thể. Do đó, điều tiết cảm xúc là một phương pháp quan trọng để duy tŕ sức khỏe. Cốt lơi tư tưởng của nó là “dĩ điềm du vi vụ”: lấy sự thanh thản và niềm vui làm mục tiêu. “Điềm đạm hư vô”: sự thanh thản, trống rỗng và ổn định cảm xúc đề cập đến sự tĩnh lặng trong tâm trí, trong khi niềm vui, sự măn nguyện và tinh thần hăng hái đề cập đến hoạt động tinh thần. Tức là: thông qua việc tự giác tu dưỡng tư tưởng ư thức và chuyển hóa tư tưởng ư thức mà chuyển biến những tâm trạng xấu ác; thông qua việc chủ động “điều tức” (調息: điều ḥa hơi thở), “điều thần” (調神: điều ḥa tinh thần) người ta có thể đạt được trạng thái tĩnh lặng và tách rời khỏi những ham muốn trần tục;; thông qua sự suy nghĩ đúng đắn mà làm cho cảm xúc ổn định, hoạt động của tạng phủ điều ḥa; biết khéo t́m lấy niềm vui và sự măn nguyện trong tập tục sinh hoạt, khiến tâm t́nh ḿnh thư thái, t́nh chí thư thái và tràn đầy năng lượng, từ đó kháng cự hữu hiệu các cảm xúc tiêu cực. Như vậy, một tĩnh một động khiến tinh thần đạt đến sự thống nhất giữa hoạt động và nghỉ ngơi. Do đó, điều tiết cảm xúc và duy tŕ sức khỏe tinh thần là một phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe và pḥng ngừa bệnh tật.

(4) Về “thiên chân” và “chân khí”
“Thiên chân” là một thuật ngữ chỉ xuất hiện duy nhất ở nhan đề của thiên này trong toàn bộ Nội Kinh. Đối với hàm nghĩa của thiên chân, từ trước đến nay cách hiểu không hoàn toàn giống nhau. Một số nhà chú giải giải thích “thiên chân” theo nghĩa “thiên niên”, như Mă Thị nói:
Nội ngôn thượng cổ chi nhân, tại thượng giả tự nhiên tri đạo, tại hạ giả ṭng giáo dĩ hợp ư đạo, giai năng độ bách tuế năi khứ. Duy chân nhân thọ đồng thiên địa, chính dĩ kỳ toàn thiên chân cố dă. Nghĩa là: Trong đây nói rằng người thời thượng cổ, người ở ngôi trên th́ tự nhiên hiểu đạo, người ở ngôi dưới th́ theo sự dạy dỗ mà hợp với đạo, nên đều có thể sống quá trăm tuổi rồi mới mất. Chỉ riêng bậc chân nhân th́ tuổi thọ ngang cùng trời đất, chính v́ giữ trọn được thiên chân vậy.
Một số nhà chú giải khác lại giải thích “thiên chân” là “chất phác”, như Cao Sĩ Tông cho rằng:Thiên chân giả, thiên tính tự nhiên chi chân, hào vô nhân dục chi tạp dă.:Thiên chân là cái chân thật tự nhiên của thiên tính, hoàn toàn không xen tạp dục vọng của con người.
Cũng có một số nhà chú giải cho rằng “thiên chân” là khí của trời đất mà con người bẩm thụ được, như Diêu Chỉ Am trong Tố Vấn Kinh Chú Tiết Giải nói:
Nhân sinh ư địa, khí bẩm ư thiên, duy nhân thụ chi, thị vị thiên chân: Con người sinh ở đất, khí th́ bẩm thụ từ trời, chỉ con người nhận được cái đó, nên gọi là thiên chân.
Lại có nhà chú giải khác giải thích “thiên chân” là tiên thiên chân khí, như Trương Chí Thông nói:
Thiên chân, thiên ất thủy sinh chi chân nguyên dă: Thiên chân là chân nguyên vào lúc thiên ất mới bắt đầu sinh ra.
Thiên danh là sự khái quát cô đọng nhất đối với nội dung bài văn. Thiên này chủ yếu bàn về tác dụng quan trọng của “thận khí” 腎氣 khí của thận, công năng khí hóa của thận và “tinh khí” 精氣 tinh và khí, phần tinh hoa vật chất cùng sức sống của cơ thể trong quá tŕnh sinh trưởng, suy lăo và sự thịnh suy của công năng sinh dục ở con người, đồng thời cũng luận giải đạo lư thông qua bảo dưỡng để pḥng ngừa bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và tăng thêm năm sống. Kết hợp với nội dung cụ thể của thiên này mà xét, “thiên chân” nên được hiểu là một danh từ, và chính là chỉ “tiên thiên chân khí”. Bốn cách giải thích của các nhà chú giải thực ra không hề mâu thuẫn với nhau, chỉ là mỗi người đứng trên một góc độ khác nhau để phát huy mà thôi.
Nếu tổng hợp các quan điểm ấy lại, có thể hiểu như sau: “thiên chân” tức là “tiên thiên chân khí”; xét về nguồn gốc th́ căn bản nó bắt nguồn từ khí của trời đất, trực tiếp bẩm thụ từ tinh sinh dục của cha mẹ; xét về tính chất, nó là cái “thiên nhiên chất phác”; xét về tầm quan trọng, như Mă Thị đă nói, chỉ khi giữ trọn được thiên chân th́ mới có thể hưởng hết tuổi trời. Bởi vậy có thể nói, sự thọ yểu của con người, xét từ gốc rễ, được quyết định bởi độ dày mỏng của “thiên chân”; c̣n dưỡng sinh th́ đều xoay quanh vấn đề làm thế nào để giữ trọn thiên chân mà tiến hành. Chính v́ độ dày mỏng của thiên chân quyết định căn bản đến sự thọ yểu, mà nó lại bắt nguồn từ khí trời đất, bẩm thụ từ tinh sinh dục của cha mẹ, nên dưỡng sinh phải bắt đầu từ trước khi sinh. Đây chính là cơ sở lư luận của học thuyết bẩm phú trong quan niệm thọ yểu của dưỡng sinh học. Lại v́ tính chất của thiên chân là “thiên nhiên chất phác”, mà con người sống giữa trời đất, không lúc nào không chịu sự quấy nhiễu và ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong ngoài, cho nên dưỡng sinh phải xuyên suốt toàn bộ quá tŕnh sinh mệnh, phải luôn luôn chú ư bảo dưỡng thiên chân, cố gắng giảm bớt sự quấy động và hao tán của các yếu tố bất lợi đối với thiên chân. Đây chính là nguyên tắc căn bản của tất cả các phương pháp dưỡng sinh.
“Chân khí” là một thuật ngữ xuất hiện nhiều lần trong Nội Kinh. Linh Khu, thiên Thích Tiết Chân Tà đă định nghĩa chân khí như sau:
Chân khí giả, sở thụ ư thiên, dữ cốc khí tịnh nhi sung thân giả dă.
: Chân khí là thứ khí nhận được từ trời, cùng với cốc khí hợp lại để làm đầy cơ thể.)
Đó là loại khí do tiên thiên nguyên khí và hậu thiên tông khí kết hợp mà thành. Chân khí là tên gọi chung của các loại khí trong cơ thể người, nhưng khi phân bố ở những bộ vị khác nhau th́ lại có những danh xưng tương ứng khác nhau. Ví dụ, vận hành ở tạng phủ th́ gọi là “tạng chân”, như đă nói trong Tố Vấn, thiên B́nh Nhân Khí Tượng Luận; đi vào kinh mạch th́ gọi là “kinh khí”, như trong Tố Vấn, thiên Ly Hợp Chân Tà Luận. Chân khí là nguồn động lực của toàn bộ hoạt động sinh mệnh, mà nguồn gốc của nó có hai con đường là tiên thiên và hậu thiên. Thành phần tiên thiên của nó chính là thiên chân. Độ dày mỏng của thiên chân do bẩm phú quyết định, nhưng lại phải nhờ khí hậu thiên nuôi dưỡng mà được bổ sung, nên nó là căn bản của sinh mệnh. V́ vậy, nói đến cùng th́ chân khí vẫn quy căn ở tiên thiên. Đây cũng chính là cơ sở lư luận để các y gia đời sau đề xuất học thuyết dưỡng sinh “tiên thiên dưỡng hậu thiên” và “hậu thiên dưỡng tiên thiên”.

Quan hệ giữa thận với quy luật sinh trưởng của cơ thể người, với sinh dục và với ngũ tạng lục phủ.
Nguyên văn
Đế viết: Nhân niên lăo nhi vô tử giả, tài lực tận da? tương thiên số nhiên dă?: Vua hỏi: Người đến tuổi già mà không có con, là v́ tinh lực đă hết chăng? Hay là lẽ trời tự nhiên vốn như vậy?
Kỳ Bá viết: Nữ tử thất tuế, thận khí thịnh, xỉ canh phát trưởng; nhị thất nhi thiên quư chí, nhâm mạch thông, thái xung mạch thịnh, nguyệt sự dĩ thời hạ, cố hữu tử; tam thất, thận khí b́nh quân, cố chân nha sinh nhi trưởng cực; tứ thất, cân cốt kiên, phát trưởng cực, thân thể thịnh tráng; ngũ thất dương minh mạch suy, diện thủy tiêu, phát thủy đọa; lục thất, tam dương mạch suy ư thượng, diện giai tiêu, phát thủy bạch; thất thất, nhâm mạch hư, thái xung mạch suy thiểu, thiên quư kiệt, địa đạo bất thông, cố h́nh hoại nhi vô tử dă.:Kỳ Bá đáp rằng: Nữ tử đến bảy tuổi th́ thận khí thịnh, thay răng, tóc dài; hai lần bảy th́ thiên quư đến, nhâm mạch thông, thái xung mạch thịnh, kinh nguyệt đúng lúc mà xuống, nên có thể sinh con; ba lần bảy th́ thận khí sung măn và điều ḥa, nên răng thật mọc đủ và sự phát triển đạt mức hoàn chỉnh; bốn lần bảy th́ gân xương cứng cáp, tóc phát triển đến cực điểm, thân thể cường tráng; năm lần bảy th́ dương minh mạch suy, mặt bắt đầu tiều tụy, tóc bắt đầu rụng; sáu lần bảy th́ tam dương mạch suy ở phần trên, mặt đều tiều tụy, tóc bắt đầu bạc; bảy lần bảy th́ nhâm mạch hư, thái xung mạch suy ít, thiên quư cạn, địa đạo không thông, nên h́nh thể suy hoại mà không thể sinh con nữa.
Trượng phu bát tuế, thận khí thực, phát trưởng xỉ canh; nhị bát, thận khí thịnh, thiên quư chí, tinh khí bồn tả, âm dương ḥa, cố năng hữu tử; tam bát, thận khí b́nh quân, cân cốt kính cường, cố chân nha sinh nhi trưởng cực; tứ bát, cân cốt long thịnh, cơ nhục măn tráng; ngũ bát, thận khí suy, phát đọa xỉ cảo; lục bát, dương khí suy kiệt ư thượng, diện tiêu, phát mấn ban bạch; thất bát, can khí suy, cân bất năng động; bát bát, thiên quư kiệt, tinh thiểu, thận tàng suy, h́nh thể giai cực, tắc xỉ phát khứ.: Nam tử đến tám tuổi th́ thận khí đầy đủ, tóc dài, thay răng; hai lần tám th́ thận khí thịnh, thiên quư đến, tinh khí đầy tràn mà tiết ra, âm dương ḥa hợp, nên có thể có con; ba lần tám th́ thận khí sung măn và điều ḥa, gân xương mạnh mẽ, nên răng thật mọc đủ và phát triển hoàn chỉnh; bốn lần tám th́ gân xương hưng thịnh, cơ nhục đầy đặn cường tráng; năm lần tám th́ thận khí suy, tóc rụng, răng khô; sáu lần tám th́ dương khí suy kiệt ở phần trên, mặt tiều tụy, tóc mai lấm tấm bạc; bảy lần tám th́ can khí suy, gân không c̣n vận động linh hoạt; tám lần tám th́ thiên quư cạn, tinh ít, thận tàng suy, h́nh thể đều đến mức suy cực, nên răng tóc rụng mất.
Thận giả chủ thủy, thụ ngũ tàng lục phủ chi tinh nhi tàng chi, cố ngũ tàng thịnh, năi năng tả. Kim ngũ tàng giai suy, cân cốt giải đọa, thiên quư tận hĩ, cố phát mấn bạch, thân thể trọng, hành bộ bất chính, nhi vô tử nhĩ.:Thận là cơ quan chủ về thủy, tiếp nhận tinh của ngũ tạng lục phủ mà tàng chứa lại, cho nên khi ngũ tạng thịnh th́ mới có thể tiết ra được. Nay ngũ tạng đều suy, gân xương mỏi yếu, thiên quư đă hết, cho nên tóc mai bạc trắng, thân thể nặng nề, đi đứng không vững, và không thể có con nữa.
Đế viết: Hữu kỳ niên dĩ lăo nhi hữu tử giả, hà dă?: Vua hỏi: Có người tuổi đă già mà vẫn có con, là v́ sao?
Kỳ Bá viết: Thử kỳ thiên thọ quá độ, khí mạch thường thông, nhi thận khí hữu dư dă. Thử tuy hữu tử, nam bất quá tận bát bát, nữ bất quá tận thất thất, nhi thiên địa chi tinh khí giai kiệt hĩ.: Kỳ Bá đáp rằng: Đó là v́ bẩm thụ tiên thiên của họ vượt hơn mức thường, khí mạch vẫn c̣n thông lợi, và thận khí c̣n dư. Tuy người ấy vẫn có con, nhưng nam th́ không vượt quá hết tám lần tám, nữ th́ không vượt quá hết bảy lần bảy, v́ khi ấy tinh khí của trời đất nơi con người đều đă cạn rồi.
Đế viết: Phù đạo giả, niên giai bách số, năng hữu tử hồ?: Vua hỏi: Người nắm được đạo dưỡng sinh, tuổi đều đến trăm trở lên, vẫn có thể sinh con chăng?
Kỳ Bá viết: Phù đạo giả, năng khước lăo nhi toàn h́nh, thân niên tuy thọ, năng sinh tử dă.: Kỳ Bá đáp rằng: Người đạt được đạo có thể đẩy lùi sự già yếu mà giữ toàn h́nh thể, cho nên tuy tuổi cao mà vẫn có thể sinh con.
(Tố Vấn · Thượng Cổ Thiên Chân Luận)
《素問·上古天真論》

Chú thích
1/ Vô tử: Không sinh được con, tức không c̣n năng lực sinh sản.
2/Tài lực: Tinh lực, ở đây chỉ năng lực sinh dục.
3/ Thiên số: Số trời, tức quy luật tự nhiên. Ở đây chỉ quy luật tự nhiên của sự sinh trưởng và suy lăo trong cơ thể người.
4/ Thất, bát: Là các con số ước lệ mà người xưa tổng kết dựa trên sự khác biệt trong quá tŕnh phát dục của nam và nữ.
5/ Xỉ canh: Thay răng. Người đến khoảng bảy, tám tuổi th́ răng sữa rụng đi, răng vĩnh viễn mọc thay, gọi là xỉ canh.
6/Thiên quư: “Thiên” là thiên ất; “quư” là một trong thập thiên can. Quư thuộc thủy, mà thận cũng thuộc thủy, cho nên thiên quư có nghĩa là quư thủy do thiên ất sinh ra. Trên thực tế, nó chỉ vật chất do thận tinh hóa sinh, có tác dụng thúc đẩy sự phát dục và công năng sinh sản.
7/ B́nh quân: Đầy đủ và cân bằng.
8/ Chân nha: Răng khôn.
9/Trưởng cực: Phát triển hoàn toàn, đạt đến trưởng thành.
10/ Dương minh mạch suy, diện thủy tiêu: “Tiêu” thông với “tiều”, nghĩa là tiều tụy. Túc dương minh mạch đi ở vùng mặt má, khi dương minh mạch suy, không nuôi dưỡng được phần đầu mặt, nên mặt bắt đầu tiều tụy.
11/ Tam dương mạch: Chỉ ba kinh dương là thái dương, dương minh, thiếu dương.
12/Địa đạo bất thông: Chỉ t́nh trạng phụ nữ măn kinh, tuyệt kinh.
13/ H́nh hoại: Ư nói h́nh thể suy lăo.
14/ Trượng phu: Chỉ nam giới.
15/ Thực: Đầy đủ, sung măn.
16/Tinh khí bồn tả: “Bồn” là đầy tràn ra ngoài; “tả” đồng với “tả”, nghĩa là tiết ra. Tinh khí bồn tả tức là thận khí đầy đủ rồi tràn ra ngoài.
17/ Âm dương ḥa: Ở đây âm dương là cách gọi thay cho nam và nữ; “ḥa” là ḥa hợp, giao hợp.
18/ Thụ ngũ tàng lục phủ chi tinh nhi tàng: “Thụ” là tiếp nhận. Câu này chỉ thận tiếp nhận tinh khí của ngũ tạng lục phủ, tức hậu thiên chi tinh, rồi tàng chứa lại.
19/ Ngũ tàng thịnh, năi năng tả: Ngũ tạng thịnh nghĩa là tinh khí của ngũ tạng sung vượng. Thận tàng tinh, mà tiên thiên chi tinh phải nhờ hậu thiên chi tinh không ngừng tư dưỡng th́ thận khí mới đầy đủ, rồi mới có thể tiết ra tinh sinh sản.
20/ Giải đọa: Đồng với “giải đọa”, nghĩa là mệt mỏi, vô lực.
21/Thiên thọ quá độ: “Thiên thọ” chỉ bẩm phú tiên thiên. Thiên thọ quá độ nghĩa là bẩm phú tiên thiên vượt hơn mức thường.
22/ Khí mạch thường thông: “Khí” là huyết khí; “mạch” là kinh mạch; “thường” là c̣n, vẫn. Câu này nói rằng khí huyết và kinh mạch vẫn c̣n thông lợi.
23/ Đạo giả: Chỉ người đă nắm được đạo dưỡng sinh.
24/ Khước lăo: “Khước” là đẩy lui, làm cho ngừng lại hoặc rời đi. Khước lăo tức là làm cho sự già yếu đến chậm lại, nghĩa là làm chậm quá tŕnh lăo hóa.
Phân tích
Kinh văn thông qua việc thảo luận quy luật sinh, trưởng, tráng, lăo của đời người và năng lực sinh dục của người già, đă làm sáng tỏ tác dụng quan trọng của thận khí, cũng như mối quan hệ tương hỗ giữa thận với sự thịnh suy của tinh khí ngũ tạng lục phủ.
(1) Tác dụng quan trọng của thận khí trong quá tŕnh sinh trưởng phát dục của nam và nữ
Căn cứ vào tư tưởng chủ đề của thiên này mà xét, mục đích là làm rơ ư nghĩa quan trọng của việc bảo dưỡng tinh khí trong thận đối với tuổi thọ. Thận là “tiên thiên chi bản” - tiên thiên chi bản - gốc của phần tiên thiên, nền tảng bẩm thụ từ khi chưa sinh), mà tinh khí do thận tàng chứa chính là cơ sở vật chất để thúc đẩy sự sinh trưởng phát dục và sinh dục của cơ thể con người, đồng thời cũng là căn bản của sinh mệnh. Tinh do thận tàng trữ, thông qua tác dụng của thận dương mà hóa sinh ra thận khí, giữ vai tṛ có tính quyết định trong toàn bộ quá tŕnh sinh trưởng phát dục của cơ thể.
Khi khí thận tăng dần, cơ thể tiến triển từ tuổi trẻ đến sức mạnh; khi khí thận suy giảm, cơ thể già đi và chết. Chỉ những người giỏi về bảo vệ sức khỏe mới có thể duy tŕ được tinh khí dồi dào, làm chậm quá tŕnh lăo hóa. Văn bản này đề cập đến (積精全神 - tích tinh toàn thần - tích tụ tinh khí, bảo toàn tinh thần),, nhấn mạnh rằng nguyên tắc chính của bảo vệ sức khỏe là tiết chế hoạt động t́nh dục để bảo tồn tinh khí. Chỉ khi có đủ tinh khí thận th́ khí thận mới mạnh mẽ, sức sống được tăng cường, và khả năng chống bệnh tật cũng như khả năng thích nghi được cải thiện tương ứng.

(2) Quan hệ giữa thận khí với sinh dục
Câu “nhị thất nhi thiên quư chí, nhâm mạch thông, thái xung mạch thịnh” nghĩa là: đến hai lần bảy tuổi th́ thiên quư đến, nhâm mạch thông, thái xung mạch thịnh. Điều này cho thấy thận khí cùng với nhâm, xung nhị mạch đều có quan hệ mật thiết với kinh nguyệt. Nhâm mạch chủ về tinh, huyết, tân dịch của toàn thân, lại liên thuộc với bào cung, tức khởi từ bào cung, cho nên khi khí của nhâm mạch thông th́ có thể thúc đẩy kinh nguyệt và thai nghén, bởi vậy nhâm mạch có ư nghĩa nuôi dưỡng thai. Xung mạch khởi từ bào trung, là nơi hội tụ của mười hai kinh mạch, là yếu xung của sự vận hành khí huyết toàn thân, nên có tên là “huyết hải” (血海 - huyết hải - biển của huyết), đồng thời cũng là gốc của kinh nguyệt. Trần Tự Minh trong Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương nói: Nhiên xung vi huyết hải, nhâm chủ bào thai, nhị mạch lưu thông, tắc tinh huyết tiệm doanh, ứng thời nhi hạ. Xung là huyết hải, nhâm chủ bào thai, hai mạch lưu thông th́ tinh huyết dần đầy đủ, đến thời mà giáng xuống.
Từ Linh Thai cũng nói: Phụ nhân chi tật, trừ kinh đới chi ngoại dữ nam tử đồng trị, nhi kinh đới chi tật, toàn thuộc xung nhâm. :
Bệnh của phụ nữ, ngoài các bệnh về kinh nguyệt và đới hạ ra th́ đều có thể trị như nam giới, c̣n bệnh về kinh đới th́ hoàn toàn thuộc về xung và nhâm.
V́ vậy, các y gia qua các đời đều xem việc điều “xung”, điều “nhâm” là đại pháp trong điều trị các bệnh về kinh nguyệt và đới hạ. Những bài như Lư Xung Thang, An Xung Thang, Cố Xung Thang, Ôn Xung Thang trong Y Học Trung Trung Tham Tây Lục của Trương Tích Thuần đều được lập ra dựa trên lư luận này.
Kinh nguyệt có liên quan đến xung và nhâm, mà xung và nhâm lại do thận làm chủ. Khi nữ giới ở thời kỳ phát dục, thận khí vượng thịnh, thiên quư phát triển chín muồi, cho nên khí của nhâm mạch được thông, huyết của xung mạch sung thịnh, đi xuống bào cung, v́ vậy kinh nguyệt đến đúng kỳ, đồng thời có năng lực sinh sản nhất định. Điều này cho thấy sinh lư nữ giới về các mặt sinh dục, sinh đẻ, kinh nguyệt v.v. không chỉ liên quan đến xung, nhâm, mà c̣n có quan hệ mật thiết với thận. V́ vậy, bổ thận khí là một nguyên tắc rất quan trọng trong điều trị phụ khoa. Đặc biệt ở thời kỳ thanh xuân, khi thận khí c̣n chưa sung thực, điều này lại càng quan trọng hơn.
(3) Quan hệ giữa thận với sự thịnh suy của tinh khí tạng phủ
Câu “thận giả chủ thủy, thụ ngũ tạng lục phủ chi tinh nhi tàng chi, cố ngũ tạng thịnh năi năng tả” nghĩa là: thận chủ thủy, tiếp nhận tinh của ngũ tạng lục phủ mà tàng chứa lại, cho nên khi ngũ tạng thịnh th́ mới có thể tiết ra. Quan hệ giữa thận và ngũ tạng lục phủ, về thực chất chính là quan hệ giữa tiên thiên và hậu thiên. Thận là “tiên thiên chi bản” - tiên thiên chi bản - gốc của phần tiên thiên, là “thủy hỏa chi trạch” - thủy hỏa chi trạch - nơi cư ngụ của thủy và hỏa. Thủy đại biểu cho thận tinh, là vật chất nguyên thủy h́nh thành nên sinh mệnh; hỏa đại biểu cho thận dương, là động lực ban đầu của hoạt động sinh mệnh nơi cơ thể. Thận dương tác dụng lên thận tinh mà sinh ra thận khí, có quan hệ đến toàn bộ quá tŕnh sinh trưởng, phát dục và sinh dục của cơ thể. Bởi vậy, “thận khí” mà Nội Kinh nói đến, về thực chất bao gồm cả hai mặt là “thận âm” - thận âm - phần âm chất, phần tinh nhuận của thận và “thận dương” - thận dương - phần dương khí, phần ôn hóa của thận.
Từ Linh Thai khi mô tả tác dụng của thận khí đă nói:
Vô hỏa nhi lệnh bách thể giai ôn, vô thủy nhi lệnh ngũ tạng giai nhuận. : Không có hỏa mà khiến trăm thể đều ấm, không có thủy mà khiến ngũ tạng đều được nhuận.
Điều đó cho thấy thận khí có tác dụng đồng thời của cả thận âm lẫn thận dương. Nạn Kinh · Bát Nạn cũng nói rằng động khí giữa hai thận là: Vi ngũ tạng lục phủ chi bản, thập nhị kinh mạch chi căn, hô hấp chi môn, tam tiêu chi nguyên, nhất danh thủ tà chi thần. Cố khí giả, nhân chi căn bản dă, căn tuyệt tắc hành diệp khô hĩ. Là gốc của ngũ tạng lục phủ, là rễ của mười hai kinh mạch, là cửa của hô hấp, là nguồn của tam tiêu, c̣n gọi là thần giữ tà. Cho nên khí là căn bản của con người, gốc đă dứt th́ cành lá cũng khô.
Điều này nói rất rơ rằng thận khí là căn bản của hoạt động sinh mệnh trong cơ thể người, vừa là cơ sở vật chất để duy tŕ sinh mệnh, vừa là động lực ban đầu của sinh mệnh, đồng thời c̣n có tác dụng chống đỡ ngoại tà. Tuy nhiên, quan hệ giữa hậu thiên tỳ vị cùng các tạng phủ khác với thận cũng vô cùng quan trọng. Thận tinh, tức “thủy cốc chi tinh” - thủy cốc chi tinh - phần tinh vi của thức ăn đồ uống, vốn đến từ ngũ tạng lục phủ; mà tinh của ngũ tạng lục phủ lại bắt nguồn từ tỳ vị, cho nên tỳ vị là “hậu thiên chi bản” ( hậu thiên chi bản - gốc của phần hậu thiên). Trương Giới Tân khi luận về quan hệ biện chứng giữa tỳ và thận đă nói: Nhân chi thủy sinh, bản hồ tinh huyết chi nguyên; nhân chi kư sinh, do ư thủy cốc chi dưỡng. Phi tinh huyết vô dĩ lập h́nh thể chi cơ, phi thủy cốc vô dĩ thành h́nh thể chi tráng. Tinh huyết chi tư tại mệnh môn, thủy cốc chi tư tại tỳ vị, cố mệnh môn đắc tiên thiên chi khí, tỳ vị đắc hậu thiên chi khí dă. Thị thủy cốc chi hải, bản lại tiên thiên vi chủ, nhi tinh huyết chi hải, hựu tất lại hậu thiên vi chi tư. : Con người khi mới bắt đầu sinh ra th́ gốc ở nguồn tinh huyết; con người sau khi đă sinh rồi th́ nhờ sự nuôi dưỡng của thủy cốc. Không có tinh huyết th́ không thể lập nên nền tảng của h́nh thể; không có thủy cốc th́ không thể làm nên sự cường tráng của h́nh thể. Chức năng chủ quản tinh huyết ở mệnh môn, chức năng chủ quản thủy cốc ở tỳ vị, cho nên mệnh môn có được khí tiên thiên, c̣n tỳ vị có được khí hậu thiên. V́ vậy, biển của thủy cốc vốn lấy tiên thiên làm chủ, c̣n biển của tinh huyết lại nhất định phải nhờ hậu thiên làm nguồn tư dưỡng.
Đây là một thảo luận rất tinh tế và sâu sắc về quan hệ giữa tiên thiên và hậu thiên.
Bốn hạng dưỡng sinh gia và đạo dưỡng sinh cùng hiệu quả của họ
Nguyên văn
Hoàng Đế viết: Dư văn thượng cổ hữu chân nhân giả, đề khiết thiên địa, bả ác âm dương, hô hấp tinh khí, độc lập thủ thần, cơ nhục nhược nhất, cố năng thọ敝 thiên địa, vô hữu chung thời, thử kỳ đạo sinh.: Hoàng Đế nói: Ta nghe thời thượng cổ có bậc chân nhân, nắm được trời đất, làm chủ âm dương, hô hấp tinh khí, tự giữ tinh thần, khiến gân cơ toàn thân như một khối, v́ vậy có thể sống lâu cùng trời đất, không có lúc kết thúc, đó là do đạo dưỡng sinh của họ.
Trung cổ chi thời, hữu chí nhân giả, thuần đức toàn đạo, ḥa ư âm dương, điều ư tứ thời, khứ thế ly tục, tích tinh toàn thần, du hành thiên địa chi gian, thị thính bát đạt chi ngoại, thử cái ích kỳ thọ mệnh nhi cường giả dă, diệc quy ư chân nhân. : Đến thời trung cổ, có bậc chí nhân, giữ đức thuần hậu, trọn đạo dưỡng sinh, ḥa với âm dương, điều với bốn mùa, rời xa thói tục, tích tinh toàn thần, tinh thần khoáng đạt như du hành giữa trời đất, tai mắt thông suốt ra ngoài tám phương; đó là người đă tăng thêm tuổi thọ mà vẫn cường kiện, cũng gần đạt đến cảnh giới chân nhân.
Kỳ thứ hữu thánh nhân giả, xử thiên địa chi ḥa, ṭng bát phong chi lư, thích thị dục ư thế tục chi gian, vô huệ sân chi tâm, hành bất dục ly ư thế, bị phục chương, cử bất dục quan ư tục, ngoại bất lao h́nh ư sự, nội vô tư tưởng chi hoạn, dĩ điềm du vi vụ, dĩ tự đắc vi công, h́nh thể bất tệ, tinh thần bất tán, diệc khả dĩ bách số. :Kế đó có bậc thánh nhân, sống thuận với khí ḥa của trời đất, theo lẽ của tám phương gió, điều ḥa ham muốn trong đời sống thế tục. Họ không có ḷng giận dữ oán hờn, hành xử không tách rời thế gian, áo mặc b́nh thường, cử chỉ không nhằm phô trương với tục thế, bên ngoài không để công việc làm mệt h́nh thể, bên trong không để tư lự thành mối hoạn, lấy điềm đạm vui ḥa làm điều cốt yếu, lấy sự tự đắc thư thái làm công phu, nên thân thể không suy, tinh thần không tán, cũng có thể sống đến trăm tuổi.
Kỳ thứ hữu hiền nhân giả, pháp tắc thiên địa, tượng tự nhật nguyệt, biện liệt tinh thần, nghịch ṭng âm dương, phân biệt tứ thời, tương ṭng thượng cổ, hợp đồng ư đạo, diệc khả sử ích thọ nhi hữu cực thời. : Kế đó có bậc hiền nhân, noi theo phép tắc của trời đất, phỏng theo nhật nguyệt, phân biệt tinh tú, xét thuận nghịch âm dương, phân rơ bốn mùa, gắng theo người thượng cổ mà hợp với đạo, cũng có thể kéo dài tuổi thọ đến mức rất cao.
(Tố Vấn · Thượng Cổ Thiên Chân Luận) .

Chú thích
1/Chân nhân 真人: Người thời thượng cổ, nhờ tu luyện mà nắm được quy luật biến hóa âm dương của trời đất, khiến thân tâm hoàn toàn thích ứng với tự nhiên, đạt đến tiêu chuẩn dưỡng sinh cao nhất.
2/ Đề khiết, bả ác 提挈,把握 Hai từ này dùng hỗ văn, cùng mang nghĩa là nắm giữ, làm chủ.
3/ Hô hấp tinh khí 呼吸精氣 Hít vào khí thanh khiết, tinh thuần nhất, loại thanh khí tươi mới chỉ có trong môi trường đặc biệt; thuộc phạm vi điều tức của khí công.
4/Độc lập thủ thần 獨立守神 Thông qua tự điều khiển tinh thần để tách khỏi sự quấy nhiễu của ngoại giới; thuộc phạm vi điều thần của khí công.
5/ Cơ nhục nhược nhất 肌肉若一 Thông qua rèn luyện khiến gân xương cơ nhục toàn thân đạt đến trạng thái phối hợp thống nhất cao độ; thuộc phạm vi điều thân của khí công.
6/ Thọ tệ thiên địa, vô hữu chung thời :Nghĩa là trường sinh bất lăo.
7/ Chí nhân 至人 : Người thời trung cổ, tu dưỡng cao thâm, gần giống với chân nhân thời thượng cổ.
8/Du hành thiên địa chi gian 遊行天地之間: Chỉ việc thông qua tự điều chỉnh tinh thần mà làm cho tâm thần khoáng đạt, mở rộng.
9/ Bát đạt 八達: Thông đạt ra bốn phương tám hướng.
10/ Bát phong 八風: Chỉ gió của tám phương: đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc.

11/ Bị phục chương 被服章 :Tân hiệu chính nói rằng ba chữ này có lẽ là chữ thừa, v́ trên dưới văn không nối thuộc, có thể bỏ.
12/Quan 觀 Nghĩa là khoe khoang, phô trương.
13/ Hiền nhân 賢人 :Người vừa có đức vừa có tài.

Phân tích
Đoạn này thông qua việc liệt kê đạo dưỡng sinh và hiệu quả của bốn hạng dưỡng sinh gia, để nói rơ rằng phương pháp dưỡng sinh và mức độ tu dưỡng khác nhau th́ hiệu quả đạt được cũng khác nhau. Kinh văn lấy chân nhân, chí nhân, thánh nhân, hiền nhân làm điển phạm dưỡng sinh, lần lượt tŕnh bày đạo dưỡng sinh riêng của từng hạng và hiệu quả dưỡng sinh khác nhau của họ, qua đó cho thấy lựa chọn tốt nhất trong con đường dưỡng sinh và tầm quan trọng của việc tự ḿnh thực hành.
Trước hết, cảnh giới dưỡng sinh của chân nhân là cao nhất, hiệu quả cũng tốt nhất. Chân nhân “đề khiết thiên địa, bả ác âm dương” : nắm được cơ vi tạo hóa của trời đất, hiểu được lẽ vận động biến hóa âm dương của vũ trụ, đó là đại pháp căn bản của dưỡng sinh. Chân nhân c̣n có thể thực hành những pháp dưỡng sinh tinh diệu thời cổ như “hô hấp tinh khí, độc lập thủ thần” : Pháp này dùng hô hấp thổ nạp, điều chỉnh hơi thở để luyện khí; đồng thời lắng yên tư tưởng, trừ bỏ tạp niệm để luyện ư. V́ vậy, vừa có thể thu lấy tinh khí của trời đất để sử dụng, vừa có thể khiến tinh khí trong thân hóa sinh đến mức thuần ḥa. Lại c̣n có thể xoa bóp nội tạng, thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch, tăng cường chức năng cơ quan, hưng phấn thần kinh trung ương, khiến cơ thể đi vào trạng thái “tinh thần nội thủ, chân khí ṭng chi” : tức trạng thái ổn định nội tại. Điều đó cực kỳ có lợi cho việc tăng cường thể chất, trừ bệnh kéo dài tuổi thọ, và cũng là cảnh giới cao nhất mà các dưỡng sinh gia theo đuổi.
Tiếp theo, chí nhân dưỡng sinh bằng cách “ḥa ư âm dương, điều ư tứ thời” : nhấn mạnh rằng con người và tự nhiên là một chỉnh thể không thể phân tách, tức là “nhân dữ thiên địa tương tham” “sinh khí thông thiên” 生氣通天. Muốn trừ bệnh kéo dài tuổi thọ, bảo vệ và duy tŕ hoạt động sinh mệnh b́nh thường của cơ thể, con người phải tự giác và chủ động thuận theo tiết luật thăng giáng phù trầm của âm dương bốn mùa cùng sự thay đổi khí hậu trong tự nhiên. Làm được như vậy th́ sẽ đạt đến trạng thái “nội ngoại điều ḥa, tà bất năng hại, nhĩ mục thông minh, khí lập như cố” 內外調和,邪不能害,耳目聰明,氣立如故. Ngoài ra, chí nhân c̣n “khứ thế ly tục” 去世離俗, nghĩa là ở giữa thế tục mà tránh được sự rối ren của thế tục, ngày càng đạt đến tâm an thần tĩnh, “tích tinh toàn thần” 積精全神, thân thể cường kiện, tinh thần khoáng đạt, tai mắt tinh sáng, nên “cái ích kỳ thọ mệnh nhi cường giả” 蓋益其壽命而強者. Tŕnh độ dưỡng sinh ấy rất gần với chân nhân, đă đạt đến một cảnh giới rất cao.
Lại nữa, thánh nhân dưỡng sinh bằng cách thuận theo sự tiêu trưởng của âm dương và sự biến hóa của thời lệnh, khí hậu tự nhiên, “xử thiên địa chi ḥa, ṭng bát phong chi lư” : để pḥng ngừa ngoại tà xâm nhập và ngăn chặn bệnh tật phát sinh. Đồng thời “thích thị dục ư thế tục chi gian, vô huệ sân chi tâm” nghĩa là ở giữa đời sống thế tục phức tạp mà vẫn giữ được tâm thần điềm đạm hư tĩnh, tinh thần nội tàng, lại thêm “h́nh thể bất tệ” :, lao mà không mệt, th́ sẽ đạt đến “h́nh dữ thần câu” sống thọ hơn trăm tuổi.
Sau cùng, hiền nhân dưỡng sinh bằng cách “pháp tắc thiên địa, tượng tự nhật nguyệt, biện liệt tinh thần, nghịch ṭng âm dương, phân biệt tứ thời” : nhấn mạnh rằng hiền nhân căn cứ vào quy luật biến hóa âm dương của tự nhiên, quan sát thiên tượng, noi theo vận hành của nhật nguyệt tinh thần, thuận theo thứ tự bốn mùa mà tiến hành dưỡng sinh bảo kiện. Nhờ vậy, họ cũng có thể đạt được hiệu quả dưỡng sinh rất tốt, khiến tuổi thọ kéo dài đến mức cực điểm.
Bốn hạng dưỡng sinh gia là chân nhân, chí nhân, thánh nhân, hiền nhân được nhắc đến trong đoạn này, trên thực tế đều là những h́nh mẫu dưỡng sinh lư tưởng trong tư tưởng của tác giả Nội Kinh. Quan niệm dưỡng sinh và sự lĩnh hội vận dụng thực tế của họ kỳ thực không có sai biệt bản chất. Đúng như Thành Huyền Anh đă nói: “Chí ngôn kỳ thể, thần ngôn kỳ dụng, thánh ngôn kỳ danh. Cố tựu thể ngữ chí, tựu dụng ngữ thần, tựu danh ngữ thánh, kỳ thực nhất dă” nghĩa là: chữ “chí” nói về thể, chữ “thần” nói về dụng, chữ “thánh” nói về danh; cho nên xét về thể th́ gọi là chí, xét về dụng th́ gọi là thần, xét về danh th́ gọi là thánh, nhưng thực chất chỉ là một.
Ngoài ra, Đạo gia cũng có thuyết nói về thánh nhân, chân nhân, chí nhân, hiền nhân. Nhiều chỗ trong thiên này nhắc đến “đạo” 道 và “đức” 德 đều bắt nguồn từ Đạo gia, cụ thể là từ Đạo Đức Kinh của Lăo Tử. Những quan điểm dưỡng sinh như chân nhân th́ “đề khiết thiên địa, bả ác âm dương” nắm giữ trời đất, làm chủ âm dương; chí nhân th́ “ḥa ư âm dương, điều ư tứ thời” : ḥa với âm dương, điều hợp với bốn mùa; thánh nhân th́ “xử thiên địa chi ḥa, ṭng bát phong chi lư”: ở trong cái hoà của trời đất, theo lẽ của tám hướng gió; hiền nhân th́ “pháp tắc thiên địa, tượng tự nhật nguyệt, biện liệt tinh thần, nghịch ṭng âm dương, phân biệt tứ thời” : noi theo phép tắc của trời đất, phỏng theo nhật nguyệt, phân biệt tinh tú, xét thuận nghịch âm dương, phân rơ bốn mùa, đều rất gần gũi về lời văn và thông suốt về nghĩa lư với những câu của Lăo Tử, Trang Tử như: “nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” :người noi theo đất, đất noi theo trời, trời noi theo đạo, đạo noi theo tự nhiên; “thuận chi dĩ thiên lư, hành chi dĩ ngũ đức, ứng thượng dĩ tự nhiên, nhiên hậu điều lư tứ thời, thái ḥa vạn vật, tứ thời điệp khởi, vạn vật tuần sinh”: thuận theo thiên lư, thực hành bằng ngũ đức, ứng hợp với tự nhiên, rồi mới điều ḥa bốn mùa, làm thái ḥa vạn vật, bốn mùa nối nhau nổi dậy, vạn vật theo đó mà sinh; “động nhi dĩ thiên hành” :vận động mà thuận theo sự vận hành của trời. Tất cả đều lấy việc thuận theo sự biến hóa của trời đất, bốn mùa, âm dương và khí hậu làm pháp tắc quan trọng của dưỡng sinh.
Những học thuyết dưỡng sinh như “điềm đạm hư vô” : điềm đạm hư tĩnh, “chí nhàn thiểu dục” : để chí được nhàn, bớt ham muốn, “mỹ kỳ thực, nhậm kỳ phục, lạc kỳ tục” :thấy thức ăn của ḿnh là ngon, y phục của ḿnh là hợp, phong tục của ḿnh là vui, cũng rất gần gũi với các câu trong Lăo Tử như “trí hư cực, thủ tĩnh đốc” : đạt đến chỗ hư tĩnh cùng cực, giữ tĩnh sâu dày; “kiến tố băo phác, thiểu tư quả dục” : giữ sự mộc mạc chất phác, bớt suy nghĩ, ít ham muốn; “cam kỳ thực, mỹ kỳ phục, an kỳ cư, lạc kỳ tục” : thấy thức ăn là ngon, y phục là đẹp, nơi ở là yên, phong tục là vui. Tất cả đều thể hiện tư tưởng dưỡng sinh hư tĩnh vô vi của Đạo gia.
Trong đoạn kinh văn này, những từ như “thủ thần” 守神 giữ thần, “tích tinh toàn thần” 積精全神 tích tinh mà toàn thần, đều là những thuật ngữ quen dùng của Đạo gia. Những phương pháp dưỡng sinh được nói tới trong thiên này như thuận theo bốn mùa, noi theo âm dương, điềm đạm hư vô, ly thế ly tục, cùng các phép đạo dẫn thổ nạp, đều xuất phát từ Đạo gia. Bởi vậy, không khó để hiểu rằng sự h́nh thành của học thuyết dưỡng sinh trong Nội Kinh đă chịu ảnh hưởng rất sâu của Đạo gia, và có mối liên hệ huyết nhục rất sâu đậm với đạo dưỡng sinh của Lăo Tử và Trang Tử.

Sự biến hóa khí tượng bốn mùa và phương pháp dưỡng sinh thuận theo thời
Nguyên văn
Xuân tam nguyệt, thử vị phát trần. Thiên địa câu sinh, vạn vật dĩ vinh, dạ ngọa tảo khởi, quảng bộ ư đ́nh, bị phát hoăn h́nh, dĩ sử chí sinh, sinh nhi vật sát, dữ nhi vật đoạt, thưởng nhi vật phạt, thử xuân khí chi ứng, dưỡng sinh chi đạo dă. Nghịch chi tắc thương can, hạ vi hàn biến, phụng trưởng giả thiểu.: Ba tháng mùa xuân, gọi là phát trần. Trời đất cùng sinh, vạn vật nhờ đó mà tươi tốt. Nên ngủ đêm, dậy sớm, đi bộ thong thả nơi sân vườn, xơa tóc, nới lỏng h́nh thể để khiến chí ư cũng theo khí sinh phát của mùa xuân mà nảy nở. Hăy thuận sinh chớ thuận sát, thuận cho chớ thuận đoạt, thuận thưởng chớ thuận phạt. Đó là phép ứng với xuân khí, là đạo dưỡng sinh trong mùa xuân. Nếu làm trái th́ sẽ thương can, đến mùa hạ sẽ phát sinh biến chứng hàn, cái nền tảng cung cấp cho mùa hạ trưởng dưỡng cũng sẽ kém đi.
Hạ tam nguyệt, thử vị phiên tú. Thiên địa khí giao, vạn vật hoa thực, dạ ngọa tảo khởi, vô yếm ư nhật, sử chí vô nộ, sử hoa anh thành tú, sử khí đắc tiết, nhược sở ái tại ngoại, thử hạ khí chi ứng, dưỡng trưởng chi đạo dă. Nghịch chi tắc thương tâm, thu vi giai ngược, phụng thu giả thiểu, đông chí trọng bệnh.: Ba tháng mùa hạ, gọi là phiên tú. Khí trời đất giao nhau, vạn vật nở hoa kết quả. Nên ngủ đêm, dậy sớm, không chán ghét cái nắng dài ngày; khiến chí ư không nổi giận, khiến hoa anh trong thân được thành tú, khiến khí được tiết ra ngoài, như thể điều ḿnh yêu thích ở bên ngoài. Đó là phép ứng với hạ khí, là đạo dưỡng trưởng trong mùa hạ. Nếu làm trái th́ sẽ thương tâm, đến mùa thu dễ phát sinh chứng ngược tật, cái nền tảng cung cấp cho mùa thu thu liễm cũng sẽ kém, đến mùa đông th́ bệnh càng nặng.
Thu tam nguyệt, thử vị dung b́nh. Thiên khí dĩ cấp, địa khí dĩ minh, tảo ngọa tảo khởi, dữ kê câu hưng, sử chí an ninh, dĩ hoăn thu h́nh, thu liễm thần khí, sử thu khí b́nh, vô ngoại kỳ chí, sử phế khí thanh, thử thu khí chi ứng, dưỡng thu chi đạo dă. Nghịch chi tắc thương phế, đông vi tôn tiết, phụng tàng giả thiểu.: Ba tháng mùa thu, gọi là dung b́nh. Khí trời trở nên nghiêm, khí đất trở nên trong sáng. Nên ngủ sớm, dậy sớm, cùng gà mà thức dậy; khiến chí ư an ninh, để làm dịu cái h́nh phạt của mùa thu; thu liễm thần khí, khiến thu khí được b́nh ḥa, không để chí ư phóng ra ngoài, khiến phế khí được thanh. Đó là phép ứng với thu khí, là đạo dưỡng thu trong mùa thu. Nếu làm trái th́ sẽ thương phế, đến mùa đông dễ phát sinh chứng tôn tiết, cái nền tảng cung cấp cho mùa đông tàng chứa cũng sẽ kém.
Đông tam nguyệt, thử vị bế tàng. Thủy băng địa xích, vô nhiễu hồ dương, tảo ngọa văn khởi, tất đăi nhật quang, sử chí nhược phục nhược nặc, nhược hữu tư ư, nhược dĩ hữu đắc, khứ hàn tựu ôn, vô tiết b́ phu, sử khí cức đoạt, thử đông khí chi ứng, dưỡng tàng chi đạo dă. Nghịch chi tắc thương thận, xuân vi nuy quyết, phụng sinh giả thiểu. Ba tháng mùa đông, gọi là bế tàng. Nước đóng băng, đất nứt nẻ, chớ quấy nhiễu dương khí. Nên ngủ sớm dậy muộn, nhất định phải chờ ánh mặt trời; khiến chí ư như ẩn như tàng, như có ư riêng, như đă có chỗ được; tránh lạnh t́m ấm, đừng để da dẻ tiết lộ ra ngoài, đừng để khí bị cướp mất quá nhanh. Đó là phép ứng với đông khí, là đạo dưỡng tàng trong mùa đông. Nếu làm trái th́ sẽ thương thận, đến mùa xuân sẽ phát sinh chứng nuy quyết, cái nền tảng cung cấp cho mùa xuân sinh phát cũng sẽ kém.
Thiên Tứ Khí Điều Thần Đại Luận trong Tố Vấn.
Chú thích
1/ Xuân tam nguyệt 春三月 Chính, nhị, tam nguyệt, gồm sáu tiết khí là lập xuân, vũ thủy, kinh trập, xuân phân, thanh minh, cốc vũ.
2/ Phát trần 發陳 “Phát” là phát sinh; “trần” là bày ra, mở ra. Phát trần có nghĩa là bỏ cũ bày mới. Mùa xuân dương khí thăng lên, vạn vật phát dục, nên gọi là phát trần.
3/ “天地俱生,萬物以榮” Thiên địa câu sinh, vạn vật dĩ vinh. Trời đất cùng sinh, vạn vật nhờ đó mà tươi tốt. “Thiên địa” ở đây chỉ chung tự nhiên giới; “sinh” là sinh phát. Khí sinh phát của tự nhiên đều đă phát động, nên vạn vật nhờ vậy mà欣欣向榮.
4/Quảng bộ ư đ́nh 廣步於庭 “Quảng bộ” là đi bộ thong thả, chậm răi. Cả câu có nghĩa là tản bộ thong thả ở sân vườn.
5/Bị phát hoăn h́nh 被髮緩形 “Bị” thông với “phi”; “bị phát” là để tóc xơa tự nhiên không buộc chặt. “Hoăn” là thư hoăn; “hoăn h́nh” là không bó buộc y quan h́nh thể, để cho h́nh thần được thư phát, không bị g̣ bó.
6/Dĩ sử chí sinh 以使志生 Làm cho chí ư cùng vận động theo khí sinh phát của mùa xuân.
7/“生而勿殺,予而勿奪,賞而勿罰” Sinh nhi vật sát, dữ nhi vật đoạt, thưởng nhi vật phạt. “Sinh, dữ, thưởng” chỉ việc hoạt động tinh thần chí ư phải thuận theo khí xuân dương sinh phát; “sát, đoạt, phạt” chỉ việc để hoạt động tinh thần chí ư trái nghịch với khí xuân dương sinh phát.
8/Dưỡng sinh chi đạo 養生之道 Phương pháp nuôi dưỡng xuân sinh chi khí. Những chỗ dưới nói “dưỡng trưởng chi đạo”, “dưỡng thu chi đạo”, “dưỡng tàng chi đạo” đều nên hiểu theo cách ấy.
9/“Nghịch chi tắc thương can, hạ vi hàn biến” 逆之則傷肝,夏為寒變 Can thuộc mộc, vượng ở mùa xuân, cho nên nếu trái nghịch với khí sinh phát của xuân th́ sẽ thương can. Mộc đă bị thương th́ không thể sinh hỏa, nên đến mùa hạ, lúc hỏa lệnh nắm quyền, ngược lại lại phát sinh chứng hàn.
10/Phụng trưởng giả thiểu 奉長者少 “Phụng” nghĩa là cung cấp. Xuân sinh là nền tảng của hạ trưởng; nếu mùa xuân dưỡng sinh không tốt, th́ cái nền tảng cung cấp cho mùa hạ trưởng dưỡng sẽ kém. Các chỗ dưới nói “phụng thu”, “phụng tàng”, “phụng sinh” cũng đều mang nghĩa như vậy.
11/Hạ tam nguyệt 夏三月 Gồm sáu tiết khí là lập hạ, tiểu măn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử.
12/ Phiên tú 蕃秀 “Phiên” là tươi tốt rậm rạp; “tú” là đẹp đẽ, tươi tốt, chỉ cây cối trổ bông kết穗. Phiên tú h́nh dung trạng thái sinh trưởng phồn vinh của vạn vật.
13/ Thiên địa khí giao 天地氣交 Đến hạ chí th́ âm khí hơi lên, dương khí hơi xuống, nên gọi là thiên địa khí giao.
14/ Hoa thực 華實 “Hoa” là hoa; “thực” là quả. Ở đây dùng như động từ, nghĩa là nở hoa kết quả.
15/Vô yếm ư nhật 無厭於日 Chớ chán ghét cái nắng dài và trời nóng của mùa hạ.
16/ Sử hoa anh thành tú 使華英成秀 “Tú” ở đây mang nghĩa hưng thịnh, sung măn. Câu này ư nói phải làm cho thần khí của con người được hưng vượng, đầy đủ.
17/ “Sử khí đắc tiết, nhược sở ái tại ngoại” 使氣得泄,若所愛在外 Nghĩa là làm cho dương khí bên trong được tuyên phát ra ngoài, như thể cái ḿnh yêu thích đang ở ngoài, để thích ứng với hoàn cảnh mùa hạ dương盛 ở bên ngoài.
18/ Giai ngược 痎瘧 Tên gọi chung của các chứng ngược tật.
19/ Thu tam nguyệt 秋三月 Gồm sáu tiết khí là lập thu, xử thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng.
20/ “Dung b́nh” 容平 dung là chỉ h́nh thái của sinh vật; b́nh là ổn định, yên định. Nói chung, phần lớn thực vật trong tự nhiên đến mùa thu đều đă kết quả, h́nh thái cũng đă ổn định lại, v́ vậy gọi là dung b́nh.
21/ “Thiên khí dĩ cấp” 天氣以急 h́nh dung khí trời mùa thu mang dáng vẻ gió thu gấp gáp, mạnh mẽ.
22/ “Địa khí dĩ minh” 地氣以明 chỉ trạng thái địa khí thanh túc, sáng rơ.
23/ “Dữ kê câu hưng” 與雞俱興 nghĩa là thời gian sinh hoạt của con người phải giữ cho phù hợp với thời gian sinh hoạt của gà, tức là ngủ sớm dậy sớm.
24/ “Dĩ hoăn thu h́nh” 以緩秋刑 mùa thu có túc sát chi khí, cỏ cây điêu linh, giống như bị h́nh phạt giáng xuống, nên gọi là “thu h́nh” 秋刑. “Dĩ hoăn thu h́nh” nghĩa là làm dịu bớt khí túc sát của mùa thu.
25/ “Thu liễm thần khí, sử thu khí b́nh, vô ngoại kỳ chí, sử phế khí thanh” trong đó “thu liễm thần khí” và “vô ngoại kỳ chí” có ư gần nhau; “thu khí b́nh” và “phế khí thanh” cũng có ư gần nhau. Toàn câu có nghĩa là phải thu liễm thần khí, không để lộ ra ngoài, từ đó làm cho phế khí được thanh túc.
26/ “Nghịch chi tắc thương phế, đông vi tôn tiết” 逆之則傷肺,冬為飧泄 “tôn tiết” 飧泄 là chứng tiết tả, thủy cốc bất phân; phế thuộc kim, vượng ở mùa thu, cho nên nếu mùa thu thất dưỡng th́ sẽ thương phế; kim sinh thủy, phế bị thương th́ thận thủy mất nguồn sinh dưỡng, v́ vậy đến mùa đông sẽ phát sinh chứng thận hư mà tiết tả.
27/ “Đông tam nguyệt” 冬三月 gồm sáu tiết khí là lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết, đông chí, tiểu hàn, đại hàn.
28/ “Bế tàng” 閉藏 mùa đông dương khí đă phục tàng, vạn vật tiềm tàng, v́ vậy gọi là bế tàng.
29/ “Thủy băng địa xích” 水冰地坼 “xích” 坼 là nứt ra. Câu này h́nh dung cảnh trời lạnh đất đông, nước kết thành băng cứng, đất đóng băng mà nứt nẻ.
30/ “Vô nhiễu hồ dương” 無擾乎陽 xét về khí tượng mà nói, nghĩa là không làm nhiễu loạn dương khí, khiến sinh cơ của vạn vật có thể thuận lợi mà bế tàng lại.
31/ “Sử chí nhược phục nhược nặc, nhược hữu tư ư, nhược dĩ hữu đắc” 使志若伏若匿,若有私意,若已有得 nghĩa là khiến thần chí thu vào bên trong, an tĩnh tự tại, như có điều riêng tư mà không tiết lộ ra ngoài, như vừa đạt được vật ḿnh yêu thích mà thầm vui trong ḷng.
32/ “Vô tiết b́ phu, sử khí cức đoạt” 無泄皮膚,使氣亟奪 “cức” 亟 là nhiều lần, liên tiếp; “đoạt” 奪 là hao tổn, mất đi. Cả câu có nghĩa là không nên để da dẻ tiết mồ hôi quá mức, khiến dương khí liên tục bị hao tổn.
33/ “Nuy quyết” 痿厥 là tay chân mềm yếu vô lực, lại nghịch lạnh.

Phân tích
Kinh văn chủ yếu bàn về quy luật sinh, trưởng, thu, tàng của bốn mùa, đồng thời nêu ra phương pháp thuận theo biến hóa bốn mùa để điều dưỡng h́nh thể và tinh thần.
Một năm chia làm bốn mùa, sự biến hóa âm dương của tứ thời dẫn đến khí hậu có khác biệt: mùa đông lạnh, mùa xuân ấm, mùa hạ nóng, mùa thu khô. Ngũ tạng của con người thông ứng với bốn mùa, cũng có quy luật sinh, trưởng, hóa, thu, tàng, biểu hiện thành xu thế khác nhau của dương khí trên chỉnh thể là thăng, phù, giáng, trầm. Nội Kinh ở đây đă tổng kết quy luật ấy, đồng thời nêu ra những biện pháp dưỡng sinh tương ứng.
Chẳng hạn, vào xuân hạ th́ về mặt khởi cư nên “dạ ngọa tảo khởi” 夜臥早起 ngủ muộn dậy sớm; về mặt t́nh chí th́ nên thư hoăn, sáng sủa, phấn chấn tinh thần, khiến can khí được thăng phát, tâm khí được tuyên tiết, để thuận ứng với xu thế sinh trưởng của dương khí vào xuân hạ. Đến mùa thu th́ nên ngủ sớm dậy sớm, làm cho chí được yên, thần được liễm, khiến phế khí được túc giáng, để thuận ứng với xu thế dương khí thu liễm và giáng xuống trong mùa thu. Đến mùa đông th́ nên ngủ sớm dậy muộn, làm cho chí ư tiềm phục, giữ cho dương khí được cố mật, khiến dương khí bế tàng, để thuận theo xu thế dương khí trầm tiềm vào mùa đông. Ngoài ra, sự thịnh suy của âm dương bốn mùa tất nhiên dẫn đến biến hóa hàn nhiệt, v́ vậy con người cũng phải tùy theo hàn ôn mà châm chước tăng giảm y phục chăn đệm; phải chú ư mùa đông không nên quá ấm làm tiêu đốt âm dịch, hao tán dương khí; mùa hạ cũng không nên quá lạnh, e rằng sẽ uất ức dương khí, ảnh hưởng đến cơ chế dương khí phát tiết ra ngoài. Nếu trái với quy luật “tứ khí điều thần” 四氣調神 dưỡng sinh, dưỡng trưởng, dưỡng thu, dưỡng tàng theo bốn mùa, th́ sẽ nội thương ngũ tạng chi khí, làm suy giảm năng lực thích ứng của cơ thể trước sự biến đổi của tự nhiên, ảnh hưởng đến sức khỏe của mùa tiếp theo, từ đó phát sinh nhiều loại bệnh tật.
V́ vậy, đoạn này chỉ rơ rằng chỉ khi làm tốt đạo điều thần dưỡng sinh ngay trong mùa hiện tại, th́ mới có thể đặt nền tảng pḥng bệnh cho mùa kế tiếp. Điều đó làm sáng tỏ tư tưởng dự pḥng “trị vị bệnh” 治未病 của Nội Kinh trong dưỡng sinh, đồng thời cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa tư tưởng dự pḥng của y học cổ truyền với phương pháp dưỡng sinh, cũng phản ánh rơ quan điểm học thuật “thiên nhân tương ứng” 天人相應 trong lư luận dưỡng sinh.
Nhấn mạnh tư tưởng dự pḥng bảo kiện “trị vị bệnh” từ góc độ dưỡng sinh theo bốn mùa
Nguyên văn
1/ “Nghịch xuân khí, tắc thiếu dương bất sinh, can khí nội biến.
2/ Nghịch hạ khí, tắc thái dương bất trưởng, tâm khí nội động.
3/ Nghịch thu khí, tắc thái âm bất thu, phế khí tiêu măn.
4/ Nghịch đông khí, tắc thiếu âm bất tàng, thận khí độc trầm.” : Nếu trái khí mùa xuân th́ thiếu dương không sinh, can khí bên trong phát sinh biến bệnh; nếu trái khí mùa hạ th́ thái dương không trưởng, tâm khí bên trong hư tổn; nếu trái khí mùa thu th́ thái âm không thu, phế khí tiêu măn; nếu trái khí mùa đông th́ thiếu âm không tàng, thận khí riêng ch́m xuống.
“Phù tứ thời âm dương giả, vạn vật chi căn bản dă, sở dĩ thánh nhân xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm, dĩ ṭng kỳ căn, cố dữ vạn vật trầm phù ư sinh trưởng chi môn. Nghịch kỳ căn, tắc phạt kỳ bản, hoại kỳ chân hĩ.” : Âm dương của bốn mùa là gốc rễ của vạn vật, v́ vậy thánh nhân xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm để thuận theo cái gốc ấy, cho nên cùng với vạn vật mà nổi ch́m nơi cửa sinh trưởng. Nếu trái với cái gốc đó th́ tức là chặt phá cái bản, làm hư mất cái chân.
“Cố âm dương tứ thời giả, vạn vật chi chung thủy dă, tử sinh chi bản dă, nghịch chi tắc tai hại sinh, ṭng chi tắc kha tật bất khởi, thị vị đắc đạo. Đạo giả, thánh nhân hành chi, ngu giả bội chi.” : Cho nên âm dương bốn mùa là đầu cuối của vạn vật, là gốc của sống chết. Trái nghịch với nó th́ tai hại phát sinh, thuận theo nó th́ bệnh nặng không nổi lên, đó gọi là đắc đạo. Bậc thánh nhân th́ thực hành điều ấy, c̣n kẻ ngu th́ trái bỏ điều ấy.
“Ṭng âm dương tắc sinh, nghịch chi tắc tử, ṭng chi tắc trị, nghịch chi tắc loạn. Phản thuận vi nghịch, thị vị nội cách.” : Thuận theo âm dương th́ sống, trái nghịch th́ chết; thuận theo th́ yên trị, trái nghịch th́ rối loạn. Lấy cái thuận mà làm trái, đó gọi là nội cách (rối loạn nội tại).
“Thị cố thánh nhân bất trị dĩ bệnh trị vị bệnh, bất trị dĩ loạn trị vị loạn, thử chi vị dă. Phu bệnh dĩ thành nhi hậu dược chi, loạn dĩ thành nhi hậu trị chi, thí do khát nhi xuyên tỉnh, đấu nhi chú trùy, bất diệc văn hồ?” : Cho nên thánh nhân không trị bệnh đă thành mà trị khi chưa bệnh, không trị loạn đă thành mà trị khi chưa loạn, chính là nói điều này vậy. Nếu bệnh đă thành rồi mới dùng thuốc, loạn đă thành rồi mới t́m cách trị, khác nào khát rồi mới đào giếng, đánh nhau rồi mới đúc vũ khí, chẳng phải là đă quá muộn sao?
(Tố Vấn · Tứ Khí Điều Thần Đại Luận)

Chú thích
1/ “Thiếu dương, thái dương, thái âm, thiếu âm” 少陽、太陽、太陰、少陰 người xưa cho rằng xuân hạ thuộc dương, thu đông thuộc âm. Âm dương trong bốn mùa theo thời lệnh mà biến đổi tiêu trưởng. V́ vậy dùng thiếu dương để đại biểu dương khí của mùa xuân, thái dương để đại biểu dương khí của mùa hạ, thái âm để đại biểu âm khí của mùa thu, thiếu âm để đại biểu âm khí của mùa đông, nhằm nói rơ sự biến hóa tiêu trưởng của âm dương trong bốn mùa.
2/ “Nghịch xuân khí, tắc thiếu dương bất sinh, can khí nội biến” 逆春氣,則少陽不生,肝氣內變 “biến” 變 là chỉ bệnh biến. Mùa xuân thuộc mộc, ở trong ứng với can đởm, cho nên nếu trái với xuân khí th́ thiếu dương chi khí không thể sinh phát, can khí sẽ bị uất ở bên trong mà phát sinh bệnh biến.
3/ “Nghịch hạ khí, tắc thái dương bất trưởng, tâm khí nội động” 逆夏氣,則太陽不長,心氣內洞 “động” 洞 là trống rỗng, hư không. Trái với khí trưởng của mùa hạ th́ thái dương chi lệnh không thể hưng trưởng, từ đó tâm khí bên trong hư tổn mà thành bệnh.
4/ “Nghịch thu khí, tắc thái âm bất thu, phế khí tiêu măn” 逆秋氣,則太陰不收,肺氣焦滿 “tiêu măn” 焦滿 tức là phế diệp bị tiêu, phế khí đầy trệ. Trái với khí thu của mùa thu th́ thái âm chi lệnh không thể thu liễm, phế khí bất lợi mà thành bệnh.
5/“Nghịch đông khí, tắc thiếu âm bất tàng, thận khí độc trầm” 逆冬氣,則少陰不藏,腎氣獨沉 trái với khí tàng của mùa đông th́ thiếu âm chi lệnh không thể bế tàng, thận khí mất tàng mà hạ tiết, từ đó thành bệnh.
6/ “Tứ thời âm dương giả, vạn vật chi căn bản dă” 四時陰陽者,萬物之根本也 nghĩa là: âm dương của bốn mùa là gốc rễ của muôn vật. Vạn vật trong thế gian đều hoàn toàn nhờ vào âm dương của bốn mùa mà được hóa dục, cho nên đó là căn bản của vạn vật.
7/ “Xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm” 春夏養陽,秋冬養陰 nghĩa là: mùa xuân mùa hạ th́ dưỡng dương, mùa thu mùa đông th́ dưỡng âm. “Xuân hạ dưỡng dương” tức là dưỡng sinh, dưỡng trưởng; “thu đông dưỡng âm” tức là dưỡng thu, dưỡng tàng.
8/ “Ṭng kỳ căn” 從其根 nghĩa là thuận theo cái gốc căn bản là sự biến hóa âm dương của bốn mùa.
9/“Dữ vạn vật trầm phù ư sinh trưởng chi môn” 與萬物沉浮於生長之門 trong đó “trầm phù” 沉浮 cũng như nói thăng giáng, mang ư vận động; “môn” 門 là đường lối, cửa ngơ. Cả câu nói rằng bậc thánh nhân có thể giống như mọi sinh vật khác trong tự nhiên, luôn vận động không ngừng trên con đường của sự sống.

10/“Nghịch kỳ căn, tắc phạt kỳ bản, hoại kỳ chân” 逆其根,則伐其本,壞其真 nghĩa là: nếu trái nghịch cái gốc là âm dương bốn mùa, th́ sẽ làm tổn phạt bản nguyên của sinh mệnh, phá hoại chân khí của cơ thể con người.
11/ “Kha tật” 苛疾 chữ “kha” 苛 thông với “a” 屙, mang nghĩa bệnh tật. “Kha tật” là từ ghép đồng nghĩa, tức là bệnh tật.
12/ “Đắc đạo” 得道 chữ “đắc” 得 ở đây được hiểu là “hợp” 合, tức là phù hợp với đạo dưỡng sinh.
13/ “Bội” 佩 vốn là vật trang sức đeo nơi đai áo thời xưa; ở đây được dùng làm động từ, mang nghĩa lấy làm vật trang sức bên ngoài.
14/“Ṭng chi tắc trị, nghịch chi tắc loạn” 從之則治,逆之則亂 chữ “trị” 治 nghĩa là b́nh thường, khỏe mạnh; chữ “loạn” 亂 nghĩa là sinh bệnh.
15/ “Nội cách” 內格 nghĩa là hoạt động khí huyết tạng phủ bên trong cơ thể không c̣n điều ḥa phù hợp với sự biến hóa âm dương của tự nhiên.
16/ “Dược” 藥 ở đây được hiểu là “trị liệu”, chữa trị.
17/“Xuyên tỉnh” 穿井 tức là đào giếng.
18/ “Truy” 錐 ở đây chỉ chung các loại binh khí.
Phân tích
Kinh văn lấy câu “tứ thời âm dương giả, vạn vật chi căn bản” làm cơ sở lư luận, rồi liệt kê các bệnh biến phát sinh do trái nghịch với sự biến hóa âm dương của bốn mùa, từ đó đề xuất nguyên tắc dưỡng sinh “xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm” đồng thời nhấn mạnh tư tưởng dự pḥng bảo kiện “bất trị dĩ bệnh trị vị bệnh” : không chữa khi bệnh đă thành mà chữa từ lúc chưa bệnh.
Đoạn này luận rằng âm dương bốn mùa là căn bản của sự sinh trưởng nơi muôn vật, đồng thời nêu ra pháp tắc dưỡng sinh cơ bản là “xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm” . Mục đích của nguyên tắc này là khiến âm dương trong cơ thể giữ được tính liên tục tương sinh lẫn nhau, để thích ứng với sự biến hóa âm dương của bốn mùa, nhờ đó giữ được thế cân bằng điều ḥa với ngoại cảnh. Trong bốn mùa của một năm, do âm dương tiêu trưởng mà sinh ra biến hóa hàn thử: xuân hạ thuộc dương, thu đông thuộc âm. Cơ thể con người vào xuân hạ dễ nhận được sự trợ giúp của dương khí từ tự nhiên, lúc này dương khí dễ sinh dễ trưởng, nên thích hợp dưỡng dương vào xuân hạ. Cùng một lẽ ấy, cơ thể vào thu đông nhận được sự trợ giúp của âm khí trong tự nhiên, âm khí dễ thu dễ tàng, nên thu đông thích hợp dưỡng âm.
Phương pháp xuân hạ dưỡng dương chủ yếu là làm cho dương khí không bị hao tán quá mức. Với những người thể chất vốn dương hư, hoặc những bệnh nhân dương hư mạn tính, nên chọn dùng thực vật hoặc dược vật để điều bổ, giúp dương khí được sinh trưởng, tích trữ dương khí, như vậy đến thu đông mới có thể chống đỡ sự xâm nhập của hàn tà. Phương pháp thu đông dưỡng âm là làm cho âm tinh được tàng mà không tiết. Những người thể chất vốn âm hư hoặc bệnh nhân mạn tính có t́nh trạng âm hư tinh khuy, cần nắm lấy thời cơ này để bồi bổ âm tinh, khiến âm tinh được súc tích, như vậy mới có thể chống đỡ sự hao tổn âm tinh do dương kháng vào xuân hạ gây nên. Phương pháp dưỡng sinh trị bệnh như thế là một phương pháp rất đặc sắc của y học cổ truyền, đồng thời cũng là một phương pháp có hiệu quả thực tiễn rơ rệt.
Tư tưởng dự pḥng bảo kiện “bất trị dĩ bệnh trị vị bệnh” 不治已病治未病 mà kinh văn nhấn mạnh cụ thể bao gồm mấy mặt: chưa bệnh th́ pḥng trước, đă bệnh th́ pḥng biến, sau bệnh th́ pḥng tái phát. Tư tưởng ấy lấy câu “tứ thời âm dương giả, vạn vật chi căn bản” 四時陰陽者,萬物之根本也 làm cơ sở lư luận. Câu này chính là nền tảng lư luận của chỉnh thể quan “thiên nhân tương ứng” 天人相應 trong Nội Kinh, đồng thời cũng là trụ cột lư luận quan trọng của dưỡng sinh học Trung y, rất đáng để kế thừa, khai thác và nghiên cứu sâu hơn.

Trích yếu kinh văn tham khảo
“Cố trí giả chi dưỡng sinh dă, tất thuận tứ thời nhi thích hàn thử, ḥa hỉ nộ nhi an cư xứ, tiết âm dương nhi điều cương nhu, như thị tắc tích tà bất chí, trường sinh cửu thị.” : Bởi vậy, người trí dưỡng sinh th́ nhất định phải thuận theo bốn mùa mà thích ứng với nóng lạnh, điều ḥa hỉ nộ mà an định nơi ở, tiết chế âm dương mà điều ḥa cương nhu; làm được như vậy th́ tà khí không đến, có thể trường sinh lâu dài. (Linh Khu · Bản Thần 《靈樞·本神》)
“Nhất viết trị thần, nhị viết tri dưỡng thân, tam viết tri độc dược vi chân, tứ viết chế biếm thạch tiểu đại, ngũ viết tri phủ tạng huyết khí chi chẩn. Ngũ pháp câu lập, các hữu sở tiên.” : Một là trị thần, hai là biết dưỡng thân, ba là biết dùng độc dược cho đúng, bốn là biết chế tác biếm thạch lớn nhỏ, năm là biết phép chẩn huyết khí tạng phủ. Năm phép đều phải được thiết lập, mỗi phép có điều được coi trọng riêng. (Tố Vấn · Bảo Mệnh Toàn H́nh Luận 《素問·寶命全形論》)
“Phàm thử thập nhị quan giả, bất đắc tương thất dă, cố chủ minh tắc hạ an, dĩ thử dưỡng sinh tắc thọ, một thế bất đăi, dĩ vi thiên hạ tắc đại xương; chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy, sử đạo bế tắc nhi bất thông, h́nh năi đại thương, dĩ thử dưỡng sinh tắc ương, dĩ vi thiên hạ giả, kỳ tông đại nguy.” : Mười hai quan này không được rời mất nhau, cho nên người chủ sáng th́ phần dưới yên, lấy đó dưỡng sinh th́ được thọ, trọn đời không nguy, đem dùng trị thiên hạ th́ đại thịnh; người chủ không sáng th́ mười hai quan nguy, khiến cho đường vận hành bế tắc không thông, h́nh thể bị tổn thương nặng, lấy đó dưỡng sinh th́ thành tai họa, đem dùng trị thiên hạ th́ cơ nghiệp rất nguy. (Tố Vấn · Linh Lan Bí Điển Luận 《素問·靈蘭秘典論》)

“Phù đạo giả, thượng tri thiên văn, hạ tri địa lư, trung tri nhân sự, khả dĩ trường cửu.” : Người hiểu đạo th́ trên biết thiên văn, dưới biết địa lư, giữa biết việc người, nhờ vậy có thể được lâu dài. (Tố Vấn · Khí Giao Biến Đại Luận 《素問·氣交變大論》)
“Phù tự cổ thông thiên giả, sinh chi bản, bản ư âm dương. Thiên địa chi gian, lục hợp chi nội, kỳ khí cửu châu, cửu khiếu, ngũ tạng, thập nhị tiết, giai thông hồ thiên khí. Kỳ sinh ngũ, kỳ khí tam, số phạm thử giả, tắc tà khí thương nhân, thử thọ mệnh chi bản dă.” : Từ xưa, cái gốc của sự sống vốn ở âm dương. Trong khoảng giữa trời đất, trong ṿng lục hợp, khí ấy nơi cửu châu, cửu khiếu, ngũ tạng, thập nhị tiết đều thông với thiên khí. Sự sinh của nó có năm, khí của nó có ba; nếu nhiều lần phạm vào điều này th́ tà khí sẽ làm hại người, đó chính là gốc của thọ mệnh. (Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận 《素問·生氣通天論》)
“Nhân dữ thiên địa tương tham dă, dữ nhật nguyệt tương ứng dă.” : Con người cùng tham dự với trời đất, cùng ứng hợp với mặt trời mặt trăng. (Linh Khu · Tuế Lộ Luận 《靈樞·歲露論》)
“Cẩn hậu hư phong nhi tị chi, cố thánh nhân viết tị hư tà chi đạo, như tị thỉ thạch nhiên, tà phất năng hại, thử chi vị dă.” : Phải thận trọng ḍ xét hư phong mà tránh đi, cho nên thánh nhân nói đạo tránh hư tà cũng như tránh tên đá, như vậy tà không thể làm hại được, chính là ư ấy. (Linh Khu · Cửu Cung Bát Phong 《靈樞·九宮八風》)
“Phàm âm dương chi yếu, dương mật năi cố, lưỡng giả bất ḥa, nhược xuân vô thu, nhược đông vô hạ, nhân nhi ḥa chi, thị vị thánh độ.” : Cái cốt yếu của âm dương là dương phải kín th́ mới cố được; nếu hai bên không ḥa th́ giống như có xuân mà không có thu, có đông mà không có hạ; nhân đó mà điều ḥa chúng, ấy gọi là thánh độ. (Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận 《素問·生氣通天論》)
“Phu niên trưởng tắc cầu chi ư phủ, niên thiểu tắc cầu chi ư kinh, niên tráng tắc cầu chi ư tạng.” : Người lớn tuổi th́ nên xét ở phủ, người c̣n trẻ th́ nên xét ở kinh, người đang cường tráng th́ nên xét ở tạng. (Tố Vấn · Thị Ṭng Dung Luận 《素問·示從容論》)
“Phu tinh giả, thân chi bản dă, cố tàng ư tinh giả xuân bất bệnh ôn.” : Tinh là gốc của thân, cho nên người biết giữ ǵn tinh th́ đến mùa xuân không mắc bệnh ôn. (Tố Vấn · Kim Quỹ Chân Ngôn Luận 《素問·金匱真言論》“Khí huyết giả, nhân chi thần, bất khả bất cẩn dưỡng.” : Khí huyết là thần của con người, không thể không thận trọng nuôi dưỡng. (Tố Vấn · Bát Chính Thần Minh Luận 《素問·八正神明論》)
“Trung ương giả, kỳ địa b́nh dĩ thấp, thiên địa sở dĩ sinh vạn vật dă chúng, kỳ dân thực tạp nhi bất lao, cố kỳ bệnh đa nuy quyết hàn nhiệt, kỳ trị nghi đạo dẫn án kiều.” : Vùng trung ương th́ đất bằng và ẩm, là nơi trời đất sinh ra vạn vật rất nhiều, dân ở đó ăn tạp mà ít lao lực, cho nên bệnh của họ thường là nuy quyết, hàn nhiệt; phép trị thích hợp là đạo dẫn và án kiều. (Tố Vấn · Dị Pháp Phương Nghi Luận 《素問·異法方宜論》)
“Thị dĩ thánh nhân vi vô vi chi sự, lạc điềm đạm chi năng, ṭng dục khoái chí ư hư vô chi thủ, cố thọ mệnh vô cùng, dữ thiên địa chung, thử thánh nhân chi trị thân dă.” : V́ vậy thánh nhân làm việc vô vi, vui với năng lực điềm đạm hư tĩnh, thuận theo mà làm cho chí được khoái đạt trong chỗ giữ ǵn hư vô, nên thọ mệnh vô cùng, cùng tận với trời đất; đó là phép thánh nhân trị thân. (Tố Vấn · Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận 《素問·陰陽應象大論》)
“Dư tri bách bệnh sinh ư khí dă. Nộ tắc khí thượng, hỉ tắc khí hoăn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ, hàn tắc khí thu, nhiệt tắc khí tiết, kinh tắc khí loạn, lao tắc khí hao, tư tắc khí kết.” : Ta biết rằng trăm bệnh đều sinh từ khí. Giận th́ khí đi lên, vui th́ khí hoăn, buồn th́ khí tiêu, sợ th́ khí hạ, lạnh th́ khí thu, nóng th́ khí tiết, kinh hăi th́ khí loạn, lao lực th́ khí hao, suy nghĩ th́ khí kết. (Tố Vấn · Cử Thống Luận 《素問·舉痛論》)
“Tĩnh tắc thần tàng, táo tắc tiêu vong.” Tĩnh th́ thần được tàng giữ, nóng nảy xao động th́ thần bị tiêu hao mất mát. (Tố Vấn · Tư Luận 《素問·痹論》)
“Cố dương khí giả, nhất nhật nhi chủ ngoại, b́nh đán nhân khí sinh, nhật trung nhi dương khí long, nhật tây nhi dương khí dĩ hư, khí môn năi bế. Thị cố mộ nhi thu cự, vô nhiễu cân cốt, vô kiến vụ lộ, phản thử tam thời, h́nh năi khốn bạc.” : Dương khí trong một ngày chủ về phần ngoài; sáng sớm th́ nhân khí sinh, giữa trưa th́ dương khí thịnh, chiều tối th́ dương khí đă hư, khí môn bèn đóng. Bởi vậy chiều tối phải thu liễm, không quấy nhiễu gân cốt, không để gặp sương móc; trái với ba thời ấy th́ h́nh thể sẽ mệt mỏi suy nhược. (Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận 《素問·生氣通天論》)
“Cố đông bất án kiều, xuân bất cừu nục, xuân bất bệnh cảnh hạng, trọng hạ bất bệnh hung hiếp, trường hạ bất bệnh động tiết hàn trung, thu bất bệnh phong ngược, đông bất bệnh tư quyết, tôn tiết nhi hăn xuất dă.” : Cho nên mùa đông biết giữ ǵn, không lạm dụng án kiều, th́ mùa xuân không bị cừu nục; mùa xuân không sinh bệnh nơi cổ gáy; giữa mùa hạ không sinh bệnh ở ngực sườn; cuối hạ không bị động tiết và hàn trúng; mùa thu không bị phong ngược; mùa đông không bị tư quyết, tôn tiết cùng chứng ra mồ hôi. (Tố Vấn · Kim Quỹ Chân Ngôn Luận 《素問·金匱真言論》)
“H́nh dữ khí tương nhậm tắc thọ, bất tương nhậm tắc yểu. B́ dữ nhục tương quả tắc thọ, bất tương quả tắc yểu. Huyết khí kinh lạc thắng h́nh tắc thọ, bất thắng h́nh tắc yểu.” : H́nh với khí tương xứng th́ thọ, không tương xứng th́ yểu; da với thịt gắn kết tương xứng th́ thọ, không tương xứng th́ yểu; huyết khí kinh lạc đầy đủ hơn mức tổn hao của h́nh thể th́ thọ, không đủ th́ yểu. (Linh Khu · Thọ Yểu Cương Nhu 《靈樞·壽夭剛柔》)
“Ẩm thực y phục, diệc dục thích hàn ôn, hàn vô thê sảng, thử vô xuất hăn. Thực ẩm giả, nhiệt vô chước chước, hàn vô thương thương. Hàn ôn trung thích, cố khí tương tŕ, năi bất trí tà tích dă.” : Ăn uống áo mặc cũng phải thích hợp với lạnh nóng; lạnh chớ để quá rét buốt, nóng chớ để mồ hôi ra quá mức. Đối với ăn uống, nóng chớ quá nóng, lạnh chớ quá lạnh. Hàn ôn vừa phải th́ khí mới giữ được điều ḥa, nhờ đó không sinh tà lệch. (Linh Khu · Sư Truyền 《靈樞·師傳》)
“Âm chi sở sinh, bản tại ngũ vị, âm chi ngũ cung, thương tại ngũ vị。 Thị cố vị quá ư toan, can khí dĩ tân, tỳ khí năi tuyệt。 Vị quá ư hàm, đại cốt khí lao, đoản cơ, tâm khí ức。 Vị quá ư cam, tâm khí suyễn măn, sắc hắc, thận khí bất hành。 Vị quá ư khổ, tỳ khí bất nhu, vị khí năi hậu。 Vị quá ư tân, cân mạch trở tŕ, tinh thần năi ương。 Thị cố cẩn ḥa ngũ vị, cốt chính cân nhu, khí huyết dĩ lưu, tấu lư dĩ mật, như thị, tắc cốt khí dĩ tinh, cẩn đạo như pháp, trường hữu thiên mệnh。” : Cái phần âm được sinh ra vốn gốc ở ngũ vị, mà năm tạng thuộc âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. V́ vậy, vị quá chua th́ can khí thiên lệch mà tỳ khí tổn thương; vị quá mặn th́ đại cốt mỏi mệt, cơ nhục co rút, tâm khí bị ức; vị quá ngọt th́ tâm khí suyễn đầy, sắc mặt sẫm đen, thận khí mất điều ḥa; vị quá đắng th́ tỳ khí không được nhu ḥa, vị khí trở nên nặng trệ; vị quá cay th́ gân mạch chùng nhăo, tinh thần suy tổn. Bởi vậy phải thận trọng điều ḥa ngũ vị, để xương ngay gân mềm, khí huyết lưu thông, tấu lư kín chắc; được như thế th́ cốt khí tinh đầy, cẩn thủ dưỡng đạo đúng phép, sẽ được lâu dài tuổi trời. (Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận 《素問·生氣通天論》)
“Thị cố đa thực hàm tắc mạch ngưng sáp nhi biến sắc; đa thực khổ tắc b́ cảo nhi mao bạt; đa thực tân tắc cân cấp nhi trảo khô; đa thực toan tắc nhục chi mà thần nhi thần yết; đa thực cam tắc cốt thống nhi phát lạc, thử ngũ vị chi sở thương dă。 Cố tâm dục khổ, phế dục tân, can dục toan, tỳ dục cam, thận dục hàm, thử ngũ vị chi sở hợp dă。” : V́ thế, ăn nhiều vị mặn th́ mạch ngưng trệ mà sắc diện biến đổi; ăn nhiều vị đắng th́ da khô mà lông rụng; ăn nhiều vị cay th́ gân co rút mà móng khô; ăn nhiều vị chua th́ cơ nhục dày cứng, môi nẻ; ăn nhiều vị ngọt th́ xương đau mà tóc rụng; đó là những tổn thương do ngũ vị gây ra. Cho nên tâm hợp với vị đắng, phế hợp với vị cay, can hợp với vị chua, tỳ hợp với vị ngọt, thận hợp với vị mặn; đó là chỗ phối hợp của ngũ vị. (Tố Vấn · Ngũ Tạng Sinh Thành Luận 《素問·五臟生成論》)
“Ngũ cốc vi dưỡng, ngũ quả vi trợ, ngũ súc vi ích, ngũ thái vi sung, khí vị hợp nhi phục chi, dĩ bổ tinh ích khí。” : Ngũ cốc dùng để nuôi dưỡng, ngũ quả dùng để hỗ trợ, ngũ súc dùng để tăng ích, ngũ thái dùng để bổ sung; phối hợp khí vị mà dùng, nhờ đó bổ tinh ích khí. (Tố Vấn · Tạng Khí Pháp Thời Luận 《素問·臟氣法時論》)
“Ngũ vị sở cấm: tân tẩu khí, khí bệnh vô đa thực tân; hàm tẩu huyết, huyết bệnh vô đa thực hàm; khổ tẩu cốt, cốt bệnh vô đa thực khổ; cam tẩu nhục, nhục bệnh vô đa thực cam; toan tẩu cân, cân bệnh vô đa thực toan; thị vị ngũ cấm, vô lệnh đa thực。” : Những điều cấm của ngũ vị là: cay đi vào khí, người có bệnh về khí th́ không nên ăn nhiều cay; mặn đi vào huyết, người có bệnh về huyết th́ không nên ăn nhiều mặn; đắng đi vào xương, người có bệnh về xương th́ không nên ăn nhiều đắng; ngọt đi vào thịt, người có bệnh về thịt th́ không nên ăn nhiều ngọt; chua đi vào gân, người có bệnh về gân th́ không nên ăn nhiều chua. Đó gọi là ngũ cấm, chớ để ăn quá nhiều. (Tố Vấn · Tuyên Minh Ngũ Khí 《素問·宣明五氣》)
“Ẩm thực tự bội, trường vị năi thương。” : Ăn uống quá mức th́ trường vị ắt bị tổn thương. (Tố Vấn · Tư Luận 《素問·痹論》)
“Ph́ giả linh nhân nội nhiệt, cam giả linh nhân trung măn。” : Đồ béo làm người sinh nội nhiệt, đồ ngọt làm người đầy trệ ở trung tiêu. (Tố Vấn · Kỳ Bệnh Luận 《素問·奇病論》)
“Ngũ vị nhập vị, các quy sở hỉ, cố toan tiên nhập can, khổ tiên nhập tâm, cam tiên nhập tỳ, tân tiên nhập phế, hàm tiên nhập thận, cửu nhi tăng khí, vật hóa chi thường dă。 Khí tăng nhi cửu, yểu chi do dă。” : Ngũ vị vào vị, mỗi vị đều quy về tạng mà nó ưa thích; cho nên chua vào can trước, đắng vào tâm trước, ngọt vào tỳ trước, cay vào phế trước, mặn vào thận trước. Lâu ngày làm khí của tạng ấy tăng lên, đó là lẽ thường của sự vật biến hóa. Nhưng khí cứ tăng măi lâu ngày th́ lại là đầu mối của yểu tổn. (Tố Vấn · Chí Chân Yếu Đại Luận 《素問·至真要大論》)
“Toan tẩu cân, đa thực chi, linh nhân lung。 Hàm tẩu huyết, đa thực chi, linh nhân khát。 Tân tẩu khí, đa thực chi, linh nhân động tâm。 Khổ tẩu cốt, đa thực chi, linh nhân biến ẩu。 Cam tẩu nhục, đa thực chi, linh nhân duyệt tâm。” : Chua đi vào gân, ăn nhiều th́ sinh chứng lung; mặn đi vào huyết, ăn nhiều th́ làm người khát; cay đi vào khí, ăn nhiều th́ khiến tâm bị trống rỗng khó chịu; đắng đi vào xương, ăn nhiều th́ khiến người buồn nôn; ngọt đi vào thịt, ăn nhiều th́ làm người dễ sinh khoái cảm nơi tâm. (Linh Khu · Ngũ Vị Luận 《靈樞·五味論》)
“Cao lương chi biến, túc sinh đại đinh, thụ như tŕ hư。” : Sự biến của đồ ăn cao lương mỹ vị đủ để sinh mụn nhọt lớn; tà khí xâm nhập vào thân cũng như nắm lấy chỗ hư mà vào. (Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận 《素問·生氣通天論》)
“Cốc nhục quả thái, thực dưỡng tận chi, vô sử quá chi, thương kỳ chính dă。” : Ngũ cốc, thịt, quả, rau đều nên dùng đầy đủ để nuôi dưỡng, nhưng chớ để quá mức, nếu quá sẽ làm tổn thương chính khí. (Tố Vấn · Ngũ Thường Chính Đại Luận 《素問·五常政大論》)
“Ngũ lao sở thương: cửu thị thương huyết, cửu ngọa thương khí, cửu tọa thương nhục, cửu lập thương cốt, cửu hành thương cân, thị vị ngũ lao sở thương。” : Năm điều lao làm tổn thương là: nh́n lâu th́ thương huyết, nằm lâu th́ thương khí, ngồi lâu th́ thương thịt, đứng lâu th́ thương xương, đi lâu th́ thương gân; đó gọi là ngũ lao sở thương. (Tố Vấn · Tuyên Minh Ngũ Khí 《素問·宣明五氣》)
“Cố phạm tiện phong hư tà giả, dương thụ chi; thực ẩm bất tiết, khởi cư bất thời giả, âm thụ chi。” : Cho nên phạm vào tiện phong hư tà th́ phần dương bị thương; ăn uống không tiết độ, khởi cư không đúng thời th́ phần âm bị thương. (Tố Vấn · Thái Âm Dương Minh Luận 《素問·太陰陽明論》)
“Khởi cư bất tiết, dụng lực quá độ, tắc lạc mạch thương。” : Sinh hoạt không điều độ, dùng sức quá mức th́ lạc mạch bị tổn thương. (Linh Khu · Bách Bệnh Thủy Sinh 《靈樞·百病始生》)
“Năng tri thất tổn bát ích, tắc nhị giả khả điều, bất tri dụng thử, tắc tảo suy chi tiết dă。” : Nếu biết thất tổn bát ích th́ hai mặt ấy có thể điều ḥa; không biết dùng điều đó th́ sẽ rơi vào giai đoạn suy sớm. (Tố Vấn · Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận 《素問·陰陽應象大論》)
“Nhân nhi cường lực, thận khí năi thương, cao cốt năi hoại。” : V́ thế mà dùng sức quá mạnh th́ thận khí bị thương, xương cao cũng hư hoại. (Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận 《素問·生氣通天論》)
“Nhược túy nhập pḥng trung, khí kiệt can thương, cố sự suy thiểu bất lai dă。” : Nếu say mà nhập pḥng, th́ khí kiệt, can bị thương, cho nên tinh sự suy giảm mà không sinh dục được nữa. (Tố Vấn · Phúc Trung Luận 《素問·腹中論》)
“Nhập pḥng thái thậm, tông cân tŕ túng, phát vi cân nuy。” : Pḥng sự quá độ th́ tông cân chùng nhăo, phát thành chứng cân nuy. (Tố Vấn · Nuy Luận 《素問·痿論》)
“Hữu sở kích phó, nhược túy nhập pḥng, hăn xuất đương phong, tắc thương tỳ。 Hữu sở dụng lực cử trọng, nhược nhập pḥng quá độ, hăn xuất dục thủy, tắc thương thận。” : Bị đánh ngă tổn thương, hoặc say mà nhập pḥng, hoặc ra mồ hôi gặp gió, th́ sẽ thương tỳ. Dùng sức để nâng vật nặng, hoặc pḥng sự quá độ, hoặc ra mồ hôi rồi tắm nước, th́ sẽ thương thận. (Linh Khu · Tà Khí Tạng Phủ Bệnh H́nh 《靈樞·邪氣臟腑病形》)
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-04-10 01:51:47
ĐỆ TAM GIẢNG
HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
Học thuật chỉ yếu sơ nghĩa
《Nội Kinh》 cho rằng âm dương là quy luật khách quan của sự vận động biến hóa trong giới tự nhiên, là sự khái quát thuộc tính được trừu xuất từ vô số sự vật. Cái gọi là Hữu danh nhi vô h́nh (有名而無形): có tên gọi nhưng không có h́nh chất cụ thể; cố số chi khả thập, ly chi khả bách, tán chi khả thiên, thôi chi khả vạn: cho nên khi phân loại th́ có thể thành mười, tách ra có thể thành trăm, phân tán có thể thành ngh́n, suy rộng ra có thể thành vạn. Âm dương chủ yếu đại biểu cho cái tượng về công năng của sự vật, hai loại thuộc tính công năng vừa đối lập vừa tương thành ấy tồn tại trong hết thảy sự vật, v́ vậy dùng âm dương để giải thích các sự vật cụ thể th́ có thể đến mười, đến trăm, đến ngh́n, đến vạn, thậm chí nhiều không thể đếm xuể.
《Nội Kinh》 xem cơ thể con người là một thể thống nhất của âm dương, cho rằng hoạt động sinh mệnh của nhân thể cũng được tiến hành theo pháp tắc cân bằng thống nhất của âm dương. Hai mặt âm dương hỗ căn hỗ dụng, chế ước quyền hành, tiêu trưởng chuyển hóa, đó là quy luật cơ bản trong vũ trụ, cũng là căn bản để phân tích sinh lư cơ thể và chẩn trị bệnh tật. Cái gọi là Âm dương giả, thiên địa chi đạo dă, vạn vật chi cương kỷ, biến hóa chi phụ mẫu, sinh sát chi bản thủy, thần minh chi phủ dă, trị bệnh tất cầu ư bản: âm dương là đạo của trời đất, là cương lĩnh kỷ cương của vạn vật, là cha mẹ của mọi biến hóa, là gốc bắt đầu của sống chết, là nơi cư ngụ của thần minh, chữa bệnh tất phải t́m ở căn bản, (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》). Trong 《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》 có câu Âm b́nh dương bí, tinh thần năi trị: âm được b́nh ḥa, dương được giữ kín, th́ tinh thần mới yên ổn điều ḥa; trạng thái cân bằng động đó chính là trạng thái sinh lư tốt nhất của cơ thể người. Mọi biến hóa bệnh lư đều có thể xem là kết quả của âm dương thất điều, tức dưới tác dụng của bệnh nhân, sự cân bằng âm dương bị phá hoại, âm dương xuất hiện thiên thịnh thiên suy mà gây nên các biến hóa hàn, nhiệt, hư, thực. Đây chính là điều 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》 nói: Âm thắng tắc dương bệnh, dương thắng tắc âm bệnh, dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tắc hàn, trọng hàn tắc nhiệt, trọng nhiệt tắc hàn: âm quá thắng th́ làm tổn thương dương, dương quá thắng th́ làm tổn thương âm, dương thắng th́ sinh nhiệt, âm thắng th́ sinh hàn, hàn quá mức có thể chuyển thành nhiệt, nhiệt quá mức có thể chuyển thành hàn. Về mặt chẩn pháp, âm dương là cương lĩnh của biện chứng, tức Sát sắc án mạch, tiên biệt âm dương: xem sắc diện, bắt mạch trước hết phải phân biệt âm dương. Về điều trị, điều chỉnh âm dương là chuẩn tắc cao nhất, thông qua việc khôi phục lại sự cân bằng tương đối của âm dương trên nền tảng mới mà đạt mục đích chữa khỏi bệnh, tức như 《Tố Vấn. Chí Chân Yếu Đại Luận》 nói: Cẩn sát âm dương sở tại nhi điều chi, dĩ b́nh vi kỳ: cẩn thận xét chỗ tồn tại của âm dương thiên lệch mà điều chỉnh nó, lấy sự b́nh ḥa làm mục tiêu. Từ đó có thể thấy, 《Nội Kinh》 đă đưa học thuyết âm dương vào trong lư luận y học, bắc lên chiếc cầu nối giữa lư luận y học và học thuyết âm dương, dùng để giải thích kết cấu tổ chức của cơ thể người, công năng sinh lư và biến hóa bệnh lư, chỉ đạo chẩn đoán, điều trị, dưỡng sinh pḥng bệnh, đồng thời giải thích sự biến hóa của vận khí, khiến nó xuyên suốt toàn bộ hệ thống lư luận của 《Nội Kinh》.
《Nội Kinh》 để biểu thị sự biến hóa về lượng của hai phương diện âm dương, đă đưa vào mô thức thái thiếu âm dương và tam âm tam dương. Thái thiếu âm dương nhiều lần được dùng để giải thích ngũ tạng, như 《Linh Khu. Âm Dương Hệ Nhật Nguyệt》 nói: Tâm vi dương trung chi thái dương, phế vi dương (nguyên bản tác “âm”, ngộ) trung chi thiếu âm, can vi âm trung chi thiếu dương, tỳ vi âm trung chi chí âm, thận vi âm trung chi thái âm: tâm là thái dương trong dương, phế là thiếu âm trong dương, can là thiếu dương trong âm, tỳ là chí âm trong âm, thận là thái âm trong âm. Thiếu là mới sinh, thái là cực thịnh, biểu hiện sự khác biệt về lượng. Mô thức tam âm tam dương phần nhiều được dùng để giải thích quan hệ giữa lục khí và lục kinh, đồng thời trực tiếp dùng để đặt tên cho kinh mạch: nhất âm vi quyết âm: âm thứ nhất là quyết âm; nhị âm vi thiếu âm: âm thứ hai là thiếu âm; tam âm vi thái âm: âm thứ ba là thái âm; nhất dương vi thiếu dương: dương thứ nhất là thiếu dương; nhị dương vi dương minh: dương thứ hai là dương minh; tam dương vi thái dương: dương thứ ba là thái dương. Tam âm tam dương này cũng biểu thị sự khác biệt về lượng, đồng thời càng làm nổi bật quá tŕnh biến hóa tuần tự, dần dần của hai mặt âm dương trong vận động tiêu trưởng.
Về sự tŕnh bày khái niệm ngũ hành, 《Nội Kinh》 trong 《Tố Vấn. Tạng Khí Pháp Thời Luận》 nói: Ngũ hành giả, kim mộc thủy hỏa thổ dă. Cánh quư cánh tiện, dĩ tri tử sinh, dĩ quyết thành bại, nhi định ngũ tạng chi khí, gian thậm chi thời, tử sinh chi kỳ dă: ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; sự quan hệ qua lại của năm hành có chỗ tôn, có chỗ hạ, nhờ đó có thể biết tử sinh, quyết định thành bại, xác định khí của ngũ tạng, đoán thời điểm bệnh nặng nhẹ và kỳ hạn sống chết. Điều này cho thấy cấu thành của ngũ hành chính là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; quan hệ giữa năm hành là Cánh quư cánh tiện: thay nhau ở vị trí cao thấp, tôn ti, mạnh yếu; lấy ngũ hành làm công cụ th́ có thể xác định công năng của ngũ tạng, suy biết sự phát sinh của bệnh tật và tiên lượng của nó. 《Tố Vấn. Lục Tiết Tàng Tượng Luận》 c̣n tiến thêm một bước làm sáng tỏ quan hệ tương hỗ của ngũ hành và chỉ ra rằng Tắc bạc sở bất thắng, nhi thừa sở thắng dă: th́ sẽ xâm phạm cái ḿnh vốn không thắng nổi, đồng thời lấn át cái ḿnh vốn thắng được. Bạc (薄) và thừa (乘) đều có nghĩa là xâm phạm; xâm phạm cái ḿnh không thắng nổi tức là phản vũ, xâm phạm cái ḿnh thắng được tức là tương thừa. Ngũ hành trong 《Nội Kinh》 không phải là năm h́nh thái vật chất cụ thể là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, mà là sự trừu tượng hóa thuộc tính của năm loại h́nh thái vật chất cụ thể ấy, đồng thời cũng là sự khái quát năm trạng thái động cơ bản trong biến hóa của sự vật. 《Nội Kinh》 nhận thức rằng ngũ hành có tính phổ biến, là quy luật phổ biến của thế giới vạn vật. 《Linh Khu. Âm Dương Nhị Thập Ngũ Nhân》 chỉ ra: Thiên địa chi gian, lục hợp chi nội, bất ly ư ngũ, nhân diệc ứng chi: giữa trời đất, trong ṿng lục hợp, không ǵ rời khỏi năm, con người cũng ứng theo như vậy. Vạn vật trong thế giới đều bao hàm ngũ hành, ngũ hành tồn tại trong hết thảy vạn vật. Trời đất, nhật nguyệt, mùa tiết, cơ thể con người, động vật, thực vật cùng mọi sự vật trong thế giới, không có ngoại lệ nào là không bao hàm các thành phần hay nhân tố thuộc năm loại thuộc tính công năng là mộc, hỏa, thổ, kim, thủy; năm phương diện ấy lại chiếu theo quy luật sinh, thừa, vũ mà liên hệ lẫn nhau, hợp thành một kết cấu công năng chỉnh thể.
Nên chú ư rằng, ngũ hành trong 《Nội Kinh》 chủ yếu chỉ phong, hỏa, thấp, táo, hàn năm khí vận động thường niên. Trong một năm, sự thay đổi tuần tự của xuân phong, hạ hỏa, trường hạ thấp, thu táo, đông hàn phản ánh đặc điểm và quy luật biến hóa khí hậu thường niên; dưới sự thúc đẩy của loại biến hóa khí hậu b́nh thường này, giới sinh vật xuất hiện các hiện tượng sinh, trưởng, hóa, thu, tàng. V́ vậy, thứ tự tương sinh giữa ngũ hành được xác lập theo sự biến thiên khí hậu của năm mùa trong năm, tức là Ngũ khí canh lập: năm loại khí lần lượt thiết lập vị trí, mỗi khí đều có thứ tự đi trước riêng của nó; các hữu sở tiên: mỗi loại đều có cái đi trước của ḿnh; Ngũ vận tương tập: năm vận lần lượt tiếp nối, kế thừa nhau; nhi giai trị chi: và đều thay nhau chủ sự cai quản. Ngũ hành tương khắc tức là quan hệ tương hỗ thừa chế, ước thúc giữa phong, hỏa, thấp, táo, hàn năm khí, đối với sự biến hóa của khí hậu có tác dụng điều tiết tự nhiên. Điều này đúng như 《Tố Vấn. Lục Tiết Tàng Tượng Luận》 nói: Xuân thắng trường hạ, trường hạ thắng đông, đông thắng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân: mùa xuân thắng trường hạ, trường hạ thắng mùa đông, mùa đông thắng mùa hạ, mùa hạ thắng mùa thu, mùa thu thắng mùa xuân. Để giải thích mối quan hệ tương ứng về thuộc tính giữa biến hóa khí hậu và vật chất của đại địa, cổ nhân đă liên hệ phong với mộc, nhiệt với hỏa, thấp với thổ, táo với kim, hàn với thủy, tức như 《Tố Vấn. Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận》 nói: Tại thiên vi phong, tại địa vi mộc: ở trên trời là phong, ở dưới đất là mộc; tại thiên vi nhiệt, tại địa vi hỏa: ở trên trời là nhiệt, ở dưới đất là hỏa; tại thiên vi thấp, tại địa vi thổ: ở trên trời là thấp, ở dưới đất là thổ; tại thiên vi táo, tại địa vi kim: ở trên trời là táo, ở dưới đất là kim; tại thiên vi hàn, tại địa vi thủy: ở trên trời là hàn, ở dưới đất là thủy.Biến hóa khí hậu bốn mùa có mối liên hệ và ảnh hưởng mật thiết với cơ thể con người, v́ thế 《Nội Kinh》 lại vận dụng phương pháp quy loại theo ngũ hành, đem các tạng phủ tổ chức của cơ thể người cùng những sự vật có liên quan đến hoạt động sinh mệnh của con người quy loại theo thuộc tính của chúng, rồi tiến thêm dùng quy luật ngũ hành để làm sáng tỏ công năng của ngũ tạng và quy luật liên hệ về công năng giữa ngũ tạng với nhau. Mối liên hệ giữa ngũ tạng với tứ thời ngũ khí của tự nhiên giới, và mối liên hệ giữa ngũ tạng với âm dương bốn mùa, vốn có tính đồng nhất. Do đó, trong quá tŕnh tiêu trưởng biến hóa của âm dương bốn mùa, can ứng với thiếu dương chi khí của mùa xuân, tâm ứng với thái dương chi khí của mùa hạ, phế ứng với thiếu âm chi khí của mùa thu, thận ứng với thái âm chi khí của mùa đông, tỳ ứng với chí âm chi khí của trường hạ hoặc bốn mùa. 《Nội Kinh》 gọi can thông với xuân khí là phong mộc chi tạng, gọi tâm thông với hạ khí là hỏa tạng, gọi tỳ thông với khí trường hạ là thấp thổ chi tạng, gọi phế thông với thu khí là táo kim chi tạng, gọi thận thông với đông khí là hàn thủy chi tạng. Đặc tính của mộc là thăng phát, nhu ḥa, cho nên can ưa điều đạt mà có công năng sơ tiết; đặc tính của hỏa là dương nhiệt, viêm thượng, cho nên tâm dương có tác dụng ôn hú; đặc tính của thổ là sinh hóa, cho nên tỳ chủ vận hóa, là nguồn gốc của sinh hóa; đặc tính của kim là thanh túc, kiên kính, cho nên phế chủ túc giáng, thu liễm; đặc tính của thủy là hàn nhuận, hạ hành, cho nên thận có công năng chủ thủy, tàng tinh. Điều mà 《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》 nói: Kháng tắc hại, thừa năi chế: quá thịnh th́ gây hại, có sự tiếp nối chế ước th́ mới khống chế được, là quy luật khách quan của ngũ hành trong tự nhiên, đồng thời cũng thích dụng đối với ngũ tạng. Về mặt sinh lư, ngũ tạng nhất định phải vừa tương hỗ tư sinh, vừa tương hỗ ức chế, như vậy mới có thể duy tŕ hoạt động sinh mệnh b́nh thường; nếu chỉ có sinh mà không có chế, th́ sẽ kháng cực mà thành hại, phát sinh bệnh biến. Tức như 《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》 tiếp đó nói: Chế tắc sinh hóa, ngoại liệt thịnh suy, hại tắc bại loạn, sinh hóa đại bệnh: có chế ước th́ mới có sinh hóa, bên ngoài mới phân rơ thịnh suy; nếu thành hại th́ sẽ bại hoại rối loạn, sinh ra bệnh lớn của quá tŕnh sinh hóa. Quy luật chế hóa giữa ngũ tạng khi biểu hiện ở bệnh biến th́ sẽ xuất hiện quy luật truyền biến của bệnh tật như 《Tố Vấn. Ngũ Vận Hành Đại Luận》 nói: Khí hữu dư, tắc chế kỷ sở thắng nhi sở bất thắng; kỳ bất cập, tắc kỷ sở bất thắng nhi thừa chi, kỷ sở thắng khinh nhi vũ chi: khi khí hữu dư th́ không chỉ chế ước cái ḿnh thắng mà c̣n lấn sang cái ḿnh không thắng; khi khí bất cập th́ cái ḿnh không thắng sẽ thừa mà xâm phạm ḿnh, c̣n cái ḿnh thắng cũng coi nhẹ mà phản vũ nhục ḿnh. 《Nội Kinh》 c̣n đem ngũ sắc, ngũ âm lần lượt quy thuộc vào ngũ tạng, từ đó đặt nền tảng lư luận cho vọng chẩn và văn chẩn. Sự vận dụng lư luận ngũ hành của 《Nội Kinh》 chủ yếu thể hiện ở hai phương diện: thứ nhất là căn cứ theo thuộc tính ngũ hành mà phân loại rất nhiều sự vật trong trời, đất, người, từ đó đem tạng phủ khí quan, tứ chi bách hài cùng các hoạt động công năng của cơ thể con người liên hệ chặt chẽ với tự nhiên giới theo các loại tương quan của chúng; thứ hai là vận dụng học thuyết sinh khắc thừa vũ cùng thắng phục của ngũ hành để giải thích quan hệ tương hỗ giữa ngũ tạng, làm rơ bệnh cơ, dự đoán truyền biến, phán đoán tiên hậu và xác lập trị tắc.《Nội Kinh》 càng thường đem học thuyết âm dương và học thuyết ngũ hành kết hợp lại để giải thích vấn đề. Như 《Linh Khu. Quan Năng》 nói: Ngôn âm dữ dương, hợp ư ngũ hành, ngũ tạng lục phủ, diệc hữu sở tàng, tứ thời bát phong, tận hữu âm dương: nói về âm và dương th́ phải hợp với ngũ hành; ngũ tạng lục phủ cũng đều có chỗ tàng chứa riêng; bốn mùa tám gió thảy đều có âm dương. Tóm lại, 《Nội Kinh》 đă vận dụng đầy đủ học thuyết âm dương ngũ hành, đồng thời lại phát triển thêm trong quá tŕnh vận dụng. Lư luận âm dương ngũ hành và lư luận y học trong 《Nội Kinh》 được kết hợp chặt chẽ với nhau, trở thành một chỉnh thể hỗn nhiên khó có thể phân tách.
Nội Kinh》 về học thuyết âm dương ngũ hành, nội dung của nó vô cùng phong phú, xuyên suốt mọi phương diện trong toàn bộ hệ thống lư luận; phần lớn các thiên chương đều vận dụng học thuyết âm dương và học thuyết ngũ hành để thảo luận, phân tích. Ở đây chỉ có thể đại lược sơ lược; các thiên được tuyển chọn ở phần sau chủ yếu nhằm làm sáng tỏ khái niệm và nội dung cơ bản của âm dương ngũ hành, cùng với một số nguyên tắc vận dụng trong sinh lư, bệnh lư, chẩn đoán và trị pháp. Muốn đạt đến sự lư giải sâu sắc và nắm vững học thuyết âm dương ngũ hành, c̣n cần phải kết hợp tham chiếu học tập với các thiên khác.
Kinh văn tiêu biểu chú giải
Khái niệm cơ bản của âm dương
Nguyên văn
Hoàng Đế nói: Âm dương giả, thiên địa chi đạo dă: âm dương là đạo lư, là quy luật căn bản của trời đất; vạn vật chi cương kỷ: là cương lĩnh, đầu mối chi phối mọi sự vật; biến hóa chi phụ mẫu: là gốc nguồn sinh ra mọi sự biến hóa; sinh sát chi bản thủy: là căn nguyên ban đầu của sự sống và sự chết; thần minh chi phủ dă: là chỗ then chốt của mọi biến hóa tinh vi và biểu hiện sáng tỏ ra bên ngoài. Trị bệnh tất cầu ư bản: chữa bệnh nhất định phải t́m đến cái gốc của bệnh mà điều trị. Cho nên tích dương vi thiên, tích âm vi địa: dương tích tụ mà thành trời, âm tích tụ mà thành đất. Âm tĩnh dương táo: âm th́ tĩnh, dương th́ động; dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng: dương chủ phát sinh, âm chủ trưởng dưỡng; dương chủ thu sát, âm chủ tàng chứa. Dương hóa khí, âm thành h́nh: dương hóa sinh công năng khí hóa, âm tạo thành h́nh thể vật chất. Hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn: lạnh đến cực điểm th́ sinh nóng, nóng đến cực điểm th́ sinh lạnh; hàn khí sinh trọc, nhiệt khí sinh tha: khí lạnh dễ sinh ra trọc âm, khí nóng dễ sinh ra thanh dương; thanh khí tại hạ, tắc sinh sôn tiết: thanh khí mà hạ hăm xuống dưới th́ sinh chứng tiết tả ra thức ăn chưa tiêu; trọc khí tại thượng, tắc sinh phúc trướng: trọc khí mà nghịch lên trên th́ sinh đầy trướng vùng bụng ngực. Thử âm dương phản tác, bệnh chi nghịch ṭng dă: đó là do âm dương vận hành trái ngược, mà thành ra cơ chế bệnh lư nghịch loạn. (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》)
Chú thích
1. “Thiên địa chi đạo”: pháp tắc và quy luật của giới tự nhiên. “Thiên địa”: chỉ chung tự nhiên giới. “Đạo”: pháp tắc, quy luật.
2. “Vạn vật chi cương kỷ” (萬物之綱紀): “cương kỷ” (綱紀), tổng tŕ gọi là cương, phân hệ gọi là kỷ, ở đây hiểu là cương lĩnh. “Vạn vật chi cương kỷ” (萬物之綱紀): chỉ cương lĩnh của hết thảy sự vật trong sự sinh trưởng, biến hóa và tiêu vong.
3. “Biến hóa chi phụ mẫu” (變化之父母): căn nguyên của sự biến hóa sự vật. “Vật chi tiệm biến” (物之漸變): sự biến đổi dần dần của sự vật, tức lượng biến, gọi là hóa; “vật chi đột biến” (物之突變): sự biến đổi đột ngột của sự vật, tức chất biến, gọi là biến. “Phụ mẫu” (父母): căn bản, bản nguyên.
4. “Sinh sát chi bản thủy” (生殺之本始): “sinh” (生): sinh mới, phát sinh; “sát” (殺): tiêu diệt, tử vong. Ư nói sự phát sinh và tiêu vong của vạn sự vạn vật đều bắt nguồn từ sự biến hóa của âm dương.
5. “Thần minh chi phủ” (神明之府): “thần” (神): nói sự biến hóa khó lường; “minh” (明): chỉ h́nh tượng hiển hiện rơ ràng. Ở đây lần lượt chỉ sự biến hóa bên trong và biểu hiện bề ngoài của sự vật. “Phủ” (府): nơi ở, chỗ tồn tại, mở rộng nghĩa là chỗ then chốt. Sự vận động biến hóa bên trong và biểu hiện ra ngoài của sự vật, chỗ then chốt đều là kết quả của sự tương tác giữa hai mặt âm dương, v́ vậy gọi âm dương là “thần minh chi phủ”.
6. “Trị bệnh tất cầu ư bản” (治病必求於本): “bản” (本), ở đây chỉ âm dương. Sự h́nh thành của hết thảy bệnh tật đều do âm dương thất điều mà nên, v́ thế điều trị bệnh tật tất phải t́m đến chỗ gốc là âm dương mất điều ḥa để điều chỉnh.
7. “Tích dương vi thiên, tích âm vi địa” (積陽為天,積陰為地): “tích” (積): tích tụ. “Dương” (陽): vật chất nhẹ trong, bốc lên. “Âm” (陰): vật chất nặng đục, ch́m xuống. Ư nói trong vũ trụ, chất nhẹ trong bay lên, tích tụ mà thành trời; chất nặng đục ch́m xuống, ngưng tụ mà thành đất.
8. “Dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng” (陽生陰長,陽殺陰藏): “sinh” (生) và “trưởng” (長) cùng nghĩa, là phát sinh, tăng trưởng, lớn mạnh; “sát” (殺) và “tàng” (藏) cùng nghĩa, là suy yếu, giảm bớt, diệt mất. Ư nói hai mặt âm dương là thống nhất điều ḥa, nương tựa lẫn nhau; dương sinh th́ âm cũng sinh, dương sát th́ âm cũng sát.
9. “Dương hóa khí, âm thành h́nh” (陽化氣,陰成形): “dương” (陽): dương khí. “Hóa” (化): thúc đẩy, giúp tăng trưởng. “Khí” (氣): hoạt động công năng. “Âm” (陰): âm tinh. “Thành” (成): cấu thành, sinh trưởng. Dương khí có tác dụng ôn ấm, thúc đẩy hoạt động công năng của cơ thể; âm tinh mềm tĩnh, có tác dụng sinh thành và tư dưỡng h́nh chất của cơ thể.
10. “Hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn” (寒極生熱,熱極生寒): theo lẽ âm dương, đến cực điểm th́ tất biến. Mượn hiện tượng hàn nhiệt hỗ biến để nói rơ đạo lư âm dương trong điều kiện nhất định có thể chuyển hóa lẫn nhau.
11. “Hàn khí sinh trọc, nhiệt khí sinh thanh” (寒氣生濁,熱氣生清): hàn khí âm lạnh mà ngưng tụ, nên có thể sinh ra trọc âm; nhiệt khí ôn ấm mà thăng tán, nên có thể sinh ra thanh dương. “Trọc” (濁): chỉ các sản vật bệnh lư như đàm, ẩm, thủy thấp. “Thanh” (清): chỉ thủy cốc tinh vi.
12. “Sôn tiết” (飧泄): đại tiện ra thức ăn chưa tiêu hóa, c̣n gọi là “hoàn cốc bất hóa” (完榖不化).
13. “Phúc trướng” (腹脹): bụng đầy trướng. Ở đây chỉ hung cách đầy tức.
14. “Phản tác” (反作): nghịch hành. Dương lẽ ra phải thăng ở trên mà lại giáng xuống dưới; âm lẽ ra phải giáng xuống dưới mà lại bốc ngược lên trên, cho nên gọi là âm dương phản tác.
15. “Nghịch ṭng” (逆從): từ ghép thiên nghĩa, thực chất là nghĩa của chữ “nghịch” (逆), chỉ các chứng sôn tiết, phúc trướng đă nói ở trên đều do sự vận hành đảo nghịch của âm dương mà gây ra.
Phân tích
Tiết này đă tŕnh bày một cách giản minh mà khái quát âm dương là khái niệm cơ bản như thế nào, đồng thời chỉ ra rằng âm dương là căn nguyên của hết thảy sự vật trong quá tŕnh sản sinh, biến hóa, phát triển và tiêu vong, là pháp tắc và quy luật căn bản của giới tự nhiên; lại c̣n khái quát ngắn gọn những tính chất và tác dụng khác nhau của âm dương; đồng thời nhấn mạnh rơ ràng nguyên tắc trị bệnh tất cầu ư bản: chữa bệnh nhất định phải t́m đến cái gốc.
(1) Câu “Âm dương giả…… thần minh chi phủ dă” là để luận thuật rằng âm dương là quy luật phổ biến của giới tự nhiên, là căn bản của sự phát sinh, phát triển, vận động và biến hóa của vạn vật.Khái niệm âm dương, với tư cách là hạt nhân của lư luận âm dương, không chỉ tồn tại như một khái niệm thuộc khoa học tự nhiên, mà c̣n tồn tại như một khái niệm thuộc triết học. Hai loại khái niệm này trong văn hiến cổ đại đều có biểu đạt rơ ràng và cụ thể; điều đó thể hiện mối liên hệ tất nhiên giữa khoa học tự nhiên và triết học, đồng thời cũng phản ánh đặc điểm của triết học tự nhiên thời cổ đại.
Xét từ những ghi chép văn hiến sớm nhất, âm dương với tư cách là một khái niệm tự nhiên đă xuất hiện rất nhiều, như 《Chu Dịch. Hệ Từ》 nói: “Âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt”: ư nghĩa của âm dương tương phối với mặt trời và mặt trăng. Chữ Dịch (易) do nhật (日) và nguyệt (月) hợp thành. 《Thuyết Văn Giải Tự》 nói: “Nhật nguyệt vi dịch, tượng âm dương dă”: mặt trời mặt trăng hợp lại thành chữ Dịch, tượng trưng cho âm dương. 《Lễ Kư. Tế Nghĩa》 cũng nói: “Nhật xuất ư đông, nguyệt sinh ư tây, âm dương trường đoản, thủy chung tương tuần, dĩ trí thiên hạ ḥa”: mặt trời mọc ở phương đông, mặt trăng hiện ở phương tây, âm dương dài ngắn, từ đầu đến cuối tuần hoàn thay nhau, nhờ đó mà thiên hạ đạt được sự điều ḥa. Chú giải trong 《Lễ Kư. Chính Nghĩa》 viết: “Âm vị dạ dă, dương vị trú dă, hạ tắc dương trường nhi âm đoản, đông tắc dương đoản nhi âm trường, thị âm dương trường đoản”: âm là đêm, dương là ngày; mùa hạ th́ dương dài mà âm ngắn, mùa đông th́ dương ngắn mà âm dài, đó chính là sự dài ngắn của âm dương.
《Lễ Kư. Nguyệt Lệnh》 lại nói: “Thị nguyệt dă (chỉ trọng hạ nguyệt), nhật trường chí, âm dương tranh, tử sinh phân”: tháng này, tức tháng giữa mùa hạ, ngày dài đến cực điểm, âm dương giao tranh, sống chết phân nửa. Chú giải trong Chính Nghĩa nói: “Nhật trường chí giả, vị thử nguyệt chi thời, nhật trường chi chí cực…… hạ chí trú dương lục thập ngũ khắc, dạ lậu tam thập ngũ khắc, thị nhật trường chí dă. Tử sinh phân giả, phân bán dă. Âm khí kư khởi, cố vật bán sinh bán tử”: ngày dài đến cực điểm nghĩa là vào thời điểm của tháng này, độ dài ban ngày đạt cực điểm… đến tiết hạ chí th́ ban ngày thuộc dương có sáu mươi lăm khắc, ban đêm có ba mươi lăm khắc, đó là ngày dài đến cực điểm. “Tử sinh phân” nghĩa là chia làm một nửa; v́ âm khí đă bắt đầu dấy lên, cho nên muôn vật ở vào trạng thái nửa sống nửa chết.
Do đó có thể thấy rằng sự h́nh thành của khái niệm âm dương (陰陽) là kết quả của quá tŕnh con người quan sát và nhận thức lâu dài đối với các biến hóa của tự nhiên trong thực tiễn sản xuất.
Để tiếp tục thăm ḍ quy luật vận động của âm dương, thiên văn học cổ đại nước ta đă thông qua các phương pháp như quan tượng thụ thời: quan sát thiên tượng để xác định thời lệnh; khuê biểu trắc ảnh: dùng khuê biểu để đo chiều dài số trị bóng chiếu của mặt trời; lậu thủy kế thời: dùng đồng hồ nước để tính thời gian, mà khảo sát sự vận động tuần hoàn của mặt trời và sự biến hóa của thiên tượng, nhờ đó chế định lịch pháp và chỉ đạo hoạt động nông sự. Như Trương Giới Tân nói: “Thiên địa chi đạo, nhất âm nhất dương nhi tận chi, thăng giáng hữu kỳ nhi khí hậu hành, âm dương hữu số nhi thứ đệ lập. Thứ đệ kư lập, tắc tiên hậu nhân chi nhi định; khí hậu kư hành, tắc tiết tự do chi nhi thành. Tiết tự chi sở dĩ phân giả, do hàn thử chi tái cánh; hàn thử chi sở dĩ cánh giả, do nhật hành chi độ dị. Mỗi tuế chi khí, dương sinh ư tử nhi cực ư ngọ, âm sinh ư ngọ nhi cực ư tử, dương chi tiến giả âm chi thoái, dương chi thoái giả âm chi sinh, nhất văng nhất lai, dĩ thành nhất tuế”: đạo của trời đất chỉ một âm một dương là có thể bao quát hết; sự thăng giáng có kỳ hạn nên khí hậu vận hành, âm dương có số độ nên thứ tự được xác lập. Khi thứ tự đă xác lập th́ trước sau theo đó mà định; khi khí hậu đă vận hành th́ tiết lệnh theo đó mà h́nh thành. Sở dĩ tiết lệnh được phân biệt là do hàn và thử thay đổi lặp lại; sở dĩ hàn thử thay đổi là do độ số vận hành của mặt trời khác nhau. Khí của mỗi năm, dương sinh ở phương Tư mà cực ở phương Ngọ, âm sinh ở phương Ngọ mà cực ở phương Tư; dương tiến th́ âm lùi, dương lùi th́ âm sinh, một qua một lại, hợp thành một năm. Trương Giới Tân đă nói rất rơ rằng trong quá tŕnh mặt trời vận hành quanh chu thiên, do vị trí nó đang ở khác nhau, sự tiêu trưởng của âm dương cũng theo đó mà phát sinh biến hóa, v́ vậy mới biểu hiện ra sự biến hóa có tính chu kỳ của thời lệnh, mùa tiết và nóng lạnh. Điều này cho thấy âm dương với tư cách là pháp tắc tự nhiên tuyệt nhiên không phải do tưởng tượng mà dựng nên, mà là sự tổng kết các quy luật tự nhiên trên nền tảng của khoa học tự nhiên thời cổ đại.
Khái niệm triết học là thứ được trừu tượng khái quát ra từ khoa học tự nhiên và khoa học xă hội, âm dương với tư cách là một khái niệm triết học cũng không ngoại lệ. Bởi v́ sự vật luôn luôn ở trong trạng thái vận động mâu thuẫn, cho nên khi dùng khái niệm âm dương để phân loại thuộc tính của sự vật, th́ tính mâu thuẫn của âm dương cũng theo đó mà biểu hiện ra. Thí dụ, khi dùng âm dương để quy thuộc thiên địa (trời đất), thượng hạ (trên dưới), tả hữu (trái phải), tiền hậu (trước sau), tiến thoái (tiến lui), thăng giáng (lên xuống), động tĩnh (động tĩnh), minh ám (sáng tối), hàn nhiệt (lạnh nóng), ôn lương (ấm mát) v.v…, th́ đồng thời cũng vạch rơ quan hệ đối lập thống nhất giữa chúng. Đặc biệt là sự vận hành của nhật nguyệt tinh thần (mặt trời mặt trăng ngôi sao và giờ ), sự biến hóa của tứ thời hàn thử (bốn mùa lạnh nắng), sự thay đổi luân phiên của bạch trú hắc dạ (ngày sáng đêm tối), cùng với hiện tượng vật hậu như xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng (Xuân sih, hạ trưởng, thu thu, đông tàng), rồi từ đó suy diễn ra khắp các sự vật, không ǵ là không thể dùng âm dương để quy thuộc, cũng không ǵ là không thể dùng quan hệ đối lập thống nhất của âm dương để giải thích. Cho nên Lăo Tử nói “vạn vật phụ âm nhi băo dương”: vạn vật đều cơng âm mà ôm dương; 《Chu Dịch. Hệ Từ》 nói “nhất âm nhất dương chi vị đạo”: một âm một dương th́ gọi là đạo; Tŕnh Hạo cũng nói “vạn vật mạc bất hữu đối”: muôn vật không ǵ là không có cái đối đăi của nó. Những lời ấy đều nói rất rơ rằng sự vật và hiện tượng trong vũ trụ đều tồn tại hai mặt vừa đối lập vừa thống nhất với nhau, và bất kỳ sự vật nào trong nội bộ của nó cũng đều bao hàm hai mặt âm và dương. Chính do âm dương nương tựa lẫn nhau, liên hệ lẫn nhau, chế ước lẫn nhau, tác động lẫn nhau, mới dẫn tới sự vận động, phát triển và biến hóa của sự vật. Tư tưởng biện chứng về sự đối lập thống nhất của hai mặt âm dương chính là hạt nhân của học thuyết âm dương; nội dung cơ bản của nó chính là nhất phân vi nhị, tức quan hệ đối lập thống nhất. V́ vậy Trương Giới Tân nói: “Đạo giả, âm dương chi lư dă; âm dương giả, nhất phân vi nhị dă”: đạo là cái lư của âm dương; âm dương là một chia thành hai. Điều đó cho thấy âm dương, khi là pháp tắc cơ bản của thế giới khách quan, đồng thời nó cũng là một khái niệm triết học trừu tượng.
(2) Câu “trị bệnh tất cầu ư bản” nhấn mạnh rằng chữa bệnh tất phải truy t́m sự biến hóa của âm dương, v́ âm dương là quy luật khách quan của mọi biến hóa tự nhiên.
Dựa trên tính thống nhất giữa con người và môi trường bên ngoài, 《Nội Kinh》 cho rằng “nhân sinh hữu h́nh, bất ly âm dương” (《Tố Vấn. Bảo Mệnh Toàn H́nh Luận》): con người đă có h́nh thể th́ không rời âm dương; lại nói “sinh chi bản, bản ư âm dương” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): cái gốc của sự sống vốn ở âm dương. Điều đó nói rơ rằng hết thảy tổ chức cấu trúc của cơ thể người và toàn bộ hoạt động sinh mệnh đều được xây dựng trên cơ sở đối lập thống nhất của âm dương. Bản chất của sinh mệnh chính là hoạt động được tiến hành trên quy luật cơ bản là sự vận động đối lập của âm dương bên trong cơ thể, đồng thời giữ được sự thống nhất điều ḥa với sự biến hóa âm dương của giới tự nhiên. Nếu loại quan hệ điều ḥa có trật tự và ở tŕnh độ cao này bị phá hoại, th́ âm dương sẽ mất đi sự cân bằng tương đối, từ đó phát sinh đủ các loại bệnh biến. Có khi do dương thiên thịnh (thừa dương) mà xuất hiện nhiệt chứng (chứng nóng); có khi do âm thiên thịnh (thừa âm) mà xuất hiện hàn chứng (chứng lạnh); có khi do dương hư bất năng chế âm (dương không khống chế được âm) mà xuất hiện hư hàn chứng (lạnh do hư yếu); có khi do âm hư bất năng chế dương (âm không khống chế được dương) mà xuất hiện hư nhiệt chứng (nóng do yếu kém). Tuy nguyên nhân gây bệnh không giống nhau, biến hóa bệnh lư của bệnh tật cũng rất phức tạp, nhưng cơ chế bệnh lư chủ yếu của nó vẫn là âm dương thất điều (âm dương không điều hoà) ở bên trong cơ thể. Bởi vậy, trong chẩn đoán, nếu có thể nắm được quá tŕnh bệnh lư cơ bản này mà tiến hành biện chứng (辨證), th́ sẽ nắm được bản chất của bệnh. Cho nên 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》 nói: “sát sắc án mạch, tiên biệt âm dương”: xem sắc, bắt mạch, trước hết phải phân biệt âm dương; lấy việc phân biệt âm dương (陰陽) làm cương lĩnh để chẩn sát bệnh tật, th́ có thể đạt được tác dụng chấp giản ngự phồn: nắm cái giản yếu để điều khiển cái phức tạp.Đồng thời, trong điều trị nên áp dụng các phương pháp như “hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi”: lạnh th́ làm cho ấm nóng lên, nóng th́ làm cho mát lạnh xuống; “hư giả bổ chi, thực giả tả chi”: hư th́ bổ, thực th́ tả, nhằm sửa chữa t́nh trạng thiên thịnh thiên suy của âm dương, khôi phục lại sự cân bằng tương đối của âm dương, như vậy mới đạt được mục đích chữa khỏi bệnh. Cho nên 《Nội Kinh》 lấy việc điều chỉnh âm dương làm nguyên tắc cơ bản để trị bệnh, đúng như 《Tố Vấn. Chí Chân Yếu Đại Luận》 nói: “cẩn sát âm dương sở tại nhi điều chi, dĩ b́nh vi kỳ”: cẩn thận xét chỗ âm dương đang thiên lệch mà điều chỉnh nó, lấy sự b́nh ḥa làm mục tiêu. Điều này phản ánh đặc điểm chủ yếu của biện chứng thi trị (phân biệt hội chứng và thi hành điều trị) trong Trung y.
Như vậy có thể thấy, quan điểm mà 《Nội Kinh》 nhấn mạnh rằng chữa bệnh tất phải truy cầu sự biến hóa của âm dương, không những phù hợp với nguyên tắc lư luận cơ bản nhất của Trung y học, mà c̣n có cơ sở thực tiễn hết sức rộng răi. V́ âm dương thất điều (âm dương không điều hoà) là căn cứ nội tại cho sự phát sinh và phát triển của bệnh tật, cho nên trên lâm sàng, khi phân tích bệnh cơ (cơ chế bệnh), nhất định phải đặt trọng tâm vào sự biến hóa tiêu trưởng thịnh suy (tăng giảm) của hai mặt âm (陰) và dương (陽). Bởi vậy, khảo sát sự biến hóa âm dương của bệnh tật chính là chỗ mấu chốt của biện chứng luận trị (Phân biệt các hội chứng và phương pháp điều trị) trong Trung y, đúng như Trương Giới Tân nói: “Phàm chẩn bệnh thi trị, tất tu tiên thẩm âm dương, năi vi y đạo chi cương lĩnh, âm dương vô ngộ, trị yên hữu sai”: phàm chẩn bệnh và thi hành điều trị, trước hết tất phải xét kỹ âm dương, đó mới là cương lĩnh của đạo làm thuốc; âm dương đă không sai, th́ việc điều trị sao có thể sai được.
(3) “Tích dương vi thiên…... nhiệt cực sinh hàn”: câu này triển khai làm sáng tỏ tính chất và tác dụng khác nhau của “âm dương” (陰陽).
“Tích dương vi thiên, tích âm vi địa” (積陽為天,積陰為地): 《”Nội Kinh”》 kế thừa quan niệm duy vật về học thuyết h́nh thành thiên thể từ thời Tiên Tần, cho rằng vạn vật trong thế giới đều do “khí” (氣), tức loại vật chất nguyên thủy, cấu thành. Tính chất của “khí” (氣) có thể chia thành hai đại loại là “âm khí” (陰氣) và “dương khí” (陽氣); phần có chất nhẹ trong th́ nổi lên thành trời, phần có chất nặng đục th́ ngưng tụ xuống thành đất. Chính như 《”Lă Thị Xuân Thu. Đại Lạc”》 nói: “Thái ất xuất lưỡng nghi, lưỡng nghi xuất âm dương, âm dương biến hóa, hợp nhi thành chương”: Thái Ất sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh ra âm dương, âm dương biến hóa rồi hợp lại mà thành h́nh thể, quy luật. “Thái ất” tức là trạng thái hỗn độn chưa phân của khí; “lưỡng nghi âm dương” tức là hai khí âm dương được phân hóa ra từ “thái cực”. Sau cùng chúng không ngừng tích tụ mà h́nh thành nên trời đất; khí của trời đất giao hợp, biến hóa, từ đó sinh ra vạn vật. Điều này hoàn toàn khẳng định tính vật chất của thế giới, đồng thời phê phán mạnh mẽ các thuyết “thiên mệnh luận” và “thần sáng luận”.
“Câu âm tĩnh dương táo”: “tĩnh” là yên tĩnh, “táo” là xao động; “tĩnh” và “động” là nói trong quan hệ tương đối. “Táo động” chỉ trạng thái hưng phấn và cang tiến; “an tĩnh” chỉ trạng thái ức chế và suy thoái. Táo động thuộc “dương”, thường thấy ở “nhiệt chứng”, “thực chứng”; an tĩnh thuộc “âm”, thường thấy ở “hàn chứng”, “hư chứng”. Thí dụ, trong “thiếu âm hư hàn chứng”, biểu hiện “đăn dục mị”: chỉ muốn ngủ, chính là biểu hiện của tĩnh; c̣n trong “thiếu dương chứng nhiệt hóa chứng”, biểu hiện “tâm trung phiền bất đắc ngọa”: trong ḷng bứt rứt không nằm được, chính là biểu hiện của táo. Trên lâm sàng, không chỉ có thể căn cứ vào trạng thái động tĩnh của người bệnh để phân biệt “âm chứng” và “dương chứng”, mà c̣n có thể khảo sát cơ chế bệnh lư, giúp phán đoán tiên lượng của bệnh. Như điều 289 của 《”Thương Hàn Luận”》 nói: “Thiếu âm bệnh, ố hàn nhi quyện, thời tự phiền, dục khứ y bị giả khả trị”: bệnh Thiếu Âm, sợ lạnh mà co quắp, có lúc tự thấy bứt rứt, muốn bỏ chăn áo th́ chữa được. “Ố hàn quyền ngọa”: sợ lạnh, co ḿnh nằm là biểu hiện “dương hư âm thịnh”; c̣n “thời tự phiền, dục khứ y bị”: có lúc tự bứt rứt, muốn bỏ chăn áo là biểu hiện “dương khí lai phục”: dương khí trở về, cho nên thuộc loại có thể chữa được. Tuy nhiên, cũng có hiện tượng bất thường là “dương chứng” lại biểu hiện an tĩnh, “âm chứng” lại biểu hiện phiền táo; những trường hợp ấy cần phải phân biệt cẩn thận.
“Câu dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng”: các nhà chú giải từ xưa đến nay giải thích không hoàn toàn giống nhau. Căn cứ vào ư trong 《”Tố Vấn. Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận”》: “Thiên dĩ dương sinh âm trưởng, địa dĩ dương sát âm tàng”, chủ yếu là nói về ảnh hưởng của khí hậu nửa trên và nửa dưới của năm đối với sự sinh trưởng biến hóa của thực vật. “Thiên khí” (天氣) chủ phần nửa năm trên, biểu hiện công năng “dương sinh âm trưởng”; “địa khí” (地氣) chủ phần nửa năm dưới, biểu hiện tác dụng “dương sát âm tàng”. Nếu hiểu theo tinh thần thực chất của câu này, th́ chính là: “dương” (陽) có thể chủ sinh, chủ sát; “âm” (陰) có thể chủ trưởng, chủ tàng. Điều đó chính là để nói rơ quan hệ biện chứng của âm dương. “Câu dương hóa khí, âm thành h́nh”: “dương” (陽) ở đây chỉ công năng “khí hóa” (氣化); “âm” (陰) chỉ vật chất hữu h́nh. Nói về nhân thể, quá tŕnh “dương hóa khí” tức là đem vật chất hữu h́nh trong cơ thể hóa thành loại khí vô h́nh, tức những vật chất cực vi mà mắt thường khó nhận thấy, thậm chí chuyển hóa thành năng lượng; như “tinh hóa vi khí”: tinh hóa thành khí, “thủy hóa vi khí”: thủy hóa thành khí, đều phải nhờ tác dụng của “dương khí” (陽氣). C̣n quá tŕnh “âm thành h́nh” (陰成形) tức là đem vật chất từ ngoại giới tổng hợp thành h́nh chất của chính bản thân, như sự sinh thành của “tinh huyết” (精血) hay sự phát dục của h́nh thể, đều phải nhờ tác dụng thành h́nh của âm. Nói chung, quá tŕnh sinh mệnh của con người chính là quá tŕnh không ngừng tiến hành “hóa khí” (化氣) và “thành h́nh” (成形), cũng là quá tŕnh âm dương nương tựa lẫn nhau mà phát huy công dụng.
(4) “Hàn khí sinh trọc…... bệnh chi nghịch ṭng dă” (「寒氣生濁…...病之逆從也」).
Đoạn này luận thuật về các bệnh biến do “thanh dương” (清陽) và “trọc âm” (濁陰) thăng giáng thất thường gây ra, nhờ đó làm sáng tỏ quy luật bệnh biến khi sự thăng giáng của âm dương bị rối loạn. “Thanh dương chi khí” hạ hăm mà không thăng, sinh ra chứng tiêu chảy ra đồ ăn không tiêu, chủ yếu quy trách ở “tỳ” (脾); “trọc âm chi khí” nghịch lên mà không giáng xuống, sinh ra chứng đầy tức ở ngực và vùng vị quản, chủ yếu quy trách ở “vị” (胃). Bởi v́ “tỳ vị” (脾胃) cư ở “trung tiêu” (中焦), phân chủ thăng giáng, là đầu mối then chốt của sự thăng giáng “khí cơ” (氣機) toàn thân. Nếu “tỳ khí” (脾氣) không thăng, th́ “thanh dương chi khí” (清陽之氣) hạ hăm, phát thành “tiết tả” (泄瀉). Cho nên điều trị chứng tiêu chảy mạn tính do “tỳ hư” (脾虛), không những cần “kiện tỳ ích khí” (健脾益氣), “ôn vận tỳ dương” (溫運脾陽), mà càng cần “thăng dương cử hăm” (升陽舉陷), th́ mới có thể thu được hiệu quả tốt. Điều mà 《”Nội Kinh”》 gọi là “thanh khí tại hạ, tắc sinh sôn tiết” chính là nói về ư này. Nếu “vị khí” (胃氣) không giáng, th́ “trọc âm chi khí” (濁陰之氣) nghịch lên, phát thành chứng đầy trướng vùng ngực vị. Chứng này có thể do “hàn” (寒), “nhiệt” (熱), “hư” (虛), “thực” (實) đều dẫn đến, cho nên phải phân biệt mà điều trị; trong đó trường hợp “hàn nhiệt thác tạp” (寒熱錯雜), “hư thực tương kiêm” (虛實相兼) cũng không phải hiếm thấy.
Các y gia đời sau hết sức coi trọng công năng thăng giáng của “tỳ vị” (脾胃), và trong điều trị bệnh tỳ vị mỗi người đều có sở trường riêng. Lư Đông Viên soạn 《”Tỳ Vị Luận”》 th́ dùng nhiều phép “thăng dương” (升陽); Diệp Thiên Sĩ đề xướng thuyết “dưỡng vị âm”, coi trọng “thông giáng” (通降) làm công dụng chủ yếu, v́ vậy mới nói: “Tỳ nghi thăng tắc kiện, vị nghi giáng tắc ḥa”: tỳ nên thăng th́ mới mạnh, vị nên giáng th́ mới ḥa; lại nói “Thái âm thấp thổ, đắc dương thủy vận; dương minh táo thổ, đắc âm tự an”: thấp thổ thuộc Thái Âm, có được dương rồi mới vận hóa; táo thổ thuộc Dương Minh, có được âm th́ tự yên ổn. 《”Lâm Chứng Chỉ Nam Y Án”》 lại nói rất rơ: “Tổng chi tỳ vị chi bệnh, hư thực hàn nhiệt, nghi táo nghi nhuận, cố đương tường biện, kỳ ư ‘thăng giáng’ nhị tự, vưu vi khẩn yếu. Cái tỳ khí hạ hăm cố bệnh, tức sử bất bệnh, đăn bất kiện vận, dĩ bệnh hĩ; vị khí thượng nghịch cố bệnh, tức bất thượng nghịch, đăn bất thông giáng, diệc bệnh hĩ”: nói chung, bệnh của tỳ vị, hư hay thực, hàn hay nhiệt, nên táo hay nên nhuận, vốn dĩ phải phân biệt tường tận; nhưng đặc biệt ở hai chữ “thăng giáng” lại càng quan trọng hơn cả. Bởi v́ tỳ khí hạ hăm vốn là bệnh; cho dù chưa thấy thành bệnh rơ rệt, chỉ cần không kiện vận th́ cũng đă là bệnh rồi. Vị khí thượng nghịch vốn là bệnh; cho dù chưa nghịch lên rơ ràng, chỉ cần không thông giáng th́ cũng đă là bệnh rồi. “Pháp âm dương thuyết minh nhân thể sinh lư bệnh lư biến hóa”: dùng học thuyết âm dương để giải thích những biến hóa sinh lư và bệnh lư của cơ thể người.
Nguyên văn
Cố thanh dương vi thiên, trọc âm vi địa: phần thanh nhẹ, trong sáng thuộc dương th́ ở ngôi vị của trời, phần nặng đục thuộc âm th́ ở ngôi vị của đất. Địa khí thượng vi vân, thiên khí hạ vi vũ; vũ xuất địa khí, vân xuất thiên khí: địa khí bốc lên thành mây, thiên khí hạ xuống thành mưa; mưa tuy từ trên trời rơi xuống nhưng gốc từ địa khí bốc lên rồi ngưng tụ mà thành, c̣n mây tuy nổi trên trời cũng do thiên khí vận động mà hiện ra. Cho nên thanh dương xuất thượng khiếu, trọc âm xuất hạ khiếu: phần thanh dương đi lên và xuất ra ở các khiếu trên, phần trọc âm đi xuống và xuất ra ở các khiếu dưới; thanh dương phát thấu lư, trọc âm tẩu ngũ tạng: thanh dương phát ra và vận hành ở thấu lư, c̣n trọc âm đi vào ngũ tạng; thanh dương thực tứ chi, trọc âm quy lục phủ (清陽實四支,濁陰歸六府): thanh dương làm đầy và nuôi dưỡng tứ chi, c̣n trọc âm quy về lục phủ.
Thủy vi âm, hỏa vi dương: thủy thuộc âm, hỏa thuộc dương. Dương vi khí, âm vi vị: dương thuộc khí, âm thuộc vị. Vị quy h́nh, h́nh quy khí: vị đi vào để nuôi dưỡng h́nh thể, h́nh thể lại nhờ khí để được nuôi dưỡng; khí quy tinh, tinh quy hóa: khí có thể hóa sinh ra tinh, c̣n tinh lại nương nhờ khí hóa mà được sinh thành; tinh thực khí, h́nh thực vị: tinh nhờ khí mà được nuôi dưỡng, h́nh nhờ vị mà được nuôi dưỡng; hóa sinh tinh, khí sinh h́nh: khí hóa sinh ra tinh, khí cũng thúc đẩy h́nh thể được sinh thành. Vị thương h́nh, khí thương tinh: vị làm tổn thương h́nh, khí làm tổn thương tinh; tinh hóa vi khí, khí thương ư vị: tinh có thể hóa thành khí, nhưng khí lại có thể bị tổn thương bởi vị.
Âm vị xuất hạ khiếu, dương khí xuất thượng khiếu: vị thuộc âm th́ đi ra ở hạ khiếu, khí thuộc dương th́ đi ra ở thượng khiếu. Vị hậu giả vi âm, bạc vi âm chi dương; khí hậu giả vi dương, bạc vi dương chi âm: vị dày đậm th́ thuộc âm, vị mỏng nhạt là phần dương trong âm; khí dày mạnh th́ thuộc dương, khí mỏng nhẹ là phần âm trong dương. Vị hậu tắc tiết, bạc tắc thông; khí bạc tắc phát tiết, hậu tắc phát nhiệt: vị quá dày th́ dễ gây tiết tả, vị mỏng th́ có tác dụng thông lợi; khí mỏng th́ dễ phát tán, khí dày th́ dễ sinh nhiệt. Tráng hỏa chi khí suy, thiếu hỏa chi khí tráng (壯火之氣衰,少火之氣壯): hỏa quá mạnh th́ làm khí suy, hỏa vừa phải th́ làm khí mạnh; tráng hỏa thực khí, khí thực thiếu hỏa, tráng hỏa tán khí, thiếu hỏa sinh khí: tráng hỏa làm hao khí, c̣n khí nhờ thiếu hỏa mà được nuôi dưỡng; tráng hỏa làm tán khí, thiếu hỏa th́ sinh khí. Khí vị tân cam phát tán vi dương, toan khổ dũng tiết vi âm: khí vị cay ngọt có tính phát tán th́ thuộc dương, khí vị chua đắng có tính dũng tiết th́ thuộc âm.
Âm thắng tắc dương bệnh, dương thắng tắc âm bệnh: âm quá thịnh th́ dương bị bệnh, dương quá thịnh th́ âm bị bệnh. Dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tắc hàn: dương thắng th́ sinh nhiệt, âm thắng th́ sinh hàn. Trọng hàn tắc nhiệt, trọng nhiệt tắc hàn: hàn quá mức th́ có thể chuyển thành nhiệt, nhiệt quá mức th́ có thể chuyển thành hàn.
Hàn thương h́nh, nhiệt thương khí: hàn làm tổn thương h́nh thể, nhiệt làm tổn thương khí; khí thương thống, h́nh thương thũng: khí bị thương th́ sinh đau, h́nh bị thương th́ sinh sưng. Cố tiên thống nhi hậu thũng giả, khí thương h́nh dă; tiên thũng nhi hậu thống giả, h́nh thương khí dă: v́ thế trước đau rồi sau mới sưng là do khí bị thương trước rồi liên lụy đến h́nh; trước sưng rồi sau mới đau là do h́nh bị thương trước rồi liên lụy đến khí.
Phong thắng tắc động: phong quá thịnh th́ gây co giật, run, động; nhiệt thắng tắc thũng: nhiệt quá thịnh th́ gây sưng; táo thắng tắc can: táo quá thịnh th́ gây khô; hàn thắng tắc phù: hàn quá thịnh th́ gây phù; thấp thắng tắc nhu tả: thấp quá thịnh th́ gây tiêu chảy nhăo lỏng.
Thiên hữu tứ thời ngũ hành, dĩ sinh trưởng thu tàng, dĩ sinh hàn thử táo thấp phong: trời có bốn mùa ngũ hành, nhờ đó mà có sinh, trưởng, thu, tàng, và sinh ra hàn, thử, táo, thấp, phong. Nhân hữu ngũ tạng hóa ngũ khí, dĩ sinh hỉ nộ bi ưu khủng: người có ngũ tạng hóa sinh ngũ khí, từ đó sinh ra hỉ, nộ, bi, ưu, khủng. Cho nên hỉ nộ thương khí, hàn thử thương h́nh: vui giận quá mức th́ thương khí, lạnh nóng quá mức th́ thương h́nh. Bạo nộ thương âm, bạo hỉ thương dương: giận dữ đột ngột làm tổn thương âm, vui mừng thái quá làm tổn thương dương. Quyết khí thượng hành, măn mạch khứ h́nh: khí nghịch bốc lên trên, đầy ở mạch mà rời khỏi h́nh thể. Nếu hỉ nộ bất tiết, hàn thử quá độ, sinh năi bất cố: vui giận không điều độ, hàn thử quá mức, th́ sự sống sẽ không c̣n bền vững. V́ vậy trọng âm tất dương, trọng dương tất âm: âm quá mức ắt chuyển dương, dương quá mức ắt chuyển âm. Cho nên nói: đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh; xuân thương ư phong, hạ sinh sôn tiết; hạ thương ư thử, thu tất giai ngược; thu thương ư thấp, đông sinh khái thấu: mùa đông bị thương bởi hàn th́ mùa xuân tất phát ôn bệnh; mùa xuân bị thương bởi phong th́ mùa hạ sinh chứng sôn tiết; mùa hạ bị thương bởi thử th́ mùa thu tất sinh chứng giai ngược; mùa thu bị thương bởi thấp th́ mùa đông sinh khái thấu. (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》)
Chú thích
1/ Địa khí thượng vi vân, thiên khí hạ vi vũ; vũ xuất địa khí, vân xuất thiên khí (地氣上為雲,天氣下為雨;雨出地氣,雲出天氣): câu này chủ yếu nói rơ vận động thăng giáng của âm dương trong tự nhiên. Địa khí do được dương nhiệt chưng bốc nên bốc lên thành mây; thiên khí do chịu âm hàn ngưng tụ nên hạ xuống thành mưa. Nói cách khác, địa khí thăng rồi lại giáng là thành mưa, thiên khí giáng rồi lại thăng là thành mây.
2/ Thanh dương xuất thượng khiếu, trọc âm xuất hạ khiếu (清陽出上竅,濁陰出下竅): thanh dương (清陽) ở đây chỉ các loại tinh vi vật chất có tác dụng nuôi dưỡng các khiếu ở phần trên. Trọc âm (濁陰) ở đây chỉ cặn bă của đồ ăn và thủy dịch phế trọc, thực chất là chỉ các chất bài tiết của hạ khiếu như đại tiện, tiểu tiện.
3/ Thanh dương phát thấu lư, trọc âm tẩu ngũ tạng (清陽發腠理,濁陰走五藏): thanh dương (清陽) ở đây chỉ vệ khí (衛氣). Chữ phát (發) và tẩu (走) đều có nghĩa là vận hành và sung dưỡng. Thấu lư (腠理) chỉ những khe hở giữa da, cơ, tạng phủ nơi nguyên khí lưu hành. Trọc âm (濁陰) ở đây chỉ tinh, huyết, tân, dịch.
4/ Thanh dương thực tứ chi, trọc âm quy lục phủ: thanh dương (清陽) ở đây chỉ phần tinh vi của thủy cốc do đồ ăn thức uống hóa sinh. Thực (實) là làm đầy, làm phong phú, nuôi dưỡng. Tứ chi (四支) là bốn chi thể. Trọc âm (濁陰) ở đây chỉ thủy cốc và phần c̣n dư của nó.
5/ Dương vi khí, âm vi vị: khí (氣) chỉ khí của thuốc và đồ ăn, v́ nó vô h́nh mà thiên về thăng tán nên thuộc dương. Vị (味) chỉ mùi vị của thuốc và đồ ăn, v́ nó có chất mà thiên về trầm giáng nên thuộc âm.
6/ Vị quy h́nh, h́nh quy khí: quy (歸) là quá tŕnh từ đây đến kia, ở đây mở rộng nghĩa thành nuôi dưỡng, nương nhờ. H́nh (形) là h́nh thể, bao gồm cả tạng phủ, tinh huyết và các vật chất hữu h́nh khác. Khí (氣) ở đây chỉ nguyên khí (元氣). Câu này nói vị của thuốc và thức ăn nuôi dưỡng h́nh thể con người, c̣n h́nh thể lại nương nhờ nguyên khí để được sung dưỡng.
7/ Khí quy tinh, tinh quy hóa: khí (氣) là khí của thuốc và thức ăn. Quy (歸) ở câu đầu có nghĩa là khí hóa, hóa sinh. Chữ quy (歸) ở câu thứ hai nên hiểu là nương nhờ. Hóa (化) là khí hóa. Câu này nói khí của thuốc và thức ăn có thể hóa sinh ra âm tinh, c̣n âm tinh lại phải nương nhờ khí hóa mà được sản sinh.
8/ Tinh thực khí, h́nh thực vị: đồng nghĩa với câu trên là tinh quy hóa (精歸化), vị quy h́nh (味歸形). Chữ thực (食) nghĩa là nuôi nấng, tức nương nhờ vào sự nuôi dưỡng của cái ǵ đó.
9/ Hóa sinh tinh, khí sinh h́nh: đây là cách nói khác của hai câu trên là tinh quy hóa (精歸化), h́nh quy khí (形歸氣).
10/ Vị thương h́nh, khí thương tinh: vị của đồ ăn, thức thuốc nếu quá mức hoặc không thích hợp sẽ làm tổn thương h́nh thể; khí của đồ ăn, thức thuốc nếu quá mức hoặc không thích hợp sẽ hao tổn âm tinh. Chữ vị (味) và khí (氣) ở đây đều chỉ mùi vị và khí tính quá mức hoặc không đúng đắn của thuốc men, đồ ăn thức uống.
11/Tinh hóa vi khí, khí thương ư vị: hóa (化) ở đây nghĩa là sung dưỡng, nuôi dưỡng. Khí (氣) ở đây chỉ nguyên khí (元氣). Ư câu này là âm tinh có tác dụng sung dưỡng nguyên khí của cơ thể, nhưng nguyên khí của cơ thể lại có thể bị hao tổn bởi mùi vị của thuốc men, ăn uống khi dùng quá mức.
12/ Âm vị xuất hạ khiếu, dương khí xuất thượng khiếu: phàm mùi vị của thuốc men, đồ ăn thuộc âm th́ phần nhiều có xu thế trầm giáng mà đi xuống hạ khiếu; phàm khí của thuốc men, đồ ăn thuộc dương th́ phần nhiều có xu thế thăng tán mà đạt tới thượng khiếu.
13/ Vị hậu giả vi âm, bạc vi âm chi dương; khí hậu giả vi dương, bạc vi dương chi âm: vị vốn thuộc âm, cho nên vị dày đậm th́ là âm trong âm, tức thuần âm; vị mỏng nhạt th́ là dương trong âm. Khí vốn thuộc dương, cho nên khí dày mạnh th́ là dương trong dương, tức thuần dương; khí mỏng nhẹ th́ là âm trong dương.
14/ Vị hậu tắc tiết, bạc tắc thông; khí bạc tắc phát tiết, hậu tắc phát nhiệt: tiết (泄) là tả hạ; thông (通) là lợi tiểu; phát tiết (發洩) là phát tán biểu tà; phát nhiệt (發熱) là trợ dương sinh nhiệt. Ư nói thuốc có vị dày nặng th́ có tác dụng tả hạ, như loại đại hoàng; thuốc có vị nhẹ mỏng th́ có tác dụng thông lợi tiểu tiện, như loại mộc thông. Thuốc có khí mỏng th́ có tác dụng phát tán biểu tà, như loại ma hoàng; thuốc có khí dày th́ có tác dụng trợ dương sinh nhiệt, như loại phụ tử.
15/Tráng hỏa chi khí suy, thiểu hỏa chi khí tráng: chữ chi (之) ở đây có nghĩa là làm cho, khiến cho; thiểu hỏa (少火) là dương khí ôn ḥa; tráng (壯) là cường tráng, sung thịnh. Ư câu này là tà hỏa cang liệt có thể làm nguyên khí của cơ thể suy giảm; c̣n dương khí ôn ḥa th́ có thể làm nguyên khí của cơ thể trở nên mạnh mẽ.
16/Tráng hỏa thực khí, khí thực thiểu hỏa; tráng hỏa tán khí, thiểu hỏa sinh khí: tà hỏa cang liệt có thể tiêu hao, làm tán nguyên khí của cơ thể; c̣n nguyên khí th́ nương nhờ vào thiểu hỏa, tức dương khí ôn ḥa, để được ôn dưỡng. Nói cách khác, tráng hỏa làm hao tán nguyên khí, c̣n thiểu hỏa th́ làm sinh trưởng nguyên khí. Chữ thực (食) ở vế trước nên hiểu là tiêu thực, hao tổn; chữ thực (食) ở vế sau nên hiểu là nuôi dưỡng, nương nhờ.
17/ Khí vị tân cam phát tán vi dương, toan khổ dũng tiết vi âm: dũng (湧) là gây nôn; tiết (泄) là tả hạ. Mùi vị của thuốc men, ăn uống có năm loại là cay, ngọt, chua, đắng, mặn, đều thuộc âm; nhưng trong âm lại có phân âm và dương. Vị cay đi vào phần khí mà tính tán, vị ngọt đi vào tỳ vị mà tưới nhuần bốn phía, cho nên cay ngọt mà có tác dụng phát tán th́ thuộc dương; vị đắng có thể thông tiết, vị chua chủ thu liễm, cho nên chua đắng mà có tác dụng dũng tiết th́ thuộc âm.
18/ Trọng hàn tắc nhiệt, trọng nhiệt tắc hàn: trọng (重) nghĩa là đến cực điểm. Ư câu này là lạnh đến cực điểm th́ có thể xuất hiện hiện tượng giả nhiệt hoặc chuyển hóa thành nhiệt chứng; nóng đến cực điểm th́ có thể xuất hiện hiện tượng giả hàn hoặc chuyển hóa thành hàn chứng.
19/ Hàn thương h́nh, nhiệt thương khí: h́nh (形) là h́nh thể; khí (氣) là phần khí. Hàn tà làm tổn thương h́nh thể của con người, c̣n nhiệt tà th́ xâm phạm phần khí của con người.
20/ Khí thương thống, h́nh thương thũng: khí bị tổn thương th́ khí cơ trở trệ, không thông, cho nên sinh đau; hàn làm tổn thương h́nh thể, hàn tà uất lại mà hóa nhiệt, bế tắc doanh huyết, cho nên xuất hiện sưng trướng.
21/ Động (動): chỉ các triệu chứng lay động không yên như chóng mặt, run rẩy, co giật.
22/ Thũng (腫): chỉ ung sang sưng đỏ.
23/ Can (乾): chỉ các triệu chứng khô ráo như miệng khô, mũi khô, họng khô, da khô.
24/ Phù (浮): phù thũng.
25/ Nhu tả (濡寫): chữ tả (寫) thông với chữ tả (瀉); nhu tả (濡瀉) chỉ đại tiện loăng nhăo.
26/ Sinh trưởng thu tàng (生長收藏): chỉ bốn quá tŕnh sinh hóa là phát sinh, trưởng thành, thu hoạch, tiềm tàng của cơ thể sinh vật.
27/ Hỉ nộ thương khí, hàn thử thương h́nh: hỉ nộ (喜怒) ở đây chỉ thất t́nh; hàn thử (寒暑) ở đây chỉ lục dâm. Ư câu này là thất t́nh mất điều ḥa th́ tổn thương khí cơ của ngũ tạng; lục dâm gây hại cho con người th́ trước hết xâm phạm h́nh thể, cơ biểu.
28/ Bạo nộ thương âm: bạo nộ (暴怒) là nổi giận dữ dội, đột ngột; âm (陰) ở đây chỉ can âm.
29/Dương (陽): ở đây chỉ tâm dương.
30/ Quyết khí thượng hành, măn mạch khứ h́nh: quyết khí (厥氣) là khí nghịch loạn; măn mạch (滿脈) là khí nghịch vận hành, tràn đầy mạch thể; khứ h́nh (去形) là thần khí rời khỏi h́nh thể. Cả câu chỉ t́nh trạng khí nghịch loạn bốc lên trên, tràn đầy mạch thể, làm cho thần khí bị hao tán, rời khỏi thân thể.
Phân tích
Đoạn này thông qua những luận thuật về thiên địa (天地), thủy hỏa (水火), thanh trọc (清濁), khí vị (氣味), cùng các phương diện sinh lư (生理), bệnh lư (病理) của cơ thể người, mà tiếp tục tŕnh bày rơ hơn những nội dung cơ bản của học thuyết âm dương (陰陽), như thuộc tính âm dương, quan hệ hỗ căn (互根), thăng giáng (升降), chuyển hóa (轉化) v.v...
(1)Câu “thanh dương xuất thượng khiếu…… trọc âm quy lục phủ” : luận thuật về sự thăng giáng xuất nhập của thanh dương (清陽) và trọc âm (濁陰) trong cơ thể người. Thanh dương (清陽) và trọc âm (濁陰) đều là những khái niệm tương đối, dùng ở những nơi khác nhau th́ có những hàm nghĩa khác nhau. Ở đây, thanh dương trọc âm (清陽濁陰) chủ yếu chỉ các vật chất và năng lượng sau khi thức ăn, đồ uống đi vào vị tràng rồi trải qua quá tŕnh tiêu hóa và hấp thu mà chuyển hóa thành. Căn cứ vào sự biến hóa của những vật chất ấy, có thể chia làm hai phần thanh (清) và trọc (濁): phần thanh th́ thuộc dương, hoặc đi lên xuất ra ở thất khiếu (七竅), để duy tŕ công năng b́nh thường của các giác quan như tai, mắt, miệng, mũi; hoặc phát ra ngoài ở thấu lư (腠理), để phát huy tác dụng vệ ngoại kháng tà (衛外抗邪); hoặc sung thực ra tứ chi (四肢), khiến tay chân cường kiện, động tác hữu lực. Phần trọc th́ thuộc âm, hoặc đi xuống mà xuất ở nhị âm (二陰), th́ đại tiểu tiện được thông lợi; hoặc rót vào bên trong ngũ tạng (五臟), th́ âm tinh khí huyết (陰精氣血) có nơi tàng trữ; hoặc quy về lục phủ (六府), th́ sự truyền hóa thủy cốc (水穀傳化) không mất đi mức độ b́nh thường. Tóm lại, phải có lên có xuống, có ra có vào, th́ mới duy tŕ được hoạt động tân trần đại tạ (新陳代謝) b́nh thường, khiến âm dương trong cơ thể không ngừng tiến tới trạng thái cân bằng mới trên nền tảng mới. Quan điểm sinh lư này cho rằng thanh dương chi khí (清陽之氣) th́ thăng phát lên trên, hướng ra ngoài; c̣n trọc âm chi khí (濁陰之氣) th́ trầm giáng xuống dưới, hướng vào trong. Quan điểm ấy đă cung cấp cơ sở lư luận cho nhiều phương pháp điều trị đời sau. Thí dụ, phép tuyên phế phát tán (宣肺發散) để trị biểu chứng (表證), phép công hạ (攻下) để trị tích trệ trường vị, phép lợi thủy trục thủy (利水逐水) để trị phù thũng, phép ích khí thăng thanh (益氣升清) để trị ù tai do tỳ hư, tất cả đều là sự phát huy cụ thể từ lư luận này.
(2)Câu “âm vị xuất hạ khiếu…… hậu tắc phát nhiệt” (「陰味出下竅……厚則發熱」) vận dụng thuộc tính âm dương để phân tích khí vị (氣味) của dược vật cùng công năng chủ yếu của chúng. Tính năng khí vị của dược vật phần nhiều đều có sự thiên lệch về âm hay dương; lợi dụng sự thiên lệch đó để trị bệnh, điều chỉnh âm dương của cơ thể, chính là cơ chế tác dụng chủ yếu của thuốc. 《Nội Kinh》 đă nêu ra quy luật chung về âm dương thăng giáng (陰陽升降) của khí vị dược vật; các học thuyết dược vật học đời sau lại phát triển mới trên nền tảng ấy. Như Lư Đông Viên trong 《Trân Châu Nang Bổ Di Dược Tính Phú》 nói: “Phục dược hữu hàn, nhiệt, ôn, lương chi tính, toan, khổ, tân, hàm, cam, đạm chi vị, thăng, giáng, phù, trầm chi năng, hậu, bạc, khinh, trọng chi dụng. Hoặc khí nhất nhi vị thù, hoặc vị đồng nhi khí dị. Hợp nhi ngôn chi, bất khả hỗn dụng; phân nhi ngôn chi, các hữu sở năng”: dùng thuốc th́ có tính hàn, nhiệt, ôn, lương; có vị chua, đắng, cay, mặn, ngọt, nhạt; có khả năng thăng, giáng, phù, trầm; có công dụng dày, mỏng, nhẹ, nặng. Có khi khí giống nhau mà vị khác nhau, có khi vị giống nhau mà khí lại khác. Nói gộp lại th́ không thể dùng lẫn lộn; nói tách ra th́ mỗi thứ đều có sở trường riêng. Điều đó cho thấy từ việc suy diễn âm dương của khí vị dược vật đến học thuyết tứ khí ngũ vị (四氣五味), thăng giáng phù trầm (升降浮沉), cũng như việc phân tích và vận dụng cụ thể khí vị dược vật, đều được phát triển lên dưới sự gợi mở của lư luận này trong 《Nội Kinh》.
(3)Câu “dương vi khí…… khí thương ư vị” (「陽為氣……氣傷於味」) luận thuật về quá tŕnh “dương hóa khí, âm thành h́nh” (陽化氣,陰成形). Đoạn văn này tŕnh bày toàn bộ quá tŕnh chuyển hóa vật chất như vị (味), h́nh (形), tinh (精), khí (氣) sau khi thức ăn đi vào cơ thể, từ đó giải thích mối quan hệ giữa âm và dương là nương tựa lẫn nhau, dùng cho nhau, chuyển hóa cho nhau. Học thuyết đời sau về tinh khí hỗ căn (精氣互根) cũng bắt nguồn từ đây. Trong trạng thái b́nh thường, tinh (精) và khí (氣) có thể hóa sinh lẫn nhau, tức là tinh là cơ sở vật chất để hóa sinh khí, c̣n khí là tác dụng công năng để hóa sinh tinh. Dù tinh và khí đến từ tiên thiên hay hậu thiên, cả hai đều không ngừng tương hỗ tư sinh, thúc đẩy và chuyển hóa cho nhau. Thí dụ, thận tinh (腎精) nhờ được thận dương (腎陽) hỗ trợ th́ có thể hóa sinh thận khí (腎氣); c̣n thận khí lại có thể kích phát công năng tạng phủ để hóa sinh âm tinh (陰精). Như Trương Giới Tân nói: “Cố tiên thiên chi khí, khí hóa vi tinh, hậu thiên chi khí, tinh hóa vi khí, tinh chi dữ khí, bản tự hỗ sinh”: cho nên khí tiên thiên th́ khí hóa thành tinh, khí hậu thiên th́ tinh hóa thành khí, tinh và khí vốn dĩ sinh lẫn cho nhau. V́ vậy, trên lâm sàng mới vận dụng những pháp tắc như “ṭng âm dĩ dẫn dương” (從陰以引陽), “ṭng dương dĩ dẫn âm” (從陽以引陰), “âm trung cầu dương” (陰中求陽), “dương trung cầu âm” (陽中求陰), đồng thời lập ra các phương như Tả Quy Hoàn (左歸丸), Hữu Quy Hoàn (右歸丸) để hóa tinh sinh khí, hóa khí sinh tinh. Lại c̣n nói rằng: “Âm căn ư dương, dương căn ư âm, phàm bệnh hữu bất khả chính trị giả, đương ṭng dương dĩ dẫn âm, ṭng âm dĩ dẫn dương, các cầu kỳ thuộc nhi suy chi, như cầu hăn ư huyết, sinh khí ư tinh, ṭng dương dẫn âm dă. Hựu như dẫn hỏa quy nguyên, nạp khí quy thận, ṭng âm dẫn dương dă. Thử tức thủy trung thủ hỏa, hỏa trung thủy chi nghĩa”: âm bám rễ ở dương, dương bám rễ ở âm; hễ có bệnh không thể trị thẳng th́ nên từ dương mà dẫn âm, từ âm mà dẫn dương, tùy từng loại mà làm suy nó đi; như cầu mồ hôi ở huyết, sinh khí ở tinh, ấy là từ dương mà dẫn âm; lại như dẫn hỏa quy nguyên, nạp khí quy thận, ấy là từ âm mà dẫn dương; đó chính là ư lấy lửa trong nước, lấy nước trong lửa. Qua đó có thể thấy, lư luận tinh khí hỗ sinh (精氣互生) có ư nghĩa chỉ đạo rất quan trọng trên lâm sàng.
(4)Câu “tráng hỏa chi khí suy…… thiếu hỏa sinh khí” (「壯火之氣衰……少火生氣」) giải thích mối quan hệ tiêu trưởng giữa hỏa (火) và nguyên khí (元氣). Chữ hỏa ở đây, về sau được diễn rộng thành dương khí của cơ thể người. Như Trương Giới Tân nói: “Hỏa giả, dương khí dă. Thiên phi thử hỏa bất năng sinh dục vạn vật, nhân phi thử hỏa bất năng sinh dưỡng mệnh căn, thị dĩ vật sinh tất bản ư dương”: hỏa tức là dương khí. Trời không có thứ hỏa này th́ không thể sinh dưỡng vạn vật, người không có thứ hỏa này th́ không thể nuôi dưỡng mệnh căn, cho nên sự sống của muôn vật tất phải gốc ở dương. Điều này chứng tỏ hỏa ở đây là chỉ dương khí của cơ thể người, cũng tức là động lực của sinh mệnh. Nhưng hỏa lại có phân biệt tráng hỏa (壯火) và thiểu hỏa (少火). Tráng hỏa (壯火) là thứ hỏa quá cang thịnh, tức bệnh lư chi hỏa, có thể thực khí, tán khí; c̣n thiểu hỏa (少火) là thứ hỏa ḥa b́nh, tức sinh lư chi hỏa, có thể dưỡng khí, sinh khí. V́ vậy Trương Giới Tân lại nói: “Đăn dương ḥa chi hỏa tắc sinh vật, cang liệt chi hỏa tắc hại vật. Cố hỏa thái quá tắc khí phản suy, hỏa ḥa b́nh tắc khí năi tráng. Tráng hỏa tán khí, cố vân thực khí; thiểu hỏa sinh khí, cố vân thực hỏa”: chỉ có thứ hỏa dương ḥa th́ mới sinh dưỡng vạn vật, c̣n thứ hỏa cang liệt th́ làm hại vạn vật. Cho nên hỏa quá mức th́ khí trái lại suy, hỏa ôn ḥa th́ khí mới mạnh. Tráng hỏa làm tán khí nên nói là thực khí; thiểu hỏa sinh khí nên nói là thực hỏa.V́ sao thiểu hỏa (少火) lại có thể hóa sinh nguyên khí (元氣)? Bởi v́ thứ hỏa ḥa b́nh ấy chính là dương khí b́nh ḥa, b́nh thường trong cơ thể, có thể thúc đẩy công năng tạng phủ hóa sinh các tinh vi vật chất, đồng thời có thể chuyển hóa âm tinh thành nguyên khí, tức là cái lư mà 《Nội Kinh》 gọi là “khí quy tinh” (氣歸精), “tinh hóa vi khí” (精化為氣). V́ vậy, trên lâm sàng khi điều trị bệnh dương hư (陽虛), không chỉ dùng thuốc tân ôn (辛溫) để ôn dương, mà c̣n cần phối hợp thêm các vị cam ôn (甘溫) để ích khí, như vậy mới tăng cường hiệu quả điều trị. Thí dụ, các phương ôn dương như Lư Trung Thang (理中湯), Phụ Tử Thang (附子湯), đều phối hợp với Nhân Sâm (人參) để bổ ích nguyên khí, bởi v́ người dương hư tất nhiên đồng thời có khí hư.
Tráng hỏa (壯火) v́ sao có thể hao tổn nguyên khí (元氣)? Bởi v́ thứ hỏa cang thịnh ấy chính là dương khí (陽氣) quá mức cang vượng ở bên trong cơ thể, nó có thể thúc đẩy công năng của tạng phủ trở nên quá mức hưng phấn, từ đó làm tiêu hao rất nhiều âm tinh (陰精). Khi tinh đă bị tổn thương th́ không c̣n đủ cơ sở để hóa sinh nguyên khí, v́ vậy 《Nội Kinh》 mới có thuyết “tinh thương tắc vô khí” (精傷則無氣): tinh bị tổn thương th́ sẽ không c̣n khí. Bởi trên lâm sàng thường thấy những bệnh thái mà hỏa thịnh làm thương tinh, hao khí, cho nên Đông Viên mới gọi “hỏa vi nguyên khí chi tặc” (火為元氣之賊): hỏa là giặc của nguyên khí, mà lời này chính là nhằm nói đến tráng hỏa (壯火). V́ vậy, trên lâm sàng khi điều trị các bệnh thuộc dương thịnh (陽盛), một khi đă xuất hiện hiện tượng khí hư (氣虛), th́ nhất định trong phương thanh nhiệt phải phối hợp thêm các vị ích khí (益氣), nếu không sẽ đưa đến hậu quả nghiêm trọng. Thí dụ như dương minh nhiệt thịnh (陽明熱盛), khi trên triệu chứng vừa có sốt cao, ra mồ hôi, phiền táo, khát nước, mà đồng thời mạch lại vô lực, th́ phải gấp rút thanh tiết dương minh (清泄陽明), ích khí sinh tân (益氣生津), chủ dùng Bạch Hổ Gia Nhân Sâm Thang (白虎加人參湯). Nếu dương minh táo nhiệt nội thịnh (陽明燥熱內盛), thiêu đốt làm tổn thương tân dịch, mà mạch lại hồng đại hữu lực, th́ nên dùng Bạch Hổ Thang (白虎湯) để thanh tiết nhiệt của Dương Minh; c̣n nếu mạch đến vô lực, th́ nhất định phải gia thêm Nhân Sâm (人參) để ích khí sinh tân. Đó chính là then chốt quyết định thành bại trong điều trị, thậm chí có lúc c̣n liên quan đến sự c̣n mất của sinh mệnh, tuyệt đối không thể xem nhẹ.
Về cách lư giải hai chữ “tráng hỏa, thiếu hỏa” (壯火、少火) trong đoạn kinh văn này, các nhà chú giải xưa kia có những kiến giải khác nhau. Thí dụ, Mă Thị cho rằng tráng hỏa (壯火) và thiểu hỏa (少火) là chỉ sự dày mỏng của khí vị dược vật. Ông nói: “Cái dĩ khí vị thái hậu giả, hỏa chi tráng dă. Dụng tráng hỏa chi phẩm, tắc ngô nhân bất năng đương chi nhi phản suy hĩ! Như dụng ô, phụ chi loại, nhi ngô nhân chi khí bất năng thắng chi, cố phát nhiệt. Khí vị chi ôn giả, hỏa chi thiểu dă. Dụng thiểu hỏa chi phẩm, tắc ngô nhân chi khí tiệm nhĩ sinh vượng nhi ích tráng hĩ. Như dụng sâm, kỳ chi loại, nhi khí tiệm vượng giả thị dă”: đại để những vị thuốc có khí vị quá dày nặng th́ là tráng hỏa; dùng loại thuốc tráng hỏa th́ cơ thể không kham nổi mà trái lại suy đi, như dùng ô đầu, phụ tử mà khí của người bệnh không thắng nổi nên phát nhiệt. C̣n khí vị ôn ḥa th́ là thiểu hỏa; dùng loại thuốc thiểu hỏa th́ khí của con người dần dần được sinh vượng mà thêm mạnh, như dùng nhân sâm, hoàng kỳ mà khí dần vượng lên, đó chính là như vậy.
Uẩn Thiết Kiều th́ cho rằng tráng hỏa (壯火) và thiểu hỏa (少火) là chỉ quy luật biến hóa khí hậu của bốn mùa. Ông nói: “Thiểu hỏa vi xuân sinh chi khí, tráng hỏa vi hạ trưởng chi khí. Thiểu hỏa do sinh nhi trưởng, cố khí tráng nhi sinh khí; tráng hỏa thịnh cực tương suy chi hậu, cố khí suy nhi thực khí”: thiểu hỏa là khí của mùa xuân sinh, tráng hỏa là khí của mùa hạ trưởng. Thiểu hỏa từ sinh mà đến trưởng, cho nên khí mạnh mà sinh khí; tráng hỏa th́ ở vào lúc thịnh cực sắp suy, cho nên khí suy mà thực khí. Hai cách nói trên tuy đều có đạo lư nhất định, nhưng xét về phương diện chỉ đạo lâm sàng th́ không bằng cách giải thích trước. Bởi vậy, các y gia đời sau phần nhiều đều lư giải tráng hỏa (壯火) và thiểu hỏa (少火) từ góc độ dương khí (陽氣) của cơ thể người.
(5)
Câu “âm thắng tắc dương bệnh…… âm thắng tắc hàn” (「陰勝則陽病……陰勝則寒」) bàn về những biến hóa bệnh lư chủ yếu do âm dương thất điều (陰陽失調) gây nên. Sự cân bằng tương đối của âm dương trong cơ thể là điều kiện tất yếu để duy tŕ hoạt động sinh lư b́nh thường. Nếu các nhân tố gây bệnh từ bên trong hay bên ngoài phá hoại sự cân bằng đó, th́ sẽ xuất hiện t́nh trạng âm dương thiên thịnh thiên suy (偏盛偏衰), từ đó dẫn đến đủ loại bệnh biến.
Chữ “thắng” (勝) ở đây có nghĩa là thiên thịnh. Câu “âm thắng tắc dương bệnh, dương thắng tắc âm bệnh” (陰勝則陽病,陽勝則陰病) là nói cái bệnh lư căn bản của t́nh trạng âm dương thiên thắng thiên suy. Nếu âm hay dương có một bên thiên thắng, th́ thường có thể làm cho bên kia bị suy yếu, điểm này khác với bệnh lư được nói ở câu dưới là “dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tắc hàn” (陽勝則熱,陰勝則寒). Dương thắng tắc âm bệnh (陽勝則陰病) là chỉ chứng nhiệt thắng mà thương âm. Dương thắng th́ thuộc nhiệt, là thực; âm dịch bị hao thương th́ thuộc hư. Đă là thực th́ phải tả, đă là hư th́ phải bổ, cho nên phép trị nên là thanh nhiệt dưỡng âm (清熱養陰). Âm thắng tắc dương bệnh (陰勝則陽病) là chỉ chứng hàn thắng mà thương dương. Âm thắng th́ thuộc hàn, là thực; dương khí suy vi th́ thuộc hư. Hàn thực th́ nên khứ, dương hư th́ nên ích, cho nên phép trị phải là khứ hàn phù dương (祛寒扶陽). Những trường hợp nói trên đều thuộc loại chứng hư thực tương kiêm (虛實相兼), khác với hàn chứng hay nhiệt chứng đơn thuần, cho nên phương pháp điều trị cũng không giống nhau. Nói chung, tất cả đều lấy việc điều chỉnh và khôi phục lại sự cân bằng tương đối của âm dương làm mục đích chính.
Câu “dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tắc hàn” (陽勝則熱,陰勝則寒) là chỉ hiện tượng bệnh lư cơ bản của t́nh trạng âm dương thiên thắng. Xét về thiên thắng của âm dương mà nói, bệnh do dương thiên thắng phần nhiều biểu hiện ra nhiệt tượng (熱象), tức cái gọi là “dương thắng tắc nhiệt” (陽勝則熱). Bản chất của nó là sự hưng phấn quá mức của công năng và hoạt động chuyển hóa, có thể là toàn thân hoặc cục bộ. Thường thấy các biểu hiện nhiệt chứng như mặt đỏ, sốt, triều nhiệt, phiền táo, khát nước, họng khô đau, mắt đỏ, môi khô cháy, hoặc thần hôn, nói sảng, đại tiện bí kết, tiểu tiện ngắn đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch sác hữu lực. Nên áp dụng phép trị “nhiệt giả hàn chi” (熱者寒之): nóng th́ làm cho mát, tức dùng phép thanh nhiệt tả hỏa (清熱瀉火) để ức chế phần dương đang cang thịnh.
C̣n bệnh do âm thiên thắng th́ phần nhiều biểu hiện ra hàn tượng (寒象), tức cái gọi là “âm thắng tắc hàn” (陰勝則寒). Bản chất của nó là sự suy giảm của công năng và hoạt động chuyển hóa, có thể là toàn thân hoặc cục bộ. Thường thấy các biểu hiện hàn chứng như sắc mặt trắng nhợt, thân lạnh, tay chân lạnh, tinh thần mệt mỏi, thích nằm, đại tiện lỏng loăng, tiểu tiện trong dài, miệng không khát hoặc thích uống nóng, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch tŕ vô lực. Nên dùng phép trị “hàn giả nhiệt chi” (寒者熱之): lạnh th́ làm cho ấm, tức dùng phép khứ hàn ôn dương (祛寒溫陽) để ức chế phần âm đang thiên thịnh.
Nói chung, sửa chữa t́nh trạng âm dương thiên thắng là biện pháp cần thiết để khôi phục trạng thái sinh lư b́nh thường của cơ thể. Chính như 《Thương Hàn Tầm Nguyên》 nói: “Sở vị bệnh giả, tất do hồ âm dương chi thiên dă. Trọng Cảnh trị bệnh chư pháp, đệ tựu kỳ âm dương chi thiên thắng giả, tề kỳ thiên nhi bệnh tự dĩ”: cái gọi là bệnh, đều do sự thiên lệch của âm dương mà ra. Các phép trị bệnh của Trọng Cảnh, chẳng qua là nhắm vào chỗ âm dương thiên thắng mà điều chỉnh cái thiên lệch ấy, th́ bệnh tự khỏi.
(6) “Trọng hàn tắc nhiệt, trọng nhiệt tắc hàn” (「重寒則熱,重熱則寒」) chỉ ra hai loại chứng hậu khác nhau, trong đó t́nh trạng âm dương thiên thịnh thiên suy (陰陽偏盛偏衰), dưới những điều kiện nhất định, có thể chuyển hóa theo hướng ngược lại với chính nó. Những câu như “hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn” (寒極生熱,熱極生寒), hay “trọng âm tất dương, trọng dương tất âm” (重陰必陽,重陽必陰) trong 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》, đều là luận từ đạo lư vật cực tất phản (物極必反): sự vật đến cực điểm th́ tất phản chuyển. Trong quá tŕnh bệnh, hàn chứng chuyển thành nhiệt chứng, hoặc nhiệt chứng chuyển thành hàn chứng, đó là sự thay đổi căn bản về tính chất của bệnh, khác với các chứng chân nhiệt giả hàn (真熱假寒) hoặc chân hàn giả nhiệt (真寒假熱). Chân hàn giả nhiệt (真寒假熱) là do âm hàn trong cơ thể quá thịnh, dương khí bị cách cự ra ngoài, mà h́nh thành chứng bên trong thật là hàn, bên ngoài giả hiện ra nhiệt. Thí dụ như trong 《Thương Hàn Luận》 nói: “Thiếu âm bệnh, hạ lợi thanh cốc, lư hàn ngoại nhiệt…… thân phản bất ố hàn, kỳ nhân diện sắc xích…… hoặc yết thống…… Thông Mạch Tứ Nghịch Thang chủ chi”, chính là loại chứng hậu như vậy. C̣n chân nhiệt giả hàn (真熱假寒) là do dương nhiệt trong cơ thể quá thịnh, dương khí bị uất ức mà không thể phát đạt ra ngoài, từ đó h́nh thành chứng bên trong thật là nhiệt mà bên ngoài giả hiện ra hàn. Tuy hai loại này biểu hiện hiện tượng khác nhau, nhưng bản chất của bệnh vẫn chưa thay đổi. V́ vậy cần phải phân biệt rơ với t́nh huống chuyển hóa hàn nhiệt thực sự nói ở trên.
(7)“Phong thắng tắc động…… thấp thắng tắc nhu tả” là sự khái quát rất cao về đặc điểm gây bệnh của ngũ khí (五氣). Những luận thuật của 《Nội Kinh》 về việc ngũ khí gây bệnh có ư nghĩa chỉ đạo rất quan trọng đối với lâm sàng trong việc biện chứng (辨證) và truy t́m bệnh nhân (病因). Nhưng ngũ khí gây bệnh lại có phân biệt giữa nội thương (內傷) và ngoại cảm (外感): ngoại cảm là do tà khí của lục dâm (六淫) từ bên ngoài xâm nhập mà sinh ra; nội thương th́ do tạng khí thất điều (臟氣失調) ở bên trong gây nên. Tuy biểu hiện lâm sàng của hai loại này có khi rất giống nhau, nhưng đặc điểm bệnh lư và phương pháp điều trị lại hoàn toàn khác biệt. Thí dụ, ngoại phong (外風) và nội phong (內風) đều có thể gây ra các triệu chứng lay động không yên; nhưng bệnh biến của ngoại phong là trực tiếp do phong tà bên ngoài gây nên, c̣n nội phong th́ lại do âm hư huyết thiểu (陰虛血少) hoặc do dương khí biến động (陽氣變動) mà sinh ra. Như Trương Giới Tân nói: “Phong chi vi bệnh tối đa, ngộ trị giả, tại bất minh kỳ biểu lư nhĩ. Cái ngoại phong giả, bát phương chi sở trung dă, nội phong giả, ngũ tạng chi bản bệnh dă. Bát phong tự ngoại nhi nhập, tất tiên hữu ố hàn phát nhiệt, đầu thống thân nhiệt đẳng chứng, hiển nhiên khả sát dă. Ngũ phong do nội nhi bệnh, tắc tuyệt vô ngoại chứng, nhi hốt bệnh như phong, kỳ do nội thương khả tri dă. Nhiên kư phi ngoại cảm, nhi kinh viết chư bạo cường trực, giai thuộc ư phong, chư phong điệu huyễn, giai thuộc ư can, hà dă? Cái can chủ phong nhi tàng huyết, huyết bệnh tắc vô dĩ dưỡng cân, cân bệnh điệu huyễn cường trực, chư biến bách xuất, thử giai can mộc chi hóa, cố vân giai thuộc ư phong”: bệnh do phong là loại bệnh rất nhiều, mà chỗ dễ chữa sai là ở không phân rơ biểu lư. Ngoại phong là phong từ tám phương trúng vào, c̣n nội phong là bệnh gốc ở ngũ tạng. Ngoại phong từ ngoài nhập vào th́ tất trước hết có các chứng như sợ lạnh, phát nhiệt, đầu đau, ḿnh nóng, đều rất rơ để xét biết. C̣n nội phong phát bệnh từ trong th́ tuyệt nhiên không có ngoại chứng, mà bỗng nhiên phát bệnh như phong, nên biết là do nội thương. Nhưng đă không phải ngoại cảm, vậy v́ sao kinh lại nói các chứng co cứng đột ngột đều thuộc phong, các chứng run rẩy, choáng váng đều thuộc can? Đó là v́ can chủ phong mà tàng huyết, huyết có bệnh th́ không đủ để nuôi gân, gân có bệnh th́ sinh run, chóng mặt, co cứng, trăm thứ biến hóa phát sinh, tất cả đều là sự hóa sinh của can mộc, cho nên nói đều thuộc phong. Trương thị đă chỉ ra rằng sai lầm trong điều trị phong bệnh là ở chỗ không phân rơ biểu lư (表裡), hoặc lầm nội phong (內風) là ngoại phong (外風), hoặc lầm ngoại phong là nội phong; điều này quả thực trên lâm sàng thường xảy ra. Đặc biệt, với bệnh trúng phong (中風) do ngoại phong dẫn động nội phong, càng dễ bị người ta bỏ sót mà gây nên chẩn đoán sai. Cũng theo cùng đạo lư đó, đối với hàn (寒), thấp (濕), táo (燥), nhiệt (熱), cũng phải nghiêm ngặt phân biệt nội và ngoại, không thể lẫn lộn hai bên, mà dẫn đến sai lầm trong biện chứng thi trị (辨證施治).
(8)“Đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh…… thu thương ư thấp, đông sinh khái thấu” là để làm sáng tỏ quan điểm về phục tà phát bệnh (伏邪發病). Cái gọi là phục tà phát bệnh (伏邪發病) là chỉ t́nh huống tà khí từ ngoài xâm nhập, nhưng lại tiềm tàng ở bên trong cơ thể, ẩn phục một thời gian rồi sau mới phát ra; khi mới phát bệnh đă xuất hiện lư chứng (裡證), hoặc biểu chứng và lư chứng cùng xuất hiện một lúc, khác với các bệnh ngoại cảm thông thường vốn trước hết xuất hiện biểu chứng. Cũng có thể hiểu vấn đề này từ góc độ tứ thời dưỡng sinh (四時養生) trong 《Tố Vấn. Tứ Khí Điều Thần Đại Luận》, tức là: mùa đông bị thương bởi hàn mà không thể tàng tinh (藏精), đến mùa xuân khi dương khí bốc lên th́ dễ mắc ôn nhiệt bệnh (溫熱病); mùa xuân bị thương bởi phong khiến dương khí không được sinh phát, đến mùa hạ dương khí không thể vượng lên, mà sinh ra bệnh đỗng tiết hàn trung (洞泄寒中).
Dùng ngũ hành quy loại để luận về hệ thống chỉnh thể âm dương của ngũ tạng
Nguyên văn
Đế nói: Ta nghe các bậc thánh nhân thời thượng cổ, bàn luận và chỉnh lư về nhân h́nh (人形): h́nh thái và các cơ quan của thân thể người; phân biệt, sắp xếp tạng phủ (藏府): vị trí h́nh thái của các tạng phủ; khảo cứu đầu mối, mạng lưới của kinh mạch (經脈): sự phân bố và hướng đi của kinh mạch; hội thông lục hợp (六合): sáu cặp phối hợp biểu lư trong mười hai kinh; mỗi thứ đều theo về kinh của nó. Những nơi khí huyệt (氣穴) phát ra, mỗi nơi đều có tên gọi riêng; các khê cốc thuộc cốt (溪谷屬骨): khe rănh cơ nhục liên hệ với xương cốt, đều có chỗ khởi đầu; các phần phân bộ nghịch ṭng (分部逆從): sự chia khu của b́ bộ cùng chiều thuận nghịch của nó, đều có điều lư riêng; tứ thời âm dương (四時陰陽): âm dương của bốn mùa, thảy đều có kỷ cương; sự ứng hợp giữa ngoại nội (外內) đều có biểu lư tương ứng, điều đó quả thật đúng như vậy chăng?
Kỳ Bá đáp rằng: Đông phương sinh phong (東方生風): phương Đông sinh ra phong; phong sinh mộc (風生木): phong sinh mộc; mộc sinh toan (木生酸): mộc sinh vị chua; toan sinh can (酸生肝): vị chua ứng với can; can sinh cân (肝生筋): can ứng với cân; cân sinh tâm (筋生心): cân lại liên hệ với tâm; can chủ mục (肝主目): can chủ ở mắt. Cái đó ở trên trời là huyền, ở nơi người là đạo, ở nơi đất là hóa, hóa sinh ngũ vị, đạo sinh trí, huyền sinh thần. Những câu này nguyên văn c̣n tồn nghi, ư văn không thật phù hợp với trên dưới. Thần (神) ở trời là phong, ở đất là mộc, ở thân thể là cân, ở tạng là can, ở sắc là thương, ở âm là giác, ở thanh là hô, ở biến động là ác, ở khiếu là mắt, ở vị là chua, ở chí là giận. Nộ thương can (怒傷肝): giận dữ làm tổn thương can; bi thắng nộ (悲勝怒): bi ai có thể thắng giận; phong thương cân (風傷筋): phong làm hại cân; táo thắng phong (燥勝風): táo có thể thắng phong; toan thương cân (酸傷筋): vị chua làm hại cân; tân thắng toan (辛勝酸): vị cay có thể thắng vị chua.
Nam phương sinh nhiệt (南方生熱): phương Nam sinh nhiệt; nhiệt sinh hỏa (熱生火): nhiệt sinh hỏa; hỏa sinh khổ (火生苦): hỏa sinh vị đắng; khổ sinh tâm (苦生心): vị đắng ứng với tâm; tâm sinh huyết (心生血): tâm ứng với huyết; huyết sinh tỳ (血生脾): huyết lại liên hệ với tỳ; tâm chủ thiệt (心主舌): tâm chủ ở lưỡi. Cái đó ở trời là nhiệt, ở đất là hỏa, ở thân thể là mạch, ở tạng là tâm, ở sắc là đỏ, ở âm là chủy, ở thanh là cười, ở biến động là ưu, ở khiếu là lưỡi, ở vị là đắng, ở chí là vui. Hỉ thương tâm (喜傷心): vui quá làm tổn thương tâm; khủng thắng hỉ (恐勝喜): sợ hăi có thể thắng vui; nhiệt thương khí (熱傷氣): nhiệt làm hại khí; hàn thắng nhiệt (寒勝熱): hàn có thể thắng nhiệt; khổ thương khí (苦傷氣): vị đắng làm hại khí; hàm thắng khổ (鹹勝苦): vị mặn có thể thắng vị đắng.
Trung ương sinh thấp (中央生濕): trung ương sinh thấp; thấp sinh thổ (濕生土): thấp sinh thổ; thổ sinh cam (土生甘): thổ sinh vị ngọt; cam sinh tỳ (甘生脾): vị ngọt ứng với tỳ; tỳ sinh nhục (脾生肉): tỳ ứng với cơ nhục; nhục sinh phế (肉生肺): cơ nhục lại liên hệ với phế; tỳ chủ khẩu (脾主口): tỳ chủ ở miệng. Cái đó ở trời là thấp, ở đất là thổ, ở thân thể là nhục, ở tạng là tỳ, ở sắc là vàng, ở âm là cung, ở thanh là ca, ở biến động là uế, ở khiếu là miệng, ở vị là ngọt, ở chí là tư. Tư thương tỳ (思傷脾): suy nghĩ quá độ làm tổn thương tỳ; nộ thắng tư (怒勝思): giận có thể thắng lo nghĩ; thấp thương nhục (濕傷肉): thấp làm hại cơ nhục; phong thắng thấp (風勝濕): phong có thể thắng thấp; cam thương nhục (甘傷肉): vị ngọt làm hại cơ nhục; toan thắng cam (酸勝甘): vị chua có thể thắng vị ngọt.
Tây phương sinh táo (西方生燥): phương Tây sinh táo; táo sinh kim (燥生金): táo sinh kim; kim sinh tân (金生辛): kim sinh vị cay; tân sinh phế (辛生肺): vị cay ứng với phế; phế sinh b́ mao (肺生皮毛): phế ứng với da lông; b́ mao sinh thận (皮毛生腎): da lông lại liên hệ với thận; phế chủ tỵ (肺主鼻): phế chủ ở mũi. Cái đó ở trời là táo, ở đất là kim, ở thân thể là b́ mao, ở tạng là phế, ở sắc là trắng, ở âm là thương, ở thanh là khóc, ở biến động là khái, ở khiếu là mũi, ở vị là cay, ở chí là ưu. Ưu thương phế (憂傷肺): buồn lo làm tổn thương phế; hỉ thắng ưu (喜勝憂): vui có thể thắng buồn; nhiệt thương b́ mao (熱傷皮毛): theo văn nghĩa nên hiểu là táo thương b́ mao, tức táo làm hại da lông; hàn thắng nhiệt (寒勝熱): theo quan hệ ngũ hành nên chỗ này có chỗ truyền chép sai; tân thương b́ mao (辛傷皮毛): vị cay làm hại da lông; khổ thắng tân (苦勝辛): vị đắng có thể thắng vị cay.
Bắc phương sinh hàn (北方生寒): phương Bắc sinh hàn; hàn sinh thủy (寒生水): hàn sinh thủy; thủy sinh hàm (水生鹹): thủy sinh vị mặn; hàm sinh thận (鹹生腎): vị mặn ứng với thận; thận sinh cốt tủy (腎生骨髓): thận ứng với xương tủy; tủy sinh can (髓生肝): tủy lại liên hệ với can; thận chủ nhĩ (腎主耳): thận chủ ở tai. Cái đó ở trời là hàn, ở đất là thủy, ở thân thể là cốt, ở tạng là thận, ở sắc là đen, ở âm là vũ, ở thanh là thân, ở biến động là lật, ở khiếu là tai, ở vị là mặn, ở chí là sợ. Khủng thương thận (恐傷腎): sợ hăi làm tổn thương thận; tư thắng khủng (思勝恐): suy nghĩ có thể thắng sợ hăi; hàn thương huyết (寒傷血): hàn làm hại huyết; táo thắng hàn (燥勝寒): theo chú thích nên chỗ này đáng lẽ là thấp thắng hàn; hàm thương huyết (鹹傷血): vị mặn làm hại huyết; cam thắng hàm (甘勝鹹): vị ngọt có thể thắng vị mặn.
Cho nên nói: thiên địa giả, vạn vật chi thượng hạ dă (天地者,萬物之上下也): trời đất là phần trên dưới của vạn vật; âm dương giả, huyết khí chi nam nữ dă (陰陽者,血氣之男女也): âm dương là sự phân loại nam nữ của huyết khí; tả hữu giả, âm dương chi đạo lộ dă (左右者,陰陽之道路也): trái phải là đường lối vận hành của âm dương; thủy hỏa giả, âm dương chi trưng triệu dă (水火者,陰陽之徵兆也): thủy hỏa là dấu hiệu biểu hiện của âm dương; âm dương giả, vạn vật chi năng thủy dă (陰陽者,萬物之能始也): âm dương là đầu mối công năng ban đầu của vạn vật. Cho nên nói: âm tại nội, dương chi thủ dă; dương tại ngoại, âm chi sử dă (陰在內,陽之守也;陽在外,陰之使也): âm ở bên trong là chỗ giữ ǵn của dương; dương ở bên ngoài là sứ giả, là công dụng vận hành của âm. (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》)
Chú thích
1. Luận lư nhân h́nh (論理人形): bàn luận về h́nh thái và cơ quan của cơ thể người.
2. Liệt biệt tạng phủ (列別藏府): phân biệt h́nh thái và vị trí của từng tạng phủ.
3. Đoan lạc kinh mạch (端絡經脈): khảo cứu sự phân bố và đường đi của kinh mạch.
4. Hội thông lục hợp (會通六合): dung hội, quán thông sáu cặp tổ hợp biểu lư của mười hai kinh mạch.
5. Các ṭng kỳ kinh (各從其經): mỗi thứ đều theo quan hệ của kinh mạch và tạng phủ sở thuộc. Ṭng (從) nghĩa là theo, nương theo.
6. Khí huyệt (氣穴): huyệt vị là nơi kinh khí rót vào, c̣n gọi là kinh huyệt.
7. Khê cốc thuộc cốt (溪谷屬骨): khê cốc (溪谷) là khe hở cơ nhục của thân người; thuộc (屬) là liên thuộc. Cả câu chỉ các cơ nhục lớn nhỏ liên thuộc với xương khớp.
8. Phân bộ nghịch ṭng (分部逆從): phân bộ (分部) là sự phân khu của b́ bộ. Phù lạc trong b́ bộ được chia thành tam âm tam dương, có chỗ thuận hành và nghịch hành khác nhau.
9. Tứ thời âm dương, tận hữu kinh kỷ (四時陰陽,盡有經紀): âm dương của bốn mùa đều có quy luật biến hóa riêng.
10. Đông phương sinh phong, Nam phương sinh nhiệt, Trung ương sinh thấp, Tây phương sinh táo, Bắc phương sinh hàn (東方生風、南方生熱、中央生濕、西方生燥、北方生寒): Đông, Nam, Trung, Tây, Bắc gọi là ngũ phương, đồng thời cũng hàm nghĩa của ngũ thời. Phong, nhiệt, thấp, táo, hàn là chủ khí của năm thời. Cổ nhân qua quan sát lâu dài thấy rằng phương Đông và mùa xuân khí hậu ôn ḥa, phương Nam và mùa hạ khí hậu nóng bức, vùng trung ương và mùa trường hạ khí hậu ẩm thấp, phương Tây và mùa thu khí hậu khô ráo, phương Bắc và mùa đông khí hậu lạnh rét.
11. Phong sinh mộc, nhiệt sinh hỏa, thấp sinh thổ, táo sinh kim, hàn sinh thủy (風生木、熱生火、濕生土、燥生金、寒生水): phong, nhiệt, thấp, táo, hàn là ngũ khí ở trên trời; mộc, hỏa, thổ, kim, thủy là ngũ hành ở dưới đất. Ngũ khí ở trời hóa sinh ra ngũ hành ở đất. Tức là phong động th́ cây cối tươi tốt, nhiệt cực th́ sinh hỏa, thấp nhuận th́ thổ khí vượng mà nuôi lớn vạn vật, táo khí cương kính mà sinh kim, hàn khí âm ngưng mà hóa thành thủy.
12. Mộc sinh toan, hỏa sinh khổ, thổ sinh cam, kim sinh tân, thủy sinh hàm (木生酸、火生苦、土生甘、金生辛、水生鹹): chua, đắng, ngọt, cay, mặn gọi là ngũ vị. Ngũ hành chi khí hóa sinh ra ngũ vị, là do tổng kết từ mùi vị thực tế của sự vật.
13. Kỳ tại thiên vi huyền, tại nhân vi đạo, tại địa vi hóa, hóa sinh ngũ vị, đạo sinh trí, huyền sinh thần (其在天為玄,在人為道,在地為化,化生五味,道生智,玄生神): hai mươi ba chữ này không phù hợp với nghĩa văn trên dưới, lại không liên quan đến mộc khí, nên có khả năng là phần văn thừa ra.
14. Giác, chủy, cung, thương, vũ (角、徵、宮、商、羽): gọi là ngũ âm thời cổ. Đặc điểm dao động của âm thanh trong ngũ âm là: giác âm thuận ứng với mộc khí mà triển phát, chủy âm thuận ứng với hỏa khí mà cao vút, cung âm thuận ứng với thổ khí mà b́nh ổn, thương âm thuận ứng với kim khí mà thu liễm vào trong, vũ âm thuận ứng với thủy khí mà giáng xuống. Ảnh hưởng của chúng lên cơ thể lần lượt tác động tới can, tâm, tỳ, phế, thận.
15. Hô, tiếu, ca, khốc, thân (呼、笑、歌、哭、呻): gọi là ngũ thanh, là những đặc trưng cảm xúc biểu hiện ra từ hoạt động t́nh chí do ngũ tạng chủ quản.
16. Ác, ưu, uế, khái, lật (握、憂、噦、欬、栗): gọi là ngũ biến, là những đặc trưng lâm sàng biểu hiện ra khi ngũ tạng có bệnh. Ác (握) là co quắp, nắm chặt tay, biểu hiện của bệnh về cân; ưu (憂) là khí nghịch, biểu hiện của bệnh tâm; uế (噦) là ợ nghịch, biểu hiện của vị khí thượng nghịch; khái (欬) đồng với khái là ho, biểu hiện của phế khí thượng nghịch; lật (栗) là run v́ lạnh, do thận dương bất túc, mất sự ôn ấm.
17. Phong thương cân, táo thắng phong; nhiệt thương khí, hàn thắng nhiệt; thấp thương nhục, phong thắng thấp; nhiệt thương b́ mao, hàn thắng nhiệt; hàn thương huyết, táo thắng hàn (風傷筋,燥勝風;熱傷氣,寒勝熱;濕傷肉,風勝濕;熱傷皮毛,寒勝熱;寒傷血,燥勝寒): theo trên dưới văn nghĩa và quan hệ sinh khắc ngũ hành, chỗ nhiệt thương b́ mao đáng lẽ phải là táo thương b́ mao, chỗ cuối hàn thắng nhiệt đáng lẽ phải là nhiệt thắng táo, c̣n táo thắng hàn trong đó đáng lẽ phải là thấp thắng hàn. Cả đoạn này chỉ quan hệ ngũ khí quá mức tự làm hại và ngũ khí tương hỗ chế thắng lẫn nhau.
18. Toan thương cân, tân thắng toan; khổ thương khí, hàm thắng khổ; cam thương nhục, toan thắng cam; tân thương b́ mao, khổ thắng tân; hàm thương huyết, cam thắng hàm (酸傷筋,辛勝酸;苦傷氣,鹹勝苦;甘傷肉,酸勝甘;辛傷皮毛,苦勝辛;鹹傷血,甘勝鹹): câu này chỉ mối quan hệ giữa ngũ vị khi dùng quá mức th́ tự gây tổn thương, đồng thời cũng chỉ quan hệ tương thắng lẫn nhau của ngũ vị.
19. Âm dương giả, huyết khí chi nam nữ (陰陽者,血氣之男女): chữ chi (之) ở đây có nghĩa là ḥa hợp, phân biệt. Trong loài người th́ nam thuộc dương, nữ thuộc âm; trong thân thể con người th́ khí thuộc dương, huyết thuộc âm.
20. Tả hữu giả, âm dương chi đạo lộ (左右者,陰陽之道路): trời thuộc dương th́ vận hành về bên trái, đất thuộc âm th́ vận hành về bên phải. Cho nên trái phải là đường lối vận hành của âm dương.
21. Trưng triệu (徵兆): nghĩa là chứng nghiệm, là đầu mối biểu hiện ra bên ngoài để có thể nhận biết.
22. Âm dương giả, vạn vật chi năng thủy (陰陽者,萬物之能始): năng thủy (能始) tức là nguyên thủy, bản nguyên. Ư nói âm dương là bản nguyên cuối cùng của vạn vật.
23. Âm tại nội, dương chi thủ dă; dương tại ngoại, âm chi sử dă (陰在内,陽之守也;陽在外,陰之使也): thủ (守) là giữ ǵn ở bên trong; sử (使) là sai khiến, vận dụng ở bên ngoài. Âm khí cư ở bên trong, là chỗ nương giữ của dương khí; dương khí cư ở bên ngoài, là công dụng vận hành cho âm khí.
Phân tích
Kinh văn vận dụng lư luận của học thuyết âm dương ngũ hành (陰陽五行學說), đem những sự vật hữu quan trong tự nhiên và các tổ chức tạng phủ của cơ thể người liên hệ với nhau một cách hữu cơ, khái quát nên kết cấu hệ thống của tứ thời ngũ tạng âm dương (四時五臟陰陽) trong 《Nội Kinh》, đồng thời tiến thêm một bước vạch rơ mối liên hệ chỉnh thể giữa cơ thể người và giới tự nhiên.
(1)
Câu “Dư văn thượng cổ thánh nhân…… cam thắng hàm” (「余聞上古聖人……甘勝鹹」) luận thuật về khái niệm cơ bản, nội dung phong phú và sự vận dụng rộng răi của học thuyết ngũ hành (五行). 《Nội Kinh》 cho rằng ngũ hành cũng là quy luật phổ biến của vũ trụ, mọi sự vật trong tự nhiên đều vận động biến hóa và liên hệ lẫn nhau theo pháp tắc của ngũ hành. Quan hệ tương sinh tương thắng (相生相勝) của ngũ hành duy tŕ sự vận động có trật tự và trạng thái cân bằng tương đối giữa các sự vật trong toàn bộ vũ trụ. Tuy ngũ hành và âm dương có chỗ khác nhau, nhưng cả hai đều lấy khí (氣) làm cơ sở, bổ sung cho nhau, thẩm thấu vào nhau, không thể tách rời. Đúng như Trương Giới Tân trong 《Loại Kinh Đồ Dực》 đă nói: “Ngũ hành tức âm dương chi chất, âm dương tức ngũ hành chi khí, khí phi chất bất lập, chất phi khí bất hành” (五行即陰陽之質,陰陽即五行之氣,氣非質不立,質非氣不行): ngũ hành là cái chất của âm dương, âm dương là cái khí của ngũ hành; khí không có chất th́ không đứng vững, chất không có khí th́ không vận hành được. Âm dương là “khí” của ngũ hành, c̣n ngũ hành thuộc về “chất” hữu h́nh. 《Nội Kinh》 đem các tổ chức khí quan, t́nh chí, thanh, sắc của cơ thể người liên hệ với ngũ phương, ngũ thời, ngũ khí, ngũ vị của giới tự nhiên, từ đó h́nh thành năm hệ thống công năng lấy ngũ tạng (五臟) làm trung tâm, đồng thời bàn rơ quan hệ sinh khắc thừa (生克乘) giữa các hệ thống ấy. Trong y học, ngũ hành không chỉ được dùng để nghiên cứu quan hệ kết cấu hệ thống bên trong cơ thể, mà c̣n được dùng để nghiên cứu sự tương tác và ảnh hưởng giữa con người với môi trường tự nhiên, qua đó thể hiện quan điểm chỉnh thể điều ḥa của Trung y học.
(2) Câu “Thiên địa giả…… âm chi sử dă” (「天地者……陰之使也」) lấy ví dụ để giải thích mối quan hệ đối lập thống nhất (對立統一) của âm dương. Các cặp như thiên địa (天地), thượng hạ (上下), nam nữ (男女), tả hữu (左右), thủy hỏa (水火) đều là những sự vật và hiện tượng vừa đối lập vừa thống nhất, đều có thể dùng âm dương để đại biểu và giải thích. Câu “thủy hỏa giả, âm dương chi trưng triệu dă” (水火者,陰陽之徵兆也) nói rơ rằng âm dương là khái niệm trừu tượng, c̣n thủy hỏa là cái có thể đại biểu và giải thích rơ nhất tính chất cùng tác dụng vừa đối lập vừa thống nhất của âm dương. Thí dụ, thủy có tính lạnh, chất nặng, nhuận mà chảy xuống, đó là tượng trưng của âm; hỏa có tính nóng, chất nhẹ, bốc lên trên, đó là tượng trưng của dương. Hai bên đối lập nhau, tức như câu “thủy hỏa bất tương dung” (水火不相容), nhưng đồng thời lại cần phải hỗ trợ lẫn nhau th́ mới có thể phát huy tác dụng có lợi mà không sinh hại. 《Dịch Kinh》 gọi trạng thái âm dương điều ḥa là “thủy hỏa kư tế” (水火既濟); trong y học cũng thường lập luận bằng thủy hỏa để giải thích mối quan hệ hỗ căn hỗ dụng (互根互用) của âm dương trong cơ thể. Như Trương Giới Tân nói: “Hỏa vi thủy chi chủ, thủy tức hỏa chi nguyên, thủy hỏa nguyên bất tương ly dă”: hỏa là chủ của thủy, thủy chính là nguồn của hỏa, thủy và hỏa vốn không rời nhau. Tóm lại, từ 《Nội Kinh》 cho đến các y gia đời sau, đều thường dùng thủy hỏa để ví với âm dương trong thân người, và cho rằng thủy hỏa là cái gốc để lập mệnh; “thủy hỏa nghi b́nh bất nghi thiên, nghi giao bất nghi phân”: thủy hỏa nên b́nh ḥa, không nên thiên lệch; nên giao nhau, không nên tách rời. Đó chính là ư nghĩa quan trọng của việc dùng thủy hỏa để nói rơ sự nương tựa và chế ước lẫn nhau của âm dương. Trên lâm sàng, các bệnh hư lao nội thương (虛勞內傷) phần nhiều thường thấy t́nh trạng âm dương thủy hỏa thăng giáng thất thường, tâm thận bất giao (心腎不交), thậm chí dẫn đến âm kiệt dương thoát (陰竭陽脫), nguy hại đến sinh mệnh. Khi điều trị, cần căn cứ vào t́nh trạng thiên thịnh thiên suy khác nhau của âm dương ở tâm và thận mà tiến hành biện chứng luận trị (辨證論治).
(3)Câu “Âm tại nội, dương chi thủ dă; dương tại ngoại, âm chi sử dă” lại càng nhấn mạnh thêm mối quan hệ tương hỗ giữa âm dương, nói rơ rằng âm dương trong ngoài của cơ thể nhất định phải nương tựa lẫn nhau, dùng cho nhau, th́ mới có thể cùng nhau duy tŕ hoạt động sinh mệnh b́nh thường của con người. Xét về mặt tổng thể th́ bên ngoài thân thể thuộc dương, bên trong thuộc âm. Âm phải giữ ǵn cho dương ở bên trong, dương phải vận hành cho âm ở bên ngoài. Ở đây, âm chỉ âm tinh (陰精) hoặc doanh huyết (營血), c̣n dương chỉ dương khí (陽氣) hoặc vệ khí (衛氣). Cao Sĩ Tông nói: “Âm giả, tàng tinh nhi khởi cức, tức âm tại nội nhi vi dương chi thủ dă; dương giả, vệ ngoại nhi vi cố, tức dương tại ngoại nhi vi âm chi sử dă”: âm là tàng tinh ở bên trong mà khởi lên tác dụng cấp ứng, tức là âm ở trong làm chức năng giữ cho dương; dương là vệ ngoại mà làm bền vững, tức là dương ở ngoài làm chức năng sử dụng cho âm. Âm tinh tàng ở bên trong, không ngừng chuyển vận tinh khí để cung ứng nhu cầu của dương khí, đó là ư âm tại nội vi dương chi thủ (陰在內為陽之守); c̣n dương khí vận hành ở ngoài th́ phải bảo vệ cơ biểu để cố giữ âm tinh, đó là ư dương tại ngoại nhi vi âm chi sử (陽在外而為陰之使). Mă Thị th́ cho rằng: “Âm chỉ doanh, dương chỉ vệ” (陰指營,陽指衛). Doanh huyết tàng ở bên trong là cơ sở vật chất của vệ khí ở ngoài; vệ khí vận hành ở bên ngoài th́ có tác dụng bảo vệ đối với âm tinh bên trong. Hai cách nói tuy có điểm khác nhau, nhưng tinh thần căn bản th́ vẫn nhất trí.
Thủ pháp âm dương xiển minh bệnh lư biến hóa cập điều trị chi pháp
Nguyên văn
Đế nói: Pháp âm dương nại hà: lấy phép âm dương mà xét th́ thế nào? Kỳ Bá đáp rằng: Dương thắng tắc thân nhiệt, thấu lư bế, suyễn thô vi chi phủ ngưỡng: dương quá thịnh th́ thân thể phát nóng, thấu lư bế tắc, thở gấp khí thô đến mức thân người phải cúi ngửa theo nhịp thở; hăn bất xuất nhi nhiệt, xỉ can dĩ phiền oan: mồ hôi không ra mà trong người vẫn nóng, răng khô, trong ngực phiền muộn khó chịu; phúc măn tử, năng đông bất năng hạ: bụng đầy trướng th́ nguy, chịu được mùa đông mà không chịu được mùa hạ. Âm thắng tắc thân hàn, hăn xuất, thân thường thanh: âm quá thịnh th́ thân thể lạnh, ra mồ hôi, thân thường lạnh mát; sác lật nhi hàn: thường xuyên rét run; hàn tắc quyết: lạnh quá th́ tay chân lạnh quyết; quyết tắc phúc măn tử, năng hạ bất năng đông: quyết lạnh đến mức bụng đầy trướng th́ nguy, chịu được mùa hạ mà không chịu được mùa đông. Đó là những biến hóa do âm dương thay nhau thiên thắng, cũng là h́nh thái biểu hiện của bệnh.
Đế nói: Điều thử nhị giả nại hà: điều ḥa hai mặt ấy như thế nào? Kỳ Bá đáp rằng: nếu biết thất tổn bát ích, th́ hai mặt ấy có thể điều chỉnh được; nếu không biết vận dụng điều này, th́ đó là dấu hiệu của sự suy già sớm. Đến năm bốn mươi tuổi th́ âm khí tự bán: tinh khí trong thận tự nhiên đă suy giảm một nửa, cho nên sinh hoạt đi đứng đă suy kém. Đến năm mươi tuổi, thân thể nặng nề, tai mắt không c̣n tinh tường nữa. Đến sáu mươi tuổi th́ âm nuy: dương vật nuy nhược, tức dương nuy; khí lực đại suy, cửu khiếu không c̣n thông lợi, dưới hư mà trên thực, nước mũi và nước mắt cùng chảy ra. Cho nên nói: tri chi tắc cường, bất tri tắc lăo: biết được đạo dưỡng sinh đó th́ thân thể cường tráng, không biết th́ sẽ mau già yếu; v́ vậy tuy cùng một nguồn mà sinh ra, nhưng tên gọi kết quả lại khác nhau. Trí giả sát đồng, ngu giả sát dị: người trí th́ xét ở chỗ đồng, người ngu th́ chỉ nh́n ở chỗ khác. Người ngu th́ bị thiếu hụt, người trí th́ có dư; có dư th́ tai mắt sáng tỏ, thân thể nhẹ nhàng cường kiện, người già có thể trở lại tráng kiện, người đang tráng lại càng được điều ḥa tốt hơn. V́ vậy thánh nhân làm việc vô vi (無為): giữ tư tưởng an nhàn thanh tĩnh, không để tạp niệm nổi lên, vui với năng lực điềm đạm (恬憺): yên tĩnh, thản nhiên, thuận theo ít dục mà khiến chí được khoan khoái trong sự giữ ǵn hư vô thanh tĩnh, cho nên tuổi thọ có thể vô cùng, cùng trời đất mà bền lâu, đó là phép thánh nhân dưỡng thân.
Trời không đầy đủ ở phương tây bắc, cho nên phương tây bắc thuộc âm; v́ thế tai mắt bên phải của người không bằng bên trái là sáng rơ. Đất không đầy đủ ở phương đông nam, cho nên phương đông nam thuộc dương; v́ thế tay chân bên trái của người không bằng bên phải là mạnh mẽ. Đế hỏi: v́ sao lại như vậy? Kỳ Bá đáp rằng: phương đông thuộc dương, mà dương th́ tinh của nó dồn lên phía trên; đă dồn lên trên th́ phần trên thịnh mà phần dưới hư, cho nên tai mắt được sáng rơ, c̣n tay chân th́ không được linh hoạt mạnh mẽ. Phương tây thuộc âm, mà âm th́ tinh của nó dồn xuống phía dưới; đă dồn xuống dưới th́ phần dưới thịnh mà phần trên hư, cho nên tai mắt không được sáng rơ, c̣n tay chân th́ linh hoạt mạnh mẽ. Cho nên nếu đều cùng cảm phải tà khí, th́ bệnh ở phần trên thường phía phải nặng hơn, ở phần dưới thường phía trái nặng hơn; đó là chỗ âm dương của trời đất không thể hoàn toàn đầy đủ, v́ vậy tà khí mới cư trú vào đó.
Cho nên trời có tinh (精), đất có h́nh (形); trời có bát kỷ (八紀), đất có ngũ lư (五裡), v́ vậy mới có thể làm cha mẹ của vạn vật. Thanh dương thượng thiên, trọc âm quy địa: thanh dương bốc lên trời, trọc âm trở về đất. Bởi thế động tĩnh của trời đất lấy thần minh làm cương kỷ, cho nên mới có thể thực hiện sinh, trưởng, thu, tàng, rồi kết thúc lại trở về bắt đầu. Chỉ có bậc hiền nhân là trên th́ hợp với trời để dưỡng đầu, dưới th́ noi theo đất để dưỡng chân, ở giữa th́ dựa theo việc của con người để dưỡng ngũ tạng. Thiên khí thông ư phế: khí trời thông với phế; địa khí thông ư ải: khí đất thông với họng; phong khí thông ư can: khí phong thông với can; lôi khí thông ư tâm: khí sấm thông với tâm; cốc khí thông ư tỳ: khí của ngũ cốc thông với tỳ; vũ khí thông ư thận: khí mưa thông với thận. Lục kinh vi xuyên, trường vị vi hải, cửu khiếu vi thủy chú chi khí: lục kinh như sông ng̣i, trường vị như biển cả, cửu khiếu là nơi khí của thủy chú vào. Lấy trời đất làm âm dương mà xét, mồ hôi của dương th́ gọi theo mưa của trời đất; khí của dương th́ gọi theo gió mạnh của trời đất. Bạo khí tượng lôi, nghịch khí tượng dương: khí bạo phát th́ giống như sấm, khí nghịch th́ giống như dương khí bốc xông. Cho nên trị bệnh mà không noi theo kỷ cương của trời, không dùng theo đạo lư của đất, th́ tai hại ắt sẽ đến. (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》)
Chú thích
1. Suyễn thô vi chi phủ ngưỡng: phủ (俛) đồng với phủ (俯), nghĩa là cúi xuống. Cả câu chỉ thở gấp, khí thô, thân người phải cúi ngửa theo nhịp thở.
2. Phiền oan (煩冤): chữ oan (冤) đồng với chữ chỉ buồn bực, bế tắc trong ngực. Ở đây chỉ trạng thái tâm hung phiền muộn, bức bối.
3. Năng (能): âm và nghĩa đều đồng với chữ nại, nghĩa là chịu đựng, nhẫn thụ.
4. Thanh (清): ở đây nghĩa là lạnh.
5. Sác lật (數栗): thường xuyên rét run mà phát run.
6. Quyết (厥): tay chân lạnh đặc biệt nghiêm trọng.
7. H́nh năng (形能): chữ năng (能) thông với chữ chỉ trạng thái. H́nh năng ở đây nên hiểu là biểu hiện, triệu chứng.
8. Thất tổn bát ích (七損八益): chỉ bảy cách làm tổn hại tinh khí và tám cách làm có lợi cho tinh khí trong phép dưỡng sinh pḥng trung thời cổ.
9. Tảo suy chi tiết (早衰之節): chữ tiết (節) ở đây hiểu là dấu hiệu, chứng tín. Cả câu nghĩa là dấu hiệu báo trước sự suy già sớm.
10. Âm khí tự bán (陰氣自半): âm khí ở đây chỉ tinh khí trong thận. Ư nói tinh khí của thận tự nhiên suy giảm đi một nửa.
11. Âm nuy (陰痿): âm khí, tức bộ phận sinh dục, bị nuy phế; cũng tức là dương nuy.
12. Khí đại suy, cửu khiếu bất lợi, hạ hư thượng thực, thế lệ câu xuất: tinh khí của thận hư suy ở bên dưới, c̣n những biểu hiện như cửu khiếu không thông lợi, nước mũi nước mắt cùng chảy th́ biểu hiện ra ở phía trên.
13. Tri chi tắc cường, bất tri tắc lăo (: hiểu được đạo dưỡng sinh thất tổn bát ích th́ thân thể khỏe mạnh; không hiểu th́ sẽ mau già yếu.
14. Đồng xuất nhi danh dị: tuy thân thể con người đều cùng được tinh khí nuôi dưỡng, nhưng v́ dưỡng sinh đúng hay không đúng mà kết quả thành cường tráng hay suy già sớm khác nhau.
15. Trí giả sát đồng, ngu giả sát dị: người giỏi dưỡng sinh th́ chú trọng bồi dưỡng tinh khí, c̣n người không giỏi dưỡng sinh th́ chỉ để ư sự khác nhau giữa khỏe và suy khi về già.
16. Vô vi: từ ngữ của Đạo gia, nhấn mạnh thuận theo tự nhiên của sự vật; ở đây nên hiểu là tư tưởng an nhàn, thanh tĩnh, không có một mảy may tạp niệm.
17. Ṭng dục khoái chí ư hư vô chi thủ: chữ thủ (守) nên hiểu là cư, giữ ở trong trạng thái an nhàn thanh tĩnh, không tạp niệm, đồng thời bảo tŕ tâm trạng ít dục, thuận ḷng, lạc quan và đạt chí.
18. Thiên bất túc tây bắc, cố tây bắc phương âm dă…… nhi nhân tả thủ túc bất như hữu cường dă: dương khí ở phương đông lên mà ở phương tây lặn; khi lên th́ dương dần thịnh, âm dần suy, nên phương đông nam thuộc dương; khi lặn th́ dương dần suy, âm dần thịnh, nên phương tây bắc thuộc âm. Con người ứng với điều ấy; nếu người đứng mặt quay về nam, bên phải ứng với phương tây bắc là nơi dương khí bất túc, thanh dương không đủ thăng lên, thượng khiếu mất nuôi dưỡng, nên tai mắt bên phải không sáng rơ; bên trái ứng với phương đông nam là nơi âm khí bất túc, âm tinh không đủ giáng xuống, tay chân mất nuôi dưỡng, nên vận động không linh hoạt mạnh mẽ.
19. Minh (明): ở đây có lẽ là chép nhầm của chữ thịnh.
20. Thiên địa âm dương sở bất năng toàn: nghĩa là âm dương trong tự nhiên không thể tuyệt đối cân bằng trọn vẹn.
21. Tinh (精): chỉ tinh khí (精氣), tinh vi (精微), tức phần tinh túy vi tế.
22. Bát kỷ (八紀): chỉ 8 tiết khí là Lập xuân (立春), Lập hạ (立夏), Lập thu (立秋), Lập đông (立冬), Xuân phân (春分), Thu phân (秋分), Hạ chí (夏至), Đông chí (冬至).
23.Ngũ lư (五裡): chữ lư (裡) ở đây nên là chữ lư (理), nghĩa là đạo lư. Ngũ lư (五裡) tức là đạo lư của ngũ phương (五方) và ngũ hành (五行): đông, nam, trung, tây, bắc và mộc, hỏa, thổ, kim, thủy.
24.Thượng phối thiên dĩ dưỡng đầu, hạ tượng địa dĩ dưỡng túc (上配天以養頭,下象地以養足): thượng (上) là phần nửa thân trên, hạ (下) là phần nửa thân dưới. Nửa thân trên giống với cái thanh nhẹ của trời, cũng như thiên khí tuyên giáng; nửa thân dưới giống với cái tĩnh tàng của đất, cũng như địa khí thăng lên. Nếu thanh tĩnh có thường, thăng giáng có thứ tự, th́ đầu mắt sẽ thanh minh, thắt lưng chân cẳng sẽ nhẹ nhàng linh hoạt.
25.Trung bàng nhân sự (中傍人事): trung (中) là phần thân ḿnh, nơi có các tổ chức tạng phủ; bàng (傍) là nương theo, dựa vào. Nhân sự (人事) ở đây chỉ toàn bộ t́nh h́nh tổng hợp liên quan đến sinh lư, tâm lư, luân lư, xă hội học của con người, cùng những quy luật liên quan đến sự ứng hợp biến hóa giữa thân người và âm dương trời đất.
26.Thiên khí (天氣): chỉ thanh khí (清氣), tức là khí do phổi hít vào.
27.Địa khí thông ư ải (地氣通於嗌): địa khí (地氣) là trọc khí (濁氣), tức khí của ăn uống; ải (嗌) là yết hầu. Câu này có nghĩa là khí của thức ăn đồ uống thông qua động tác nuốt ở yết hầu mà đi vào trong vị.
28.Phong khí thông ư can...... vũ khí thông ư thận (風氣通於肝......雨氣通於腎): phong, lôi, cốc, vũ lần lượt chỉ mộc, hỏa, thổ, thủy, tương thông ứng với can, tâm, tỳ, thận.
29.Cửu khiếu vi thủy chú chi khí (九竅為水注之氣): cửu khiếu là những cơ quan bài tiết các sản vật chuyển hóa của thủy dịch; như lệ, tị, thóa, tiên, đại tiểu tiện v.v. đều được bài xuất từ cửu khiếu
30.Tật (疾): chữ này là chữ thừa.
31.Bạo khí tượng lôi, nghịch khí tượng dương (暴氣象雷,逆氣象陽): tính t́nh nóng nảy dễ giận dữ th́ giống như sấm sét trong tự nhiên phát tác; c̣n khí nghịch bốc lên th́ giống như cái cang dương của tự nhiên.
32.Trị (治): ở đây chỉ cả dưỡng sinh và chữa bệnh.
Phân tích (解析)
Đoạn này căn cứ trên quan điểm học thuật “nhân dữ thiên địa tương tham ứng”, lấy phép âm dương để tŕnh bày từ sự thịnh suy của âm dương mà giải thích quá tŕnh sinh trưởng phát dục của cơ thể người, sự khác biệt công năng giữa tai mắt tay chân trái phải, cùng sinh lư bệnh lư của tạng phủ; đồng thời nêu ra những quan điểm như “dương thịnh bệnh nại đông bất nại hạ, âm thịnh bệnh nại hạ bất nại đông”, nếu không biết điều chỉnh âm dương th́ sẽ có “tảo suy chi tiết”, lại chỉ ra rằng “thiên địa âm dương sở bất năng toàn”, và “trị bất pháp thiên chi kỷ, bất dụng địa chi lư, tắc tai hại chí”: dưỡng sinh hay chữa bệnh mà không noi theo kỷ cương của trời, không dùng theo đạo lư của đất, th́ tai hại sẽ đến.
(1)Kinh văn chỉ ra những biểu hiện bệnh biến khi âm dương thiên thắng (陰陽偏勝).
“Dương thắng tắc thân nhiệt...... năng đông bất năng hạ” chỉ ra rằng người bệnh do dương nhiệt thiên thắng, nên xuất hiện các chứng như thân nhiệt, suyễn gấp khí thô, hô hấp khó khăn, đến mức thân người phải cúi ngửa theo nhịp thở; mồ hôi không ra mà nhiệt càng nặng, vị tân bị tổn thương nên răng khô, dương nhiệt uất ở bên trong nên trong ḷng phiền muộn khó chịu. Nếu nhiệt kết ở lư, phủ khí không thông, xuất hiện bụng đầy trướng, th́ có nguy cơ tử vong. Chứng này do dương nhiệt quá thịnh, âm dịch bị hao thương, cho nên chịu được giá lạnh mùa đông mà không chịu được nóng bức mùa hạ. Nhưng trong đoạn văn này vừa thấy chứng phế nhiệt (肺熱證) là suyễn gấp khí thô, lại vừa thấy chứng phủ thực (腑實證) là bụng đầy; nội nhiệt bốc chưng như vậy mà trái lại thấu lư bế (腠理閉), mồ hôi không ra. Xét đến nguyên nhân, phần nhiều là do biểu hàn chưa giải, hoặc do ôn nhiệt mà lại cảm phải hàn, khiến hàn tà bó buộc bên ngoài, vệ dương chi khí không được phát tiết, dần dần làm nội nhiệt uất thịnh; hoặc trong lúc ấy lại dùng quá nhiều thuốc hàn lương, khiến biểu tà bị giam uất ở bên trong, hóa nhiệt mà kết lại, cho nên dương thắng mà trái lại thấy “thấu lư bế, hăn bất xuất”. Chứng này sở dĩ thành tử hậu là v́ ngoài bế trong kết, biểu lư không thông, nhiệt tà không có đường nào phát tiết ra ngoài. 《Tố Vấn. Ngọc Cơ Chân Tạng Luận》 nói: “Thân hăn đắc hậu lợi, tắc thực giả hoạt”: chứng tà khí thực thịnh mà nếu ra được mồ hôi th́ biểu tà giải, đại tiện thông lợi th́ lư tà trừ, trong ngoài thông ḥa, tà có đường ra, th́ người thực chứng có thể sống. Mà các biểu hiện nói trên lại ngược lại hoàn toàn, cho nên mới nói “phúc măn tử”. Chứng này là biểu lư bế kết, nhiệt tà tràn ngập tam tiêu, tà không có lối thoát; phép trị nên là biểu lư lưỡng giải, như dùng Tam Hoàng Thạch Cao Thang (三黃石膏湯) gồm Ma hoàng, Đạm đậu xị, Chi tử, Thạch cao, Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, gia thêm Đại hoàng, Mang tiêu các loại; nếu nhiệt làm tổn thương khí âm th́ gia thêm Mạch đông, Huyền sâm các loại, vẫn c̣n có thể cứu chữa được.“Âm thắng tắc thân hàn...... năng hạ bất năng đông” chỉ ra rằng người bệnh do âm hàn thiên thắng, dương khí bị tổn thương, nên thấy thân lạnh. Dương không cố được bên ngoài th́ mồ hôi ra, cơ biểu mất sự ôn ấm nên thân thường lạnh mát, sợ lạnh mà run rẩy. Thận dương suy vi, dương khí không đạt tới tứ mạt, cho nên tứ chi nghịch lạnh. Nếu đồng thời với tay chân lạnh mà lại xuất hiện bụng đầy, th́ chứng tỏ tỳ thận dương khí đă suy bại, tiên thiên và hậu thiên không c̣n có thể ôn dưỡng lẫn nhau, như vậy sẽ có nguy cơ tử vong. Chứng này do âm hàn quá thịnh, dương khí bị đại thương, cho nên chịu được nóng bức mùa hạ mà không chịu được giá lạnh mùa đông. Đối với chứng này, các y gia đời sau thường dùng phép ôn bổ tỳ thận (溫補脾腎), dùng Quế Phụ Lư Trung Thang (桂附理中湯) mà thu được hiệu quả.
(2)“Điều thử nhị giả nại hà...... thử thánh nhân chi trị thân dă” nhấn mạnh ư nghĩa quan trọng của việc điều nhiếp âm dương.
《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》 chỉ ra rằng “sinh chi bản, bản ư âm dương”, có thể thấy việc điều nhiếp âm dương có ư nghĩa cực kỳ trọng yếu đối với toàn bộ hoạt động sinh mệnh. Điều nhiếp âm dương như thế nào? 《Nội Kinh》 ở đây chỉ ra rằng: “năng tri thất tổn bát ích, tắc nhị giả khả điều”. Vậy “thất tổn bát ích” là ǵ? Từ xưa các nhà chú giải giải thích không đồng nhất. Theo những văn vật khai quật từ mộ Hán Mă Vương Đôi ở Trường Sa, trong sách tre y học cổ 《Dưỡng Sinh Phương. Thiên Hạ Chí Đạo Đàm》, th́ đó là chỉ phép pḥng trung thuật trong các phương pháp dưỡng sinh cổ đại. Từ ngay trong kinh văn cũng có thể nh́n ra, điều này quả thật là chỉ một loại phép dưỡng sinh cụ thể, chỉ có điều không dễ lĩnh hội và vận dụng mà thôi.
Đoạn kinh văn này nói về hiện tượng tảo suy (早衰), c̣n có thể liên hệ với nội dung trong 《Tố Vấn. Thượng Cổ Thiên Chân Luận》, nơi cho rằng thận khí (腎氣) quyết định quá tŕnh sinh trưởng, phát dục và suy lăo của cơ thể người, để mà hiểu rơ hơn; điều này trên lâm sàng cũng có ư nghĩa chỉ đạo. Câu trong kinh văn: “Niên tứ thập nhi âm khí tự bán dă, khởi cư suy hĩ”: đến bốn mươi tuổi th́ âm khí tự giảm đi một nửa, sinh hoạt đi đứng đă suy kém, hoàn toàn phù hợp với câu trong 《Thượng Cổ Thiên Chân Luận》: “Ngũ bát, thận khí suy, phát đọa xỉ cảo”: năm tám, tức bốn mươi tuổi, thận khí suy, tóc rụng, răng khô yếu. Ngũ bát (五八), tức bốn mươi tuổi, chính là bước ngoặt từ thịnh sang suy, bởi v́ trước đó ở giai đoạn tứ bát (四八) th́ “cân cốt long thịnh, cơ nhục măn tráng”: gân xương cường kiện, cơ nhục đầy đặn cường tráng; đến ngũ bát th́ hiện tượng suy lăo đă bắt đầu xuất hiện. Cho nên âm khí (陰氣) ở đây có thể hiểu là thận khí (腎氣). Thận khí (腎氣) giữ vai tṛ chủ đạo trong toàn bộ hoạt động sinh mệnh; sự sinh trưởng, hưng thịnh và suy thoái của cơ thể người là đồng bộ với sự thịnh suy của thận khí. Thận khí (腎氣) bao hàm cả âm tinh (陰精) và dương khí (陽氣), vừa là cơ sở vật chất để duy tŕ sinh mệnh, vừa là động lực nguyên thủy của hoạt động sống, đồng thời cũng là cái gốc căn bản của toàn bộ sinh mệnh con người. V́ vậy, muốn làm chậm sự đến của suy lăo, trước hết phải đặt trọng tâm vào âm tinh (陰精) và dương khí (陽氣) trong thận, phải khéo điều nhiếp âm dương trong thận. Ngoài ra, kinh văn c̣n nhấn mạnh rằng dưỡng sinh vẫn cần đặc biệt coi trọng việc điều nhiếp tinh thần t́nh chí (精神情志), phải biết “lạc điềm đạm chi năng, ṭng dục khoái chí ư hư vô chi thủ”: vui với sự điềm đạm, giữ tâm ít dục, khoan khoái ư chí trong trạng thái hư vô thanh tĩnh, để mong đạt đến chỗ “tận chung kỳ thiên niên, độ bách tuế năi khứ”: sống trọn tuổi trời, qua trăm tuổi rồi mới mất. Về “thất tổn bát ích”, các nhà chú giải qua các đời có năm cách giải thích:
1/《Hoàng Đế Nội Kinh Thái Tố》 tiếp theo ư trên về sự biến hóa do âm dương thay nhau thiên thắng, cho rằng bát ích (八益) là tám triệu chứng của dương thịnh, gồm: thân nhiệt, thấu lư bế, suyễn thô, phủ ngưỡng, hăn không ra mà nóng, xỉ khô, phiền muộn, phúc măn; c̣n thất tổn (七損) là bảy triệu chứng của âm thịnh, gồm: thân hàn, hăn xuất, thân thường thanh, sác lật, nhi hàn, hàn quyết, phúc măn. Dương thịnh thuộc thực nên gọi là ích; âm thịnh thuộc hư nên gọi là tổn.
2/Vương Băng lập luận theo thuyết “nam tinh nữ huyết” (男精女血), cho rằng thất tổn (七損) là nói nữ tử đến tuổi hai lần bảy th́ kinh huyết nên hạ; c̣n bát ích (八益) là nói nam tử đến tuổi hai lần tám th́ tinh khí nên sung măn. Ông nói: “Âm thất khả tổn, tắc hải măn nhi huyết tự hạ; dương bát nghi ích, giao hội nhi tiết tinh. Do thử tắc thất tổn bát ích, lư khả tri hĩ”: nữ đến tuổi thất th́ huyết hải đầy mà huyết tự xuống; nam đến tuổi bát th́ tinh khí nên sung ích, giao hội mà tiết tinh; từ đó có thể biết được đạo lư của thất tổn bát ích.
3/ Trương Giới Tân chú giải theo ư “dương bất nghi tiêu, âm bất nghi trưởng”, nói rằng: “Thất vi thiếu dương chi số, bát vi thiếu âm chi số, thất tổn giả ngôn dương tiêu chi tiệm, bát ích giả ngôn âm trưởng chi do dă. Phu âm dương giả, sinh sát chi bản thủy dă, sinh ṭng hồ dương, dương bất nghi tiêu dă; tử ṭng hồ âm, âm bất nghi trưởng dă. Sử năng tri thất tổn bát ích chi đạo, nhi đắc kỳ tiêu trưởng chi cơ, tắc âm dương chi bính, bả ác tại ngă, cố nhị giả khả điều, phủ tắc vị ương nhi suy hĩ” : bảy là số của thiếu dương, tám là số của thiếu âm; thất tổn là nói cái thế dần dần suy của dương, bát ích là nói cái nguyên do tăng trưởng của âm. Âm dương là gốc đầu của sinh sát; sống theo dương, nên dương không nên tiêu; chết theo âm, nên âm không nên trưởng. Nếu biết đạo thất tổn bát ích mà nắm được cơ tiêu trưởng của nó, th́ then chốt âm dương nằm trong tay ḿnh, cho nên có thể điều chỉnh được; nếu không th́ chưa già mà đă suy.
4/ Trương Chí Thông trong 《Hoàng Đế Nội Kinh Tập Chú》 nói: “Ngôn dương thường hữu dư nhi âm thường bất túc”: dương thường có thừa mà âm thường không đủ, cho nên “dương nghi tổn, âm nghi ích”: dương nên làm giảm, âm nên làm tăng.
5/ Đan Ba Nguyên Giản trong 《Tố Vấn Thức》 lập luận theo các giai đoạn “nam nữ sinh trưởng suy lăo chi giai đoạn”, chú rằng: “Thiên Chân Luận vân, nữ tử ngũ thất dương minh mạch suy; lục thất, tam dương mạch suy ư thượng; thất thất, nhâm mạch suy. Thử nữ tử hữu tam tổn hĩ. Trượng phu ngũ bát, thận khí suy; lục bát, dương khí suy ư thượng; thất bát, can khí suy; bát bát, thận khí suy xỉ lạc. Thử trượng phu hữu tứ tổn dă. Tam, tứ hợp vi thất tổn hĩ. Nữ tử thất tuế thận khí thịnh, nhị thất thiên quư chí, tam thất thận khí b́nh quân, tứ thất cân cốt kiên, thử nữ tử hữu tứ ích dă. Trượng phu bát tuế thận khí thực, nhị bát thận khí thịnh, tam bát thận khí b́nh quân, tứ bát cân cốt long thịnh, thử trượng phu hữu tứ ích dă. Tứ, tứ hợp vi bát ích hĩ”: theo Thiên Chân Luận, nữ tử từ năm bảy th́ mạch dương minh suy; sáu bảy th́ tam dương mạch suy ở trên; bảy bảy th́ nhâm mạch suy, vậy nữ tử có ba tổn. Nam tử từ năm tám th́ thận khí suy; sáu tám th́ dương khí suy ở trên; bảy tám th́ can khí suy; tám tám th́ thận khí suy, răng rụng, vậy nam tử có bốn tổn. Ba và bốn hợp lại thành thất tổn. Nữ tử bảy tuổi th́ thận khí thịnh, hai bảy th́ thiên quư đến, ba bảy th́ thận khí b́nh quân, bốn bảy th́ cân cốt chắc bền, vậy nữ tử có bốn ích. Nam tử tám tuổi th́ thận khí thực, hai tám th́ thận khí thịnh, ba tám th́ thận khí b́nh quân, bốn tám th́ cân cốt hưng thịnh, vậy nam tử có bốn ích. Bốn và bốn hợp lại thành bát ích.
Năm cách giải thích trên, ngoài chú giải trong 《Thái Tố》 có vẻ như không thật liền mạch với văn nghĩa phía dưới, th́ các thuyết c̣n lại đều thông về nghĩa, trong đó chú của Đan Ba có phần nghĩa dài và đầy đủ hơn. Nhưng xét theo ư văn, “thất tổn bát ích” (七損八益) hiển nhiên là một phương pháp dưỡng sinh cụ thể. Trong sách tre 《Dưỡng Sinh Phương. Thiên Hạ Chí Đạo Đàm》 khai quật từ Mă Vương Đôi, Hồ Nam, có chép: “Khí hữu bát ích, hữu thất tôn (tổn), bất năng dụng bát ích khứ thất tôn, tắc tứ thập nhi âm khí tự bán dă, ngũ thập nhi khởi cư suy, lục thập nhĩ mục bất thông minh, thất thập hạ khô thượng thoát, âm khí bất dụng, quán thế lưu xuất. Linh chi phục tráng hữu đạo, thị cố lăo giả phục tráng, tráng bất suy...... bát ích: nhất viết trị khí, nhị viết trí mạt, tam viết trí thời, tứ viết súc khí, ngũ viết ḥa mạt, lục viết tích khí, thất viết tự doanh, bát viết định khuynh. Thất tôn: nhất viết bế, nhị viết tiết, tam viết qua, tứ viết đới, ngũ viết phiền, lục viết tuyệt, thất viết phí”: khí có bát ích, có thất tổn; nếu không biết dùng bát ích để trừ thất tổn, th́ đến bốn mươi tuổi âm khí tự giảm một nửa, năm mươi tuổi sinh hoạt suy yếu, sáu mươi tuổi tai mắt không c̣n thông minh, bảy mươi tuổi dưới khô trên thoát, âm khí không dùng được, nước mắt nước mũi chảy ra. Muốn khiến cho phục tráng th́ có đạo; cho nên người già có thể lại mạnh, người tráng không suy...... Bát ích gồm: một là trị khí, hai là trí mạt, ba là trí thời, bốn là súc khí, năm là ḥa mạt, sáu là tích khí, bảy là tự doanh, tám là định khuynh. Thất tổn gồm: một là bế, hai là tiết, ba là qua, bốn là đới, năm là phiền, sáu là tuyệt, bảy là phí. Sách giáo khoa hiện nay căn cứ vào đoạn này mà chú thích rằng đây là cổ đại pḥng trung thuật (古代的房中術), tức thuật dưỡng sinh pḥng the thời cổ, điều đó có thể tin được.
(3) “Thiên bất túc tây bắc...... cố tà cư chi” làm sáng tỏ nguyên nhân v́ sao công năng của tay chân, tai mắt bên trái và bên phải của cơ thể người lại có sự khác biệt.
Câu “thiên bất túc tây bắc, địa bất măn đông nam” có bối cảnh thuộc về thiên văn và địa lư thời cổ. Xét theo thiên văn, phương tây bắc đúng vào mười hai tiết khí từ Lập thu (立秋) đến Đại hàn (大寒), tức đang vào hai mùa thu đông thuộc mát lạnh và giá lạnh; c̣n phương đông nam đúng vào mười hai tiết khí từ Lập xuân (立春) đến Đại thử (大暑), tức đang vào hai mùa xuân hạ thuộc ôn ấm và nóng nực. Xét về địa lư, vùng tây bắc cao và nhiều núi, chỗ cao th́ thường nhiều lạnh, hàn khí đi xuống; vùng đông nam thấp và nhiều nước, chỗ thấp th́ thường nhiều nóng, nhiệt khí đi lên. V́ vậy, câu “thiên bất túc tây bắc, địa bất măn đông nam” mang ư nghĩa cơ bản về sự tiêu trưởng của âm dương và sự thay đổi qua lại của hàn nhiệt. Dùng hiện tượng âm dương không hoàn toàn cân bằng của trời đất để giải thích sự khác biệt sinh lư trái phải không hoàn toàn cân bằng trong cơ thể người, đó là do xuất phát từ quan điểm thống nhất giữa cơ thể người và giới tự nhiên. Ngoài ra, kinh văn c̣n chỉ ra rằng, bộ vị nào trong cơ thể có tinh khí (精氣) tương đối sung túc th́ hoạt động sinh lư sẽ mạnh hơn, năng lực chống đỡ ngoại tà cũng mạnh hơn, do đó tà khí không dễ lưu lại; ngược lại, bộ vị nào có tinh khí tương đối bạc nhược th́ hoạt động sinh lư yếu hơn, sức chống tà cũng kém hơn, cho nên tà khí sẽ thừa chỗ hư mà lưu lại ở đó.
(4) “Cố thiên hữu tinh...... tắc tai hại chí hĩ” luận thuật về ư nghĩa của việc lấy pháp trời đất âm dương làm cơ sở cho phép trị.
Kinh văn dựa trên quan điểm rằng trời đất âm dương là cha mẹ của vạn vật, rồi ứng dụng cách lấy h́nh tượng từ các sự vật trong tự nhiên để so loại và chứng minh công năng sinh lư cùng hiện tượng bệnh lư của các tạng phủ, tổ chức trong cơ thể người, từ đó nêu ra lư luận dưỡng thân là “trị bất pháp thiên chi kỷ, bất dụng địa chi lư, tắc tai hại chí hĩ”: nếu dưỡng sinh hay chữa bệnh mà không noi theo kỷ cương của trời, không vận dụng đạo lư của đất, th́ tai hại sẽ đến. Điều này không chỉ gợi mở rằng muốn thăm ḍ quy luật hoạt động sinh mệnh của cơ thể người th́ nhất định phải kết hợp với ảnh hưởng của giới tự nhiên mà suy xét, mà c̣n đặt nền tảng cho việc phân tích lâm sàng trong biện chứng luận trị (辨證論治), tức phải kết hợp với âm dương của trời đất mà xem xét.
Chẩn trị chi đạo thủ pháp âm dương
Nguyên văn
Cho nên khi tà phong (邪風) kéo đến th́ nhanh như gió mưa; v́ thế người giỏi chữa bệnh th́ trước hết chữa ở b́ mao (皮毛), kế đó chữa ở cơ phu (肌膚), kế đó chữa ở cân mạch (筋脈), kế đó chữa ở lục phủ (六府), kế đó chữa ở ngũ tạng (五藏). Đă phải chữa đến ngũ tạng th́ là nửa sống nửa chết rồi. Cho nên tà khí của trời mà cảm phải th́ sẽ làm hại ngũ tạng của người; thủy cốc chi hàn nhiệt (水穀之寒熱), tức tính hàn nhiệt ôn lương của đồ ăn thức uống, nếu cảm phải th́ sẽ làm hại lục phủ; c̣n địa chi thấp khí, nếu cảm phải th́ sẽ làm hại b́ nhục cân mạch.
Cho nên người khéo dùng châm th́ ṭng âm dẫn dương, ṭng dương dẫn âm: từ âm mà dẫn dương, từ dương mà dẫn âm; dĩ hữu trị tả, dĩ tả trị hữu: lấy phải trị trái, lấy trái trị phải; dĩ ngă tri bỉ: lấy ḿnh mà biết người; dĩ biểu tri lư: lấy ngoài mà biết trong; lại xét đạo lư của chỗ quá dữ bất cập (過與不及): thừa và thiếu, nh́n cái vi tế mà biết được sự diễn biến của bệnh, dùng như thế th́ không nguy hại. Người giỏi chẩn đoán th́ sát sắc án mạch, tiên biệt âm dương: xem sắc mặt, bắt mạch, trước hết phải phân biệt âm dương; thẩm thanh trọc nhi tri bộ phận: xét thanh trọc mà biết bộ vị; thị suyễn tức, thính âm thanh nhi tri sở khổ: nh́n hơi thở, nghe âm thanh mà biết chỗ khổ; quan quyền hành quy cự mà biết bệnh chủ ở đâu; án xích thốn, xem phù trầm hoạt sáp mà biết bệnh sinh ra thế nào; như vậy th́ trị sẽ không sai, chẩn cũng không lầm. (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》)
Chú thích (注釋)
1. Tà phong (邪風): ở đây chỉ chung các loại tà khí của lục dâm (六淫).
2. Hàn nhiệt (寒熱): chỉ tính chất hàn, nhiệt, ôn, lương của thức ăn đồ uống.
3. Ṭng âm dẫn dương, ṭng dương dẫn âm (從陰引陽,從陽引陰): dẫn (引) nghĩa là dẫn khí của kinh lạc để điều chỉnh hư thực. V́ khí huyết âm dương trong ngoài trên dưới của cơ thể người là tương thông với nhau, cho nên châm vào phần dương hay phần âm đều có thể điều chỉnh hư thực thịnh suy của kinh mạch bên tương ứng.
4. Dĩ hữu trị tả, dĩ tả trị hữu (以右治左,以左治右): do kinh mạch tam âm tam dương giao nhau trái phải, tương thông với nhau, cho nên trong phép châm có thể trái bệnh châm phải, phải bệnh châm trái.
5. Dĩ ngă tri bỉ (以我知彼): ngă (我) là thầy thuốc, đại biểu cho người b́nh thường; bỉ (彼) là người bệnh. Câu này có nghĩa là lấy t́nh trạng sinh lư của người b́nh thường để đo lường bệnh t́nh của người bệnh, tức là lấy thường để đo biến.
6. Kiến vi đắc quá (見微得過): vi (微) là giai đoạn đầu mới phát của bệnh; quá (過) là sự phát triển biến hóa của bệnh. Quan sát biểu hiện ban đầu của bệnh th́ có thể đoán biết được quá tŕnh phát triển của nó.
7. Dụng chi bất đăi (用之不殆): đăi (殆) nghĩa là nguy. Vận dụng những phép trị nói trên th́ không có nguy cơ làm lỡ mất bệnh cơ.
8. Chẩn (診): chỉ việc chẩn sát bệnh t́nh, bao gồm cả tứ chẩn (四診).
9. Sát sắc án mạch, tiên biệt âm dương (察色按脈,先別陰陽): quan sát sắc mặt, bắt mạch, trước hết phải phân biệt thuộc tính âm dương của chúng.
10. Thẩm thanh trọc nhi tri bộ phận (審清濁而知部分): khi chẩn sắc ở mặt, vừa phải xét sự thanh trọc, sáng tối của ngũ sắc, vừa phải quan sát bộ vị nơi ngũ sắc biểu hiện ra.
11. Thị suyễn tức, thính âm thanh nhi tri sở khổ (視喘息,聽音聲而知所苦): nh́n mức độ nặng nhẹ của hơi thở suyễn, nghe âm thanh khi người bệnh kể bệnh cũng như các tiếng động phát ra do bệnh biến, th́ có thể biết được chỗ đau khổ của họ.
12. Quyền hành quy củ (權衡規矩): quyền (權) là quả cân, hành (衡) là cán cân, quy (規) là dụng cụ vẽ h́nh tṛn, củ (矩) là dụng cụ vẽ h́nh vuông. Ở đây chỉ mạch tượng b́nh thường của bốn mùa: mùa xuân ứng với quy mà tṛn trơn, mùa hạ ứng với củ mà hồng đại hoạt sác, mùa thu ứng với hành mà nhẹ phù, mùa đông ứng với quyền mà trầm phục.
13. Xích thốn (尺寸): xích (尺) là phần da xích, tức vùng da mặt trong cẳng tay từ khuỷu tay đến cổ tay; thốn (寸) là thốn khẩu, tức vị trí bắt mạch ở động mạch quay phía trong đầu xương quay của hai tay. Sờ da xích để xem hoạt sáp, bắt thốn khẩu để xem phù trầm.
14. Quá (過): nghĩa là sai sót, lệch lạc.
Phân tích
Kinh văn luận thuật tầm quan trọng của việc lấy âm dương (陰陽) làm phép tắc trong đạo chẩn trị, đồng thời nêu ví dụ để giải thích sự vận dụng cụ thể của nó.
(1)“Tà phong chi chí...... bán tử bán sinh dă” là lời cảnh tỉnh rằng hễ có bệnh th́ phải tranh thủ điều trị từ sớm. Bởi v́ ở giai đoạn đầu của bệnh, tà khí xâm nhập vào cơ thể c̣n ở vị trí nông cạn, bệnh biến c̣n đơn thuần và nhẹ, chính khí (正氣) vẫn c̣n mạnh, cho nên điều trị dễ thu hiệu quả. Nhưng khi tà khí từ biểu nhập lư, từ nông vào sâu, thương đến ngũ tạng (五臟), th́ tà khí ẩn phục ở bên trong cơ thể, chính khí bị tổn thương nặng, sức chống tà trở nên vô lực; lúc ấy không những khó thu được công hiệu điều trị, mà thậm chí c̣n nguy hại đến sinh mệnh. Không chỉ bệnh ngoại cảm là như vậy, mà tạp bệnh nội thương cũng vậy. 《Kim Quỹ Yếu Lược》 đă chỉ ra: “Kiến can chi bệnh, tri can truyền tỳ, đương tiên thực tỳ”: thấy bệnh ở can th́ phải biết can có thể truyền sang tỳ, v́ thế cần phải kiện thực tỳ trước. Trên lâm sàng khi điều trị bệnh can, người ta thường căn cứ vào những t́nh huống khác nhau mà áp dụng phép can tỳ đồng trị (肝脾同治) hoặc can vị đồng trị (肝胃同治). Cho nên, người thầy thuốc cao minh không phải chỉ thấy bệnh rồi trị bệnh, mà là trên cơ sở nắm vững quy luật biến hóa của bệnh t́nh, tranh thủ ở mặt điều trị sao cho có thể sớm khống chế được sự phát triển của bệnh biến. Tư tưởng điều trị sớm này được 《Nội Kinh》 bàn đến trong rất nhiều thiên, và đă trở thành đại pháp tắc điều trị được các y gia đời sau tuân theo.
(2)“Thiện dụng châm giả...... dĩ tả trị hữu” bàn về nguyên tắc điều trị bằng châm là “ṭng âm dẫn dương, ṭng dương dẫn âm”. Ṭng âm dẫn dương tức là bệnh ở phần dương th́ từ phần âm mà dẫn điều; ṭng dương dẫn âm tức là bệnh ở phần âm th́ từ phần dương mà dẫn điều. Chẳng hạn, có thể lấy các du huyệt (腧穴) ở lưng để trị bệnh của ngũ tạng; cũng có thể lấy huyệt của dương kinh để trị bệnh của âm kinh; cũng có thể lấy huyệt ở phần trên để trị bệnh ở phần dưới; hoặc lấy huyệt bên phải để trị bệnh bên trái, lấy huyệt bên trái để trị bệnh bên phải. Đó là v́ khí huyết âm dương trong cơ thể người là tương thông qua lại giữa ngoài trong, trên dưới, trái phải. Cũng như Trương Chí Thông chú rằng: “Thử ngôn dụng châm giả, đương thủ pháp hồ âm dương dă. Phu âm dương khí huyết, ngoại nội tả hữu, giao tương quán thông”: câu này nói người dùng châm th́ phải lấy âm dương làm pháp; bởi âm dương khí huyết, ngoài trong trái phải, đều giao nhau mà thông với nhau. Tuy các trị tắc trên đây chủ yếu dùng để chỉ đạo phép châm, nhưng đối với lâm sàng dùng thuốc cũng có ư nghĩa chỉ đạo rộng răi và thiết thực. Tôn chỉ của điều trị là ở chỗ điều ḥa âm dương, khôi phục sự cân bằng âm dương. V́ vậy bệnh ở phần dương, có thể từ âm mà dẫn điều; bệnh ở phần âm, có thể từ dương mà dẫn điều. Thí dụ, châm cứu huyệt Bách Hội (百會穴) ở đầu để trị sa trực tràng; châm huyệt Nội Đ́nh (内庭穴) ở chân để trị đau răng; châm các huyệt Giáp Xa (頰車穴), Địa Thương (地倉穴) bên trái để trị liệt mặt bên phải, đều thuộc loại vận dụng cụ thể của phép trị này.
(3)“Dĩ ngă tri bỉ...... dụng chi bất đăi” luận thuật về tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm và điều trị sớm. Các triệu chứng và thể trưng ở giai đoạn đầu của bệnh thường không quá rơ rệt, v́ vậy người thầy thuốc phải giỏi vận dụng phương pháp dĩ thường đạt biến (以常達變), dĩ biểu tri lư (以表知裡), tức là lấy trạng thái sinh lư b́nh thường (ngă 我) làm tiêu chuẩn để cân nhắc, so sánh với người bệnh (bỉ 彼), rồi từ những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài mà suy đoán những biến hóa bệnh lư ở bên trong, để hiểu rơ tà chính, hư thực của bệnh, từ đó chẩn đoán sớm, điều trị sớm, mới có thể pḥng vi đỗ tiệm: ngăn ngừa từ lúc bệnh mới manh nha, khiến bệnh sớm lành.
(4)“Thiện chẩn giả...... dĩ chẩn tắc bất thất hĩ” luận thuật rằng then chốt của việc chẩn đoán bệnh là ở chỗ phân biệt thuộc tính âm dương của chứng hậu (證候) và bệnh chứng (病證). Đoạn văn này thông qua các phương pháp chẩn đoán như “sát sắc” (察色), “án mạch” (按脈), “thẩm thanh trọc” (審清濁), “thị suyễn tức” (視喘息), “thính âm thanh” (聽音聲), “quan quyền hành quy cự” (觀權衡規矩), “án xích thốn” (按尺寸) để thu thập các triệu chứng và thể trưng của bệnh, rồi đem những điều đă chẩn sát được mà tham hợp với nhau, phân tích và tổng hợp, từ đó biện biệt thuộc tính âm dương của chứng hậu và bệnh chứng. Làm được như vậy th́ có thể chấp giản ngự phồn (執簡馭繁): nắm điều cốt yếu mà điều khiển điều phức tạp, nắm được bản chất của bệnh, cho nên chẩn đoán sẽ đúng, điều trị sẽ không sai.
Phân biệt thuộc tính âm dương của chứng hậu là cương lĩnh quan trọng và chỗ then chốt trong việc chẩn sát bệnh tật. Bởi v́ mọi biến hóa bệnh lư trong cơ thể người đều biểu hiện thành sự thiên thịnh thiên suy của âm dương; thông qua tứ chẩn (四診) để hiểu và phân tích sự biến hóa âm dương của bệnh t́nh, đó là tiền đề cần thiết để điều trị bệnh. Đúng như Trương Giới Tân đă nói: “Phàm chẩn bệnh thi trị, tất tu tiên thẩm âm dương, năi vi y đạo chi cương lĩnh, âm dương vô mậu, trị yên hữu sai”: hễ chẩn bệnh mà thi trị (施治), tất trước hết phải xét âm dương, đó mới là cương lĩnh của y đạo; âm dương đă không sai, th́ điều trị sao có thể sai được.

Quy luật gây bệnh nói chung của tà khí tứ thời bát phong
Nguyên văn
Hoàng Đế hỏi rằng: Trời có bát phong (八風), kinh lại có ngũ phong (五風), vậy là thế nào? Kỳ Bá đáp rằng: Bát phong phát tà, dĩ vi kinh phong, xúc ngũ tạng, tà khí phát bệnh: bát phong phát ra tà khí, trở thành kinh phong, chạm đến ngũ tạng th́ tà khí phát bệnh. Cái gọi là đắc tứ thời chi thắng là: xuân thắng trường hạ, trường hạ thắng đông, đông thắng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân, đó là cái gọi là sự chế thắng của bốn mùa.
Đông phong sinh ư xuân: gió đông sinh vào mùa xuân, bệnh ở can, du (俞) ở vùng cổ gáy; nam phong sinh ư hạ: gió nam sinh vào mùa hạ, bệnh ở tâm, du ở ngực sườn; tây phong sinh ư thu: gió tây sinh vào mùa thu, bệnh ở phế, du ở vai lưng; bắc phong sinh ư đông: gió bắc sinh vào mùa đông, bệnh ở thận, du ở thắt lưng và hông đùi; trung ương thuộc thổ, bệnh ở tỳ, du ở cột sống. Cho nên xuân khí (春氣) th́ bệnh thường ở đầu; hạ khí (夏氣) th́ bệnh ở tạng; thu khí (秋氣) th́ bệnh ở vai lưng; đông khí (冬氣) th́ bệnh ở tứ chi. V́ vậy mùa xuân thường dễ mắc cừu nục (鼽衄): nghẹt mũi, chảy máu mũi; giữa mùa hạ thường dễ mắc bệnh ngực sườn; trường hạ thường dễ mắc động tiết hàn trung (洞泄寒中): tiêu chảy dữ dội do hàn ở trung tiêu; mùa thu thường dễ mắc phong ngược (風瘧): ngược tật do phong; mùa đông thường dễ mắc tư quyết (痹厥): đau tê bế tắc và quyết lạnh. Cho nên mùa đông nếu không làm phép án kiểu (按蹺), th́ mùa xuân sẽ không bị cừu nục; mùa xuân không mắc bệnh cổ gáy; giữa mùa hạ không mắc bệnh ngực sườn; trường hạ không mắc bệnh động tiết hàn trung; mùa thu không mắc bệnh phong ngược; mùa đông không mắc bệnh tư quyết, sôn tiết mà lại ra mồ hôi. C̣n tinh (精) là cái gốc của thân thể, cho nên người biết tàng tinh th́ mùa xuân sẽ không mắc ôn bệnh (溫病); mùa hạ nếu bị thử nhiệt mà mồ hôi không ra, th́ đến mùa thu sẽ thành phong ngược. Đó là phép mạch của người b́nh thường. (《Tố Vấn. Kim Quỹ Chân Ngôn Luận》)
Chú thích (注釋)
1. Bát phong (八風): chỉ gió từ tám phương là đông, đông nam, nam, tây nam, tây, tây bắc, bắc, đông bắc. Khi thuộc khí hậu b́nh thường th́ chủ sự sinh trưởng của vạn vật, gọi là thực phong (實風); nếu đến không đúng thời lệnh th́ trở thành tà phong (邪風), có thể làm người ta phát bệnh, gọi là hư phong (虚風). Tức là điều ở dưới gọi là “bát phong phát tà” (八風發邪).
2. Ngũ phong (五風): phong của ngũ tạng, tức tâm phong (心風), can phong (肝風), tỳ phong (脾風), phế phong (肺風), thận phong (腎風).
3. Bát phong phát tà (八風發邪): tà phong bất thường phát sinh từ tám phương.
4. Thắng (勝): khắc chế, chế ước.
5. Trường hạ (長夏): 52 ngày ở khoảng giữa mùa hạ và mùa thu.
6. Đông phong sinh ư xuân (東風生於春): Mă Thị cho rằng “mùa xuân chủ giáp ất mộc (甲乙木), phương vị của nó là đông, cho nên đông phong sinh ở xuân”. Các câu nam phong, tây phong, bắc phong ở dưới cũng có thể suy ra như vậy.
7. Bệnh tại can (病在肝): Mă Thị cho rằng “ở trời là phong, ở tạng là can. V́ thế người ta thụ bệnh th́ nên ở can”. Các tạng bệnh ở dưới cũng có thể suy ra tương tự.
8. Du tại cảnh hạng (俞在頸項): du (俞) là du huyệt (俞穴), nơi kinh khí rót vào, cũng là nơi tà khí dễ xâm nhập. Cảnh hạng (頸項) có lẽ là chép sai của chữ đầu, v́ ở dưới nói: “xuân khí giả, bệnh tại đầu” (春氣者,病在頭); hơn nữa vùng cổ gáy không có du huyệt của can đởm kinh.
9. Khí (氣): ở đây chỉ khí hậu bất thường từ bên ngoài.
10. Tạng (藏): ở đây chỉ tâm tạng (心臟). V́ tâm thông với hạ khí, cho nên khí hậu mùa hạ bất thường th́ phần nhiều gây bệnh ở tâm.
11. Chi (支): đồng với chữ chi (肢), nghĩa là chi thể.
12. Thiện (善): ở đây nên hiểu là “dễ”, “thường hay”.
13. Cừu nục (鼽衄): cừu (鼽) là tên một chứng bệnh, chỉ t́nh trạng thường xuyên nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi; nục (衄) là chảy máu mũi.
14. Hàn trung (寒中): hàn khí ở trung tiêu, cũng có thể hiểu là chứng lư hàn.
15. Tư quyết (痹厥): từ ghép thiên nghĩa, ở đây chủ yếu chỉ tư chứng (痹證), biểu hiện chính là đau khớp, tê b́ tay chân.
16. Án (按): nghĩa là xoa bóp. Cũng gọi là đạo dẫn (導引), chỉ các phương pháp dưỡng sinh như vận động khéo léo tay chân, xoa bóp, khí công, thể dục bảo健. Nhưng ở đây chủ yếu chỉ việc quấy động gân cốt, vận động quá mức.
17. Sôn tiết nhi hăn xuất dă (飧泄而汗出也): sáu chữ này là văn thừa.
18. Tinh (精): chỉ âm tinh (陰精), gồm hai phương diện: một là tinh sinh殖, hai là phần tinh hoa do thức ăn đồ uống hóa sinh ra.
19. Ôn (溫): chỉ ôn bệnh (溫病).
20. Hạ thử hăn bất xuất giả, thu thành phong ngược. Thử b́nh nhân mạch pháp dă (夏暑汗不出者,秋成風瘧。此平人脈法也): có lẽ có chỗ sót văn, nên không dịch.
Phân tích (解析)
Đoạn này luận thuật đặc điểm gây bệnh và quy luật phát bệnh của tà khí tứ thời bát phong (四時八風之邪).
(1)
“Bát phong phát tà...... sở vị tứ thời chi thắng dă” là bàn về đặc điểm gây bệnh của tà khí tứ thời bát phong. Khí hậu bất thường trong tự nhiên có thể xâm phạm kinh mạch, rồi tiến tới làm tổn hại tạng phủ, gây ra bệnh biến. Đồng thời đoạn này cũng chỉ ra rằng giữa khí hậu của bốn mùa tồn tại quan hệ chế ước lẫn nhau. Chính nhờ quan hệ ấy mà xuân ôn, hạ nhiệt, thu lương, đông hàn được duy tŕ trong phạm vi tương đối b́nh thường. Trong môi trường ấy, mọi sinh vật mới có thể sinh, trưởng, tráng, lăo, dĩ; mọi thực vật mới có thể sinh, trưởng, hóa, thu, tàng. Nếu mối quan hệ chế ước này bị phá hoại, th́ khí hậu bốn mùa sẽ xuất hiện thái quá hoặc bất cập. Sự phản thường của khí hậu bốn mùa chính là nhân tố gây bệnh. Thí dụ như hiện tượng noăn đông (暖冬) gần đây, chính là do cái lạnh mùa đông không đủ để chế ước khí hậu thấp nhiệt của trường hạ. Khi đó, các bệnh ngoại cảm phát sinh phần nhiều mang tính chất ôn nhiệt.
(2)
“Đông phong sinh ư xuân...... đông thiện bệnh tư quyết” là thảo luận về sự tương ứng giữa con người và ngoại cảnh. Ngũ tạng ứng với ngũ mùa, đồng khí tương cầu (同氣相求), v́ vậy vị trí phát bệnh ở mỗi mùa không giống nhau. Phong tà của mùa xuân thường xâm hại can tạng; thử tà của mùa hạ thường xâm hại tâm tạng; thấp tà của trường hạ thường xâm hại tỳ tạng; táo tà của mùa thu thường xâm hại phế tạng; hàn tà của mùa đông thường xâm hại thận tạng. Quy luật phát bệnh này có ư nghĩa lâm sàng rất lớn. Chẳng hạn, viêm phế quản mạn tính thường phát tác vào mùa đông, điều đó có liên quan đến việc hàn tà mùa đông làm tổn thương thận; lại như có một số chứng bệnh tim phát tác vào mùa hạ, điều đó có liên quan đến việc thử tà mùa hạ làm tổn thương tâm...... Nói chung, những bệnh chứng phát tác có tính mùa vụ đều có liên quan đến thời tà của mùa đó và tạng phủ tương ứng với nó. Làm rơ được điểm này th́ có thể áp dụng pháp trị và phương dược tương ứng.
(3) Về câu “đông bất án kiểu”. Án kiểu (按蹺), Vương Băng chú là phương pháp dưỡng sinh bằng xoa bóp, đạo dẫn, nhưng giải như vậy th́ chưa thật thông với nguyên văn. Cho nên sách giáo khoa dẫn chú của Trương Giới Tân: “Tam đông nguyên khí phục tàng tại âm, đương phục tàng chi thời nhi nhiễu động cân cốt, tắc tinh khí tiết việt, dĩ trí xuân hạ thu đông các sinh kỳ bệnh. Cố đông nghi dưỡng tàng, tắc xuân thời dương khí tuy thăng, âm tinh tự cố, hà hữu cừu nục cập như hạ văn chi hoạn”: trong ba tháng đông, nguyên khí ẩn tàng ở âm; nếu đúng lúc nên phục tàng mà lại quấy động gân cốt, th́ tinh khí sẽ tiết việt (vượt) ra ngoài, khiến cho xuân hạ thu đông mỗi mùa đều sinh bệnh của nó. V́ vậy mùa đông nên dưỡng tàng, th́ đến mùa xuân dương khí tuy có thăng lên, âm tinh vẫn tự vững chắc, làm ǵ có các chứng cừu nục và những hoạn bệnh như nói ở dưới. Từ đó suy rộng, án kiểu (按蹺) được hiểu là lao động quá mức.
Bởi v́ thận là tác cường chi quan (作強之官), nếu lao lực quá độ th́ sẽ hao tổn tinh khí trong thận. Nếu mùa đông biết thuận theo thiên thời mà dưỡng sinh, khiến thận tinh được phục tàng, th́ mùa xuân sẽ không mắc các bệnh ở đầu như cừu nục; giữa mùa hạ không mắc bệnh đầy trướng ngực sườn; trường hạ không mắc động tiết hàn trung; mùa thu không mắc phong ngược; mùa đông không mắc tư quyết. Ư ở đây là nhấn mạnh tầm quan trọng của thận tinh đối với sự phát bệnh trong bốn mùa. Nhưng “đông bất tàng tinh” (冬不藏精) chỉ mới là nội nhân của phát bệnh; muốn thành bệnh c̣n có quan hệ với ngoại nhân nữa. Chẳng hạn như phong ngược (風瘧), ngoài nguyên nhân thận tinh khuy hao ra, c̣n có quan hệ với việc “hạ thử hăn bất xuất” (夏暑汗不出) : mùa hạ không xuất mồ hôi, thực chất là phát bệnh do nội ngoại cùng kết hợp.
(4)“Phu tinh giả...... xuân bất bệnh ôn” thảo luận cơ chế v́ sao thận biết tàng tinh th́ không dễ sinh ôn bệnh. Tinh (精) là gốc của sinh mệnh cơ thể con người; nó không chỉ là vật chất cơ bản cấu thành sự sống, mà c̣n là dưỡng chất tất yếu để duy tŕ hoạt động sinh mệnh. Bởi vậy tinh đầy đủ th́ sức sống mạnh, tinh hư hao th́ sức sống yếu. Trong quá tŕnh phát sinh và phát triển bệnh tật, nếu tinh sung túc th́ chính khí thắng được tà khí, nhờ đó có thể khống chế sự phát sinh và phát triển của bệnh. Đặc biệt, tà khí ôn nhiệt là thứ dễ hao tổn âm tinh nhất; nếu âm tinh vốn đă không đủ, th́ lại càng dễ gây ra sự xâm phạm của ôn tà, đúng như câu “âm hư giả, dương tất tấu chi”: người âm hư th́ dương tà tất sẽ xúm lại. V́ vậy mới nói: “tàng ư tinh giả, xuân bất bệnh ôn”. Người biết dưỡng sinh không chỉ chú trọng bảo dưỡng dương khí, mà c̣n đặc biệt coi trọng việc ǵn giữ âm tinh; chỉ khi âm dương b́nh ḥa th́ mới có thể chu toàn vẹn đủ.
Âm dương thuộc tính của kết cấu tổ chức cơ thể người Nguyên văn
Cho nên nói: âm trung hữu âm, dương trung hữu dương (陰中有陰,陽中有陽). Từ b́nh đán chí nhật trung (平旦至日中): từ lúc trời sáng đến giữa trưa, là phần dương của trời, mà lại là dương trung chi dương (陽中之陽): dương trong dương; từ nhật trung chí hoàng hôn (日中至黃昏): từ giữa trưa đến hoàng hôn, là phần dương của trời, mà lại là dương trung chi âm (陽中之陰): âm trong dương; từ hợp dạ chí kê minh (合夜至雞鳴): từ lúc chập tối đến lúc gà gáy, là phần âm của trời, mà lại là âm trung chi âm (陰中之陰): âm trong âm; từ kê minh chí b́nh đán (雞鳴至平旦): từ lúc gà gáy đến lúc trời sáng, là phần âm của trời, mà lại là âm trung chi dương (陰中之陽): dương trong âm. Cho nên con người cũng ứng theo như vậy.
Nói về âm dương (陰陽) của con người, th́ bên ngoài là dương, bên trong là âm; nói về âm dương của thân người, th́ lưng là dương, bụng là âm; nói về âm dương trong tạng phủ (藏府) của thân người, th́ tạng là âm, phủ là dương. Can, tâm, tỳ, phế, thận (肝、心、脾、肺、腎) là ngũ tạng đều thuộc âm; đởm, vị, đại trường, tiểu trường, bàng quang, tam tiêu (膽、胃、大腸、小腸、膀胱、三焦) là lục phủ đều thuộc dương. Vậy muốn biết cái ǵ là âm trung chi âm (陰中之陰), cái ǵ là dương trung chi dương (陽中之陽) th́ thế nào? Đó là: mùa đông bệnh thường tại âm, mùa hạ bệnh thường tại dương, mùa xuân bệnh thường tại âm, mùa thu bệnh thường tại dương; đều phải xét chỗ bệnh ở đâu mà施 hành phép châm thạch (針石). Cho nên lưng là dương, mà dương trung chi dương (陽中之陽) là tâm (心); lưng là dương, mà dương trung chi âm (陽中之陰) là phế (肺); bụng là âm, mà âm trung chi âm (陰中之陰) là thận (腎); bụng là âm, mà âm trung chi dương (陰中之陽) là can (肝); bụng là âm, mà âm trung chi chí âm (陰中之至陰) là tỳ (脾). Những điều này đều là sự tương ứng qua lại giữa âm dương, biểu lư, nội ngoại, thư hùng của cơ thể, cho nên có thể dùng để ứng với âm dương của trời. (《Tố Vấn. Kim Quỹ Chân Ngôn Luận》)
Chú thích (注釋)
1. B́nh đán chí nhật trung (平旦至日中): chỉ khoảng từ giờ Măo đến giờ Ngọ, tức khoảng 6 giờ đến 12 giờ.
2. Nhật trung chí hoàng hôn (日中至黃昏): chỉ khoảng từ giờ Ngọ đến giờ Dậu, tức khoảng 12 giờ đến 18 giờ. Hoàng hôn (黃昏) là lúc mặt trời lặn.
3. Hợp dạ chí kê minh (合夜至雞鳴): hợp dạ (合夜) tức là hoàng hôn. Từ hợp dạ đến kê minh chỉ khoảng từ giờ Dậu đến giờ Tư, tức khoảng 18 giờ đến 24 giờ.
4. Kê minh chí b́nh đán (雞鳴至平旦): chỉ khoảng từ giờ Tư đến giờ Măo, tức khoảng 0 giờ đến 6 giờ.
5. Tạng phủ (藏府): đồng với tạng phủ (臟腑).
6. Tam tiêu (三焦): là một trong lục phủ, là phủ lớn nhất bao quanh các tạng phủ. Nó có tác dụng chủ tŕ chư khí, tổng quản khí cơ và khí hóa của toàn thân, đồng thời vận hành thủy dịch. Theo vị trí mà phân chia th́ lại gồm thượng tiêu (上焦), trung tiêu (中焦), hạ tiêu (下焦). Thượng tiêu là phần trên cơ hoành; trung tiêu là phần dưới cơ hoành và trên rốn; hạ tiêu là phần dưới rốn.
7. Đông bệnh tại âm (冬病在陰): bệnh mùa đông phần nhiều ở thận; thận cư ở hạ tiêu, thuộc âm trung chi âm (陰中之陰), cho nên nói đông bệnh tại âm.
8. Hạ bệnh tại dương (夏病在陽): bệnh mùa hạ phần nhiều ở tâm; tâm ở thượng tiêu, thuộc dương trung chi dương (陽中之陽), cho nên nói hạ bệnh tại dương.
9. Xuân bệnh tại âm (春病在陰): bệnh mùa xuân phần nhiều ở can; can cư ở hạ tiêu, thuộc âm trung chi dương (陰中之陽), cho nên nói xuân bệnh tại âm.
10. Thu bệnh tại dương (秋病在陽): bệnh mùa thu phần nhiều ở phế; phế ở thượng tiêu, thuộc dương trung chi âm (陽中之陰), cho nên nói thu bệnh tại dương.
11. Châm thạch (針石): chỉ các phép trị bằng châm cứu và biếm thạch.
12. Dương trung chi dương tâm dă (陽中之陽心也): tâm liên hệ với phần lưng, cư ở vị trí thượng tiêu thuộc dương; bên ngoài lại ứng với mùa hạ, mà mùa hạ nóng bức thuộc dương, cho nên tâm là dương trong dương.
13. Dương trung chi âm phế dă (陽中之陰肺也): phế liên hệ với phần lưng, cư ở vị trí thượng tiêu thuộc dương; bên ngoài lại ứng với mùa thu, mà mùa thu mát mẻ thuộc âm, cho nên phế là âm trong dương.
14. Âm trung chi âm thận dă (陰中之陰腎也): thận liên hệ với phần bụng, cư ở vị trí hạ tiêu thuộc âm; bên ngoài lại ứng với mùa đông, mà mùa đông lạnh mát thuộc âm, cho nên thận là âm trong âm.
15. Âm trung chi dương can dă (陰中之陽肝也): can liên hệ với phần bụng, cư ở vị trí dưới cơ hoành thuộc âm; bên ngoài lại ứng với mùa xuân, mà mùa xuân ôn ấm thuộc dương, cho nên can là dương trong âm.
16. Âm trung chi chí âm tỳ dă (陰中之至陰脾也): tỳ liên hệ với phần bụng, cư ở vị trí giữa bụng thuộc âm; bên ngoài ứng với trường hạ (長夏), mà trường hạ là giai đoạn giao thời giữa xuân hạ với thu đông, từ dương nhập âm, cho nên tỳ là chí âm trong âm.
17. Thử giai âm dương biểu lư nội ngoại thư hùng tương thâu ứng dă (此皆陰陽表裡內外雌雄相輸應也): thư hùng (雌雄), hùng thuộc dương, thư thuộc âm, ở đây dùng để chỉ tạng phủ: tạng thuộc âm nên là thư, phủ thuộc dương nên là hùng. Câu này là lời khái quát cho phần trên về sự phân chia thuộc tính âm dương của cơ thể người, tức là nói rằng biểu và lư, trong và ngoài, tạng và phủ, thư và hùng, đều có sự phân chia âm dương tương ứng.
Phân tích (解析)
Đoạn này là một trong những nội dung cơ bản nhất của học thuyết âm dương (陰陽) khi được vận dụng vào cơ thể người. Dựa trên quan điểm “thiên nhân tương ứng” (天人相應), tức âm dương của người ứng với âm dương của trời, đoạn văn đă triển khai cụ thể các thuộc tính âm dương của kết cấu tổ chức cơ thể người, đồng thời nói rơ tính có thể phân chia và tính tương đối của âm dương trong nhân thể. Những nội dung được bàn ở đây có ư nghĩa rất quan trọng đối với sinh lư, bệnh lư và biện chứng của cơ thể người, cho nên cần phải nắm thật vững.
Câu “B́nh đán chí nhật trung...... cố nhân diệc ứng chi” (「平旦至日中......故人亦應之」) luận thuật về sự tiêu trưởng của âm dương trong ngày đêm, đồng thời chỉ ra rằng khí âm dương trong cơ thể người cũng có những biến hóa tiết律 tương ứng như vậy. Quan hệ giữa sự tiêu trưởng âm dương của ngày đêm với cơ thể người, bất luận ở mặt hoạt động sinh lư hay ở mặt biến hóa bệnh lư, đều có những phản ánh khá rơ rệt.
Âm dương thuộc tính của kết cấu tổ chức cơ thể người (人體組織結構的陰陽屬性)
Không chỉ 《Nội Kinh》 có rất nhiều luận thuật cụ thể về âm dương thuộc tính (陰陽屬性) của kết cấu tổ chức cơ thể người, mà hơn hai ngh́n năm thực tiễn y học sau đó lại càng làm phong phú thêm nội dung của học thuyết này, đồng thời cho thấy nó có ư nghĩa hiện thực rất quan trọng trong việc nghiên cứu khoa học sinh mệnh. Sau 《Nội Kinh》, Trương Trọng Cảnh đă sớm vận dụng lư luận này vào lâm sàng, nêu ra thời điểm cụ thể mà lục kinh bệnh dục giải (六經病欲解): bệnh của sáu kinh muốn được giải, điều này rất có ích cho việc nắm bắt cơ chế bệnh lư.
Câu “Phu ngôn nhân chi âm dương...... cố dĩ ứng thiên chi âm dương dă” (「夫言人之陰陽......故以應天之陰陽也」) bàn về khả phân tính (可分性) của âm dương trong cơ thể người. V́ hiện tượng đối lập và thống nhất lẫn nhau giữa các sự vật, cũng như trong nội bộ mỗi sự vật, là tồn tại một cách phổ biến, cho nên bất luận là mặt âm hay mặt dương, trong đó đều lại bao hàm hai phương diện đối lập thống nhất của âm và dương; v́ vậy âm dương c̣n có thể tiếp tục phân ra âm dương. Bởi v́ các bộ phận trong cơ thể người như biểu lư (表裡), nội ngoại (內外), ngũ tạng lục phủ (五臟六腑) v.v. đều có quan hệ đối lập thống nhất của âm dương, đồng thời thông qua sự liên hệ của kinh mạch và sự quán chú của khí huyết mà tương thông, tương ứng với sự biến hóa âm dương của bốn mùa ngày đêm trong tự nhiên, cho nên âm dương trong cơ thể người và âm dương biến hóa ở ngoại giới mới có thể duy tŕ một trạng thái cân bằng động có trật tự và ở tŕnh độ cao. V́ thế đoạn kinh văn cuối cùng cho rằng, ư nghĩa của việc dùng âm dương để quy thuộc nội ngoại biểu lư của cơ thể người là “dĩ ứng thiên chi âm dương dă” (以應天之陰陽也): để ứng hợp với âm dương của trời.
Ngũ tạng ứng với tứ thời, mỗi tạng đều có sự thu nạp cảm ứng riêng (五臟應四時,各有收受)
Nguyên văn (原文)
Đế nói: Ngũ tạng ứng tứ thời, các hữu thu thụ hồ (五藏應四時,各有收受乎): ngũ tạng ứng với bốn mùa, mỗi tạng đều có sự tiếp nhận, cảm ứng riêng chăng? Kỳ Bá đáp rằng: Có.
Đông phương thanh sắc, nhập thông ư can, khai khiếu ư mục, tàng tinh ư can: phương đông ứng sắc xanh, thông vào can, khai khiếu ra mắt, tinh tàng ở can; kỳ bệnh phát kinh hăi: theo văn dưới, chỗ này đáng lẽ nên là “cố bệnh tại đầu”; kỳ vị toan (其味酸): vị của nó là chua; kỳ loại thảo mộc (其類草木): loại của nó như cỏ cây; kỳ súc kê (其畜雞): vật nuôi của nó là gà; kỳ cốc mạch (其榖麥): ngũ cốc của nó là lúa mạch; kỳ ứng tứ thời, thượng vi tuế tinh (其應四時,上為歲星): ứng với bốn mùa, ở trên trời là sao Mộc; v́ vậy khí xuân thường bệnh ở đầu; kỳ âm giác (其音角): âm của nó là giác; kỳ số bát (其數八): số của nó là tám; v́ vậy biết bệnh thường tại cân; kỳ xú tao (其臭臊): mùi của nó là tao.
Nam phương xích sắc, nhập thông ư tâm, khai khiếu ư nhĩ, tàng tinh ư tâm: phương nam ứng sắc đỏ, thông vào tâm, khai khiếu ra tai; theo chú thích, chữ “tai” nên là “lưỡi”; tinh tàng ở tâm. V́ vậy bệnh ở ngũ tạng; vị của nó là đắng; loại của nó là hỏa; vật nuôi của nó là dê; ngũ cốc của nó là thử; ứng với bốn mùa, ở trên trời là Huỳnh Hoặc tinh (熒惑星), tức sao Hỏa; v́ vậy biết bệnh thường tại mạch; âm của nó là chủy; số của nó là bảy; mùi của nó là khét.
Trung ương hoàng sắc, nhập thông ư tỳ, khai khiếu ư khẩu, tàng tinh ư tỳ: trung ương ứng sắc vàng, thông vào tỳ, khai khiếu ra miệng, tinh tàng ở tỳ; v́ vậy bệnh ở thiệt bản (舌本): gốc lưỡi; vị của nó là ngọt; loại của nó là thổ; vật nuôi của nó là trâu; ngũ cốc của nó là kê; ứng với bốn mùa, ở trên trời là Trấn tinh (鎮星), tức sao Thổ; v́ vậy biết bệnh thường tại nhục; âm của nó là cung; số của nó là năm; mùi của nó là thơm.
Tây phương bạch sắc, nhập thông ư phế, khai khiếu ư tỵ, tàng tinh ư phế: phương tây ứng sắc trắng, thông vào phế, khai khiếu ra mũi, tinh tàng ở phế; v́ vậy bệnh ở lưng; vị của nó là cay; loại của nó là kim; vật nuôi của nó là ngựa; ngũ cốc của nó là lúa; ứng với bốn mùa, ở trên trời là Thái Bạch tinh (太白星), tức sao Kim; v́ vậy biết bệnh thường tại b́ mao; âm của nó là thương; số của nó là chín; mùi của nó là tanh.
Bắc phương hắc sắc, nhập thông ư thận, khai khiếu ư nhị âm, tàng tinh ư thận: phương bắc ứng sắc đen, thông vào thận, khai khiếu ra nhị âm, tinh tàng ở thận; v́ vậy bệnh ở khê (谿): chỗ hội nhỏ của cơ nhục; vị của nó là mặn; loại của nó là thủy; vật nuôi của nó là lợn; ngũ cốc của nó là đậu; ứng với bốn mùa, ở trên trời là Thần tinh (辰星), tức sao Thủy; v́ vậy biết bệnh thường tại cốt; âm của nó là vũ; số của nó là sáu; mùi của nó là thối.
Cho nên người giỏi vi mạch (為脈), tức xem mạch để chẩn sát bệnh t́nh, th́ phải cẩn thận xét ngũ tạng lục phủ (五藏六府), một nghịch một thuận, âm dương biểu lư, kỷ cương của thư hùng, để trong ḷng ghi nhớ, hợp tâm với tinh; không phải người thích đáng th́ không dạy, không phải người chân chính th́ không truyền, đó gọi là đắc đạo. (《Tố Vấn. Kim Quỹ Chân Ngôn Luận》)
Chú thích (注釋)
1. Thu thụ (收受): nghĩa là tương thông, tương ứng.
2. Đông (東): trong ngũ hành là mộc, trong tạng th́ tương ứng với can.
3. Khai khiếu (開竅): có sự liên thông với khiếu.
4. Tàng tinh ư can (藏精於肝): chỉ tinh khí tàng ở can.
5. Kỳ bệnh phát kinh hăi (其病發驚駭): theo văn lệ của các phương ở dưới, chỗ này nên là bốn chữ “cố bệnh tại đầu” (故病在頭).
6. Kỳ loại thảo mộc (其類草木): tính của can mềm ḥa, có thể cong có thể thẳng, cho nên loại của nó giống như cỏ cây.
7. Kỳ súc kê (其畜雞): súc (畜) là ngũ súc, tức gà và các vật nuôi ở dưới như dê, trâu, ngựa, lợn. Trong 《Dịch Kinh》 cho rằng quẻ Tốn ứng với gà, mà gà là loài súc vật thuộc mộc ở phương đông.
8. Kỳ cốc mạch (其穀麥): cốc (穀) là ngũ cốc, tức mạch và các loại dưới như thử, kê, đạo, đậu. V́ mạch là loại đứng đầu trong ngũ cốc, cho nên phương đông ứng với nó.
9. Tuế tinh (歲星): tức sao Mộc, là một trong ngũ tinh (五星). Cùng với các sao ở dưới là Huỳnh Hoặc tinh (熒惑星), Trấn tinh (鎮星), Thái Bạch tinh (太白星), Thần tinh (辰星), hợp gọi là ngũ tinh.
10. Kỳ âm giác (其音角): giác (角) là một trong ngũ âm (cung, thương, giác, chủy, vũ), là âm của xuân mộc phương đông.
11. Kỳ số bát (其數八): số (數) ở đây là thành số (成數); những câu dưới như “kỳ số thất”, “kỳ số ngũ”, “kỳ số cửu”, “kỳ số lục” cũng đều vậy.
12. Tri bệnh chi tại cân dă (知病之在筋也): v́ can chủ cân, cho nên bệnh của can thường ở cân. Ngoài ra, Đan Ba Nguyên Giản cho rằng câu này nên đặt sau câu “thượng vi tuế tinh”.
13. Tao (臊): là một thứ mùi khó ngửi, như mùi khai nước tiểu, mùi cơ thể nồng v.v. Tao là một trong ngũ xú (五臭): tao, khét, thơm, tanh, thối. Khí do mộc biến ra th́ thành mùi tao.
14. Nam (南): trong ngũ hành là hỏa, trong tạng th́ tương ứng với tâm.
15. Nhĩ (耳): ở đây đáng lẽ phải là chữ thiệt (舌).
16. Bệnh tại ngũ tạng (病在五藏): v́ tâm là chủ của ngũ tạng, cho nên ngoại tà thương tâm th́ ngũ tạng đều có thể sinh bệnh.
17. Huỳnh Hoặc tinh (熒惑星): tức sao Hỏa, là một trong ngũ tinh.
18. Trung ương (中央): trong ngũ hành là thổ, trong tạng th́ tương ứng với tỳ.
19. Thiệt bản (舌本): gốc lưỡi. Kinh mạch của tỳ liên hệ với gốc lưỡi, cho nên bệnh của tỳ có thể phản ánh ở gốc lưỡi.
20. Trấn tinh (鎮星): tức sao Thổ, là một trong ngũ tinh.
21. Tây (西): trong ngũ hành là kim, trong tạng th́ tương ứng với phế.
22. Thái Bạch tinh (太白星): tức sao Kim, là một trong ngũ tinh.
23. Bắc (北): trong ngũ hành là thủy, trong tạng th́ tương ứng với thận.
24. Nhị âm (二陰): chỉ tiền âm là cơ quan sinh dục ngoài và hậu âm là hậu môn.
25. Khê (谿): chỉ chỗ hội nhỏ của nhục, tức những khe nhỏ hay chỗ lơm giữa các khối cơ.
26. Trệ (彘): lợn, c̣n gọi là thỉ (豕).
27. Thần tinh (辰星): tức sao Thủy, là một trong ngũ tinh.
28. Vi mạch (為脈): cắt nghĩa là bắt mạch; ở đây mở rộng thành chẩn sát bệnh t́nh.
29. Tâm ư (心意): giống như ư “để trong ḷng, trong ngực mà ghi nhớ”.
Phân tích (解析)
Thiên này là một thiên văn quan trọng chuyên tŕnh bày sâu về lư luận “tứ thời ngũ tạng âm dương” (四時五臟陰陽). Ngũ thời (五時), ngũ phương (五方), ngũ vị (五味) trong tự nhiên đều có quan hệ mật thiết với ngũ tạng (五臟) của cơ thể người; hoạt động công năng của ngũ tạng lúc nào cũng chịu ảnh hưởng bởi sự biến hóa của ngoại cảnh và phản ánh ra ở những bộ vị h́nh thể, quan khiếu tương ứng. Kinh văn lại c̣n đem ngũ súc (五畜), ngũ cốc (五穀) v.v. lần lượt quy thuộc vào ngũ thời, ngũ hành, đó là sự vận dụng cụ thể của học thuyết ngũ hành trong lĩnh vực sinh vật sinh thái học.
Kinh văn nêu ra câu “tâm khai khiếu ư nhĩ” (心開竅於耳), điều này không phù hợp với thuyết trong 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》 là “tâm tại khiếu vi thiệt” (心在竅為舌), “thận tại khiếu vi nhĩ” (腎在竅為耳), cho nên thông thường người ta vẫn theo thuyết của 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》 hơn. Trên thực tế, lư luận ngũ tạng khai khiếu (五臟開竅) cần phải được nh́n nhận một cách biện chứng: một mặt, lư luận này chỉ ra rằng một quan khiếu nào đó có quan hệ mật thiết nhất với một tạng phủ nào đó. Thực tiễn lâm sàng đă chứng minh rằng, triệu chứng và thể trưng khi một tạng phủ bị bệnh thường trước hết phản ánh ở h́nh thể, quan khiếu tương ứng; v́ vậy khi lâm chứng, xem xét các triệu chứng và thể trưng ở h́nh thể, quan khiếu là căn cứ quan trọng để biện biệt bệnh vị và bệnh tính của tạng phủ. Mặt khác, lư luận này không phải là tuyệt đối. 《Linh Khu. Mạch Độ Thiên》 chỉ ra rằng “ngũ tạng thường nội duyệt ư thượng thất khiếu” (五臟常內閱於上七竅), “ngũ tạng bất ḥa tắc thất khiếu bất đồng” (五臟不和則七竅不同), có thể thấy thất khiếu đều có quan hệ mật thiết với ngũ tạng. Thí dụ, 《Tố Vấn. Ngũ Tạng Biệt Luận》 có câu “tâm phế hữu bệnh, nhi tỵ vi chi bất lợi” (心肺有病,而鼻為之不利): tâm phế có bệnh th́ mũi sẽ không thông lợi; 《Tố Vấn. Khí Quyết Luận》 lại nói “đởm di nhiệt ư năo tắc tân tỵ uyên” (膽移熱於腦則辛鼻淵): đởm chuyển nhiệt lên năo th́ gây tỵ uyên chảy nước mũi hôi cay; 《Linh Khu. Khẩu Vấn》 lại chỉ ra rằng “vị trung không tắc tông mạch hư, hư tắc hạ lưu, mạch hữu sở kiệt giả, cố nhĩ minh”: trong vị trống rỗng th́ tông mạch hư, hư th́ khí huyết hạ lưu, mạch có chỗ kiệt nên sinh ù tai. Bởi vậy, khi lâm chứng phải tổng hợp phân tích tất cả các triệu chứng và thể trưng để biện minh rơ những tạng phủ nào bị liên quan, và mối quan hệ chủ thứ giữa chúng.
Những câu trong kinh văn như “kỳ số bát” (其數八), “kỳ số thất” (其數七), “kỳ số ngũ” (其數五), “kỳ số cửu” (其數九), “kỳ số lục” (其數六) v.v. đều xuất ra từ Hà đồ (河圖). Hà đồ (河圖) là đại biểu của lư luận tượng số (象數) trong cổ đại nước ta, đồng thời cũng là một trong những cơ sở h́nh thành lư luận của 《Hoàng Đế Nội Kinh》. Trong Hà đồ, năm số lẻ là nhất, tam, ngũ, thất, cửu (一、三、五、七、九) là thiên số (天數), thuộc dương; năm số chẵn là nhị, tứ, lục, bát, thập (二、四、六、八、十) là thiên số, thuộc âm. Âm dương giao cảm mà sinh thành, phân bố ra đông, tây, nam, bắc, trung để định vị trí của ngũ phương. T́nh h́nh cụ thể là: thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi ư bắc: trời một sinh thủy, đất sáu thành nó ở phương bắc; địa nhị sinh hỏa, thiên thất thành chi ư nam: đất hai sinh hỏa, trời bảy thành nó ở phương nam; thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi ư đông: trời ba sinh mộc, đất tám thành nó ở phương đông; địa tứ sinh kim, thiên cửu thành chi ư tây: đất bốn sinh kim, trời chín thành nó ở phương tây; thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi ư trung: trời năm sinh thổ, đất mười thành nó ở trung ương. Trong đó, nhất, nhị, tam, tứ, ngũ (一、二、三、四、五) là sinh số (生數) của âm dương, c̣n lục, thất, bát, cửu, thập (六、七、八、九、十) là thành số (成數) của âm dương. Trời sinh th́ đất thành, đất sinh th́ trời thành; cứ như vậy mà dùng tượng số để suy diễn, từ đó âm dương diễn dịch, ngũ hành bố hóa, muôn ngh́n khí tượng đều từ đó mà sinh ra.
Tính khả phân và tính thống nhất của âm dương (陰陽的可分性與統一性)
Nguyên văn (原文)
Hoàng Đế hỏi rằng: Ta nghe trời là dương, đất là âm; mặt trời là dương, mặt trăng là âm; tháng lớn tháng nhỏ cùng ba trăm sáu mươi ngày hợp thành một năm, con người cũng ứng theo như vậy. Nay lại nói tam âm tam dương (三陰三陽), mà không ứng trực tiếp với âm dương, nguyên do là v́ sao? Kỳ Bá đáp rằng: Âm dương giả, số chi khả thập, thôi chi khả bách, số chi khả thiên, thôi chi khả vạn, vạn chi đại, bất khả thắng số, nhiên kỳ yếu nhất dă: âm dương mà đem đếm th́ có thể thành mười, đem suy th́ có thể thành trăm, đem đếm th́ có thể thành ngh́n, đem suy th́ có thể thành vạn; lớn đến vạn th́ nhiều không thể kể xiết, nhưng chỗ cốt yếu của nó vẫn chỉ là một.
Thiên phúc địa tải, vạn vật phương sinh: trời che đất chở, vạn vật mới bắt đầu sinh ra; những ǵ chưa ra khỏi mặt đất th́ gọi là âm xứ (陰處), lại gọi là âm trung chi âm (陰中之陰); những ǵ đă ra khỏi mặt đất th́ gọi là âm trung chi dương (陰中之陽). Dương dữ chi chính, âm vi chi chủ: dương trao cho cái chính khí, âm làm chủ việc thành h́nh. Cho nên sinh là nhờ mùa xuân, trưởng là nhờ mùa hạ, thu là nhờ mùa thu, tàng là nhờ mùa đông; nếu mất đi cái thường ấy th́ trời đất sẽ tứ tắc (四塞): bế tắc cả bốn mặt. Sự biến hóa của âm dương, ứng vào con người cũng đều có thể đếm mà biết được. (《Tố Vấn. Âm Dương Ly Hợp Luận》)
Chú thích (注釋)
1. Thiên phúc địa tải, vạn vật phương sinh: chỉ rằng trong khoảng trời đất, phải có sự biến hóa âm dương của bốn mùa th́ mới có sự sinh, trưởng, thu, tàng của vạn vật.
2. Âm xứ (陰處): chỉ phần ở dưới mặt đất, c̣n chưa lộ ra khỏi mặt đất.
3. Dương dữ chi chính, âm vi chi chủ (陽予之正,陰為之主): sự sinh trưởng và thành h́nh của vạn vật đều phải nhờ tác dụng của khí âm dương; trong đó dương khí chủ phát sinh, âm khí chủ thành h́nh.
4. Tứ tắc (四塞): chỉ sự biến hóa sinh, trưởng, thu, tàng bị đ́nh chỉ, bế tắc.
Phân tích (解析)
Đoạn này chủ yếu bàn về hai vấn đề:
Một là, tŕnh bày rơ hơn tính khả phân (可分性) và tính thống nhất (統一性) của âm dương, chỉ ra rằng âm dương trong tự nhiên tuy thiên biến vạn hóa, nhưng chỗ cốt yếu vẫn chỉ nằm ở một âm một dương, từ đó làm phong phú thêm nội dung của 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》.
Hai là, làm sáng tỏ rằng âm dương ứng vào con người th́ có cơ sở vật chất nhất định, đồng thời nêu ra câu “dương dữ chi chính, âm vi chi chủ” (陽予之正,陰為之主), để chỉ ra tác dụng của hai khí âm dương đối với sự sinh trưởng và thành h́nh của vạn vật.
Âm dương, với tư cách là một phương pháp luận (方法論), cho rằng giữa hết thảy sự vật trong tự nhiên, cũng như trong nội bộ của mỗi sự vật, đều có thể trong những điều kiện nhất định mà phân thành hai mặt; hơn nữa, bất kỳ một mặt nào cũng c̣n có thể tiếp tục phân chia vô hạn như vậy, cho nên mới nói “số chi khả thập, thôi chi khả bách, số chi khả thiên, thôi chi khả vạn, vạn chi đại, bất khả thắng số”. Tuy sự phân chia của âm dương là vô hạn, nhưng tiêu chuẩn dùng để phân chia ấy, hay c̣n gọi là phương pháp cơ bản, th́ chỉ có một, tức là “tương phản tương thành, quyền hành thống nhất” (相反相成、權衡統一), cho nên mới nói “nhiên kỳ yếu nhất dă” (然其要一也). Âm dương, với tư cách là một phương pháp cơ bản để phân tích và nhận thức sự vật, có tính phổ biến, thích dụng cho mọi sự vật và hiện tượng, cho nên gọi là “bất khả thắng số” (不可勝數); nhưng khi đem vận dụng vào một sự vật cụ thể nào đó, v́ nó có cơ sở vật chất nhất định, cho nên lại là “số chi khả số” (數之可數): có thể đếm mà biết được.
Câu “dương dữ chi chính, âm vi chi chủ” (陽予之正,陰為之主) có nghĩa là sự sinh trưởng, suy vong của vạn vật đều do hai mặt âm dương cùng chuyển hóa mà thành, thiếu một cũng không được; nhưng vai tṛ của âm và dương trong đó là khác nhau. Dương chủ động, chủ tán, chủ thăng phát; âm chủ ngưng, chủ liễm, chủ thu tàng. Dương ban cho khí chất, âm làm cho thành h́nh. Thí dụ như sự biến hóa sinh, trưởng, thu, tàng của sinh vật trong một năm bốn mùa, đều là do khí hậu có sự thay đổi xuân ôn, hạ nhiệt, thu lương, đông hàn; mà sự biến hóa khí hậu của bốn mùa ấy lại là kết quả của sự tương tác giữa hai khí âm dương. Nếu sự biến hóa âm dương rối loạn, th́ sẽ dẫn đến sự đ́nh chỉ của quá tŕnh sinh, trưởng, hóa, thu, tàng của vạn vật.
Tham khảo kinh văn trích tuyển (參考經文擷萃)
“Thủy hỏa giả, âm dương chi trưng triệu dă; kim mộc giả, sinh thành chi chung thủy dă” (《Tố Vấn. Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận》): thủy và hỏa là dấu hiệu biểu hiện của âm dương; kim và mộc là đầu mối đầu cuối của quá tŕnh sinh thành.
“Âm dương chi văng phục, hàm số chương kỳ triệu” (《Tố Vấn. Khí Giao Biến Đại Luận》): sự qua lại tuần hoàn của âm dương đều hàm chứa quy luật số lư, và dấu hiệu của nó biểu hiện rơ rệt.
“Dương chi động, thủy ư ôn, thịnh ư thử; âm chi động, thủy ư thanh, thịnh ư hàn. Xuân hạ thu đông, các sai kỳ phân” (《Tố Vấn. Chí Chân Yếu Đại Luận》): sự vận động của dương bắt đầu từ ôn, cực thịnh ở thử; sự vận động của âm bắt đầu từ thanh lương, cực thịnh ở hàn. Xuân, hạ, thu, đông đều có phần vị và mức độ sai biệt riêng.
“Ngũ hành dĩ đông phương giáp ất mộc vượng xuân, xuân giả, thương sắc, chủ can, can giả, túc quyết âm dă. Kim năi dĩ giáp vi tả thủ chi thiếu dương, bất hợp ư số, hà dă? Kỳ Bá viết: thử thiên địa chi âm dương dă, phi tứ thời ngũ hành chi dĩ thứ hành dă. Thả phu âm dương giả, hữu danh nhi vô h́nh, cố số chi khả thập, thôi chi khả bách, số chi khả thiên, thôi chi khả vạn, thử chi vị dă” (《Linh Khu. Âm Dương Hệ Nhật Nguyệt》): ngũ hành lấy phương đông, giáp ất mộc vượng vào mùa xuân; xuân th́ ứng sắc xanh, chủ về can, can là túc quyết âm. Nay lại lấy giáp làm thiếu dương của tay trái, không hợp với số lư, là v́ sao? Kỳ Bá nói: đó là âm dương của trời đất, chứ không phải thứ tự vận hành của tứ thời ngũ hành. Hơn nữa, âm dương là có tên mà không có h́nh, cho nên đếm th́ có thể thành mười, suy ra có thể thành trăm, đếm th́ có thể thành ngh́n, suy ra có thể thành vạn, chính là nói về điều này.
“Phu âm dương giả, số chi khả thập, thôi chi khả bách, số chi khả thiên, thôi chi khả vạn. Thiên địa âm dương giả, bất dĩ số thôi, dĩ tượng chi vị dă” (《Tố Vấn. Ngũ Vận Hành Đại Luận》): âm dương th́ đếm có thể thành mười, suy có thể thành trăm, đếm có thể thành ngh́n, suy có thể thành vạn. C̣n âm dương của trời đất th́ không phải dùng số để suy, mà là dùng tượng để nói.
“Dương khí giả nhược thiên dữ nhật, thất kỳ sở, tắc chiết thọ nhi bất chương, cố thiên vận đương dĩ nhật quang minh” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): dương khí của con người giống như trời và mặt trời; nếu mất đi vị trí và tác dụng b́nh thường của nó th́ sẽ tổn giảm tuổi thọ mà công năng không thể hiển hiện, cho nên sự vận hành của trời phải lấy ánh sáng mặt trời làm chủ.
“Thiên vi dương, địa vi âm, nhật vi dương, nguyệt vi âm” (《Tố Vấn. Lục Tiết Tàng Tượng Luận》): trời là dương, đất là âm, mặt trời là dương, mặt trăng là âm.
“Dương giả chủ thượng, âm giả chủ hạ” (《Linh Khu. Khẩu Vấn》): dương chủ ở trên, âm chủ ở dưới.
“Sở vị âm dương giả, khứ giả vi âm, chí giả vi dương; tĩnh giả vi âm, động giả vi dương; tŕ giả vi âm, sác giả vi dương” (《Tố Vấn. Âm Dương Biệt Luận》): cái gọi là âm dương là: cái đi ra là âm, cái đi đến là dương; cái tĩnh là âm, cái động là dương; cái chậm là âm, cái nhanh là dương.
“Âm giả chủ tạng, dương giả chủ phủ, dương thụ khí ư tứ mạt, âm thụ khí ư ngũ tạng” (《Linh Khu. Chung Thủy》): âm chủ về tạng, dương chủ về phủ; dương nhận khí ở tứ mạt, âm nhận khí ở ngũ tạng.
“Dương trung hữu âm, âm trung hữu dương” (《Tố Vấn. Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận》): trong dương có âm, trong âm có dương.
“Âm giả, tàng tinh nhi khởi亟 dă, dương giả, vệ ngoại nhi vi cố dă” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): âm là tàng chứa tinh mà khởi phát tác dụng cấp ứng; dương là bảo vệ bên ngoài mà làm cho vững chắc.
“Chí âm hư, thiên khí tuyệt; chí dương thịnh, địa khí bất túc” (《Tố Vấn. Phương Thịnh Suy Luận》): âm cực mà hư th́ thiên khí bị tuyệt; dương cực mà thịnh th́ địa khí không đủ.
“Phàm âm dương chi yếu, dương mật năi cố, lưỡng giả bất ḥa, nhược xuân vô thu, nhược đông vô hạ, nhân nhi ḥa chi, thị vị thánh độ. Cố dương cường bất năng mật, âm khí năi tuyệt, âm b́nh dương bí, tinh thần năi trị, âm dương ly quyết, tinh khí năi tuyệt” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): điều cốt yếu của âm dương là dương phải kín chặt th́ mới vững bền; nếu hai bên không ḥa, th́ như xuân không có thu, như đông không có hạ; nhân đó mà điều ḥa chúng, đó gọi là phép độ của bậc thánh. Cho nên dương nếu quá cường mà không thể giữ kín th́ âm khí sẽ tuyệt; khi âm b́nh ḥa, dương được giữ kín th́ tinh thần mới yên ổn; nếu âm dương chia ĺa quyết tuyệt th́ tinh khí cũng tuyệt.
“Âm bất thắng kỳ dương, tắc mạch lưu bạc tật, tịnh năi cuồng. Dương bất thắng kỳ âm, tắc ngũ tạng khí tranh, cửu khiếu bất thông. Thị dĩ thánh nhân trần âm dương, cân mạch ḥa đồng, cốt tủy kiên cố, khí huyết giai ṭng. Như thị tắc nội ngoại điều ḥa, tà bất năng hại, nhĩ mục thông minh, khí lập như cố” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): nếu âm không thắng được dương của nó th́ mạch lưu hành gấp gáp, thịnh quá mà thành cuồng; nếu dương không thắng được âm của nó th́ khí của ngũ tạng tranh nhau, cửu khiếu không thông. V́ vậy bậc thánh nhân sắp đặt âm dương cho điều ḥa, khiến cân mạch ḥa hợp, cốt tủy kiên cố, khí huyết đều thuận theo. Được như vậy th́ trong ngoài điều ḥa, tà không thể làm hại, tai mắt sáng suốt, khí hóa đứng vững như thường.
“Thị cố đông chí tứ thập ngũ nhật, dương khí vi thượng, âm khí vi hạ; hạ chí tứ thập ngũ nhật, âm khí vi thượng, dương khí vi hạ” (《Tố Vấn. Mạch Yếu Tinh Vi Luận》): cho nên sau đông chí bốn mươi lăm ngày th́ dương khí hơi hướng lên, âm khí hơi hướng xuống; sau hạ chí bốn mươi lăm ngày th́ âm khí hơi hướng lên, dương khí hơi hướng xuống.
“Nhật trung nhi dương lũng vi trọng dương, dạ bán nhi âm lũng vi trọng âm. Cố thái âm chủ nội, thái dương chủ ngoại, các hành nhị thập ngũ độ, phân vi trú dạ. Dạ bán vi âm lũng, dạ bán hậu nhi vi âm suy, b́nh đán âm tận nhi dương thụ khí hĩ. Nhật trung nhi dương lũng, nhật tây nhi dương suy, nhật nhập dương tận nhi âm thụ khí hĩ. Dạ bán nhi đại hội, vạn dân giai ngọa, mệnh viết hợp âm, b́nh đán âm tận nhi dương thụ khí, như thị vô dĩ, dữ thiên địa đồng kỷ” (《Linh Khu. Doanh Vệ Sinh Hội》): giữa trưa mà dương cực thịnh th́ gọi là trọng dương; nửa đêm mà âm cực thịnh th́ gọi là trọng âm. V́ thế thái âm chủ ở trong, thái dương chủ ở ngoài; mỗi bên vận hành hai mươi lăm độ, chia thành ngày và đêm. Nửa đêm là lúc âm thịnh; sau nửa đêm th́ âm bắt đầu suy, đến lúc trời sáng th́ âm hết mà dương nhận khí. Giữa trưa là lúc dương thịnh; khi mặt trời xế tây th́ dương suy, khi mặt trời lặn th́ dương hết mà âm nhận khí. Nửa đêm là lúc đại hội, muôn dân đều nằm ngủ, gọi là hợp âm; đến sáng th́ âm hết mà dương nhận khí, cứ như thế không cùng, cùng chung kỷ cương với trời đất.
“Tứ thời chi biến, hàn thử chi thắng, trọng âm tất dương, trọng dương tất âm, cố âm chủ hàn, dương chủ nhiệt. Cố hàn thậm tắc nhiệt, nhiệt thậm tắc hàn. Cố viết: hàn sinh nhiệt, nhiệt sinh hàn, thử âm dương chi biến dă” (《Tố Vấn. Luận Tật Chẩn Xích》): sự biến hóa của bốn mùa, sự chế thắng của hàn thử, âm cực th́ tất chuyển dương, dương cực th́ tất chuyển âm; cho nên âm chủ hàn, dương chủ nhiệt. V́ vậy hàn quá mức th́ sinh nhiệt, nhiệt quá mức th́ sinh hàn. Cho nên nói: hàn sinh nhiệt, nhiệt sinh hàn, đó là sự biến hóa của âm dương.
“Thăng dĩ nhi giáng, giáng giả vị thiên; giáng dĩ nhi thăng, thăng giả vị địa. Thiên khí hạ giáng, khí lưu ư địa; địa khí thượng thăng, khí đằng ư thiên. Cố cao hạ tương triệu, thăng giáng tương nhân, nhi biến tác hĩ” (《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》): thăng lên rồi lại giáng xuống, cái giáng ấy gọi là trời; giáng xuống rồi lại thăng lên, cái thăng ấy gọi là đất. Thiên khí hạ xuống th́ khí chảy về đất; địa khí thăng lên th́ khí bốc lên trời. Cho nên trên dưới triệu gọi lẫn nhau, thăng giáng nương nhau mà sinh biến hóa.
“Cố dương khí giả, nhất nhật nhi chủ ngoại, b́nh đán nhân khí sinh, nhật trung nhi dương khí long, nhật tây nhi dương khí dĩ hư, khí môn năi bế. Thị cố mộ nhi thu cự, vô nhiễu cân cốt, vô kiến vụ lộ, phản thử tam thời, h́nh năi khốn bạc” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): cho nên dương khí trong một ngày chủ về bên ngoài; lúc sáng sớm th́ nhân khí bắt đầu sinh, đến giữa trưa th́ dương khí hưng thịnh, khi mặt trời xế tây th́ dương khí đă hư, khí môn bèn đóng lại. V́ thế đến chiều tối th́ phải thu liễm, đừng làm rối động gân xương, đừng để gặp sương móc; nếu trái với ba thời điểm ấy th́ h́nh thể sẽ suy mỏng, mệt mỏi.
“Âm chi sở sinh, ḥa bản ư dương ḥa. Thị cố cương dữ cương, dương khí phá tán, âm khí năi tiêu vong. Nhu dữ cương bất ḥa, kinh khí năi tuyệt” (《Tố Vấn. Âm Dương Biệt Luận》): cái mà âm được sinh ra vốn lấy sự ḥa hợp làm gốc. V́ vậy, cương gặp cương th́ dương khí phá tán, âm khí cũng tiêu vong; nếu cương nhu bất ḥa th́ kinh khí sẽ tuyệt.
“Dụng âm ḥa dương, dụng dương ḥa âm” (《Linh Khu. Ngũ Sắc》): dùng âm để điều ḥa dương, dùng dương để điều ḥa âm.
“Âm dương dĩ trương, nhân tức năi hành, hành hữu kinh kỷ, chu hữu đạo lư, dữ thiên hợp đồng, bất đắc hưu chỉ” (《Linh Khu. Ung Thư》): âm dương đă giăn mở phân bố, nhờ sự hô hấp mà vận hành; sự vận hành ấy có kỷ cương, sự tuần hoàn ấy có đạo lư, phù hợp với trời, không thể ngừng nghỉ.
“Hoàng Đế vấn viết: hợp nhân h́nh dĩ pháp tứ thời ngũ hành nhi trị, hà như nhi ṭng, hà như nhi nghịch, đắc thất chi ư, nguyện văn kỳ sự. Kỳ Bá đối viết: ngũ hành giả, kim mộc thủy hỏa thổ dă, cánh quư cánh tiện, dĩ tri tử sinh, dĩ quyết thành bại, nhi định ngũ tạng chi khí, gian thậm chi thời, tử sinh chi kỳ dă” (《Tố Vấn. Tạng Khí Pháp Thời Luận》): Hoàng Đế hỏi rằng, kết hợp h́nh thể con người với phép của tứ thời ngũ hành mà trị, thế nào là thuận, thế nào là nghịch, ư nghĩa được mất ra sao, xin được nghe rơ. Kỳ Bá đáp rằng: ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; thay nhau có lúc cao lúc thấp, nhờ đó mà biết được sống chết, quyết định được thành bại, định được khí của ngũ tạng, thời gian bệnh nặng nhẹ, và kỳ hạn tử sinh.
“Mộc viết phu ḥa, hỏa viết thăng minh, thổ viết bị hóa, kim viết thẩm b́nh, thủy viết tĩnh thuận. Đế viết: kỳ bất cập nại hà? Kỳ Bá viết: mộc viết ủy ḥa, hỏa viết phục minh, thổ viết ti giám, kim viết ṭng cách, thủy viết hác lưu. Đế viết: thái quá hà vị? Kỳ Bá viết: mộc viết phát sinh, hỏa viết hách hy, thổ viết đôn phụ, kim viết kiên thành, thủy viết lưu diễn” (《Tố Vấn. Ngũ Thường Chính Đại Luận》): mộc th́ gọi là phu ḥa, hỏa gọi là thăng minh, thổ gọi là bị hóa, kim gọi là thẩm b́nh, thủy gọi là tĩnh thuận. Hoàng Đế hỏi: nếu bất cập th́ thế nào? Kỳ Bá đáp: mộc gọi là ủy ḥa, hỏa gọi là phục minh, thổ gọi là ti giám, kim gọi là ṭng cách, thủy gọi là hác lưu. Hoàng Đế lại hỏi: thái quá th́ gọi là ǵ? Kỳ Bá đáp: mộc gọi là phát sinh, hỏa gọi là hách hy, thổ gọi là đôn phụ, kim gọi là kiên thành, thủy gọi là lưu diễn. Ư nói ngũ hành khi b́nh thường, bất cập hay thái quá đều có trạng thái biểu hiện khác nhau.
“Tiên lập ngũ h́nh kim mộc thủy hỏa thổ, biệt kỳ ngũ sắc, dị kỳ ngũ h́nh chi nhân, nhi nhị thập ngũ nhân cụ hĩ” (《Linh Khu. Âm Dương Nhị Thập Ngũ Nhân》): trước hết lập ra ngũ h́nh kim mộc thủy hỏa thổ, phân biệt ngũ sắc của chúng, phân rơ những người thuộc ngũ h́nh khác nhau, th́ đủ thành hai mươi lăm loại người.
“Can vi mẫu tạng, kỳ sắc thanh, kỳ thời xuân, kỳ âm giác, kỳ vị toan, kỳ nhật giáp ất. Tâm vi mẫu tạng, kỳ sắc xích, kỳ thời hạ, kỳ nhật bính đinh, kỳ âm chủy, kỳ vị khổ. Tỳ vi tẫn tạng, kỳ sắc hoàng, kỳ thời trường hạ, kỳ nhật mậu kỷ, kỳ âm cung, kỳ vị cam. Phế vi tẫn tạng, kỳ sắc bạch, kỳ âm thương, kỳ thời thu, kỳ nhật canh tân, kỳ vị tân. Thận vi tẫn tạng, kỳ sắc hắc, kỳ thời đông, kỳ nhật nhâm quư, kỳ âm vũ, kỳ vị hàm, thị vi ngũ biến” (《Linh Khu. Thuận Khí Nhất Nhật Phân Vi Tứ Thời》): can là mẫu tạng, sắc xanh, ứng mùa xuân, âm giác, vị chua, ngày giáp ất; tâm là mẫu tạng, sắc đỏ, ứng mùa hạ, ngày bính đinh, âm chủy, vị đắng; tỳ là tẫn tạng, sắc vàng, ứng trường hạ, ngày mậu kỷ, âm cung, vị ngọt; phế là tẫn tạng, sắc trắng, âm thương, ứng mùa thu, ngày canh tân, vị cay; thận là tẫn tạng, sắc đen, ứng mùa đông, ngày nhâm quư, âm vũ, vị mặn; đó gọi là ngũ biến.
“Thượng chủy dữ hữu chủy đồng, cốc mạch, súc dương, quả hạnh. Thủ thiếu âm tạng tâm, sắc xích, vị khổ, thời hạ. Thượng vũ dữ thái vũ đồng, cốc đại đậu, súc trệ, quả lật. Túc thiếu âm tạng thận, sắc hắc, vị hàm, thời đông. Thượng cung dữ thái cung đồng, cốc tắc, súc ngưu, quả táo. Túc thái âm tạng tỳ, sắc hoàng, vị cam, thời quư hạ. Thượng thương dữ hữu thương đồng, cốc thử, súc kê, quả đào. Thủ thái âm tạng phế, sắc bạch vị tân, thời thu. Thượng giác dữ thái giác đồng, cốc ma, súc khuyển, quả lư. Túc quyết âm tạng can, sắc thanh, vị toan, thời xuân” (《Linh Khu. Ngũ Âm Ngũ Vị》): thượng chủy cùng với hữu chủy là một, ứng với mạch, dê, quả hạnh; thủ thiếu âm tạng tâm, sắc đỏ, vị đắng, ứng mùa hạ. Thượng vũ cùng với thái vũ là một, ứng với đậu lớn, lợn, quả dẻ; túc thiếu âm tạng thận, sắc đen, vị mặn, ứng mùa đông. Thượng cung cùng với thái cung là một, ứng với kê, trâu, quả táo; túc thái âm tạng tỳ, sắc vàng, vị ngọt, ứng mùa quư hạ. Thượng thương cùng với hữu thương là một, ứng với thử, gà, quả đào; thủ thái âm tạng phế, sắc trắng, vị cay, ứng mùa thu. Thượng giác cùng với thái giác là một, ứng với mè, chó, quả mận; túc quyết âm tạng can, sắc xanh, vị chua, ứng mùa xuân.
“Sắc vị đương ngũ tạng: bạch đương phế, tân; xích đương tâm, khổ; thanh đương can, toan; hoàng đương tỳ, cam; hắc đương thận, hàm. Cố bạch đương b́, xích đương mạch, thanh đương cân, hoàng đương nhục, hắc đương cốt” (《Tố Vấn. Ngũ Tạng Sinh Thành》): sắc và vị đều tương ứng với ngũ tạng: trắng ứng với phế, cay; đỏ ứng với tâm, đắng; xanh ứng với can, chua; vàng ứng với tỳ, ngọt; đen ứng với thận, mặn. Cho nên trắng ứng với da, đỏ ứng với mạch, xanh ứng với cân, vàng ứng với nhục, đen ứng với cốt.
“Nhân sinh hữu h́nh, bất ly âm dương, thiên địa hợp khí, biệt vi cửu dă, phân vi tứ thời, nguyệt hữu tiểu đại, nhật hữu đoản trường, vạn vật tịnh chí, bất khả thắng lượng, hư thực khứ ngâm, cảm vấn kỳ phương. Kỳ Bá viết: mộc đắc kim nhi phạt, hỏa đắc thủy nhi diệt, thổ đắc mộc nhi đạt, kim đắc hỏa nhi khuyết, thủy đắc thổ nhi tuyệt, vạn vật tận nhiên, bất khả thắng kiệt” (《Tố Vấn. Bảo Mệnh Toàn H́nh Luận》): con người có h́nh thể th́ không rời âm dương; trời đất hợp khí mà phân thành cửu dă, chia ra tứ thời; trăng có tháng lớn tháng nhỏ, ngày có dài ngắn; vạn vật cùng đến, nhiều không thể lường; hư thực khứ ngâm, xin hỏi cái phương lư của nó. Kỳ Bá nói: mộc gặp kim th́ bị chặt, hỏa gặp thủy th́ bị dập tắt, thổ gặp mộc th́ bị khắc chế, kim gặp hỏa th́ bị thiếu khuyết, thủy gặp thổ th́ bị ngăn tuyệt; muôn vật đều như vậy, không thể kể hết.
“Khí hữu dư, tắc chế kỷ sở thắng nhi vũ sở bất thắng; kỳ bất cập, tắc kỷ sở bất thắng vũ nhi thừa chi, kỷ sở thắng khinh nhi vũ chi” (《Tố Vấn. Ngũ Vận Hành Đại Luận》): khí nếu có dư th́ không những chế cái ḿnh thắng mà c̣n khinh侮 cái ḿnh vốn không thắng; nếu bất cập th́ cái ḿnh không thắng sẽ khinh侮 và thừa lấn lên ḿnh, c̣n cái ḿnh thắng cũng xem nhẹ mà phản侮 lại ḿnh.
“Xuân thắng trưởng hạ, trưởng hạ thắng đông, đông thắng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân, sở vị đắc ngũ hành thời chi thắng...... vị chí nhi chí, thử vị thái quá, tắc bạc sở bất thắng, nhi thừa sở thắng dă, mệnh viết khí dâm. Bất phân tà tịch nội sinh, công bất năng cấm. Chí nhi bất chí, thử vị bất cập, tắc sở thắng vọng hành, nhi sở sinh thụ bệnh, sở bất thắng bạc chi dă, mệnh viết khí bách” (《Tố Vấn. Lục Tiết Tàng Tượng Luận》): xuân thắng trưởng hạ, trưởng hạ thắng đông, đông thắng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân, đó là cái gọi là sự chế thắng theo thời của ngũ hành...... chưa đến mà đă đến, gọi là thái quá, th́ sẽ xâm lấn cái ḿnh không thắng và lấn ép cái ḿnh thắng, gọi là khí dâm. Tà lệch bên trong sinh ra, người thầy thuốc không thể ngăn được. Đến lúc nên đến mà lại không đến, gọi là bất cập, th́ cái ḿnh thắng sẽ vọng hành, cái ḿnh sinh ra sẽ thụ bệnh, cái ḿnh không thắng sẽ xâm lấn ḿnh, gọi là khí bách.
“Kháng tắc hại, thừa năi chế, chế tắc sinh hóa, ngoại liệt thịnh suy, hại tắc bại loạn, sinh hóa đại bệnh” (《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》): thái quá cang thịnh th́ gây hại, có cái tiếp nhận chế ước th́ mới điều phục được; có chế ước th́ mới có sinh hóa, bên ngoài mới phân rơ thịnh suy; nếu thành hại th́ sẽ rối loạn bại hoại, mà sinh ra đại bệnh của quá tŕnh sinh hóa.
“Tương hỏa chi hạ, thủy khí thừa chi; thủy vị chi hạ, thổ khí thừa chi; thổ vị chi hạ, phong khí thừa chi; phong vị chi hạ, kim khí thừa chi; kim vị chi hạ, hỏa khí thừa chi; quân hỏa chi hạ, âm tinh thừa chi” (《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》): dưới tương hỏa th́ có thủy khí tiếp ứng; dưới thủy vị th́ có thổ khí tiếp ứng; dưới thổ vị th́ có phong khí tiếp ứng; dưới phong vị th́ có kim khí tiếp ứng; dưới kim vị th́ có hỏa khí tiếp ứng; dưới quân hỏa th́ có âm tinh tiếp ứng.
“Ngũ hành hữu tự, tứ thời hữu phân, tương thuận tắc trị, tương nghịch tắc loạn” (《Linh Khu. Ngũ Loạn》): ngũ hành có thứ tự, tứ thời có phân biệt; thuận theo nhau th́ yên ổn, trái nghịch nhau th́ rối loạn.

Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-04-12 01:32:45
BÀI GIẢNG THỨ TƯ HỌC THUYẾT TÀNG TƯỢNG
Giải nghĩa đại ư học thuật
Khái yếu của học thuyết tàng tượng xin xem phần giới thiệu có liên quan trong Bài giảng thứ nhất, mục “Nội dung chủ yếu của hệ thống lư luận Hoàng Đế Nội Kinh”.
Hạt nhân của học thuyết tàng tượng trong Nội Kinh, khái quát lại chủ yếu có năm phương diện. 1. Hoạt động sinh lư của tạng phủ lấy khí, tinh, huyết, tân, dịch làm cơ sở và động lực, lấy thần làm chủ thể điều khiển; tạng phủ, kinh lạc, tứ chi, bách hài là nơi chốn để các vật chất cơ sở của sinh mệnh thăng giáng xuất nhập. Thông qua việc nghiên cứu các hiện tượng hoạt động của khí huyết tân dịch trong tổ chức tạng phủ dưới sự điều khiển của thần mà nắm được quy luật cơ bản của chúng.
2. Dưới sự chỉ đạo của quan điểm thiên nhân nhất thể, nghiên cứu quy luật liên hệ giữa hoạt động sinh mệnh của tổ chức tạng phủ với hoàn cảnh bên ngoài.
3. Lấy lư luận âm dương ngũ hành làm công cụ để làm sáng tỏ quy luật của hệ thống ngũ tạng.
4. Trên cơ sở giải phẫu đại thể, thông qua các phương pháp như “tư ngoại sủy nội” và “thủ loại tỷ tượng” để quan sát, nhận thức và nắm bắt quy luật hoạt động sinh mệnh của tổ chức tạng phủ. “Tư ngoại sủy nội”: Xét cái biểu hiện bên ngoài để suy đoán cái biến hóa bên trong. Đây là một phương pháp nhận thức rất quan trọng của Trung y, tức từ dấu hiệu bên ngoài mà suy biết t́nh h́nh nội tạng. “Thủ loại tỷ tượng”:Lấy vật cùng loại để so sánh h́nh tượng. Nghĩa là dùng phương pháp loại suy, đối chiếu tương đồng để nhận thức công năng và quy luật của cơ thể.
5. Cơ thể người lấy ngũ tạng làm trung tâm, thông qua kinh lạc liên hệ với lục phủ, chi tiết, cân cốt, b́ nhục, quan khiếu v.v., h́nh thành năm hệ thống sinh lư lớn là can, tâm, tỳ, phế, thận. Nội Kinh nhấn mạnh vai tṛ chủ tể của tâm thần, nêu ra quan điểm “chủ minh tắc hạ an, chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy”. Ngoài ra, Nội Kinh c̣n có luận điểm “thập nhất tạng thủ quyết ư đởm”, đối với điều này, cách giải thích của Lư Đông Viên đời sau là khá thích đáng, ông chỉ ra rằng: “Đởm giả, Thiếu dương xuân sinh chi khí, xuân khí sinh tắc vạn hóa an, cố đởm khí xuân sinh, dư tạng ṭng chi.”
“Chủ minh tắc hạ an, chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy”:
Nếu vị chủ tể sáng suốt th́ bên dưới đều yên ổn, nếu vị chủ tể không sáng th́ mười hai quan đều nguy. “Chủ” ở đây chủ yếu chỉ tâm, ư nói tâm thần giữ vai tṛ thống lĩnh toàn thân.
“Thập nhất tạng thủ quyết ư đởm”:
Mười một tạng đều phải nhờ đởm mà quyết định. Ư nói khí của đởm có vai tṛ rất quan trọng trong sự phát động và điều ḥa công năng của các tạng phủ khác.
“Đởm giả, Thiếu dương xuân sinh chi khí, xuân khí sinh tắc vạn hóa an, cố đởm khí xuân sinh, dư tạng ṭng chi.”:
Đởm là khí Thiếu dương sinh phát vào mùa xuân; khí xuân mà sinh th́ muôn sự biến hóa đều yên ổn, v́ vậy khí của đởm mang tính sinh phát mùa xuân, các tạng khác đều theo đó mà vận hành. Câu này nhấn mạnh tác dụng phát động, sơ đạt của đởm khí.
Linh Khu, thiên Bản Tạng chỉ ra rằng huyết, khí và tinh thần là vật chất và động lực dùng để phụng dưỡng và duy tŕ hoạt động sinh mệnh. Linh Khu, thiên Quyết Khí chỉ ra rằng những vật chất cơ bản cấu thành cơ thể và duy tŕ hoạt động sinh mệnh là tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch; sáu thứ này gọi là “lục khí”, đều do vật chất bản nguyên của sinh mệnh là khí hóa sinh mà thành, cho nên mới có thuyết “một khí mà biện thành sáu tên gọi”. Sự vận động biến hóa của lục khí đều có bộ vị chủ quản và nơi tàng chứa riêng của nó, tức là “lục khí giả, các hữu bộ chủ”. Lục khí đều có tính chất và công năng riêng; quan hệ giữa khí, tinh, tân, dịch, huyết, mạch là một chỉnh thể vừa hóa sinh lẫn nhau vừa kết hợp hữu cơ với nhau. Thần là do lục khí hóa sinh, đồng thời là dấu hiệu biểu hiện hoạt động công năng của khí, lại c̣n có tác dụng điều nhiếp đối với lục khí.
“Biện vi lục danh”: Phân biệt thành sáu tên gọi. Ư nói tuy đều từ một khí mà ra, nhưng theo công năng và h́nh thái biểu hiện khác nhau nên gọi thành sáu tên.
“Lục khí giả, các hữu bộ chủ”: Sáu khí mỗi thứ đều có bộ vị và phần chủ quản riêng. Câu này chỉ ra rằng các dạng vật chất - công năng của sinh mệnh đều có sở thuộc và chức trách khác nhau.
Nội Kinh cho rằng nguồn gốc của khí trong cơ thể người có hai. Thứ nhất là do bẩm thụ chân khí tiên thiên, tức như trong Linh Khu, thiên Thích Tiết Chân Tà nói: “Chân khí giả, sở thụ ư thiên.” Thứ hai là đến từ hậu thiên. Nguồn khí hậu thiên lại chia làm hai: một là thanh khí của tự nhiên giới, được nói trong câu “ngũ khí nhập tỵ (mũi), tàng ư tâm phế”; hai là khí tinh vi của thủy cốc, được nói trong câu “nhân chi sở dĩ thụ khí giả, cốc dă”. Cái gọi là: “Thiên thực nhân dĩ ngũ khí, địa thực nhân dĩ ngũ vị.” Ngũ khí của trời thuộc dương, ngũ vị của đất thuộc âm; cơ thể con người nhờ được khí âm dương của ngũ khí ngũ vị nuôi dưỡng mà phát sinh công năng trong hoạt động sinh mệnh. Loại công năng hoạt động sinh mệnh này, ở tạng phủ th́ gọi là khí của tạng phủ, ở kinh lạc th́ gọi là khí của kinh lạc, từ đó phân hóa thành nhiều tên gọi khác nhau như chân khí, kinh khí, tông khí, dinh khí, vệ khí v.v. Các loại khí trong cơ thể người vận động không ngừng nghỉ, như nước chảy, như mặt trời mặt trăng vận hành, mỗi loại đều có đặc tính công năng và quy luật riêng.

“Chân khí giả, sở thụ ư thiên”: Chân khí là cái thụ nhận từ trời. Ư nói phần khí căn bản nhất của con người có nguồn gốc tiên thiên.

“Ngũ khí nhập tỵ, tàng ư tâm phế”: Năm thứ khí đi vào mũi rồi tàng ở tâm phế. Đây là nói đến thanh khí từ tự nhiên được hô hấp thu nạp. “Nhân chi sở dĩ thụ khí giả, cốc dă”: Cái mà con người nhờ đó tiếp nhận khí, chính là cốc thực. Ư nói thủy cốc là nguồn quan trọng để hóa sinh hậu thiên chi khí.

“Thiên thực nhân dĩ ngũ khí, địa thực nhân dĩ ngũ vị.”

Trời nuôi người bằng ngũ khí, đất nuôi người bằng ngũ vị. Câu này nói rơ con người tiếp nhận dưỡng chất vừa từ khí trời vừa từ thức ăn của đất.

Tinh là vật chất căn bản cấu thành và duy tŕ hoạt động sinh mệnh. “Tinh” trong Nội Kinh cũng có nhiều tầng phân hóa và chỉ nghĩa khác nhau. Cái tinh trong câu “tinh giả, thân chi bản dă” là chỉ thứ tinh “thường tiên thân sinh” và sinh thực chi tinh được phong tàng trong thận, thường gọi là tiên thiên chi tinh. C̣n cái tinh hay tinh khí trong các câu như “hô hấp tinh khí”, “thực khí nhập vị, tán tinh ư hành”, “dâm tinh ư mạch”, “ẩm nhập ư vị, du dật tinh khí”, “dinh vệ giả, tinh khí dă” th́ là chỉ chung vật chất tinh vi, thường được gọi là hậu thiên chi tinh. Cái tinh trong câu “thận giả chủ thủy, thụ ngũ tạng lục phủ chi tinh nhi tàng chi” là chỉ tinh khí của tạng phủ. “Lưỡng tinh tương bác vị chi thần” th́ “lưỡng tinh” là chỉ tinh khí âm dương có thuộc tính khác nhau. “Hăn giả, tinh khí dă” là chỉ mồ hôi do thủy cốc tinh vi hóa thành. C̣n “âm dương ly quyết, tinh khí năi tuyệt” th́ tinh khí ở đây là chỉ chung tinh, huyết, tân, dịch và khí của cơ thể người. Nói khái quát, theo nghĩa rộng th́ tinh bao gồm tinh, huyết, tân, dịch, là vật chất và động lực cơ bản của hoạt động sinh mệnh; c̣n theo nghĩa hẹp th́ tinh là thận tinh. Tiên thiên chi tinh hay thận tinh chính là nền tảng và nguyên động lực của hậu thiên chi tinh hoặc tinh của các tạng phủ khác.
“Tinh giả, thân chi bản dă”: Tinh là gốc của thân thể. Ư nói tinh là vật chất nền tảng nhất của cơ thể người.
“Thường tiên thân sinh”: Thường sinh ra trước thân thể. Câu này nhấn mạnh rằng tinh có trước h́nh thể, là cơ sở để h́nh thể được tạo thành.
“Hô hấp tinh khí”: Hô hấp tinh khí. Chỉ việc thông qua hô hấp mà tiếp nhận phần khí tinh vi.
“Thực khí nhập vị, tán tinh ư hành”: Khí của thức ăn vào dạ dày rồi tán tinh đi khắp nơi. Nói lên quá tŕnh vận hóa thủy cốc tinh vi.
“Dâm tinh ư mạch”: Tinh tràn vào mạch. Ư nói phần tinh vi vận hành nhập vào hệ mạch.
“Ẩm nhập ư vị, du dật tinh khí”: Nước uống vào vị, rồi tinh khí lan tràn khắp nơi. Chỉ sự hóa sinh và phân bố dịch thể tinh vi.
“Dinh vệ giả, tinh khí dă”: Dinh khí và vệ khí đều là tinh khí. Ư nói hai loại khí này đều do phần tinh vi hóa sinh.
“Thận giả chủ thủy, thụ ngũ tạng lục phủ chi tinh nhi tàng chi”: Thận chủ thủy, tiếp nhận tinh của ngũ tạng lục phủ mà tàng giữ. Đây là luận điểm trọng yếu về vai tṛ tàng tinh của thận.
“Lưỡng tinh tương bác vị chi thần”: Hai tinh giao cảm, va chạm với nhau th́ gọi là thần. Câu này nhấn mạnh thần phát sinh từ sự giao hội của tinh khí âm dương.
“Hăn giả, tinh khí dă”: Mồ hôi là tinh khí. Tức mồ hôi không phải vật vô dụng, mà có nguồn gốc từ phần tinh vi của cơ thể.
“Âm dương ly quyết, tinh khí năi tuyệt”: Âm dương chia ĺa, th́ tinh khí cũng đoạn tuyệt. Đây là mô tả trạng thái sinh mệnh kết thúc.
Công năng chủ yếu của tinh có ba phương diện. :1. Chủ sinh thực và sinh trưởng phát dục, tức như Linh Khu, thiên Kinh Mạch nói “nhân thủy sinh, tiên thành tinh”, và như Tố Vấn, thiên Thượng Cổ Thiên Chân Luận bàn về quy luật sinh trưởng, cường tráng và già yếu của nữ theo bảy, nam theo tám.
“Nhân thủy sinh, tiên thành tinh”: Con người lúc mới bắt đầu sinh ra th́ trước hết thành tinh. Câu này nhấn mạnh vai tṛ khởi nguyên của tinh trong sinh mệnh. 2. Sinh ra năo tủy, là cơ sở vật chất của tư tưởng và ư thức, tức như các câu “phù tâm giả, ngũ tạng chi chuyên tinh dă”, “ngũ tạng giả, sở dĩ tàng tinh thần huyết khí hồn phách giả dă”, “ngũ tạng lục phủ chi tinh khí… thượng thuộc ư năo”.
“Phù tâm giả, ngũ tạng chi chuyên tinh dă”: Tâm là chỗ tinh chuyên của ngũ tạng. Ư nói tinh hoa của các tạng đều quy về tâm.
“Ngũ tạng giả, sở dĩ tàng tinh thần huyết khí hồn phách giả dă”: Ngũ tạng là nơi tàng chứa tinh thần, huyết khí, hồn phách. Câu này cho thấy công năng tàng giữ và điều phối của ngũ tạng đối với hoạt động sinh mệnh.
“Ngũ tạng lục phủ chi tinh khí… thượng thuộc ư năo”: Tinh khí của ngũ tạng lục phủ… ở trên quy thuộc về năo. Nói rơ năo được nuôi dưỡng bởi tinh khí của toàn thân. 3. Hóa sinh nguyên khí, tức Tố Vấn, thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận sau khi khẳng định khí có thể sinh tinh, sinh h́nh, lại c̣n khẳng định “tinh hóa vi khí”.
“Tinh hóa vi khí”: Tinh có thể hóa thành khí. Đây là nói về sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các vật chất cơ bản của sinh mệnh.
Huyết, tức là máu lưu hành trong mạch đạo, là vật chất quan trọng cấu thành h́nh thể và duy tŕ hoạt động sinh mệnh. Trong quá tŕnh phát dục bào thai, huyết do tinh khí hóa sinh, tức như Linh Khu, thiên Thiên Niên nói “huyết khí ḥa nhi hậu thành nhân”. Sau khi sinh ra, huyết chủ yếu do thủy cốc tinh vi sau khi được trung tiêu tỳ vị vận hóa mà hóa sinh, như câu “trung tiêu thụ khí thủ trấp, biến hóa nhi xích, thị vị huyết”. Dinh khí và tân dịch do thủy cốc tinh vi hóa sinh, sau khi thấm nhập vào huyết mạch, cũng đều có thể chuyển hóa thành huyết, như “dinh khí giả, bí kỳ tân dịch, chú chi ư mạch, hóa dĩ vi huyết”, “tân dịch ḥa điều, biến hóa nhi xích vi huyết”. Hoàng Đế Nội Kinh cho rằng “tâm sinh huyết”; tâm dương có thể thúc đẩy sự hóa sinh và vận hành của huyết dịch, có công năng sinh dưỡng và vận hành huyết mạch.
“Trung tiêu thụ khí thủ trấp, biến hóa nhi xích, thị vị huyết”: Trung tiêu tiếp nhận khí, lấy lấy dịch trấp (汁), biến hóa thành đỏ, đó gọi là huyết. Câu này giải thích nguồn gốc hậu thiên của huyết.
“Dinh khí giả, bí kỳ tân dịch, chú chi ư mạch, hóa dĩ vi huyết”: Dinh khí làm cho tân dịch thấm vào mạch, rồi hóa thành huyết. Đây là nói đến quá tŕnh hóa huyết từ dinh khí và tân dịch.
“Tân dịch ḥa điều, biến hóa nhi xích vi huyết”: Tân dịch điều ḥa th́ biến thành màu đỏ mà thành huyết. Câu này nhấn mạnh mối liên hệ giữa tân dịch và huyết.
“Tâm sinh huyết”: Tâm sinh huyết. Ư nói tâm dương thúc đẩy sự hóa sinh và vận hành của huyết.
Công năng sinh lư của huyết có ba.: 1. Nuôi dưỡng toàn thân. Những câu như “ḥa điều ư ngũ tạng, sái trần ư lục phủ”, “huyết ḥa tắc kinh mạch lưu thông, dinh phục âm dương, cân cốt ḱnh cường, quan tiết thanh lợi”, “can thụ huyết nhi năng thị, túc thụ huyết nhi năng bộ, chưởng thụ huyết nhi năng ác, chỉ thụ huyết nhi năng nhiếp” đều cho thấy tạng phủ, h́nh thể, quan khiếu đều phải nhờ huyết nhu dưỡng th́ mới phát huy công năng.
“Ḥa điều ư ngũ tạng, sái trần ư lục phủ”: Điều ḥa ở ngũ tạng, phân bố bày ra ở lục phủ. Chỉ công năng huyết đi khắp toàn thân để nuôi dưỡng tạng phủ.
“Huyết ḥa tắc kinh mạch lưu thông, dinh phục âm dương, cân cốt ḱnh cường, quan tiết thanh lợi”: Huyết điều ḥa th́ kinh mạch lưu thông, có thể nuôi phục âm dương, khiến gân xương khỏe mạnh, khớp xương linh hoạt. Câu này nêu công năng dinh dưỡng và bảo tŕ vận động của huyết.
“Can thụ huyết nhi năng thị, túc thụ huyết nhi năng bộ, chưởng thụ huyết nhi năng ác, chỉ thụ huyết nhi năng nhiếp”: Gan được huyết nuôi th́ mắt mới nh́n được, chân được huyết nuôi th́ mới đi được, bàn tay được huyết nuôi th́ mới nắm được, ngón tay được huyết nuôi th́ mới cầm giữ được. Câu này mô tả cụ thể công năng nhu dưỡng của huyết. 2. Tải khí. “Dinh vệ giả, tinh khí dă, huyết giả thần khí dă. Cố huyết chi dữ khí, dị danh đồng loại yên”, tức huyết thuộc âm mà có thể chở khí, khí thuộc dương mà có thể dẫn huyết, khí huyết nương dựa vào nhau mà tồn tại. “Tông khí tích ư hung trung… dĩ quán tâm mạch”, “huyết ḥa tắc kinh mạch lưu hành, dinh phục âm dương”. Khí thuộc dương, huyết thuộc âm; dương có công năng cổ động, ôn hóa; khí có thể thúc đẩy sự hóa sinh, vận hành và điều nhiếp của huyết; c̣n huyết lại là cơ sở vật chất của khí; huyết và khí nương tựa và hỗ dụng lẫn nhau mà tồn tại.
“Huyết giả thần khí dă”: Huyết là thần khí. Ư nói huyết không chỉ là vật chất hữu h́nh mà c̣n mang, chở và biểu hiện hoạt động sinh mệnh.
“Tông khí tích ư hung trung… dĩ quán tâm mạch”: Tông khí tụ ở trong ngực… để xuyên thông tâm mạch. Đây là nói lên vai tṛ của tông khí đối với tuần hoàn và hoạt động của tim mạch.
Xá thần. Thần nhờ được huyết chứa giữ mà phát huy công năng, như câu “huyết khí giả nhân chi thần”, “huyết giả, thần khí dă”.
“Huyết khí giả nhân chi thần”: Huyết khí chính là thần của con người. Câu này nhấn mạnh cơ sở vật chất của thần nằm ở huyết khí.
Tân dịch là danh xưng chung chỉ các dịch thể trong cơ thể, nguồn gốc chủ yếu là từ thủy cốc tinh vi. Tân và dịch cùng ra từ một nguồn, nhưng do tính chất thanh trọc, loăng đặc khác nhau, cho nên vị trí tồn tại và công năng cũng khác nhau. Tân th́ trong, loăng, có thể qua tam tiêu mà thăng giáng, phát việt, rồi phân tán ra các bộ vị thuộc dương, công năng là bổ dưỡng khắp thân thể. Dịch th́ đục hơn, chất đặc hơn, theo khí huyết vận hành mà nhu nhuận, thấm rót, công năng là thấm nhuần năo tủy và các không khiếu.
Công năng chung của cả hai chủ yếu có ba.: 1. Sung dưỡng và nhuận trạch. Cái gọi là “tân dịch bố dương, các tri kỳ thường, cố năng cửu trường”. Tân có thể “ôn trường nhục, sung b́ phu”; dịch có thể “quán tinh nhu không khiếu”, “nạo trạch chú ư cốt… bổ ích năo tủy, b́ phu nhuận trạch”.
“Tân dịch bố dương, các tri kỳ thường, cố năng cửu trường”: Tân dịch được phân bố lan ra, mỗi thứ đều đi theo quy luật thường của ḿnh, v́ vậy mới có thể giúp cơ thể tồn tại lâu dài. Câu này nhấn mạnh tác dụng duy tŕ sinh mệnh của tân dịch.
“Ôn thấu nhục, sung b́ phu”: Làm ấm phần thịt dưới da, làm đầy đủ b́ phu. Đây là công năng của tân dịch đối với cơ biểu.
“Quán tinh nhu không khiếu”: Tưới nhuần tinh vi vào các không khiếu. Nói lên tác dụng nhu dưỡng của dịch đối với các khiếu.
“Nạo trạch chú ư cốt… bổ ích năo tủy, b́ phu nhuận trạch”: Chất dịch thấm nhuần vào xương… bổ ích năo tủy, làm da dẻ nhuận trạch. Câu này mô tả công năng nuôi dưỡng sâu của dịch. 2. Hóa sinh tinh huyết, tức “tân dịch ḥa điều, biến hóa nhi xích vi huyết”.
Điều tiết công năng cơ thể. Tân dịch phân bố khắp toàn thân, thông qua hoạt động của tạng phủ mà hóa sinh thành hăn, tị, lệ, tiên, thóa, có tác dụng nhu nhuận và bảo hộ, tăng cường công năng của các tổ chức tương ứng và khả năng chống đỡ kích thích từ bên ngoài. Chẳng hạn mắt là “thượng dịch chi đạo”, “liêm tuyền ngọc anh giả, tân dịch chi đạo dă”, “âm tinh chi hầu, tân dịch chi đạo dă”, “thiên thử y hậu tắc thấu lư khai, cố hăn xuất… thiên hàn tắc thấu lư bế… tắc vi nịch dữ khí”, “bàng quang giả… tân dịch tàng yên, khí hóa tắc năng xuất hĩ”, “hăn xuất tần tần, thị vị tân”.
“Thượng dịch chi đạo” :Đường đi của dịch lên trên. Dùng để chỉ mắt là nơi tân dịch biểu hiện và thông đạt.
“Liêm tuyền ngọc anh giả, tân dịch chi đạo dă”: Liêm tuyền và ngọc anh là đường đi của tân dịch. Đây là nói đến thông lộ của tân dịch ở vùng miệng lưỡi họng.
“Âm tinh chi hậu, tân dịch chi đạo dă”: Dấu hiệu của âm tinh là đường đi của tân dịch. Ư nói t́nh trạng tân dịch phản ánh phần nào t́nh trạng âm tinh.
“Bàng quang giả… tân dịch tàng yên, khí hóa tắc năng xuất hĩ”: Bàng quang là nơi tân dịch tàng chứa, khí hóa th́ mới có thể bài xuất được. Câu này nêu vai tṛ của bàng quang và khí hóa trong bài tiết thủy dịch.
“Hăn xuất tần tần, thị vị tân”: Mồ hôi rịn ra đều đều, đó gọi là tân. Đây là một cách biểu hiện tân ở ngoài cơ thể.
“Thần” trong Hoàng Đế Nội Kinh có thể khái quát thành ba mặt.
Là đầu mối phát sinh của vạn vật, là sự hiển lộ ra ngoài của sinh hóa. Tức như Tố Vấn, thiên Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận nói:
“Vật sinh vị chi hóa, vật cực vị chi biến, âm dương bất trắc vị chi thần.”: Vật mới sinh th́ gọi là hóa, vật phát triển đến cực điểm th́ gọi là biến, âm dương biến hóa không thể ḍ lường th́ gọi là thần. Câu này cho thấy “thần” trước hết là chỉ tính huyền diệu khó lường của sự sinh hóa.
Là biểu hiện tập trung của hoạt động sinh mệnh, tức là công năng và trạng thái tinh thần của cơ thể người. Tức như những câu “đắc thần giả xương, thất thần giả vong”, “hợp h́nh dữ khí, sử thần nội tàng”.
“Đắc thần giả xương, thất thần giả vong”: Ai c̣n được thần th́ hưng vượng, ai mất thần th́ suy vong. Đây là câu rất quan trọng trong chẩn đoán và tiên lượng của Trung y.
“Hợp h́nh dữ khí, sử thần nội tàng”: Làm cho h́nh và khí hợp nhau, khiến thần được tàng giữ bên trong. Câu này nêu ra trạng thái sinh lư lư tưởng của thân - khí - thần.
Là hoạt động tinh thần, tư duy và ư thức. Tức như Tố Vấn, thiên Bản Bệnh Luận nói:
“Thần du thượng đan điền, tại Đế Thái Nhất Đế Quân Nê Hoàn Cung hạ.”: Thần du ở thượng đan điền, tại dưới Nê Hoàn Cung của Đế Thái Nhất Đế Quân. Đây là cách nói mang màu sắc cổ đại để chỉ hoạt động tinh thần, ư thức ở vùng năo và thượng tiêu.
Thần là sự khái quát các dấu hiệu của hoạt động sinh mệnh, cho nên Linh Khu, thiên Thiên Niên nói: “thất thần giả tử, đắc thần giả sinh”. Tố Vấn, thiên Di Tinh Biến Khí Luận và Bản Bệnh Luận đều nói “đắc thần giả xương, thất thần giả vong”. Nguồn gốc của thần chủ yếu là do tinh khí hóa sinh, nhưng khí, tinh, huyết, tân, dịch đều là cơ sở vật chất để sinh thần. “Lưỡng tinh tương bác vị chi thần”, “huyết khí dĩ ḥa, dinh vệ dĩ thông, ngũ tạng dĩ thành, thần khí xá tâm, hồn phách tất cụ, năi thành vi nhân” cho thấy trong quá tŕnh phát triển bào thai, thần tồn tại đồng thời với hoạt động sinh mệnh. Những câu như “huyết khí giả, nhân chi thần”, “thần giả, thủy cốc chi tinh khí dă”, “huyết giả, thần khí dă” cho thấy thần do sự vận động biến hóa của tinh cùng khí huyết dinh vệ mà phát sinh; sựsinh thành (生成) của thần phải dựa vào sự điều ḥa của tạng phủ, cùng sự sung thịnh (充盈) của khí huyết tân dịch, như câu “khí ḥa nhi sinh, tân dịch tương thành, thần năi tự sinh”.
“Thất thần giả tử, đắc thần giả sinh”: Mất thần th́ chết, được thần th́ sống. Đây là nguyên tắc rất trọng yếu trong quan sát sinh cơ.
“Thần giả, thủy cốc chi tinh khí dă”: Thần là tinh khí của thủy cốc. Câu này nhấn mạnh thần cũng có cơ sở vật chất hậu thiên.
“Khí ḥa nhi sinh, tân dịch tương thành, thần năi tự sinh”: Khí điều ḥa th́ sự sống phát sinh, tân dịch hoàn thành th́ thần tự sinh. Câu này nêu mối liên hệ giữa vật chất sống và hoạt động tinh thần.
Tạng phủ bao gồm ngũ tạng, lục phủ và kỳ hằng chi phủ, là bộ phận chủ yếu của học thuyết tàng tượng trong Nội Kinh. Nội Kinh bàn về vị trí và h́nh thái của tạng phủ, một mặt là dựa trên vị trí và h́nh thái thực thể của tạng phủ, dưới sự chỉ đạo của tư tưởng “kỳ tử khả giải phẫu nhi thị chi” mà tiến hành quan sát giải phẫu thực thể. Như các luận thuật (述) trong Linh Khu, thiên Vị Trường và Linh Khu, thiên B́nh Nhân Tuyệt Cốc, về cơ bản là phù hợp với thực tế khách quan. Mặt khác, Nội Kinh c̣n càng dựa vào phạm vi liên quan đến hoạt động công năng của tạng phủ, như câu “can sinh ư tả, phế sinh ư hữu, tâm bố ư biểu, thận trị ư lư”. V́ vậy, thứ mà Nội Kinh kiến lập là học thuyết tàng tượng kết hợp giữa h́nh thể và hoạt động công năng.
“Kỳ tử khả giải phẫu nhi thị chi”: Đến khi chết th́ có thể giải phẫu mà xem. Câu này cho thấy người xưa không hoàn toàn bỏ qua quan sát giải phẫu thực thể.
“Can sinh ư tả, phế sinh ư hữu, tâm bố ư biểu, thận trị ư lư”: Gan sinh ở bên trái, phổi sinh ở bên phải, tâm phân bố ở ngoài, thận cai quản ở trong. Câu này không chỉ nói vị trí h́nh thể, mà chủ yếu nói tính quy luật trong công năng và khí cơ của các tạng.
Nội Kinh phân chia thuộc tính âm dương của tạng phủ là căn cứ vào đặc điểm h́nh thái “tạng đặc, phủ không”, cùng công năng “tạng chủ tàng, phủ chủ tả”, từ đó quy nạp chung tạng vào “âm”, phủ vào “dương”. Rồi lại tiến thêm một bước (进一步) theo lư luận “âm dương khả phân” cùng với vị trí và đặc điểm công năng khác nhau của ngũ tạng mà phân ra: “tâm vi dương trung chi thái dương”, “phế vi dương trung chi thiếu âm”, “can vi âm trung chi thiếu dương”, “tỳ vi âm trung chi chí âm”, “thận vi âm trung chi thái âm”. C̣n thuộc tính ngũ hành của ngũ tạng th́ dùng phương pháp quy loại ngũ hành, căn cứ vào đặc điểm công năng của ngũ tạng và quy luật quan hệ của chúng với tự nhiên giới mà xác định: can là phong mộc, tâm là nhiệt hỏa, tỳ là thấp thổ, phế là táo kim, thận là hàn thủy. Dựa theo quan hệ biểu lư giữa tạng và phủ, thuộc tính ngũ hành của mỗi phủ cũng giống với tạng biểu lư tương ứng với nó.
Nội Kinh đối với sự liên hệ của tạng phủ th́ vận dụng lư luận âm dương ngũ hành để giải thích mối liên hệ nội tại, sự ảnh hưởng lẫn nhau và sự phối hợp chặt chẽ giữa các tạng phủ bên trong, từ đó đạt tới sự điều ḥa và thống nhất của chỉnh thể. Những luận thuật (述 )này của Nội Kinh có thể chia làm ba phương diện.
Tạng phủ tương hợp. Lấy âm dương để khái quát tạng phủ, đồng thời chỉ ra rằng tạng và phủ có mối liên hệ nội tại: về vị trí th́ biểu lư tương ứng, về công năng th́ phối hợp với nhau. Ví dụ: “phế hợp đại trường”, “tâm hợp tiểu trường”, “can hợp đởm”, “tỳ hợp vị”, “thận hợp bàng quang”.
“Phế hợp đại trường”: Phổi hợp với đại trường. Nói lên quan hệ biểu lư tương phối giữa phế và đại trường.
“Tâm hợp tiểu trường”: Tim hợp với tiểu trường.
“Can hợp đởm”: Gan hợp với mật.
“Tỳ hợp vị”: Tỳ hợp với dạ dày.
“Thận hợp bàng quang”:Thận hợp với bàng quang.
Ngũ tạng sinh chế. Lấy ngũ hành quy thuộc ngũ tạng, đồng thời nêu rơ giữa ngũ tạng tồn tại mối liên hệ nội tại vừa tương sinh vừa tương chế. Chẳng hạn như “can sinh cân, cân sinh tâm”, “tâm sinh huyết, huyết sinh tỳ”, “tỳ sinh nhục, nhục sinh phế”, “phế sinh b́ mao, b́ mao sinh thận”, “thận sinh cốt tủy, tủy sinh can”, tức là tác dụng tương sinh hóa giữa các tạng với nhau.
“Can sinh cân, cân sinh tâm”: Gan sinh gân, gân lại liên hệ đến tâm. Câu này thuộc lối diễn đạt hệ thống hóa của tàng tượng học.
“Tâm sinh huyết, huyết sinh tỳ”: Tâm sinh huyết, huyết lại nuôi tỳ.
“Tỳ sinh nhục, nhục sinh phế”: Tỳ sinh thịt, thịt lại liên hệ đến phế.
“Phế sinh b́ mao, b́ mao sinh thận”: Phế sinh da lông, da lông lại liên hệ đến thận.
“Thận sinh cốt tủy, tủy sinh can”: Thận sinh xương tủy, tủy lại liên hệ đến gan.
Lục phủ truyền hóa. Dùng lư luận âm dương thăng giáng để giải thích mối liên hệ nội tại giữa lục phủ trong việc truyền hóa thủy cốc.
“Lục phủ giả, truyền hóa vật nhi bất tàng, cố thực nhi bất năng măn dă”: Lục phủ chỉ truyền và hóa vật, chứ không tàng chứa, cho nên tuy thực mà không thể đầy măi. Câu này nói rơ đặc tính sinh lư của lục phủ.
“Vị măn tắc trường hư, trường măn tắc vị hư, cánh hư cánh măn, cố khí đắc thượng hạ”: Vị đầy th́ ruột rỗng, ruột đầy th́ vị rỗng, thay nhau hư rồi đầy, cho nên khí mới có thể lên xuống. Câu này mô tả quy luật truyền hóa liên tục của vị trường khí cơ.

Đối với những kinh chỉ và ư nghĩa quan trọng có liên quan đến học thuật tàng tượng của Nội Kinh, ở đây tạm thời chỉ hệ thống, sắp xếp đại lược như vậy. C̣n nội dung cụ thể của ngũ tạng, lục phủ và kỳ hằng chi phủ th́ ở đây không thuật lại từng mục một. Dưới đây chúng ta sẽ chọn đọc trọng điểm một phần nội dung trong đó.

Kinh văn tiêu biểu, chú thích và phân tích

Khái niệm “tàng tượng”, công năng và thuộc tính của các tạng phủ

Nguyên văn

Đế viết: Tàng tượng hà như? Kỳ Bá viết: Tâm giả, sinh chi bản, thần chi biến dă; kỳ hoa tại diện, kỳ sung tại huyết mạch, vi dương trung chi thái dương, thông ư hạ khí. Phế giả, khí chi bản, phách chi xứ dă; kỳ hoa tại mao, kỳ sung tại b́, vi dương trung chi thái âm, thông ư thu khí. Thận giả, chủ chập, phong tàng chi bản, tinh chi xứ dă; kỳ hoa tại phát, kỳ sung tại cốt, vi âm trung chi thiếu âm, thông ư đông khí. Can giả, băi cực chi bản, hồn chi cư dă; kỳ hoa tại trảo, kỳ sung tại cân, dĩ sinh huyết khí, kỳ vị toan, kỳ sắc thương, thử vi dương trung chi thiếu dương, thông ư xuân khí. Tỳ, Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang giả, thương lẫm chi bản, dinh chi cư dă, danh viết khí, năng hóa tao phách, chuyển vị nhi nhập xuất giả dă; kỳ hoa tại thần tứ bạch, kỳ sung tại cơ, kỳ vị cam, kỳ sắc hoàng, thử chí âm chi loại, thông ư thổ khí. Phàm thập nhất tàng thủ quyết ư đởm dă.

Hoàng Đế hỏi: Tàng tượng là ǵ? Kỳ Bá đáp: Tâm là gốc của sự sống, là nơi biến hiện của thần; vẻ hoa của nó biểu hiện ở mặt, phần sung măn của nó ở huyết mạch, thuộc thái dương trong dương, thông ứng với khí mùa hạ. Phế là gốc của khí, là nơi cư trú của phách; vẻ hoa của nó ở lông, phần sung măn của nó ở da, thuộc thái âm trong dương, thông ứng với khí mùa thu. Thận là gốc của sự ẩn tàng và phong tàng, là nơi ở của tinh; vẻ hoa của nó ở tóc, phần sung măn của nó ở xương, thuộc thiếu âm trong âm, thông ứng với khí mùa đông. Can là gốc của sự chịu đựng mệt nhọc, là nơi ở của hồn; vẻ hoa của nó ở móng, phần sung măn của nó ở gân, có tác dụng sinh huyết khí, vị của nó là chua, sắc của nó là xanh, đây là thiếu dương trong dương, thông ứng với khí mùa xuân. Tỳ, Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang là gốc của kho lẫm, là nơi ở của dinh khí, gọi là “khí”, có thể hóa cặn bă, chuyển vị mà vào ra; vẻ hoa của nó ở môi và bốn phía trắng quanh môi, phần sung măn của nó ở cơ nhục, vị của nó là ngọt, sắc của nó là vàng, thuộc loại chí âm, thông ứng với thổ khí. Phàm mười một tạng đều do đởm mà quyết định.

Chú thích

1/ Tàng tượng: “Tàng” là tạng phủ ẩn chứa bên trong; “tượng” là những dấu hiệu biểu hiện ra ngoài của hoạt động công năng tạng phủ.

2/ Thần, phách, hồn: Đều thuộc phạm trù hoạt động thần chí. Phần giải thích chi tiết xin xem thiên Bản Thần của Linh Khu.

3/ Hoa: Là sắc thái, ánh sáng và vẻ vinh nhuận bên ngoài biểu hiện tinh khí của tạng phủ. Xem thêm thiên Ngũ Tạng Sinh Thành của Tố Vấn.

4/ Dương trung chi thái dương, âm trung chi thiếu âm, dương trung chi thiếu dương: Chữ “âm” hoặc “dương” thứ nhất trong mỗi cụm chỉ vị trí của tạng phủ; chữ “âm” hoặc “dương” thứ hai chỉ thuộc tính âm dương của tạng phủ. Căn cứ theo quan điểm “trên là dương, dưới là âm” của Hoàng Đế Nội Kinh, theo đặc điểm công năng của các tạng phủ được luận trong văn, theo thiên Âm Dương Hệ Nhật Nguyệt của Linh Khu, cùng với nguyên văn đoạn này được ghi trong các tài liệu liên quan và ư kiến của người xưa, ba câu trên đúng ra nên sửa thành: Dương trung chi thiếu âm, âm trung chi thái âm, âm trung chi thiếu dương.
Tức là phế nên là thiếu âm trong dương, thận nên là thái âm trong âm, can nên là thiếu dương trong âm.

5/ Chập: Chỉ loài trùng ẩn ḿnh trong đất để qua mùa đông. Ở đây dùng làm ẩn dụ cho công năng bế tàng, cất giữ của thận.

6/ Băi cực chi bản: Chữ băi (罷 )ở đây đọc như “b́”, hiểu như chữ “mệt”. Ư nói can là gốc của sức chịu đựng mệt nhọc, chống lao lực của cơ thể.

7/ Kỳ vị toan, kỳ sắc thương; kỳ vị cam, kỳ sắc hoàng: Hai câu này không ăn khớp với mạch văn trên dưới. Người xưa cho rằng đây là phần chữ thừa, nên lược bỏ.

8/ Doanh: Chỉ doanh khí, là một loại khí trong Trung y, có nguồn từ tinh khí của thủy cốc, phân bố trong huyết mạch, có tác dụng dinh dưỡng toàn thân, nên gọi là dinh khí.

9/ Khí (器):Chỉ dạ dày, đại trường, tiểu trường, bàng quang đều là những cơ quan rỗng, giống như đồ đựng vật.

Phân tích

Đoạn kinh văn này trước hết nêu ra tên gọi “tàng tượng”, sau đó trọng điểm làm rơ công năng của ngũ tạng, đồng thời liên hệ với ngũ thể, ngũ hoa cùng âm dương bốn mùa, từ đó vạch ra hệ thống công năng lấy ngũ tạng làm trung tâm. Đoạn kinh văn này thể hiện rơ quan điểm sinh lư “thiên nhân tương ứng” của Trung y học, và là một trong những nội dung cơ bản của học thuyết tàng tượng.

(1) Kinh văn lấy ngũ tạng làm trung tâm, luận thuật công năng chủ yếu của ngũ tạng lục phủ, cùng mối liên hệ của chúng với tổ chức h́nh thể, hoạt động tinh thần và khí hậu bốn mùa, từ đó nói rơ tính thống nhất giữa hoàn cảnh trong và ngoài cơ thể người.

Tầm quan trọng của ngũ tạng trong cơ thể người: Ngũ tạng là trung tâm của hoạt động sinh mệnh của cơ thể, mỗi tạng đều liên hệ với những khí quan và tổ chức tương ứng, cấu thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất. V́ thế đoạn này mới nêu ra quan điểm lấy ngũ tạng làm gốc. Tố Vấn, thiên Mạch Yếu Tinh Vi Luận cũng có ghi chép tương tự:
Ngũ tạng giả, trung chi thủ dă. Đắc thủ tắc sinh, thất thủ tắc tử:

Ngũ tạng là cái giữ ǵn ở bên trong. Giữ được th́ sống, mất sự giữ ǵn ấy th́ chết. Câu này đồng dạng nói rơ tầm quan trọng của ngũ tạng trong cơ thể người.

Ngũ tạng sở dĩ quan trọng như vậy là v́ chúng phân biệt (分别) tàng chứa và chủ quản những vật chất trọng yếu và hoạt động tinh thần mà cơ thể người cần để duy tŕ sự sống, như tinh, thần, khí, huyết, cùng thủy cốc tinh vi, tức dinh. Câu “tâm giả, sinh chi bản” càng nhấn mạnh địa vị quan trọng của tâm trong ngũ tạng lục phủ. Tâm không chỉ có công năng “tàng thần” và “chủ tâm mạch”, mà Trương Giới Tân c̣n cho rằng những công năng này đều được thực hiện dưới sự chủ đạo của tâm dương. Ông nói:
Tâm vi dương, dương chủ sinh, vạn vật hệ chi dĩ tồn vong, cố viết sinh chi bản. nghĩa là : Tâm thuộc dương, mà dương chủ về sinh; sự tồn vong của vạn vật đều hệ vào đó, cho nên gọi là gốc của sự sống. Ư này cho rằng sở dĩ tâm có thể chủ tể hoạt động tinh thần toàn thân và thúc đẩy huyết dịch vận hành chủ yếu là dựa vào tác dụng của tâm dương. Nếu tâm dương hư th́ tinh thần suy nhược, huyết hành tŕ trệ, hoạt động sinh mệnh cũng theo đó mà suy yếu; nếu tâm dương hư thoát th́ sẽ nguy hại tính mạng, dẫn đến tử vong, cho nên phải kịp thời hồi dương cứu thoát.

Quan hệ giữa ngũ tạng với tổ chức h́nh thể: Mối liên hệ mật thiết mà ngũ tạng thiết lập với các tổ chức h́nh thể bên ngoài chủ yếu là được thực hiện trên cơ sở vật chất của chính bản tạng. Chẳng hạn công năng “chủ cốt” và “hoa tại phát” của thận chính là được h́nh thành trên nền tảng tàng tinh. V́ thận tinh sinh dưỡng cốt tủy, nuôi dưỡng xương cốt, nên sự sinh trưởng, phát dục và tu phục của xương đều có quan hệ mật thiết với thận. Nếu tinh khí của thận hư suy th́ có thể xuất hiện các chứng như hai chân yếu mềm, lưng sống không cúi ngửa được. Sự dinh dưỡng của tóc tuy đến từ huyết, nhưng sinh cơ của tóc lại bắt nguồn ở thận, bởi v́ tinh và huyết sinh dưỡng lẫn nhau; cho nên nếu thận tinh sung túc th́ trạng thái sinh trưởng của tóc sẽ tốt, ngược lại th́ tóc dễ khô héo và rụng.

Lại như công năng “chủ cân” và “hoa tại trảo” của can là được thực hiện trên cơ sở tàng huyết. V́ gân cần phải dựa vào can huyết nhu dưỡng, mà can lại có công năng tàng trữ huyết dịch và điều tiết huyết lượng. Khi con người an tĩnh, phần lớn huyết dịch hồi về gan để tàng trữ; khi hoạt động, huyết lại được từ gan phân bố ra ngoài, để cung cấp cho toàn thân, tứ chi và nội tạng hoạt động. V́ thế, nếu can huyết đầy đủ th́ cân mạch của tứ chi mới được nhu dưỡng đầy đủ, vận động mới có lực. Trảo, tức móng tay móng chân, là phần thuộc về cân. Sự thịnh suy của can huyết cũng sẽ ảnh hưởng đến sự khô nhuận biến hóa của móng, v́ vậy mới nói “kỳ sung tại cân”, “kỳ hoa tại trảo”. Nếu can huyết bất túc, th́ gân mất chỗ nuôi dưỡng, thường thấy các bệnh như co duỗi chân tay khó khăn, kinh lạc co quắp, câu cấp. Nếu bệnh biến ảnh hưởng đến móng, th́ móng tay thường mỏng, mềm, thậm chí biến dạng và dễ nứt găy. Qua đó có thể thấy, sự hiệp đồng về mặt sinh lư và sự ảnh hưởng lẫn nhau về mặt bệnh lư giữa ngũ tạng với tổ chức h́nh thể đều có liên quan mật thiết tới tinh, huyết, dinh khí và huyết mạch mà ngũ tạng tàng giữ.

Quan hệ giữa ngũ tạng với tứ thời âm dương: Hoạt động của nội tạng cơ thể người nhất thiết phải thích ứng với âm dương bốn mùa, tức khí hậu xuân ôn, hạ nhiệt, thu lương, đông hàn, từ đó mới duy tŕ được trạng thái thống nhất điều ḥa với môi trường bên ngoài; nếu không th́ sẽ dẫn đến phát sinh bệnh tật. V́ vậy Nội Kinh cho rằng âm dương bốn mùa là gốc của sự sống chết của vạn vật. V́ sao ngũ tạng lại có thể tương ứng với tứ thời âm dương? Đó là kết quả của việc dương khí trong cơ thể thích ứng với biến hóa tự nhiên. Dương khí sinh phát vào mùa xuân, thịnh trưởng vào mùa hạ, thu liễm vào mùa thu, bế tàng vào mùa đông; v́ thế khí của ngũ tạng cũng có nhịp điệu tương ứng với thế thăng, phù, giáng, trầm của âm dương bốn mùa. Bởi vậy trên lâm sàng cần chú ư “nhân thời chế nghi”, phối hợp với thời lệnh mùa tiết và biến hóa khí hậu để tiến hành biện chứng thi trị th́ mới thu được hiệu quả gấp đôi mà công sức chỉ bằng một nửa. Câu nói trong Tố Vấn, thiên Tạng Khí Pháp Thời Luận:

Hợp nhân h́nh dĩ pháp tứ thời ngũ hành nhi trị.

Là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thuận ứng biến hóa tự nhiên, khiến khí của ngũ tạng trong cơ thể giữ được sự điều ḥa cân bằng với âm dương bốn mùa.

(2) Về vấn đề “cơ thể người lấy lục phủ làm khí”

Lục phủ chỉ Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang và Đởm, trong đó đởm là phủ đặc biệt nên kinh văn tách riêng ra nói. “Khí” ở đây giống như đồ đựng, nghĩa là lục phủ là những cơ quan tổ chức tạm thời chứa giữ thủy cốc tinh vi và cặn bă. Công năng chủ yếu của lục phủ là “hóa tao phách, chuyển ngũ vị”. V́ lục phủ có thể chuyển ngũ vị để nhu dưỡng ngũ tạng, đồng thời xuất cặn bă để làm sạch ngũ tạng, cho nên tác dụng của lục phủ ở phương diện “khí” và tác dụng của ngũ tạng ở phương diện “bản” là hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau duy tŕ sự tiến hành thuận lợi của tân trần đại tạ trong cơ thể người; nhưng chúng vẫn khác với chức năng “tàng” của ngũ tạng.

(3) Về vấn đề “phàm mười một tạng đều quyết ở đởm”

Câu “phàm thập nhất tạng thủ quyết ư đởm” có bốn cách giải thích.

Thứ nhất, cho rằng đởm chủ khí Thiếu dương sinh phát của mùa xuân, đây là ư của Lư Đông Viên.

Thứ hai, cho rằng đởm chủ quyết đoán, đây là ư của Vương Băng.

Thứ ba, cho rằng đởm có thể tráng khí, kháng tà, đây là ư của Tŕnh Hạnh Hiên dẫn từ sách Y Tham.

Thứ tư, cho rằng đởm chủ bán biểu bán lư, thông đạt âm dương, đây là ư của Trương Giới Tân.

Bốn cách giải thích trên đều có lư riêng. Nhưng nếu kết hợp với tư tưởng chủ đề của thiên Lục Tiết Tàng Tượng Luận mà xét, trọng điểm ở đây là bàn về tính thống nhất giữa hoàn cảnh trong và ngoài cơ thể, cho nên kiến giải của Lư Đông Viên lại có phần thích đáng hơn, hơn nữa c̣n có ư nghĩa chỉ đạo rất quan trọng trên lâm sàng. Bởi v́ dương khí của cơ thể bắt nguồn từ thận, vận hành trong tam tiêu, kư tàng ở can đởm; mà Thiếu dương lại chủ bán biểu bán lư, là cửa ngơ của tam tiêu, là then chốt để dương khí xuất nhập, cho nên dương khí của cơ thể từ đây mà sinh phát, bố đạt ra toàn thân để thúc đẩy vận hành dương khí của các tạng. Đặc biệt, sự thăng phát của tỳ khí lại càng phải dựa vào đởm khí sinh phát; nếu không th́ tỳ sẽ không thể tán tinh quy phế để nuôi dưỡng toàn thân, khiến thủy cốc hạ lưu, h́nh thành chứng tôn tiết và trường tích. Cho nên Lư Đông Viên nói:
Đởm khí bất thăng, tắc tôn tiết trường tích, bất nhất nhi khởi hĩ:

Nếu đởm khí không thăng lên, th́ các chứng tiêu chảy phân sống và bệnh ở ruột sẽ lần lượt phát sinh. Câu này nhấn mạnh tác dụng của đởm khí trong việc giúp tỳ vị thăng thanh giáng trọc.

Sở dĩ Bổ Trung Ích Khí Thang dùng Thăng ma mà c̣n phải phối Sài hồ, mục đích chính là để sinh phát khí Thiếu dương mà giúp tỳ khí thăng lên. V́ vậy ông lại nói:

Tỳ vị bất túc chi nguyên, năi dương khí bất túc, âm khí hữu dư. Đương ṭng nguyên khí bất túc, thăng giáng phù trầm pháp, tùy chứng trị chi:

Nguồn gốc của chứng tỳ vị bất túc là do dương khí bất túc mà âm khí có phần dư; cần phải dựa theo phép thăng giáng phù trầm để trị từ chỗ nguyên khí bất túc, rồi tùy chứng mà chữa

Sinh lư công năng của tạng phủ và mối liên hệ lẫn nhau giữa chúng

Nguyên văn
Hoàng Đế vấn viết: Nguyện văn thập nhị tạng chi tương sử, quư tiện hà như? Kỳ Bá đối viết: Tất hồ tai vấn dă! Thỉnh toại ngôn chi. Tâm giả, quân chủ chi quan dă, thần minh liễu xuất yên. Phế giả, tướng phó chi quan, trị tiết xuất yên. Can giả, tướng quân chi quan, mưu lự xuất yên. Đởm giả, trung chính chi quan, quyết đoán xuất yên. Đản trung giả, thần sử chi quan, hỉ lạc xuất yên. Tỳ vị giả, thương lẫm chi quan, ngũ vị xuất yên. Đại trường giả, truyền đạo chi quan, biến hóa xuất yên. Tiểu trường giả, thụ thịnh chi quan, hóa vật xuất yên. Thận giả, tác cường chi quan, kỹ xảo xuất yên. Tam tiêu giả, quyết độc chi quan, thủy đạo xuất yên. Bàng quang giả, châu đô chi quan, tân dịch tàng yên, khí hóa tắc năng xuất hĩ. Phàm thử thập nhị quan giả, bất đắc tương thất dă. Cố chủ minh tắc hạ an, dĩ thử dưỡng sinh tắc thọ, một thế bất đăi, dĩ vi thiên hạ tắc đại xương. Chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy, sử đạo bế tắc nhi bất thông, h́nh năi đại thương, dĩ thử dưỡng sinh tắc ương, dĩ vi thiên hạ giả, kỳ tông đại nguy, giới chi giới chi!

Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi rằng: Tôi muốn nghe về sự sai khiến, phối hợp của mười hai tạng, xem cái nào quan trọng, cái nào thứ yếu th́ ra sao? Kỳ Bá đáp rằng: Câu hỏi này thật sâu sắc thay! Xin cứ thuận theo đó mà nói. Tâm là quan quân chủ, từ đó mà thần minh phát lộ ra. Phế là quan tướng phó, từ đó mà việc trị lư điều tiết phát ra. Can là quan tướng quân, từ đó mà mưu lự phát ra. Đởm là quan trung chính, từ đó mà quyết đoán phát ra. Đản trung là quan thần sử, từ đó mà vui mừng khoái lạc phát ra. Tỳ và Vị là quan kho lẫm, từ đó mà ngũ vị phát ra. Đại trường là quan truyền đạo, từ đó mà biến hóa phát ra. Tiểu trường là quan thụ thịnh, từ đó mà hóa vật phát ra. Thận là quan tác cường, từ đó mà kỹ xảo phát ra. Tam tiêu là quan quyết độc, từ đó mà thủy đạo phát ra. Bàng quang là quan châu đô, nơi đó tàng chứa tân dịch, nhờ khí hóa th́ mới có thể bài xuất ra được. Phàm mười hai quan này, không được để mất sự phối hợp lẫn nhau. Cho nên nếu chủ sáng suốt th́ bên dưới đều yên ổn, lấy đó mà dưỡng sinh th́ được trường thọ, suốt đời không gặp nguy hại, đem ra trị thiên hạ th́ sẽ rất thịnh vượng. Nếu chủ không sáng suốt th́ mười hai quan đều nguy, đường liên hệ bị bế tắc không thông, thân thể v́ thế mà tổn thương nặng, lấy đó mà dưỡng sinh th́ thành tai ương, đem ra trị thiên hạ th́ tông miếu, quốc gia sẽ nguy lớn, phải răn dè, phải răn dè!

Chú thích

十二藏之相使 (thập nhị tạng chi tương sử): Chỉ công năng của mười hai tạng phủ và mối quan hệ qua lại giữa chúng.
貴賤 (quư tiện): Chỉ mức độ quan trọng và thứ yếu.
神明 (thần minh): Chỉ tinh thần, ư thức và hoạt động tư duy.
相傅 (tướng phó): Nghĩa là tể tướng, người phụ tá cho quân chủ.
治節 (trị tiết): Chỉ việc quản lư, điều tiết.
中正 (trung chính): Cương trực, chính đáng, quyết đoán.
膻中 (đản trung): Chỉ tâm bào lạc.
臣使 (thần sử): Cận thần, nội thần gần gũi bên cạnh quân chủ.
倉廩 (thương lẫm): Kho chứa lương thực.
傳道 (truyền đạo): Chỉ sự truyền dẫn, vận chuyển.
變化 (biến hóa): Chỉ đại trường biến cặn bă thức ăn thành phân.
受盛 (thụ thịnh): Chỉ tiếp nhận, chứa đựng.
化物 (hóa vật): Chỉ tiêu hóa, phân hóa vật thức ăn.
作強 (tác cường): Dùng sức mạnh, chỉ thể lực của con người.
技巧 (kỹ xảo): Chỉ trí lực, khả năng khéo léo.
決瀆 (quyết độc): Khai thông đường nước.
州都 (châu đô): Nơi hội tụ của thủy dịch.
氣化則能出矣 (khí hóa tắc năng xuất hĩ): Chỉ nhờ công năng khí hóa và bài niệu của bàng quang mà nước tiểu mới bài xuất được.
相失 (tương thất): Mất đi quan hệ phối hợp b́nh thường.
歿世不殆 (một thế bất đăi): Suốt đời không gặp nguy hại.
使道 (sử đạo): Con đường liên hệ giữa các tạng phủ.
宗 (tông): Tông miếu, quốc gia, chính quyền.

Phân tích

Đoạn kinh văn này dùng phương pháp tỷ dụ để tŕnh bày đặc điểm công năng sinh lư chủ yếu của mười hai tạng phủ và mối liên hệ giữa chúng, là một trong những nội dung lư luận quan trọng của học thuyết tàng tượng.
(1) Đoạn kinh văn này cho rằng cơ thể người là một chỉnh thể hữu cơ. Các tổ chức, khí quan bên trong tuy có đặc điểm riêng, nhưng giữa chúng có liên hệ qua lại với nhau. V́ thế kinh văn mới nói:

Phàm thử thập nhị quan giả, bất đắc tương thất dă.
Phàm mười hai quan này, không được để mất sự phối hợp lẫn nhau. Câu này nhấn mạnh rằng giữa các tạng phủ phải nương dùng lẫn nhau, hợp tác chặt chẽ, phân công điều ḥa th́ mới duy tŕ được hoạt động sinh mệnh b́nh thường.

Ví dụ, tâm chủ huyết, là quan quân chủ; phế chủ khí, là quan tướng phó. Phế chủ tuyên giáng, lại triều bách mạch (điều khiển tất cả mạch máu), tông khí của phế xuyên suốt (quán thông) tâm mạch, nên có tác dụng thúc đẩy tâm vận hành huyết dịch, là điều kiện tất yếu để huyết dịch lưu hành b́nh thường. Nếu phế khí mất tuyên (lan toả), hoặc phế khí bất túc, th́ đều có thể ảnh hưởng đến công năng hành huyết của tâm, dẫn tới huyết dịch vận hành thất thường, xuất hiện những biểu hiện bệnh lư như hồi hộp bất an, tức ngực đau nhói, nặng th́ môi lưỡi tím, tức là tâm huyết ứ trệ. V́ vậy trên lâm sàng, hễ gặp chứng ứ huyết do phế khí thất tuyên hoặc phế khí bất túc gây nên, th́ phép trị nên thiên về tuyên thông phế khí hoặc bổ ích phế khí.

Ở mặt khác, tâm chủ hành huyết, mà huyết là mẹ của khí, huyết đến th́ khí cũng đến. Nếu tâm khí bất túc, tâm dương không phấn chấn振, tâm mạch ứ trở, th́ cũng sẽ khiến chức năng tuyên giáng của phế khí thất thường, gây ra những chứng nguy cấp như phế khí thượng nghịch, hen suyễn, ho suyễn, khí xúc (cấp bách) 促. Khi trị, nên lấy phép cường tâm ích khí, bảo phế khứ ứ.

Lại như can chủ mưu lự, đởm chủ quyết đoán. Về quan hệ tạng phủ, can đởm là biểu lư của nhau, hai bên phải kết hợp với nhau th́ mới có thể trên cơ sở suy nghĩ mà đưa ra quyết định đúng đắn. Trương Giới Tân nói:

Đởm bẩm cương quả chi khí, cố vi trung chính chi quan nhi quyết đoán sở xuất. Đởm phụ ư can, tương vi biểu lư, can khí tuy cường, phi đởm bất đoạn, can đởm tương tế, dũng cảm năi thành.

Đởm bẩm thụ khí cương cường quả quyết, cho nên là quan trung chính, nơi phát ra quyết đoán. Đởm nương vào can, hai bên làm biểu lư của nhau; can khí tuy mạnh nhưng không có đởm th́ không quyết được; can và đởm hỗ trợ lẫn nhau th́ sự dũng cảm mới thành. Câu này giải thích rất rơ mối quan hệ phối hợp giữa can và đởm trong hoạt động tinh thần ư chí.

Nếu đởm khí hư, công năng hai bên không điều ḥa, th́ sẽ xuất hiện hiện tượng bệnh lư mưu lự không quyết. Như Tố Vấn, thiên Kỳ Bệnh Luận nói:
Thử nhân giả, sổ mưu lự bất quyết, cố đởm hư, khí thượng bồn nhi khẩu vi chi khổ.

Người này thường suy nghĩ mà không quyết được, đó là v́ đởm hư, khí bốc lên mà miệng v́ thế thấy đắng. Câu này cho thấy tuy mưu lự là do can chủ, nhưng nhất thiết phải phối hợp mật thiết với chức năng quyết đoán của đởm th́ mới có thể tiến hành b́nh thường. V́ thế trên lâm sàng, hễ gặp trường hợp do đởm hư, trọc tà nội nhiễu mà dẫn đến mưu lự không quyết, th́ nên từ đởm mà luận trị.

Lại như vị chủ làm ngấu chín (腐熟) thủy cốc, tỳ chủ vận hóa tinh vi, cùng nhau làm gốc của hậu thiên. Bệnh của tỳ có thể ảnh hưởng đến vị, mà bệnh của vị cũng có thể ảnh hưởng đến tỳ; bất luận là bệnh tỳ hay bệnh vị, đều có thể khiến nguồn nuôi dưỡng hậu thiên không đủ. V́ thế trên lâm sàng, hễ thấy tỳ vị hư nhược, hậu thiên thất dưỡng, th́ cần phân biệt rơ là bệnh của tỳ ảnh hưởng đến vị, hay bệnh của vị ảnh hưởng đến tỳ, hoặc là tỳ vị đồng bệnh, rồi chọn biện pháp điều trị thích đáng.

(2) Nội Kinh cho rằng tâm là tạng quan trọng nhất trong ngũ tạng lục phủ. Tố Vấn, thiên Lục Tiết Tàng Tượng Luận xếp tâm là “sinh chi bản”, c̣n thiên này th́ ví tâm như “quân chủ” thống lĩnh hết thảy. Vai tṛ chủ đạo của “tâm” chủ yếu thể hiện ở hai mặt.

Thứ nhất là thông qua công năng “chủ huyết mạch” mà duy tŕ, bảo đảm cho cơ sở vật chất chuyển hóa của toàn thân.

Thứ hai là thông qua “thần” mà tâm tàng giữ để điều ḥa mối liên hệ công năng giữa các tổ chức khí quan trong toàn thân, đồng thời điều ḥa mối quan hệ giữa cơ thể người với ngoại cảnh.

Cái gọi là “chủ minh” tức là công năng của tâm b́nh thường; c̣n “chủ bất minh” tức là công năng của tâm thất thường. Quan hệ giữa “tâm chủ huyết mạch” và “tâm tàng thần” chính là quan hệ giữa vật chất và công năng. Hai bên nương tựa lẫn nhau mà tồn tại, đồng thời ảnh hưởng lẫn nhau. “Huyết mạch” là cơ sở vật chất của “thần minh”; c̣n “thần minh” là động lực để “huyết mạch thông đạt”. Hai bên cùng nhau duy tŕ công năng b́nh thường của tâm, thiếu một cũng không được.

Nếu công năng của tâm thất thường, th́ sẽ dẫn đến các tạng phủ không thể thực hiện các chức năng của ḿnh (各司其職), mất sự điều ḥa, khiến hoạt động sinh mệnh của cơ thể người trở nên bất thường. Đó chính là điều mà Hoàng Đế Nội Kinh gọi là
Chủ minh tắc hạ an, chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy.

Chủ sáng th́ bên dưới yên, chủ không sáng th́ mười hai quan đều nguy. Gặp loại t́nh huống này, điều trị nên bắt đầu từ tâm.

Ví dụ, tâm ở phía trên, thuộc dương, chủ hỏa. Tâm hỏa tất phải giáng xuống ở thận, th́ thủy hỏa mới kư tế, tâm thận mới tương giao. Lại như tỳ chủ vận hóa, sinh hóa khí huyết, nhưng phải nhờ sự nhu dưỡng của tâm huyết và sự thúc đẩy của tâm dương, cái gọi là tâm hỏa能生 tỳ thổ. V́ thế, phàm những bệnh chứng liên quan đến tinh như hoạt tiết, mộng di, hoặc những bệnh chứng liên quan đến thần như chính xung, kinh quư, do tâm bệnh không thể hạ giao với thận, hoặc tâm hỏa không thể sinh tỳ thổ mà h́nh thành, đều có thể từ tâm mà luận trị.

Phân loại ngũ tạng, lục phủ, kỳ hằng chi phủ và đặc điểm công năng sinh lư

Nguyên văn

Hoàng Đế vấn viết: Dư văn phương sĩ, hoặc dĩ năo tủy vi tạng, hoặc dĩ trường vị vi tạng, hoặc dĩ vi phủ. Cảm vấn cánh tương phản, giai tự vị thị. Bất tri kỳ đạo, nguyện văn kỳ thuyết. Kỳ Bá đối viết: Năo, tủy, cốt, mạch, đởm, nữ tử bào, thử lục giả địa khí chi sở sinh dă, giai tàng ư âm nhi tượng ư địa, cố tàng nhi bất tả, danh viết kỳ hằng chi phủ. Phù vị, đại trường, tiểu trường, tam tiêu, bàng quang, thử ngũ giả, thiên khí chi sở sinh dă, kỳ khí tượng thiên, cố tả nhi bất tàng. Thử thụ ngũ tạng trọc khí, danh viết truyền hóa chi phủ, thử bất năng cửu lưu, du tả giả dă. Phách môn diệc vi ngũ tạng sử, thủy cốc bất đắc cửu tàng. Sở vị ngũ tạng giả, tàng tinh khí nhi bất tả dă, cố măn nhi bất năng thực. Lục phủ giả, truyền hóa vật nhi bất tàng, cố thực nhi bất năng măn dă. Sở dĩ nhiên giả, thủy cốc nhập khẩu, tắc vị thực nhi trường hư; thực hạ, tắc trường thực nhi vị hư. Cố viết: Thực nhi bất măn, măn nhi bất thực dă.

Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi rằng: Ta nghe các phương sĩ, có người cho rằng năo tủy là tạng, có người cho rằng trường vị là tạng, lại có người cho rằng là phủ. Nay tôi mạo muội nêu câu hỏi trái ngược, mà ai cũng tự cho ḿnh đúng. Tôi chưa rơ đạo lư trong đó, xin được nghe lời giải thích. Kỳ Bá đáp rằng: Năo, tủy, xương, mạch, đởm, tử cung của nữ tử, sáu thứ này là do địa khí sinh ra, đều tàng ở phần âm mà tượng với đất, cho nên có tính tàng mà không tả, gọi là kỳ hằng chi phủ. C̣n vị, đại trường, tiểu trường, tam tiêu, bàng quang, năm thứ này là do thiên khí sinh ra, khí của chúng tượng trời, cho nên tả mà không tàng. Chúng tiếp nhận trọc khí của ngũ tạng, gọi là truyền hóa chi phủ, những thứ này không thể lưu lại lâu, mà có chức năng vận chuyển và bài tả. Phách môn cũng là nơi làm việc cho ngũ tạng, thủy cốc không được phép chứa lâu ở đó. Cái gọi là ngũ tạng, là tàng tinh khí mà không tả, cho nên đầy mà không thực. C̣n lục phủ là truyền hóa vật mà không tàng, cho nên thực mà không đầy. Sở dĩ như vậy là v́ khi thủy cốc vào miệng, th́ vị thực mà trường hư; khi thức ăn xuống dưới, th́ trường thực mà vị hư. Cho nên mới nói: thực mà không đầy, đầy mà không thực.

Chú thích

1/ 敢問更相反 (cảm vấn cánh tương phản): Chữ “cảm” là lời khiêm tốn, nghĩa là mạo muội; chữ “cánh” nghĩa là thay đổi. Cả câu có nghĩa là: tôi mạo muội nêu câu hỏi, muốn dùng một ư kiến trái lại để thay đổi cách nh́n của họ.

2/ 女子胞 (nữ tử bào): Cũng gọi là bào cung, tức tử cung.

3/ 魄門 (phách môn): Cửa bài tiết cặn bă. Thời cổ, chữ “phách” và “phách” trong nghĩa cặn bă có thể thông dùng cho nhau, cho nên phách môn tức là cửa bài cặn bă, tức hậu môn.

Phân tích

Đoạn kinh văn này khái quát cách phân loại ngũ tạng, lục phủ và kỳ hằng chi phủ, cùng với đặc điểm công năng sinh lư của chúng.

Đặc điểm công năng của ngũ tạng là:

「藏精氣而不瀉」Tàng tinh khí nhi bất tả: Tàng chứa tinh khí mà không tả tiết.

「滿而不能實」Măn nhi bất năng thực: Đầy mà không thực. Chữ “măn” ở đây chỉ sự sung măn của tinh khí.

C̣n đặc điểm công năng chung của lục phủ là:

「傳化物而不藏」Truyền hóa vật nhi bất tàng : Truyền dẫn và tiêu hóa vật mà không tàng chứa.

「實而不能滿」Thực nhi bất năng măn: Thực mà không đầy. Chữ “thực” ở đây chỉ sự充實 của thủy cốc.

Ngũ tạng chứa giữ tinh khí, mà tinh khí th́ nên tàng chứ không nên tả, cho nên nói “măn nhi bất năng thực”. Lục phủ truyền hóa thủy cốc tân dịch, mà thủy cốc nhất định phải được lục phủ tiếp nhận và truyền hóa có quy luật, cho nên nói “thực nhi bất năng măn”.

Tuy vậy, không thể tuyệt đối hóa việc “tàng” của tạng và “tả” của phủ. Thực tế, trong ngũ tạng cũng có trọc khí, mà trọc khí trong tạng là nhờ phủ vận chuyển, bài tiết mà đi ra; cho nên kinh văn mới nói:
Thử thụ ngũ tạng trọc khí, danh viết truyền hóa chi phủ, thử bất năng cửu lưu, du tả giả dă.

Nghĩa là: những phủ này tiếp nhận trọc khí của ngũ tạng, nên gọi là truyền hóa chi phủ; chúng không thể lưu giữ lâu, mà phải vận chuyển và bài tiết đi.

Trong lục phủ cũng có tinh khí, mà tinh khí trong phủ lại được chuyển vào tạng để tàng chứa. V́ vậy Trương Kỳ nói:
Tinh khí hóa ư phủ nhi tàng ư tạng, phi phủ chi hóa tắc tinh khí kiệt, phi tạng chi tàng tắc tinh khí tiết.

Nghĩa là: Tinh khí được hóa sinh ở phủ rồi tàng vào tạng; không có sự hóa của phủ th́ tinh khí sẽ cạn, không có sự tàng của tạng th́ tinh khí sẽ thoát. Câu này làm rơ mối quan hệ hỗ tương giữa tạng và phủ trong sự sản sinh, tàng chứa và vận chuyển tinh khí.

Cũng đồng lư ấy, sự đầy của tinh khí và sự thực của thủy cốc cũng luôn biến hóa. Chẳng hạn:
Thủy cốc nhập khẩu, tắc vị thực nhi trường hư; thực hạ, tắc trường thực nhi vị hư.

Nghĩa là: Khi thủy cốc vào miệng th́ vị thực mà trường hư; khi thức ăn đi xuống th́ trường thực mà vị hư. Hư thực thay nhau, nhờ đó thủy cốc mới được chuyển hóa.

Kỳ hằng chi phủ tức là loại phủ khác với lục phủ thông thường. Cái khác ấy nằm ở cả hai phương diện: h́nh thái cấu tạo và đặc điểm công năng. Trương Giới Tân chú rằng:
Phàm thử lục giả, nguyên phi lục phủ chi số, dĩ kỳ tàng súc âm tinh, cố viết địa khí sở sinh, giai xưng vi phủ.

Nghĩa là: Phàm sáu thứ này vốn không thuộc số của lục phủ thông thường, nhưng v́ chúng có công năng tàng chứa âm tinh, nên gọi là thứ do địa khí sinh ra, và đều gọi là phủ. Câu này chỉ ra rằng về mặt tính năng, chúng thuộc âm, tượng đất, chủ tàng chứa âm tinh, nên giống ngũ tạng; nhưng về mặt h́nh thái th́ lại rỗng ở bên trong, nên giống lục phủ. Chính v́ vừa giống tạng, vừa giống phủ, mà chúng được gọi là “kỳ hằng chi phủ”.

Câu trong kinh văn:
Phách môn diệc vi ngũ tạng sử, thủy cốc bất đắc cửu tàng.

Có ư nghĩa lâm sàng rất quan trọng. “Phách môn” tức là hậu môn, là đoạn cuối cùng của lục phủ. Công năng của nó là sự kéo dài của đại trường, dùng để truyền hóa thủy cốc mà không được chứa lâu. Nhưng sự đóng mở của phách môn lại chịu sự sai khiến, điều tiết của ngũ tạng, tức là chịu tác dụng tổng hợp của tâm thần chủ tể, can khí điều đạt, tỳ khí thăng đề, phế khí tuyên giáng và thận khí cố nhiếp (摄). V́ vậy, trên lâm sàng, bất luận là đại tiện bí kết không thông, hay đại tiện tiết tả không ngừng, đều không nên chỉ giới hạn ở bệnh biến của vị trường, mà c̣n phải chú ư xét đến khả năng bệnh biến của các tạng phủ khác.

Sự h́nh thành của con người và tầm quan trọng của thần đối với sinh mệnh

Nguyên văn

Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Nguyện văn nhân chi thủy sinh, hà khí trúc vi cơ? Hà lập nhi vi thuẫn? Hà thất nhi tử? Hà đắc nhi sinh? Kỳ Bá viết: Dĩ mẫu vi cơ, dĩ phụ vi thuẫn, thất thần giả tử, đắc thần giả sinh dă :Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Tôi muốn nghe về lúc con người mới bắt đầu sinh ra, lấy khí ǵ để dựng làm nền? Lấy cái ǵ mà lập thành chỗ che chở? Mất cái ǵ th́ chết? Được cái ǵ th́ sống? Kỳ Bá đáp: Lấy mẹ làm nền, lấy cha làm chỗ che chở; mất thần th́ chết, được thần th́ sống.

Dĩ mẫu vi cơ, dĩ phụ vi thuẫn, thất thần giả tử, đắc thần giả sinh dă.: Lấy mẹ làm nền, lấy cha làm chỗ che chở; mất thần th́ chết, được thần th́ sống. Câu này nêu rơ nền tảng h́nh thành thai nhi là do cha mẹ cùng hợp lại, c̣n điều quyết định sự sống là thần.

Hoàng Đế viết: Hà giả vi thần? Kỳ Bá viết: Huyết khí dĩ ḥa, vinh vệ dĩ thông, ngũ tạng dĩ thành, thần khí xá tâm, hồn phách tất cụ, năi thành vi nhân.

Hoàng Đế nói: Thế nào là thần? Kỳ Bá đáp: Huyết khí đă ḥa, dinh vệ đă thông, ngũ tạng đă thành, thần khí cư ở tâm, hồn phách đều đầy đủ, bấy giờ mới thành người.
Huyết khí dĩ ḥa, dinh vệ dĩ thông, ngũ tạng dĩ thành, thần khí xá tâm, hồn phách tất cụ, năi thành vi nhân.
Huyết khí đă điều ḥa, dinh vệ đă thông suốt, ngũ tạng đă h́nh thành, thần khí cư ngụ nơi tim, hồn phách đều đầy đủ, khi đó mới thành người. Câu này chỉ rơ con người là kết quả của sự hoàn chỉnh cả về h́nh thể lẫn thần khí.

Hoàng Đế viết: Nhân chi thọ yểu các bất đồng. Hoặc yểu thọ, hoặc tốt tử, hoặc bệnh cửu, nguyện văn kỳ đạo. Kỳ Bá viết: Ngũ tạng kiên cố, huyết mạch ḥa điều, cơ nhục giải lợi, b́ phu trí mật, doanh vệ chi hành, bất thất kỳ thường, hô hấp vi từ, khí dĩ độ hành, lục phủ hóa cốc, tân dịch bố dương, các như kỳ thường, cố năng trường cửu.

Hoàng Đế nói: Thọ yểu của con người mỗi người mỗi khác. Có người chết yểu, có người đột tử, có người bệnh lâu ngày, tôi muốn nghe đạo lư của việc ấy. Kỳ Bá đáp: Nếu ngũ tạng bền chắc, huyết mạch điều ḥa, cơ nhục thông lợi (利) , da dẻ sít kín, sự vận hành của dinh vệ không mất thường độ, hô hấp nhẹ chậm, khí đi có chừng mực, lục phủ hóa cốc, tân dịch phân bố lưu hành, mọi thứ đều đúng như thường, th́ v́ vậy có thể sống lâu.
Ngũ tạng kiên cố, huyết mạch ḥa điều, cơ nhục giải lợi, b́ phu trí mật, dinh vệ chi hành, bất thất kỳ thường, hô hấp vi từ, khí dĩ độ hành, lục phủ hóa cốc, tân dịch bố dương, các như kỳ thường, cố năng trường cửu.
Ngũ tạng vững chắc, huyết mạch điều ḥa, cơ nhục trơn thông, da dẻ chặt kín, dinh vệ vận hành đúng thường độ, hô hấp điều ḥa, khí vận hành có chừng mực, lục phủ hóa được thủy cốc, tân dịch phân bố b́nh thường, th́ có thể sống lâu. Câu này nêu ra tiêu chuẩn sinh lư của trường thọ.

Hoàng Đế viết: Nhân chi thọ bách tuế nhi tử, hà dĩ trí chi? Kỳ Bá viết: Sử đạo toại dĩ trường, cơ tường cao dĩ phương, thông điều doanh vệ, tam bộ tam lư khởi, cốt cao nhục măn, bách tuế năi đắc chung. (Linh Khu, Thiên Niên)

Hoàng Đế nói: Người sống đến một trăm tuổi rồi mới chết, là do đâu mà được như vậy? Kỳ Bá đáp: Do đường lối vận hành thông suốt mà dài, nền vách cao mà vuông vắn, dinh vệ điều ḥa thông畅, ba bộ ba phần của mặt đều đầy đặn nổi lên, xương cao, thịt đầy, cho nên mới có thể sống trọn đến một trăm tuổi.
Sử đạo toại dĩ trường, cơ tường cao dĩ phương, thông điều dinh vệ, tam bộ tam lư khởi, cốt cao nhục măn, bách tuế năi đắc chung.
Đường vận hành bên trong thông suốt mà dài, nền vách khuôn mặt cao và vuông, dinh vệ điều ḥa, ba phần trên mặt đầy đặn, xương nổi rơ, cơ nhục đầy đủ, th́ mới có thể sống trọn trăm tuổi. Câu này dùng đặc điểm h́nh thể và khí huyết để luận về tướng trường thọ.

Chú thích

1/ 基Cơ: Nghĩa là nền tảng, căn bản.

2/ 楯Thuẫn: Nghĩa gốc là lan can, ở đây mang nghĩa che chở, bảo hộ.

3/神Thần: Theo nghĩa rộng là toàn bộ hoạt động sinh mệnh của cơ thể; theo nghĩa hẹp là hoạt động tư duy ư thức. Ở đây dùng theo nghĩa rộng, chỉ sinh cơ và hoạt lực sống.

4/ 魂魄Hồn phách: Là một bộ phận của hoạt động tinh thần. Xin xem kỹ ở thiên Bản Thần của Linh Khu.

5/ 解利Giải lợi: Có nghĩa là thông利, trôi chảy, không ngưng trệ.

6/ 基牆Cơ tường: Ở đây chỉ toàn bộ khuôn mặt.

7/三部三裡Tam bộ tam lư: Chia mặt thành ba phần trên, giữa, dưới, lấy góc trán, đầu mũi và cằm làm dấu hiệu phân định.

Phân tích

Đoạn kinh văn này nêu ra lư luận phát sinh phôi thai “lấy mẹ làm nền, lấy cha làm chỗ che chở”, cho rằng sự h́nh thành của con người vốn bắt nguồn từ tiên thiên. Cái gọi là “tiên thiên” ở đây là chỉ tinh sinh dục của cha mẹ. Tinh sinh dục của cha mẹ kết hợp với nhau th́ h́nh thành bào thai, rồi ngưng tụ tinh khí mà cấu tạo nên cơ thể người. V́ vậy, việc con người có thể sinh ra là kết quả của sự kết hợp giữa tinh sinh dục âm dương của hai giới tiên thiên. Quan hệ giữa cha và mẹ cũng như quan hệ giữa nền với chỗ che chở, giữa đất và hạt giống; mẹ là nền như đất lớn, cha là thuẫn như hạt giống gieo vào trong đất. Nhất định phải là hai tinh của cha mẹ tương bác, cơ và thuẫn ôm lấy nhau, th́ mới có sự h́nh thành của con người. Đúng như Trương Giới Tân nói:
Nhân chi sinh dă, hợp phụ mẫu chi tinh nhi hữu kỳ thân. Cố dĩ mẫu vi cơ, dĩ phụ vi thuẫn, thí chi giá sắc giả, tất đắc kỳ địa, năi thi dĩ chủng.
Nghĩa là : Con người được sinh ra là do hợp tinh của cha mẹ mà có thân. Cho nên lấy mẹ làm nền, lấy cha làm chỗ che chở; cũng như việc trồng trọt, tất phải có đất rồi sau mới gieo giống. Câu này giải thích rất rơ cơ sở song phương của sự h́nh thành thai nhi.

Tinh của cha mẹ hợp lại th́ h́nh thành bào thai, rồi ngưng tụ tinh khí tiên thiên và hậu thiên mà cấu thành cơ thể người. Tinh khí không những có tính vật chất, là vật chất cơ bản cấu thành cơ thể người, mà c̣n có sức sống vô hạn; hoạt động sinh mệnh của con người chính là biểu hiện cụ thể của sức sống nằm trong tinh khí cấu thành cơ thể, cho nên gọi là thần khí. Con người có thần khí th́ mới duy tŕ được sự sống, mất thần khí th́ sẽ dẫn đến tử vong. Nhưng cần phải chỉ ra rằng thọ yểu của con người không chỉ liên quan đến tiên thiên, mà sự nuôi dưỡng và điều nhiếp (摄) của hậu thiên cũng vô cùng quan trọng. Ví dụ như câu “hô hấp vi từ, khí dĩ độ hành” trong kinh văn, đă vừa do cơ sở phát dục tiên thiên của phế quyết định, lại vừa có quan hệ với việc điều nhiếp khí tức về hậu thiên.

Sinh mệnh của con người bắt nguồn từ tiên thiên chi tinh; tinh hóa khí, khí sinh thần, đó là nền tảng của hoạt động sinh mệnh. Người xưa gọi đó là “tiên thiên sinh hậu thiên”. Nhưng tinh, khí, thần ấy nhất định phải được hậu thiên nuôi dưỡng và bồi dục (育), th́ mới có thể hóa sinh liên tục không ngừng để duy tŕ hoạt động sinh mệnh; điều này gọi là “hậu thiên sinh tiên thiên”. V́ vậy, để duy tŕ sự sung măn mạnh mẽ của hoạt động sinh mệnh và sống trọn tuổi trời, th́ cần phải coi trọng đồng thời cả tiên thiên lẫn hậu thiên, cùng dưỡng cả tinh, khí và thần. Trọng tiên thiên là nói đến ưu sinh, trách nhiệm ở nơi cha mẹ; trọng hậu thiên là nói đến điều nhiếp, trách nhiệm ở nơi bản thân.

Ngoài ra, Nội Kinh c̣n cho rằng có thể từ đặc điểm vùng mặt mà phán đoán thọ yểu của con người. Xương do thận chủ, mà thận là gốc của tiên thiên; thịt do tỳ chủ, mà tỳ là gốc của hậu thiên. Nếu rănh nhân trung sâu và dài, cơ nhục mặt cao dày, đường nét vuông vắn, ba phần trên, giữa, dưới của mặt đều nhô lên mà không lơm xuống, cơ nhục đầy đặn, xương cốt nổi cao, th́ đó là dấu hiệu cho thấy tinh khí tiên thiên và hậu thiên đều sung măn, cho nên con người có thể trường thọ, sống đến trăm tuổi rồi mới hết tuổi trời.

Dĩ nhiên, phương pháp thông qua đặc điểm vùng mặt để xét thịnh suy của tinh khí tiên thiên và hậu thiên, rồi phán đoán thọ yểu, có một phần đạo lư nhất định, nhưng không thể tuyệt đối hóa mối quan hệ giữa diện mạo và thọ yểu. Cần phải kết hợp với những t́nh h́nh khác của toàn thân mà xét một cách tổng hợp.

Về những đặc điểm đầu mặt biểu hiện trường thọ, ngoài thiên này ra, trong Linh Khu c̣n có thể tham khảo thêm các thiên Ngũ Duyệt Ngũ Sứ và Ngũ Sắc. H́nh thái đầu mặt là dấu hiệu của t́nh trạng phát dục tiên thiên. Mặt vuông đầy, tai lớn, ngũ quan đoan chính là biểu hiện phát dục tốt; ngược lại, mặt nhỏ hẹp, đầu dị dạng, ngũ quan không ngay ngắn là biểu hiện của phát dục tiên thiên bất toàn. Phát dục có tốt hay không là điều kiện quan trọng quyết định một người có thể khỏe mạnh trường thọ hay không. Đó là nhận thức mà người xưa thu được sau một quá tŕnh quan sát lâu dài, có căn cứ khách quan và phù hợp với khoa học, không nên xem nó đồng nghĩa với các loại “thuật xem tướng” dùng để tiên đoán cùng thông, họa phúc.

Đặc điểm của các giai đoạn khác nhau trong sinh mệnh và nguyên nhân không thể sống trọn tuổi trời

Nguyên văn
Hoàng Đế viết: Kỳ khí chi thịnh suy, dĩ chí kỳ tử, khả đắc văn hồ? Kỳ Bá viết: Nhân sinh thập tuế, ngũ tạng thủy định, huyết khí dĩ thông, kỳ khí tại hạ, cố hiếu tẩu. Nhị thập tuế, huyết khí thủy thịnh, cơ nhục phương trưởng, cố hiếu xu. Tam thập tuế, ngũ tạng đại định, cơ nhục kiên cố, huyết mạch thịnh măn, cố hiếu bộ. Tứ thập tuế, ngũ tạng lục phủ, thập nhị kinh mạch, giai đại thịnh dĩ b́nh định, thấu lư thủy sơ, vinh hoa đồi lạc, phát phả ban bạch, b́nh thịnh bất dao, cố hiếu tọa. Ngũ thập tuế, can khí thủy suy, can diệp thủy bạc, đởm trấp thủy diệt, mục thủy bất minh. Lục thập tuế, tâm khí thủy suy, khổ ưu bi, huyết khí giải đăi, cố hiếu ngọa. Thất thập tuế, tỳ khí hư, b́ phu khô. Bát thập tuế, phế khí suy, phách ly, cố ngôn thiện ngộ. Cửu thập tuế, thận khí tiêu, tứ tạng kinh mạch không hư. Bách tuế, ngũ tạng giai hư, thần khí giai khứ, h́nh hài độc cư nhi chung hĩ.

Hoàng Đế viết: Kỳ bất năng chung thọ nhi tử giả, hà như? Kỳ Bá viết: Kỳ ngũ tạng giai bất kiên, sử đạo bất trường, không ngoại dĩ trương, suyễn tức bạo tật; hựu ty cơ tường, bạc mạch thiểu huyết, kỳ nhục bất thực, sổ trúng phong hàn, huyết khí hư, mạch bất thông, chân tà tương công, loạn nhi tương dẫn, cố trung thọ nhi tận dă. (Linh Khu, Thiên Niên)

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Sự thịnh suy của khí trong đời người, cho đến lúc chết, có thể được nghe chăng? Kỳ Bá đáp: Con người đến mười tuổi th́ ngũ tạng bắt đầu ổn định, huyết khí đă thông, khí của nó ở phần dưới, cho nên thích chạy. Hai mươi tuổi, huyết khí bắt đầu thịnh, cơ nhục mới lớn đầy đủ, cho nên thích chạy nhanh. Ba mươi tuổi, ngũ tạng đă đại định, cơ nhục cứng chắc, huyết mạch đầy thịnh, cho nên thích đi bộ. Bốn mươi tuổi, ngũ tạng lục phủ và mười hai kinh mạch đều đă đạt mức rất thịnh rồi đi vào ổn định, thấu lư bắt đầu thưa, vinh hoa bắt đầu suy rụng, tóc mai điểm bạc, sự phát triển cực thịnh (盛) không c̣n dao động nữa, cho nên thích ngồi. Năm mươi tuổi, can khí bắt đầu suy, can diệp bắt đầu mỏng, đởm trấp bắt đầu giảm, mắt bắt đầu không c̣n sáng. Sáu mươi tuổi, tâm khí bắt đầu suy, dễ ưu sầu bi khổ, huyết khí giải đăi, cho nên thích nằm. Bảy mươi tuổi, tỳ khí hư, da khô. Tám mươi tuổi, phế khí suy, phách ly, cho nên lời nói thường dễ sai. Chín mươi tuổi, thận khí khô kiệt, bốn tạng và kinh mạch đều trống rỗng hư suy. Một trăm tuổi, ngũ tạng đều hư, thần khí đều rời khỏi, chỉ c̣n thân xác một ḿnh mà kết thúc.

Hoàng Đế nói: C̣n những người không thể sống trọn tuổi trời mà chết sớm th́ thế nào? Kỳ Bá đáp: Là do ngũ tạng của họ đều không vững chắc, đường liên hệ không dài, mũi lỗ hở hướng ra ngoài mà mở rộng, hơi thở suyễn gấp dữ; lại thêm mặt thấp và hẹp, mạch mỏng, ít huyết, cơ nhục không rắn chắc, thường bị phong hàn xâm phạm, huyết khí hư, mạch không thông, chính khí và tà khí đánh nhau, rối loạn rồi lôi kéo nhau đi sâu vào trong, cho nên chỉ sống đến bậc trung thọ rồi hết.

Chú thích

1/ 發頗斑白,平盛不搖Phát phả ban bạch, b́nh thịnh bất dao: Phát phả ban bạch nghĩa là tóc mai hoa râm, điểm bạc. Chữ “phả” đối chiếu với các văn hiến liên quan nên hiểu là tóc mai. “B́nh thịnh bất dao” nghĩa là sự sinh trưởng phát dục đă đạt đến cực điểm, không c̣n tiếp tục phát triển nữa.

2/ 悮Ngộ: Thông với chữ “誤”, nghĩa là sai lầm, nói nhầm.

3/ 石Thạch: Theo các văn hiến có liên quan, chữ này nên hiểu là “實”, tức chắc thực, đầy chắc.
4/ 亂而相引Loạn nhi tương dẫn: Là chỉ chính khí rối loạn khiến tà khí thừa cơ đi sâu vào trong.

Phân tích
Đoạn này bàn về toàn bộ quá tŕnh sinh mệnh của con người từ sau khi sinh ra, qua các giai đoạn, cho đến lúc chết cùng quy luật của nó; đồng thời cũng làm sáng tỏ nguyên nhân khiến con người không thể sống trọn tuổi trời mà chết giữa đường.

(1) Kinh văn lấy mỗi mười năm làm một giai đoạn để luận về quá tŕnh tăng trưởng, cường thịnh, suy lăo và tử vong của cơ thể người, cùng những biến hóa của tạng phủ, kinh lạc, khí huyết và thần, cũng như những đặc điểm bên ngoài tương ứng với các biến hóa ấy.

Con người từ sau khi sinh ra, đến khoảng mười tuổi, đang ở vào buổi đầu của quá tŕnh sinh trưởng phát dục. Khi ấy ngũ tạng bắt đầu kiện toàn, huyết khí vận hành đă thông sướng(畅). Lúc này tinh khí của thận dần dần sung thịnh (充盛), từ dưới mà phát tán khắp toàn thân. Thận khí vừa là vật chất cơ bản để duy tŕ hoạt động sinh mệnh, lại vừa là nguyên động lực của sinh mệnh, v́ vậy không những có thể thúc đẩy cơ thể sinh trưởng phát dục, mà c̣n biểu hiện ra bên ngoài là thích chạy nhảy.

Đến khoảng hai mươi tuổi, sự phát dục đă chín muồi, huyết khí bắt đầu thịnh vượng (旺盛), cơ nhục cũng dần trở nên phát đạt, hành động càng nhanh nhẹn, ưa đi nhanh. Ba mươi tuổi, bước vào thời kỳ tráng niên, ngũ tạng đă phát dục kiện toàn, cơ nhục rắn chắc, huyết mạch dồi dào sung măn, cho nên ưa đi bộ thong thả. V́ sao ở thời kỳ này, thân thể phát dục đang hưng thịnh (隆盛) mà trên hành vi lại biểu hiện là thích đi bộ? Nội Kinh cho rằng thời niên thiếu, huyết khí thông sướng (畅), thận khí thăng phát (升發), cho nên tính t́nh hoạt bát, thích đi động; đến thanh niên th́ huyết khí bắt đầu thịnh, cơ nhục ngày càng phát đạt; bước vào tráng niên, cơ nhục kiên cố, huyết mạch thịnh măn. Nhưng mặt khác, tính t́nh cũng tương ứng mà biến đổi, ngày càng vững vàng trầm ổn, trên hành vi th́ từ thích chạy mà chuyển thành thích đi bộ. Ở đây Nội Kinh đă mô tả rất sinh động sự biến đổi tính t́nh trong suốt quá tŕnh sinh trưởng phát dục.

Đến bốn mươi tuổi, ngũ tạng lục phủ và mười hai kinh mạch đều đạt đến cực điểm của sự thịnh vượng旺盛, sinh trưởng phát dục đă đến giới hạn, tóc mai bắt đầu bạc. Trương Giới Tân chú rằng:
Thiên địa tiêu trưởng chi đạo, vật cực tất biến, thịnh cực tất suy, nhật trung tắc trắc, nguyệt doanh tắc khuy, nhân đương tứ thập, âm khí dĩ bán, cố phát phả ban bạch nhi b́nh thịnh bất dao hiếu tọa giả, suy chi tiệm dă.

Dịch: Đạo tiêu trưởng của trời đất là: vật đến cực th́ ắt biến, thịnh đến cực th́ ắt suy; mặt trời giữa trưa rồi sẽ xế, trăng tṛn rồi sẽ khuyết. Con người đến bốn mươi tuổi, âm khí đă suy một nửa, cho nên tóc mai hoa râm, sự phát triển không c̣n dao động nữa, lại ưa ngồi, đó là cái dần dần đi vào suy. Câu này chỉ rơ rằng từ sau thời cực thịnh盛, sinh mệnh bắt đầu bước vào quá tŕnh lăo hóa.

Thận khí là căn bản của sinh trưởng phát dục nơi cơ thể người. Khi cơ thể từ trạng thái cường thịnh tiến vào lăo hóa, thận khí bắt đầu suy退, thủy không sinh mộc, trước hết ảnh hưởng đến can, dẫn đến can khí suy giảm, can diệp trở nên mỏng yếu, đởm trấp giảm dần, mà mắt là khiếu của can, cho nên thị lực cũng bắt đầu suy giảm. Đồng thời, do can khí suy giảm, theo quy luật mộc sinh hỏa, cho nên đến sáu mươi tuổi lại dẫn đến tâm khí suy giảm; rồi theo thứ tự ngũ hành tương sinh, bảy mươi th́ tỳ khí suy, tám mươi th́ phế khí suy, chín mươi th́ thận khí suy. Đúng như Chu Vĩnh Niên chú:
Nhân chi sinh trưởng, tiên bản ư thận tạng chi tinh khí, ṭng thủy hỏa nhi sinh mộc kim thổ, tiên thiên chi ngũ hành dă. Nhân chi suy lăo, ṭng can mộc dĩ cập ư hỏa thổ kim thủy, hậu thiên chi ngũ hành dă.

Dịch: Sự sinh trưởng của con người trước hết lấy tinh khí của thận làm gốc, rồi từ thủy hỏa mà sinh ra mộc kim thổ, đó là ngũ hành tiên thiên. C̣n sự suy lăo của con người th́ từ can mộc mà lan đến hỏa, thổ, kim, thủy, đó là ngũ hành hậu thiên. Câu này giải thích diễn tŕnh sinh trưởng và lăo hóa dưới góc độ ngũ hành.

Con người đến một trăm tuổi th́ đă tới giai đoạn cuối của suy lăo, tạng khí của ngũ tạng đều hư suy, hoạt động công năng đ́nh chỉ, cái gọi là “thần khí giai khứ”, chỉ c̣n lại thân xác, và hết tuổi trời mà chết.

Đoạn này cùng với đoạn “người già mà không có con” trong Tố Vấn, thiên Thượng Cổ Thiên Chân Luận, đều bàn về quá tŕnh sinh mệnh và tính giai đoạn của nó. Nhưng Tố Vấn, thiên Thượng Cổ Thiên Chân Luận lấy nữ bảy và nam tám làm đơn vị giai đoạn, trọng điểm là phát huy quy luật thịnh suy của công năng sinh thực殖; từ một bảy, một tám cho đến bảy bảy, tám tám, đó là một bộ phận của quá tŕnh sinh mệnh. C̣n đoạn này th́ lấy mười tuổi làm một giai đoạn, trọng điểm là phát huy quy luật biến hóa của toàn bộ công năng sinh lư cơ thể, cho nên là nói về toàn bộ quá tŕnh của sinh mệnh. Tuy cách chia khác nhau, nhưng cả hai đều lập luận dựa trên quy luật tự nhiên thịnh suy của tiên thiên tinh khí, cho nên có thể soi sáng lẫn nhau.

(2) Phần “những người không thể sống trọn tuổi trời… cho nên trung thọ mà hết” là luận thuật述 rằng thọ yểu của con người không chỉ liên quan đến tiên thiên, mà c̣n liên quan đến hậu thiên. Nếu tiên hậu thiên thất điều th́ sẽ chỉ sống đến bậc trung thọ rồi chết yểu.

Trước hết, những người không thể trường thọ phần nhiều là do tiên thiên bẩm phú bất túc, chủ yếu biểu hiện ở chỗ ngũ tạng mềm yếu, không chắc. Đặc điểm bên ngoài thường thấy là rănh nhân trung không dài, lỗ mũi mở hướng ra ngoài, phế khí dễ thoát ra ngoài, hô hấp suyễn gấp, gấp dữ. Hoặc có thể biểu hiện bằng bộ mặt gầy mỏng, không phong phú, thể mạch mỏng yếu, huyết trong mạch ít và không dồi dào, cơ nhục không rắn chắc, đều là những dấu hiệu bất túc. Nếu tiên thiên bẩm phú hư yếu nhưng biết chú ư điều dưỡng và bồi bổ hậu thiên, th́ chưa hẳn không thể sống trọn tuổi trời. Nhưng nếu tiên thiên đă bất túc mà lại không chú ư nuôi dưỡng và điều nhiếp摄 hậu thiên, khiến cho thấu lư lỏng lẻo, vệ ngoại không kín, nhiều lần bị phong hàn xâm phạm, làm tổn thương chính khí, huyết khí hư suy, kinh mạch không thông, chính khí không đủ sức chống tà, ngoại tà lại càng dễ xâm nhập, chính tà giao tranh, chân khí bại loạn, không những không đuổi được tà ra ngoài mà trái lại c̣n dẫn tà đi sâu vào trong, quấy nhiễu (扰) bên trong cơ thể, cho nên chỉ sống đến bậc trung thọ rồi chết. Điều này chỉ rơ rằng tiên thiên bất túc, hậu thiên thất dưỡng, tiên thiên và hậu thiên không điều ḥa với nhau, sẽ dẫn đến kết quả trung thọ mà tận.

Như vậy, đoạn này nhấn mạnh quan điểm rất cơ bản rằng sự điều ḥa hay không giữa tiên thiên và hậu thiên chính là mấu chốt quyết định thọ yểu. V́ vậy Trương Chí Thông nói:

Thử ngôn nhân bẩm tiên thiên chi khí hư bạc nhi hậu thiên do khả tư bồi, cánh năng vô phạm tặc phong hư tà, diệc khả diên niên ích thọ. Nhược bẩm khí hư nhược, nhi hựu bất năng điều dưỡng, kiêm chi số trúng phong hàn, dĩ trí trung đạo yểu nhi bất năng tận kỳ thiên niên hĩ.

Đoạn này nói rằng nếu con người bẩm thụ tiên thiên chi khí tuy hư mỏng (薄), nhưng hậu thiên c̣n có thể bồi bổ, lại thêm có thể tránh không bị tặc phong hư tà xâm phạm, th́ vẫn có thể kéo dài năm tháng, tăng thêm tuổi thọ. Nhưng nếu bẩm khí đă hư nhược mà lại không biết điều dưỡng, thêm vào thường xuyên bị phong hàn xâm phạm, th́ sẽ chết yểu giữa đường mà không thể sống trọn tuổi trời.

V́ vậy, để duy tŕ cho hoạt động sinh mệnh được phong phú và thịnh vượng, để sống trọn tuổi trời, th́ nhất định phải coi trọng đồng thời cả tiên thiên và hậu thiên, cùng nuôi dưỡng cả tinh, khí và thần.

Tác dụng quan trọng của Vị, và mối quan hệ mật thiết giữa dinh khí, vệ khí, tông khí với Vị

Nguyên văn
Hoàng Đế nói: Tôi muốn nghe rằng cốc khí có năm vị; khi chúng vào ngũ tạng th́ phân biệt ra sao? Bá Cao đáp: Vị là biển của ngũ tạng lục phủ, thủy cốc đều vào ở Vị, ngũ tạng lục phủ đều bẩm thụ khí từ Vị. Năm vị mỗi vị đều đi đến nơi mà nó ưa thích; vị chua của cốc th́ trước hết đi vào Can; vị đắng th́ trước hết đi vào Tâm; vị ngọt th́ trước hết đi vào Tỳ; vị cay th́ trước hết đi vào Phế; vị mặn th́ trước hết đi vào Thận. Khi cốc khí và tân dịch đă vận hành, dinh khí và vệ khí thông đạt lớn lao, rồi mới hóa thành cặn bă, tuần tự truyền xuống dưới.

「胃者,五藏六府之海也」
Vị giả, ngũ tạng lục phủ chi hải dă.
Vị là biển của ngũ tạng lục phủ. Câu này nhấn mạnh rằng Vị là nơi hội tụ và cung cấp nguồn nuôi dưỡng cho toàn bộ tạng phủ.

「水榖皆入於胃,五藏六府皆稟氣於胃」
Thủy cốc giai nhập ư Vị, ngũ tạng lục phủ giai bẩm khí ư Vị.
Mọi thủy cốc đều vào Vị, ngũ tạng lục phủ đều nhận khí từ Vị. Ư nói mọi nguồn dinh dưỡng hậu thiên đều phải qua Vị rồi mới phân bố nuôi toàn thân.

「五味各走其所喜」
Ngũ vị các tẩu kỳ sở hỉ.
Năm vị mỗi vị đi đến nơi mà nó thích. Câu này nói lên tính thiên hướng lựa chọn của ngũ vị đối với ngũ tạng.

「穀味酸,先走肝;榖味苦,先走心;榖味甘,先走脾;榖味辛,先走肺;榖味鹹,先走腎。」
Cốc vị toan, tiên tẩu Can; cốc vị khổ, tiên tẩu Tâm; cốc vị cam, tiên tẩu Tỳ; cốc vị tân, tiên tẩu Phế; cốc vị hàm, tiên tẩu Thận.
Vị chua trước vào Can, vị đắng trước vào Tâm, vị ngọt trước vào Tỳ, vị cay trước vào Phế, vị mặn trước vào Thận. Đây là quy luật quy thuộc chung của ngũ vị đối với ngũ tạng.

「穀氣津液已行,營衛大通,乃化糟粕,以次傳下」
Cốc khí tân dịch dĩ hành, dinh vệ đại thông, năi hóa tao phách, dĩ thứ truyền hạ.
Khi cốc khí và tân dịch đă vận hành, dinh vệ thông suốt, rồi mới hóa cặn bă mà truyền xuống dưới. Câu này nêu tŕnh tự vận hóa thủy cốc của cơ thể.

Hoàng Đế viết: Doanh vệ chi hành nại hà? Bá Cao viết: Cốc thủy nhập ư vị, kỳ tinh vi giả, tiên xuất ư vị chi lưỡng tiêu, dĩ khái ngũ tạng, biệt xuất lưỡng hành, doanh vệ chi đạo. Kỳ đại khí chi đoàn nhi bất hành giả, tích ư hung trung, mệnh viết khí hải, xuất ư phế, tuần hầu yết, cố hô tắc xuất, hấp tắc nhập. Thiên địa chi tinh khí, kỳ đại số thường xuất tam nhập nhất, cố cốc bất nhập, bán nhật tắc khí suy, nhất nhật tắc khí thiểu hĩ. (Linh Khu, Ngũ Vị): Hoàng Đế nói: Sự vận hành của dinh khí và vệ khí ra sao? Bá Cao đáp: Khi cốc mới vào Vị, phần tinh vi của nó trước hết xuất ra từ hai tiêu của Vị, để tưới nhuần ngũ tạng, rồi chia ra làm hai đường đi riêng, tức là đường của dinh và vệ. C̣n đại khí do kết tụ mà không đi được, th́ tích ở trong ngực, gọi là khí hải, phát ra từ Phế, theo họng hầu mà đi, cho nên thở ra th́ xuất, hít vào th́ nhập. Tinh khí của trời đất, xét về số lớn th́ thường thở ra ba mà hít vào một, cho nên nếu cốc không vào, nửa ngày th́ khí đă suy, một ngày th́ khí sẽ ít đi vậy.

「營衛之行奈何」
Dinh vệ chi hành nại hà.
Dinh khí và vệ khí vận hành như thế nào? Đây là câu hỏi mở đầu cho phần giải thích về nguồn gốc và đường đi của dinh vệ.

「穀始入於胃,其精微者,先出於胃之兩焦,以溉五藏,別出兩行,營衛之道」
Cốc thủy nhập ư Vị, kỳ tinh vi giả, tiên xuất ư Vị chi lưỡng tiêu, dĩ khái ngũ tạng, biệt xuất lưỡng hành, dinh vệ chi đạo.
Khi cốc mới vào Vị, phần tinh vi của nó trước hết đi ra từ hai tiêu của Vị để tưới ngũ tạng, rồi tách thành hai đường là đường đi của dinh khí và vệ khí. Câu này chỉ ra rằng dinh vệ đều bắt nguồn từ thủy cốc tinh vi do Vị hóa sinh.

「其大氣之摶而不行者,積於胸中,命曰氣海」
Kỳ đại khí chi đoàn nhi bất hành giả, tích ư hung trung, mệnh viết khí hải.
Phần đại khí kết tụ mà không đi th́ tích ở trong ngực, gọi là khí hải. Đây là mô tả sự h́nh thành của tông khí ở ngực.

「出於肺,循喉咽,故呼則出,吸則入」
Xuất ư Phế, tuần hầu yết, cố hô tắc xuất, hấp tắc nhập.
Khí ấy ra từ Phế, theo họng mà đi, nên thở ra th́ xuất, hít vào th́ nhập. Câu này cho thấy tông khí liên hệ trực tiếp với công năng hô hấp của Phế.

「天地之精氣,其大數常出三入一」
Thiên địa chi tinh khí, kỳ đại số thường xuất tam nhập nhất.
Tinh khí của trời đất, xét về đại số th́ thường thở ra ba, hít vào một. Câu này dùng để nhấn mạnh sự tiêu hao khí trong hô hấp và nhu cầu phải luôn được bổ sung từ thủy cốc.

「故穀不入,半日則氣衰,一日則氣少矣」
Cố cốc bất nhập, bán nhật tắc khí suy, nhất nhật tắc khí thiểu hĩ.
V́ vậy nếu cốc không vào, nửa ngày th́ khí suy, một ngày th́ khí ít đi. Ư nói Vị khí và thủy cốc là nguồn gốc rất quan trọng để duy tŕ khí của cơ thể.

Chú thích

之Chi :Ở đây có nghĩa là “đến”.
大氣Đại khí: Chính là tông khí, do thủy cốc tinh khí kết hợp với thanh khí hít vào mà thành.
天地之精氣Thiên địa chi tinh khí: Chỉ thanh khí trong tự nhiên được hít vào và tinh vi thủy cốc do ăn uống đưa vào.

Phân tích

Đoạn này trọng điểm luận về tác dụng quan trọng của Vị, nêu ra luận điểm Vị là “biển của ngũ tạng lục phủ”, đồng thời chứng minh mối quan hệ mật thiết giữa dinh khí, vệ khí, tông khí với Vị.

Câu “Vị giả, ngũ tạng lục phủ chi hải dă” nhấn mạnh tầm quan trọng của Vị trong việc duy tŕ công năng sinh lư b́nh thường của cơ thể. Vị lấy thu nạp và tiêu hóa thủy cốc làm chức năng chủ yếu, cho nên Vị là nơi hội tụ dinh dưỡng của ngũ tạng lục phủ, v́ thế gọi là biển của ngũ tạng lục phủ. Thức ăn, nước uống vào trong Vị, rồi ngũ tạng lục phủ đều phải bẩm thụ tinh vi chi khí do Vị hóa sinh, nhờ đó mới duy tŕ được công năng sinh lư b́nh thường. V́ vậy con người lấy Vị khí làm gốc; nếu Vị khí suy bại, th́ tạng phủ và tổ chức sẽ không c̣n được nuôi dưỡng, khả năng chống bệnh suy giảm, mà việc dùng thuốc cũng không thể phát huy tác dụng vốn có. Bởi thế, y gia từ xưa đến nay đều rất coi trọng việc bảo hộ Vị khí, đúng như câu nói:

「有胃氣則生,無胃氣則死」
Hữu Vị khí tắc sinh, vô Vị khí tắc tử.
Có Vị khí th́ sống, không có Vị khí th́ chết. Câu này nêu bật ư nghĩa sinh tử của Vị khí trong lâm sàng.

Câu “ngũ vị các tẩu kỳ sở hỉ...” luận về quy luật chung của ngũ vị quy thuộc ngũ tạng. Sau khi ngũ vị vào Vị, tác dụng của chúng đối với ngũ tạng không giống nhau, điều này phản ánh tính lựa chọn nhất định của ngũ vị đối với ngũ tạng. Vị chua sau khi vào Vị th́ trước vào Can; vị đắng trước vào Tâm; vị ngọt trước vào Tỳ; vị cay trước vào Phế; vị mặn trước vào Thận. V́ vậy, thiên lệch trong ăn uống ngũ vị sẽ dẫn đến bất thường trong công năng của ngũ tạng. Chẳng hạn ăn quá nhiều vị chua có thể làm Can khí thiên thịnh, ảnh hưởng sang Tỳ, khiến Tỳ khí suy yếu. Do đó, hiểu được quan hệ giữa ngũ vị và ngũ tạng sẽ giúp ích cho việc nhận thức bệnh cơ của bệnh tật, và điều này cũng đă cung cấp căn cứ cho lư luận quy kinh của dược vật về sau.

Tuy nhiên, ngũ vị quy thuộc ngũ tạng không phải là tuyệt đối. Nội Kinh nhấn mạnh chữ “tiên tẩu”, tức là có tạng được vào trước, cũng có tạng được vào sau; v́ vậy không thể máy móc cho rằng một vị chỉ có thể vào một tạng mà không thể vào tạng khác.

Sự phân bố của “tứ hải” và các du huyệt

Nguyên văn

Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Dư văn thích pháp ư phu tử, phu tử chi sở ngôn, bất ly ư doanh vệ huyết khí. Phù thập nhị kinh mạch giả, nội thuộc ư phủ tạng, ngoại lạc ư chi tiết, phu tử năi hợp chi ư tứ hải hồ? Kỳ Bá đáp viết: Nhân diệc hữu tứ hải, thập nhị kinh thủy. Kinh thủy giả, giai chú ư hải, hải hữu đông tây nam bắc, mệnh viết tứ hải. Hoàng Đế viết: Dĩ nhân ứng chi nại hà? Kỳ Bá viết: Nhân hữu tủy hải, hữu huyết hải, hữu khí hải, hữu thủy cốc chi hải, phàm thử tứ giả, dĩ ứng tứ hải dă.

Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Ta nghe phép châm từ tiên sinh, điều tiên sinh nói không rời dinh vệ huyết khí. Mười hai kinh mạch th́ bên trong thuộc phủ tạng, bên ngoài lạc với chi tiết, vậy tiên sinh lại đem hợp chúng với tứ hải chăng? Kỳ Bá đáp: Con người cũng có tứ hải và mười hai kinh thủy. Kinh thủy th́ đều chảy vào biển; biển có đông, tây, nam, bắc, gọi là tứ hải. Hoàng Đế nói: Đem ứng với người th́ ra sao? Kỳ Bá đáp: Người có tủy hải, có huyết hải, có khí hải, có thủy cốc chi hải; bốn thứ này dùng để ứng với tứ hải vậy.

「夫十二經脈者,內屬於府藏,外絡於肢節」
Phù thập nhị kinh mạch giả, nội thuộc ư phủ tạng, ngoại lạc ư chi tiết.
Mười hai kinh mạch th́ trong thuộc phủ tạng, ngoài lạc với chi tiết. Câu này nêu lên tính chỉnh thể và tính liên lạc trong ngoài của hệ kinh mạch.

「人亦有四海、十二經水」
Nhân diệc hữu tứ hải, thập nhị kinh thủy.
Con người cũng có tứ hải và mười hai kinh thủy. Đây là cách dùng h́nh tượng tự nhiên để ví hệ thống vận hành khí huyết của cơ thể.

「人有髓海,有血海,有氣海,有水穀之海」
Nhân hữu tủy hải, hữu huyết hải, hữu khí hải, hữu thủy cốc chi hải.
Con người có biển của tủy, biển của huyết, biển của khí, và biển của thủy cốc. Câu này xác lập khái niệm “tứ hải” trong thân người.

Hoàng Đế viết: Viễn hồ tai, phu tử chi hợp nhân thiên địa tứ hải dă, nguyện văn ứng chi nại hà? Kỳ Bá đáp viết: Tất tiên minh tri âm dương biểu lư huỳnh du sở tại, tứ hải định hĩ. Hoàng Đế viết: Định chi nại hà? Kỳ Bá viết: Vị giả, thủy cốc chi hải, kỳ du thượng tại Khí nhai, hạ chí Tam lư; Xung mạch giả, vi thập nhị kinh chi hải, kỳ du thượng tại ư Đại trữ, bất xuất ư Cự hư chi thượng hạ liêm; Đản trung giả, vi khí chi hải, kỳ du thượng tại ư Trụ cốt chi thượng hạ, tiền tại ư Nhân nghênh; Năo vi tủy chi hải, kỳ du thượng tại ư kỳ cái, hạ tại Phong phủ. (Linh Khu, Hải Luận)

Hoàng Đế nói: Xa rộng thay, cái mà tiên sinh đem hợp giữa con người với trời đất và tứ hải. Tôi muốn nghe rằng chúng ứng hợp ra sao? Kỳ Bá đáp: Trước hết phải biết rơ chỗ tồn tại (所在) của âm dương, biểu lư và các nơi huỳnh du vận chuyển, th́ tứ hải sẽ định được. Hoàng Đế nói: Định thế nào? Kỳ Bá đáp: Vị là biển của thủy cốc, nơi du chuyển của nó phía trên ở Khí nhai, phía dưới đến Tam lư; Xung mạch là biển của mười hai kinh, nơi du chuyển của nó phía trên ở Đại trữ, phía dưới không vượt ra ngoài Thượng cự hư và Hạ cự hư; Đản trung là biển của khí, nơi du chuyển của nó phía trên ở trên dưới Trụ cốt, phía trước ở Nhân nghênh; Năo là biển của tủy, nơi du chuyển của nó phía trên ở Bách hội, phía dưới ở Phong phủ.

「胃者,水穀之海」
Vị giả, thủy cốc chi hải.
Vị là biển của thủy cốc. Ư nói Vị là nơi hội tụ, tiếp nhận và phân bố nguồn dinh dưỡng do thủy cốc mang lại.

「沖脈者,為十二經之海」
Xung mạch giả, vi thập nhị kinh chi hải.
Xung mạch là biển của mười hai kinh. Câu này nêu địa vị quan trọng của Xung mạch trong hệ thống khí huyết toàn thân.

「膻中者,為氣之海」
Đản trung giả, vi khí chi hải.
Đản trung là biển của khí. Ư nói vùng đản trung là nơi sinh thành và tụ hội của tông khí.

「腦為髓之海」
Năo vi tủy chi hải.
Năo là biển của tủy. Câu này xác định năo là nơi hội tụ của tủy, có liên hệ mật thiết với tinh tủy của Thận.

Chú thích

滎輸
Huỳnh du
Ở đây chỉ nơi tinh khí của “tứ hải” được vận chuyển và rót vào.
膻中
Đản trung
Ở đây chỉ toàn bộ lồng ngực.
柱骨之上下
Trụ cốt chi thượng hạ
Trụ cốt, tức thiên trụ cốt, ở đây chỉ đốt sống cổ thứ bảy; “thượng” là Á môn huyệt, ở giữa đốt sống cổ thứ nhất và thứ hai; “hạ” là Đại chùy huyệt, ở giữa đốt cổ thứ bảy và đốt ngực thứ nhất; đều thuộc Đốc mạch.

Cái
Ở đây chỉ Bách hội huyệt, ở giữa đỉnh đầu, thuộc Đốc mạch.
風府
Phong phủ
Tên huyệt, nằm trên đường giữa phía sau đầu, vào trong đường chân tóc một thốn, thuộc Đốc mạch.

Phân tích
Đoạn này tŕnh bày rằng trong cơ thể người, Vị, Xung mạch, Đản trung và Năo là nơi hội tụ của thủy cốc, huyết, khí và tủy; dùng bốn biển đông, tây, nam, bắc của tự nhiên để ví với chúng, từ đó nêu ra khái niệm “tứ hải” của thân người, cho thấy vai tṛ quan trọng của tứ hải đối với hoạt động sinh mệnh.

Danh xưng về Vị và Xung mạch được nêu trong đoạn này không hoàn toàn giống với các thiên khác của Hoàng Đế Nội Kinh. Ở thiên này, Vị được gọi là “thủy cốc chi hải”, trong khi các thiên Động Du, Ngũ Vị, Thái Âm Dương Minh Luận v.v. lại gọi nó là “ngũ tạng lục phủ chi hải”. C̣n Xung mạch th́ được gọi là “huyết hải”, “thập nhị kinh chi hải”, trong khi thiên Thuận Nghịch Ph́ Sấu lại gọi nó là “ngũ tạng lục phủ chi hải”. Đối với sự khác biệt này, Trương Giới Tân đă giải thích khá rơ:
Nhược thử chư thuyết, tắc Vị dữ Xung mạch giai vi ngũ tạng lục phủ chi hải, hựu tương hà dĩ biện? Cố bổn thiên hữu thủy cốc chi hải, huyết hải chi phân. Thủy cốc chi hải giả, ngôn thủy cốc thịnh trữ ư thử, dinh vệ do chi nhi hóa sinh dă; huyết hải giả, ngôn thụ nạp chư kinh chi quán chú, tinh huyết ư thử nhi súc tàng dă, thử cố kỳ biện hĩ.
Nếu theo các thuyết ấy th́ Vị và Xung mạch đều là biển của ngũ tạng lục phủ, vậy lấy ǵ mà phân biệt? Cho nên thiên này mới phân ra biển của thủy cốc và biển của huyết. Biển của thủy cốc là nói thủy cốc chứa盛 ở đó, rồi dinh vệ từ đó mà hóa sinh; biển của huyết là nói nó tiếp nhận sự灌注 của các kinh, tinh huyết tích chứa ở đó. Đó chính là chỗ phân biệt.

Ông lại khảo sát thêm trong thiên Nuy Luận:
Dương minh giả, ngũ tạng lục phủ chi hải, chủ nhuận tông cân, tông cân chủ thúc cốt nhi lợi cơ quan dă. Xung mạch giả, kinh mạch chi hải dă, chủ thấm quán khê cốc, dữ Dương minh hợp ư tông cân. Dương minh tổng tông cân chi hội, hội ư Khí nhai, nhi Dương minh vi chi trưởng.

Ông giải rằng Dương minh là phủ nhiều khí nhiều huyết, cho nên chủ về nhuận tông cân, làm lợi cơ quan; c̣n Xung mạch là kinh hội tụ tinh huyết, cho nên chủ về thấm tưới các khe cốc. Lại v́ Xung mạch khởi ở bào trung, đi cùng đại lộ của Thiếu âm mà xuống; Dương minh là trưởng của các kinh, cũng hội ở tiền âm. Bởi thế tinh huyết của nam nữ đều từ tiền âm mà giáng xuống, v́ khí huyết của hai kinh này cùng hội tụ ở đó, cho nên đều được gọi là biển của ngũ tạng lục phủ và thập nhị kinh, quả thực không thể so với các kinh khác.

Bệnh tượng của tứ hải trong cơ thể và nguyên tắc điều trị

Nguyên văn
Hoàng Đế nói: Phàm bốn biển này, thế nào là lợi, thế nào là hại? Thế nào là sinh, thế nào là bại? Kỳ Bá đáp: Được thuận th́ sống, được nghịch th́ hỏng; biết điều chỉnh th́ lợi, không biết điều chỉnh th́ hại.
「得順者生,得逆者敗」
Đắc thuận giả sinh, đắc nghịch giả bại.
Được thuận th́ sống, được nghịch th́ bại. Câu này khái quát nguyên tắc sinh lư và bệnh lư của tứ hải.
「知調者利,不知調者害」
Tri điều giả lợi, bất tri điều giả hại.
Biết điều chỉnh th́ có lợi, không biết điều chỉnh th́ có hại. Đây là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trị liệu đúng quy luật.

Hoàng Đế viết: Tứ hải chi nghịch thuận nại hà? Kỳ Bá viết: Khí hải hữu dư giả, khí măn hung trung, phủ tức diện xích; khí hải bất túc, tắc khí thiểu bất túc dĩ ngôn. Huyết hải hữu dư, tắc thường tưởng kỳ thân đại, phất nhiên bất tri kỳ sở bệnh; huyết hải bất túc, diệc thường tưởng kỳ thân tiểu, hiệp nhiên bất tri kỳ sở bệnh. Thủy cốc chi hải hữu dư, tắc phúc măn; thủy cốc chi hải bất túc, tắc cơ bất thụ cốc thực. Tủy hải hữu dư, tắc khinh ḱnh đa lực, tự quá kỳ độ; tủy hải bất túc, tắc năo chuyển nhĩ minh, hĩnh toan huyễn mạo, mục vô sở kiến, giải đăi an ngọa.

Hoàng Đế viết: Dư dĩ văn nghịch thuận, điều chi nại hà? Kỳ Bá viết: Thẩm thủ kỳ du, nhi điều kỳ hư thực, vô phạm kỳ hại, thuận giả đắc phục, nghịch giả tất bại. Hoàng Đế viết: Thiện. (Linh Khu, Hải Luận): Hoàng Đế nói: Thuận nghịch của tứ hải ra sao? Kỳ Bá đáp: Khí hải hữu dư th́ khí đầy ở trong ngực, cúi người thở gấp, mặt đỏ; khí hải bất túc th́ khí ít, không đủ để nói. Huyết hải hữu dư th́ thường cảm thấy thân ḿnh lớn, bực bội mà không biết ḿnh mắc bệnh ǵ; huyết hải bất túc th́ thường cảm thấy thân ḿnh nhỏ, ngực ḷng bức bối mà không biết ḿnh mắc bệnh ǵ. Thủy cốc chi hải hữu dư th́ bụng đầy; thủy cốc chi hải bất túc th́ đói mà không nhận được cốc thực. Tủy hải hữu dư th́ nhẹ nhàng, mạnh mẽ, nhiều sức, vượt quá mức thường của ḿnh; tủy hải bất túc th́ đầu óc quay cuồng, tai ù, cẳng chân mỏi đau, choáng váng, mắt không thấy rơ, mệt mỏi, chỉ thích nằm nghỉ.
Hoàng Đế nói: Ta đă nghe về thuận nghịch rồi, vậy điều chỉnh nó thế nào? Kỳ Bá đáp: Xét kỹ và giữ đúng chỗ du chuyển của nó, điều chỉnh hư thực của nó, không phạm vào điều có hại, th́ cái thuận sẽ được hồi phục, cái nghịch ắt sẽ hỏng. Hoàng Đế nói: Hay lắm.
Hoàng Đế viết: Tứ hải chi nghịch thuận nại hà? Kỳ Bá viết: Khí hải hữu dư giả, khí măn hung trung, phủ tức diện xích; khí hải bất túc, tắc khí thiểu bất túc dĩ ngôn. Huyết hải hữu dư, tắc thường tưởng kỳ thân đại, phất nhiên bất tri kỳ sở bệnh; huyết hải bất túc, diệc thường tưởng kỳ thân tiểu, hiệp nhiên bất tri kỳ sở bệnh. Thủy cốc chi hải hữu dư, tắc phúc măn; thủy cốc chi hải bất túc, tắc cơ bất thụ cốc thực. Tủy hải hữu dư, tắc khinh ḱnh đa lực, tự quá kỳ độ; tủy hải bất túc, tắc năo chuyển nhĩ minh, hĩnh toan huyễn mạo, mục vô sở kiến, giải đăi an ngọa.

Hoàng Đế viết: Dư dĩ văn nghịch thuận, điều chi nại hà? Kỳ Bá viết: Thẩm thủ kỳ du, nhi điều kỳ hư thực, vô phạm kỳ hại, thuận giả đắc phục, nghịch giả tất bại. Hoàng Đế viết: Thiện. (Linh Khu, Hải Luận)
Khí hải hữu dư giả, khí măn hung trung, phủ tức diện xích.
Khí hải hữu dư th́ khí đầy trong ngực, cúi người mà thở gấp, mặt đỏ. Đây là biểu hiện thực chứng của khí hải.
「氣海不足,則氣少不足以言」
Khí hải bất túc, tắc khí thiểu bất túc dĩ ngôn.
Khí hải bất túc th́ khí ít, không đủ sức để nói. Đây là biểu hiện hư chứng của khí hải.
「水穀之海有餘,則腹滿;水穀之海不足,則饑不受穀食」
Thủy cốc chi hải hữu dư, tắc phúc măn; thủy cốc chi hải bất túc, tắc cơ bất thụ cốc thực.
Biển của thủy cốc mà hữu dư th́ bụng đầy; bất túc th́ đói mà không ăn được. Câu này nêu hai loại bệnh tượng thực hư của Vị và Tỳ Vị.

「髓海有餘,則輕勁多力,自過其度;髓海不足,則腦轉耳鳴,脛酸眩冒,目無所見,懈怠安臥」
Tủy hải hữu dư, tắc khinh ḱnh đa lực, tự quá kỳ độ; tủy hải bất túc, tắc năo chuyển nhĩ minh, hĩnh toan huyễn mạo, mục vô sở kiến, giải đăi an ngọa.
Tủy hải hữu dư th́ thân thể nhẹ mạnh, sức nhiều, vượt quá thường độ; tủy hải bất túc th́ đầu quay, tai ù, cẳng chân mỏi đau, hoa mắt chóng mặt, nh́n không rơ, uể oải chỉ thích nằm. Đây là mô tả rất cụ thể trạng thái thịnh suy của tủy hải.

「審守其輸,而調其虛實」
Thẩm thủ kỳ du, nhi điều kỳ hư thực.
Xét kỹ chỗ vận chuyển của nó, rồi điều chỉnh hư thực của nó. Đây là nguyên tắc trị liệu chung đối với bệnh của tứ hải.

Chú thích

俛息Phủ tức Chữ “phủ” ở đây tức là “muộn”, chỉ ngực bức bối phiền muộn; “tức” là thở gấp, hơi thở suyễn cấp.
怫然Phất nhiên Chỉ dáng vẻ phiền táo, dễ nổi giận.
狹然Hiệp nhiên Chỉ cảm giác ngực bụng bức chật, không thư thái (畅 sướng).

Phân tích

Đoạn này luận về bệnh tượng của tứ hải khi hữu dư hoặc bất túc, cùng nguyên tắc trị liệu của chúng.

Những biểu hiện hữu dư và bất túc của tứ hải mà kinh văn nêu ra, ngoài riêng trường hợp “tủy hải hữu dư”, về thực chất c̣n có quan hệ với bệnh biến của các tạng phủ như Phế, Vị, Thận. Lấy trường hợp bất túc làm ví dụ: khí hải bất túc với biểu hiện khí ít, không đủ sức nói, phần nhiều có quan hệ mật thiết với Phế khí bất túc; thủy cốc chi hải bất túc với biểu hiện đói mà không nhận cốc thực, phần nhiều thuộc Tỳ Vị khí hư nhược; c̣n tủy hải bất túc với các chứng năo chuyển, nhĩ minh th́ phần nhiều liên quan đến Thận âm khuy tổn. Về phần “huyết hải bất túc, thường nghĩ thân ḿnh nhỏ”, đó là một loại ảo giác của người bệnh, có thể liên hệ với quan điểm “Can chủ huyết hải” để hiểu.

Đối với câu “tủy hải hữu dư, tắc khinh ḱnh đa lực, tự quá kỳ độ”, Mă Th́ cho rằng:

「此言髓海之偏勝而病者,見其所以為逆,反此則為順也。」
Thử ngôn tủy hải chi thiên thắng nhi bệnh giả, kiến kỳ sở dĩ vi nghịch, phản thử tắc vi thuận dă.
Đây là nói về trường hợp tủy hải thiên thắng mà thành bệnh, cho thấy v́ sao gọi là nghịch; trái lại với điều ấy th́ là thuận. Ư ông cho rằng “hữu dư” ở đây chưa chắc là b́nh thường, mà có thể là một dạng thiên thắng, thực tà.

Đối chiếu với lâm sàng, những bệnh nhân tinh thần cuồng táo do đàm hỏa phạm năo, hoặc tà khí hữu dư mà thuộc thực chứng, thường có các biểu hiện như trèo tường, leo nóc nhà, chạy nhanh lên chỗ cao; những hành vi phát ra khi bệnh khiến họ nhẹ nhanh và mạnh hơn ngày thường, đó chính là một loại biểu hiện của “tự quá kỳ độ”.

Do Vị là thủy cốc chi hải, là tạng khí tiếp nhận và làm chín (腐熟) thủy cốc, lại biểu lư với Tỳ, cho nên bệnh chứng của thủy cốc chi hải chính là tật bệnh của Tỳ Vị. Chứng hữu dư của thủy cốc chi hải, như thực trệ ở Vị quản, có thể thấy các chứng quản phúc trướng thống, cự án, thôn toan, ái hủ, nôn mửa, không muốn ăn uống, đại tiện không thông hoặc lỵ trệ bất sảng; phép trị nên tiêu thực đạo trệ. Chứng bất túc của nó, như Tỳ Vị khí hư, biểu hiện nạp giảm, đói mà không muốn ăn, ăn xong đầy trướng, th́ điều trị lại nên bổ ích trung khí, dùng những phương như Bổ trung ích khí thang. Đúng như phần sau của thiên Hải Luận nói:

「水穀之海有餘,則腹滿;水穀之海不足,則饑不受穀食。」
Thủy cốc chi hải hữu dư, tắc phúc măn; thủy cốc chi hải bất túc, tắc cơ bất thụ cốc thực.

Xung mạch là biển của mười hai kinh mạch, là nơi xung yếu của khí huyết, nên lại gọi là huyết hải. Xung mạch khởi ở bào trung, đi thẳng dọc theo bụng lên trên, có tác dụng điều tiết kinh nguyệt. Nếu Xung mạch không hư, huyết hải bất túc, th́ kinh lượng sẽ ít đi. Nhưng âm huyết lại hóa sinh ở Tỳ mà tàng ở Can, cho nên huyết hải bất túc phần nhiều quy trách ở Can Tỳ; trên lâm sàng thường từ kiện Tỳ ích khí, dưỡng Can bổ huyết mà trị. Nếu như hàn tà và ngoại tà xâm nhập vào Xung mạch, làm kinh mạch không thông, kinh khí v́ đó mà xung kích nghịch lên, th́ có thể thấy các chứng như đau bụng, nơi đau đập động ứng tay; lúc này điều trị nên lấy khứ hàn giáng nghịch làm pháp.

Năo là nơi hội tụ của tinh tủy, có liên hệ với vận động của tứ chi, công năng của thất khiếu và sự tỉnh táo của đầu mặt. Nếu tủy hải hữu dư, tinh tủy充沛, th́ tứ chi vận động hữu lực, tai mắt sáng suốt, đầu óc tỉnh táo; nếu tủy hải bất túc, tinh tủy không hư, th́ sẽ xuất hiện các chứng như đầu óc xoay chuyển, tai ù, cẳng chân mỏi yếu, choáng váng, đứng không vững, mắt mờ, tinh thần uể oải v.v. Đúng như phần sau cùng thiên nói:
Tủy hải hữu dư, tắc khinh ḱnh đa lực, tự quá kỳ độ; tủy hải bất túc, tắc năo chuyển nhĩ minh, hĩnh toan huyễn mạo, mục vô sở kiến, giải đăi an ngọa.

Năo là biển của tủy, mà tủy lại do Thận tinh hóa ra, cho nên năo tủy bất túc phải quy trách ở Thận tinh và mệnh hỏa khuy tổn; trên lâm sàng thường dùng phép bổ Thận để trị. Đản trung là nơi sinh thành và hội tụ của tông khí, cho nên hữu dư hay bất túc của nó thường là sự kéo dài của bệnh biến ở Phế. Khí hải hữu dư th́ giống như ngoại tà thúc Phế, làm Phế khí thất tuyên, có thể thấy các chứng như ngực đầy khí, phiền muộn, suyễn tức; điều trị nên lấy khứ tà tuyên Phế làm chủ. Khí hải bất túc th́ giống như Phế khí bất túc, có thể thấy tinh thần mệt mỏi, đoản khí, lười nói, tiếng nói nhỏ yếu; điều trị lại nên lấy bổ ích Phế khí làm chủ.

Tóm lại, bệnh chứng của tứ hải phần nhiều là do bệnh biến của các tạng phủ như Phế, Tỳ, Can, Thận gây ra. V́ thế, việc nhận thức bệnh cơ của chúng không thể tách rời tạng phủ, mà điều trị cũng phần nhiều phải bắt đầu từ việc điều trị tạng phủ.

Sinh lư công năng của lục phủ và quan hệ phối hợp âm dương biểu lư của chúng với ngũ tạng

Nguyên văn
Phế hợp Đại trường, Đại trường giả, truyền đạo chi phủ. Tâm hợp Tiểu trường, Tiểu trường giả, thụ thịnh chi phủ. Can hợp Đởm, Đởm giả, trung tinh chi phủ. Tỳ hợp Vị, Vị giả, ngũ cốc chi phủ. Thận hợp Bàng quang, Bàng quang giả, tân dịch chi phủ dă. Thiếu âm thuộc Thận, Thận thượng liên Phế, cố tướng lưỡng tạng. Tam tiêu giả, trung độc chi phủ dă, thủy đạo xuất yên, thuộc Bàng quang, thị cô chi phủ dă. Thị lục phủ chi sở dữ hợp giả.

Dịch nghĩa

Phế hợp với Đại trường, Đại trường là phủ truyền đạo. Tâm hợp với Tiểu trường, Tiểu trường là phủ thụ thịnh. Can hợp với Đởm, Đởm là phủ trung tinh. Tỳ hợp với Vị, Vị là phủ của ngũ cốc. Thận hợp với Bàng quang, Bàng quang là phủ của tân dịch. Thiếu âm thuộc Thận, Thận ở trên liên với Phế, cho nên Thận kiêm quản hai tạng. Tam tiêu là phủ trung độc, thủy đạo từ đó mà ra, thuộc về Bàng quang, đó là phủ cô độc. Đó là những phủ tương hợp với lục phủ.

Chú thích

1/ 中精之府Trung tinh chi phủ: Người xưa cho rằng mật chứa trong Đởm là do tinh khí của Can hóa sinh, khác với thủy cốc và trọc vật mà các phủ khác tàng chứa, nên gọi là phủ trung tinh.

2/ 中瀆之府Trung độc chi phủ : Chữ độc (瀆) là đường nước, mương nước. Tam tiêu là con đường để thủy dịch trong cơ thể lưu hành, v́ vậy gọi là phủ trung độc.

Phân tích

Đoạn kinh văn này luận về công năng sinh lư của lục phủ và quan hệ phối hợp âm dương biểu lư giữa lục phủ với ngũ tạng.

Cơ sở của tạng phủ tương hợp là sự liên hệ của kinh lạc và sự phối hợp của công năng sinh lư. Tạng phủ tương hợp, hợp thành một hệ thống nhỏ, trên phương diện sinh lư và bệnh lư đều có liên hệ chặt chẽ, từ đó cung cấp tư duy và căn cứ cho biện chứng luận trị trên lâm sàng. Nguyên tắc điều trị thường dùng là “tạng bệnh trị phủ, phủ bệnh trị tạng” cũng đều dựa trên lư luận này.

Ví dụ, Phế và Đại trường là quan hệ biểu lư. Công năng truyền đạo của Đại trường phải dựa vào Phế khí túc giáng (giáng xuống); Phế khí giáng xuống th́ Đại trường mới có thể truyền tống tao phách. Ngược lại, nếu công năng truyền đạo của Đại trường thất thường, đại tiện bất thông, th́ cũng sẽ ảnh hưởng đến sự túc giáng của Phế khí. V́ vậy, khi nhiệt tà phạm Phế, phủ đạo không thông, đại tiện bí kết, dẫn đến các chứng hung măn, suyễn nghịch, th́ điều trị phải chú ư thông phủ tả nhiệt; chỉ cần Đại trường khôi phục được truyền đạo, tuy không trị Phế mà chứng suyễn măn cũng tự hết. Như Đường Dung Xuyên nói:

Đàm ẩm thực nhiệt, khí nghịch nhi khái huyết giả, dương thang chỉ phí bất như phủ để trừu tân. : Đối với chứng đàm ẩm, thực nhiệt, khí nghịch mà ho ra huyết, th́ khuấy nồi nước sôi để ngăn bọt không bằng rút củi dưới đáy nồi. Câu này dùng để ví rằng muốn trị tận gốc th́ phải giải quyết căn nguyên ở phía dưới.

Nhưng đối với chứng phủ khí không thông, đại tiện bí kết do Phế khí bất túc gây nên, th́ không thể chỉ một mực công hạ, mà nên bổ ích Phế khí, dùng các phương như Bổ trung ích khí thang.

Lại như Tâm và Tiểu trường là quan hệ biểu lư. Tâm dương là quân hỏa, chủ tể công năng của các tạng phủ trong cơ thể. Tâm hỏa hạ di xuống Tiểu trường, th́ Tiểu trường mới có thể thụ thịnh hóa vật, phân thanh biệt trọc, tiếp tục tiêu hóa thức ăn do Vị phủ truyền xuống. Tiểu trường tiết (泌) biệt chất dịch, hấp thu phần thanh, nhờ Tỳ khí thăng thanh mà đưa lên Tâm Phế, hóa đỏ thành huyết, khiến Tâm huyết không ngừng được bổ sung. Trên phương diện bệnh lư, Tâm và Tiểu trường ảnh hưởng lẫn nhau: Tâm hỏa có thể truyền nhiệt sang Tiểu trường, gây ra các chứng tiểu tiện đỏ sẻn, tề phúc trướng đầy; điều trị nên thanh Tâm hỏa, dẫn nhiệt hạ hành. Ngược lại, Tiểu trường thực nhiệt cũng có thể hun bốc lên Tâm, xuất hiện các chứng tâm phiền, tâm quư, khẩu sang, thiếu miên; điều trị nên dùng các phương như Đạo xích tán, Lương cách tán để thanh lợi thực nhiệt.

Lại như Thận và Bàng quang là quan hệ biểu lư. Thận chủ thủy dịch, chủ khai hợp; Bàng quang là nơi chứa thủy dịch và là nơi tiến hành khí hóa. Chỉ khi Thận khí sung thịnh, Bàng quang mới có thể hóa khí hành thủy, cố nhiếp hữu quyền. Ngược lại, nếu thủy dịch ở Bàng quang đ́nh trệ, cũng có thể ảnh hưởng đến công năng của Thận trong việc khí hóa tân dịch và chủ quản khai hợp quan môn. V́ vậy, đối với các chứng tiểu tiện bất lợi hoặc bế kết, tiểu nhiều lần hoặc thất cấm do Thận khí bất túc, Mệnh môn hỏa suy gây nên, th́ phải trị từ Thận. Như Trần Sĩ Đạc trong Biện chứng lục nói:

Phù Bàng quang giả, quyết độc chi quan, Thận trung khí hóa nhi năng xuất. Thử khí, tức Mệnh môn chi hỏa dă. Mệnh môn hỏa vượng, nhi Bàng quang chi thủy thông; Mệnh môn hỏa suy, nhi Bàng quang chi thủy bế hĩ… Trị pháp tất tu trợ Mệnh môn chi hỏa, nhiên đồ trợ Mệnh môn chi hỏa, khủng hữu dương vượng âm tiêu chi lự, tất tu ư thủy trung bổ hỏa, tắc hỏa sinh ư thủy trung, thủy tức thông ư hỏa chi nội nhĩ. Phương dụng Bát vị địa hoàng thang.

Ư câu này là Bàng quang có thể bài xuất được hay không là nhờ Thận khí hóa. Khí ấy chính là Mệnh môn hỏa. Mệnh môn hỏa mạnh th́ nước ở Bàng quang thông; Mệnh môn hỏa suy th́ nước ở Bàng quang bế. Phép trị phải trợ hỏa Mệnh môn, nhưng không thể chỉ trợ hỏa đơn độc, mà phải ở trong thủy mà bổ hỏa, để hỏa sinh trong thủy, như vậy thủy mới thông.

C̣n đối với chứng Bàng quang súc thuỷ (tích tụ nước) do tà khí Thái dương theo kinh nhập phủ, tà với thủy kết lại, khí hóa không thông, th́ lại phải vừa thông dương vừa lợi tiểu, dẫn thủy đi xuống, để khôi phục công năng của Thận trong việc hóa khí hành thủy. Như Ngũ linh tán, dưới tiền đề dùng Quế chi để thông dương, lại phối Phục linh, Trư linh, Trạch tả để lợi thủy.

Lại nữa, Phế là nguồn trên của thủy, Thận là nguồn dưới của thủy. Chỉ khi Thận ở trên liên hệ với Phế, Phế và Thận phối hợp với nhau, th́ mới có thể thống nhiếp Tam tiêu và Bàng quang, duy tŕ cân bằng chuyển hóa thủy dịch. V́ thế, trên lâm sàng khi điều trị các bệnh chứng do thủy dịch chuyển hóa thất thường, cần chú ư Phế Thận đồng trị. Chẳng hạn chứng di niệu thuộc Phế Thận lưỡng hư, không thể chỉ một mực cố sáp, mà phải quán triệt nguyên tắc:

Trị Thận giả tất tu trị Phế: điều trị bệnh thận cũng phải điều trị bệnh phế. Kinh văn chỉ ra rằng Đởm là “trung tinh chi phủ”. Đởm tuy thuộc một trong lục phủ, nhưng v́ nó tàng chứa và sơ tiết tinh trấp, chứ không truyền hóa thủy cốc, cho nên công năng đặc biệt, đồng thời cũng thuộc vào kỳ hằng chi phủ. Tinh trấp trong Đởm thanh tịnh mà không trọc, nguồn từ khí huyết của Can hóa ra, nên gọi là “trung tinh chi phủ”. Người xưa cho rằng mật rất quan trọng, không những có thể giúp Tỳ Vị tiêu hóa thức ăn, mà Đởm c̣n là “trung chính chi quan”, tham dự vào hoạt động tinh thần để “quyết đoán xuất yên”. Đởm trấp nên thanh chứ không nên trọc; nếu mật trở nên đục, không chỉ sinh ra các bệnh do vật chất tích tụ như sỏi, xơ cứng, mà c̣n khiến khí huyết trong kinh mạch trở nên trọc, thường dẫn đến nhiều bệnh biến ở Tâm, Năo, Thận và huyết quản, lâm sàng cần đặc biệt lưu ư.

Câu: Thiếu âm thuộc Thận, Thận thượng liên Phế, cố tướng lưỡng tạng.

Nguyên văn ban đầu chép là “Thiếu dương thuộc Thận”, nhưng ở đây theo Thái Tố mà sửa thẳng thành “Thiếu âm thuộc Thận”. Cách chép “Thiếu dương thuộc Thận” có lư hay không? Các nhà chú giải cũng có người tán đồng. Như Loại kinh nói:

Tam tiêu vi trung độc chi phủ, Bàng quang vi tân dịch chi phủ, Thận dĩ thủy tạng nhi lĩnh thủy phủ, lư chi đương nhiên, cố Thận tướng lưỡng tạng… “Bản tạng” thiên viết: “Thận hợp Tam tiêu Bàng quang”, kỳ nghĩa tức thử.

V́ thủy muốn khí hóa th́ phải nhờ dương khí, cho nên có thể nói Thiếu dương thuộc Thận. C̣n Linh khu tập chú lại giải thích khác:

Nhất Thận phối Thiếu dương nhi chủ hỏa, nhất Thận thượng liên Phế nhi chủ thủy, cố Thận tướng lưỡng tạng dă.

Thận là tạng thủy hỏa, nên lời giải của Trương thị cũng không phải không có đạo lư. Tóm lại, câu kinh này nói rơ quan hệ sinh lư rất mật thiết giữa Thận và Phế, và hai tạng này trong trạng thái bệnh lư có thể ảnh hưởng lẫn nhau.

Chữ “cô” trong “cô chi phủ” có hai nghĩa. Một là cô độc vô ngẫu, Tam tiêu không có phủ phối hợp trực tiếp, chỉ thuộc về Bàng quang, cho nên gọi là “cô”. Hai là chỉ tính độc đáo, đặc thù. Như Loại kinh chú rằng:

Thập nhị tạng chi trung, duy Tam tiêu độc đại, chư tạng vô dữ thất giả, cố danh… Duy Tam tiêu giả, tuy vi thủy độc chi phủ, nhi thực tổng hộ chư dương, diệc xưng tướng hỏa, thị hựu thủy trung chi hỏa phủ.

V́ vậy ở thiên này mới nói: “Tam tiêu thuộc Bàng quang”. C̣n trong Tố Vấn, thiên Huyết khí h́nh chí lại nói:

Thiếu dương dữ Tâm chủ vi biểu lư. Cái kỳ tại hạ giả vi âm, thuộc Bàng quang nhi hợp Thận thủy; tại thượng giả vi dương, hợp Bào lạc nhi thông Tâm hỏa. Thử Tam tiêu chi sở dĩ tiêu thượng cực hạ, tượng đồng lục hợp, nhi vô sở bất bao dă.

Ư nói Tam tiêu ở phần dưới th́ hợp với Bàng quang và Thận thủy, ở phần trên th́ hợp với Bào lạc và Tâm hỏa, cho nên phạm vi của nó trên dưới đều rộng, không chỗ nào không bao quát. C̣n trong Tố Vấn, thiên Ngọc cơ chân tạng luận, nói Tỳ là “cô tạng”, cũng là chỉ công năng đặc thù của nó trong việc tưới nhuần bốn phía, cùng nghĩa với chữ “cô” ở đây.

Đạo lư âm dương khác nhau giữa Thái âm và Dương minh

Nguyên văn

Hoàng Đế vấn viết: Thái âm Dương minh vi biểu lư, Tỳ Vị mạch dă, sinh bệnh nhi dị giả hà dă? Kỳ Bá đối viết: Âm dương dị vị, cánh hư cánh thực, cánh nghịch cánh ṭng, hoặc ṭng nội, hoặc ṭng ngoại, sở ṭng bất đồng, cố bệnh dị danh dă.

Dịch nghĩa

Hoàng Đế hỏi rằng: Thái âm và Dương minh là biểu lư, tức mạch của Tỳ Vị, vậy khi phát bệnh mà biểu hiện khác nhau là v́ sao? Kỳ Bá đáp rằng: Âm dương khác vị trí, thay phiên hư thực, thay phiên nghịch thuận, có khi theo từ trong, có khi theo từ ngoài, chỗ theo không giống nhau, cho nên bệnh mà tên gọi khác nhau vậy.

Thái âm Dương minh vi biểu lư, Tỳ Vị mạch dă, sinh bệnh nhi dị giả hà dă?

Thái âm và Dương minh là quan hệ biểu lư, đều là mạch của Tỳ Vị, vậy v́ sao phát bệnh lại khác nhau? Đây là câu hỏi của Hoàng Đế nêu ra vấn đề chủ đạo của đoạn kinh.

Hoàng Đế viết: Nguyện văn kỳ dị trạng dă. Kỳ Bá viết: Dương giả, thiên khí dă, chủ ngoại; âm giả, địa khí dă, chủ nội. Cố dương đạo thực, âm đạo hư. Cố phạm tặc phong hư tà giả, dương thụ chi; thực ẩm bất tiết, khởi cư bất thời giả, âm thụ chi. Dương thụ chi tắc nhập lục phủ, âm thụ chi tắc nhập ngũ tạng. Nhập lục phủ tắc thân nhiệt, bất thời ngọa, thượng vi suyễn hô. Nhập ngũ tạng tắc măn bế tắc, hạ vi tôn tiết, cửu vi trường tích. Cố hầu chủ thiên khí, yết chủ địa khí. Cố dương thụ phong khí, âm thụ thấp khí. Cố âm khí ṭng túc thượng hành chí đầu, nhi hạ hành tuần tư chí chỉ đoan; dương khí ṭng thủ thượng hành chí đầu, nhi hạ hành chí túc. Cố viết: Dương bệnh giả, thượng hành cực nhi hạ; âm bệnh giả, hạ hành cực nhi thượng. Cố thương ư phong giả, thượng tiên thụ chi; thương ư thấp giả, hạ tiên thụ chi.

Dịch nghĩa

Hoàng Đế nói: Ta muốn nghe trạng thái khác nhau ấy. Kỳ Bá đáp rằng: Dương là thiên khí, chủ bên ngoài; âm là địa khí, chủ bên trong. Cho nên đạo của dương là thực, đạo của âm là hư. V́ vậy, hễ phạm phải tặc phong hư tà th́ dương chịu trước; ăn uống không điều độ, sinh hoạt không đúng lúc th́ âm chịu trước. Dương chịu th́ bệnh vào lục phủ; âm chịu th́ bệnh vào ngũ tạng. Vào lục phủ th́ thân nhiệt, nằm ngồi không yên, phía trên thành suyễn thở gấp. Vào ngũ tạng th́ đầy nghẽn bế tắc (塞), phía dưới thành tôn tiết, lâu ngày thành trường tích. Cho nên họng chủ thiên khí, yết chủ địa khí. V́ vậy dương chịu phong khí, âm chịu thấp khí. Bởi vậy âm khí từ chân đi lên đến đầu, rồi đi xuống theo cánh tay đến đầu ngón tay; dương khí từ tay đi lên đến đầu, rồi đi xuống đến chân. Cho nên nói: bệnh thuộc dương th́ đi lên đến cực điểm rồi đi xuống; bệnh thuộc âm th́ đi xuống đến cực điểm rồi đi lên. V́ vậy, bị thương bởi phong th́ phần trên nhận trước; bị thương bởi thấp th́ phần dưới nhận trước.

Chú thích

陰陽異位Âm dương dị vị Tỳ là tạng thuộc âm, kinh mạch của nó đi ở phần âm của thân thể, từ dưới đi lên; Vị là phủ thuộc dương, kinh mạch của nó đi ở phần dương của thân thể, từ trên đi xuống.
更虛更實Cánh hư cánh thực Xuân hạ là dương, khí của Dương minh thịnh vào xuân hạ, nên xuân hạ th́ Dương minh thực mà Thái âm hư; thu đông là âm, khí của Thái âm thịnh vào thu đông, nên thu đông th́ Thái âm thực mà Dương minh hư. Chữ 更 nghĩa là luân phiên, thay đổi.
更逆更從Cánh nghịch cánh ṭng Xuân hạ là dương, Dương minh khí thịnh là thuận, Thái âm khí thịnh là nghịch; thu đông là âm, Thái âm khí thịnh là thuận, Dương minh khí thịnh là nghịch.
賊風虛邪Tặc phong hư tà Chỉ chung mọi loại tà khí từ bên ngoài đến, có hại và gây bệnh cho cơ thể.

Phân tích

Đoạn này lấy Thái âm và Dương minh làm ví dụ để luận về vấn đề do kinh mạch, tạng phủ và âm dương khác nhau nên biến hóa bệnh lư cũng khác nhau.

Âm kinh và ngũ tạng thuộc âm; dương kinh và lục phủ thuộc dương. Ngoại tà xâm phạm th́ trước hết vào phần biểu, phần dương, tức dương kinh lục phủ; c̣n nội thương do ăn uống sinh hoạt th́ trực tiếp phạm vào phần lư, phần âm, tức âm kinh ngũ tạng. Đoạn này nói rằng bị tặc phong hư tà th́ bệnh “nhập lục phủ”, c̣n ăn uống sinh hoạt thất điều th́ bệnh “nhập ngũ tạng”, điều này lại ngược với câu trong Tố Vấn, thiên Âm dương ứng tượng đại luận:

Thiên chi tà khí, cảm tắc hại ư ngũ tạng, thủy cốc chi hàn nhiệt, cảm tắc hại ư lục phủ.

Trương Kỳ trong Tố Vấn thích nghĩa nói:

Dĩ h́nh khí ngôn, tà khí vô h́nh cố nhập tạng, thủy cốc hữu h́nh cố nhập phủ; dĩ biểu lư ngôn, phủ dương chủ ngoại, cố tặc phong hư tà ṭng ngoại nhi thụ, tạng âm chủ nội, cố ẩm thực bất tiết ṭng nội nhi thụ. Thực tắc tạng phủ giai đương hữu chi.

Ư ông cho rằng xét từ góc độ h́nh và khí th́ tà khí vô h́nh nên vào tạng, thủy cốc hữu h́nh nên vào phủ; c̣n xét từ góc độ biểu lư th́ phủ dương chủ ngoài, nên tặc phong hư tà từ ngoài mà thụ; tạng âm chủ trong, nên ăn uống không điều độ từ trong mà thụ. Trong thực tế cả tạng và phủ đều có thể bị liên lụy. V́ vậy không nên chấp cứng, mà phải lấy chứng làm chuẩn.

Câu:

「陽道實,陰道虛」Dương đạo thực, âm đạo hư.

Là một quan điểm cơ bản của học thuyết âm dương. Nói rộng ra, phàm sự vật nào thuộc dương th́ tất có đặc điểm cường tráng, đầy đặn, hướng ra ngoài; c̣n sự vật nào thuộc âm th́ tất có đặc tính nhu nhược, bất túc, hướng vào trong. Chu Đan Khê trong Cách trí dư luận cũng nói:

Thiên địa vi vạn vật chi phụ mẫu, thiên đại dă, vi dương, nhi vận ư địa chi ngoại, địa cư ư thiên chi trung, vi âm, thiên chi đại khí cử chi. Nhật, thực dă, diệc thuộc dương, nhi vận ư nguyệt chi ngoại; nguyệt, khuyết dă, thuộc âm, bẩm nhật chi quang dĩ vi minh dă.

Có thể thấy “dương đạo thực, âm đạo hư” là một quy luật phổ biến của âm dương: một thực, một hư, tương phản mà tương thành, từ đó mới có thể hóa sinh vạn vật, giữ cân bằng khí cơ.

V́ Tỳ Vị trên phương diện sinh lư là “pháp thiên địa”, c̣n trên phương diện bệnh lư lại biểu hiện đặc điểm “thực th́ Dương minh, hư th́ Thái âm”, nên “dương đạo thực, âm đạo hư” đă trở thành quy luật tổng quát của phát bệnh ở Tỳ Vị. Xét từ kinh mạch tạng phủ, dương kinh và lục phủ phần nhiều là thực chứng, âm kinh và ngũ tạng phần nhiều là hư chứng. Xét từ ngoại cảm và nội thương, ngoại cảm phần nhiều là hữu dư, nội thương phần nhiều là bất túc.

Tuy nhiên, khái niệm âm dương không phải cố định bất biến; trong nhận thức cần biết lẽ thường và đạt chỗ biến, phải xét từ nhiều góc độ. Chẳng hạn do:

「喉主天氣,咽主地氣」Hầu chủ thiên khí, yết chủ địa khí.

Nên tà khí vô h́nh của trời có thể từ hầu mà vào Phế, c̣n thủy cốc hữu h́nh của đất th́ từ yết mà đến Vị; đây là xét từ góc độ h́nh khí. Lại nữa, phong thấp ngoại tà tuy cùng thuộc dương tà, nhưng trong đó vẫn có phân âm dương: phong tính khinh dương, dễ phạm phần trên của cơ thể, nên là dương tà; thấp tính trọng trọc, dễ thương phần dưới của cơ thể, nên là âm tà. Đó là do đồng khí tương cầu. Hơn nữa, âm dương trên dưới của bệnh cũng có thể v́ “tà tùy khí chuyển” mà sinh biến hóa. Cho nên, đối với quy luật “dương đạo thực, âm đạo hư”, cũng không thể quá mức câu nệ.

脾胃在生理、病理上的密切關係

Tỳ Vị tại sinh lư, bệnh lư thượng đích mật thiết quan hệ

Mối quan hệ mật thiết giữa Tỳ và Vị trên phương diện sinh lư và bệnh lư

Nguyên văn

Đế viết: Tỳ bệnh nhi tứ chi bất dụng, hà dă? Kỳ Bá viết: Tứ chi giai bẩm khí ư Vị, nhi bất đắc chí kinh, tất nhân ư Tỳ, năi đắc bẩm dă. Kim Tỳ bệnh bất năng vi Vị hành kỳ tân dịch, tứ chi bất đắc bẩm thủy cốc khí, khí nhật dĩ suy, mạch đạo bất lợi, cân cốt cơ nhục, giai vô khí dĩ sinh, cố bất dụng yên.

Hoàng Đế nói: Tỳ mắc bệnh mà tứ chi không dùng được, là v́ sao? Kỳ Bá đáp: Tứ chi đều bẩm thụ khí từ Vị, nhưng không thể trực tiếp đạt đến kinh mạch, ắt phải nhờ vào Tỳ rồi mới có thể nhận được. Nay Tỳ bị bệnh, không thể thay Vị vận hành tân dịch của nó, tứ chi không nhận được thủy cốc chi khí, khí mỗi ngày một suy, mạch đạo không thông lợi, gân xương cơ nhục đều không có khí để sinh dưỡng, cho nên không dùng được.

「脾病而四支不用,何也」Tỳ bệnh nhi tứ chi bất dụng, hà dă

Tỳ bệnh mà tứ chi không dùng được, là v́ sao.

Câu này nêu thẳng vấn đề trọng tâm: v́ sao bệnh ở Tỳ lại có thể biểu hiện ra ngoài bằng t́nh trạng tay chân yếu, khó vận động, thậm chí không dùng được.

「四支皆稟氣於胃,而不得至經,必因於脾,乃得稟也」

Tứ chi giai bẩm khí ư Vị, nhi bất đắc chí kinh, tất nhân ư Tỳ, năi đắc bẩm dă

Tứ chi đều nhận khí từ Vị, nhưng không thể trực tiếp đến kinh mạch, phải nhờ vào Tỳ rồi mới nhận được.

Ư câu này là: Vị tiếp nhận và tiêu hóa đồ ăn thức uống, nhưng muốn tinh vi của thủy cốc được vận chuyển đến tay chân th́ phải nhờ công năng vận hóa và chuyển du của Tỳ. V́ vậy Vị là nguồn tiếp nạp, c̣n Tỳ là cơ quan vận chuyển phân bố.

「脾病不能為胃行其津液」Tỳ bệnh bất năng vi Vị hành kỳ tân dịch

Tỳ bị bệnh th́ không thể thay Vị vận hành tân dịch.

Ở đây nhấn mạnh Tỳ có trách nhiệm vận chuyển phần tinh vi và tân dịch do Vị tiếp nhận, tiêu hóa mà sinh ra. Nếu Tỳ mất kiện vận, th́ tinh vi không thể đi tới tứ chi, cơ nhục, gân xương.

Đế viết: Tỳ bất chủ thời, hà dă? Kỳ Bá viết: Tỳ giả thổ dă, trị trung ương, thường dĩ tứ thời trưởng tứ tạng, các thập bát nhật kư trị, bất đắc độc chủ ư thời dă. Tỳ tạng giả, thường trước Vị, thổ chi tinh dă. Thổ giả sinh vạn vật nhi pháp thiên địa, cố thượng hạ chí đầu túc, bất đắc chủ thời dă.

Hoàng Đế nói: Tỳ không chủ riêng một mùa, là v́ sao? Kỳ Bá đáp: Tỳ thuộc Thổ, cai quản trung ương, thường nhờ bốn mùa mà trưởng dưỡng bốn tạng, mỗi mùa mượn mười tám ngày để quản lư, cho nên không thể độc chủ riêng một thời. Tỳ tạng thường gắn liền với Vị, là tinh của Thổ. Thổ sinh vạn vật và mô phỏng theo trời đất, cho nên trên dưới đến tận đầu chân, không thể chỉ chủ một mùa riêng biệt.

「脾者土也,治中央」Tỳ giả thổ dă, trị trung ương

Tỳ là Thổ, chủ trị trung ương.

Ư nói trong ngũ hành, Tỳ thuộc Thổ, vị trí là trung ương, có tác dụng điều ḥa, nuôi dưỡng và làm nền cho hoạt động của các tạng khác.

「常以四時長四藏,各十八日寄治」Thường dĩ tứ thời trưởng tứ tạng, các thập bát nhật kư trị

Thường nhờ bốn mùa mà nuôi trưởng bốn tạng, mỗi mùa gửi trị mười tám ngày.

Nghĩa là Tỳ khí không chỉ vượng ở một mùa riêng biệt mà hiện diện, nuôi dưỡng suốt bốn mùa. Cứ mỗi mùa lại có một khoảng thời gian “kư trị” thuộc về Tỳ. Điều này biểu thị vai tṛ trung tâm, liên tục, bền vững của Tỳ trong toàn bộ hoạt động sinh lư.

「土者生萬物而法天地」

Thổ giả sinh vạn vật nhi pháp thiên địa

Thổ sinh vạn vật và noi theo phép trời đất.

Ư nói Thổ có công năng sinh dưỡng, dung nạp và nuôi lớn muôn vật, nên Tỳ cũng giữ vai tṛ nuôi dưỡng toàn thân, không chỉ bó hẹp trong một thời kỳ riêng.

Đế viết: Tỳ dữ Vị dĩ mạc tương liên nhĩ, nhi năng vi chi hành kỳ tân dịch, hà dă? Kỳ Bá viết: Túc Thái Âm giả, tam âm dă, kỳ mạch quán Vị thuộc Tỳ lạc ế, cố Thái Âm vi chi hành khí ư tam âm. Dương Minh giả, biểu dă, ngũ tạng lục phủ chi hải dă, diệc vi chi hành khí ư tam dương. Tạng phủ các nhân kỳ kinh nhi thụ khí ư Dương Minh, cố vi Vị hành kỳ tân dịch. Tứ chi bất đắc bẩm thủy cốc khí, nhật dĩ ích suy, âm đạo bất lợi, cân cốt cơ nhục vô khí dĩ sinh, cố bất dụng yên.

Hoàng Đế nói: Tỳ với Vị chỉ là lấy màng mỡ liên kết với nhau thôi, vậy mà lại có thể thay nó vận hành tân dịch, là v́ sao? Kỳ Bá đáp: Túc Thái Âm là một trong tam âm, mạch của nó xuyên qua Vị, thuộc về Tỳ, lạc lên họng, cho nên Thái Âm thay nó vận khí ở tam âm. Dương Minh thuộc biểu, là biển của ngũ tạng lục phủ, cũng thay nó vận khí ở tam dương. Tạng phủ mỗi bên đều nhân theo kinh của ḿnh mà tiếp nhận khí từ Dương Minh, cho nên có thể thay Vị vận hành tân dịch. Tứ chi không nhận được thủy cốc chi khí th́ mỗi ngày càng suy thêm, huyết mạch không thông, gân xương cơ nhục không có khí để sinh dưỡng, cho nên không dùng được.

「足太陰者,三陰也,其脈貫胃屬脾絡嗌」

Túc Thái Âm giả, tam âm dă, kỳ mạch quán Vị thuộc Tỳ lạc ế

Túc Thái Âm thuộc tam âm, mạch của nó xuyên qua Vị, thuộc về Tỳ, lạc (ảnh hưởng) lên họng.

Câu này dùng để giải thích cơ sở kinh mạch khiến Tỳ và Vị tuy là hai tạng phủ khác nhau nhưng quan hệ hết sức mật thiết, có thể tương hỗ vận hành khí huyết, tân dịch.

「陽明者,表也,五藏六府之海也」

Dương Minh giả, biểu dă, ngũ tạng lục phủ chi hải dă

Dương Minh thuộc biểu, là biển của ngũ tạng lục phủ.

Ư nói kinh Dương Minh, nhất là Vị, là nơi rất thịnh về khí huyết và có vai tṛ cực lớn trong việc cung cấp dinh dưỡng cho các tạng phủ.

Chú thích

陰道Âm đạo Ở đây chỉ huyết mạch, cùng nghĩa với câu trên là “mạch đạo bất lợi”.

Phân tích

Bản tiết thấu quá phân tích “Tỳ bệnh nhi tứ chi bất dụng” đích cơ chế, xiển thuật liễu Tỳ Vị tại sinh lư, bệnh lư thượng đích mật thiết quan hệ.

Tiết này thông qua việc phân tích cơ chế “Tỳ bệnh mà tứ chi không dùng được”, để tŕnh bày mối quan hệ mật thiết giữa Tỳ và Vị trên phương diện sinh lư và bệnh lư.

Ṭng giải phẫu thượng lai khán, Tỳ dữ Vị chi gian hữu hệ mạc tương liên; kinh mạch thượng, Túc Thái Âm Tỳ kinh thuộc Tỳ Vị, Túc Dương Minh Vị kinh thuộc Vị lạc Tỳ, lưỡng kinh tương hỗ lạc thuộc, ṭng nhi cấu thành biểu lư quan hệ, Tỳ kinh hựu quán thông ư Vị. Giá ta đô thị lưỡng giả quan hệ khẩn mật đích vật chất cơ sở.

Xét về mặt giải phẫu, giữa Tỳ và Vị có hệ mạc liên kết; xét về kinh mạch, Túc Thái Âm Tỳ kinh thuộc Tỳ liên hệ với Vị, Túc Dương Minh Vị kinh thuộc Vị liên hệ với Tỳ, hai kinh tương hỗ lạc thuộc, từ đó h́nh thành quan hệ biểu lư, hơn nữa Tỳ kinh c̣n xuyên thông với Vị. Những điều này đều là cơ sở vật chất khiến quan hệ giữa Tỳ và Vị rất mật thiết.

Vị chủ thụ nạp, vi thủy cốc chi hải, tạng phủ khí huyết chi nguyên, kỳ khí ứng thiên chủ giáng, Tỳ chủ vận hóa, kỳ khí ứng địa chủ thăng. Vị nhu yếu thấu quá Tỳ đích vận hóa, tài năng bả thủy cốc tinh khí du bố đáo tứ chi bách hài, sở dĩ nguyên văn cường điệu Tỳ “vi Vị hành kỳ tân dịch” đích cơ chế, Tỳ nhu yếu Vị đích thụ nạp, tài hoạch đắc vận hóa chuyển du chi chất.

Vị chủ thụ nạp, là biển của thủy cốc, là nguồn của khí huyết tạng phủ, khí của Vị ứng với trời nên chủ giáng; Tỳ chủ vận hóa, khí của Tỳ ứng với đất nên chủ thăng. Vị phải thông qua công năng vận hóa của Tỳ mới có thể đem thủy cốc tinh khí phân bố đến tứ chi bách hài. Bởi vậy nguyên văn nhấn mạnh cơ chế Tỳ “thay Vị vận hành tân dịch”. Mặt khác, Tỳ cũng phải nhờ khả năng thụ nạp của Vị th́ mới có được vật chất để vận hóa, chuyển du.

Tỳ thăng tắc tinh khí đắc dĩ thượng du, Vị giáng tắc tao phách đắc dĩ hạ hành; Vị vi dương phủ nhi hỷ thấp ố táo, Tỳ vi âm tạng nhi hỷ táo ố thấp, Tỳ dữ Vị hợp, nạp vận tương y, thăng giáng tương nhân, táo thấp tương tế, dĩ duy tŕ nhân thể đích tiêu hóa hấp thu công năng.

Tỳ thăng th́ tinh khí được đưa lên trên, Vị giáng th́ cặn bă được đưa xuống dưới. Vị là dương phủ mà ưa nhuận ghét táo; Tỳ là âm tạng mà thích táo ghét thấp. Tỳ với Vị phối hợp với nhau, thụ nạp và vận hóa nương nhau, thăng và giáng làm nhân cho nhau, táo và thấp điều ḥa cho nhau, từ đó duy tŕ công năng tiêu hóa hấp thu của cơ thể.

Do ư Tỳ Vị xử ư trung tiêu giá nhất đặc thù bộ vị, cụ hữu sinh vạn vật, trưởng dưỡng tứ tạng đích đặc thù tác dụng, kỳ khí hóa “pháp thiên địa” chi âm dương, cố thành vi chỉnh cá cơ thể khí cơ thăng giáng vận động chi xu nữu.

V́ Tỳ Vị nằm ở trung tiêu là vị trí đặc biệt, có tác dụng đặc biệt trong việc sinh dưỡng muôn vật, nuôi lớn bốn tạng, khí hóa của nó noi theo âm dương của trời đất, cho nên trở thành đầu mối then chốt của sự vận động thăng giáng khí cơ trong toàn cơ thể.

Trung y trị bệnh, đặc biệt thị nội thương tạp bệnh, vưu trọng điều lư Tỳ Vị, thấu quá điều lư Tỳ Vị đích khí hóa công năng, bất cận khả dĩ trị liệu Tỳ Vị hệ thống tự thân đích hứa đa tật bệnh, nhi thả khả dĩ trị dũ hứa đa thượng tiêu đích bệnh chứng, như tâm, phế, năo, ngũ quan phương diện đích bệnh chứng, ḥa hạ tiêu đích bệnh chứng, như bí niệu sinh thực hệ thống đích mỗ ta bệnh chứng.

Trung y chữa bệnh, đặc biệt là các bệnh nội thương tạp bệnh, rất coi trọng điều lư Tỳ Vị. Thông qua điều lư công năng khí hóa của Tỳ Vị, không chỉ có thể chữa nhiều bệnh của chính hệ Tỳ Vị, mà c̣n có thể chữa nhiều bệnh chứng thuộc thượng tiêu như bệnh của tâm, phế, năo, ngũ quan, cùng nhiều bệnh thuộc hạ tiêu như một số bệnh của hệ tiết niệu sinh dục.

Lệ như, lâm sàng thượng đối tứ chi khô nuy bất năng tùy ư vận động đích bệnh chứng, vận dụng điều trị Tỳ Vị đích phương pháp thường hữu nhất định đích liệu hiệu, “Tố Vấn, Nuy Luận” đề xuất đích “trị nuy độc thủ Dương Minh” đích luận điểm, dă thị chú trọng điều lư Tỳ Vị.

Ví dụ trên lâm sàng, đối với những bệnh chứng tứ chi khô gầy, nhẽo yếu, không thể vận động tự do, vận dụng phép điều trị Tỳ Vị thường có hiệu quả nhất định. Luận điểm “trị nuy độc thủ Dương Minh” trong Tố Vấn, thiên Nuy Luận cũng chính là nhấn mạnh việc điều lư Tỳ Vị.

「治痿獨取陽明」Trị nuy độc thủ Dương Minh :Chữa chứng nuy th́ riêng lấy Dương Minh.

Ư nói trong nhiều chứng teo yếu, mềm nhẽo chân tay, phép điều trị nên đặc biệt chú trọng kinh Dương Minh, tức nhấn mạnh vai tṛ của Tỳ Vị trong việc sinh dưỡng khí huyết, nhu dưỡng cơ nhục.

Bản văn đề xuất “Tỳ giả thổ dă, trị trung ương, thường dĩ tứ thời trưởng tứ tạng, các thập bát nhật kư trị, bất đắc độc chủ ư thời dă” đích quan điểm, thuyết minh Tỳ khí tứ quư giai vượng, mỗi cá tạng phủ đô ly bất khai Tỳ sở vận hóa đích thủy cốc tinh khí chi tư dưỡng.

Đoạn này nêu ra quan điểm “Tỳ thuộc Thổ, cai quản trung ương, thường nhờ bốn mùa mà trưởng dưỡng bốn tạng, mỗi mùa mượn mười tám ngày để quản lư, không thể độc chủ riêng một thời”, qua đó cho thấy Tỳ khí bốn mùa đều vượng, mỗi tạng phủ đều không thể rời sự nuôi dưỡng của thủy cốc tinh khí do Tỳ vận hóa.

Cố “Tố Vấn, Ngọc Cơ Chân Tạng Luận” hữu “Tỳ mạch giả thổ dă, cô tạng dĩ quán tứ bàng dă” chi thuyết, chỉ tại đột xuất Tỳ tại tạng phủ trung đích trọng yếu địa vị, đề thị lâm sàng điều trị tạng phủ tật bệnh yếu chú ư đối Tỳ Vị chi khí đích điều dưỡng.

Bởi vậy Tố Vấn, thiên Ngọc Cơ Chân Tạng Luận mới nói:

「脾脈者土也,孤臟以灌四旁也」Tỳ mạch giả thổ dă, cô tạng dĩ quán tứ bàng dă:

Mạch của Tỳ thuộc Thổ, là tạng cô (độc) mà tưới nhuần bốn phía.

Ư câu này là nhấn mạnh vai tṛ trung tâm, nuôi dưỡng khắp nơi của Tỳ trong hệ thống tạng phủ, đồng thời gợi ư khi điều trị bệnh của các tạng phủ phải chú ư bồi dưỡng Tỳ Vị chi khí.

Kim Nguyên y gia Lư Đông Viên dĩ thử lư luận, kết hợp lâm sàng thực tiễn, trước “Tỳ Vị Luận” nhất thư, thành vi Bổ Thổ học phái đích đại biểu giả, kỳ trọng thị Tỳ Vị đích học thuật tư tưởng, đối Trung y học đích phát triển sản sinh liễu thâm viễn đích ảnh hưởng.

Y gia đời Kim Nguyên là Lư Đông Viên dựa trên lư luận này, kết hợp với thực tiễn lâm sàng, trước tác sách Tỳ Vị Luận, trở thành đại biểu của phái Bổ Thổ. Tư tưởng học thuật coi trọng Tỳ Vị của ông đă tạo ra ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển của Trung y học.

Chí ư Tỳ dữ tứ quư đích quan hệ, bản đoạn kinh văn viết: “Tỳ bất chủ thời”, “các thập bát nhật kư trị”, thị dĩ “thổ giả, sinh vạn vật nhi pháp thiên địa” lập luận; “Tố Vấn, Kim Quỹ Chân Ngôn Luận”, “Tố Vấn, Lục Tiết Tạng Tượng Luận” vân Tỳ “chủ Trường hạ”, thị căn cứ âm dương ngũ hành học thuyết, án ngũ tạng ứng ngũ quư khí đích lư luận bài liệt nhi thành. Lập luận y cứ bất đồng, cố kết luận hữu biệt.

Nghĩa là: C̣n về quan hệ giữa Tỳ với bốn mùa, đoạn kinh này nói “Tỳ không chủ riêng một mùa”, “mỗi mùa mượn mười tám ngày để quản lư”, đó là lập luận dựa trên câu “Thổ sinh vạn vật mà noi theo trời đất”. C̣n Tố Vấn, thiên Kim Quỹ Chân Ngôn Luận và Lục Tiết Tạng Tượng Luận lại nói Tỳ “chủ Trường hạ”, đó là sắp xếp theo lư luận âm dương ngũ hành, lấy ngũ tạng ứng với ngũ quư ngũ khí. V́ cơ sở lập luận khác nhau, nên kết luận cũng khác nhau.

水穀的輸布及生化過程

Thủy cốc đích du bố cập sinh hóa quá tŕnh

Quá tŕnh phân bố và sinh hóa của thủy cốc

Nguyên văn

Thực khí nhập Vị, tán tinh ư Can, dâm khí ư cân. Thực khí nhập Vị, trọc khí quy Tâm, dâm tinh ư mạch. Mạch khí lưu kinh, kinh khí quy ư Phế, Phế triều bách mạch, du tinh ư b́ mao. Mao mạch hợp tinh, hành khí ư phủ. Phủ tinh thần minh, lưu ư tứ tạng, khí quy ư quyền hành. Quyền hành dĩ b́nh, khí khẩu thành thốn, dĩ quyết tử sinh.:

Khí của thức ăn vào Vị, tán tinh vào Can, làm cho khí đầy đủ ở gân. Khí của thức ăn vào Vị, phần trọc khí quy về Tâm, làm cho tinh đầy vào mạch. Mạch khí lưu hành trong kinh, kinh khí quy về Phế, Phế chầu hội trăm mạch, chuyển tinh ra da lông. Da lông và mạch ḥa tinh, rồi hành khí vào trong phủ. Phủ được thần minh, lưu hành đến bốn tạng, khí trở về thế quân b́nh. Khi quyền hành được b́nh th́ khí khẩu thành thốn, dùng đó để quyết định sống chết.

「肺朝百脈,輸精於皮毛」

Phế triều bách mạch, du tinh ư b́ mao

Phế chầu hội trăm mạch, chuyển tinh ra da lông.

Ư nói Phế giữ vai tṛ cực kỳ quan trọng trong việc tiếp nhận khí huyết từ các mạch và phân bố tinh vi ra b́ mao, khiến phần ngoài cơ thể được nuôi dưỡng.

「氣歸於權衡。權衡以平,氣口成寸,以決死生」

Khí quy ư quyền hành. Quyền hành dĩ b́nh, khí khẩu thành thốn, dĩ quyết tử sinh

Khí trở về nơi cân bằng, khi thế quân b́nh được xác lập, mạch khí ở khí khẩu biểu hiện rơ để từ đó quyết sinh tử.

Ư là khí huyết, tinh vi, công năng tạng phủ nếu đạt thế cân bằng th́ sẽ phản ánh ra mạch khí ở cổ tay. Khí khẩu v́ thế trở thành nơi trọng yếu để chẩn đoán sống chết, nặng nhẹ, thịnh suy.

Ẩm nhập ư Vị, du dật tinh khí, thượng du ư Tỳ, Tỳ khí tán tinh, thượng quy ư Phế, thông điều thủy đạo, hạ du Bàng quang. Thủy tinh tứ bố, ngũ kinh tịnh hành, hợp ư tứ thời ngũ tạng âm dương, quỹ độ dĩ vi thường dă.:

Nước uống vào Vị, tinh khí tràn ra, đưa lên Tỳ; Tỳ khí tán tinh, đưa lên quy về Phế; Phế thông điều thủy đạo, chuyển xuống Bàng quang. Thủy tinh phân bố ra bốn phía, năm kinh cùng vận hành, ḥa hợp với bốn mùa, ngũ tạng, âm dương, lấy đó làm thường độ.

「脾氣散精,上歸於肺」

Tỳ khí tán tinh, thượng quy ư Phế

Tỳ khí tán tinh rồi đưa lên Phế.

Điều này nói rơ Tỳ không chỉ vận hóa mà c̣n có chức năng thăng thanh, đem phần tinh vi của thủy cốc chuyển lên Phế để tiếp tục phân bố toàn thân.

「通調水道,下輸膀胱」

Thông điều thủy đạo, hạ du Bàng quang

Thông điều đường nước rồi đưa xuống Bàng quang.

Đây là cách nói rơ vai tṛ của Phế trong việc điều tiết thủy dịch, thông lợi thủy đạo, làm cho phần thủy dịch dư thừa có đường xuống Bàng quang mà bài xuất.

Chú thích

淫 Dâm Có nghĩa là quá nhiều, tràn đầy. Ở đây chỉ việc đem tinh khí đầy đủ phân bố, vận chuyển ra ngoài.
府Phủ Ở đây chỉ huyết mạch.
神明Thần minh Ở đây chỉ trạng thái khí huyết trong huyết mạch vận hành b́nh thường, sáng suốt, không rối loạn.
四藏Tứ tạng Các nhà trước đây tranh luận chưa thống nhất chỉ cụ thể tạng nào; ở đây nên hiểu rộng là chỉ toàn bộ các tạng phủ.

Phân tích
Bản đoạn luận thuật liễu cốc thực ḥa thủy ẩm nhập Vị hậu kỳ tinh khí du bố vận hành đích quá tŕnh.

Đoạn này bàn về quá tŕnh sau khi đồ ăn và nước uống vào Vị th́ tinh khí của chúng được phân bố và vận hành như thế nào.

“Trọc khí quy Tâm, dâm tinh ư mạch… lưu ư tứ tạng” chỉ xuất tinh khí nhập ư Tâm, thấu quá kinh mạch triều hội ư Phế, do Phế du bố toàn thân, trực chí b́ mao, kinh khí huyết tương hợp, tái hoàn ư kinh mạch trung nhi lưu ư tứ tạng.

Câu “trọc khí quy về Tâm, tinh đầy trong mạch… rồi lưu đến bốn tạng” là chỉ tinh khí đi vào Tâm, qua kinh mạch mà hội về Phế, rồi từ Phế phân bố toàn thân đến tận da lông; sau đó kinh khí và huyết ḥa hợp, lại trở về trong kinh mạch mà lưu đến các tạng.

「毛脈合精」

Mao mạch hợp tinh

Da lông và mạch ḥa tinh.

Trương Giới Tân chú giải rằng Phế chủ b́ mao, Tâm chủ huyết mạch, Phế tàng khí, Tâm tàng huyết; “mao mạch hợp tinh” tức là khí huyết tương hợp. Ư chính là muốn nhấn mạnh Phế khí và Tâm huyết phải phối hợp điều ḥa th́ tinh vi của thức ăn mới có thể vận hành khắp toàn thân.

Kỳ thực, giá cá quá tŕnh hàm hữu cổ nhân đối huyết dịch tuần hoàn đích nhận thức, “mao mạch” vi “lạc mạch”, tức mao tế huyết quản, ư vi kinh khí quy ư Phế, do ư Phế triều bách mạch, sở dĩ thực vật chi tinh vi tùy kinh mạch du tống đáo b́ mao, tái thứ tiến hành khí thể ḥa dinh dưỡng vật chất chi giao hoán, hựu hồi đáo kinh mạch, kinh mạch trung đích tinh khí tại thần minh, tức Tâm, đích tác dụng hạ, lưu chú tứ tạng, như thử tắc tạng phủ kinh mạch chi khí quy ư b́nh hành trạng thái, hiện ư khí khẩu.

Thực ra, quá tŕnh này hàm chứa nhận thức của cổ nhân về tuần hoàn huyết dịch. “Mao mạch” ở đây có thể hiểu là “lạc mạch”, tức mao mạch. Ư là kinh khí quy về Phế; v́ Phế chầu hội trăm mạch, nên tinh vi của thức ăn theo kinh mạch được vận chuyển đến b́ mao, tại đó tiếp tục diễn ra sự trao đổi khí thể và chất dinh dưỡng, sau đó lại trở về kinh mạch. Tinh khí trong kinh mạch, dưới sự chủ tŕ của thần minh tức Tâm, lại lưu chú đến các tạng. Như vậy khí của tạng phủ và kinh mạch đạt tới thế quân b́nh, rồi hiện ra ở khí khẩu.

Giá đoạn kinh văn đề thị liễu “khí khẩu” năng “quyết tử sinh” lưỡng điểm nguyên nhân: kỳ nhất, khí khẩu mạch đích bác động do tam cá nhân tố tổ thành, tức Phế khí, Tâm huyết ḥa Vị trung chi thực khí, tức Vị khí, bao hàm liễu tinh, khí, thần tam đại sinh mệnh vật chất nguyên tố; kỳ nhị, khí khẩu mạch khả dĩ phản ánh “khí quy ư quyền hành” đích trạng thái, “quyền hành dĩ b́nh” vi kỳ thường, quyền hành bất b́nh tắc vi bệnh, thậm tắc vi tử.

Đoạn này cho thấy v́ sao “khí khẩu” có thể “quyết định sống chết”. Thứ nhất, sự đập của mạch khí khẩu do ba yếu tố cấu thành, là Phế khí, Tâm huyết và Vị khí, bao hàm đủ tinh, khí, thần — ba yếu tố trọng yếu của sự sống. Thứ hai, khí khẩu có thể phản ánh trạng thái “khí quy về quân b́nh”; quân b́nh là thường, mất quân b́nh th́ thành bệnh, nặng nữa th́ có thể nguy tử.

“Ẩm nhập ư Vị, du dật tinh khí… quỹ độ dĩ vi thường dă” yết thị liễu tại thể nội thủy dịch đại tạ đích chỉnh cá quá tŕnh, thuyết minh Tỳ Vị, Phế đô tham dữ liễu đại tạ, nhi kỳ trung Phế đích tuyên phát thông điều thủy đạo đích tác dụng vưu hiển trọng yếu.

Câu “nước uống vào Vị, tinh khí tràn ra… lấy đó làm thường độ” đă vạch rơ toàn bộ quá tŕnh chuyển hóa thủy dịch trong cơ thể, cho thấy cả Tỳ Vị lẫn Phế đều tham gia vào quá tŕnh này; trong đó vai tṛ tuyên phát và thông điều thủy đạo của Phế đặc biệt quan trọng.

Thấu quá Phế đích tuyên phát phu bố tác dụng, thủy cốc tinh khí đắc dĩ bố tán toàn thân; kinh Phế đích túc giáng tác dụng sử đại tạ hậu đa dư đích thủy dịch hạ du ư Bàng quang. Giá ta luận thuật khải phát hậu thế nhận thức đáo “Phế vi thủy chi thượng nguyên”, tại trị liệu thủy thũng đích bệnh chứng trung dụng “đề hồ yết cái pháp” tuyên Phế phát việt thủy khí.

Thông qua tác dụng tuyên phát, phân bố của Phế, thủy cốc tinh khí được phân tán khắp toàn thân; nhờ tác dụng túc giáng của Phế mà phần thủy dịch dư thừa sau chuyển hóa được đưa xuống Bàng quang. Những luận thuật này đă gợi mở cho hậu thế nhận thức rằng:

「肺為水之上源」

Phế vi thủy chi thượng nguyên

Phế là nguồn trên của thủy.

Ư nói Phế có vai tṛ rất quan trọng trong việc phân bố và điều tiết thủy dịch.

「提壺揭蓋法」

Đề hồ yết cái pháp

Phép nhấc ấm mở nắp.

Đây là cách ví von trong điều trị: muốn nước ở dưới thông lợi th́ phải mở thông phần trên. Trong lâm sàng, tức là tuyên thông Phế khí để giúp thủy dịch lưu hành, tiêu thũng, lợi niệu.

Tỳ tại thủy dịch đại tạ trung khởi vận hóa, chuyển du đích tác dụng, thấu quá “Tỳ khí tán tinh”, tân dịch tài đắc dĩ “thượng quy ư Phế”. Nhược Tỳ khí thăng thanh tán tinh tác dụng giảm thoái, tắc thủy thấp bất đắc thượng quy ư Phế, đ́nh tụ ư thể nội nhi thành thủy thũng, cố lâm sàng trị liệu thủy thũng diệc hữu dụng bồi thổ chế thủy pháp.

Trong chuyển hóa thủy dịch, Tỳ giữ vai tṛ vận hóa và chuyển du; nhờ “Tỳ khí tán tinh” mà tân dịch mới có thể “đưa lên quy về Phế”. Nếu công năng thăng thanh, tán tinh của Tỳ suy giảm, th́ thủy thấp không thể đưa lên Phế, đ́nh tụ trong cơ thể mà thành thủy thũng. V́ vậy trên lâm sàng khi chữa thủy thũng cũng có phép:

「培土制水法」

Bồi thổ chế thủy pháp

Phép bồi Thổ để chế Thủy.

Ư là kiện Tỳ, ích Thổ để tăng khả năng vận hóa, từ đó khống chế thủy thấp.

Bản tiết hoàn đề xuất liễu “tứ thời ngũ tạng âm dương” đích vấn đề, cường điệu nhân đích sinh lư hoạt động cập bệnh lư biến hóa, thụ tự nhiên giới tứ thời âm dương tiêu trưởng biến hóa đích chế ước ḥa ảnh hưởng, thể hiện liễu “nhân dữ thiên địa tương ứng” đích chỉnh thể quan điểm.

Tiết này c̣n nêu ra vấn đề “tứ thời, ngũ tạng, âm dương”, nhấn mạnh rằng hoạt động sinh lư và biến hóa bệnh lư của con người đều chịu sự chế ước và ảnh hưởng bởi quy luật tiêu trưởng âm dương của bốn mùa trong tự nhiên, từ đó thể hiện quan điểm chỉnh thể:

「人與天地相應」

Nhân dữ thiên địa tương ứng

Con người tương ứng với trời đất.

Ư là cơ thể người không tồn tại cô lập mà luôn phải thích ứng, ḥa ứng với sự biến hóa của tự nhiên.

Chỉnh thể quan thị “Nội Kinh” lư luận thể hệ tối hiển trước đích học thuật đặc trưng, thủ tiên, bản tiết ṭng ẩm thực vật đích tiêu hóa hấp thu, tinh khí đích chuyển du, tân dịch đích du bố dĩ cập chẩn bệnh phương pháp chư phương diện phản ánh liễu giá nhất đặc trưng.

Quan điểm chỉnh thể là đặc trưng học thuật nổi bật nhất của hệ thống lư luận Nội Kinh. Tiết này trước hết phản ánh đặc trưng ấy từ nhiều mặt như sự tiêu hóa hấp thu đồ ăn thức uống, sự vận chuyển tinh khí, sự phân bố tân dịch và cả phương pháp chẩn bệnh.

Cốc thực kinh Vị trường tiêu hóa hấp thu hậu, tại Tỳ đích vận hóa tác dụng hạ, tương kỳ tinh vi du chi ư Can, hữu đích du bố ư Phế, hữu đích trực quy ư Tâm mạch, tá trợ kinh mạch du tống, thăng tán, hội hợp nhi phát huy kỳ tác dụng.

Sau khi thức ăn qua Vị Trường tiêu hóa hấp thu, dưới tác dụng vận hóa của Tỳ, phần tinh vi có khi được chuyển tới Can, có khi phân bố lên Phế, có khi trực tiếp quy vào Tâm mạch, rồi nhờ kinh mạch vận chuyển, thăng tán, hội hợp mà phát huy công dụng.

Kỳ thủy dịch đích đại tạ, diệc tiên kinh Tỳ đích vận hóa, phục do Phế khí thông điều, Tam tiêu quyết độc, Thận cập Bàng quang đích khí hóa tác dụng nhi hoàn thành.

C̣n chuyển hóa của thủy dịch cũng trước hết phải qua vận hóa của Tỳ, rồi lại nhờ Phế khí thông điều, Tam tiêu quyết độc (điều tiết thuỷ đạo), cùng khí hóa của Thận và Bàng quang mà hoàn thành.

“Nội Kinh” tại thử vưu kỳ cường điệu, chỉ hữu ngũ tạng công năng hoạt động năng thích ứng tứ thời khí hậu đích biến hóa, tác xuất thích đáng đích điều tiết, tài năng bảo tŕ thủy dịch đại tạ đích chính thường, duy tŕ âm dương chi gian đích tương đối b́nh hành.

Nội Kinh đặc biệt nhấn mạnh rằng chỉ khi hoạt động công năng của ngũ tạng có thể thích ứng với sự biến hóa khí hậu bốn mùa, đồng thời điều tiết thích hợp, th́ mới giữ được sự chuyển hóa thủy dịch b́nh thường, duy tŕ trạng thái cân bằng tương đối giữa âm và dương.

Lệ như, thiên nhiệt hoặc hoạt động lượng đại thời, hăn đa nhi tiểu tiện thiểu; thiên lănh hoặc hoạt động lượng tiểu thời, hăn thiểu nhi tiểu tiện đa, tựu thị ngũ tạng tùy tứ thời hàn thử đích biến thiên tố xuất thích đáng đích điều tiết, thấu quá thủy dịch đại tạ lai duy tŕ thể nội âm dương b́nh hành đích minh hiển lệ tử.

Ví dụ, khi trời nóng hoặc vận động nhiều th́ mồ hôi nhiều mà tiểu tiện ít; khi trời lạnh hoặc vận động ít th́ mồ hôi ít mà tiểu tiện nhiều. Đó chính là ví dụ rơ ràng cho việc ngũ tạng theo sự thay đổi hàn thử của bốn mùa mà điều tiết thích đáng, thông qua chuyển hóa thủy dịch để duy tŕ cân bằng âm dương trong cơ thể.

七竅的功能源於五臟精氣的奉養

Thất khiếu đích công năng nguyên ư ngũ tạng tinh khí đích phụng dưỡng

Công năng của thất khiếu bắt nguồn từ sự nuôi dưỡng của tinh khí ngũ tạng

Nguyên văn

Ngũ tạng thường nội duyệt ư thượng thất khiếu dă, cố Phế khí thông ư tỷ, Phế ḥa tắc tỷ năng tri hương xú hĩ; Tâm khí thông ư thiệt, Tâm ḥa tắc thiệt năng tri ngũ vị hĩ; Can khí thông ư mục, Can ḥa tắc mục năng biện ngũ sắc hĩ; Tỳ khí thông ư khẩu, Tỳ ḥa tắc khẩu năng tri ngũ cốc hĩ; Thận khí thông ư nhĩ, Thận ḥa tắc nhĩ năng văn ngũ âm hĩ. Ngũ tạng bất ḥa tắc thất khiếu bất thông, lục phủ bất ḥa tắc lưu vi ung.

Ngũ tạng thường từ bên trong mà thông đạt lên thất khiếu ở trên. Cho nên Phế khí thông ra mũi, Phế điều ḥa th́ mũi có thể biết được thơm hôi; Tâm khí thông ra lưỡi, Tâm điều ḥa th́ lưỡi có thể biết được ngũ vị; Can khí thông ra mắt, Can điều ḥa th́ mắt có thể phân biệt được ngũ sắc; Tỳ khí thông ra miệng, Tỳ điều ḥa th́ miệng có thể biết được ngũ cốc; Thận khí thông ra tai, Thận điều ḥa th́ tai có thể nghe được ngũ âm. Ngũ tạng không điều ḥa th́ thất khiếu không thông; lục phủ không điều ḥa th́ lưu trệ mà thành ung.

「肺氣通於鼻,肺和則鼻能知香臭矣」

Phế khí thông ư tỷ, Phế ḥa tắc tỷ năng tri hương xú hĩ

Phế khí thông ra mũi, Phế điều ḥa th́ mũi biết được thơm hôi.

Ư nói mũi là nơi Phế khai khiếu. Nếu Phế khí điều ḥa th́ công năng khứu giác b́nh thường; nếu Phế mất tuyên giáng, Phế khí không ḥa th́ dễ sinh nghẹt mũi, chảy mũi, giảm ngửi.

「心氣通於舌,心和則舌能知五味矣」

Tâm khí thông ư thiệt, Tâm ḥa tắc thiệt năng tri ngũ vị hĩ

Tâm khí thông ra lưỡi, Tâm điều ḥa th́ lưỡi có thể biết được ngũ vị.

Ư là lưỡi có quan hệ rất mật thiết với Tâm. Tâm huyết, Tâm thần, Tâm hỏa đều có thể biểu hiện trên lưỡi.

「肝氣通於目,肝和則目能辨五色矣」

Can khí thông ư mục, Can ḥa tắc mục năng biện ngũ sắc hĩ

Can khí thông ra mắt, Can điều ḥa th́ mắt phân biệt được các màu sắc.

Ư nói mắt là nơi Can khai khiếu; t́nh trạng huyết của Can, hỏa của Can hay phong của Can đều có thể biểu hiện qua mắt.

「脾氣通於口,脾和則口能知五穀矣」

Tỳ khí thông ư khẩu, Tỳ ḥa tắc khẩu năng tri ngũ cốc hĩ

Tỳ khí thông ra miệng, Tỳ điều ḥa th́ miệng biết được ngũ cốc.

Ư nói vị giác, cảm giác ăn uống, khẩu vị có quan hệ gần gũi với công năng vận hóa của Tỳ.

「腎氣通於耳,腎和則耳能聞五音矣」

Thận khí thông ư nhĩ, Thận ḥa tắc nhĩ năng văn ngũ âm hĩ

Thận khí thông ra tai, Thận điều ḥa th́ tai có thể nghe được ngũ âm.

Ư nói công năng thính giác có quan hệ chặt chẽ với Thận tinh, Thận khí. Thận mạnh th́ tai nghe tinh; Thận hư th́ dễ ù tai, nghe kém.

Chú thích

1/ 閱Duyệt Ở đây có nghĩa là thông đạt, phân bố, tương đồng với chữ “thông” ở phía sau.

2/ 五味Ngũ vị Chua, đắng, ngọt, cay, mặn; ở đây dùng rộng để chỉ các loại vị giác.

3/ 五色Ngũ sắc Xanh, đỏ, vàng, trắng, đen; ở đây dùng rộng để chỉ các loại màu sắc.

4/ 五穀Ngũ cốc Nguyên chỉ một số loại lương thực chủ yếu, ở đây chỉ chung các loại thực vật lương thực, đồ ăn nuôi sống con người.

5/ 五音Ngũ âm Năm âm giai cổ là giác, chủy, cung, thương, vũ; ở đây dùng rộng để chỉ mọi loại âm thanh.

Phân tích

Bản đoạn kinh văn xiển minh nhân thể quan khiếu đích sinh lư công năng ḥa bệnh lư biến hóa dữ ngũ tạng lục phủ hữu mật thiết đích quan hệ.

Đoạn kinh văn này làm sáng tỏ rằng công năng sinh lư và biến hóa bệnh lư của các quan khiếu trong cơ thể có quan hệ mật thiết với ngũ tạng lục phủ.

Ngũ tạng tại nội tại hạ, thất khiếu tại ngoại tại thượng, ngũ tạng đích kinh mạch thượng liên ư thất khiếu, ngũ tạng dữ thất khiếu tương thông ứng, tại bệnh lư t́nh huống hạ, ngũ tạng khí cơ bất ḥa, khả biểu hiện vi thất khiếu bệnh biến, nhân hử kinh văn viết “ngũ tạng thường nội duyệt ư thượng thất khiếu”, lâm chứng thời khả ṭng thất khiếu đích công năng cải biến trắc tri ngũ tạng đích bệnh biến, ṭng ngũ tạng nhập thủ tiến hành điều trị.

Ngũ tạng ở bên trong phía dưới, thất khiếu ở bên ngoài phía trên; kinh mạch của ngũ tạng đi lên liên hệ với thất khiếu, nên giữa ngũ tạng và thất khiếu có sự thông ứng. Trong t́nh huống bệnh lư, khí cơ của ngũ tạng không điều ḥa có thể biểu hiện thành bệnh biến ở thất khiếu, v́ thế kinh văn mới nói “ngũ tạng thường nội duyệt ở trên thất khiếu”. Khi lâm chứng, có thể từ sự thay đổi chức năng của thất khiếu mà suy biết bệnh biến của ngũ tạng, rồi từ ngũ tạng mà vào tay điều trị.

Như Phế khai khiếu ư tỵ, Phế khí thất tuyên, thường kiến tỷ tắc lưu thế, khứu giác thất linh, khả dụng tân tán tuyên Phế đích phương pháp trị liệu.

Ví như Phế khai khiếu ở mũi, khi Phế khí mất tuyên phát th́ thường thấy nghẹt mũi, chảy nước mũi, khứu giác suy giảm; có thể dùng phép tân tán tuyên Phế để điều trị.

Tâm khí thông ư thiệt, Tâm ḥa tắc thiệt năng tri ngũ vị hĩ, thị cường điệu Tâm dữ thiệt hữu giảo vi mật thiết đích quan hệ.

Câu “Tâm khí thông ở lưỡi, Tâm ḥa th́ lưỡi biết ngũ vị” là để nhấn mạnh quan hệ khá mật thiết giữa Tâm và lưỡi.

Như Tâm khí bất túc, huyết hành bất sướng, khả kiến thiệt chất tử ám; Tâm hỏa thượng viêm, khả kiến thiệt xích sinh sang, hội lạn thống thống; đàm mê Tâm khiếu hoặc nhiệt hăm Tâm bào, khả dẫn khởi thiệt cường ngữ kiển. Giá ta đô thị Tâm đích bệnh biến tại thiệt thể thượng đích phản ánh, trị liệu đô yếu ṭng Tâm nhập thủ.

Ví dụ Tâm khí bất túc, huyết vận hành không thông th́ có thể thấy chất lưỡi tím tối; Tâm hỏa bốc lên th́ có thể thấy lưỡi đỏ, sinh sang, loét đau; đàm mê tâm khiếu hoặc nhiệt nhập Tâm bào th́ có thể gây cứng lưỡi, nói khó. Những điều này đều là phản ánh bệnh biến của Tâm lên lưỡi, cho nên trị liệu đều phải bắt đầu từ Tâm.

Can khai khiếu ư mục, lâm sàng bất thiểu nhăn bệnh dữ Can hữu quan. Như Can hỏa thượng viêm dẫn khởi mục xích thũng thống; Can huyết bất túc khả kiến nhăn mục can sáp, thị vật mô hồ; Can phong nội động xuất hiện mục tinh thượng điếu, mục tà đẳng, Trung y trị liệu mục tật, văng văng ṭng Can trước thủ.

Can khai khiếu ra mắt, nên trên lâm sàng rất nhiều bệnh ở mắt có liên quan đến Can. Ví dụ Can hỏa thượng viêm gây mắt đỏ sưng đau; Can huyết bất túc th́ mắt khô rát, nh́n mờ; Can phong nội động th́ có thể thấy mắt trợn ngược, mắt lệch v.v. Cho nên Trung y điều trị bệnh mắt thường bắt đầu từ Can.

Tỳ khai khiếu ư khẩu, ẩm thực, khẩu vị dữ Tỳ đích vận hóa công năng mật thiết tương quan, sở dĩ căn cứ khẩu vị đích biến hóa suy đoán Tỳ tạng đích bệnh biến, tại lâm sàng thượng hữu nhất định đích chẩn đoán ư nghĩa.

Tỳ khai khiếu ở miệng, ăn uống và khẩu vị có liên quan chặt chẽ đến công năng vận hóa của Tỳ. V́ vậy, dựa vào sự thay đổi khẩu vị để suy đoán bệnh biến của Tỳ, trên lâm sàng có ư nghĩa chẩn đoán nhất định.

Thực dục vượng thịnh, khẩu vị chính thường, biểu thị Tỳ khí kiện vượng; Tỳ kinh hữu nhiệt, tắc khẩu hữu điềm vị; Tỳ hữu thấp tà, tắc khẩu trung niêm nị bất thanh; Tỳ hư bất năng kiện vận, tắc khẩu đạm vô vị.

Nếu ăn khỏe, khẩu vị b́nh thường th́ biểu thị Tỳ khí kiện vượng; Tỳ kinh có nhiệt th́ miệng có vị ngọt; Tỳ bị thấp tà th́ trong miệng dính nhớt, không thanh sảng; Tỳ hư không thể kiện vận th́ miệng nhạt, không biết vị.

Thận đích tinh khí thượng thông nhĩ khiếu, nhĩ đích thính giác dữ Thận tạng đích tinh khí thịnh suy mật thiết tương quan. Như Thận khí sung bái, tắc thính giác linh mẫn; Thận đích tinh khí bất túc, khả xuất hiện nhĩ minh, thính lực giảm thoái đẳng chứng, lâm sàng trị liệu đương dụng bổ ích Thận khí đích phương pháp.

Tinh khí của Thận đi lên thông ra tai, v́ thế thính giác của tai liên quan chặt chẽ đến sự thịnh suy của Thận tinh, Thận khí. Nếu Thận khí sung túc th́ tai nghe tinh; nếu Thận tinh, Thận khí bất túc th́ có thể xuất hiện ù tai, giảm thính lực, v.v., khi điều trị nên dùng phép bổ ích Thận khí.

Do ư nhân thể thị nhất cá thống nhất đích chỉnh thể, tạng phủ công năng chi gian cụ hữu mật thiết đích liên hệ, sở dĩ mỗi nhất cá thể biểu khí quan dữ tạng phủ đích liên hệ dă thị phi thường phức tạp đích. Ngũ tạng khai khiếu lư luận chỉ thuyết minh mỗ nhất tạng khí dữ mỗ nhất thể biểu khí quan cụ hữu giảo vi mật thiết đích liên hệ, bất năng cơ giới địa lư giải vi thị duy nhất đích liên hệ. Như nhĩ bất đăn khai khiếu ư Thận, dữ kỳ tha tạng phủ dă hữu nhất định đích liên hệ, lâm sàng ưng căn cứ cụ thể t́nh huống, thấu quá tạng phủ biện chứng, tuyển trạch thích đương đích trị pháp.

V́ cơ thể con người là một chỉnh thể thống nhất, công năng giữa các tạng phủ có liên hệ mật thiết, cho nên mối liên hệ giữa mỗi cơ quan ngoài thân với tạng phủ cũng rất phức tạp. Lư luận ngũ tạng khai khiếu chỉ nói rằng một tạng nào đó có liên hệ tương đối mật thiết với một cơ quan ngoài thân nào đó, chứ không được máy móc hiểu rằng đó là liên hệ duy nhất. Ví dụ tai không chỉ khai khiếu ở Thận mà c̣n có liên hệ nhất định với các tạng phủ khác; trên lâm sàng cần căn cứ t́nh huống cụ thể, thông qua biện chứng tạng phủ để chọn phép trị thích hợp.

Do ư thất khiếu giai bẩm khí ư ngũ tạng, cố ngũ tạng bất ḥa, tắc tinh khí bất năng sướng thông ư thượng thất khiếu, cố thất khiếu chi cảm giác công năng giảm thoái hoặc tiêu thất; lục phủ bất ḥa, chỉ truyền hóa công năng vặn loạn, tắc thủy cốc lưu trệ, khí huyết uất kết hóa nhiệt nhi vi ung thũng sang dương.

Bởi v́ thất khiếu đều bẩm khí từ ngũ tạng, nên nếu ngũ tạng không ḥa th́ tinh khí không thể thông suốt lên thất khiếu, khiến chức năng cảm giác của thất khiếu giảm sút hoặc mất đi. C̣n nếu lục phủ không ḥa, tức công năng truyền hóa rối loạn, th́ thủy cốc đ́nh trệ, khí huyết uất kết hóa nhiệt mà thành ung thũng sang dương.

Cố kinh văn viết “Ngũ tạng bất ḥa tắc thất khiếu bất thông, lục phủ bất ḥa tắc lưu vi ung”.

Cho nên kinh văn mới nói: ngũ tạng không ḥa th́ thất khiếu không thông, lục phủ không ḥa th́ lưu lại mà hóa thành ung.

Ngũ tạng bất ḥa tắc thất khiếu bất thông, lục phủ bất ḥa tắc lưu vi ung

Ngũ tạng không ḥa th́ thất khiếu không thông; lục phủ không ḥa th́ lưu trệ mà thành ung.

Ư là dù là tạng bệnh hay phủ bệnh, đều có thể ảnh hưởng đến thất khiếu, nhưng cách biểu hiện sẽ khác nhau tùy theo công năng sinh lư của tạng và phủ.

Chí ư ung dương bộ vị, Trương Giới Tân nhận vi: “cơ thấu lưu vi ung dương”, đản bản đoạn chủ yếu thị tại luận quan khiếu, tự chỉ thất khiếu sinh ung dương, dă phù hợp lâm sàng thực tế. Tổng chi, ngũ tạng bất ḥa dữ lục phủ bất ḥa, giai năng đạo trí thất khiếu phát sinh bệnh biến, đản nhân tạng dữ phủ đích công năng bất đồng, sở dĩ ảnh hưởng thất khiếu phát bệnh diệc hữu sở khu biệt, giá thị ưng đương phân biện đích.

Về vị trí của ung dương, Trương Giới Tân cho rằng đó là “cơ thấu lưu lại mà thành ung dương”, nhưng đoạn này chủ yếu đang bàn về quan khiếu, nên dường như là chỉ ung dương phát sinh ở thất khiếu, điều này cũng phù hợp với thực tế lâm sàng. Tóm lại, cả ngũ tạng bất ḥa và lục phủ bất ḥa đều có thể dẫn đến bệnh biến ở thất khiếu, nhưng do công năng của tạng và phủ khác nhau, nên ảnh hưởng đến sự phát bệnh ở thất khiếu cũng có chỗ sai biệt, điều đó cần phải phân biệt rơ.

Bảng biểu

Nhăn tinh dữ ngũ tạng tại sinh lư thượng đích mật thiết quan hệ (眼睛與五臟在生理上的密切關係)

Nguyên văn (原文)

Ngũ tạng lục phủ chi tinh khí, giai thượng chú ư mục nhi vi chi tinh. Tinh chi khỏa vi nhăn, cốt chi tinh vi đồng tử, cân chi tinh vi hắc nhăn, huyết chi tinh vi lạc, khí chi tinh vi bạch nhăn, cơ nhục chi tinh vi ước thúc, khỏa hiệp cân cốt huyết khí chi tinh nhi dữ mạch tịnh vi hệ, thượng thuộc ư năo, hậu xuất ư hạng trung. Dịch nghĩa: Tinh khí của ngũ tạng lục phủ đều dồn lên mắt mà tạo nên chức năng tinh minh của mắt. Chỗ hội tụ của tinh làm thành mắt; tinh của xương làm thành đồng tử; tinh của gân làm thành phần đen của mắt; tinh của huyết làm thành mạch lạc; tinh của khí làm thành phần trắng của mắt; tinh của cơ nhục làm thành sự co giữ của mi mắt. Mi mắt bao bọc, gom giữ tinh của gân, xương, huyết, khí, cùng với mạch mà hợp thành mục hệ; phía trên nối với năo, phía sau đi ra giữa gáy.

Chú thích (注釋)

Tinh (精): ở đây chỉ công năng thị giác, tức khả năng nh́n của mắt.

Tinh chi khỏa vi nhăn (精之窠為眼): khỏa nghĩa là ổ, hang, cũng có nghĩa mở rộng là nơi tụ hội. Cả câu có nghĩa là tinh khí của ngũ tạng lục phủ hội tụ ở mắt, nhờ đó các bộ phận cấu thành của mắt mới thực hiện được chức năng sinh lư b́nh thường.

Cốt chi tinh vi đồng tử (骨之精為瞳子): cốt chi tinh là tinh khí của thận, v́ thận chủ cốt nên gọi như vậy. Đồng tử, c̣n gọi là đồng thần hay đồng nhân, tức con ngươi. Cả câu có nghĩa là tinh khí của thận nuôi dưỡng đồng tử.

Cân chi tinh vi hắc nhăn (筋之精為黑眼): cân chi tinh là tinh khí của can, v́ can chủ cân nên gọi như vậy. Hắc nhăn chỉ phần màu đen bao quanh đồng tử, c̣n gọi là hắc tinh, tức giác mạc. Cả câu có nghĩa là tinh khí của can nuôi dưỡng hắc tinh.

Huyết chi tinh vi lạc (血之精為絡): huyết chi tinh là tinh khí của tâm, v́ tâm chủ huyết nên gọi như vậy. Lạc chỉ các mạch máu ở khóe mắt. Cả câu có nghĩa là tinh khí của tâm nuôi dưỡng huyết lạc của mắt.

Kỳ khỏa (其窠): theo trên dưới văn nghĩa mà xét, hai chữ này có thể là chữ thừa do sao chép.

Khí chi tinh vi bạch nhăn (氣之精為白眼): khí chi tinh là tinh khí của phế, v́ phế chủ khí nên gọi như vậy. Bạch nhăn, c̣n gọi là bạch tinh, là phần trắng của nhăn cầu, tức củng mạc. Cả câu có nghĩa là tinh khí của phế nuôi dưỡng bạch tinh.

Cơ nhục chi tinh vi ước thúc (肌肉之精為約束): cơ nhục chi tinh là tinh khí của tỳ, v́ tỳ chủ cơ nhục nên gọi như vậy. Ước thúc chỉ nhăn bào, tức mi mắt trên dưới, v́ nó có thể đóng mở nên gọi như vậy. Cả câu có nghĩa là tinh khí của tỳ nuôi dưỡng mí mắt.

Khỏa hiệp (裹擷): nghĩa gốc là dùng vạt áo bọc đồ vật, ở đây ví với tác dụng bao bọc của nhăn bào.

Phân tích
Đoạn kinh văn này chỉ rơ rằng tác dụng tinh minh của mắt là kết quả do tinh khí của ngũ tạng lục phủ tưới rót lên mắt mà thành; các bộ phận khác nhau trong cấu trúc của mắt đều liên hệ với khí của từng tạng tương ứng.

Đồng nhân thuộc thận tinh, hắc nhăn thuộc can tinh, huyết lạc ở khóe mắt thuộc tâm tinh, bạch nhăn thuộc phế tinh, nhăn bào thuộc tỳ tinh. C̣n mục hệ là do tinh khí của can, thận, tâm, phế được bao bọc trong kinh mạch mà h́nh thành, cho nên mục hệ thực chất là một loại kinh mạch đặc thù, bên trong chứa tinh của bốn tạng can, thận, tâm, phế, lại c̣n liên thông lên năo.

Những lư luận này đă đặt nền tảng cho Ngân Hải tinh vi (銀海精微) đời sau sáng lập ra thuyết ngũ luân. Cụ thể như sau: mi mắt trên dưới là nhục luân, thuộc tỳ; tỳ với vị biểu lư với nhau, nên bệnh ở nhục luân thường có liên quan đến tỳ vị. Hai khóe mắt và huyết lạc là huyết luân, thuộc tâm; tâm với tiểu trường biểu lư với nhau, nên bệnh ở huyết luân phần nhiều liên quan đến bệnh biến của tâm hoặc tiểu trường. Bạch tinh là khí luân, thuộc phế; phế với đại trường biểu lư với nhau, nên bệnh ở khí luân thường liên quan đến phế hoặc đại trường. Hắc tinh là phong luân, thuộc can; can với đởm biểu lư với nhau, nên bệnh ở phong luân thường liên quan đến can hoặc đởm. Đồng thần là thủy luân, thuộc thận; thận với bàng quang biểu lư với nhau, nên bệnh ở thủy luân thường liên quan đến thận hoặc bàng quang.

Ví dụ, mi mắt đỏ, lở loét, phần nhiều do tỳ kinh thực nhiệt; bạch tinh đỏ, huyết ty đầy dày, sợ sáng chảy nước mắt là do phế kinh phong nhiệt; phía trong mắt huyết ty đỏ thô hơn là do tâm hỏa bốc lên; hắc tinh thấy tụ huyết đỏ tươi th́ phần nhiều do can kinh bị nhiệt, huyết nhiệt vọng hành; đồng tử co nhỏ, nh́n không rơ thường do thận âm bất túc, hư hỏa bốc lên gây nên.

Tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch lục khí đích khái niệm (精、氣、津、液、血、脈六氣的概念)

Nguyên văn (原文)

Hoàng Đế viết: Dư văn nhân hữu tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch, dư ư dĩ vi nhất khí nhĩ, kim năi biện vi lục danh, dư bất tri kỳ sở dĩ nhiên. Kỳ Bá viết: Lưỡng thần tương bác, hợp nhi thành h́nh, thường tiên thân sinh, thị vị tinh. Hà vị khí? Kỳ Bá viết: Thượng tiêu khai phát, tuyên ngũ cốc vị, huân phu, sung thân, trạch mao, nhược vụ lộ chi khái, thị vị khí. Hà vị tân? Kỳ Bá viết: Tấu lư phát tiết, hăn xuất trăn trăn, thị vị tân. Hà vị dịch? Kỳ Bá viết: Cốc nhập khí măn, nạo trạch chú ư cốt, cốt thuộc khuất thân, tiết trạch bổ ích năo tủy, b́ phu nhuận trạch, thị vị dịch. Hà vị huyết? Kỳ Bá viết: Trung tiêu thụ khí, thủ chấp, biến hóa nhi xích, thị vị huyết. Hà vị mạch? Kỳ Bá viết: Ung át doanh khí, lệnh vô sở tị, thị vị mạch.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Ta nghe nói con người có tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch; ư ta cho rằng đó chỉ là một loại khí mà thôi, nay lại phân biệt thành sáu tên gọi, ta không rơ v́ sao như vậy. Kỳ Bá đáp: Hai thần giao hợp, kết lại thành h́nh, thường sinh trước thân thể, đó gọi là tinh. Thế nào là khí? Kỳ Bá nói: Thượng tiêu có tác dụng khai phát, truyền bố khí vị của ngũ cốc, xông ấm da thịt, làm đầy khắp thân thể, làm nhuận lông tóc, như sương móc tưới nhuần, đó gọi là khí. Thế nào là tân? Kỳ Bá nói: Tấu lư khai tiết, mồ hôi ra đầm đ́a, đó gọi là tân. Thế nào là dịch? Kỳ Bá nói: Thủy cốc vào cơ thể, khí đầy đủ, phần chất đặc trơn đi rót vào xương; xương nhờ đó co duỗi được, phần tinh nhuận ấy thấm ra để bổ ích năo tủy, làm da dẻ nhuận trạch, đó gọi là dịch. Thế nào là huyết? Kỳ Bá nói: Trung tiêu tiếp nhận thủy cốc chi khí, lấy chất tinh vi, biến hóa thành màu đỏ, đó gọi là huyết. Thế nào là mạch? Kỳ Bá nói: Vây giữ doanh khí, khiến nó không đi tán loạn, đó gọi là mạch.

Chú thích (注釋)

Trăn trăn (溱溱): h́nh dung mồ hôi ra rất nhiều.

Nạo trạch (淖澤): ở đây chỉ phần tinh vi của thủy cốc có tính đặc sánh và trơn nhuận.

Phân tích (解析)
Đoạn này giới thiệu khái niệm về lục khí là tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch.
Khí của cơ thể người, xét theo nguồn gốc, có tiên thiên nguyên khí do cha mẹ truyền lại, có thủy cốc tinh khí do ăn uống hóa sinh, lại có thanh khí của tự nhiên; ba thứ ấy hợp lại thành một, gọi là nguyên chân chi khí. Nhưng xét tận gốc, bất luận là bẩm thụ khi sinh ra hay là h́nh thành sau khi sinh, khí của sự sống trong cơ thể đều do những vật chất liên quan trong tự nhiên trải qua quá tŕnh sinh hóa của bản thân cơ thể mà thành, cho nên theo ư nghĩa ấy có thể gọi chung là nhất khí, hoặc nguyên chân chi khí.

Tuy nhiên, v́ khí phân bố ở những vị trí khác nhau, lại đảm nhiệm những công năng khác nhau, nên lại có sáu tên gọi khác nhau, tức tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch là lục khí như đoạn này nói đến. Trong đó, chữ khí ở đây thuộc nghĩa hẹp, chủ yếu chỉ khí ở vùng đản trung khí hải, tức tông khí.

Trong lục khí, tinh thuộc tiên thiên chi tinh, do tinh huyết của cha mẹ hóa thành, cho nên sinh trước thân thể. Phạm vi của khí rất rộng, công năng rất nhiều; đoạn này nêu công năng biểu hiện của khí ở đản trung, tức tông khí, để làm rơ rằng khí tuy vi tế khó thấy nhưng tác dụng khai phát thượng tiêu, truyền đạt khí vị ngũ cốc, ôn ấm hun đúc da thịt, làm đầy cơ thể, làm bóng mượt lông tóc đều là những hiện tượng có thể thấy và cảm nhận được bất cứ lúc nào, giống như sương móc tưới nhuần vạn vật. Phương pháp bàn về khí như vậy chính là khuôn mẫu lấy tượng để suy tạng.

Tân dịch là thủy dịch dinh dưỡng hữu h́nh. Tân là phần trong và nhẹ hơn, cho nên lấy mồ hôi đi ra ngoài biểu làm tượng trưng. Dịch là phần đậm đặc và trọc hơn, cho nên chủ yếu đi vào khớp xương và năo tủy, đồng thời cũng có thể làm nhuận da.

Huyết là chất dịch màu đỏ được h́nh thành trên cơ sở doanh khí và tân dịch do thủy cốc qua trung tiêu tỳ vị hóa sinh, rồi tiếp tục qua hàng loạt biến hóa của tâm phế mà thành.

Mạch có phân ra mạch quản và mạch khí. Mạch quản thuộc kỳ hằng chi phủ, c̣n ở đây chữ mạch là chỉ mạch khí. Mạch khí có tác dụng ràng buộc doanh khí, thúc đẩy doanh huyết vận hành theo một phương hướng nhất định.

Nhất khí phân ra làm sáu, mà lục khí hợp lại vẫn là một, điều này cho thấy quan hệ giữa sáu thứ cực kỳ mật thiết, cho nên khi phát sinh bệnh biến chúng nhất định cũng ảnh hưởng lẫn nhau. Ví dụ, ra mồ hôi quá nhiều không chỉ tổn thương tân và khí mà c̣n có thể làm thương doanh huyết; người đột nhiên mất máu nhiều th́ tân khí cũng đồng thời suy tổn lớn. V́ vậy, trong điều trị phải đồng thời lưu ư cả khí, huyết, tân, dịch cùng các mặt liên quan th́ mới đạt được hiệu quả điều trị thỏa đáng.

Lục khí bất túc đích bệnh lư biểu hiện (六氣不足的病理表現)

Nguyên văn (原文)

Hoàng Đế viết: Lục khí giả, hữu dư bất túc, khí chi đa thiểu, năo tủy chi hư thực, huyết mạch chi thanh trọc, hà dĩ tri chi? Kỳ Bá viết: Tinh thoát giả, nhĩ lung; khí thoát giả, mục bất minh; tân thoát giả, tấu lư khai, hăn đại tiết; dịch thoát giả, cốt thuộc khuất thân bất lợi, sắc yểu, năo tủy tiêu, hĩnh toan, nhĩ sổ minh; huyết thoát giả, sắc bạch, thiên nhiên bất trạch, kỳ mạch không hư, thử kỳ hậu dă.

Hoàng Đế viết: Lục khí giả, quư tiện hà như? Kỳ Bá viết: Lục khí giả, các hữu bộ chủ dă, kỳ quư tiện thiện ác, khả vi thường chủ, nhiên ngũ cốc dữ vị vi đại hải dă. Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Sáu khí có khi thừa, có khi thiếu; khí nhiều hay ít, năo tủy hư hay thực, huyết mạch trong hay đục, làm sao biết được? Kỳ Bá đáp: Người bị thoát tinh th́ tai điếc; người bị thoát khí th́ mắt không sáng; người bị thoát tân th́ tấu lư mở, mồ hôi ra dữ dội; người bị thoát dịch th́ xương khớp co duỗi khó khăn, sắc mặt tiều tụy, năo tủy hao ṃn, cẳng chân mỏi đau, tai thường ù; người bị thoát huyết th́ sắc mặt trắng bệch, da dẻ khô không nhuận, mạch rỗng hư, đó là các dấu hiệu của nó.

Hoàng Đế hỏi: Trong lục khí, thứ nào quan trọng hơn, thứ nào kém hơn? Kỳ Bá đáp: Lục khí mỗi thứ đều có tạng phủ quản chủ riêng. Sự quan trọng, thứ yếu, lợi hại của chúng đều có chủ thường hằng, nhưng ngũ cốc và vị là biển lớn của chúng.

Chú thích (注釋)

Quư tiện (貴賤): ở đây chỉ tác dụng chủ yếu và thứ yếu.
Bộ chủ (部主): tạng phủ quản lĩnh lục khí, như thận chủ tinh, phế chủ khí, tỳ chủ tân dịch, can chủ huyết, tâm chủ mạch.
Thiện ác (善惡): tác dụng có lợi và có hại, hoặc nói là tác dụng b́nh thường và bất thường.
Thường chủ (常主): chỉ lục khí đều có tạng phủ sở chủ cố định, có thể xem lại chú thích bộ chủ.
Phân tích (解析)

Đoạn này bàn về biểu hiện bệnh lư của lục khí bất túc, đồng thời nêu ra luận điểm lục khí các hữu bộ chủ, và ngũ cốc với vị là đại hải.

Lục khí đều có bộ chủ riêng, điều này chỉ ra mối liên hệ giữa lục khí với tạng phủ, tức thận chủ tinh, tỳ chủ tân dịch, phế chủ khí, can chủ huyết, tâm chủ mạch.

Ở phần trước đă nói nguồn gốc của sinh mệnh chi khí của con người có ba phương diện, nhưng ở đây lại đặc biệt nhấn mạnh câu ngũ cốc dữ vị vi đại hải, v́ tiên thiên tinh khí tàng trong thận nhất thiết phải nương nhờ thủy cốc tinh khí do tỳ vị vận hóa sinh ra để được nuôi dưỡng liên tục, từ đó mới phát huy tác dụng sinh lư. Đồng thời, tỳ vị không ngừng đem thủy cốc tinh khí chuyển lên phế, cung cấp vật chất dinh dưỡng cần thiết cho hoạt động sinh lư của phế, khiến phế mới có thể thực hiện b́nh thường công năng hô hấp mà hấp thu thanh khí.

Cho nên, nói lục khí lấy ngũ cốc và vị làm đại hải tức là chỉ ra nguồn gốc quan trọng nhất của lục khí. Quan điểm lục khí hóa sinh bắt nguồn từ vị đă cung cấp cơ sở lư luận cho lâm sàng khi điều trị các chứng lục khí hư tổn, cần bắt đầu từ việc bổ ích tỳ vị, bồi bổ nguồn hóa sinh của nó.

Lục khí lư luận đích chủ yếu nội dung (六氣理論的主要内容)
Bảng biểu
Doanh vệ đích sinh thành, vận hành dữ hội hợp: Sự h́nh thành, vận hành và hội hợp của doanh khí và vệ khí.

Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Nhân yên thụ khí? Âm dương yên hội? Hà khí vi doanh? Hà khí vi vệ? Doanh an ṭng sinh? Vệ ư yên hội? Lăo tráng bất đồng khí, âm dương dị vị, nguyện văn kỳ hội. Kỳ Bá đáp viết: Nhân thụ khí ư cốc, cốc nhập ư vị, dĩ truyền dữ phế, ngũ tạng lục phủ, giai dĩ thụ khí, kỳ thanh giả vi doanh, trọc giả vi vệ, doanh tại mạch trung, vệ tại mạch ngoại, doanh chu bất hưu, ngũ thập nhi phục đại hội, âm dương tương quán, như hoàn vô đoan. Vệ khí hành ư âm nhị thập ngũ độ, hành ư dương nhị thập ngũ độ, phân vi trú dạ, cố khí chí dương nhi khởi, chí âm nhi chỉ. Cố viết: nhật trung nhi dương lũng vi trùng dương, dạ bán nhi âm lũng vi trùng âm. Cố Thái âm chủ nội, Thái dương chủ ngoại, các hành nhị thập ngũ độ, phân vi trú dạ. Dạ bán vi âm lũng, dạ bán hậu nhi vi âm suy, b́nh đán âm tận, nhi dương thụ khí hĩ. Nhật trung vi dương lũng, nhật tây nhi dương suy, nhật nhập dương tận, nhi âm thụ khí hĩ. Dạ bán nhi đại hội, vạn dân giai ngọa, mệnh viết hợp âm, b́nh đán âm tận nhi dương thụ khí, như thị vô dĩ, dữ thiên địa đồng kỷ.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Người tiếp nhận khí ở đâu? Âm dương gặp nhau ở đâu? Khí nào là doanh? Khí nào là vệ? Doanh do đâu mà sinh? Vệ gặp nhau ở đâu? Già trẻ khí khác nhau, vị trí âm dương cũng khác, xin nghe về lẽ hội hợp ấy. Kỳ Bá đáp rằng: Người nhận khí từ ngũ cốc; ngũ cốc vào vị rồi truyền lên phế, ngũ tạng lục phủ đều nhờ đó mà tiếp nhận khí. Phần thanh là doanh, phần trọc là vệ. Doanh ở trong mạch, vệ ở ngoài mạch. Doanh tuần hành không nghỉ, đi đủ năm mươi ṿng th́ lại đại hội. Âm dương nối tiếp xuyên suốt nhau, như ṿng tṛn không có đầu mối. Vệ khí đi ở phần âm hai mươi lăm độ, đi ở phần dương hai mươi lăm độ, chia thành ngày đêm. V́ thế khí đến phần dương th́ khởi, đến phần âm th́ ngừng. Cho nên nói giữa trưa là dương thịnh cực, nửa đêm là âm thịnh cực. V́ thế Thái âm chủ bên trong, Thái dương chủ bên ngoài, mỗi bên đi hai mươi lăm độ, chia thành ngày đêm. Nửa đêm là lúc âm thịnh, sau nửa đêm âm dần suy, đến sáng sớm âm hết th́ dương bắt đầu nhận khí. Giữa trưa là lúc dương thịnh, về chiều dương dần suy, mặt trời lặn th́ dương hết mà âm bắt đầu nhận khí. Đến nửa đêm th́ đại hội, muôn dân đều nằm ngủ, gọi là hợp âm; đến sáng sớm âm hết mà dương nhận khí. Cứ như thế không thôi, cùng một nhịp vận hành với trời đất.

Chú thích

Lũng (隴): đọc như chữ “long” 隆, nghĩa là hưng thịnh, mạnh mẽ, cực thịnh.

Phân tích

Bản đoạn kinh văn này bàn về những đặc điểm khác nhau của doanh và vệ trên các phương diện sinh thành, tính năng, phân bố và giao hội.

Doanh vệ sinh hóa ư ẩm thực thủy cốc, thấu quá tỳ vị đích tiêu hóa, tương sở hóa sinh đích tinh vi bộ phận, ṭng vị thượng chú ư phế, kỳ thanh thuần bộ phận hóa vi doanh khí, trọc hậu bộ phận hóa vi vệ khí, phân biệt ṭng mạch nội, mạch ngoại lưỡng điều đồ kính vận hành ư toàn thân, dĩ duy tŕ cơ thể đích chính thường sinh mệnh hoạt động.

Dịch nghĩa: Doanh và vệ đều được hóa sinh từ đồ ăn thức uống và thủy cốc. Qua công năng tiêu hóa của tỳ vị, phần tinh vi được hóa sinh từ dạ dày sẽ đưa lên phế; phần thanh thuần hóa thành doanh khí, phần trọc hậu hóa thành vệ khí; rồi分别 vận hành theo hai đường trong mạch và ngoài mạch đi khắp toàn thân, để duy tŕ hoạt động sống b́nh thường của cơ thể.

Doanh vệ muốn phát huy công năng b́nh thường th́ cần giữ cho sự vận hành được thông suốt và điều ḥa lẫn nhau. Hai thứ có tính năng khác nhau: doanh khí nhu thuận, tinh chuyên, thuộc âm, đi trong mạch, có tác dụng dinh dưỡng, chủ về giữ bên trong; vệ khí phiêu hăn, hoạt tật, thuộc dương, đi ngoài mạch, có công năng bảo vệ, chủ về chống đỡ bên ngoài. Sự vận hành của hai thứ là doanh đi trong mạch, vệ đi ngoài mạch, trong một ngày đêm đều tuần hành năm mươi ṿng, rồi hội hợp tại kinh thủ Thái âm phế. Cứ như vậy âm dương, biểu lư nối tiếp nhau tuần hoàn không dứt.

Chính như Nan Kinh nói: Doanh vệ hành dương nhị thập ngũ độ, hành âm diệc nhị thập ngũ độ, vi nhất chu dă, cố ngũ thập độ phục hội ư thủ Thái âm. Nghĩa là: doanh vệ đi ở dương hai mươi lăm độ, đi ở âm cũng hai mươi lăm độ, thành một chu kỳ, cho nên năm mươi độ lại hội ở thủ Thái âm.

Theo Linh Khu, doanh khí đi trong kinh mạch, tuần hoàn không dứt, thứ tự đi theo trật tự quán chú của mười hai kinh, bắt đầu từ thủ Thái âm và kết thúc lại ở thủ Thái âm là một ṿng; trong một ngày đêm theo thứ tự đó mà đi năm mươi ṿng. C̣n vệ khí một ngày đêm cũng đi năm mươi ṿng, ban ngày đi ở phần dương hai mươi lăm ṿng, ban đêm đi ở phần âm hai mươi lăm ṿng. Theo Linh Khu, khi sáng sớm âm hết, vệ khí trước tiên từ huyệt T́nh minh ở khóe mắt trong mà ra dương, lên đầu, rồi theo ba kinh dương tay chân mà đi xuống, cuối cùng từ túc Dương minh đạt đến ḷng bàn chân, nhập vào túc Thiếu âm thận kinh, theo biệt khiêu mạch của Thiếu âm đi lên, lại hội ở huyệt T́nh minh của túc Thái dương nơi khóe mắt trong; ban ngày vệ khí đi theo đường này hai mươi lăm ṿng. Ban đêm vệ khí đi ở âm: từ túc Thiếu âm thận kinh truyền vào thận, từ thận vào tâm, từ tâm vào phế, từ phế vào can, từ can vào tỳ, từ tỳ lại trở về thận thành một ṿng; ban đêm theo thứ tự ấy mà đi hai mươi lăm ṿng.

Bản tiết đề thị doanh vệ chi khí vận hành cụ hữu trú dạ biến hóa tiết luật. Tự nhiên giới âm dương chi khí đích tiêu trưởng cụ hữu trú dạ biến hóa đích quy luật, nguyên văn thuyết: “Dạ bán vi âm lũng, dạ bán hậu nhi vi âm suy, b́nh đán âm tận, nhi dương thụ khí hĩ; nhật trung vi dương lũng, nhật tây nhi dương suy, nhật nhập dương tận, nhi âm thụ khí hĩ.”

Dịch nghĩa: Mục này gợi ra rằng sự vận hành của doanh vệ chi khí có nhịp điệu biến hóa theo ngày đêm. Khí âm dương của tự nhiên có quy luật thăng giáng tiêu trưởng theo ngày đêm; nguyên văn nói: “Nửa đêm là lúc âm thịnh, sau nửa đêm âm dần suy, sáng sớm âm hết th́ dương bắt đầu nhận khí; giữa trưa là lúc dương thịnh, về chiều dương suy, khi mặt trời lặn dương hết th́ âm bắt đầu nhận khí.”

Đêm thuộc âm, ngày thuộc dương; giờ Tư nửa đêm là âm trong âm, âm khí thịnh nhất. Sau nửa đêm âm khí dần suy; đến b́nh minh, mặt trời mọc, âm khí hết mà dương khí dần thịnh. Buổi trưa là dương trong dương, dương khí thịnh nhất; lúc mặt trời lặn, dương khí hết mà âm khí dần thịnh. Sự tiêu trưởng của âm dương trong thân người “dữ thiên địa đồng kỷ”, nghĩa là sự biến hóa âm dương của con người tuân theo cùng một quy luật tự nhiên như trời đất. V́ vậy mới nói: “故太陰主內,太陽主外,各行二十五度,分為晝夜”, tức Thái âm chủ bên trong, Thái dương chủ bên ngoài, mỗi bên đi hai mươi lăm độ, chia thành ngày đêm. Điều đó cho thấy tác giả Nội Kinh qua quan sát thực tiễn lâu dài đă có nhận thức khá sâu về nhịp điệu sinh mệnh của cơ thể.

營衛與睡眠的關係

Doanh vệ dữ thụy miên đích quan hệ: Quan hệ giữa doanh vệ và giấc ngủ.

Hoàng Đế viết: Lăo nhân chi bất dạ minh giả, hà khí sử nhiên? Thiếu tráng chi nhân bất trú minh giả, hà khí sử nhiên? Kỳ Bá đáp viết: Tráng giả chi khí huyết thịnh, kỳ cơ nhục hoạt, khí đạo thông, doanh vệ chi hành, bất thất kỳ thường, cố trú tinh nhi dạ minh. Lăo giả chi khí huyết suy, kỳ cơ nhục khô, khí đạo sáp, ngũ tạng chi khí tương bác, kỳ doanh khí suy thiểu nhi vệ khí nội phạt, cố trú bất tinh, dạ bất minh.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Người già không ngủ được ban đêm là do khí nào khiến vậy? Người trẻ khỏe không ngủ ban ngày là do khí nào khiến vậy? Kỳ Bá đáp: Người tráng kiện th́ khí huyết thịnh, cơ nhục nhuận hoạt, khí đạo thông suốt, doanh vệ vận hành không mất thường độ, nên ban ngày tinh thần đầy đủ, ban đêm ngủ được. Người già th́ khí huyết suy, cơ nhục khô, khí đạo sáp trệ, khí của ngũ tạng xung đột lẫn nhau, doanh khí suy ít mà vệ khí lại vào trong quấy động, nên ban ngày không tỉnh táo, ban đêm không ngủ được.

Chú thích

瞑: 這裡是睡覺的意思。

Minh (瞑): ở đây nghĩa là ngủ.

精: 這裡是精力充沛的意思。

Tinh (精): ở đây nghĩa là tinh lực sung măn, tinh thần đầy đủ.

解析

本段以老人與少壯之人的精力和睡眠情況為例,說明營衛二氣與人體生理活動的關係。

Bản đoạn dĩ lăo nhân dữ thiếu tráng chi nhân đích tinh lực ḥa thụy miên t́nh huống vi lệ, thuyết minh doanh vệ nhị khí dữ nhân thể sinh lư hoạt động đích quan hệ.

Dịch nghĩa: Đoạn này lấy t́nh trạng tinh lực và giấc ngủ của người già và người trẻ làm ví dụ để nói rơ mối quan hệ giữa doanh khí, vệ khí với hoạt động sinh lư của cơ thể.

Vệ khí theo mạch mà đi, “至陽而起,至陰而止”, đến dương th́ khởi, đến âm th́ ngừng. Hễ v́ bất kỳ nguyên nhân nào mà ảnh hưởng đến sự vận hành của vệ khí, khiến nó không thể thuận lợi nhập vào âm phận, th́ sẽ xuất hiện ngủ không yên hoặc mất ngủ; nếu khiến nó không thể thuận lợi đi ra dương phận, th́ sẽ xuất hiện ngủ nhiều hoặc ngủ gà. Người trẻ tráng khí huyết vượng, khí đạo thông畅, doanh vệ vận hành b́nh thường, nên ban ngày tinh thần sung măn, đêm th́ vệ khí đi vào âm nên ngủ yên. Người già khí huyết suy nhược, khí đạo không thông, doanh khí không điều ḥa được ngũ tạng lục phủ, khí của ngũ tạng không hiệp điều, vệ khí ban ngày không thể đi ra dương b́nh thường nên ban ngày tinh thần sa sút; ban đêm lại không thể đi vào âm b́nh thường nên không ngủ say.

Từ đó gợi ư rằng trên lâm sàng, người già xuất hiện chứng tinh thần mệt mỏi, đêm ngủ không yên do khí huyết hư suy, doanh vệ vận hành thất điều, th́ phép trị nên ích khí huyết, điều doanh vệ. V́ đường kinh cuối cùng mà vệ khí từ dương nhập âm là thủ Dương minh đại trường kinh, c̣n tạng cuối cùng mà vệ khí từ âm xuất dương là tỳ tạng. V́ vậy, tuy mọi rối loạn của tạng phủ kinh mạch đều có thể ảnh hưởng đến sự xuất nhập âm dương của vệ khí, nhưng nổi bật nhất vẫn là tỳ, vị, đại trường và kinh mạch của chúng. Nếu ba bộ phận ấy có bệnh th́ dễ gây bất thường giấc ngủ nhất. Do đó, khi Nội Kinh bàn về giấc ngủ thường phân tích nhiều từ mối quan hệ giữa tỳ, vị, đại trường với vệ khí.

營衛與三焦的關係

Doanh vệ dữ tam tiêu đích quan hệ: Quan hệ giữa doanh vệ và tam tiêu.

原文

黃帝曰:願聞營衛之所行,皆何道從來?岐伯答曰:營出於中焦,衛出於下焦。

Hoàng Đế viết: Nguyện văn doanh vệ chi sở hành, giai hà đạo ṭng lai? Kỳ Bá đáp viết: Doanh xuất ư trung tiêu, vệ xuất ư hạ tiêu.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin nghe doanh và vệ vận hành theo con đường nào mà đến? Kỳ Bá đáp: Doanh xuất từ trung tiêu, vệ xuất từ hạ tiêu.

Hoàng Đế viết: Nguyện văn tam tiêu chi sở xuất. Kỳ Bá đáp viết: Thượng tiêu xuất ư vị thượng khẩu, tịnh yết dĩ thượng, quán cách nhi bố hung trung, tẩu dịch, tuần Thái âm chi phân nhi hành, hoàn chí Dương minh, thượng chí thiệt, hạ túc Dương minh, thường dữ doanh câu hành ư dương nhị thập ngũ độ, hành ư âm diệc nhị thập ngũ độ, nhất chu dă. Cố ngũ thập độ nhi phục đại hội ư thủ Thái dương hĩ.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin nghe về chỗ xuất ra của tam tiêu. Kỳ Bá đáp: Thượng tiêu xuất từ miệng trên của vị, đi dọc theo thực quản mà lên trên, xuyên qua cơ hoành rồi phân bố ở trong ngực, đi qua nách, theo phần của Thái âm mà vận hành, trở lại đến Dương minh, lên đến lưỡi, xuống đến túc Dương minh, thường cùng doanh khí đi ở dương hai mươi lăm độ, đi ở âm cũng hai mươi lăm độ, thành một chu kỳ. Cho nên đủ năm mươi độ th́ lại đại hội ở thủ Thái dương.

Hoàng Đế viết: Nhân hữu nhiệt ẩm thực hạ vị, kỳ khí vị định, hăn tắc xuất, hoặc xuất ư diện, hoặc xuất ư bối, hoặc xuất ư thân bán, kỳ bất tuần vệ khí chi đạo nhi xuất, hà dă? Kỳ Bá viết: Thử ngoại thương ư phong, nội khai tấu lư, mao chưng lư tiết, vệ khí tẩu chi, cố bất đắc tuần kỳ đạo, thử khí phiêu hăn hoạt tật, kiến khai nhi xuất, cố bất đắc ṭng kỳ đạo, cố mệnh viết lậu tiết.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Có người ăn uống nóng vào vị, khí c̣n chưa định mà mồ hôi đă ra, hoặc ra ở mặt, hoặc ở lưng, hoặc ở nửa thân; nó không theo con đường của vệ khí mà thoát ra, là v́ sao? Kỳ Bá đáp: Đó là do bên ngoài bị phong làm tổn thương, bên trong tấu lư mở ra, lỗ chân lông bốc hơi, thớ lư tiết mở, vệ khí chạy đến đó, tất nhiên không thể đi theo đường thường. Khí này phiêu hăn, hoạt tật, thấy nơi nào mở là thoát ra, cho nên không theo đường thường, v́ vậy gọi là lậu tiết.

Hoàng Đế viết: Nguyện văn trung tiêu chi sở xuất. Kỳ Bá đáp viết: Trung tiêu diệc tịnh vị trung, xuất thượng tiêu chi hậu, thử sở thụ khí giả, bí tao phách, chưng tân dịch, hóa kỳ tinh vi, thượng chú ư phế mạch, năi hóa nhi vi huyết, dĩ phụng sinh thân, mạc quư ư thử, cố độc đắc hành ư kinh toại, mệnh viết doanh khí.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin nghe chỗ xuất ra của trung tiêu. Kỳ Bá đáp: Trung tiêu cũng ở cùng với vị, nằm dưới thượng tiêu. Nơi đây tiếp nhận khí của thủy cốc, phân biệt bă cặn, chưng bốc tân dịch, hóa ra phần tinh vi, đưa lên mạch phế, rồi biến hóa thành huyết để nuôi dưỡng thân thể, không ǵ quư bằng điều ấy. V́ vậy chỉ riêng nó được đi trong kinh toại, gọi là doanh khí.

Hoàng Đế viết: Phù huyết chi dữ khí, dị danh đồng loại, hà vị dă? Kỳ Bá đáp viết: Doanh vệ giả, tinh khí dă; huyết giả, thần khí dă. Cố huyết chi dữ khí, dị danh đồng loại yên. Cố đoạt huyết giả vô hăn, đoạt hăn giả vô huyết. Cố nhân sinh hữu lưỡng tử, nhi vô lưỡng sinh.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Huyết với khí khác tên mà cùng loại, nghĩa là ǵ? Kỳ Bá đáp: Doanh và vệ là tinh khí; huyết là thần khí. Cho nên huyết với khí tuy khác tên mà cùng loại. V́ vậy người mất huyết th́ không nên làm cho ra mồ hôi; người mất mồ hôi th́ không nên làm hao huyết. Cho nên con người có hai đường chết, chứ không có hai lần sống.

Hoàng Đế viết: Nguyện văn hạ tiêu chi sở xuất. Kỳ Bá đáp viết: Hạ tiêu giả, biệt hồi tràng, chú ư bàng quang, nhi thẩm nhập yên. Cố thủy cốc giả, thường tịnh cư ư vị trung, thành tao phách nhi câu hạ ư đại trường, nhi thành hạ tiêu, thẩm nhi câu hạ, tế bí biệt chấp, tuần hạ tiêu nhi thẩm nhập bàng quang yên.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin nghe chỗ xuất ra của hạ tiêu. Kỳ Bá đáp: Hạ tiêu là nơi tách riêng ở hồi tràng, rót vào bàng quang rồi thấm vào đó. V́ vậy thủy cốc thường cùng ở trong vị, thành bă cặn rồi cùng xuống đại trường mà tạo thành phần hạ tiêu; khi thấm xuống th́ phân lọc riêng phần nước dịch, theo hạ tiêu mà thấm nhập vào bàng quang.

Hoàng Đế viết: Nhân ẩm tửu, tửu diệc nhập vị, cốc vị thục nhi tiểu tiện độc tiên hạ, hà dă? Kỳ Bá đáp viết: Tửu giả thục cốc chi dịch dă, kỳ khí hăn dĩ thanh, cố hậu cốc nhi nhập, tiên cốc nhi dịch xuất yên.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Người uống rượu, rượu cũng vào vị, ngũ cốc chưa tiêu mà nước tiểu đă ra trước, là v́ sao? Kỳ Bá đáp: Rượu là chất dịch của ngũ cốc đă thành thục, khí của nó mạnh mà thanh, cho nên tuy vào sau ngũ cốc mà phần dịch lại ra trước ngũ cốc.

Hoàng Đế viết: Thiện. Dư văn thượng tiêu như vụ, trung tiêu như âu, hạ tiêu như độc, thử chi vị dă.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Ta nghe nói thượng tiêu như sương mù, trung tiêu như bọt ngâm, hạ tiêu như rănh thoát nước, chính là nói điều này vậy.

Chú thích

Yết (咽): ở đây chỉ toàn bộ thực quản.

Thường dữ doanh câu hành (常與營俱行): thượng tiêu sinh ra và phát bố tông khí; tông khí bắt nguồn từ thủy cốc tinh khí trong vị, do phế hóa sinh và phát bố, tụ ở ngực, xuyên vào huyết mạch, thúc đẩy doanh khí vận hành toàn thân, cho nên nói “thường cùng doanh mà đi”.

Lậu tiết (漏泄): da lông và tấu lư bị phong tà làm tổn thương, vệ khí không giữ vững được biểu phận, mồ hôi tiết ra rất nhiều như nước bị ṛ rỉ.

Hậu (後): ở đây hiểu như chữ “hạ”, nghĩa là ở phía dưới.

Thần khí (神氣): thủy cốc tinh vi phải qua tác dụng của tâm mới hóa đỏ thành huyết; v́ tâm chủ thần, nên nói huyết là thần khí.

Hữu lưỡng tử, nhi vô lưỡng sinh (有兩死,而無兩生): nếu vừa đoạt huyết vừa đoạt hăn, hai chứng cùng xuất hiện th́ khó tránh khỏi tử vong, nên gọi là hai đường chết; nếu chỉ mất huyết mà không mất mồ hôi, hoặc chỉ mất mồ hôi mà không mất huyết, hai chứng không cùng xuất hiện th́ vẫn c̣n sinh cơ. Chữ đoạt ở đây chỉ sự hư tổn nghiêm trọng.

Hồi tràng (回腸): đoạn trên của đại trường theo cách gọi của văn cổ ở đây.

Tế bí biệt chấp (濟泌別汁): tế bí nghĩa là lọc qua; biệt chấp nghĩa là phân tách phần nước thanh với phần trọc ra riêng.

Phân tích
Tam tiêu đích bộ vị hoạch phân cập công năng đặc điểm: Sự phân chia vị trí và đặc điểm công năng của tam tiêu.
Thượng tiêu (上焦): mục này nói “thượng tiêu xuất ở miệng trên của vị, theo thực quản đi lên, xuyên cơ hoành mà bố ở trong ngực…”, cho nên nói chung phần ngực ở trên cơ hoành, gồm cả tâm, phế và vùng đầu mặt, được gọi là thượng tiêu.

Dịch nghĩa: Về công năng sinh lư của thượng tiêu, Linh Khu, Quyết khí nói: “Thượng tiêu khai phát, tuyên khí vị của ngũ cốc, hun ấm da thịt, làm đầy thân thể, làm nhuận lông tóc, như sương móc tưới nhuần, ấy gọi là khí.” Điều đó cho thấy công năng chủ yếu của thượng tiêu là tuyên phát vệ khí, bố tán thủy cốc tinh vi để nuôi dưỡng toàn thân. Mục này khái quát là “thượng tiêu như vụ”, h́nh dung việc thượng tiêu tuyên phát, phu bố tinh khí của thủy cốc giống như sương móc lan tỏa tưới nhuần khắp người; trên thực tế chủ yếu là tác dụng tâm phế chuyển bố khí huyết.
Trung tiêu (中焦): mục này nói “trung tiêu cũng ở cùng với vị, nằm dưới thượng tiêu”, chỗ được chỉ chính là vị. Nay nói chung cho rằng trung tiêu là phần dưới cơ hoành, trên rốn. Tạng phủ chủ yếu thuộc trung tiêu là tỳ và vị. Về công năng, đoạn này nói: “Nơi đây nhận khí, phân tách bă cặn, chưng bốc tân dịch, hóa ra phần tinh vi, đưa lên mạch phế, rồi hóa thành huyết, để nuôi thân, không ǵ quư bằng.” Điều này cho thấy trung tiêu có công năng làm chín nhừ, tiêu hóa, hấp thu và chuyển bố thủy cốc tinh vi, đồng thời hóa sinh huyết dịch. Cái gọi là “trung tiêu như âu” thực chất là chỉ công năng của tỳ vị trong việc làm mục nát, tiêu hóa, hấp thu và chuyển bố thủy cốc tinh vi, qua đó nói rơ trung tiêu là nguồn sinh hóa khí huyết.
Hạ tiêu (下焦): mục này nói “hạ tiêu là nơi tách riêng ở hồi tràng, rót vào bàng quang mà thấm vào đó”. Đời Minh có người nói: “Dưới rốn gọi là hạ tiêu.” Hiện nay thường lấy phần dưới rốn làm hạ tiêu, gồm tiểu trường, đại trường, thận, bàng quang và các tạng phủ liên quan. Vị trí giải phẫu của can tuy ở trên rốn, dưới cơ hoành, nhưng từ quan điểm can thận tinh huyết đồng nguyên, nhất là sau khi học thuyết ôn bệnh đời Thanh đưa bệnh chứng của can xuất hiện ở giai đoạn cuối ôn bệnh vào phạm vi “hạ tiêu bệnh”, th́ can cũng được quy vào hạ tiêu. Về công năng của hạ tiêu, mục này nói: “Lọc tách riêng phần dịch, theo hạ tiêu mà thấm vào bàng quang.” Nghĩa là thức ăn từ vị truyền xuống được tiểu trường phân thanh biệt trọc; phần thanh tức thủy dịch th́ thấm vào bàng quang để bài ra ngoài, phần trọc tức bă cặn th́ về đại trường mà bài xuất. V́ thế khái quát là “hạ tiêu như độc”, tức như ḍng rănh tháo nước.

Quan ư “Doanh xuất trung tiêu, vệ xuất hạ tiêu”: Bàn về câu “doanh xuất từ trung tiêu, vệ xuất từ hạ tiêu”.
Dịch nghĩa: Ngay đầu thiên này đă nói: “Người nhận khí từ cốc, cốc vào vị rồi truyền lên phế, ngũ tạng lục phủ đều nhờ đó mà nhận khí, phần thanh là doanh, phần trọc là vệ”, điều đó cho thấy doanh khí và vệ khí đều được hóa sinh từ thủy cốc tinh vi. Mà thủy cốc tinh vi lại do tỳ vị ở trung tiêu hóa sinh, vậy v́ sao lại c̣n nêu quan điểm “doanh xuất trung tiêu, vệ xuất hạ tiêu”?

Doanh xuất trung tiêu đích lập luận hữu nhị: nhất ṭng doanh khí đích hóa nguyên; nhị ṭng doanh khí đích vận hành thủy ư thủ Thái âm phế kinh, nhi thủ Thái âm phế kinh khởi ư trung tiêu.

Dịch nghĩa: Quan điểm “doanh xuất trung tiêu” có hai căn cứ. Một là xét từ nguồn hóa sinh của doanh khí. Hai là xét từ việc doanh khí vận hành bắt đầu ở thủ Thái âm phế kinh, mà thủ Thái âm phế kinh lại khởi từ trung tiêu.

Vệ xuất hạ tiêu đích lập luận diệc hữu nhị: nhất thị vệ khí căn ư thận trung dương khí; nhị thị vệ khí đích vận hành bạch trú thủy ư túc Thái dương bàng quang kinh nhi hành ư dương phân, dạ văn thủy ư túc Thiếu âm thận kinh nhi hành ư âm phân, kỳ kinh khí tự hạ tiêu thận ḥa bàng quang xuất.

Dịch nghĩa: Quan điểm “vệ xuất hạ tiêu” cũng có hai căn cứ. Một là vệ khí bắt rễ ở dương khí trong thận. Hai là sự vận hành của vệ khí ban ngày bắt đầu từ túc Thái dương bàng quang kinh mà đi ở phần dương, ban đêm bắt đầu từ túc Thiếu âm thận kinh mà đi ở phần âm; kinh khí ấy đều xuất từ hạ tiêu là thận và bàng quang.

Dịch nghĩa: Ngoài ra, c̣n có người đưa ra quan điểm “vệ xuất thượng tiêu”. Linh Khu Tập chú nói: “Chữ hạ nên đổi làm chữ thượng.” Ư nói: “Vệ là hăn khí của thủy cốc Dương minh, từ thượng tiêu mà ra, bảo vệ ở biểu dương, cho nên nói vệ xuất thượng tiêu”, rồi lại dẫn các thiên như Linh Khu Quyết khí để chứng minh. Phân tích các văn hiến liên quan th́ thấy trên thực tế vệ khí sinh phát từ thận khí ở hạ tiêu, nguồn hóa sinh ở tỳ vị trung tiêu, và được tuyên phát ở tâm phế thượng tiêu. Đó chỉ là những góc độ nhận thức khác nhau, không nên câu nệ chấp cứng. Theo đó, không nhất thiết phải tự tiện sửa nguyên văn “vệ xuất hạ tiêu”, nếu không th́ sửa măi không hết.
Quan ư “hăn huyết đồng nguyên”: Bàn về mồ hôi và huyết cùng một nguồn.
Dịch nghĩa: Mục này nêu ra vấn đề “huyết với khí khác tên mà cùng loại”. Doanh khí và vệ khí đều bắt nguồn từ thủy cốc tinh khí. Về sự sinh thành của huyết, Linh Khu Quyết khí nói rất rơ: “Trung tiêu nhận khí, lấy chất nước tinh vi, biến hóa mà đỏ, ấy gọi là huyết.” Tức là thủy cốc tinh khí và tân dịch do trung tiêu hóa sinh, qua quá tŕnh sinh hóa mà hóa đỏ thành huyết. Xét từ nguồn hóa sinh th́ huyết và khí cùng xuất từ một đầu mối.

Dịch nghĩa: Trên cơ sở đó, mục này tiến thêm một bước nêu ra luận điểm “người bị mất huyết th́ không được phát hăn, người bị mất mồ hôi th́ không được làm hao huyết”. Mồ hôi là do tân dịch hóa ra, c̣n huyết cũng do thủy cốc tinh vi và tân dịch phối hợp mà thành, từ đó có thể thấy mồ hôi và huyết cùng một nguồn. Trong t́nh trạng bệnh lư, ra mồ hôi nhiều tất làm thương huyết, mất huyết cũng tất làm thương tân; nếu mồ hôi và huyết cùng tổn thương th́ âm dịch tất cạn kiệt, sinh mệnh nguy ngập. Chỉ tổn thương riêng mồ hôi hoặc riêng huyết, nếu được chữa kịp thời th́ vẫn c̣n sinh cơ. V́ vậy, trong điều trị phải tuân theo nguyên tắc “đoạt huyết giả vô hăn, đoạt hăn giả vô huyết”, có như vậy mới bảo toàn được âm dịch và giữ lại phần sinh cơ. Trong Thương hàn luận, những câu như “sang gia bất khả phát hăn”, “nục gia bất khả hăn” có thể xem là sự vận dụng và phát huy lư luận của Nội Kinh, đến nay vẫn c̣n giá trị chỉ đạo trên lâm sàng.

Phụ: Doanh vệ chi khí đích vận hành dữ giao hội đích quy luật: Phụ thêm, quy luật vận hành và giao hội của doanh khí, vệ khí.

Doanh khí do tông khí thôi động, vận hành trong mạch, ban ngày hai mươi lăm ṿng, ban đêm hai mươi lăm ṿng. Thứ tự vận hành như sau, theo Linh Khu, Doanh khí: bắt đầu từ thủ Thái âm phế, đến thủ Dương minh đại trường, túc Dương minh vị, túc Thái âm tỳ, thủ Thiếu âm tâm, thủ Thái dương tiểu trường, túc Thái dương bàng quang, túc Thiếu âm thận, thủ Quyết âm tâm bào, thủ Thiếu dương tam tiêu, túc Thiếu dương đởm, túc Quyết âm can, rồi lại trở vào thủ Thái âm phế.
Vệ khí ban ngày khi người tỉnh th́ đi ở phần biểu qua ba kinh dương hai mươi lăm ṿng, ban đêm khi người ngủ th́ đi trong ngũ tạng hai mươi lăm ṿng. Thứ tự vận hành như sau, theo Linh Khu, Vệ khí hành: ban ngày là túc Thái dương bàng quang, thủ Thái dương tiểu trường, túc Thiếu dương đởm, thủ Thiếu dương tam tiêu, túc Dương minh vị, thủ Dương minh đại trường, rồi lại trở vào túc Thái dương bàng quang. Ban đêm là túc Thiếu âm thận, thủ Thiếu âm tâm, thủ Thái âm phế, túc Quyết âm can, túc Thái âm tỳ, rồi lại trở về túc Thiếu âm thận. Chỗ giao hội ngày đêm của vệ khí là: sáng sớm đi hết phần âm rồi đi lên xuất ra ở mắt; ban ngày đi ở dương hai mươi lăm ṿng; vào đêm đi hết phần dương rồi rót vào thận; ban đêm đi ở âm hai mươi lăm ṿng.

Doanh vệ chi khí đích giao hội: doanh khí và vệ khí mỗi đêm vào lúc dạ bán Tư thời, tức 0 giờ, đại hội tại thủ Thái âm phế; thời điểm ấy gọi là “hợp âm”. Nghĩa là vào lúc nửa đêm, vệ khí từ phần dương nhập vào phần âm, doanh vệ gặp nhau, cơ thể chuyển sang trạng thái yên tĩnh, ngủ nghỉ, phù hợp với quy luật âm thịnh của ban đêm.
Doanh vệ chi gian đích liên hệ: doanh và vệ tuy “dị đạo nhi hành”, tức đi theo hai đường khác nhau, nhưng không phải hoàn toàn tách biệt, không liên quan đến nhau. Linh Khu, Tập Chú nói chúng “tương tương nhi hành”, nghĩa là nương theo nhau mà vận hành; Loại Kinh nói “phân chi tắc nhị, hợp chi tắc nhất”, nghĩa là tách ra th́ là hai, hợp lại th́ vốn là một. Bởi vậy, doanh vệ nhị khí ở trong và ngoài mạch quản luôn thẩm thấu lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau, lại c̣n phối hợp điều ḥa với nhau.

Doanh vệ vận hành đích đặc thù t́nh huống: trong một số điều kiện nhất định, tốc độ vận hành của doanh khí và vệ khí có thể thay đổi. Sự thay đổi này có loại thuộc sinh lư, có loại thuộc bệnh lư. Đoạn này nêu ba trường hợp để giải thích.

Nhất, lăo nhân khí huyết suy, khí đạo sáp, ngũ tạng chi khí bất hiệp điều, dẫn đến doanh khí suy thiểu nhi vệ khí nội phạt. V́ vậy, ban ngày đáng lẽ phải tinh minh mà lại không được, ban đêm đáng lẽ phải an ngọa mà lại không thể. Điều này gợi ư rằng khi trị chứng bất mị ở người già, phải biện chứng xử lư đúng mối quan hệ đối lập thống nhất giữa bổ hư và thông lạc, giữa thăng dương và tiềm dương.

Nhị, nhiệt ẩm thực hạ vị, hoặc ngoại thương ư phong, dẫn đến “nội khai tấu lư, mao chưng lư tiết”, nghĩa là tấu lư mở ra, phần da lông và thớ lư bị phát tiết, làm cho vệ khí không đi được theo con đường b́nh thường, nên phát sinh chứng lậu tiết. Chứng này khá giống “nhiệt thương phong”, v́ vậy phép trị chủ yếu nên thanh tiết lư nhiệt.

Tam, tửu nhập vị, tửu tính hăn nhi hoạt tật, có thể giúp vệ khí đi nhanh hơn. V́ thế tuy rượu vào sau ngũ cốc, nhưng lại làm cho tiểu tiện ra trước phần cốc.

Tân dịch các tẩu kỳ đạo sở sản sinh đích bất đồng công năng: những công năng khác nhau phát sinh do tân dịch đi theo từng con đường riêng.

Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: thủy cốc nhập ư khẩu, du ư trường vị, kỳ dịch biệt vi ngũ. Thiên hàn y bạc, tắc vi nịch dữ khí. Thiên nhiệt y hậu, tắc vi hăn. Bi ai khí tịnh, tắc vi khấp. Trung nhiệt vị hoăn, tắc vi thóa. Tà khí nội nghịch, tắc khí vi chi bế tắc nhi bất hành, bất hành tắc vi thủy trướng. Dư tri kỳ nhiên dă, bất tri kỳ hà do sinh, nguyện văn kỳ đạo.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: thủy cốc vào miệng, chuyển xuống ruột và dạ dày, phần dịch của nó lại chia ra làm năm loại. Trời lạnh mà mặc mỏng th́ hóa thành nước tiểu và thủy khí bài ra ngoài. Trời nóng mà mặc dày th́ hóa thành mồ hôi. Buồn thương, khí dồn lại th́ hóa thành nước mắt. Bên trong có nhiệt, vị khí thư hoăn th́ hóa thành nước bọt. Nếu tà khí nghịch vào trong, làm khí bế tắc không thông, th́ sẽ thành chứng thủy trướng. Ta biết hiện tượng là như vậy, nhưng chưa rơ nó do đâu mà sinh ra, xin nghe đạo lư ấy.

Kỳ Bá viết: thủy cốc giai nhập ư khẩu, kỳ vị hữu ngũ, các chú kỳ hải, tân dịch các tẩu kỳ đạo. Cố tam tiêu xuất khí, dĩ ôn cơ nhục, sung b́ phu, vi kỳ tân; kỳ lưu nhi bất hành giả vi dịch. Thiên thử y hậu, tắc tấu lư khai, cố hăn xuất; hàn lưu ư phần nhục chi gian, tụ mạt tắc vi thống. Thiên hàn tắc tấu lư bế, khí sáp bất hành, thủy hạ lưu ư bàng quang, tắc vi nịch dữ khí.

Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp rằng: thủy cốc đều vào từ miệng, vị của nó có năm, mỗi thứ rót vào “hải” của ḿnh, c̣n tân dịch th́ mỗi thứ đi theo con đường riêng. Tam tiêu phát khí ra để ôn ấm cơ nhục, làm đầy da thịt, đó là tân; phần lưu lại mà không vận hành mạnh th́ là dịch. Trời nóng mà mặc dày th́ tấu lư mở, cho nên mồ hôi ra; nếu hàn lưu ở khoảng giữa phần nhục th́ tụ lại thành đau. Trời lạnh th́ tấu lư đóng lại, khí bị sáp trệ không vận hành, nước đi xuống bàng quang, cho nên thành nước tiểu và thủy khí bài xuất ra ngoài.

Ngũ tạng lục phủ, tâm vi chi chủ, nhĩ vi chi thính, mục vi chi hậu, phế vi chi tướng, can vi chi tướng, tỳ vi chi vệ, thận vi chi chủ ngoại. Cố ngũ tạng lục phủ chi tân dịch, tận thượng thấm ư mục; tâm bi khí tịnh, tắc tâm hệ cấp, tâm hệ cấp tắc phế cử, phế cử tắc dịch thượng dật. Phù tâm hệ dữ phế, bất năng thường cử, sạ thượng sạ hạ, cố khái nhi khấp xuất hĩ. Trung nhiệt tắc vị trung tiêu cốc, tiêu cốc tắc trùng thượng hạ tác, trường vị sung quách, cố vị hoăn, vị hoăn tắc khí nghịch, cố thóa xuất.

Dịch nghĩa: Ngũ tạng lục phủ th́ tâm làm chủ, tai làm chức năng nghe, mắt làm nơi quan sát, phế làm tướng phụ, can làm tướng quân, tỳ làm vệ hộ, thận làm chủ phần bên ngoài. V́ thế tân dịch của ngũ tạng lục phủ đều có thể thấm lên mắt. Khi tâm buồn thương, khí dồn lại th́ tâm hệ co cấp; tâm hệ co cấp th́ phế bị nâng lên; phế bị nâng lên th́ dịch trào lên trên. Nhưng tâm hệ với phế không thể luôn ở trạng thái nâng lên ấy, khi lên khi xuống, cho nên ho mà nước mắt chảy ra. Bên trong có nhiệt th́ dạ dày tiêu cốc mạnh; cốc bị tiêu th́ trùng động lên xuống, trường vị đầy trướng, cho nên vị khí thư hoăn; vị đă thư hoăn th́ khí nghịch lên, v́ vậy nước bọt tiết ra.

Ngũ cốc chi tân dịch, ḥa hợp nhi vi cao giả, nội thấm nhập ư cốt không, bổ ích năo tủy, nhi hạ lưu ư âm cổ.

Dịch nghĩa: Phần tân dịch của ngũ cốc sau khi ḥa hợp mà thành chất cao tinh nhuận th́ bên trong thấm vào các khoảng rỗng trong xương, bổ ích năo tủy, rồi chảy xuống phần âm cổ, tức mặt trong đùi và rộng ra là xương cốt của chi dưới.

Âm dương bất ḥa, tắc sử dịch dật nhi hạ lưu ư âm, tủy dịch giai giảm nhi hạ, hạ quá độ tắc hư, hư cố yêu bối thống nhi hĩnh toan. Âm dương khí đạo bất thông, tứ hải bế tắc, tam tiêu bất tả, tân dịch bất hóa, thủy cốc tịnh hành trường vị chi trung, biệt ư hồi trường, lưu ư hạ tiêu, bất đắc thấm bàng quang, tắc hạ tiêu trướng, thủy dật, tắc vi thủy trướng, thử tân dịch ngũ biệt chi nghịch thuận dă.

Dịch nghĩa: Nếu âm dương không điều ḥa th́ dịch sẽ tràn xuống dưới, tủy dịch cũng hao giảm mà chảy xuống; chảy xuống quá mức th́ thành hư, v́ hư nên sinh đau lưng, đau vùng lưng dưới và cẳng chân mỏi. Nếu đường đi của khí âm dương không thông, tứ hải bế tắc, tam tiêu không thông tiết, tân dịch không được khí hóa, thủy cốc cùng ứ lại trong trường vị, tách ở hồi trường, lưu ở hạ tiêu mà không thể thấm vào bàng quang, th́ hạ tiêu trướng đầy, nước tràn ra, thành chứng thủy trướng. Đó là quy luật thuận và nghịch của năm loại phân biệt của tân dịch.

Chú thích

Nịch dữ khí: nịch ở đây là nước tiểu; khí ở đây chỉ thủy khí bài xuất ra ngoài cơ thể.

Hải: liên hệ với câu “tứ hải bế tắc” ở phần dưới, ở đây nên hiểu là khí hải, huyết hải, tủy hải, thủy cốc chi hải.

Lưu: theo dị bản, chữ đúng nên là “lưu”, nghĩa là lưu lại; v́ vậy câu “lưu nhi bất hành” nên hiểu là phần lưu lại, không vận hành mạnh, dùng để chỉ đặc tính của dịch.

Thấp: theo đối chiếu văn hiến, chữ đúng nên là “sáp”; v́ vậy nên hiểu là khí bị sáp trệ, không vận hành thông lợi.

Lưu: ở câu “thủy hạ lưu ư bàng quang”, dị bản đúng nên hiểu là chảy xuống bàng quang.

Hậu: ở đây là nh́n, quan sát.

Ḥa hợp: chỉ quá tŕnh khí hóa hợp thành và tác dụng tổng hợp.

Âm cổ: mặt trong đùi; ở đây c̣n có thể mở rộng để chỉ xương đùi và toàn bộ xương chi dưới.

Giải tích: đoạn kinh văn này bàn về các công năng khác nhau do tân dịch do thủy cốc hóa sinh, mỗi thứ đi theo con đường riêng mà phát huy ra.

Tân dịch: là tên gọi chung của tất cả các thủy dịch sinh lư b́nh thường trong cơ thể, là một trong những vật chất cơ bản để cấu thành cơ thể và duy tŕ hoạt động sinh mệnh. Tân dịch lai nguyên ư ẩm thực thủy cốc, sinh thành ư vị trường, du bố ư tam tiêu, bài tiết ư chư đa khổng khiếu; toàn bộ quá tŕnh tân trần đại tạ này được hoàn thành dưới sự hiệp điều tác dụng của ngũ tạng lục phủ, trong đó “tâm vi chi chủ, phế vi chi tướng, can vi chi tướng, tỳ vi chi vệ, thận vi chi chủ ngoại”.

Tân dịch phát bệnh: có thể do ngoại cảm lục dâm, hoặc do nội thương thất t́nh, pḥng sự bất tiết v.v. mà gây nên. Về bệnh lư biến hóa th́ không ngoài hai đường hư và thực. Hư giả th́ thấy yêu hĩnh toan thống, tức đau mỏi vùng thắt lưng và cẳng chân; thực giả th́ bất thông nhi trướng, tức bế tắc không thông mà sinh đầy trướng.

Tân dữ dịch ṭng tính năng lai khán: tân tương đối thanh hi, lưu động tính cường, chủ yếu vận hành ư thể biểu, có công năng ôn nhuận cơ nhục, sung dưỡng b́ phu. Dịch th́ trù trọc hơn, thuộc loại “lưu nhi bất hành”, nghĩa là lưu lại mà không vận hành mạnh, chủ yếu vận hành ở phần nội, có thể nhu nhuận cốt tiết, năo tủy, khổng khiếu.

Ṭng chỉnh thể công năng lai khán: xét từ công năng toàn thể mà nói, tân và dịch tuy dị danh nhi đồng loại, tức tên gọi khác nhau nhưng cùng một loại, cho nên giữa chúng thường thường tương hỗ ảnh hưởng, tương hỗ chuyển hóa, v́ vậy mới thường gọi gộp là “tân dịch”.

Tân dịch tại đại tạ quá tŕnh trung: trong quá tŕnh chuyển hóa, tân dịch lại phân hóa ra các dạng như hăn, niệu, thóa, khấp, thủy v.v., dùng để nhu nhuận khổng khiếu, hoạt lợi quan tiết, bổ ích năo tủy.

Kinh văn chỉ xuất: ngũ dịch chịu ảnh hưởng của quư tiết hàn thử và y trước hậu bạc, cho nên trong cơ thể có thể phát sinh sự chuyển hóa qua lại giữa hăn và nịch (mồ hôi và nước tiểu). Từ đó làm sáng tỏ cơ chế trong Tố Vấn, Thang dịch lao lễ luận về phép “khai quỷ môn, khiết tịnh phủ” (phát hăn, lợi tiểu) để trị thủy thũng.

Tông khí, doanh khí, vệ khí đích tuần hành phân bố ḥa chủ yếu sinh lư công năng: sự phân bố tuần hành và công năng sinh lư chủ yếu của tông khí, doanh khí và vệ khí.

Bá Cao viết: ngũ cốc nhập ư vị dă, kỳ tao phách, tân dịch, tông khí phân vi tam toại. Cố tông khí tích ư hung trung, xuất ư hầu lung, dĩ quán tâm mạch, nhi hành hô hấp yên. Doanh khí giả, bí kỳ tân dịch, chú chi ư phế, hóa dĩ vi huyết, dĩ vinh tứ mạt, nội chú ngũ tạng lục phủ, dĩ ứng khắc số yên. Vệ khí giả, xuất kỳ hăn khí chi phiêu tật, nhi tiên hành ư tứ mạt phần nhục b́ phu chi gian nhi bất hưu giả dă. Trú nhật hành ư dương, dạ hành ư âm, thường ṭng túc Thiếu âm chi phân gian, hành ư ngũ tạng lục phủ.

Dịch nghĩa: Bá Cao nói rằng, ngũ cốc sau khi vào dạ dày th́ phần bă cặn, tân dịch và tông khí được phân thành ba đường vận hành khác nhau. V́ vậy tông khí tích tụ ở trong ngực, đi ra ở hầu họng, xuyên vào tâm mạch, nhờ đó mà thực hiện hô hấp. Doanh khí th́ tách lấy phần tân dịch tinh vi, rót vào phế, hóa thành huyết, để nuôi dưỡng tứ chi ngọn, đồng thời tưới vào bên trong ngũ tạng lục phủ, vận hành tương ứng với nhịp thời gian nhất định. Vệ khí th́ lấy phần khí mạnh, nhanh, hoạt lợi, đi trước ở khoảng giữa phần nhục và da của tứ chi mà không ngừng nghỉ. Ban ngày nó đi ở phần dương, ban đêm đi ở phần âm, thường từ khoảng của túc Thiếu âm mà đi vào ngũ tạng lục phủ.

Chú thích

Toại: nghĩa là đường hầm ngầm dưới đất, ở đây chỉ đường vận hành trong cơ thể của tao phách, tân dịch và tông khí.

Mạch: theo các tài liệu liên quan, chữ này trong nguyên văn nên là “phế”.

Khắc số: đơn vị tính thời gian thời cổ. Người xưa chia một ngày đêm thành một trăm khắc; doanh khí cứ hai khắc đi một ṿng, một ngày đêm đi toàn thân năm mươi ṿng, đúng tương ứng với số một trăm khắc.

Giải tích: đoạn kinh văn này luận về sự tuần hành phân bố và công năng sinh lư chủ yếu của tông khí, doanh khí và vệ khí.

Ẩm thực nhập vị: sau khi đồ ăn thức uống vào dạ dày, trải qua quá tŕnh tiêu hóa, hấp thu và sử dụng của cơ thể, đại thể được phân thành ba phần, mỗi phần đi theo một con đường riêng.

Tân dịch: nhờ sự chuyển du của trung tiêu tỳ, lấy tam tiêu làm thông đạo mà bố tán khắp toàn thân.

Doanh vệ chi khí: phần thủy cốc tinh vi hóa sinh ra doanh khí và vệ khí sẽ thượng hành lên vùng ngực, kết hợp với thanh khí do phế hít vào, từ đó h́nh thành tông khí.

Tông khí: chủ yếu phân bố ở tâm, mạch, phế và hô hấp đạo, có các công năng như “quán tâm mạch”, “hành khí huyết”, “xuất ư hầu lung”, đi theo tức đạo mà “hành hô hấp”, đồng thời phát ra ngữ thanh.

Tao phách: tức phần bă cặn, th́ do hạ tiêu thông qua nhị tiện mà bài xuất ra ngoài cơ thể.

Doanh khí: có thể nhập mạch hóa huyết, là thành phần cấu thành của huyết dịch, có công năng doanh dưỡng chu thân tạng phủ tổ chức. Đường vận hành của nó là từ trung tiêu chú vào thủ Thái âm phế kinh, rồi tuần theo thập tứ kinh chi đạo, ngày đêm không ngừng, doanh vận khắp trên dưới toàn thân, “dĩ ứng khắc số”.

Vệ khí: do phiêu tật hoạt lợi nên không nhập vào trong mạch, v́ vậy đi trước ở tứ chi cơ biểu. Nó là một bộ phận của dương khí trong cơ thể, có tác dụng ôn hú cơ phu và điều tiết sự khải bế của hăn khổng. Sự vận hành của nó là ban ngày đi ở tam dương kinh hai mươi lăm ṿng, ban đêm đi ở ngũ tạng hai mươi lăm ṿng. Chỗ giao tiếp giữa ngày và đêm nằm giữa Chiếu hải huyệt của túc Thiếu âm thận kinh và Thân mạch huyệt của túc Thái dương bàng quang kinh.
Thần đích sản sinh khái niệm cập đối dưỡng sinh đích ư nghĩa: khái niệm về sự sinh thành của thần và ư nghĩa của nó đối với dưỡng sinh.

Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: phàm thích chi pháp, tiên tất bản ư thần. Huyết mạch doanh khí tinh thần, thử ngũ tạng chi sở tàng dă. Chí kỳ dâm dật ly tàng tắc tinh thất, hồn phách phi dương, chí ư hoảng loạn, trí lự khứ thân giả, hà nhân nhi nhiên hồ? Thiên chi tội dư? Nhân chi quá hồ? Hà vị đức khí sinh tinh thần hồn phách tâm ư chí tư trí lự? Thỉnh vấn kỳ cố.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: phàm phép châm, trước hết nhất định phải lấy thần làm gốc. Huyết mạch, doanh khí, tinh thần đều là những ǵ ngũ tạng tàng chứa. Khi chúng dâm dật, ly tàng th́ tinh bị mất, hồn phách bay tán, chí ư hoảng loạn, trí lự như ĺa khỏi thân. Điều đó là do đâu? Là lỗi của trời hay lỗi của người? “Đức khí” sinh ra tinh, thần, hồn, phách, tâm, ư, chí, tư, trí, lự là nghĩa thế nào? Xin được hỏi nguyên do.

Kỳ Bá đáp viết: thiên chi tại ngă giả đức dă, địa chi tại ngă giả khí dă, đức lưu khí bạc nhi sinh giả dă. Cố sinh chi lai vị chi tinh, lưỡng tinh tương bác vị chi thần, tùy thần văng lai giả vị chi hồn, tịnh tinh nhi xuất nhập giả vị chi phách, sở dĩ nhậm vật giả vị chi tâm, tâm hữu sở ức vị chi ư, ư chi sở tồn vị chi chí, nhân chí nhi tồn biến vị chi tư, nhân tư nhi viễn mộ vị chi lự, nhân lự nhi xử vật vị chi trí. Cố trí giả chi dưỡng sinh dă, tất thuận tứ thời nhi thích hàn thử, ḥa hỉ nộ nhi an cư xứ, tiết âm dương nhi điều cương nhu, như thị, tắc tích tà bất chí, trường sinh cửu thị.

Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp rằng: cái của trời ở trong ta gọi là đức, cái của đất ở trong ta gọi là khí, đức lưu hành, khí giao hợp mà sinh ra sự sống. Bởi vậy, cái theo sinh mệnh mà đến gọi là tinh; hai tinh giao kết gọi là thần; cái theo thần mà qua lại gọi là hồn; cái cùng tinh mà ra vào gọi là phách; cái có khả năng đảm nhận, tiếp nhận sự vật gọi là tâm; tâm có chỗ ghi nhớ gọi là ư; điều ư lưu giữ gọi là chí; do chí mà tồn giữ rồi biến hóa gọi là tư; do tư mà hướng xa, suy xa gọi là lự; do lự mà xử lư sự vật gọi là trí. V́ vậy, người có trí trong phép dưỡng sinh tất phải thuận theo bốn mùa, thích ứng nóng lạnh, điều ḥa hỉ nộ, an định cư xử, điều tiết âm dương, điều ḥa cương nhu. Làm được như vậy th́ tích tà không đến, có thể trường sinh cửu thị.

Chú thích

1/ Dâm dật: chỉ sự thái quá, tràn lan, vượt khỏi mức b́nh thường.

2/ Đức: chỉ thiên chi dương khí, như nhật quang, vũ lộ (mưa móc).

3/ Khí: chỉ địa chi âm khí, như thủy, cốc.

4/ Lưỡng tinh tương bác: chỉ tinh của nam và nữ giao kết với nhau.

5/ Nhậm vật: tiếp nhận và đảm đương sự vật khách quan bên ngoài.

6/ Tích tà: chỉ chung các loại tà khí gây bệnh từ ngoại giới.

7/ Trường sinh cửu thị: sống lâu, trường thọ.

Giải tích: phần này chủ yếu bàn về sự phát sinh của thần và quá tŕnh tư duy của con người, đồng thời nhấn mạnh vai tṛ quan trọng của thần trong châm cứu trị bệnh.

“Thần”: vốn là một danh từ mang màu sắc tôn giáo và triết học cổ đại. Ban đầu chủ yếu chỉ “thiên thần” và “thần linh” của con người. Về sau, khi con người dần có thái độ thực tế hơn với khách quan thế giới, tuy biết không có một vị “thần” hữu h́nh cụ thể, nhưng khi gặp những hiện tượng tự nhiên biến hóa khó lường chưa giải thích được, người xưa liền mượn chữ “thần” để chỉ những hiện tượng ấy và căn nguyên của chúng. Bởi vậy, theo nghĩa rộng, “thần” là tên gọi chung cho mọi hiện tượng biến hóa khó lường cùng nguồn gốc của chúng, từ thiên thể vũ trụ cho đến cơ thể con người, nhất là các hoạt động của tâm năo.

Nội Kinh: đă tiếp thu khái niệm triết học cổ đại ấy, đưa “thần” vào lĩnh vực y học để nghiên cứu hoạt động tinh thần, ư thức, tư duy của con người. Có thể gọi đó là “nhân thần”, tức “thần” theo nghĩa hẹp. Trong y học Nội Kinh, “thần” chủ yếu gồm ba mặt: một là tinh thần ư thức tư duy, có thể gọi là tư duy chi thần; hai là hoạt động t́nh chí, có thể gọi là t́nh chí chi thần; ba là biểu hiện khí sắc, như nhăn thần, sắc thần, mạch thần, có thể gọi là khí sắc chi thần. Các loại “thần” này đều thống thuộc về tâm, là chủ tể của hoạt động sinh mệnh.

Nhân chi thần: không phải thứ hư vô phiêu miểu, mà được h́nh thành trên cơ sở vật chất nhất định. Trước hết, thần là kết quả của sự tương tác giữa thiên địa chi “đức” và “khí”. Kế đó, thần là sản phẩm của phụ mẫu âm dương lưỡng tinh kết hợp. Linh Khu, Quyết khí cũng nói “lưỡng thần tương bác, hợp nhi thành h́nh”. Sau khi phụ tinh mẫu huyết kết hợp, h́nh thể mới sinh ra, rồi thần mới phát sinh; v́ vậy, h́nh chính là cơ sở vật chất của thần.

Thần đối h́nh đích phản tác dụng: cổ nhân đặc biệt nhấn mạnh rằng thần có thể tác động ngược trở lại đối với h́nh thể. Họ cho rằng thần giữ vai tṛ rất quan trọng trong điều trị bệnh bằng châm cứu, cho nên mới nêu ra quan điểm “phàm thích chi pháp, tiên tất bản ư thần”. Trên lâm sàng, bệnh nhân có hay không có thần khí, có khả năng tự điều chỉnh để đáp ứng với châm cứu và khôi phục cân bằng âm dương hay không, trạng thái tinh thần t́nh chí ảnh hưởng thế nào đến bệnh t́nh và điều trị, thầy thuốc phải chuyên chú điều ḥa tinh thần t́nh chí của bệnh nhân để dẫn kinh khí ra sao, tất cả những điều này đều liên quan trực tiếp đến hiệu quả trị liệu. V́ vậy, “bản ư thần” có ư nghĩa cực kỳ trọng yếu.

Thần đích âm dương thuộc tính: thần có phân âm dương. Hồn c̣n gọi là “dương thần”, chỉ những hiện tượng, động tác tương đối phiêu hốt, bất định trong hoạt động của thần, như nói mê, mộng du, ảo giác. Phách c̣n gọi là “âm thần”, chỉ những hiện tượng, động tác tương đối cố định và ít thay đổi, như thính giác, xúc giác, thị giác, phản xạ bú mớm của trẻ nhỏ, phản xạ chớp mắt, phản ứng đau ngứa.

Thần đích phát triển quá tŕnh: cùng với sự sinh trưởng phát dục của cơ thể, “thần” cũng trải qua quá tŕnh phát triển từ sơ cấp đến cao cấp, từ đơn giản đến phức tạp. Hồn phách phát sinh từ tiên thiên chi tinh và thần, thuộc loại hoạt động thần mang tính bản năng, sơ cấp, đơn giản. Giai đoạn cao hơn của thần biểu hiện ở quá tŕnh tư duy, tư biện. Văn này quy về khả năng “tâm nhậm vật”, tức khả năng tiếp nhận và xử lư sự vật. Khả năng ấy là cái được h́nh thành dần dần sau khi sinh, thông qua học tập, giáo dục và thực tiễn. Quá tŕnh “nhậm vật” chính là quá tŕnh nhận thức và xử lư sự vật: tâm tiếp nhận ấn tượng cảm tính từ ngoại giới, bảo tồn và tích lũy thành khái niệm sơ bộ, rồi phân tích suy nghĩ, suy luận từ gần đến xa, từ cái này đến cái kia, t́m ra mối liên hệ nội tại của sự vật, sau đó mới đưa ra phán đoán chính xác và xử lư sự vật. Người xưa hơn hai ngàn năm trước đă có được kiến giải như vậy, quả thật rất đáng quư.

Dưỡng sinh: đoạn này chỉ ra mục đích của dưỡng sinh là pḥng chỉ tà khí xâm nhập, đạt đến khỏe mạnh trường thọ. Nguyên tắc của dưỡng sinh là điều tiết âm dương cương nhu. Dấu hiệu của khỏe mạnh là âm dương hài ḥa. Phương pháp dưỡng sinh là bên ngoài thuận theo tứ thời, bên trong điều ḥa hỉ nộ. Những lời này rất ngắn gọn mà hàm nghĩa sâu sắc, có tính gợi mở lớn.

T́nh chí trí bệnh đích cơ chế, chứng trạng cập nhất ban quy luật: cơ chế, triệu chứng và quy luật chung của bệnh do t́nh chí gây ra.

Nguyên văn phần này nói: thị cố xúc dịch tư lự giả tắc thương thần, thần thương tắc khủng cụ, lưu dâm nhi bất chỉ. Nhân bi ai động trung giả, kiệt tuyệt nhi thất sinh. Hỉ lạc giả, thần đạn tán nhi bất tàng. Sầu ưu giả, khí bế tắc nhi bất hành. Thịnh nộ giả, mê hoặc nhi bất trị. Khủng cụ giả, thần đăng đạn nhi bất thu.

Dịch nghĩa: v́ vậy, người thường kinh sợ, lo nghĩ th́ làm tổn thương thần; thần bị thương th́ sinh sợ hăi, rối loạn kéo dài không dứt. Người v́ bi ai mà động tổn vào bên trong th́ có thể kiệt tuyệt mà mất sinh cơ. Người quá vui thích th́ thần tán loạn mà không tàng giữ được. Người sầu ưu th́ khí bế tắc mà không lưu hành. Người giận dữ quá mức th́ mê hoặc, mất khả năng điều trị, tự chủ. Người sợ hăi th́ thần dao động tán loạn mà không thể thu nhiếp lại.

Tâm xúc dịch tư lự tắc thương thần, thần thương tắc khủng cụ tự thất, phá quân thoát nhục, mao tụy sắc yểu, tử ư đông. Tỳ sầu ưu nhi bất giải tắc thương ư, ư thương tắc mẫn loạn, tứ chi bất cử, mao tụy sắc yểu, tử ư xuân. Can bi ai động trung tắc thương hồn, hồn thương tắc cuồng vong bất tinh, bất tinh tắc bất chính, đương nhân âm súc nhi luyên cân, lưỡng hiếp cốt bất cử, mao tụy sắc yểu, tử ư thu. Phế hỉ lạc vô cực tắc thương phách, phách thương tắc cuồng, cuồng giả ư bất tồn nhân, b́ cách tiêu, mao tụy sắc yểu, tử ư hạ. Thận thịnh nộ nhi bất chỉ tắc thương chí, chí thương tắc hỉ vong kỳ tiền ngôn, yêu tích bất khả dĩ phủ ngưỡng khuất thân, mao tụy sắc yểu, tử ư quư hạ. Khủng cụ nhi bất giải tắc thương tinh, tinh thương tắc cốt toan nuy quyết, tinh thời tự hạ. Thị cố ngũ tạng chủ tàng tinh giả dă, bất khả thương, thương tắc thất thủ nhi âm hư, âm hư tắc vô khí, vô khí tắc tử hĩ. Thị cố dụng châm giả, sát quan bệnh nhân chi thái, dĩ tri tinh thần hồn phách chi tồn vong, đắc thất chi ư, ngũ giả dĩ thương, châm bất khả dĩ trị chi dă.

Dịch nghĩa: nếu tâm v́ kinh sợ lo nghĩ mà tổn thương thần, th́ thần bị thương sẽ gây sợ hăi, mất tự chủ, cơ nhục tiêu ṃn, lông tóc tiều tụy, sắc mặt héo xấu, nặng có thể chết vào mùa đông. Nếu tỳ v́ sầu ưu không giải mà tổn thương ư, th́ ư bị thương sẽ sinh phiền muộn, ư loạn thần mê, tứ chi không nhấc lên được, lông tóc tiều tụy, sắc mặt héo xấu, nặng có thể chết vào mùa xuân. Nếu can v́ bi ai động vào bên trong mà tổn thương hồn, th́ hồn bị thương sẽ thành cuồng loạn, hay quên, mất tinh minh; đă không tinh minh th́ lời nói việc làm trở nên bất chính, vượt khỏi thường lư; đồng thời có thể xuất hiện âm súc, cân co rút, xương sườn hai bên khó cử động, lông tóc tiều tụy, sắc mặt héo xấu, nặng có thể chết vào mùa thu. Nếu phế v́ vui thích quá độ mà tổn thương phách, th́ phách bị thương sẽ sinh cuồng, người cuồng th́ ư thức không c̣n giữ được người thường, da khô cháy, lông tóc tiều tụy, sắc mặt héo xấu, nặng có thể chết vào mùa hạ. Nếu thận v́ đại nộ không dứt mà tổn thương chí, th́ chí bị thương sẽ hay quên lời ḿnh vừa nói, thắt lưng cột sống không thể cúi ngửa co duỗi, lông tóc tiều tụy, sắc mặt héo xấu, nặng có thể chết vào cuối hạ. Nếu sợ hăi kéo dài không giải th́ tổn thương tinh; tinh bị thương th́ xương mỏi, nuy quyết, tinh dịch có lúc tự chảy xuống. Bởi vậy, ngũ tạng là nơi chủ tàng tinh, không thể làm tổn thương; đă tổn thương th́ mất khả năng cố thủ mà thành âm hư, âm hư th́ vô khí, vô khí th́ chết. V́ thế, người dùng châm phải quan sát trạng thái của bệnh nhân để biết tinh, thần, hồn, phách c̣n hay mất, được hay suy; nếu năm thứ ấy đă tổn thương nặng th́ châm không thể chữa được nữa.

Chú thích

Phá quân thoát nhục: phần cơ nhục vốn kết tụ đầy đặn mà nay tiêu mất, gầy ṃn như da bọc xương.

Mẫn loạn: trong ḷng phiền muộn, ư loạn thần mê.

Bất tinh: chỉ thần mất sự tinh minh, không c̣n khả năng xử lư sự việc.

Bất chính: chỉ thần chí cuồng loạn, ngôn hành vọng động, vượt khỏi thường lư.

Quư hạ: tháng sáu âm lịch.

Giải tích: đoạn này bàn rằng thất t́nh quá kích hoặc kéo dài không giải có thể làm cho công năng của ngũ tạng rối loạn, khí cơ紊亂, từ đó sinh ra những triệu chứng t́nh chí và h́nh thể khác nhau, nhấn mạnh vai tṛ của yếu tố t́nh chí trong phát bệnh.

Nhất: t́nh chí quá kích, quá lâu có thể ảnh hưởng đến ngũ tạng khí hóa; ngược lại, ngũ tạng khí hóa thái quá hay bất cập cũng có thể phản ánh ra các biến hóa t́nh chí khác nhau. Đây là cơ sở lư luận cho biện chứng luận trị trên lâm sàng. Nói chung, bệnh do t́nh chí có thể xuất hiện ba phương diện bệnh lư.

Khí cơ紊亂: như Tố Vấn, Cử thống luận nói “nộ tắc khí thượng”, “hỉ tắc khí hoăn”, “bi tắc khí tiêu”, “khủng tắc khí hạ”, “kinh tắc khí loạn”, “tư tắc khí kết”; và như đoạn này nói “sầu ưu giả, khí bế tắc nhi bất hành”. Khí cơ rối loạn lâu ngày lại sinh ra các biến chứng như ứ, đàm, thủy, hỏa, dẫn đến tạng phủ công năng thất điều.

Trực tiếp tổn thương tạng phủ: như Tố Vấn, Âm dương ứng tượng đại luận nói nộ thương can, hỉ thương tâm, tư thương tỳ, bi thương phế, khủng thương thận; c̣n thiên này nói xúc dịch tư lự thương tâm, sầu ưu thương tỳ, bi ai thương can, hỉ lạc thương phế, đại nộ thương thận. Tuy sự đối ứng giữa t́nh chí và ngũ tạng ở hai chỗ không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều cho thấy rằng dù t́nh chí thương người có phức tạp thế nào, th́ thần thương trực tiếp dẫn đến tạng thương vẫn là một cơ chế cơ bản.

Thần chí dị thường: t́nh chí quá độ có thể trực tiếp dẫn đến bệnh biến về thần chí, như “xúc dịch tư lự tắc thương thần, thần thương tắc khủng cụ”, “hỉ lạc giả, thần đạn tán nhi bất tàng”, “thịnh nộ giả, mê hoặc nhi bất trị”, “khủng cụ giả, thần đăng đạn nhi bất thu”.

Nhị: về tiên lượng của bệnh do t́nh chí, đoạn này nói khá sâu sắc. Sách cho rằng ngũ tạng tàng tinh, hóa khí, sinh thần; nếu t́nh chí quá cực mà làm thương tạng, th́ tạng thương sẽ khiến tinh khí thất thủ, thần khí đoạn tuyệt, v́ vậy có thể nguy及 sinh mệnh.

Hiện đại tâm thân y học sở vị “tâm thân tật bệnh”: tức những bệnh thân thể do nhân tố tâm lư gây nên. Nếu nh́n từ góc độ Trung y học th́ phần lớn thuộc phạm trù thần thương cập h́nh, cũng chính là cái mà Trương Chí Thông gọi là “t́nh chí thương nhi cập ư h́nh”. Từ đó có thể thấy nhận thức của Trung y học về quan hệ tâm thân đă bắt đầu từ Nội Kinh.

H́nh thần câu thương đích trọng bệnh: đối với loại bệnh nặng mà cả h́nh và thần cùng bị thương, sách nói “châm bất khả dĩ trị chi dă”. Về câu này, người sau giải thích không hoàn toàn giống nhau. Xét theo văn nghĩa, đó là chỉ trường hợp tinh khí suy bại, h́nh thể hao ṃn đến mức gầy trơ xương, th́ châm cứu v.v. đều khó đạt hiệu quả. Cũng có người cho rằng châm không trị được hư tổn, mà phải dùng thuốc để bổ, như Trương Giới Tân trong Loại Kinh, Tạng tượng loại đă nói đại ư rằng: nếu ngũ tạng tinh thần đă tổn hại th́ không được dùng châm bừa băi; người có huyết khí hữu dư, cơ nhục kiên chắc th́ mới có thể dùng châm; nếu âm dương h́nh khí đều bất túc th́ không nên châm, mà nên dùng cam dược để điều bổ. Từ đó có thể thấy châm thiên về trị hữu dư, không thích hợp trị hư tổn quá mức.

Bởi vậy, đối với chứng nặng mà cả h́nh lẫn thần đều bị tổn thương, vẫn phải t́m kiếm nhiều phương pháp trị liệu hữu hiệu khác nhau, hoặc châm dược tịnh dụng, hoặc phối hợp di t́nh, dược trị cùng thi thố施, để cứu văn thế suy, nâng cao hiệu quả.

Ngũ tạng sở tàng bất đồng cập kỳ hư thực bệnh chứng: những ǵ ngũ tạng tàng chứa khác nhau và các bệnh chứng hư thực tương ứng.

Nguyên văn phần này nói: can tàng huyết, huyết xá hồn, can khí hư tắc khủng, thực tắc nộ. Tỳ tàng doanh, doanh xá ư, tỳ khí hư tắc tứ chi bất dụng, ngũ tạng bất an, thực tắc phúc trướng kinh sưu bất lợi. Tâm tàng mạch, mạch xá thần, tâm khí hư tắc bi, thực tắc tiếu bất hưu. Phế tàng khí, khí xá phách, phế khí hư tắc tỵ tắc bất lợi, thiểu khí, thực tắc suyễn hạt hung doanh ngưỡng tức. Thận tàng tinh, tinh xá chí, thận khí hư tắc quyết, thực tắc trướng, ngũ tạng bất an. Tất thẩm ngũ tạng chi bệnh h́nh, dĩ tri kỳ khí chi hư thực, cẩn nhi điều chi dă.

Dịch nghĩa: can tàng huyết, huyết là nơi cư của hồn; can khí hư th́ sợ hăi, thực th́ dễ giận. Tỳ tàng doanh, doanh là nơi cư của ư; tỳ khí hư th́ tứ chi không dùng được, ngũ tạng không yên; thực th́ bụng trướng, kinh nguyệt và tiểu tiện không lợi. Tâm tàng mạch, mạch là nơi cư của thần; tâm khí hư th́ buồn, thực th́ cười không dứt. Phế tàng khí, khí là nơi cư của phách; phế khí hư th́ mũi bít không thông, thiếu hơi; thực th́ suyễn gấp, ngực đầy, phải ngửa đầu mà thở. Thận tàng tinh, tinh là nơi cư của chí; thận khí hư th́ quyết nghịch, thực th́ trướng, ngũ tạng không yên. Bởi vậy phải xét kỹ bệnh h́nh của ngũ tạng để biết khí của chúng hư hay thực, rồi cẩn thận điều trị.

Giải tích: bản tiết hồi cố tiền văn, đối với tinh thần hoạt động và các chủng t́nh chí phát bệnh tiến hành tái độ quy nạp, khái quát ngũ tạng sở tàng, đồng thời đề xuất chủ chứng của ngũ tạng hư thực.

Kinh văn sở đề xuất đích “ngũ thần tạng” lư luận, kư phản ánh đặc điểm của Nội Kinh lấy ngũ tạng làm trung tâm trong việc nhận thức sinh lư công năng của nhân thể, hựu đột xuất rằng tinh, khí, doanh, huyết do ngũ tạng tàng chứa chính là vật chất cơ sở của “ngũ thần”. “Ngũ thần” đích hoạt động là y phụ ư ngũ tạng đích chính thường sinh lư công năng, cho nên khi tạng phủ phát sinh bệnh biến, thường thường sẽ xuất hiện t́nh chí dị thường, như kinh văn nói “can khí hư tắc khủng, thực tắc nộ”, “tâm khí hư tắc bi, thực tắc tiếu bất hưu” v.v.

Khả kiến: lâm sàng thượng, coi trọng biến hóa tinh thần t́nh chí của bệnh nhân, đối với việc phân tích bệnh nhân, bệnh cơ và xác định trị liệu phương án đều có ư nghĩa rất trọng yếu. Tiền văn cường điệu rằng t́nh chí quá cực có thể thương cập ngũ tạng, rồi xuất hiện các chứng trạng t́nh chí dị thường; c̣n bản tiết th́ vạch rơ rằng tạng phủ hư thực bản thân nó cũng có thể sinh ra t́nh chí dị thường. Điều này gợi mở tư tưởng biện chứng trong nhận thức luận của Nội Kinh.

Ṭng lâm sàng thực tiễn phân tích: tiền giả thuộc nguyên phát tính tinh thần dị thường, hậu giả thuộc kế phát tính tinh thần dị thường. Khi trị liệu, trường hợp trước có thể điều thần dĩ an tạng; trường hợp sau th́ trọng điểm là điều tạng dĩ an thần.

Ngoài ra, trong ngũ tạng hư thực bệnh chứng, tâm và can lưỡng tạng phần nhiều lấy tinh thần chứng trạng làm chủ; phế, tỳ, thận th́ phần nhiều lấy khu thể chứng trạng làm chủ. Điều này là phù hợp với lâm sàng. Trong đó điều đáng chú ư là tỳ, thận lưỡng tạng đều nhắc đến t́nh trạng “ngũ tạng bất an”, gợi ư rằng khi điều trị ngũ tạng hư thực có thể trọng điểm nhập thủ từ tỳ và thận. Hậu thế y gia Lư Đông Viên có quan điểm “trị tỳ khả dĩ an ngũ tạng”, chính là bắt nguồn từ đây.

Huyết khí, tinh thần, kinh mạch, vệ khí, ư chí đích trọng yếu tác dụng: tác dụng quan trọng của huyết khí, tinh thần, kinh mạch, vệ khí và ư chí.

Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: nhân chi huyết khí tinh thần giả, sở dĩ phụng sinh nhi chu ư tính mệnh giả dă. Kinh mạch giả, sở dĩ hành huyết khí nhi doanh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết giả dă. Vệ khí giả, sở dĩ ôn phần nhục, sung b́ phu, ph́ tấu lư, tư khai hợp giả dă. Chí ư giả, sở dĩ ngự tinh thần, thu hồn phách, thích hàn ôn, ḥa hỉ nộ giả dă. Thị cố huyết ḥa tắc kinh mạch lưu hành, doanh phục âm dương, cân cốt ḱnh cường, quan tiết hoạt lợi hĩ. Vệ khí ḥa tắc phần nhục giải lợi, b́ phu điều nhu, tấu lư trí mật hĩ. Chí ư ḥa tắc tinh thần chuyên trực, hồn phách bất tán, hối nộ bất khởi, ngũ tạng bất thụ tà hĩ. Hàn ôn ḥa tắc lục phủ hóa cốc, phong tư bất tác, kinh mạch thông lợi, chi tiết đắc an hĩ. Thử nhân chi thường b́nh dă. Ngũ tạng giả, sở dĩ tàng tinh thần huyết khí hồn phách giả dă. Lục phủ giả, sở dĩ hóa thủy cốc nhi hành tân dịch giả dă. Thử nhân chi sở dĩ cụ thụ ư thiên dă, vô ngu trí hiền bất tiếu, vô dĩ tương ỷ dă.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: huyết khí và tinh thần của con người là những thứ dùng để nuôi dưỡng sự sống và duy tŕ tính mệnh. Kinh mạch là nơi vận hành huyết khí, doanh vận âm dương, nhu nhuận gân xương, làm lợi khớp xương. Vệ khí là thứ có tác dụng ôn ấm phần nhục, làm đầy da thịt, nuôi dưỡng tấu lư, chủ sự khai hợp. Chí ư là thứ dùng để điều ngự tinh thần, thu nhiếp hồn phách, thích ứng với nóng lạnh, điều ḥa hỉ nộ. V́ vậy, huyết điều ḥa th́ kinh mạch lưu hành, âm dương được vận hành tuần hoàn, gân xương cường kiện, khớp xương trơn lợi. Vệ khí điều ḥa th́ phần nhục thư lợi, da thịt nhu ḥa, tấu lư kín chặt. Chí ư điều ḥa th́ tinh thần chuyên nhất ngay thẳng, hồn phách không tán, hối hận giận dữ không nổi lên, ngũ tạng không thụ tà. Hàn ôn điều ḥa th́ lục phủ có thể hóa cốc, phong tư không phát sinh, kinh mạch thông lợi, tay chân khớp xương được yên. Đó là trạng thái b́nh thường, ổn định của con người. Ngũ tạng là nơi tàng chứa tinh thần, huyết khí, hồn phách. Lục phủ là nơi hóa thủy cốc và vận hành tân dịch. Đó là những ǵ con người đều cùng bẩm thụ từ trời, bất luận ngu trí, hiền hay bất tiếu, đều không thể thiên lệch mà thiếu mất.

Chú thích

Phụng, chu: phụng là nuôi dưỡng; chu là chu toàn, duy tŕ.

Ph́: nguyên nghĩa là màu mỡ, ở đây nên hiểu là sung dưỡng, tư dưỡng.

Khai hợp: theo toàn thư Hoàng Đế Nội Kinh và đối chiếu các trích dẫn của tiền nhân, chỗ này hiểu là “khai hợp” th́ thuận nghĩa hơn, tức sự mở ra và đóng lại của hăn khổng.

Doanh phục âm dương: doanh là vận hành, phục là tuần hoàn qua lại; âm dương ở đây chỉ trong ngoài cơ thể, nội thuộc âm, ngoại thuộc dương; nghĩa giống với “doanh âm dương” ở câu trước.

Hoạt: dị bản chữ “thanh” nên là “hoạt”, nghĩa mới thông thuận, nên hiểu là trơn lợi.

Phong tư: một loại tư chứng, lấy đau khớp, vận động khó khăn, đau chạy chỗ làm đặc điểm, c̣n gọi là hành tư. Ở đây phong vừa chỉ phong tà, vừa có thể chỉ chung ngoại tà; tư th́ chỉ khí huyết bế trở, không thông.

Giải tích: đoạn kinh văn này bàn về tác dụng quan trọng của huyết khí, tinh thần, kinh mạch và vệ khí trong hoạt động sinh mệnh, cho rằng bốn thứ ấy là những vật chất cơ bản để duy tŕ sự sống, tuy công năng mỗi thứ không giống nhau.

Nhất, kinh mạch: hành huyết khí, doanh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết. Kinh mạch là con đường vận hành của huyết khí; thông qua kinh mạch, huyết khí được phu bố khắp toàn thân, nhờ vậy đạt được tác dụng nhu nhuận gân xương, làm trơn lợi khớp xương.

Nhị, vệ khí: ôn phần nhục, sung b́ phu, ph́ tấu lư, tư khai hợp. Vệ khí hành ư dương, cho nên có công năng ôn hú cơ nhục, sung dưỡng b́ phu; v́ nó đi ở biểu nên c̣n có tác dụng tư nhuận tấu lư và điều tiết khai hợp, nhờ đó vệ khí có thể kháng ngự ngoại tà xâm nhập.

Tam, chí ư: ngự tinh thần, thu hồn phách, thích hàn ôn, ḥa hỉ nộ. Chí ư ở đây là sự khái quát tác dụng của thần khí. Thần khí không chỉ điều tiết và khống chế các hoạt động tinh thần, hồn phách, t́nh cảm, mà c̣n có thể điều tiết năng lực thích ứng của cơ thể đối với biến hóa hàn nhiệt từ ngoại giới. Như vào xuân hạ, thời khí ấm áp, kinh mạch khí huyết vận hành gia tốc và thiên hướng ra ngoài; đến thu đông, khí huyết vận hành giảm chậm, thiên hướng vào trong. V́ vậy, từ mạch tượng phù trầm thượng hạ của bốn mùa có thể thấy được tác dụng điều tiết của thần khí trong cơ thể.

Bản đoạn nguyên văn c̣n rất giản yếu mà khái quát công năng của ngũ tạng lục phủ. Ngũ tạng lấy “tàng” làm chủ, tức “sở dĩ tàng tinh thần huyết khí hồn phách giả dă”. V́ thế, các sinh lư công năng vừa nói ở trên xét cho cùng đều có liên hệ mật thiết với công năng của ngũ tạng. Kinh mạch vận hành huyết khí th́ liên quan đến tâm chủ huyết mạch, can tàng huyết, tỳ thống huyết; vệ khí ôn phần nhục, sung b́ phu, ph́ tấu lư, tư khai hợp th́ liên hệ với công năng của phế trong việc tuyên phát vệ khí, chủ b́ mao; c̣n nhiều tác dụng của “chí ư” th́ liên quan đến tâm chủ thần minh, can tàng hồn, phế tàng phách, thận tàng chí. Lục phủ th́ lấy thông lợi và chuyển du thủy cốc làm chủ, tức “sở dĩ hóa thủy cốc nhi hành tân dịch giả dă”. Bởi vậy, lục phủ là nơi tiếp nạp, biến hóa, truyền hóa, chuyển du và bài tiết thủy cốc.

Bản tiết kinh văn c̣n nhận thức được rằng điều ḥa và thông sướng vừa là bảo chứng cho cơ thể khỏe mạnh vô bệnh, vừa là tượng trưng cho sinh mệnh không ngừng. Kinh văn nêu ra bốn chữ “ḥa”, tức “huyết ḥa”, “vệ khí ḥa”, “chí ư ḥa”, “hàn ôn ḥa”. Ở đây, “huyết ḥa”, “vệ khí ḥa” có thể khái quát là huyết khí vận hành điều sướng; “chí ư ḥa” chỉ hoạt động tinh thần b́nh thường; “hàn ôn ḥa” chỉ con người có thể thích ứng với hoàn cảnh hàn ôn bên ngoài.

Từ đó có thể quy nạp ra ba tiêu chuẩn của sức khỏe.

Nhất, nhân thể công năng hoạt động chính thường, lấy khí huyết vận hành ḥa sướng làm tiêu chuẩn, biểu hiện cụ thể ở “kinh mạch lưu hành, doanh phục âm dương, cân cốt ḱnh cường, quan tiết hoạt lợi”, lại biểu hiện ở “phần nhục giải lợi, b́ phu điều nhu, tấu lư trí mật”.

Nhị, nhân đích tinh thần hoạt động chính thường, tức “chí ư ḥa”, biểu hiện cụ thể ở “tinh thần chuyên trực, hồn phách bất tán, hối nộ bất khởi, ngũ tạng bất thụ tà”.

Tam, nhân thể năng thích ứng ngoại giới hoàn cảnh, tức “hàn ôn ḥa”, biểu hiện cụ thể ở “lục phủ hóa cốc, phong tư bất tác, kinh mạch thông lợi, chi thể đắc an”.

Ba điều này thực chất rất gần với định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới, tức: cơ thể không có bất thường, tâm lư hoạt động b́nh thường, và có khả năng thích ứng với môi trường bên ngoài. Hán đại Trương Trọng Cảnh trong Kim Quỹ Yếu Lược nói: “ngũ tạng nguyên chân thông sướng, nhân tức an ḥa”; hậu thế cũng có y gia nói: “đắc ḥa tắc vi chính, thất ḥa tắc vi tà”. Những lời ấy đều là sự kế thừa và phát triển của luận điểm này.

Tham khảo kinh văn tụy (sưu tập): phần trích yếu các đoạn kinh văn dùng để đối chiếu và mở rộng nhận thức.

“Tạng phủ chi tại hung hiếp phúc lư chi nội dă, nhược hạp quỹ chi tàng cấm khí dă, các hữu thứ xá, dị danh nhi đồng xứ, nhất vực chi trung, kỳ khí các dị, nguyện văn kỳ cố.” Hoàng Đế viết: “Vị giải kỳ ư, tái vấn.” Kỳ Bá viết: “Phù hung phúc, tạng phủ chi quách dă. Đản trung giả, tâm chủ chi cung thành dă. Vị giả, thái thương dă. Yết hầu tiểu trường giả, truyền tống dă. Vị chi ngũ khiếu giả, lư lư môn hộ dă. Liêm tuyền ngọc anh giả, tân dịch chi đạo dă. Cố ngũ tạng lục phủ giả, các hữu bạn giới, kỳ bệnh các hữu h́nh trạng.”

Dịch nghĩa: Tạng phủ ở trong lồng ngực, hai bên hiếp và ổ bụng cũng giống như những vật quư được cất trong ḥm tủ, mỗi bộ phận đều có chỗ ở, tên gọi khác nhau nhưng cùng nằm trong một khu vực, song khí của mỗi tạng phủ lại khác nhau. Hoàng Đế chưa hiểu rơ nên hỏi lại. Kỳ Bá giải thích rằng ngực bụng là phần quách bao bọc của tạng phủ. Đản trung là cung thành của tâm chủ. Dạ dày là kho lớn, tức “thái thương”. Họng, cổ và tiểu trường là nơi truyền tống. Các cửa ngơ của dạ dày như những cửa ngơ trong xóm làng. Liêm tuyền và ngọc anh là đường đi của tân dịch. V́ vậy, ngũ tạng lục phủ đều có ranh giới riêng, khi có bệnh th́ mỗi tạng phủ cũng biểu hiện h́nh trạng bệnh khác nhau.

“Dư nguyện văn lục phủ truyền cốc giả, trường vị chi tiểu đại trường đoản, thụ cốc chi đa thiểu nại hà?” Bá Cao viết: “Thỉnh tận ngôn chi, cốc sở ṭng xuất nhập thiển thâm viễn cận trường đoản chi độ...” rồi tiếp theo mô tả rất chi tiết kích thước môi, miệng, lưỡi, yết môn, dạ dày, tiểu trường, hồi trường, quảng trường và toàn bộ chiều dài quanh co của trường vị.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế muốn biết lục phủ truyền cốc như thế nào, ruột và dạ dày lớn nhỏ, dài ngắn ra sao, khả năng tiếp nhận ngũ cốc bao nhiêu. Bá Cao bèn tŕnh bày tường tận các số đo giải phẫu của đường tiêu hóa theo nhận thức thời cổ. Đoạn này cho thấy người xưa đă rất chú ư đến cấu tạo, dung tích và công năng truyền tống của trường vị, tiểu trường, hồi trường, đại trường.

“Nguyện văn nhân chi bất thực, thất nhật nhi tử, hà dă?” Bá Cao viết: “Thần thỉnh ngôn kỳ cố...” rồi mô tả dung tích của vị, tiểu trường, hồi trường, quảng trường, lượng thủy cốc chứa đựng trong đó, và kết luận rằng người b́nh thường không ăn uống đến bảy ngày mà chết là v́ thủy cốc tinh khí tân dịch đều đă hết.

Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi v́ sao người không ăn uống th́ bảy ngày sẽ chết. Bá Cao giải thích rằng dạ dày và trường chứa được một lượng thủy cốc hữu hạn. Ở người b́nh thường, vị đầy th́ trường hư, trường đầy th́ vị hư, cứ thay nhau hư đầy như vậy nên khí mới có thể thăng giáng, ngũ tạng được an định, huyết mạch điều ḥa, tinh thần mới cư trú yên ổn. “Thần giả, thủy cốc chi tinh khí dă”, nghĩa là thần cũng nương vào thủy cốc tinh khí mà tồn tại. Khi không c̣n ăn uống, lượng thủy cốc tinh khí trong trường vị cạn kiệt, tân dịch cũng hết, nên người sẽ tử vong.

“Tâm chi hợp mạch dă, kỳ vinh sắc dă, kỳ chủ thận dă. Phế chi hợp b́ dă, kỳ vinh mao dă, kỳ chủ tâm dă. Can chi hợp cân dă, kỳ vinh trảo dă, kỳ chủ phế dă. Tỳ chi hợp nhục dă, kỳ vinh thần dă, kỳ chủ can dă. Thận chi hợp cốt dă, kỳ vinh phát dă, kỳ chủ tỳ dă.”

Dịch nghĩa: Tâm hợp với mạch, biểu hiện vinh nhuận ra ở sắc mặt, đồng thời c̣n có quan hệ tương chủ với thận. Phế hợp với da, vinh nhuận ra ở lông, đồng thời có quan hệ tương chủ với tâm. Can hợp với gân, vinh nhuận ra ở móng, đồng thời có quan hệ tương chủ với phế. Tỳ hợp với cơ nhục, vinh nhuận ra ở môi, đồng thời có quan hệ tương chủ với can. Thận hợp với xương, vinh nhuận ra ở tóc, đồng thời có quan hệ tương chủ với tỳ. Đoạn này nói rơ mối liên hệ giữa ngũ tạng với các tổ chức ngoài thân và biểu hiện ra ngoài của chúng.

“Phế hợp đại trường, đại trường giả, b́ kỳ ứng. Tâm hợp tiểu trường, tiểu trường giả, mạch kỳ ứng. Can hợp đởm, đởm giả, cân kỳ ứng. Tỳ hợp vị, vị giả, nhục kỳ ứng. Thận hợp tam tiêu bàng quang, tam tiêu bàng quang giả, tấu lư hào mao kỳ ứng.”

Dịch nghĩa: Phế hợp với đại trường, đại trường ứng ra ở da; tâm hợp với tiểu trường, tiểu trường ứng ra ở mạch; can hợp với đởm, đởm ứng ra ở gân; tỳ hợp với vị, vị ứng ra ở cơ nhục; thận hợp với tam tiêu và bàng quang, tam tiêu bàng quang ứng ra ở tấu lư và hào mao. Đây là cách nói về quan hệ biểu lư giữa tạng và phủ, cũng như sự ứng hiện ra ngoài cơ thể.

“Ngũ tạng giả, sở dĩ tàng tinh thần huyết khí hồn phách giả dă. Lục phủ giả, sở dĩ hóa thủy cốc nhi hành tân dịch giả dă. Thử nhân chi sở dĩ cụ thụ ư thiên dă, vô ngu trí hiền bất tiếu, vô dĩ tương ỷ dă.”

Dịch nghĩa: Ngũ tạng là nơi tàng chứa tinh thần, huyết khí, hồn phách; lục phủ là nơi hóa thủy cốc và vận hành tân dịch. Đó là những điều con người cùng bẩm thụ từ trời, không phân biệt ngu hay trí, hiền hay không hiền, ai cũng đều như vậy. Câu này nhấn mạnh chức năng chủ yếu của ngũ tạng là tàng, c̣n lục phủ là hóa và hành.

“Thị cố ngũ tạng, chủ tàng tinh giả dă.”

Dịch nghĩa: V́ vậy, ngũ tạng là nơi chủ yếu để tàng tinh. Đây là một câu then chốt, khẳng định vai tṛ trung tâm của ngũ tạng trong việc chứa giữ tinh khí và duy tŕ sinh mệnh.

“Ngũ tạng sở ố: tâm ố nhiệt, phế ố hàn, can ố phong, tỳ ố thấp, thận ố táo, thị vị ngũ ố. Ngũ tạng hóa dịch: tâm vi hăn, phế vi thế, can vi lệ, tỳ vi tiên, thận vi thóa, thị vị ngũ dịch. Ngũ tạng sở tàng: tâm tàng thần, phế tàng phách, can tàng hồn, tỳ tàng ư, thận tàng chí, thị vị ngũ tạng sở tàng. Ngũ tạng sở chủ: tâm chủ mạch, phế chủ b́, can chủ cân, tỳ chủ nhục, thận chủ cốt, thị vị ngũ chủ. Ngũ lao sở thương: cửu thị thương huyết, cửu ngọa thương khí, cửu tọa thương nhục, cửu lập thương cốt, cửu hành thương cân, thị vị ngũ lao sở thương. Ngũ mạch ứng tượng: can mạch huyền, tâm mạch câu, tỳ mạch đại, phế mạch mao, thận mạch thạch, thị vị ngũ tạng chi mạch.”

Dịch nghĩa: Những điều ngũ tạng ghét gồm: tâm ghét nhiệt, phế ghét hàn, can ghét phong, tỳ ghét thấp, thận ghét táo, đó gọi là “ngũ ố”. Ngũ tạng hóa dịch: tâm hóa thành mồ hôi, phế hóa thành nước mũi, can hóa thành nước mắt, tỳ hóa thành nước dăi, thận hóa thành nước bọt, gọi là “ngũ dịch”. Điều ngũ tạng tàng chứa là: tâm tàng thần, phế tàng phách, can tàng hồn, tỳ tàng ư, thận tàng chí. Điều ngũ tạng chủ là: tâm chủ mạch, phế chủ da, can chủ gân, tỳ chủ thịt, thận chủ xương. Điều ngũ lao gây tổn thương là: nh́n lâu hại huyết, nằm lâu hại khí, ngồi lâu hại thịt, đứng lâu hại xương, đi lâu hại gân. Ngũ mạch ứng tượng là: mạch can huyền, mạch tâm câu, mạch tỳ đại, mạch phế mao, mạch thận thạch. Đoạn này là một bản tóm lược rất cô đọng về ngũ tạng, ngũ dịch, ngũ chủ, ngũ lao và ngũ mạch.

“Ngũ tạng thường nội duyệt ư thượng thất khiếu dă, cố phế khí thông ư tỵ, phế ḥa tắc tỵ năng tri xú hương hĩ; tâm khí thông ư thiệt, tâm ḥa tắc thiệt năng tri ngũ vị hĩ; can khí thông ư mục, can ḥa tắc mục năng biện ngũ sắc hĩ; tỳ khí thông ư khẩu, tỳ ḥa tắc khẩu năng tri ngũ cốc hĩ; thận khí thông ư nhĩ, thận ḥa tắc nhĩ năng văn ngũ âm hĩ.”

Dịch nghĩa: Ngũ tạng thường soi xét ra ngoài qua thượng thất khiếu. V́ vậy phế khí thông ra mũi, phế điều ḥa th́ mũi có thể ngửi được mùi thơm hôi; tâm khí thông ra lưỡi, tâm điều ḥa th́ lưỡi biết được ngũ vị; can khí thông ra mắt, can điều ḥa th́ mắt phân biệt được ngũ sắc; tỳ khí thông ra miệng, tỳ điều ḥa th́ miệng biết được ngũ cốc; thận khí thông ra tai, thận điều ḥa th́ tai nghe được ngũ âm. Đoạn này nói rơ quan hệ giữa ngũ tạng với ngũ quan và chức năng cảm giác tương ứng.

Khái quát lại: phần “tham khảo kinh văn tụy” này dùng nhiều đoạn kinh điển để làm rơ mấy ư lớn. Một là vị trí, ranh giới và công năng riêng của tạng phủ. Hai là nhận thức cổ đại về cấu tạo, dung tích và sự truyền tống của trường vị. Ba là quan hệ biểu lư và ứng tượng giữa ngũ tạng với các tổ chức, giác quan và dịch thể. Bốn là khẳng định ngũ tạng chủ tàng, lục phủ chủ hóa, và tất cả đều là cơ sở vật chất cho sinh mệnh, tinh thần, khí huyết và cảm giác vận động của con người.
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-04-13 19:02:39
BÀI GIẢNG THỨ NĂM HỌC THUYẾT KINH LẠC
Học thuyết về hệ thống kinh mạch và lạc mạch trong cơ thể

Học thuật chỉ yếu sơ nghĩa: Giảng giải sơ lược những điểm cốt yếu của học thuật

Khái yếu của học thuyết kinh lạc trong Nội Kinh, xin xem phần giới thiệu có liên quan ở bài giảng thứ nhất “Những nội dung chủ yếu của hệ thống lư luận trong Nội Kinh”. Kinh lạc là tên gọi chung của kinh mạch, lạc mạch, cùng với kinh cân, kinh biệt, b́ bộ. Kinh lạc là một hệ thống to lớn về kết cấu tổ chức và chức năng khí hóa của cơ thể người, tác dụng chủ yếu của nó là liên hệ tạng phủ tổ chức, vận hành khí huyết tân dịch, điều tiết bên trong bên ngoài cơ thể, từ đó khiến cơ thể người h́nh thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất.

Nội Kinh chỉ ra rằng: “Kinh mạch vi lư, chi nhi hoành giả vi lạc, lạc chi biệt giả vi tôn.” Kinh mạch ở bên trong, những nhánh tỏa ngang gọi là lạc, nhánh nhỏ tách ra từ lạc gọi là tôn lạc. Về h́nh thái, kinh mạch là đường đi tương đối lớn, lạc mạch là nhánh ngang phân ra từ kinh mạch, c̣n những nhánh nhỏ li ti tách ra từ lạc mạch gọi là tôn lạc (孫絡: lạc nhỏ, lạc tôn, tức mạng lưới lạc mạch rất nhỏ). Về sự cấu thành của kinh lạc, Nội Kinh nói: “Kinh mạch thập nhị, lạc mạch thập ngũ”, “Lạc mạch tam bách lục thập ngũ.” Ư nói có mười hai đường kinh mạch chủ thể lớn (chính kinh 正經), mười lăm đại lạc tách ra (biệt lạc 別絡), và ba trăm sáu mươi lăm tôn lạc. Ngoài ra c̣n có kỳ kinh bát mạch (奇經八脈), thập nhị kinh biệt (十二經別), thập nhị kinh cân (十二經筋), và thập nhị b́ bộ (十二皮部), v.v. Cần chỉ rơ rằng, các con số cụ thể như 12, 365 mà Nội Kinh nêu ra là do người xưa căn cứ vào lư luận tay chân tam âm tam dương cùng tư tưởng thiên nhân tương ứng (天人相應: con người ứng hợp với trời đất), rồi suy diễn so loại mà thành. Cái gọi là “Tôn lạc tam bách lục thập ngũ huyệt hội, diệc dĩ ứng nhất tuế.”, “Kinh mạch thập nhị, ngoại hợp ư thập nhị kinh thủy…… thử nhân chi sở dĩ tham thiên địa nhi ứng âm dương dă.” đều nói rơ ư này. Về sự phân bố của kinh lạc, “Kinh mạch thập nhị giả, phục hành phân nhục chi gian, thâm nhi bất kiến”, nghĩa là mười hai kinh mạch thường đi dọc, ẩn sâu ở bên trong, “thường bất khả kiến”, thường không nh́n thấy được; c̣n “Chư mạch chi phù nhi thường kiến giả, giai lạc mạch dă”, tức là những mạch nổi lên mà thường thấy được th́ đều là lạc mạch. Lạc mạch nói chung phân bố nông hơn, trong đó những lạc nổi ra ngoài biểu thể gọi là phù lạc (浮絡), c̣n trong phù lạc, những mạch hiện rơ và có thể nh́n thấy được gọi là huyết lạc (血絡: các mạch máu nhỏ nổi rơ ngoài da). Cần nói rơ rằng, cách nói kinh sâu lạc nông này chỉ là tương đối. Trong phần sâu của tạng phủ tổ chức cũng có lạc mạch, mà ở phần nông ngoài cơ thể cũng có kinh mạch, như kinh mạch “kỳ thường kiến giả, túc (đương tác thủ) thái âm quá ư ngoại khỏa chi thượng, vô sở ẩn cố dă.” Nghĩa là chỗ thường có thể thấy được của kinh Thái âm là nơi nó đi qua phía trên mắt cá ngoài, không bị che khuất nên có thể thấy. (Linh Khu, Kinh Mạch )

“Kinh mạch giả, sở dĩ hành huyết khí nhi doanh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết giả dă.” Kinh lạc là con đường để cơ thể vận hành khí huyết, liên hệ tạng phủ với tứ chi, có tác dụng quan trọng là nhu dưỡng toàn thân, thông đạt liên lạc, khiến các bộ phận phối hợp điều ḥa, nhờ đó duy tŕ hoạt động sinh mệnh b́nh thường. “Ngũ tạng chi đạo, giai xuất ư kinh toại dĩ hành huyết khí, huyết khí bất ḥa, bách bệnh năi biến hóa nhi sinh.” (《素問.調經論》) Nghĩa là đường đi của năm tạng đều thông qua kinh toại (經隧: đường hầm kinh mạch, chỉ hệ thống thông đạo của kinh lạc) để vận hành khí huyết; nếu khí huyết không điều ḥa th́ trăm bệnh sẽ biến hóa mà sinh ra. Nếu chức năng của kinh lạc thất điều th́ có thể gây nên bệnh tật. Do kinh lạc “nội thuộc ư tạng phủ, ngoại lạc ư chi tiết”, nên một khi kinh lạc mắc bệnh th́ tà khí có thể theo kinh vào trong, truyền tới tạng phủ; đồng thời bệnh biến ở nội tạng cũng có thể theo kinh phản ánh ra ngoài cơ thể. V́ vậy kinh lạc c̣n là con đường chủ yếu để truyền dẫn bệnh tà và phản ánh bệnh chứng. Trên lâm sàng, quan sát biểu hiện biến hóa ở các vị trí tuần hành của kinh lạc có thể suy biết những biến đổi bệnh lư khác nhau ở bên trong cơ thể. Cái gọi là: “Ngũ tạng hữu tật dă, ứng ư thập nhị nguyên, nhi nguyên các hữu sở xuất, minh tri kỳ nguyên, đổ kỳ ứng, nhi tri ngũ tạng chi hại.” Nghĩa là năm tạng có bệnh th́ sẽ ứng hiện ở mười hai nguyên huyệt; mỗi nguyên huyệt đều có chỗ xuất hiện của nó, hiểu rơ nguyên huyệt, thấy được phản ứng của nó, th́ biết được tổn hại của ngũ tạng. Phương pháp chẩn đoán độc đáo của Trung y là “dĩ ngoại sủy nội”, tức từ bên ngoài suy đoán bên trong, chính là lấy lư luận tạng tượng và kinh lạc làm căn cứ. Ví dụ như chứng đau đầu, đau vùng trán th́ bệnh ở Dương minh, đau vùng đầu gáy th́ bệnh ở Thái dương, đau nửa đầu th́ bệnh ở Thiếu dương, đau đỉnh đầu th́ bệnh ở Quyết âm. Đó đều là chẩn đoán được xác lập dựa vào vị trí tuần hành của kinh mạch, từ đó cung cấp căn cứ lư luận cho việc phân kinh mà điều trị. V́ thế Nội Kinh nhấn mạnh: “Năng biệt âm dương thập nhị kinh giả, tri bệnh chi sở sinh, hậu hư thực chi sở tại giả, năng đắc bệnh chi cao hạ”, “Năng tri lục kinh tiêu bản giả, khả dĩ vô hoặc ư thiên hạ.” Nghĩa là ai phân biệt được âm dương và mười hai kinh th́ biết được bệnh sinh ra ở đâu, biết được chỗ hư thực th́ hiểu được nông sâu cao thấp của bệnh; ai biết được tiêu bản của lục kinh th́ có thể không c̣n mê hoặc trong việc nhận bệnh. Học thuyết kinh lạc có ư nghĩa chỉ đạo rất rộng đối với lâm sàng. Về sau, biện chứng lục kinh của Thương Hàn Luận (《傷寒論》), việc quy kinh của thuốc, chọn thuốc theo kinh, châm cứu theo kinh chọn huyệt, phân kinh thi trị, cùng các phương pháp như án ma, thôi nă, v.v. đều phát triển trên cơ sở lư luận của học thuyết kinh lạc.

Trong Nội Kinh đă ghi chép rơ ràng điểm khởi đầu, điểm kết thúc, đường tuần hành, chức năng sinh lư và các chứng hậu liên quan của mười hai kinh mạch cùng ba mạch Đốc (督), Nhâm (任), Xung (沖); đối với Âm kiêu (陰蹺), Dương kiêu (陽蹺), Đới mạch (帶脈), và Duy mạch (維脈) cũng có mô tả khái lược về vị trí và công dụng; các lạc mạch được chép bao gồm mười lăm biệt lạc, đại lạc của Vị, phù lạc và tôn lạc; lại c̣n có các thiên chuyên biệt tŕnh bày tên gọi, đường tuần hành và chứng hậu của thập nhị kinh cân, thập nhị kinh biệt, thập nhị kinh thủy, thập nhị b́ bộ. Du huyệt (腧穴), trong Nội Kinh c̣n có các tên như du (俞、腧、輸), tiết (節), khí huyệt (氣穴), khí phủ (氣府), v.v. Nội Kinh nói tổng số là 365 huyệt, nhưng số chép ở các thiên không hoàn toàn giống nhau, và tổng số tên huyệt c̣n xa mới đủ 365. Nội Kinh c̣n chuyên luận về một số du huyệt đặc biệt như tỉnh huyệt (井穴), huỳnh huyệt (滎穴), nguyên huyệt (原穴), kinh huyệt (經穴), hợp huyệt (合穴), cùng bối du huyệt (背俞穴), v.v.

Kinh mạch được chia thành hai loại là chính kinh (正經) và kỳ kinh (奇經). Chính kinh là các kinh mạch tam âm tam dương, tay chân mỗi bên một bộ, hợp gọi là thập nhị kinh mạch, tức: Thủ Thái âm Phế, Thủ Dương minh Đại trường, Túc Dương minh Vị, Túc Thái âm Tỳ, Thủ Thiếu âm Tâm), Thủ Thái dương Tiểu trường, Túc Thái dương Bàng quang, Túc Thiếu âm Thận, Thủ Quyết âm Tâm bào, Thủ Thiếu dương Tam tiêu, Túc Thiếu dương Đởm, Túc Quyết âm Can. Ḍng chảy tuần hoàn của mười hai kinh bắt đầu từ kinh Thủ Thái âm Phế, theo thứ tự giao tiếp của tay chân kinh mạch đă nói ở trên mà lần lượt truyền vào kinh Túc Quyết âm Can, rồi lại quay về kinh Thủ Thái âm Phế, hết rồi lại bắt đầu, vận hành khắp toàn thân. Hướng đi của mười hai kinh mạch có quy luật nhất định, Linh Khu, Nghịch Thuận Ph́ Sấu chỉ ra rằng: “Thủ chi tam âm, ṭng tạng tẩu thủ; thủ chi tam dương, ṭng thủ tẩu đầu; túc chi tam dương, ṭng đầu tẩu túc; túc chi tam âm, ṭng túc tẩu phúc.” Nghĩa là ba kinh âm của tay đi từ tạng ra tay; ba kinh dương của tay đi từ tay lên đầu; ba kinh dương của chân đi từ đầu xuống chân; ba kinh âm của chân đi từ chân lên bụng. Từ đó h́nh thành nên một hệ thống tuần hoàn tay chân liên tiếp, âm dương quán thông. Mười hai kinh mạch là con đường chủ yếu để khí huyết của cơ thể vận hành. Tam âm tam dương tay chân thông qua liên hệ của kinh mạch và biệt lạc, lại lần lượt liên hệ lạc thuộc lẫn nhau, cùng với tạng phủ cấu thành quan hệ biểu lư phối hợp lẫn nhau.

Sự phân bố và lạc thuộc của kỳ kinh bát mạch khác với mười hai kinh mạch. Đốc mạch (督脈) thống lĩnh các dương, đi ở chính giữa lưng; Nhâm mạch (任脈) đảm nhiệm nuôi dưỡng các âm, đi ở chính giữa bụng; Xung mạch (沖脈) điều tiết khí huyết của mười hai kinh, đi ở hai bên bụng; Đới mạch (帶脈) có tác dụng ràng buộc các kinh, quấn ngang vùng thắt lưng bụng như dây đai; Dương kiêu, Âm kiêu (陽蹺、陰蹺) phân chủ âm dương hai bên trái phải của toàn thân, bắt đầu từ mắt cá chân rồi đi lên đầu; Dương duy, Âm duy (陽維、陰維) lần lượt duy hệ toàn thân về âm dương biểu lư, bắt đầu từ chân mà đi lên đầu cổ. Tóm lại, kỳ kinh bát mạch có tác dụng điều tiết rất quan trọng đối với âm dương khí huyết của cơ thể người.

Mười lăm biệt lạc trong hệ thống lạc mạch gồm biệt lạc phân ra từ mười hai kinh mạch, Nhâm mạch, Đốc mạch, cùng đại lạc của Tỳ hợp thành, có tác dụng thông đạt và chuyển vận khí huyết của mười hai kinh mạch. Du huyệt nằm ở ngoài cơ thể, là nơi kinh khí du chú ra vào. Du huyệt thông qua kinh lạc mà thiết lập mối liên hệ mật thiết với tạng phủ, v́ vậy có thể tiếp nhận các loại kích thích khác nhau. Như châm cứu, xoa bóp, v.v., từ đó sản sinh tác dụng cảm ứng truyền dẫn, điều tiết hoạt động chức năng của cơ thể để đạt mục đích điều trị.

Đối với nội dung cụ thể của du huyệt thuộc từng kinh mạch, ở đây không thuật lại từng điều một, phần sau chúng ta sẽ trọng điểm tuyển đọc một số đoạn thiên để xem đại khái.

Đại biểu kinh văn chú tích: Chọn đoạn kinh văn tiêu biểu và chú giải phân tích
Kinh lạc đích trọng yếu tính: Tính quan trọng của kinh lạc

Nguyên văn

Lôi công vấn ư Hoàng Đế viết: 《Cấm mạch》 chi ngôn, phàm thích chi lư, kinh mạch vi thủy, dinh kỳ sở hành, chế kỳ độ lượng, nội thứ ngũ tạng, ngoại biệt lục phủ, nguyện tận văn kỳ đạo.

Giải nghĩa: Lôi Công hỏi Hoàng Đế rằng: lời trong thiên Cấm Mạch nói, phàm đạo lư châm thích th́ kinh mạch là điểm khởi đầu; phải hiểu rơ đường đi của nó, nắm được quy luật và độ lượng của nó, bên trong th́ sắp xếp liên hệ với ngũ tạng, bên ngoài th́ phân biệt với lục phủ; tôi mong được nghe đầy đủ đạo lư ấy. “Dinh kỳ sở hành” nghĩa là nắm rơ, khảo sát rơ con đường vận hành của kinh mạch. “Chế kỳ độ lượng” nghĩa là quy định, nhận rơ khuôn phép, dài ngắn, sâu nông, phạm vi của kinh mạch.

Hoàng Đế viết: Nhân thủy sinh, tiên thành tinh, tinh thành nhi năo tủy sinh, cốt vi cán, mạch vi doanh, cân vi cương, nhục vi tường, b́ phu kiên nhi mao phát trưởng, cốc nhập ư vị, mạch đạo dĩ thông, huyết khí năi hành. Lôi công viết: Nguyện tốt văn kinh mạch chi thủy sinh

Giải nghĩa: Hoàng Đế đáp rằng: con người khi mới h́nh thành, trước hết là thành tinh (精: tinh chất căn bản của sự sống); tinh đă thành th́ năo tủy sinh ra; xương làm thân cốt chủ yếu; mạch làm hệ thống doanh vận, tức mạng lưới vận hành khí huyết; gân làm cái cứng rắn; thịt làm tường vách bao bọc; da dẻ vững chắc th́ lông tóc mọc dài; thức ăn vào dạ dày, mạch đạo được thông, rồi khí huyết mới vận hành. “Mạch vi doanh” là mạch giữ vai tṛ như hệ thống doanh vận, bao bọc và lưu hành huyết khí. “Cân vi cương” nghĩa là gân chủ sức co duỗi cứng chắc. “Nhục vi tường” nghĩa là thịt như tường vách che chở các cấu trúc bên trong.

Lôi công viết: Nguyện tốt văn kinh mạch chi thủy sinh.

Giải nghĩa: Lôi Công nói: tôi mong được nghe trọn vẹn về sự bắt đầu h́nh thành của kinh mạch. “Tốt” (卒) ở đây nghĩa là trọn vẹn, đầy đủ, từ đầu đến cuối.

Hoàng Đế viết: Kinh mạch giả, sở dĩ năng quyết tử sinh, xử bách bệnh, điều hư thực, bất khả bất thông.

Giải nghĩa: Hoàng Đế nói: kinh mạch là cái dùng để quyết định sống chết, xử lư trăm bệnh, điều ḥa hư thực, cho nên không thể không thông. “Quyết tử sinh” (決死生) nghĩa là kinh mạch thông hay bế có quan hệ trọng yếu đến sự sống chết của con người. “Xử bách bệnh” nghĩa là ứng phó, xử lư, điều trị các loại bệnh tật. “Điều hư thực” nghĩa là điều chỉnh trạng thái hư suy hay thực thịnh của cơ thể, khiến trở về cân bằng. “Bất khả bất thông” nhấn mạnh kinh mạch nhất định phải được thông suốt, v́ kinh mạch là cơ sở duy tŕ sinh mệnh và trị bệnh.

(Linh Khu, thiên Kinh Mạch)

Chú thích (注釋)

Cấm phục: Theo bản sách này ở thiên Cấm phục và cách nh́n của các tư liệu liên quan, chỗ này nên chép là “Cấm phục” (禁服).
Chế (制): Theo nguyên văn ghi trong bản sách này ở thiên Cấm phục và các tư liệu liên quan, nên sửa thành “tri” (知: biết, nhận biết).
Doanh (營): Có nghĩa là nuôi dưỡng và lưu thông.
Cương (剛): Theo cách nh́n của các tư liệu liên quan, dường như nên viết là “cương” (綱: giềng lưới, mối giữ). Cân (筋), tương đương với gân cơ theo cách nói ngày nay, có chức năng liên hệ khớp xương, duy tŕ khớp xương, cho nên gọi là “cương” (綱).
Nhục vi tường (肉為牆): Chỉ da thịt ở bên ngoài, giống như tường vách bảo vệ tạng phủ ở bên trong.
Phân tích

Đoạn này chỉ ra giá trị quan trọng của học thuyết kinh lạc trong các mặt như chẩn đoán, điều trị, v.v., đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm vững học thuyết kinh lạc.

Kinh mạch (經脈), với tư cách là một loại kết cấu tổ chức của cơ thể người, cũng như các kết cấu khác của cơ thể, nguồn gốc của nó đều do tinh khí tiên thiên của cha mẹ và tinh khí hậu thiên do bản thân hấp thu được, cùng hợp hóa mà sinh trưởng phát dục thành. Trong bài, câu “Nhân thủy sinh, tiên thành tinh” là chỉ tiên thiên chi tinh: tinh khí có sẵn từ khi bẩm sinh), c̣n câu “Cốc nhập ư vị, mạch đạo dĩ thông” là chỉ hậu thiên thủy cốc chi tinh: tinh vi của đồ ăn thức uống do Tỳ Vị hóa sinh). Đúng như Trương Giới Tân đă nói: “Tiền ngôn thành h́nh thủy ư tinh, thử ngôn dưỡng h́nh tại ư cốc.” Nghĩa là: đoạn trước nói việc thành h́nh bắt đầu từ tinh, đoạn này nói việc nuôi dưỡng h́nh thể là nhờ vào ngũ cốc.

Kinh văn chỉ ra rằng “Phàm thích chi lư, kinh mạch vi thủy”, bởi v́ huyệt vị dùng để châm cứu đều nằm trên đường tuần hành của kinh mạch, cho nên nếu không hiểu rơ vị trí tuần hành của kinh mạch, phương hướng và thời gian lưu chú của khí huyết, vị trí và tác dụng của du huyệt (腧穴), th́ không thể nào thực hiện được thuật châm cứu. V́ vậy học thuyết kinh lạc là công phu cơ bản để học tập và vận dụng châm cứu. Trên thực tế, kinh lạc cùng với tạng phủ, tinh, khí, thần hợp lại cấu thành nội dung của “Tạng tượng học thuyết”, cho nên suy rộng ra mà nói, hễ người làm nghề y th́ nhất định phải hiểu rơ kinh lạc. Tư tưởng trung tâm của đoạn này chính là chỉ ra giá trị ứng dụng của học thuyết kinh lạc trong chẩn đoán, điều trị, v.v., đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm vững học thuyết kinh lạc trên lâm sàng.

Thực tiễn đă chứng minh rằng, sau khi bệnh tật nói chung phát sinh, đă có thể từ biểu vào lư: ngoại tà từ ngoài xâm nhập), lại cũng có thể từ lư ra biểu; sự vào lư ra biểu của trong ngoài ấy, phần nhiều lấy kinh lạc làm con đường truyền biến. Những chứng hậu phát sinh trong quá tŕnh truyền biến ấy lại theo đường thông của kinh lạc mà phản ánh ra ngoài cơ thể, cho nên hệ thống kinh lạc có thể phản ánh một cách tương đối có quy luật một số bệnh hậu nhất định. Lấy những bệnh hậu ấy làm căn cứ, từ đó có thể tiến hành định vị, định tính và định dự hậu cát hung cho bệnh tật. V́ vậy, đây là một trong những lư luận quan trọng của biện chứng lâm sàng, tức là kinh lạc biện chứng.

Về mặt điều trị, học thuyết này có thể được ứng dụng rộng răi trong lâm sàng các khoa, đặc biệt nguyên tắc điều trị của châm cứu là tuần kinh thủ huyệt: theo kinh chọn huyệt), hoàn toàn lấy học thuyết kinh lạc làm căn cứ. Ngoài ra, học thuyết quy kinh trong Trung dược học cũng được chỉ đạo bởi lư luận kinh lạc. Chính v́ nó có tác dụng quan trọng như vậy, cho nên kinh văn nhấn mạnh rằng chỉ khi tinh thông kinh mạch th́ mới có thể “quyết tử sinh, xử bách bệnh, điều hư thực”. Các y gia历代 đều hết sức coi trọng học thuyết kinh lạc, như Lư Sản (李梴) đời Minh từng nói: “Y giả bất minh kinh lạc, do nhân dạ hành vô chúc.” Nghĩa là: người thầy thuốc mà không hiểu kinh lạc, cũng như người đi đêm mà không có đuốc.

Thập nhị chính kinh đích tuần hành cập kỳ bệnh hậu: Sự tuần hành của mười hai chính kinh và các bệnh hậu của chúng

Nguyên văn
Phế thủ Thái âm chi mạch: Mạch của kinh Phế thủ Thái âm, khởi vu trung tiêu: bắt đầu từ trung tiêu), hạ lạc đại trường: đi xuống liên lạc với Đại trường), hoàn tuần vị khẩu: quay lại đi theo miệng Vị), thượng cách thuộc Phế: đi lên qua cơ hoành mà thuộc về Phế), ṭng Phế hệ hoành xuất dịch hạ: từ hệ Phế đi ngang ra dưới nách), hạ tuần nao nội: đi xuống mặt trong cánh tay trên), hành Thiếu âm Tâm chủ chi tiền: đi ở phía trước kinh Thủ Thiếu âm Tâm và Tâm chủ), hạ trửu trung: xuống giữa khuỷu tay), tuần tư nội thượng cốt hạ liêm: đi theo bờ dưới xương phía trên mặt trong cẳng tay, nhập thốn khẩu: vào vị trí thốn khẩu, thượng ngư: lên mô ngón cái, tuần ngư tế: đi theo bờ ngư tế, xuất đại chỉ chi đoan: ra đầu ngón tay cái; kỳ chi giả, ṭng oản hậu trực xuất thứ chỉ nội liêm, xuất kỳ đoan: nhánh của nó từ sau cổ tay đi thẳng ra bờ trong ngón trỏ và ra đầu ngón.

Thị động tắc bệnh: Nếu kinh này phát động bệnh th́ Phế trướng măn: ngực đầy tức do Phế, bành bành nhi suyễn khái: đầy trướng mà hen suyễn, ho, khuyết bồn trung thống: đau vùng hố thượng đ̣n, thậm tắc giao lưỡng thủ nhi mạo: nặng th́ hai tay bắt chéo ôm ngực, đầu óc mờ tối), thử vi tư quyết: đó gọi là chứng quyết ở tay). Thị chủ Phế sở sinh bệnh giả: những bệnh do Phế sinh ra là khái (欬: ho), thượng khí suyễn khát: khí nghịch lên trên, hen suyễn, khát, phiền tâm hung măn: bứt rứt trong ḷng, đầy tức ngực, nao tư nội tiền liêm thống quyết: đau và lạnh buốt ở bờ trước mặt trong cánh tay, chưởng trung nhiệt: (ḷng bàn tay nóng). Khí thịnh hữu dư, tắc kiên bối thống phong hàn: khí thịnh hữu dư th́ vai lưng đau, sợ gió lạnh), hăn xuất (汗出: ra mồ hôi), trúng phong (中風: trúng phong), tiểu tiện sác nhi khiếm: (tiểu nhiều và hay ngáp). Khí hư tắc kiên bối thống hàn: khí hư th́ vai lưng đau lạnh, thiểu khí bất túc dĩ tức: khí ngắn, không đủ sức thở, nịch sắc biến: màu nước tiểu thay đổi. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi: các bệnh ấy nếu thực th́ tả, hư th́ bổ, nhiệt th́ châm nhanh, hàn th́ lưu kim, hăm hạ th́ cứu, không hư không thực th́ theo kinh mà lấy huyệt. Thịnh giả, thốn khẩu đại tam bội ư nhân nghênh; hư giả, tắc thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dă: khi thực th́ mạch thốn khẩu lớn gấp ba lần mạch nhân nghênh; khi hư th́ ngược lại, thốn khẩu nhỏ hơn nhân nghênh.

Đại trường thủ Dương minh chi mạch: Mạch của kinh Đại trường thủ Dương minh, khởi ư đại chỉ thứ chỉ chi đoan: bắt đầu từ đầu ngón trỏ, tuần chỉ thượng liêm: đi theo bờ trên ngón tay, xuất Hợp cốc lưỡng cốt chi gian: ra giữa hai xương tại huyệt Hợp cốc, thượng nhập lưỡng cân chi trung: đi lên vào giữa hai gân, tuần tư thượng liêm: đi theo bờ trên cẳng tay, nhập trửu ngoại liêm: vào bờ ngoài khuỷu tay, thượng nao ngoại tiền liêm: lên bờ trước phía ngoài cánh tay trên, thượng kiên (上肩: lên vai), xuất khỏa cốt chi tiền liêm: ra bờ trước của xương vai, thượng xuất ư trụ cốt chi hội thượng: lên đến chỗ hội của trụ cốt), hạ nhập khuyết bồn: xuống vào hố thượng đ̣n), lạc Phế, hạ cách thuộc Đại trường: liên lạc với Phế, qua cơ hoành xuống thuộc Đại trường); kỳ chi giả, ṭng khuyết bồn thượng cảnh quán giáp: nhánh của nó từ khuyết bồn lên cổ xuyên qua má), nhập hạ xỉ trung: vào lợi răng dưới), hoàn xuất hiệp khẩu, giao nhân trung, tả chi hữu, hữu chi tả, thượng hiệp tỵ khổng: quay ra kẹp hai bên miệng, giao nhau ở nhân trung, bên trái sang phải, bên phải sang trái, đi lên kẹp hai lỗ mũi).

Thị động tắc bệnh xỉ thống cảnh thũng: nếu kinh này phát bệnh th́ đau răng, sưng cổ), thị chủ tân dịch sở sinh bệnh giả: những bệnh do tân dịch phát sinh là mục hoàng (目黃: mắt vàng), khẩu can (口乾: miệng khô), cừu nục (鼽衄: nghẹt mũi, chảy máu mũi), hầu tư (喉痹: họng bế tắc đau), kiên tiền nao thống: đau phía trước vai và cánh tay trên), đại chỉ thứ chỉ thống bất dụng: ngón cái, ngón trỏ đau không dùng được). Khí hữu dư tắc đương mạch sở quá giả nhiệt thủng: khí hữu dư th́ nơi kinh mạch đi qua bị nóng sưng), hư tắc hàn lật bất phục: hư th́ rét run, không hồi phục nhanh). Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại tam bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dă (盛者.

Vị túc Dương minh chi mạch: Mạch của kinh Vị túc Dương minh, khởi ư tỵ chi giao ngạch trung: bắt đầu ở chỗ giao giữa mũi và trán), bàng nạp Thái dương chi mạch: cạnh đó tiếp nhận mạch Thái dương), hạ tuần tỵ ngoại: đi xuống theo bờ ngoài mũi), nhập thượng xỉ trung: vào lợi răng trên), hoàn xuất hiệp khẩu hoàn thần: quay ra kẹp quanh miệng môi), hạ giao Thừa tương: xuống giao với huyệt Thừa tương), khước tuần di hậu hạ liêm: lui lại đi theo bờ dưới phía sau cằm), xuất Đại nghênh: ra huyệt Đại nghênh), tuần giáp xa: đi theo huyệt Giáp xa), thượng nhĩ tiền: lên phía trước tai), quá Khách chủ nhân: qua huyệt Khách chủ nhân), tuần phát tế: đi theo chân tóc), chí ngạch lô: đến trán và đầu). Kỳ chi giả, ṭng Đại nghênh tiền hạ nhân nghênh, tuần hầu lung, nhập khuyết bồn, hạ cách thuộc Vị lạc Tỳ: nhánh của nó từ trước huyệt Đại nghênh đi xuống huyệt Nhân nghênh, theo họng, vào khuyết bồn, qua cơ hoành thuộc Vị, lạc với Tỳ); kỳ trực giả, ṭng khuyết bồn hạ nhũ nội liêm, hạ hiệp tề, nhập khí nhai trung: nhánh thẳng của nó từ khuyết bồn đi xuống bờ trong vú, xuống kẹp rốn, vào giữa khí nhai); kỳ chi giả, khởi ư Vị khẩu, hạ tuần phúc lư, hạ chí khí nhai trung nhi hợp, dĩ hạ bễ quan, để Phục thố, hạ tất tẫn trung, hạ tuần hĩnh ngoại liêm, hạ túc phu, nhập trung chỉ nội gian: nhánh khác bắt đầu từ miệng Vị, đi xuống trong bụng, xuống đến khí nhai mà hợp lại, rồi đi xuống vùng bễ quan, đến Phục thố, xuống giữa gối, đi theo bờ ngoài xương cẳng chân, xuống mu bàn chân, vào khe trong ngón chân giữa); kỳ chi giả, hạ liêm tam thốn nhi biệt, hạ nhập trung chỉ ngoại gian: một nhánh nữa tách ra ở dưới ba thốn nơi bờ dưới, đi xuống vào khe ngoài ngón giữa); kỳ chi giả, biệt phu thượng, nhập đại chỉ gian, xuất kỳ đoan: nhánh khác tách từ trên mu chân, vào kẽ ngón chân cái và ra ở đầu ngón).

Thị động tắc bệnh sái sái chấn hàn, thiện thân, sác khiếm, nhan hắc, bệnh chí tắc ố nhân dữ hỏa, văn mộc thanh tắc dịch nhiên nhi kinh, tâm dục động, độc bế hộ tắc dũ nhi xử, thậm tắc dục thượng cao nhi ca, khí y nhi tẩu, bí hưởng phúc trướng, thị vi can quyết. Thị chủ huyết sở sinh bệnh giả: cuồng, ngược, ôn dâm, hăn xuất, cừu nục, khẩu oa, thần chẩn, cảnh thũng, hầu tư, đại phúc thủy thũng, tất tẫn thũng thống, tuần ưng, nhũ, khí nhai, cổ, phục thố, can ngoại liêm, túc phu thượng giai thống, trung chỉ bất dụng. Khí thịnh tắc thân dĩ tiền giai nhiệt, kỳ hữu dư ư mạo, tắc tiêu cốc thiện cơ, niệu sắc hoàng. Khí bất túc tắc thân dĩ tiền giai hàn lật, vị trung hàn tắc trướng măn. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại tam bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dă.

Phần giải thích

Khi kinh Vị phát bệnh th́ có thể thấy người bệnh rét run, hay rên rỉ, thường ngáp, sắc mặt đen sạm. Khi bệnh nặng hơn th́ sợ gặp người, sợ lửa, nghe tiếng động thuộc mộc th́ giật ḿnh kinh hăi, tâm thần bất an, thích đóng kín cửa sổ ở một ḿnh; nặng th́ muốn trèo cao mà hát, cởi bỏ áo quần mà chạy. Trong bụng có tiếng động, bụng đầy trướng, đó gọi là can quyết.

Những bệnh do kinh này chủ về huyết mà sinh ra gồm: phát cuồng, sốt rét, sốt nóng lan tràn, tự ra mồ hôi, chảy nước mũi hoặc chảy máu mũi, méo miệng, môi run giật, cổ sưng, họng tắc đau, bụng to phù nước, đầu gối và xương bánh chè sưng đau; dọc theo đường đi qua ngực, vú, khí nhai, đùi, phục thố, mặt ngoài cẳng chân và mu bàn chân đều đau, ngón giữa không cử động được.

Nếu khí của kinh quá thịnh th́ phần trước thân thể đều nóng; khí thừa ở phần trên th́ ăn mau tiêu, hay đói, nước tiểu vàng. Nếu khí hư th́ phần trước thân thể đều lạnh run, trong dạ dày lạnh th́ đầy trướng. Phép trị là: thực th́ tả, hư th́ bổ, nhiệt th́ châm nhanh, hàn th́ lưu kim lâu, khí hăm hạ th́ cứu, không hư không thực th́ trị theo huyệt của kinh. Mạch thực th́ mạch nhân nghênh lớn gấp ba lần thốn khẩu, mạch hư th́ nhân nghênh lại nhỏ hơn thốn khẩu.

Tỳ túc thái âm chi mạch

Tỳ túc thái âm chi mạch, khởi ư đại chỉ chi đoan, tuần chỉ nội trắc bạch nhục tế, quá hạch cốt hậu, thượng nội khỏa tiền liêm, thượng đoan nội, tuần chày cốt hậu, giao xuất quyết âm chi tiền, thượng tất cổ nội tiền liêm, nhập phúc thuộc tỳ lạc vị, thượng cách, hiệp yết, liên thiệt bản, tán thiệt hạ; kỳ chi giả, phục ṭng vị biệt thượng cách, chú tâm trung.

Thị động tắc bệnh thiệt bản cường, thực tắc ẩu, vị quản thống, phúc trướng thiện ái, đắc hậu dữ khí tắc khoái nhiên như suy, thân thể giai trọng. Thị chủ tỳ sở sinh bệnh giả: thiệt bản thống, thể bất năng động dao, thực bất hạ, phiền tâm, tâm hạ cấp thống, đường, hà tiết, thủy bế, hoàng đản, bất năng ngọa, cường lập cổ tất nội thũng quyết, túc đại chỉ bất dụng. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả thốn khẩu đại tam bội ư nhân nghênh, hư giả thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dă.

Phần giải thích

Mạch kinh Tỳ túc thái âm bắt đầu từ đầu ngón chân cái, đi dọc bờ trong ngón chân chỗ tiếp giáp da trắng và da đỏ, qua sau xương hạch, lên trước mắt cá trong, lên mặt trong cẳng chân, men theo bờ sau xương chày, giao ra trước kinh Can quyết âm, lên mặt trước trong của gối và đùi, vào bụng, thuộc về tỳ, lạc với vị, lên qua cơ hoành, kẹp hai bên họng, nối với gốc lưỡi, tản ra dưới lưỡi; nhánh của nó lại từ vị đi riêng lên qua cơ hoành, chảy vào giữa tim.

Khi kinh này phát bệnh th́ gốc lưỡi cứng, ăn vào th́ nôn, đau vùng vị quản, bụng đầy, hay ợ hơi; sau khi đại tiện hoặc trung tiện th́ cảm thấy dễ chịu như bệnh giảm bớt, thân thể nặng nề. Những bệnh do tỳ sinh ra gồm: đau gốc lưỡi, thân thể không thể lay động, ăn không xuống, phiền ở tim, vùng dưới tim co cấp đau, tiêu lỏng, hà tích, tiêu chảy, bí tiểu, vàng da, không nằm được, cố đứng th́ mặt trong đùi gối sưng lạnh, ngón chân cái không dùng được.

Phép trị vẫn là: thực th́ tả, hư th́ bổ, nhiệt th́ châm nhanh, hàn th́ lưu kim, hăm hạ th́ cứu, không hư không thực th́ lấy huyệt của kinh mà trị. Mạch thực th́ thốn khẩu lớn gấp ba lần nhân nghênh, mạch hư th́ thốn khẩu lại nhỏ hơn nhân nghênh.

Tâm thủ thiếu âm chi mạch

Phần Hán Việt

Tâm thủ thiếu âm chi mạch, khởi ư tâm trung, xuất thuộc tâm hệ, hạ cách lạc tiểu trường; kỳ chi giả, ṭng tâm hệ thượng hiệp yết, hệ mục hệ; kỳ trực giả, phục ṭng tâm hệ khước thượng phế, hạ xuất dịch hạ, hạ tuần nhu nội hậu liêm, hành thái âm, tâm chủ chi hậu, hạ trửu nội, tuần tư nội hậu liêm, để chưởng hậu nhuệ cốt chi đoan, nhập chưởng nội hậu liêm, tuần tiểu chỉ chi nội xuất kỳ đoan.

Thị động tắc bệnh ế can, tâm thống, khát dục ẩm, thị vi tư quyết. Thị chủ tâm sở sinh bệnh giả: hoàng hiếp thống, nhu tư nội hậu liêm thống quyết, chưởng trung nhiệt thống. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả thốn khẩu đại tái ư nhân nghênh, hư giả thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dă.

Phần giải thích

Mạch kinh Tâm thủ thiếu âm bắt đầu từ trong tim, đi ra thuộc hệ của tim, xuống qua cơ hoành để lạc với tiểu trường; một nhánh từ hệ tim đi lên kẹp hai bên họng, liên hệ với hệ mắt; nhánh thẳng lại từ hệ tim lui lên phổi, rồi đi xuống ra dưới nách, theo bờ sau trong cánh tay, đi sau kinh Phế thái âm và kinh Tâm bào, xuống khuỷu tay, theo bờ sau trong cẳng tay, tới đầu xương nhọn phía sau bàn tay, vào bờ sau trong ḷng bàn tay, rồi theo mặt trong ngón út ra đầu ngón.

Khi kinh này phát bệnh th́ họng khô, tim đau, khát muốn uống nước, gọi là tư quyết ở tay. Những bệnh do tâm sinh ra gồm đau vùng hiếp, đau và lạnh dọc bờ sau trong cánh tay, ḷng bàn tay nóng đau. Phép trị như trên. Mạch thực th́ thốn khẩu lớn gấp hai lần nhân nghênh, mạch hư th́ thốn khẩu nhỏ hơn nhân nghênh.

Tiểu trường thủ thái dương chi mạch

Phần Hán Việt

Tiểu trường thủ thái dương chi mạch, khởi ư tiểu chỉ chi đoan, tuần thủ ngoại trắc thượng uyển, xuất khỏa trung, trực thượng tuần tư cốt hạ liêm, xuất trửu nội trắc lưỡng cân chi gian, thượng tuần nhu ngoại hậu liêm, xuất kiên giải, nhiễu kiên giáp, giao kiên thượng, nhập khuyết bồn lạc tâm, tuần yết hạ cách, để vị thuộc tiểu trường; kỳ chi giả, ṭng khuyết bồn tuần cảnh thượng hiệp, chí mục nhuệ tí, khước nhập nhĩ trung; kỳ chi giả, biệt hiệp thượng hành để tỷ, chí mục nội tư, tà lạc ư quyền.

Thị động tắc bệnh ế thống, hàm thũng, bất khả dĩ cố, kiên tự bạt, nhu tự chiết. Thị chủ dịch sở sinh bệnh giả, nhĩ lung, mục hoàng, hiệp thũng, cảnh hàm kiên nhu trửu tư ngoại hậu liêm thống. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại tái bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dă.

Phần giải thích

Mạch kinh Tiểu trường thủ thái dương bắt đầu từ đầu ngón út, đi dọc mé ngoài bàn tay lên cổ tay, ra giữa mỏm xương cổ tay, đi thẳng lên bờ dưới xương cẳng tay, ra giữa hai gân phía trong khuỷu tay, lên theo bờ sau ngoài cánh tay, ra khớp vai, ṿng quanh xương bả vai, giao ở vai, vào hơm trên đ̣n, lạc với tim, theo họng xuống cơ hoành, đến dạ dày và thuộc tiểu trường. Một nhánh từ hơm trên đ̣n theo cổ lên má, đến khóe mắt ngoài rồi ṿng vào tai; một nhánh khác tách từ má lên g̣ má đến mũi, tới khóe mắt trong, chếch nối ra xương g̣ má.

Khi kinh này phát bệnh th́ đau họng, sưng hàm, không quay đầu được, vai như bị nhổ bật ra, cánh tay như găy. Những bệnh do phần tân dịch của kinh này chủ ra gồm: điếc tai, mắt vàng, má sưng, đau vùng cổ, hàm, vai, cánh tay, khuỷu tay và mặt sau ngoài cánh tay. Phép trị như trên. Mạch thực th́ nhân nghênh lớn gấp hai lần thốn khẩu, mạch hư th́ nhân nghênh nhỏ hơn thốn khẩu.

Bàng quang túc thái dương chi mạch

Phần Hán Việt

Bàng quang túc thái dương chi mạch, khởi ư mục nội tư, thượng ngạch giao điên; kỳ chi giả, ṭng điên chí nhĩ thượng giác; kỳ trực giả, ṭng điên nhập lạc năo, hoàn xuất biệt hạ hạng, tuần kiên bác nội, hiệp tích để yêu trung, nhập tuần lữ, lạc thận thuộc bàng quang; kỳ chi giả, ṭng yêu trung hạ hiệp tích quán đồn, nhập khoát trung; kỳ chi giả, ṭng bác nội tả hữu, biệt hạ quán giáp, hiệp tích nội, quá bễ xu, tuần bễ ngoại ṭng hậu liêm hạ hợp khoát trung, dĩ hạ quán đoan nội, xuất ngoại khỏa chi hậu, tuần kinh cốt, chí tiểu chỉ ngoại trắc.

Thị động tắc bệnh xung đầu thống, mục tự thoát, hạng như bạt, tích thống, yêu tự chiết, bễ bất khả dĩ khúc, khoát như kết, đoan như liệt, thị vi khỏa quyết. Thị chủ cân sở sinh bệnh giả: trĩ, ngược, cuồng, điên tật, đầu lô hạng thống, mục hoàng, lệ xuất, cừu nục, hạng, bối, yêu, khào, khoát, đoan, cước giai thống, tiểu chỉ bất dụng. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại tái bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dă.

Phần giải thích

Mạch kinh Bàng quang túc thái dương bắt đầu từ khóe mắt trong, lên trán, giao ở đỉnh đầu; một nhánh từ đỉnh đầu đến góc trên tai; nhánh thẳng từ đỉnh đầu đi vào liên lạc với năo, rồi đi ra, xuống gáy, men theo mặt trong xương bả vai, kẹp hai bên cột sống xuống thắt lưng, vào cơ lữ, lạc với thận và thuộc bàng quang; một nhánh từ thắt lưng đi xuống kẹp cột sống, xuyên mông vào giữa khoeo chân; một nhánh khác từ vùng vai đi xuống xuyên xương bả vai, kẹp cột sống, qua khớp háng, theo mặt sau ngoài đùi xuống hợp ở khoeo, rồi xuống xuyên mặt trong bắp chân, ra sau mắt cá ngoài, theo xương kinh cốt đến mé ngoài ngón chân út.

Khi kinh này phát bệnh th́ đầu đau dữ dội, mắt như muốn ḷi ra, cổ gáy như bị nhổ bật, cột sống đau, lưng như găy, đùi không co duỗi được, khoeo như co thắt, bắp chân như nứt rách, đó gọi là khỏa quyết. Những bệnh do kinh này chủ về gân mà sinh ra gồm: trĩ, sốt rét, cuồng, điên, đau đầu, đau gáy, mắt vàng, chảy nước mắt, chảy nước mũi hoặc máu mũi, đau vùng cổ, lưng, thắt lưng, xương cùng, khoeo, bắp chân, bàn chân, ngón út không dùng được.

Phép trị như trên. Mạch thực th́ nhân nghênh lớn gấp hai lần thốn khẩu, mạch hư th́ nhân nghênh nhỏ hơn thốn khẩu.

Thận túc thiếu âm chi mạch

Phần Hán Việt

Thận túc thiếu âm chi mạch, khởi ư tiểu chỉ chi hạ, tà tẩu túc tâm, xuất ư nhiên cốc chi hạ, tuần nội khỏa chi hậu, biệt nhập cân trung, dĩ thượng đoan nội, xuất khoát nội liêm, thượng cổ nội hậu liêm, quán tích thuộc thận lạc bàng quang; kỳ trực giả, ṭng thận thượng quán can cách, nhập phế trung, tuần hầu lung, hiệp thiệt bản; kỳ chi giả, ṭng phế xuất lạc tâm, chú hung trung.

Thị động tắc bệnh cơ bất dục thực, diện như tất sài, khái thóa tắc hữu huyết, hát hát nhi suyễn, tọa nhi dục khởi, huyền huyền mục như vô sở kiến, tâm như huyền nhược cơ trạng, khí bất túc tắc thiện khủng, tâm dịch dịch như nhân tương bộ chi, thị vi cốt quyết. Thị chủ thận sở sinh bệnh giả: khẩu nhiệt thiệt can, yết thũng thượng khí, ế can cập thống, phiền tâm tâm thống, hoàng đản trường tích, tích cổ nội hậu liêm thống, nuy quyết, thị ngọa, túc hạ nhiệt nhi thống. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Cứu tắc cường thực sinh nhục, hoăn đới phi phát, đại trượng trọng lư nhi bộ. Thịnh giả thốn khẩu đại tái bội ư nhân nghênh, hư giả thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dă.

Phần giải thích

Mạch kinh Thận túc thiếu âm bắt đầu dưới ngón chân út, đi chéo vào ḷng bàn chân, ra dưới huyệt Nhiên cốc, men sau mắt cá trong, tách vào gót chân, lên mặt trong cẳng chân, ra bờ trong khoeo, lên mặt sau trong đùi, xuyên cột sống, thuộc thận và lạc bàng quang; nhánh thẳng từ thận đi lên xuyên gan và cơ hoành, vào phổi, theo họng, kẹp gốc lưỡi; một nhánh từ phổi đi ra lạc với tim, đổ vào giữa ngực.

Khi kinh này phát bệnh th́ đói mà không muốn ăn, mặt đen như than cháy, ho khạc có máu, thở kḥ khè, đang ngồi lại muốn đứng dậy, mắt hoa như không nh́n thấy ǵ, trong tim trống rỗng như treo lơ lửng, giống trạng thái đói; khí hư th́ hay sợ hăi, tim hồi hộp như có người sắp bắt ḿnh, đó gọi là cốt quyết.

Những bệnh do thận sinh ra gồm: miệng nóng lưỡi khô, họng sưng, khí nghịch đi lên, họng khô đau, phiền tâm đau tim, hoàng đản, đại tiện ra máu hoặc lỵ lâu ngày, đau dọc cột sống và mặt sau trong đùi, chân tay mềm yếu quyết lạnh, thích nằm, gan bàn chân nóng đau.

Phép trị cũng như trên. Riêng khi dùng cứu, người bệnh nên ăn nhiều để sinh cơ nhục, nới lỏng đai áo, xơa tóc, chống gậy lớn, đi giày nặng mà đi để giúp nâng đỡ phần hư suy. Mạch thực th́ thốn khẩu lớn gấp hai lần nhân nghênh, mạch hư th́ thốn khẩu nhỏ hơn nhân nghênh.

Tâm chủ thủ quyết âm tâm bào lạc chi mạch

Phần Hán Việt

Tâm chủ thủ quyết âm tâm bào lạc chi mạch, khởi ư hung trung, xuất thuộc tâm bào lạc, hạ cách, lịch lạc tam tiêu; kỳ chi giả, tuần hung xuất hiếp, hạ dịch tam thốn, thượng để dịch, hạ tuần nhu nội, hành thái âm, thiếu âm chi gian, nhập trửu trung, hạ tư hành lưỡng cân chi gian, nhập chưởng trung, tuần trung chỉ xuất kỳ đoan; kỳ chi giả, biệt chưởng trung, tuần tiểu chỉ thứ chỉ xuất kỳ đoan.

Thị động tắc bệnh thủ tâm nhiệt, tư trửu luyên cấp, dịch thũng, thậm tắc hung hiếp chi măn, tâm trung đạm đạm đại động, diện xích mục hoàng, hỉ tiếu bất hưu. Thị chủ mạch sở sinh bệnh giả, phiền tâm tâm thống, chưởng trung nhiệt. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả thốn khẩu đại nhất bội ư nhân nghênh, hư giả thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dă.

Phần giải thích

Mạch kinh Tâm bào thủ quyết âm bắt đầu từ giữa ngực, đi ra thuộc tâm bào, xuống qua cơ hoành, lần lượt lạc với tam tiêu; một nhánh theo ngực ra sườn, xuống dưới nách ba tấc rồi đi lên tới nách, xuống theo mặt trong cánh tay, đi giữa kinh Phế thái âm và kinh Tâm thiếu âm, vào giữa khuỷu tay, xuống cẳng tay giữa hai gân, vào giữa ḷng bàn tay, theo ngón giữa ra đầu ngón; một nhánh khác tách từ giữa ḷng bàn tay, theo ngón áp út ra đầu ngón.

Khi kinh này phát bệnh th́ ḷng bàn tay nóng, cánh tay khuỷu tay co quắp, nách sưng; nặng th́ ngực sườn đầy tức, trong tim hồi hộp rung động mạnh, mặt đỏ, mắt vàng, cười không thôi. Những bệnh do kinh này chủ về mạch mà sinh ra gồm: phiền tâm, đau tim, ḷng bàn tay nóng. Phép trị giống như trên. Mạch thực th́ thốn khẩu lớn gấp một lần nhân nghênh, mạch hư th́ thốn khẩu nhỏ hơn nhân nghênh.

Tam tiêu thủ thiếu dương chi mạch

Phần Hán Việt

Tam tiêu thủ thiếu dương chi mạch, khởi ư tiểu chỉ thứ chỉ chi đoan, thượng xuất lưỡng chỉ chi gian, tuần thủ biểu uyển, xuất tư ngoại lưỡng cốt chi gian, thượng quán trửu, tuần nhu ngoại thượng kiên, nhi giao xuất túc thiếu dương chi hậu, nhập khuyết bồn, bố đản trung, tán lạc tâm bào, hạ cách, tuần thuộc tam tiêu; kỳ chi giả, ṭng đản trung thượng xuất khuyết bồn, thượng hạng, hệ nhĩ hậu trực thượng, xuất nhĩ thượng giác, dĩ khuất hạ hiệp chí; kỳ chi giả, ṭng nhĩ hậu nhập nhĩ trung, xuất tẩu nhĩ tiền, quá khách chủ nhân tiền, giao hiệp, chí mục nhuệ tí.

Thị động tắc bệnh nhĩ lung, hồn hồn đồn đồn, ế thũng hầu tư. Thị chủ khí sở sinh bệnh giả, hăn xuất, mục nhuệ tư thống, hiệp thống, nhĩ hậu, kiên, nhu, trửu, tư ngoại giai thống, tiểu chỉ thứ chỉ bất dụng. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại nhất bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dă.

Phần giải thích

Mạch Tam tiêu thuộc tay thiếu dương, bắt đầu từ đầu ngón áp út, đi lên ra giữa hai ngón, theo mu bàn tay lên cổ tay, đi ra giữa hai xương cẳng tay phía ngoài, lên xuyên qua khuỷu tay, theo mặt ngoài cánh tay lên vai, rồi giao ra phía sau kinh Đởm túc thiếu dương, đi vào hố khuyết bồn, phân bố ở vùng đản trung, tản lạc vào tâm bào, xuống cơ hoành, men theo mà thuộc về tam tiêu. Một nhánh từ đản trung đi lên ra khuyết bồn, lên cổ, buộc ở sau tai rồi đi thẳng lên, ra góc trên tai, lại ṿng xuống má đến vùng mặt; một nhánh khác từ sau tai vào trong tai, đi ra phía trước tai, qua trước huyệt Khách chủ nhân, giao ở má, đến khóe mắt ngoài.

Khi kinh này phát động thành bệnh th́ tai điếc, đầu óc ù ù mờ mịt, họng sưng, yết hầu bế tắc đau. Những bệnh do kinh này chủ về khí mà sinh ra gồm: tự ra mồ hôi, đau khóe mắt ngoài, đau má, sau tai, vai, cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay mặt ngoài đều đau, ngón áp út không dùng được.

Phép trị là: bệnh thực th́ tả, bệnh hư th́ bổ, bệnh nhiệt th́ châm nhanh, bệnh hàn th́ lưu kim, khí hăm hạ th́ cứu, không thực không hư th́ lấy huyệt của bản kinh để điều trị. Nếu mạch thịnh th́ mạch nhân nghênh lớn gấp một lần thốn khẩu; nếu mạch hư th́ nhân nghênh lại nhỏ hơn thốn khẩu.

Đởm túc thiếu dương chi mạch

Phần Hán Việt

Đởm túc thiếu dương chi mạch, khởi ư mục nhuệ tí, thượng để đầu giác, hạ nhĩ hậu, tuần cảnh hành thủ thiếu dương chi tiền, chí kiên thượng, khước giao xuất thủ thiếu dương chi hậu, nhập khuyết bồn; kỳ chi giả, ṭng nhĩ hậu nhập nhĩ trung, xuất tẩu nhĩ tiền, chí mục nhuệ tí hậu; kỳ chi giả, biệt nhuệ tí, hạ đại nghênh, hợp ư thủ thiếu dương, để ư phiền, hạ gia hiệp xa, hạ cảnh hợp khuyết bồn, dĩ hạ hung trung, quán cách lạc can thuộc đởm, tuần hiếp lư, xuất khí nhai, nhiễu mao tế, hoành nhập bễ yếm trung; kỳ trực giả, ṭng khuyết bồn hạ dịch, tuần hung quá quư hiếp, hạ hợp bễ yếm trung, dĩ hạ tuần bễ dương, xuất tất ngoại liêm, hạ ngoại phụ cốt chi tiền, trực hạ để tuyệt cốt chi đoan, hạ xuất ngoại khỏa chi tiền, tuần túc phu thượng, nhập tiểu chỉ thứ chỉ chi gian; kỳ chi giả, biệt phu thượng, nhập đại chỉ chi gian, tuần đại chỉ kỳ cốt nội xuất kỳ đoan, hoàn quán trảo giáp, xuất tam mao.

Thị động tắc bệnh khẩu khổ, thiện thái tức, tâm hiếp thống bất năng chuyển trắc, thậm tắc diện vi hữu trần, thể vô cao trạch, túc ngoại phản nhiệt, thị vi dương quyết. Thị chủ cốt sở sinh bệnh giả, đầu thống, hàm thống, mục nhuệ tí thống, khuyết bồn trung thũng thống, dịch hạ thũng, mă đao hiệp anh, hăn xuất chấn hàn, ngược, hung hiếp lặc bễ tất ngoại chí ống tuyệt cốt ngoại khỏa tiền cập chư tiết giai thống, tiểu chỉ thứ chỉ bất dụng. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại nhất bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dă.

Phần giải thích

Mạch Đởm thuộc chân thiếu dương, bắt đầu từ khóe mắt ngoài, đi lên tới góc đầu, xuống sau tai, theo cổ mà đi phía trước kinh Tam tiêu thủ thiếu dương, đến trên vai, rồi ṿng giao ra phía sau kinh Tam tiêu mà vào khuyết bồn. Một nhánh từ sau tai vào trong tai, đi ra phía trước tai, đến phía sau khóe mắt ngoài. Một nhánh khác tách từ khóe mắt ngoài, xuống huyệt Đại nghênh, hợp với kinh Tam tiêu, đến vùng trán bên, xuống qua má, xuống cổ, hợp ở khuyết bồn, rồi đi xuống ngực, xuyên qua cơ hoành, lạc với can, thuộc về đởm, men theo trong sườn, ra vùng khí nhai, ṿng quanh bờ lông mu, đi ngang vào giữa khớp háng. Nhánh thẳng từ khuyết bồn đi xuống nách, theo ngực qua sườn cụt, xuống hợp ở giữa khớp háng, rồi đi xuống mặt ngoài đùi, ra bờ ngoài đầu gối, xuống phía trước xương phụ ngoài, đi thẳng xuống đầu xương tuyệt cốt, xuống ra phía trước mắt cá ngoài, theo trên mu bàn chân, vào giữa ngón tư và ngón út chân. Một nhánh khác tách từ mu chân, vào giữa ngón chân cái, men theo phía trong xương ngón chân cái ra đầu ngón, rồi ṿng qua móng chân, ra chỗ “tam mao”.

Khi kinh này phát động thành bệnh th́ miệng đắng, hay thở dài, vùng tim và sườn đau không xoay trở được; nặng th́ mặt hơi như phủ bụi, thân thể không có nhuận sắc, mặt ngoài chân lại phát nóng, gọi là dương quyết.

Những bệnh do kinh này chủ về cốt mà sinh ra gồm: đau đầu, đau góc hàm, đau khóe mắt ngoài, trong khuyết bồn sưng đau, dưới nách sưng, hạch mă đao, anh lựu, ra mồ hôi, rét run, sốt rét, đau ngực sườn, xương sườn, đùi, đầu gối, mặt ngoài cẳng chân, vùng tuyệt cốt, trước mắt cá ngoài và các khớp đều đau, ngón áp út chân không dùng được.

Phép trị là: thực th́ tả, hư th́ bổ, nhiệt th́ châm nhanh, hàn th́ lưu kim, hăm hạ th́ cứu, không thực không hư th́ lấy huyệt của bản kinh để trị. Mạch thịnh th́ nhân nghênh lớn gấp một lần thốn khẩu; mạch hư th́ nhân nghênh lại nhỏ hơn thốn khẩu.

Can túc quyết âm chi mạch

Phần Hán Việt

Can túc quyết âm chi mạch, khởi ư đại chỉ tùng mao chi tế, thượng tuần túc phu thượng liêm, khứ nội khỏa nhất thốn, thượng khỏa bát thốn, giao xuất thái âm chi hậu, thượng khoát nội liêm, tuần cổ âm nhập mao trung, quá âm khí, để tiểu phúc, hiệp vị thuộc can lạc đởm, thượng quán cách, bố hiếp lặc, tuần hầu lung chi hậu, thượng nhập hàng tang, liên mục hệ, thượng xuất ngạch, dữ đốc mạch hội ư điên; kỳ chi giả, ṭng mục hệ hạ hiệp lư, hoàn thần nội; kỳ chi giả, phục ṭng can biệt quán cách, thượng chú phế.

Thị động tắc bệnh yêu thống bất khả dĩ phủ ngưỡng, trượng phu hoàng sán, phụ nhân thiếu phúc thũng, thậm tắc ế can, diện trần thoát sắc. Thị chủ can sở sinh bệnh giả, hung măn, ẩu nghịch, tôn tiết, hồ sán, di niệu, bế lung. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hăm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả thốn khẩu đại nhất bội ư nhân nghênh, hư giả thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dă.

Phần giải thích

Mạch Can thuộc chân quyết âm, bắt đầu từ chỗ lông mọc ở ngón chân cái, đi lên theo mép trên của mu bàn chân, cách mắt cá trong một thốn, lên trên mắt cá tám thốn th́ giao ra phía sau kinh Tỳ thái âm, lên bờ trong khoeo, theo mặt trong đùi vào vùng lông mu, đi qua bộ phận sinh dục, đến tiểu phúc, kẹp lấy vị, thuộc về can, lạc với đởm, đi lên xuyên qua cơ hoành, phân bố ở sườn ngực, theo phía sau họng mà lên vào hầu tỵ, nối với hệ mắt, đi lên ra trán, cùng Đốc mạch hội ở đỉnh đầu. Một nhánh từ hệ mắt đi xuống trong má, ṿng quanh mặt trong môi; một nhánh khác lại từ can tách ra, xuyên qua cơ hoành, đi lên đổ vào phế.

Khi kinh này phát động thành bệnh th́ đau lưng không thể cúi ngửa, nam giới bị hoàng sán, nữ giới tiểu phúc sưng đau; nặng th́ họng khô, mặt như phủ bụi, sắc mặt mất nhuận.

Những bệnh do can sinh ra gồm: ngực đầy, nôn nghịch, ăn vào sáng sớm chiều tiết ra nguyên thức, hồ sán, đái dầm, bí tiểu, tiểu khó. Phép trị là: thực th́ tả, hư th́ bổ, nhiệt th́ châm nhanh, hàn th́ lưu kim, hăm hạ th́ cứu, không thực không hư th́ lấy huyệt của bản kinh để trị. Mạch thịnh th́ thốn khẩu lớn gấp một lần nhân nghênh; mạch hư th́ thốn khẩu lại nhỏ hơn nhân nghênh.

(Linh khu. Kinh mạch)

Chú thích

Lạc
Phần Hán Việt: Lạc: liên lạc, vơng lộ chi ư, kinh mạch phàm dữ bản kinh tương biểu lư chi tạng phủ tương liên giả khiếu lạc.

Phần giải thích: “Lạc” có nghĩa là liên lạc, mạng lưới. Kinh mạch nào liên hệ với tạng phủ biểu lư của bản kinh th́ gọi là lạc.

Tuần
Phần Hán Việt: Tuần: duyên trước tuần tẩu chi ư.

Phần giải thích: “Tuần” nghĩa là men theo, đi dọc theo đường đi ấy.

Thuộc
Phần Hán Việt: Thuộc: bản thuộc, thuộc ư chi ư, phàm thuộc ư, liên tiếp, bản kinh chi tạng phủ khiếu thuộc. Như thủ thái âm kinh thuộc ư phế, lạc ư đại trường, nhi thủ dương minh kinh thuộc ư đại trường, lạc ư phế.

Phần giải thích: “Thuộc” nghĩa là trực thuộc, thuộc về. Tạng phủ nào trực tiếp thuộc về, liên tiếp với bản kinh th́ gọi là “thuộc”. Ví dụ kinh Phế thủ thái âm thuộc Phế, lạc Đại trường; c̣n kinh Đại trường thủ dương minh thuộc Đại trường, lạc Phế.

Phế hệ
Phần Hán Việt: Phế hệ: chỉ dữ phế tương liên chi khí quản, hầu lung đẳng tổ chức.

Phần giải thích: “Phế hệ” chỉ khí quản, họng và các tổ chức có liên hệ với phổi.
5. Nhu

Phần Hán Việt: Nhu: chỉ thượng tư kiên chí trửu xứ.

Phần giải thích: “Nhu” chỉ vùng cánh tay trên, từ vai đến khuỷu tay.

Liêm
Phần Hán Việt: Liêm: biên duyên, biên trắc.

Phần giải thích: “Liêm” nghĩa là bờ, mép, cạnh bên.

Thị động tắc bệnh, sở sinh bệnh
Phần Hán Việt: Thị động tắc bệnh, sở sinh bệnh: lịch đại khán pháp thậm đa, các thuyết bất nhất. Tung quan Nội kinh nguyên văn sở luận các kinh thị động bệnh, sở sinh bệnh chi chứng hậu biểu hiện, đại thể chỉ duyên kinh mạch tuần hành sở quá chi bệnh chứng, cập kỳ do thử nhi ảnh hưởng đáo cai kinh sở thuộc tạng phủ chi bệnh chứng, tức do kinh truyền chí tạng phủ giả, khiếu thị động bệnh; nhi tạng phủ bản thân sở phát chi bệnh chứng, cập kỳ do thử nhi ảnh hưởng đáo cai tạng phủ sở thuộc kinh mạch tuần hành bộ vị chi bệnh chứng, tức do tạng phủ truyền chí kinh giả, khiếu sở sinh bệnh.

Phần giải thích: “Thị động tắc bệnh” và “sở sinh bệnh” từ xưa có rất nhiều cách giải thích. Xét toàn bộ Nội kinh th́ đại thể hiểu rằng: những bệnh phát sinh dọc theo đường tuần hành của kinh mạch, rồi từ kinh ảnh hưởng đến tạng phủ thuộc kinh ấy, gọi là “thị động bệnh”; c̣n những bệnh phát ra từ chính tạng phủ rồi ảnh hưởng đến vùng kinh mạch mà tạng phủ ấy quản thuộc, gọi là “sở sinh bệnh”.

Mậu
Phần Hán Việt: Mậu: thị vật mô hồ bất minh, thần thức hôn loạn bất thanh.

Phần giải thích: “Mậu” là nh́n sự vật mờ tối không rơ, tinh thần ư thức mê loạn không sáng suốt.

Khát
Phần Hán Việt: Khát: cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương tác “hát”. Hát, h́nh dung hô hấp suyễn xúc chi thanh âm.

Phần giải thích: Chữ “khát” theo các tài liệu liên quan đáng ra phải chép là “hát”. “Hát” là tiếng thở gấp, thở kḥ khè.

Hàn
Phần Hán Việt: Hàn: văn nghĩa bất thông, cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn nghi san.

Phần giải thích: Chữ “hàn” ở đây xét theo văn nghĩa không thông, theo các tài liệu nên lược bỏ.

Trung phong
Phần Hán Việt: Trung phong: văn nghĩa bất thông, cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn nghi san.

Phần giải thích: Cụm “trung phong” ở đây văn nghĩa không thông, theo tài liệu nên lược bỏ.

Khiếm
Phần Hán Việt: Khiếm: tại Nội kinh hữu ha khiếm, khuyết phạp đẳng nghĩa, thử xứ chỉ hậu giả, tức tiểu tiện lượng thiểu.

Phần giải thích: “Khiếm” trong Nội kinh có nghĩa là ngáp hoặc thiếu ít; ở đây dùng theo nghĩa sau, tức lượng nước tiểu ít.

Đại chỉ thứ chỉ
Phần Hán Việt: Đại chỉ, đại mẫu chỉ; thứ chỉ, thực chỉ.

Phần giải thích: “Đại chỉ” là ngón cái; “thứ chỉ” là ngón trỏ.

Lưỡng cốt chi gian
Phần Hán Việt: Lưỡng cốt chi gian: đệ nhất, đệ nhị chưởng cốt chi gian, tục xưng hổ khẩu.

Phần giải thích: “Giữa hai xương” là khoảng giữa xương bàn tay thứ nhất và thứ hai, thường gọi là hổ khẩu.

Lưỡng cân chi trung
Phần Hán Việt: Lưỡng cân chi trung: uyển cốt nhiêu trắc lưỡng cân chi gian chi ao hăm trung.

Phần giải thích: “Giữa hai gân” là chỗ lơm giữa hai gân phía quay của cổ tay.

Khỏa cốt
Phần Hán Việt: Khỏa cốt: kiên giáp cốt dữ tỏa cốt liên tiếp chi xứ.

Phần giải thích: “Khỏa cốt” là chỗ xương bả vai tiếp nối với xương đ̣n.

Trụ cốt chi hội thượng
Phần Hán Việt: Trụ cốt, chỉ cảnh trùy cốt; hội thượng, chỉ đại chùy huyệt, nhân chư dương mạch giai hội ư thử, cố danh.

Phần giải thích: “Trụ cốt” là xương đốt sống cổ; “hội thượng” chỉ huyệt Đại chùy, nơi các dương mạch hội tụ nên có tên như vậy.

Thị chủ tân dịch sở sinh bệnh
Phần Hán Việt: Thị chủ tân dịch sở sinh bệnh: phế chủ thông điều thủy đạo, phu bố tân dịch, dữ đại trường tương biểu lư, cố đại trường chi sở sinh bệnh dữ tân dịch hữu quan.

Phần giải thích: “Là những bệnh do tân dịch sinh ra” v́ Phế chủ thông điều thủy đạo, phân bố tân dịch, lại biểu lư với Đại trường, nên bệnh của Đại trường có liên hệ với tân dịch.

Cừu nục
Phần Hán Việt: Cừu, tỷ tắc; nục, tỷ xuất huyết.

Phần giải thích: “Cừu” là nghẹt mũi; “nục” là chảy máu mũi.

Hàn lật bất phục
Phần Hán Việt: Hàn lật, hàn lănh chiến đẩu; bất phục, cảm giác bất đáo ôn noăn.

Phần giải thích: “Hàn lật” là lạnh run; “bất phục” là không cảm nhận được hơi ấm.

Chi
Phần Hán Việt: Chi: cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn, đương san.

Phần giải thích: Chữ “chi” theo các tài liệu th́ nên lược bỏ.

Át trung
Phần Hán Việt: Át trung: tỷ lương; trung, tỷ lương thượng đoan chi ao hăm xứ.

Phần giải thích: “Át trung” là sống mũi; “trung” ở đây là chỗ lơm phía trên đầu sống mũi.

Khí nhai
Phần Hán Việt: Khí nhai: giá lư chỉ phúc cổ câu hạ phương chi động mạch bác động xứ, hựu khiếu khí xung.

Phần giải thích: “Khí nhai” ở đây chỉ nơi động mạch đập phía dưới vùng bẹn, c̣n gọi là khí xung.

Bễ quan
Phần Hán Việt: Bễ quan: đại thoái tiền ngoại trắc, dữ hội âm b́nh hành chi xứ.

Phần giải thích: “Bễ quan” là chỗ mặt trước ngoài đùi, ngang với vùng hội âm.

Hạ
Phần Hán Việt: Hạ: cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn gia, “hạ” tự hậu diện nghi gia nhất “nhập” tự.

Phần giải thích: Theo các tài liệu, sau chữ “hạ” nên thêm một chữ “nhập”.

Liêm
Phần Hán Việt: Liêm: cứ hữu văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “tất”.

Phần giải thích: Chữ “liêm” theo tài liệu nên đổi thành chữ “tất”.

Thân
Phần Hán Việt: Thân: cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “thân”.

Phần giải thích: Chữ này theo tài liệu nguyên văn nên đổi thành “thân”, nghĩa là duỗi người.

Tâm dục động
Phần Hán Việt: Tâm dục động: cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “tâm động”, “dục” tự đương dữ hạ văn liên cú.

Phần giải thích: Cụm “tâm dục động” theo tài liệu nên sửa thành “tâm động”; chữ “dục” phải nối xuống câu dưới.

Can quyết
Phần Hán Việt: Can quyết: can, hĩnh cốt; hĩnh bộ chi khí thượng nghịch, xưng can quyết.

Phần giải thích: “Can” là xương ống chân; khí ở vùng cẳng chân nghịch lên trên th́ gọi là “can quyết”.

Thị chủ huyết sở sinh bệnh giả
Phần Hán Việt: Thị chủ huyết sở sinh bệnh giả: vị vi thủy cốc chi hải, doanh huyết hóa sinh chi nguyên, đa khí đa huyết chi kinh, cố vị chi sở sinh bệnh dữ huyết hữu quan.
Phần giải thích: “Là những bệnh do huyết sinh ra” v́ Vị là bể của thủy cốc, là nguồn hóa sinh doanh huyết, lại là kinh nhiều khí nhiều huyết, nên bệnh của Vị có quan hệ mật thiết với huyết.

Cuồng ngược ôn dâm: Cuồng, cuồng bệnh, biểu hiện lời nói hành vi cuồng loạn thất thường; ngược, ở đây chỉ bệnh t́nh nghiêm trọng, nghĩa là tàn ngược dữ dội, không phải chỉ bệnh sốt rét; ôn dâm, ôn bệnh nặng. Giải thích: “Cuồng” là trạng thái điên cuồng, lời nói hành vi rối loạn; “ngược” ở đây không phải bệnh ngược mà chỉ mức độ bệnh rất dữ; “ôn dâm” là ôn bệnh nặng, tà nhiệt lan tràn.
Bạch nhục tế: Hựu xưng xích bạch nhục tế, tức thủ túc chưởng chi biên duyên, thị thủ túc chưởng tâm dữ chưởng bối chi phân giới xứ, chưởng bối vi xích nhục, chưởng tâm bạch nhục. Giải thích: “Bạch nhục tế” c̣n gọi là ranh giới đỏ trắng, tức mép bàn tay bàn chân, là chỗ phân giới giữa ḷng bàn tay chân và mu bàn tay chân; mu tay chân thuộc phần thịt đỏ, ḷng bàn tay chân thuộc phần thịt trắng.
Hạch cốt: Túc đại chỉ bản tiết hậu nội trắc đột xuất chi cao cốt, h́nh viên như hạch cố danh. Giải thích: “Hạch cốt” là xương nhô cao ở phía sau trong đốt gốc ngón chân cái, h́nh tṛn như hạt nên gọi là hạch cốt.
Đoản: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “thụy”. Thụy, ph́ trường, tục xưng tiểu thoái. Giải thích: Chữ “đoản” theo tài liệu nên sửa thành “thụy”; “thụy” tức bắp chân, dân gian gọi là cẳng chân nhỏ.
Thượng: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn “thượng” tự hậu diện đương gia nhất “tuần” tự. Giải thích: Theo tài liệu liên quan, sau chữ “thượng” nên thêm một chữ “tuần”.
Hậu dữ khí: Hậu, đại tiện; khí, thỉ khí, tục xưng phóng thí. Giải thích: “Hậu” là đại tiện; “khí” là trung tiện, dân gian gọi là đánh hơi.
Đường, hà tiết: Đường, đại tiện hy nhuyễn như đường nê; hà tiết, lỵ tật. Giải thích: “Đường” là phân lỏng mềm như bùn nhăo; “hà tiết” là bệnh lỵ.
Tâm hệ: Chỉ tâm dữ kỳ tha tạng khí tương liên hệ chi mạch lạc. Giải thích: “Tâm hệ” là hệ mạch lạc nối tim với các tạng khí khác.
Hạ: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương san. Giải thích: Chữ “hạ” theo tài liệu nên lược bỏ.
Hậu: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương san. Giải thích: Chữ “hậu” theo tài liệu nên lược bỏ.
Khỏa: Giá lư chỉ thủ uyển hậu phương xích trắc chi cao cốt. Giải thích: “Khỏa” ở đây chỉ mỏm xương cao phía sau cổ tay bên xương trụ.
Lưỡng cân: Lưỡng, cứ hữu văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “cốt”. Giải thích: Chữ “lưỡng” theo tài liệu nên đổi thành “cốt”.
Phiền: Nhăn khuông hạ phương, quyền cốt nội liên cập thượng nha sàng chi bộ vị. Giải thích: “Phiền” là vùng dưới hốc mắt, chỗ nối vào trong xương g̣ má và lợi răng trên.
Thị chủ dịch sở sinh bệnh giả: Tiểu trường chủ bí biệt thanh trọc, thủy cốc chi tinh khí thượng du ư tỳ, tao phách hạ tẩu đại trường, thủy dịch quy ư bàng quang, nhân thử tiểu trường chi sở sinh bệnh dữ thủy dịch hữu quan. Giải thích: “Là những bệnh do dịch sinh ra” v́ tiểu trường chủ phân biệt thanh trọc, tinh khí của thủy cốc được đưa lên tỳ, cặn bă xuống đại trường, thủy dịch về bàng quang, nên bệnh của tiểu trường có liên quan đến thủy dịch.
Lữ: Tích trụ lưỡng bàng chi cơ nhục. Giải thích: “Lữ” là các khối cơ nằm hai bên cột sống.
Bễ xu: Cổ cốt thượng đoan chi quan tiết, nhân bễ cốt khảm nhập, hữu chuyển xu chi tác dụng, cố danh. Giải thích: “Bễ xu” là khớp ở đầu trên xương đùi; v́ xương đùi khớp vào đó, có tác dụng như trục xoay nên gọi như vậy.
Ṭng: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương san. Giải thích: Chữ “ṭng” theo tài liệu nên lược bỏ.
Đoản: Tức “trường”. Giải thích: Chữ “đoản” ở đây tức là chữ “trường”. 49. Kinh cốt: Túc tiểu chỉ ngoại trắc bản tiết hậu cao đột chi bán viên cốt, hựu thị huyệt vị chi danh xưng. Giải thích: “Kinh cốt” là xương bán nguyệt nhô cao sau đốt gốc phía ngoài ngón chân út, đồng thời cũng là tên một huyệt.
Tiểu chỉ: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn thử hậu đương gia “chi đoan” nhị tự. Giải thích: Theo tài liệu, sau chữ “tiểu chỉ” nên thêm hai chữ “chi đoan”.
Khỏa quyết: Nhân bản kinh kinh khí ṭng khỏa bộ thượng nghịch nhi danh. Giải thích: “Khỏa quyết” là do kinh khí của kinh này nghịch từ vùng mắt cá đi ngược lên mà thành tên.
Thị chủ cân sở sinh bệnh giả: Thái dương thuộc thủy, thủy khuy trí sử cân thất nhu dưỡng, sở dĩ bàng quang chi sở sinh bệnh dữ cân hữu quan. Giải thích: “Là những bệnh do cân sinh ra” v́ Thái dương thuộc thủy, thủy hư th́ gân mất nuôi dưỡng, nên bệnh của Bàng quang có liên hệ với cân.
Khào: Vĩ để cốt. Giải thích: “Khào” là xương cùng cụt, tức vùng cuối xương sống.
Tà: Dữ “tà” tự tương thông. Giải thích: Chữ “tà” ở đây thông với chữ “tà” nghĩa là xiên chéo.
Nhiên cốc: Hựu danh “nhiên cốt”, huyệt danh, tại nội khỏa hạ tiền phương ao hăm xứ. Giải thích: “Nhiên cốc” c̣n gọi là “Nhiên cốt”, là tên huyệt ở chỗ lơm phía trước dưới mắt cá trong.
Mang: Thị vật bất minh. Giải thích: “Mang” là nh́n vật không rơ.
Cốt quyết: Thận chủ cốt, nhân bản kinh kinh khí thượng nghịch sở trí chi bệnh khiếu cốt quyết. Giải thích: “Cốt quyết” là bệnh do kinh khí của kinh này nghịch lên trên, mà thận lại chủ cốt, nên gọi là cốt quyết.
Chủ mạch sở sinh bệnh giả: Tâm chủ thân chi huyết mạch, nhi tâm bào lạc thị tâm chi ngoại vệ, đại tâm thụ tà nhi bệnh, nhân thử tâm bào lạc chi sở sinh bệnh dữ mạch hữu quan. Giải thích: “Là những bệnh do mạch sinh ra” v́ tim chủ huyết mạch toàn thân, c̣n tâm bào là lớp bảo vệ bên ngoài của tim, thay tim chịu tà mà phát bệnh, nên bệnh của tâm bào lạc có liên quan đến mạch.
Lạc: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “lạc”. Giải thích: Chữ “lạc” theo tài liệu nên sửa thành “lạc”.
Tuần: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “lịch”. Giải thích: Chữ “tuần” theo tài liệu nên sửa thành “lịch”.
Hệ: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “hiệp”. Giải thích: Chữ “hệ” theo tài liệu nên sửa thành “hiệp”.
Hồn hồn đồn đồn: Tự giác nhĩ nội hữu oanh oanh hưởng thanh, dĩ trí thính giác mô hồ bất thanh. Giải thích: “Hồn hồn đồn đồn” là tự cảm thấy trong tai có tiếng ù ù vang động, khiến sức nghe mơ hồ không rơ.
Thị chủ khí sở sinh bệnh giả: Tam tiêu thị thủy dịch vận hành chi thông đạo, nhi thủy dịch chi vận hành hữu lại ư khí hóa, thủy dịch bệnh biến tắc đa do khí hóa thất thường sở trí, cố sở sinh bệnh dữ khí hữu quan. Giải thích: “Là những bệnh do khí sinh ra” v́ Tam tiêu là đường vận hành của thủy dịch, mà sự vận hành ấy phải nhờ khí hóa; bệnh biến về thủy dịch phần nhiều do khí hóa rối loạn, nên bệnh của Tam tiêu có liên quan đến khí.
Bễ yếm: Tựu thị bễ xu. Giải thích: “Bễ yếm” chính là “bễ xu”.
Bễ dương: Đại thoái chi ngoại trắc. Giải thích: “Bễ dương” là mặt ngoài của đùi.
Tuyệt cốt: Ngoại khỏa trực thượng tam thốn hứa ph́ cốt chi ao hăm xứ. Giải thích: “Tuyệt cốt” là chỗ lơm của xương mác, cách mắt cá ngoài đi thẳng lên chừng ba thốn.
Nhập, gian: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương phân biệt cải tác “nhập”, “đoan”. Giải thích: Hai chữ “nhập” và “gian” theo tài liệu nên lần lượt sửa thành “nhập” và “đoan”.
Tam mao: Chỉ túc đại chỉ bối diện đệ nhất tiết b́ phu xứ, nhân trường hữu hào mao sổ căn nhi danh, hựu khiếu tùng mao, tụ mao. Giải thích: “Tam mao” chỉ vùng da ở đốt thứ nhất mặt lưng ngón chân cái, v́ mọc vài sợi lông nên có tên ấy, c̣n gọi là “tùng mao”, “tụ mao”.
Dương quyết: Túc thiếu dương chi khí quyết nghịch vi bệnh. Giải thích: “Dương quyết” là bệnh do khí của kinh túc thiếu dương nghịch loạn mà thành. 70. Thị chủ cốt sở sinh bệnh giả: Đởm tàng đởm trấp, kỳ vị khổ, khổ tẩu cốt, cố sở sinh bệnh dữ cốt hữu quan. Giải thích: “Là những bệnh do cốt sinh ra” v́ Đởm chứa mật, vị của mật là đắng, vị đắng đi vào xương, nên bệnh của Đởm có liên quan đến cốt.
Mă đao hiệp anh: Mă đao, chỉ loa lịch, sinh ư cảnh hạng, h́nh số tự ư kim chi cảnh lâm ba kết hạch; hiệp anh, sinh ư hầu kết lưỡng bàng chi anh lưu, loại tự ư kim chi giáp trạng tuyến thũng đại. Giải thích: “Mă đao” là chỉ chứng tràng nhạc, mọc ở cổ gáy, h́nh dạng giống các hạch lao cổ ngày nay; “hiệp anh” là bướu mọc hai bên yết hầu, tương tự bướu giáp trạng.
Tùng mao: Tức tam mao. Giải thích: “Tùng mao” tức là “tam mao”.
Quá: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “hoàn”. Giải thích: Chữ “quá” theo tài liệu nên sửa thành “hoàn”.
Tiểu: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “thiếu”. Thiếu phúc, tiểu phúc lưỡng trắc, tức phúc cổ câu bộ. Giải thích: Chữ “tiểu” theo tài liệu nên sửa thành “thiếu”. “Thiếu phúc” là hai bên bụng dưới, tức vùng bẹn. 75. Hàng tang: Hầu lung thượng khẩu. Giải thích: “Hàng tang” là cửa trên của họng.
Hoàng sán: Sán khí chi nhất chủng, phát bệnh thời âm nang thũng thống hạ trụy. Giải thích: “Hoàng sán” là một loại chứng sán, khi phát th́ b́u sưng đau sa xuống.
Tôn tiết: Đại tiện thanh hy, giáp hữu vị bị tiêu hóa chi thực vật tàn tra. Giải thích: “Tôn tiết” là đại tiện lỏng trong, lẫn thức ăn chưa tiêu hóa hết.
Hồ sán: Sán khí chi nhất chủng, nhân kỳ âm nang thời thượng thời hạ, hữu như hồ ly xuất nhập vô thường nhi danh. Giải thích: “Hồ sán” là một loại chứng sán, do b́u khi lên khi xuống thất thường như cáo ra vào vô định nên gọi như vậy.
Phân tích: Kinh văn tŕnh bày sự tuần hành của mười hai kinh mạch cùng các chứng hậu, đồng thời chỉ ra nguyên tắc điều trị bằng châm cứu đối với các loại bệnh hư, thực, hàn, nhiệt, cũng như trường hợp không thuộc hư hay thực.

(1) Quan ư thập nhị kinh mạch chi mệnh danh: Thập nhị kinh mạch phân vi thủ tam âm kinh, thủ tam dương kinh, túc tam âm kinh, túc tam dương kinh tứ tổ. Giá thị căn cứ các kinh sở thuộc nội tại tạng phủ chi âm dương thuộc tính cập kỳ tuần hành chi thể chi vị trí nhi phân biệt dĩ thủ túc âm dương mệnh danh. Dương kinh thuộc phủ, hành ư tứ chi ngoại đoan; âm kinh thuộc tạng, hành ư tứ chi nội trắc; thủ kinh hành quá thủ, túc kinh hành quá hạ chi. Tam âm, tam dương chủ yếu thị y cứ cổ đại âm dương diễn dịch chi lư, nhận vi âm dương kư thị vạn vật phát sinh biến hóa chi động lực, đồng thời diệc thị vạn vật sinh trưởng, hủy diệt chi căn nguyên, nhân nhi tương âm dương diễn biến chi quá tŕnh hoạch phân vi tam cá giai đoạn. Âm khí sơ thăng thời khiếu tố thiếu âm, đại thịnh thời khiếu tác thái âm, tiêu tận thời khiếu tác quyết âm, hàm hữu thái thiếu lưỡng âm giao tận chi ư; dương khí sơ sinh thời khiếu thiếu dương, đại thịnh khiếu thái dương, thịnh cực thời khiếu dương minh, hàm hữu thái thiếu lưỡng dương hợp minh chi ư. Hợp xưng vi lục khí, cổ đại y gia tá dụng giá lục cá danh xưng lai mệnh danh nhân thể chi kinh mạch. Do ư kinh mạch hữu thuộc lạc tạng phủ chi âm dương biểu lư quan hệ cập tuần hành thủ hoặc túc chi khu biệt, ṭng nhi quyết định liễu bao quát thủ túc âm dương tạng phủ tại nội chi thập nhị kinh chi danh xưng.

Giải thích: Đoạn phân tích này nói rằng kinh văn đă tŕnh bày đường đi của mười hai kinh mạch, các chứng trạng bệnh lư và nguyên tắc điều trị bằng châm cứu theo các loại hư, thực, hàn, nhiệt, hay trường hợp không hư không thực. Về cách đặt tên mười hai kinh mạch: chúng được chia thành bốn nhóm là thủ tam âm, thủ tam dương, túc tam âm và túc tam dương. Cách gọi này dựa trên hai căn cứ: một là tính chất âm dương của tạng phủ mà kinh mạch ấy liên hệ; hai là vị trí đường đi của kinh ở tay hay chân, ở mặt trong hay mặt ngoài chi thể. Dương kinh thuộc phủ, đi ở mặt ngoài tay chân; âm kinh thuộc tạng, đi ở mặt trong tay chân; kinh tay đi qua tay, kinh chân đi qua chân. Khái niệm tam âm tam dương lại xuất phát từ học thuyết âm dương cổ đại. Người xưa cho rằng âm dương vừa là động lực làm phát sinh biến hóa của vạn vật, vừa là căn nguyên của quá tŕnh sinh trưởng và tiêu diệt, cho nên quá tŕnh biến hóa ấy được chia thành ba giai đoạn. Âm khí mới sinh gọi là thiếu âm, thịnh lớn gọi là thái âm, suy tận gọi là quyết âm. Dương khí mới sinh gọi là thiếu dương, thịnh lớn gọi là thái dương, cực thịnh gọi là dương minh. Sáu tên gọi ấy hợp lại thành “lục khí”, rồi được các y gia cổ đại mượn dùng để đặt tên cho kinh mạch trong cơ thể người. Do kinh mạch vừa có quan hệ thuộc lạc với tạng phủ, vừa có phân biệt đi ở tay hay chân, mặt trong hay mặt ngoài, nên mới h́nh thành đầy đủ danh xưng của mười hai kinh.

(2) Thập nhị kinh mạch đích tuần hoàn phương hướng

Phần Hán Việt

Thập nhị kinh mạch tuần hoàn đích phương hướng, thị tiền nhân kinh quá bất đoạn quan sát tổng kết xuất lai đích. 《Linh khu. Nghịch thuận ph́ sấu》 vân: “Thủ chi tam âm, ṭng tạng tẩu thủ; thủ chi tam dương, ṭng thủ tẩu đầu; túc chi tam dương, ṭng đầu tẩu túc; túc chi tam âm, ṭng túc tẩu phúc”, thuyết minh liễu thập nhị kinh mạch thị do âm nhập dương, do dương nhập âm, ṭng biểu tẩu lư, ṭng lư đạt biểu, tự thượng nhi hạ, tự hạ nhi thượng, thuận trước nhất định đích phương hướng ḥa thứ tự liên tiếp khởi lai đích, sở dĩ 《Linh khu. Vệ khí》 tác “âm dương tương tùy, ngoại nội tương quán, như hoàn chi vô đoan” đích miêu thuật. Do ư mỗi nhất kinh sở tẩu đích lộ tuyến bất đồng, thả các hữu chi lạc liên hệ trước thân thể các bộ phận, giá dạng tựu bả toàn thân thượng hạ biểu lư đô khẩn mật địa liên hệ khởi lai, phát huy liễu chỉnh thể tác dụng.

Phần giải thích

Phương hướng tuần hành của mười hai kinh mạch là do người xưa không ngừng quan sát rồi tổng kết mà rút ra. Thiên Nghịch thuận ph́ sấu của sách Linh khu nói: “Ba kinh âm ở tay th́ từ tạng đi ra tay; ba kinh dương ở tay th́ từ tay đi lên đầu; ba kinh dương ở chân th́ từ đầu đi xuống chân; ba kinh âm ở chân th́ từ chân đi lên bụng.” Điều này cho thấy mười hai kinh mạch nối tiếp nhau theo một hướng và tŕnh tự nhất định: từ âm sang dương, từ dương sang âm, từ biểu vào lư, từ lư ra biểu, từ trên xuống dưới, rồi từ dưới lên trên. V́ thế thiên Vệ khí mới mô tả là: “Âm dương theo nhau, ngoài trong quán thông, như ṿng tṛn không có đầu mút.” Do đường đi của mỗi kinh khác nhau, lại đều có các nhánh lạc nối với những bộ phận khác nhau của cơ thể, nên toàn thân từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong đều được liên hệ chặt chẽ với nhau, từ đó phát huy tác dụng chỉnh thể thống nhất.

(3) Thập nhị kinh mạch lư luận đích vận dụng

Phần Hán Việt

Thập nhị kinh mạch thị nhân thể vận hành khí huyết đích chủ yếu thông lộ, cố hựu xưng thập nhị chính kinh. Tha dữ tạng phủ hữu trực tiếp đích liên hệ, âm kinh thuộc tạng lạc phủ, dương kinh thuộc phủ lạc tạng. Tạng phủ tương hợp, dĩ cập tổ chức khí quan đích nội tại liên hệ, chủ yếu thị thấu quá thập nhị kinh mạch tại kỳ gian câu thông ḥa duy hệ, cố hữu “thập nhị kinh mạch giả, nội thuộc ư tạng phủ, ngoại lạc ư chi tiết” đích luận thuyết. Nhân thử, tại lâm sàng ứng dụng thời, ưng tương kinh lạc học thuyết dữ tạng tượng học thuyết kết hợp khởi lai. Giá dạng, tại phân tích bệnh lư, chẩn đoán ḥa trị liệu tật bệnh thời, tiện năng đả khai tư lộ, khuếch đại trị liệu phương pháp. Thập nhị kinh mạch các kinh đích chủ bệnh, bất ngoại bản kinh sở quá bộ vị đích bệnh biến ḥa bản kinh sở thuộc tạng phủ đích bệnh biến. Tức dĩ thủ thái âm phế kinh vi lệ, sở chủ bệnh hậu trung đích khuyết bồn trung thống, thậm tắc giao lưỡng thủ nhi mậu, nhu tư nội tiền liêm thống quyết, chưởng trung nhiệt đẳng, tiện thị kinh mạch sở quá bộ vị đích bệnh biến; bệnh phế trướng măn, bàng bàng nhi suyễn khái, thượng khí suyễn hát, phiền tâm hung măn đẳng, tiện thị tạng phủ sở sản sinh đích bệnh biến. Giá ta đô thị lâm sàng biện chứng đích cơ sở, cánh hữu đơn ṭng kinh mạch tuần hành phân bố tác vi chẩn đoán đích chủ yếu y cứ đích, như đầu thống đích lục kinh biện chứng, thủ chỉ ma mộc bất dụng đích khu phân, dĩ cập tứ chi tư thống đích bộ vị đẳng. Kỳ dư chư kinh đích bệnh chứng, đô cụ hữu đồng dạng ư nghĩa. Giá chủng biện chứng đích chẩn đoán học thống xưng vi kinh lạc biện chứng.

Phần giải thích

Mười hai kinh mạch là đường vận hành chủ yếu của khí huyết trong cơ thể, v́ thế c̣n gọi là mười hai chính kinh. Chúng có liên hệ trực tiếp với tạng phủ: kinh âm th́ thuộc tạng mà lạc với phủ, kinh dương th́ thuộc phủ mà lạc với tạng. Sự phối hợp giữa tạng phủ, cũng như mối liên hệ nội tại giữa các tổ chức và khí quan, chủ yếu đều nhờ mười hai kinh mạch làm nhiệm vụ thông đạt và duy tŕ, v́ vậy mới có thuyết nói rằng: “Mười hai kinh mạch th́ bên trong thuộc về tạng phủ, bên ngoài lạc với chân tay khớp xương.”

Do đó, khi ứng dụng trong lâm sàng, cần kết hợp học thuyết kinh lạc với học thuyết tạng tượng. Có như vậy, khi phân tích bệnh lư, chẩn đoán và điều trị bệnh tật mới có thể mở rộng tư duy và mở rộng phương pháp điều trị. Bệnh mà mỗi kinh chủ quản không ngoài hai loại lớn: bệnh biến tại những nơi đường kinh đi qua, và bệnh biến của tạng phủ mà đường kinh ấy sở thuộc.

Lấy kinh Phế thủ thái âm làm ví dụ: trong các chứng mà kinh này chủ có các biểu hiện như đau trong vùng khuyết bồn, nặng th́ hai tay bắt chéo trước ngực mà thần trí mê mờ, đau lạnh ở mặt trước trong cánh tay, ḷng bàn tay nóng…, đó là bệnh biến ở những bộ vị mà kinh mạch đi qua. C̣n các chứng như phế trướng đầy, thở gấp khái suyễn, khí nghịch lên gây suyễn, phiền tâm, ngực đầy…, đó là bệnh biến do tạng phủ sinh ra. Tất cả những điều ấy đều là cơ sở cho lâm sàng biện chứng.

Hơn nữa, có những trường hợp chỉ riêng việc căn cứ vào đường tuần hành và phân bố của kinh mạch đă có thể dùng làm căn cứ chủ yếu để chẩn đoán, như biện chứng lục kinh trong chứng đau đầu, phân biệt từng loại tê dại ngón tay không cử động được, hay xác định vị trí đau tư ở tứ chi. Những bệnh chứng của các kinh khác cũng đều có ư nghĩa tương tự như vậy. Phương pháp chẩn đoán học kiểu này gọi chung là kinh lạc biện chứng.

(4) “Thị động bệnh” ḥa “sở sinh bệnh”

Phần Hán Việt

“Thị động bệnh”, “sở sinh bệnh”, lịch đại hữu hứa đa tranh luận, cật kim thượng nan cấp dĩ xác thiết đích định nghĩa. Lịch đại y gia đích luận thuật đại trí khả quy nạp vi ngũ chủng kiến giải.

Khí huyết tiên hậu thuyết: Như 《Nan kinh. Nhị thập nhị nan》 thuyết: “Kinh ngôn thị động giả, khí dă; sở sinh giả, huyết dă…… cố tiên vi thị động, hậu sở sinh bệnh dă.” Tùy đại Dương Thượng Thiện, Minh đại Trương Thế Hiền quân tông thử thuyết, tịnh thôi diễn cập âm dương doanh vệ.

Kinh lạc tạng phủ thuyết: Minh đại Trương Giới Tân nhận vi sở sinh bệnh tại bản tạng, tịnh thuyết “kỳ tha chư bệnh, giai bản kinh chi mạch sở cập”, hựu hữu “tại kinh tại tạng chi biện”. Thanh đại Trương Sơn Lôi thuyết: “Đại để các kinh vi bệnh, đa tại bản kinh tuần hành sở quá chi bộ vị, nhi quan cập ư bản tạng phủ”, nhận vi thị chỉ bản kinh sở thuộc tạng chi bệnh nhi ngôn. Thanh đại Từ Đại Xuân thuyết: “Kinh mạch thiên thị động chư bệnh, năi bản kinh chi bệnh; sở sinh chư bệnh, tắc dĩ loại thôi nhi bàng cập tha kinh giả”, nhận vi bản kinh bệnh vi “thị động bệnh”, bàng cập tha kinh đích vi “sở sinh bệnh”. Kỷ gia chi ngôn tuy giai lập luận ư kinh lạc tạng phủ, đăn diệc hữu bất đồng.

Nội nhân ngoại nhân tiên hậu bệnh thuyết: Thanh đại Trương Chí Thông thuyết: “Phu thị động giả, bệnh nhân ư ngoại; sở sinh bệnh giả, nhân ư nội. Phàm bệnh hữu nhân ư ngoại giả, hữu nhân ư nội giả, hữu nhân ư ngoại nhi cập ư nội giả, hữu nhân ư nội nhi cập ư ngoại giả, hữu ngoại nội chi kiêm bệnh giả…… đương tùy kỳ sở kiến chi chứng, dĩ biệt ngoại nội chi nhân, hựu bất tất tiên vi thị động, hậu cập sở sinh, nhi bệnh chứng chi tất cụ dă.” Thử ngoại, cận nhân Trần Bích Lưu nhận vi: “Thị động, tựu thị chỉ bản kinh kinh mạch nhân ngoại tà chi dẫn động nhi phát sinh đích tật bệnh; sở sinh bệnh, thị chỉ dữ bản kinh tương liên thuộc chi tạng phủ sở phát sinh đích tật bệnh.”

Phát bệnh hoăn cấp thuyết: Cai thuyết nhận vi “thị động” bệnh đa thị tật bệnh phát triển tảo kỳ giai đoạn hoặc cấp tính giai đoạn, kỳ bệnh t́nh hoặc trọng hoặc khinh. “Sở sinh” bệnh đa thị tật bệnh đích trung hậu kỳ, mạn tính giai đoạn hoặc giảo trọng giai đoạn, thị bệnh tà nhập lư tổn cập tạng phủ chi biểu hiện. Nhất ban “thị động” bệnh khả nhân chính khí hư nhược hoặc tà khí thái thịnh, tổn cập tạng phủ nhi chuyển thành “sở sinh bệnh”.

Chứng hậu dữ tật bệnh thuyết: Như Nam Kinh Trung y dược đại học Lư Sừ nhận vi “thị động” tựu thị mạch động, “sở sinh bệnh” thị tật bệnh. “Thị động, sở sinh bệnh, cơ bản thượng thị chứng hậu dữ tật bệnh chi phân, tiền giả thị chứng, hậu giả thị bệnh, lưỡng giả đô bao quát kỳ hữu quan đích kinh mạch tạng phủ nhi ngôn.”

Tổng thượng, các gia hoặc ṭng bệnh nhân phân nội ngoại, hoặc ṭng bệnh vị phân kinh lạc tạng phủ, hoặc ṭng bệnh cơ phân tại khí tại huyết, hoặc ṭng biện chứng phân chứng hậu dữ tật bệnh, hoặc ṭng phát bệnh phân tiên hậu hoăn cấp đẳng, đơn độc cường điệu mỗ nhất điểm tựa hồ đô bất cú toàn diện. Nhân vi kinh lạc dữ tạng phủ kết cấu tương cận, công năng tương quan, khí hóa nhất thể, kỳ phát bệnh tất nhiên tương hỗ ảnh hưởng, kỳ chứng hậu dă tất nhiên hỗn tạp nhi kiến. Hà huống kinh lạc chi gian hoàn tồn tại giao xoa, tịnh hành đẳng các chủng liên hệ, cố lâm chứng thời chỉ hữu tổng hợp phân tích, toàn diện khảo lự, phân thanh chủ thứ, tài năng nghĩ định xuất tương ứng đích trị liệu thố thi. Chí ư Đan Ba thị “vị tri thục thị” đích biểu thái, ư tại lưu đăi hậu nhân nghiên cứu, diệc thuộc khách quan. Đan Ba Nguyên Giản vân: “Mă (Thị) dĩ thử nhất cú vi kết văn, Trương (Giới Tân) tắc án hạ tiết vi giải, Dương Tuân tắc phế hạ vi cú. Cái thị động sở sinh, kỳ nghĩa bất minh tích, diệc vị tri thục thị.” Mục tiền bất tất miễn cưỡng địa khứ thích ṭng, quan kiện tại ư lư giải ḥa chưởng ác kinh lạc biện chứng đích phương pháp ḥa cương lĩnh, tịnh chú ư bả kinh lạc biện chứng dữ kỳ tha biện chứng phương pháp kết hợp khởi lai, vận dụng ư lâm sàng, dĩ đề cao chẩn trị thủy chuẩn.

Phần giải thích

“Thị động bệnh” và “sở sinh bệnh” từ xưa đến nay có rất nhiều tranh luận, đến nay vẫn khó đưa ra một định nghĩa thật xác đáng. Các ư kiến của y gia các đời đại thể có thể quy nạp thành năm cách hiểu.

Thuyết Khí huyết trước sau: Như trong Nan kinh, thiên Nhị thập nhị nan nói: “Trong kinh nói ‘thị động’ là khí; ‘sở sinh’ là huyết… cho nên trước là thị động, sau là sở sinh bệnh.” Dương Thượng Thiện đời Tùy và Trương Thế Hiền đời Minh đều tôn theo thuyết này, rồi lại diễn rộng đến âm dương doanh vệ.

Thuyết Kinh lạc tạng phủ: Trương Giới Tân đời Minh cho rằng “sở sinh bệnh” là bệnh ở bản tạng, lại nói: “Những bệnh khác đều là nơi mạch của bản kinh đi đến.” Ông c̣n nêu sự phân biệt “ở kinh” hay “ở tạng”. Đời Thanh, Trương Sơn Lôi nói rằng phần lớn bệnh của các kinh là xuất hiện ở những nơi bản kinh tuần hành đi qua, rồi liên lụy đến tạng phủ bản thuộc. Ông cho rằng đó là bệnh của tạng mà bản kinh sở thuộc. Từ Đại Xuân đời Thanh lại cho rằng: các bệnh “thị động” trong thiên Kinh mạch là bệnh của chính bản kinh; c̣n “sở sinh bệnh” là từ loại này suy ra mà lan sang các kinh khác. Như vậy, tuy các nhà đều lập luận trên cơ sở kinh lạc và tạng phủ, nhưng cách hiểu vẫn không hoàn toàn giống nhau.

Thuyết Nội nhân ngoại nhân trước sau: Trương Chí Thông đời Thanh nói: “Thị động là bệnh do bên ngoài; sở sinh bệnh là do bên trong. Phàm bệnh có cái do ngoài, có cái do trong, có cái từ ngoài mà vào trong, có cái từ trong mà ra ngoài, cũng có cái bệnh cả trong lẫn ngoài… cần theo chứng trạng biểu hiện mà phân biệt nguyên nhân trong ngoài; cũng không nhất thiết trước là thị động rồi sau mới đến sở sinh, mà có khi bệnh chứng xuất hiện đầy đủ cùng lúc.” Ngoài ra, học giả cận đại Trần Bích Lưu cho rằng: “Thị động” là bệnh phát sinh do kinh mạch của bản kinh bị ngoại tà dẫn động; c̣n “sở sinh bệnh” là bệnh phát sinh ở các tạng phủ có liên hệ thuộc lạc với bản kinh.

Thuyết phát bệnh hoăn cấp: Thuyết này cho rằng “thị động” phần nhiều là bệnh ở giai đoạn sớm hoặc giai đoạn cấp tính, mức độ có thể nặng hoặc nhẹ. C̣n “sở sinh bệnh” phần nhiều là bệnh ở giai đoạn giữa về sau, hoặc giai đoạn mạn tính, hoặc giai đoạn nặng hơn, là biểu hiện của tà khí đă nhập lư và tổn thương đến tạng phủ. Nói chung, “thị động” có thể do chính khí suy yếu hoặc tà khí quá mạnh, từ đó tổn thương tạng phủ rồi chuyển thành “sở sinh bệnh”.

Thuyết chứng hậu và tật bệnh: Như Lư Sừ của Đại học Trung y dược Nam Kinh cho rằng “thị động” tức là mạch động, c̣n “sở sinh bệnh” là bệnh tật. Nói cách khác, “thị động” và “sở sinh bệnh” về cơ bản là sự phân biệt giữa chứng hậu và bệnh; cái trước là chứng, cái sau là bệnh, nhưng cả hai đều bao gồm mối liên quan với kinh mạch và tạng phủ.

Tổng hợp lại, các nhà hoặc phân từ nguyên nhân bệnh là trong hay ngoài, hoặc phân từ vị trí bệnh là kinh lạc hay tạng phủ, hoặc phân từ bệnh cơ là khí hay huyết, hoặc phân từ biện chứng là chứng hậu hay bệnh tật, hoặc phân từ diễn biến bệnh là trước sau, chậm cấp… Nếu chỉ nhấn mạnh riêng một mặt th́ dường như đều chưa đủ toàn diện. Bởi v́ kinh lạc và tạng phủ có kết cấu gần gũi, công năng liên quan, khí hóa là một thể, nên khi phát bệnh tất nhiên ảnh hưởng lẫn nhau, mà chứng hậu cũng tất nhiên xen tạp mà thấy.

Huống hồ giữa các kinh lạc c̣n tồn tại các mối liên hệ như giao nhau, song hành…, cho nên khi lâm chứng chỉ có thể phân tích tổng hợp, suy xét toàn diện, phân rơ chủ thứ th́ mới đề ra được biện pháp điều trị tương ứng. C̣n như thái độ của Đan Ba thị nói rằng “chưa biết thuyết nào đúng”, ư là để dành cho hậu nhân tiếp tục nghiên cứu, đó cũng là một thái độ khách quan. Đan Ba Nguyên Giản nói: “Mă Thị lấy câu này làm lời kết, Trương Giới Tân th́ dựa vào tiết dưới để giải, Dương Tuân th́ lấy chỗ dưới chữ Phế làm câu. Đại để nghĩa của ‘thị động’ và ‘sở sinh’ chưa thật sáng rơ, cũng chưa biết rốt cuộc thuyết nào đúng.”

Hiện nay không nhất thiết phải miễn cưỡng theo hẳn một thuyết nào; điều quan trọng là phải hiểu và nắm được phương pháp cùng cương lĩnh của kinh lạc biện chứng, đồng thời chú ư kết hợp kinh lạc biện chứng với các phương pháp biện chứng khác, vận dụng vào lâm sàng để nâng cao tŕnh độ chẩn trị.

Lạc mạch và kinh mạch: sự khác biệt cùng phép chẩn đoán và phép châm

Nguyên văn

Kinh mạch thập nhị giả, phục hành phân nhục chi gian, thâm nhi bất kiến; kỳ thường kiến giả, túc thái âm quá ư nội khỏa chi thượng, vô sở ẩn cố dă. Chư mạch chi phù nhi thường kiến giả, giai lạc mạch dă. Lục kinh lạc dương minh thiếu dương chi đại lạc, khởi ư ngũ chỉ gian, thượng hợp trửu trung. Ẩm tửu giả, vệ khí tiên hành b́ phu, tiên sung lạc mạch, lạc mạch tiên thịnh, cố vệ khí dĩ b́nh, doanh khí năi măn, nhi kinh mạch đại thịnh. Mạch chi tốt nhiên bệnh giả, giai tà khí cư chi, lưu ư bản mạt; bất động tắc nhiệt, bất kiên tắc hăm thả không, bất dữ chúng đồng, thị dĩ tri kỳ hà mạch chi động dă. Lôi công viết: Hà dĩ tri kinh mạch chi dữ lạc mạch dị dă? Hoàng đế viết: Kinh mạch giả thường bất khả kiến dă, kỳ hư thực dă dĩ khí khẩu tri chi, mạch chi kiến giả, giai lạc mạch dă. Lôi công viết: Tế tử vô dĩ minh kỳ nhiên dă. Hoàng đế viết: Chư lạc mạch giai bất năng kinh đại tiết chi gian, tất hành tuyệt đạo nhi xuất, nhập phục hợp ư b́ trung, kỳ hội giai kiến ư ngoại. Cố chư thích lạc mạch giả, tất thích kỳ kết thượng, thậm huyết giả tuy vô kết, cấp thủ chi dĩ tả kỳ tà nhi xuất kỳ huyết, lưu chi phát vi tư dă. Phàm chẩn lạc mạch, mạch sắc thanh tắc hàn thả thống, xích tắc hữu nhiệt. Vị trung hàn, thủ ngư chi lạc đa thanh hĩ; vị trung hữu nhiệt, ngư tế lạc xích; kỳ ngư hắc giả, lưu cửu tư dă; kỳ hữu xích hữu hắc hữu thanh giả, hàn nhiệt khí dă; kỳ thanh đoản giả, thiểu khí dă. Phàm thích hàn nhiệt giả giai đa huyết lạc, tất gián nhật nhi nhất thủ chi, huyết tận nhi chỉ, năi điều kỳ hư thực, kỳ tiểu nhi đoản giả thiểu khí, thậm giả tả chi tắc muộn, muộn thậm tắc phó bất đắc ngôn, muộn tắc cấp tọa chi dă. (《Linh khu. Kinh mạch》)

Giải thích

Kinh mạch có mười hai, đi ẩn trong khoảng giữa phần cơ nhục, sâu nên không nh́n thấy; chỗ thường có thể thấy được là kinh Tỳ túc thái âm đi qua phía trên mắt cá trong, v́ chỗ đó không có ǵ che khuất. Các mạch nổi mà thường thấy được, đều là lạc mạch. Đại lạc của sáu kinh dương, như thủ dương minh, thủ thiếu dương, bắt đầu từ khoảng giữa năm ngón tay, đi lên hợp ở giữa khuỷu tay. Người uống rượu th́ vệ khí đi trước ra ngoài da, trước hết làm đầy lạc mạch, lạc mạch đầy trước; v́ vậy khi vệ khí đă b́nh ḥa th́ doanh khí mới đầy, rồi kinh mạch trở nên quá thịnh. Mạch nào đột nhiên phát bệnh bất thường, đều là do tà khí cư trú ở đó, lưu lại tại phần gốc và ngọn của mạch; nếu không động th́ là nhiệt, nếu không chắc th́ là hăm và rỗng, khác với các mạch b́nh thường, do đó có thể biết đó là mạch nào phát bệnh. Lôi Công hỏi: Làm sao biết kinh mạch và lạc mạch khác nhau? Hoàng Đế đáp: Kinh mạch thường không thể nh́n thấy, hư hay thực của nó phải dùng khí khẩu mà biết; mạch nào nh́n thấy được, đều là lạc mạch. Lôi Công nói: Kẻ tiểu nhân này vẫn chưa hiểu rơ đạo lư ấy. Hoàng Đế nói: Các lạc mạch đều không thể đi thẳng qua khoảng giữa các khớp lớn, mà tất phải đi theo đường ngang cắt ra rồi lại vào hợp ở trong da, nơi hội tụ của chúng đều có thể nh́n thấy ở bên ngoài. Cho nên, phàm châm lạc mạch th́ phải châm vào chỗ kết tụ máu ở trên lạc; nếu huyết ứ quá nặng th́ tuy chưa thấy chỗ kết tụ cũng phải nhanh chóng lấy huyết ra để tả tà, bởi nếu để lưu lại lâu sẽ phát thành chứng tư. Phàm xem lạc mạch, sắc mạch xanh th́ là hàn và đau, sắc đỏ th́ có nhiệt. Trong vị có hàn th́ lạc ở vùng ngư tế tay phần nhiều hiện màu xanh; trong vị có nhiệt th́ lạc ở ngư tế hiện màu đỏ; nếu màu đen sẫm th́ là tư chứng đă lưu lại lâu ngày; nếu cùng có đỏ, đen, xanh th́ là khí hàn nhiệt xen lẫn; nếu xanh mà ngắn th́ là thiểu khí. Phàm châm những chứng hàn nhiệt th́ phần lớn đều nhằm vào huyết lạc, nhất định phải cách ngày mà lấy một lần, lấy đến khi hết huyết th́ thôi, sau đó mới điều chỉnh hư thực. Nếu mạch nhỏ và ngắn là thiểu khí, nặng mà lại tả th́ sẽ gây bứt rứt choáng váng; choáng quá nặng th́ ngă lăn ra không nói được; nếu xảy ra như vậy th́ phải cho người bệnh ngồi dậy ngay.

Chú thích

Ngoại: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “nội”. Giải thích: Chữ “ngoại” theo các tài liệu liên quan nên sửa thành “nội”.
Động: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “bệnh”. Giải thích: Chữ “động” theo nguyên văn dẫn trong tài liệu nên sửa thành “bệnh”.
Tế tử: Tự khiêm ngữ, “tiểu nhân” chi ư. Hoàng đế vi quân, Lôi công vi thần, cố tự xưng “tiểu nhân”. Giải thích: “Tế tử” là lời khiêm xưng, nghĩa là “kẻ tiểu nhân”. Hoàng Đế là vua, Lôi Công là bề tôi nên tự xưng như vậy.
Tuyệt đạo: Dữ tung hành kinh mạch tương hoành hành tiệt đoạn chi lộ kính. Giải thích: “Tuyệt đạo” là đường đi cắt ngang với đường đi dọc của kinh mạch.
Kết thượng: Lạc mạch thượng hữu huyết tụ kết chi xứ. Giải thích: “Kết thượng” là chỗ trên lạc mạch có huyết tụ lại kết thành điểm ứ.
Bạo: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “ngư” tự. Giải thích: Chữ “bạo” theo các tài liệu liên quan nên sửa thành chữ “ngư”.
Phân tích

Phần này chủ yếu luận về sự khác nhau giữa lạc mạch và kinh mạch, đồng thời tŕnh bày phép chẩn đoán và phép châm đối với lạc mạch.

Kinh mạch và lạc mạch tuy liên hệ đan xen thành mạng lưới, nhưng giữa hai loại vẫn có điểm khác nhau. Kinh mạch th́ lớn mà thẳng, ẩn đi ở bên trong, không nh́n thấy được, chủ về khí và chủ động; lạc mạch th́ nhỏ mà quanh co, nổi nông ở ngoài cơ biểu, thường có thể nh́n thấy, chủ về huyết và chủ tĩnh. Khí huyết trong kinh mạch tương đối lưu thông hơn, c̣n khí huyết trong lạc mạch th́ dễ bị bế tắc hơn. Sự phân biệt giữa kinh mạch và lạc mạch như vậy về sau đă được chứng thực qua phép phân trị kinh và lạc của Diệp Thiên Sĩ. Diệp thị cho rằng “kinh chủ khí, lạc chủ huyết”, lại nói “sơ bệnh tại kinh, cửu bệnh nhập lạc”, v́ vậy ông đối với những bệnh lâu ngày phần lớn dùng phép hoạt huyết hóa ứ; mà hoạt huyết hóa ứ cũng chính là phép trị chủ yếu để thông lạc.

Lạc mạch tuy khác với kinh mạch, nhưng lại có mối liên hệ không thể tách rời với kinh mạch. Về mặt sinh lư, lạc mạch có thể bổ sung chỗ chưa đầy đủ của mười hai kinh mạch, giữ vai tṛ then chốt quan trọng, khiến cho khí huyết trong cơ thể được lưu thông, đồng thời làm cho nội tạng và các tổ chức khí quan trên dưới trong ngoài được nối thông với nhau. V́ vậy Trương Chí Thông nói: “Huyết lạc là các lạc mạch và tôn mạch ở ngoài, hiện ra giữa da thịt. Nếu huyết khí có chỗ đ́nh trệ tích tụ th́ sẽ mất cơ năng ra vào trong ngoài.” Phép chẩn lạc mạch và phép châm lạc mạch được nói trong đoạn văn này đều có ư nghĩa hướng dẫn lâm sàng rất lớn. Kinh mạch chủ khí, chủ động, cho nên là bộ vị chủ yếu để bắt mạch, như khí khẩu, phù dương, nhân nghênh… c̣n lạc mạch chủ huyết, ở vị trí nông ngoài, là bộ vị chủ yếu để nh́n xét hàn nhiệt hư thực của phần huyết, đồng thời cũng là nơi để thực hiện phép châm lạc phóng huyết. Trong đó, phép xem lạc mạch ở vùng thủ ngư là đại biểu cho phép vọng chẩn lạc mạch, không chỉ có thể dùng làm dấu hiệu chẩn đoán hàn nhiệt, tư trở, mà c̣n có thể thăm ḍ sự thịnh suy của vị khí, căn cứ vào lư luận “vị khí chủ ở thủ thái âm”. Ngoài ra, những nơi da mỏng khác trên cơ thể, nếu có phù lạc hiện rơ, cũng đều có thể tiến hành vọng chẩn.

Châm lạc phóng huyết là một phương pháp điều trị cho hiệu quả khá nhanh, thuộc phép tả, thích hợp với chứng thực, c̣n người thể hư th́ phải thận trọng khi dùng. Kinh văn nói: “Mạch nhỏ và ngắn là thiểu khí; nặng mà lại tả th́ sẽ muộn, muộn nặng th́ ngă lăn ra không nói được”, là lời nhắc trong lâm sàng rằng hễ gặp người vốn thể chất hư yếu, nguyên khí hao tổn th́ không được tùy tiện châm tả, bởi sau khi châm tả khí lại càng hư hơn, có thể phát sinh hiện tượng choáng châm rất nặng, đến mức ngă lăn ra không nói được. Nếu phát sinh hiện tượng muộn phó ấy th́ phải lập tức ngừng châm, để bệnh nhân yên tĩnh, hoặc đỡ cho ngồi yên, tốt nhất là cho nằm thẳng. Điều này khi châm cứu lâm sàng cần đặc biệt coi trọng.
Câu “mạch chi tốt nhiên bệnh giả, giai tà khí cư chi” th́ Dương Thượng Thiện và Trương Giới Tân đều cho rằng tà khí khiến kinh mạch đột nhiên xuất hiện dao động bất thường ấy chính là tửu khí. Sách Hoàng Đế nội kinh thái tố, quyển chín, thiên Kinh lạc biệt dị chú rằng: “Mười hai lạc mạch nếu có chỗ đột nhiên động, đều là do doanh vệ chi khí đem tà khí vào trong mạch ấy, nên mạch đó mới động.

Bản mạt tức là gốc ngọn của kinh ấy. Lạc mạch đem tà nhập vào vệ khí, vệ khí lại đem tà vào phần bản mạt của kinh mạch này, lưu lại không đi, nên mới thành động. Rượu tức là tà vậy.” Sách Loại kinh, quyển bảy, thiên sáu chú rằng: “Phía trên nói người uống rượu có thể làm cho kinh mạch thịnh, cho nên mạch vốn ngày thường không động rơ mà nay đột nhiên động, đều là do tà khí cư lại ở phần bản mạt của kinh mạch mà ra. Tà khí ở đây tức là chỉ tửu khí.”

Thập ngũ lạc mạch đích danh xưng, bộ vị, tuần hành ḥa bệnh chứng

Phần Hán Việt

Thập ngũ lạc mạch đích danh xưng, bộ vị, tuần hành ḥa bệnh chứng.

Giải thích

Tiếp theo sẽ là phần nói về tên gọi, vị trí, đường đi và bệnh chứng của mười lăm lạc mạch.

Tên gọi, vị trí, đường đi và bệnh chứng của mười lăm lạc mạch.

Nguyên văn
Thủ Thái âm chi biệt, danh viết Liệt khuyết, khởi ư uyển thượng phân gian, tịnh Thái âm chi kinh trực nhập chưởng trung, tán nhập ư ngư tế. Kỳ bệnh thực tắc thủ nhuệ chưởng nhiệt, hư tắc khiếm, tiểu tiện di số, thủ chi khứ uyển nhất thốn bán, biệt tẩu Dương minh dă.

Thủ Thiếu âm chi biệt, danh viết Thông lư, khứ uyển nhất thốn, biệt nhi thượng hành, tuần kinh nhập ư tâm trung, hệ thiệt bản, thuộc mục hệ. Kỳ thực tắc chi cách, hư tắc bất năng ngôn, thủ chi uyển hậu nhất thốn, biệt tẩu Thái dương dă.

Thủ Tâm chủ chi biệt, danh viết Nội quan, khứ uyển nhị thốn, xuất ư lưỡng cân chi gian, tuần kinh dĩ thượng, hệ ư tâm bào lạc, tâm hệ. Thực tắc tâm thống, hư tắc vi phiền tâm, thủ chi lưỡng cân gian dă.

Thủ Thái dương chi biệt, danh viết Chi chính, khứ uyển ngũ thốn, nội chú Thiếu âm; kỳ biệt giả, thượng tẩu trửu, lạc kiên khỏa. Thực tắc tiết tŕ trửu phế; hư tắc sinh vưu, tiểu giả như chỉ giới chẩn, thủ chi sở biệt dă.

Thủ Dương minh chi biệt, danh viết Thiên lịch, khứ uyển tam thốn, biệt tẩu Thái âm; kỳ biệt giả, thượng tuần tư, thừa kiên khỏa, thượng khúc hiệp biến xỉ; kỳ biệt giả, nhập nhĩ hợp ư tông mạch. Thực tắc tề lung, hư tắc xỉ hàn tư cách, thủ chi sở biệt dă.

Thủ Thiếu dương chi biệt, danh viết Ngoại quan, khứ uyển nhị thốn, ngoại nhiễu tư, chú hung trung, hợp Tâm chủ. Bệnh thực tắc trửu luyên, hư tắc bất thu, thủ chi sở biệt dă.

Túc Thái dương chi biệt, danh viết Phi dương, khứ khỏa thất thốn, biệt tẩu Thiếu âm. Thực tắc cừu trất đầu bối thống, hư tắc cừu nục, thủ chi sở biệt dă.

Túc Thiếu dương chi biệt, danh viết Quang minh, khứ khỏa ngũ thốn, biệt tẩu Quyết âm, tịnh kinh hạ lạc túc phu. Thực tắc quyết, hư tắc nuy tích, tọa bất năng khởi, thủ chi sở biệt dă.

Túc Dương minh chi biệt, danh viết Phong long, khứ khỏa bát thốn, biệt tẩu Thái âm; kỳ biệt giả, tuần hĩnh cốt ngoại liêm, thượng lạc đầu hạng, hợp chư kinh chi khí, hạ lạc hầu ế. Kỳ bệnh khí nghịch tắc hầu tư tốt âm, thực tắc cuồng điên, hư tắc túc bất thu, hĩnh khô, thủ chi sở biệt dă.

Túc Thái âm chi biệt, danh viết Công tôn, khứ bản tiết chi hậu nhất thốn, biệt tẩu Dương minh; kỳ biệt giả, nhập lạc trường vị. Quyết khí thượng nghịch tắc hoắc loạn, thực tắc phúc trung thiết thống, hư tắc cổ trướng, thủ chi sở biệt dă.

Túc Thiếu âm chi biệt, danh viết Đại chung, đương khỏa hậu nhiễu cân, biệt tẩu Thái dương; kỳ biệt giả, tịnh kinh thượng tẩu ư tâm bào, hạ ngoại quán yêu tích. Kỳ bệnh khí nghịch tắc phiền muộn, thực tắc bế lung, hư tắc yêu thống, thủ chi sở biệt giả dă.

Túc Quyết âm chi biệt, danh viết Lễ câu, khứ nội khỏa ngũ thốn, biệt tẩu Thiếu dương; kỳ biệt giả, tuần kinh thượng cao, kết ư hành. Kỳ bệnh khí nghịch tắc cao thũng tốt sán, thực tắc đ́nh trường, hư tắc bạo dương, thủ chi sở biệt dă.

Nhâm mạch chi biệt, danh viết Vĩ ế, hạ Cưu vĩ, tán ư phúc. Thực tắc phúc b́ thống, hư tắc dương tao, thủ chi sở biệt dă.

Đốc mạch chi biệt, danh viết Trường cường, hiệp lữ thượng hạng, tán đầu thượng, hạ đương kiên giáp tả hữu, biệt tẩu Thái dương, nhập quán lữ. Thực tắc tích cường, hư tắc đầu trọng, cao dao chi, hiệp tích chi hữu quá giả, thủ chi sở biệt dă.

Tỳ chi đại lạc, danh viết Đại bao, xuất Uyên dịch hạ tam thốn, bố hung hiếp. Thực tắc thân tận thống, hư tắc bách tiết tận giai túng, thử mạch nhược la lạc chi huyết giả, giai thủ chi Tỳ chi đại lạc dă.

Phàm thử thập ngũ lạc giả, thực tắc tất kiến, hư tắc tất hạ, thị chi bất kiến, cầu chi thượng hạ, nhân kinh bất đồng, lạc mạch dị sở biệt dă. (《Linh khu. Kinh mạch》)

Giải thích

Biệt lạc của kinh Phế thủ Thái âm tên là Liệt khuyết, khởi từ phía trên cổ tay ở chỗ giữa khoảng phân nhục, đi song song với kinh Thái âm rồi đi thẳng vào giữa ḷng bàn tay, tản vào vùng ngư tế. Khi bệnh thuộc thực th́ vùng mỏm xương cao ở bàn tay và ḷng bàn tay phát nóng; khi thuộc hư th́ hay há miệng ngáp, tiểu tiện són và đi nhiều lần. Huyệt để lấy là cách cổ tay một thốn rưỡi, là nơi nhánh này tách sang kinh Dương minh.

Biệt lạc của kinh Tâm thủ Thiếu âm tên là Thông lư, cách cổ tay một thốn, tách ra rồi đi lên, theo đường kinh vào trong tim, liên hệ với gốc lưỡi, thuộc về hệ mắt. Khi thực th́ đầy tức vùng cơ hoành; khi hư th́ không nói được. Lấy huyệt ở sau cổ tay một thốn, là nơi biệt lạc tách sang kinh Thái dương.

Biệt lạc của kinh Tâm bào thủ Quyết âm tên là Nội quan, cách cổ tay hai thốn, đi ra giữa hai gân, theo kinh đi lên, liên hệ với tâm bào lạc và tâm hệ. Khi thực th́ đau tim; khi hư th́ phiền tâm. Lấy huyệt ở giữa hai gân ấy.

Biệt lạc của kinh Tiểu trường thủ Thái dương tên là Chi chính, cách cổ tay năm thốn, đi vào thông với kinh Thiếu âm; nhánh tách của nó đi lên khuỷu tay, lạc với khớp vai. Khi thực th́ các khớp nhẽo ră, khuỷu tay mất công năng; khi hư th́ sinh mụn thịt, nhỏ th́ như nốt ghẻ đóng vảy. Lấy huyệt ở nơi phân ra của biệt lạc.

Biệt lạc của kinh Đại trường thủ Dương minh tên là Thiên lịch, cách cổ tay ba thốn, tách sang kinh Thái âm; nhánh của nó đi lên dọc cánh tay, men qua khớp vai, lên má, lan khắp răng; một nhánh khác vào tai, hợp với tông mạch. Khi thực th́ sâu răng và điếc; khi hư th́ răng lạnh, chứng tư ở cơ hoành. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.

Biệt lạc của kinh Tam tiêu thủ Thiếu dương tên là Ngoại quan, cách cổ tay hai thốn, đi ṿng mặt ngoài cánh tay, đổ vào trong ngực, hợp với kinh Tâm bào. Khi bệnh thuộc thực th́ khuỷu tay co rút; khi hư th́ tay không co nắm lại được. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.

Biệt lạc của kinh Bàng quang túc Thái dương tên là Phi dương, cách mắt cá bảy thốn, tách sang kinh Thiếu âm. Khi thực th́ nghẹt mũi, bít tắc, đau đầu đau lưng; khi hư th́ nghẹt mũi và chảy máu mũi. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.

Biệt lạc của kinh Đởm túc Thiếu dương tên là Quang minh, cách mắt cá năm thốn, tách sang kinh Quyết âm, theo kinh đi xuống lạc ở mu bàn chân. Khi thực th́ quyết lạnh; khi hư th́ chân mềm yếu, liệt, ngồi không đứng dậy được. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.

Biệt lạc của kinh Vị túc Dương minh tên là Phong long, cách mắt cá tám thốn, tách sang kinh Thái âm; nhánh của nó đi theo bờ ngoài xương chày, đi lên lạc ở đầu cổ, hội với khí của các kinh, đi xuống lạc ở họng. Nếu khí nghịch th́ họng bế tắc, đột nhiên mất tiếng; khi thực th́ cuồng điên; khi hư th́ chân không co duỗi được, cẳng chân khô teo. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.

Biệt lạc của kinh Tỳ túc Thái âm tên là Công tôn, cách sau khớp gốc một thốn, tách sang kinh Dương minh; nhánh của nó vào lạc với ruột và dạ dày. Nếu quyết khí nghịch lên th́ thành hoắc loạn; khi thực th́ trong bụng đau thắt; khi hư th́ cổ trướng. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.

Biệt lạc của kinh Thận túc Thiếu âm tên là Đại chung, ở chỗ sau mắt cá ṿng quanh gót chân, tách sang kinh Thái dương; nhánh của nó đi song song với kinh mà lên tới tâm bào, đi xuống phía ngoài xuyên qua thắt lưng cột sống. Nếu khí nghịch th́ phiền muộn; khi thực th́ bí tiểu, long bế; khi hư th́ đau lưng. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.

Biệt lạc của kinh Can túc Quyết âm tên là Lễ câu, cách mắt cá trong năm thốn, tách sang kinh Thiếu dương; nhánh của nó theo đường kinh đi lên tinh hoàn, kết ở dương vật. Nếu khí nghịch th́ tinh hoàn sưng, đột nhiên phát sán; khi thực th́ dương vật cương dài bất thường; khi hư th́ ngứa dữ dội đột ngột. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.

Biệt lạc của Nhâm mạch tên là Vĩ ế, đi xuống dưới huyệt Cưu vĩ, tản ở vùng bụng. Khi thực th́ da bụng đau; khi hư th́ ngứa phải găi. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.

Biệt lạc của Đốc mạch tên là Trường cường, kẹp hai bên cơ lữ đi lên gáy, tản trên đầu, đi xuống ở hai bên xương bả vai, tách sang kinh Thái dương, rồi đi vào xuyên cơ lữ. Khi thực th́ cột sống co cứng; khi hư th́ đầu nặng, đầu lắc lư; chỗ nào dọc hai bên cột sống có biểu hiện khác thường th́ lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.

Đại lạc của Tỳ tên là Đại bao, đi ra dưới Uyên dịch ba thốn, phân bố ở ngực sườn. Khi thực th́ toàn thân đau nhức; khi hư th́ trăm khớp đều nhẽo ră. Hễ mạch này hiện như mạng lưới huyết lạc th́ đều có thể lấy ở đại lạc của Tỳ.

Tất cả mười lăm lạc mạch này, khi thực th́ nhất định hiện ra, khi hư th́ nhất định lơm xuống; nh́n mà không thấy th́ phải t́m lên trên xuống dưới, bởi v́ kinh mạch ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau, chỗ biệt xuất của lạc mạch cũng khác nhau. (Linh Khu . Kinh Mạch)

Chú thích

Biệt: Chỉ do bản kinh phân xuất chi chi lạc nhi biệt tẩu lân kinh, dữ “lạc” nghĩa đồng. Giải thích: “Biệt” chỉ nhánh lạc tách ra từ bản kinh rồi đi riêng sang kinh lân cận, nghĩa giống với “lạc”.
Phân gian: Tức phân nhục chi gian, dă tựu thị hồng nhục bạch nhục chi gian. Giải thích: “Phân gian” tức là khoảng giữa phần cơ thịt, cũng là chỗ giữa thịt đỏ và thịt trắng.
Thủ: Thủ chưởng hậu tiểu chỉ trắc chi cao cốt. Giải thích: Chữ này chỉ mỏm xương cao phía sau bàn tay, ở bên ngón út.
Khuyết: Đồng “khải”, trương khẩu. Giải thích: Chữ này đồng nghĩa với “khải”, nghĩa là há miệng.
Bán thốn: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “nhất thốn bán”. Giải thích: Theo các tài liệu liên quan, “bán thốn” nên sửa thành “một thốn rưỡi”.
Nhất thốn bán: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “nhất thốn”. Giải thích: Theo các tài liệu liên quan, “một thốn rưỡi” nên sửa thành “một thốn”.
Chưởng: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “uyển”. Giải thích: Chữ “chưởng” theo nguyên văn nên sửa thành “uyển”.
Lưỡng cân chi gian: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “nhất thốn”. Giải thích: Cụm “giữa hai gân” theo nguyên văn nên sửa thành “một thốn”.
Đầu cường: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “phiền tâm”. Giải thích: “Đầu cường” theo nguyên văn nên sửa thành “phiền tâm”.
Thượng: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “khứ”. Giải thích: Chữ “thượng” theo nguyên văn nên sửa thành “khứ”.
Lung: Đồng “vưu”, chuế sinh nhục, tức lưu tử chi loại. Giải thích: “Lung” đồng với “vưu”, nghĩa là thịt thừa nổi lên, tức các loại u nhỏ, mụn thịt.
Nhập: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “tẩu”. Giải thích: Chữ “nhập” theo nguyên văn nên sửa thành “tẩu”.
Thiên: Tức “biến” tự. Giải thích: Chữ “thiên” ở đây tức là chữ “biến”, nghĩa là khắp.
Tông mạch: Tông, chúng chi nghĩa. Tông mạch, giá lư chỉ phân bố tại nhăn, nhĩ bộ ngận đa kinh mạch hội tụ nhi thành chi chủ mạch hoặc đại mạch. Giải thích: “Tông mạch”, trong đó “tông” nghĩa là nhiều, ở đây chỉ mạch chính hay đại mạch do nhiều kinh mạch tụ hội ở vùng mắt và tai tạo thành.
Quyết âm: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn thử chi hậu, đương bổ “tịnh kinh” nhị tự. Giải thích: Theo các tài liệu liên quan, sau chữ “Quyết âm” cần thêm hai chữ “tịnh kinh”.
Tốt âm: Tốt, giá lư tác “thốt”, đột nhiên; âm, thất âm, tê ách. Giải thích: “Tốt âm” nghĩa là đột nhiên mất tiếng, khàn tiếng.
Điên: Giá lư tác “điên”, bệnh danh, chỉ tinh thần thất thường nhất loại bệnh chứng, tường kiến 《Linh khu. Điên cuồng》. Giải thích: Chữ này nên hiểu là “điên”, chỉ một loại bệnh tinh thần rối loạn, xem rơ hơn ở thiên Điên cuồng của Linh khu.
Hoắc loạn: Trung y bệnh danh, dĩ bệnh khởi đột nhiên, đại thổ đại tả, phiền muộn bất thư vi đặc trưng, nhân kỳ “huy hoắc chi gian, tiện trí liễu loạn” nhi danh, dữ Tây y chi đồng danh tật bệnh đích biểu hiện hữu tương tự chi xứ. Giải thích: “Hoắc loạn” là tên bệnh trong Trung y, đặc trưng bởi phát bệnh đột ngột, nôn mửa và tiêu chảy dữ dội, phiền muộn khó chịu; do bệnh đến nhanh và rối loạn dữ dội nên gọi như vậy; biểu hiện của nó có chỗ tương tự với bệnh cùng tên trong Tây y.
Trường: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “phúc”. Giải thích: Chữ “trường” theo nguyên văn nên sửa thành “phúc”.
Kính hĩnh: Cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “tuần kinh”. Giải thích: “Kính hĩnh” theo nguyên văn nên sửa thành “tuần kinh”.
Phân tích

Phần này luận về tên gọi, vị trí, đường đi và bệnh chứng hư thực của mười lăm lạc mạch, cũng là một nội dung trong kinh lạc biện chứng.

(1)

Mười lăm lạc mạch là các lạc mạch tách ra từ mười bốn kinh mạch. Chúng khác với các lạc mạch thông thường, trên phương diện sinh lư có tác dụng đặc biệt, là đầu mối then chốt nối liền giữa các kinh âm dương biểu lư. Câu cuối đoạn văn: “Nhân kinh bất đồng, lạc mạch dị sở biệt dă” nhắc nhở chúng ta rằng trong việc nhận thức sinh lư, bệnh lư của kinh lạc, cho đến biện chứng và điều trị lâm sàng, đều phải tuân theo nguyên tắc “nhân nhân chế nghi”, tức tùy từng người mà xử trí. Các huyệt của mười lăm biệt lạc trên điều trị đều có tác dụng đối với cả chứng hư lẫn chứng thực biểu hiện ở kinh ấy, v́ chúng có công năng điều ḥa khí của các kinh âm dương.

(2)

Về tên gọi và vị trí của “Vĩ ế”, có mấy quan điểm khác nhau. Cách thứ nhất cho rằng Vĩ ế chính là huyệt Hội âm. Như chú trong Loại kinh quyển bảy, thiên sáu nói: “Vĩ ế là sai, đại lạc của Nhâm mạch tên là B́nh ế, tức huyệt Hội âm, ở trước đại tiện, sau tiểu tiện, giữa hai âm, là nơi khởi đầu của Nhâm, Đốc, Xung ba mạch.” Cách thứ hai cho rằng Vĩ ế chính là Cưu vĩ. Như chú trong Hoàng Đế nội kinh thái tố, quyển chín, thiên Thập ngũ lạc mạch nói: “Vĩ tức Cưu vĩ, một tên khác là Vĩ ế, là xương che của tim…”; sách Châm cứu giáp ất kinh, quyển ba, thiên mười chín cũng nói: “Cưu vĩ, một tên là Vĩ ế… là biệt của Nhâm mạch.” Nhưng xét theo lời trong Tố vấn, thiên Cốt không luận rằng: “Nhâm mạch khởi ở dưới Trung cực, đi lên bờ lông, theo trong bụng”, và lời trong đoạn này rằng “xuống dưới Cưu vĩ, tản ra ở bụng”, th́ cách nói của Loại kinh dường như không thể theo. C̣n cách giải thích của Hoàng Đế nội kinh thái tố và bản kinh cũng chưa thật sát, v́ huyệt Hội âm cũng không phải huyệt chủ trị chứng đau da bụng và ngứa. Cách thứ ba, Trương Chí Thông cho rằng: “Cái gọi là Vĩ ế tức là ở trên Cưu vĩ, ấy là biệt lạc của Nhâm mạch.” Cách nói này có vẻ thỏa đáng hơn.

Quy luật vận hành của doanh khí theo mạch.

Nguyên văn

Phần Hán Việt

Hoàng Đế viết: Doanh khí chi đạo, nạp cốc vi bảo, cốc nhập ư vị, năi truyền chi phế, lưu dật ư trung, bố tán ư ngoại, tinh chuyên giả, hành ư kinh toại, thường doanh vô dĩ, chung nhi phục thủy, thị vị thiên địa chi kỷ. Cố khí ṭng Thái âm xuất, chú Thủ Dương minh, thượng hành chú Túc Dương minh, hạ hành chí phu thượng, chú đại chỉ gian, dữ Thái âm hợp, thượng hành để tỳ, ṭng tỳ chú tâm trung, tuần Thủ Thiếu âm, xuất dịch hạ tư, chú tiểu chỉ, hợp Thủ Thái dương, thượng hành thừa dịch xuất quyền nội, chú mục nội tư, thượng điên hạ hạng, hợp Túc Thái dương, tuần tích hạ khào, hạ hành chú tiểu chỉ chi đoan, tuần túc tâm chú Túc Thiếu âm, thượng hành chú thận, ṭng thận chú tâm, ngoại tán ư hung trung; tuần Tâm chủ mạch xuất dịch hạ tư, xuất lưỡng cân chi gian, nhập chưởng trung, xuất trung chỉ chi đoan, hoàn chú tiểu chỉ thứ chỉ chi đoan, hợp Thủ Thiếu dương, thượng hành chú đản trung, tán ư Tam tiêu, ṭng Tam tiêu chú đởm, xuất hiếp, chú Túc Thiếu dương, hạ hành chí phu thượng, phục ṭng phu chú đại chỉ gian, hợp Túc Quyết âm, thượng hành chí can, ṭng can thượng chú phế, thượng tuần hầu lung, nhập hàng tang chi khiếu, cứu ư khứu môn; kỳ chi biệt giả, thượng ngạch tuần điên hạ hạng trung, tuần tích nhập để, thị Đốc mạch dă, lạc âm khí, thượng quá mao trung, nhập tề trung, thượng tuần phúc lư, nhập khuyết bồn, hạ chú phế trung, phục xuất Thái âm. Thử doanh khí chi sở hành dă, nghịch thuận chi thường dă.

Nghĩa là
Hoàng Đế nói: Quy luật vận hành của doanh khí là lấy thủy cốc đă được tiếp nhận làm nguồn quư báu. Thức ăn vào dạ dày rồi truyền lên phổi, tràn đầy ở bên trong, phân bố ra bên ngoài; phần tinh thuần th́ đi trong kinh mạch, vận hành không ngừng, hết ṿng này lại bắt đầu ṿng khác, đó gọi là quy luật lớn của trời đất.

V́ vậy doanh khí từ kinh Thái âm mà ra, truyền vào kinh Thủ Dương minh, đi lên truyền vào kinh Túc Dương minh, rồi đi xuống đến mu bàn chân, vào giữa ngón chân cái, hợp với kinh Túc Thái âm. Từ đó đi lên đến tỳ, từ tỳ truyền vào tim, theo kinh Thủ Thiếu âm, ra nách xuống tay, truyền đến ngón út, hợp với kinh Thủ Thái dương, rồi đi lên theo nách ra vùng trong xương g̣ má, vào khóe mắt trong, lên đỉnh đầu xuống gáy, hợp với kinh Túc Thái dương, theo cột sống xuống xương cùng cụt, đi xuống đến đầu ngón út chân, theo ḷng bàn chân truyền vào kinh Túc Thiếu âm, đi lên vào thận, từ thận lại truyền vào tim, rồi tản ra ngoài vùng ngực.

Sau đó doanh khí theo mạch của Tâm chủ mà ra nách xuống tay, đi giữa hai gân, vào ḷng bàn tay, ra đầu ngón giữa, rồi quay lại truyền đến đầu ngón áp út, hợp với kinh Thủ Thiếu dương, đi lên vào vùng đản trung, tản ở Tam tiêu, từ Tam tiêu truyền vào Đởm, ra vùng sườn, truyền vào kinh Túc Thiếu dương, đi xuống đến mu bàn chân, lại từ mu chân đi vào giữa ngón chân cái, hợp với kinh Túc Quyết âm, đi lên đến gan, từ gan đi lên truyền vào phổi, lên theo họng, vào lỗ phía trên trong mũi họng, cuối cùng ra đến lỗ mũi.

Một nhánh khác của doanh khí th́ đi lên trán, theo đỉnh đầu xuống giữa gáy, men cột sống vào xương cùng, đó là Đốc mạch; lại lạc với bộ phận sinh dục, đi lên qua vùng lông mu, vào rốn, lên theo bên trong bụng, vào khuyết bồn, đi xuống phổi, rồi lại ra ở kinh Thái âm. Đó là đường vận hành của doanh khí, cũng là quy luật thuận nghịch thường hằng của nó.

Chú thích

Nội: Tức thị “nạp” tự, thụ nạp chi ư. Giải nghĩa: “Nội” ở đây tức là “nạp”, nghĩa là thu nạp thức ăn. 2. Kinh toại: Khí huyết vận hành chi đạo lộ, tức kinh mạch, nhân vị trí giảo thâm, phục nhi bất kiến, sở dĩ khiếu kinh toại. Giải nghĩa: “Kinh toại” là con đường vận hành của khí huyết, tức kinh mạch; v́ ở sâu, ẩn mà không thấy nên gọi là “toại”. 3. Bễ: Đại thoái ngoại trắc. Văn trung sở thuật, doanh khí tuần hành ṭng Túc Dương minh Vị kinh giao cấp Túc Thái âm Tỳ kinh, nhi Túc Thái âm Tỳ kinh chi tuần hành tại đại thoái nội trắc, bất tại ngoại trắc, nhân thử, căn cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn, ưng cải tác “tỳ” tự, ngữ dịch tác “tỳ”. Giải nghĩa: “Bễ” vốn là mặt ngoài đùi, nhưng ở đây xét theo đường đi của doanh khí th́ phải sửa thành chữ “tỳ”, v́ doanh khí từ kinh Vị truyền sang kinh Tỳ. 4. Quyền: Quyền thượng hạ chi xứ. Giải nghĩa: “Quyền” là vùng trên dưới xương g̣ má. 5. Hàng tang: Tỵ nội chi thượng khiếu, dă tựu thị yết hậu bích thượng diện chi hậu tỵ đạo, tương đương ư tỵ yết bộ. Giải nghĩa: “Hàng tang” là lỗ trên bên trong của mũi, tương ứng với vùng tỵ hầu. 6. Cứu ư khứu môn: Cứu, chung chỉ chi ư; khứu, tác “khứu” tự giảng; khứu môn, giá lư chỉ tỵ chi ngoại khổng đạo. Giải nghĩa: “Cứu ư khứu môn” nghĩa là đi đến chỗ cuối cùng ở cửa mũi, tức lỗ mũi ngoài.
Phân tích

Đoạn kinh văn này chủ yếu luận về quy luật vận hành của doanh khí trong cơ thể. Nó chỉ ra rằng đường đi của doanh khí phù hợp với thứ tự lưu chú của mười hai kinh mạch. Điểm khác nhau chỉ là: thứ tự lưu chú của mười hai kinh bắt đầu từ Phế, lần lượt truyền đến Can, rồi từ Can lại trở về Phế, cứ thế tuần hoàn không dứt; c̣n doanh khí th́ từ Can lại tách ra, đi lên qua trán, đỉnh đầu, xuống gáy vào Đốc mạch, rồi ṿng qua bộ phận sinh dục mà giao với Nhâm mạch, từ Nhâm mạch lại truyền chú vào Phế, sau đó mở đầu một chu kỳ mới.

V́ sao sự tuần hành của kinh khí lại bắt đầu từ kinh Thủ Thái âm Phế? Trương Giới Tân giải thích rất tinh tế, ông nói: “Mười hai kinh này tức là nơi doanh khí vận hành. Doanh đi trong mạch mà tŕnh tự nhất định bắt đầu từ Phế kinh, v́ mạch khí lưu hành, kinh khí quy về Phế, Phế chầu trăm mạch để vận hành âm dương, mà ngũ tạng lục phủ đều nhờ đó tiếp nhận khí. V́ vậy mười hai kinh lấy Phế kinh làm đầu, tuần tự truyền nhau, hết ở Quyết âm Can rồi lại truyền về Phế, hết lại bắt đầu, đó là một ṿng.”

Đường đi của doanh khí đă phù hợp với thứ tự lưu chú của mười hai kinh, v́ sao lại vẫn có chỗ khác biệt? Trương Chí Thông cho rằng doanh khí đi riêng trong kinh toại th́ phù hợp với thứ tự lưu chú của mười hai kinh; c̣n doanh khí đi cùng với tông khí th́ lại vận hành trong hai mươi tám mạch để ứng với hai mươi tám tú. Trương Giới Tân cũng nói: “Ở cuối thiên Kinh mạch trước kia chỉ nói đến Nhâm, Đốc chưa đầy đủ, c̣n đến đây mới nói trọn vẹn, đó là thứ tự doanh khí của mười bốn kinh.”

Câu “doanh khí chi đạo, nạp cốc vi bảo” nói rơ rằng doanh khí có nguồn gốc từ thủy cốc, được hóa sinh ở trung tiêu tỳ vị. Doanh khí sở dĩ sinh sinh không ngừng, vận hành măi không thôi, hết lại bắt đầu, đều là do thức ăn vào vị, hóa sinh tinh vi rồi không ngừng được bổ sung. Quan điểm này cung cấp cơ sở lư luận cho lâm sàng khi điều trị chứng doanh huyết bất túc, cần chú trọng từ việc điều lư tỳ vị.

Số lượng khí huyết của mười hai kinh và mối quan hệ phối hợp biểu lư.

Nguyên văn

Phần Hán ViệtDương minh đa huyết đa khí, Thái dương đa huyết thiểu khí, Thiếu dương đa khí thiểu huyết, Thái âm đa huyết thiểu khí, Quyết âm đa huyết thiểu khí, Thiếu âm đa khí thiểu huyết. Cố viết thích Dương minh xuất huyết khí, thích Thái dương xuất huyết ố khí, thích Thiếu dương xuất khí ố huyết, thích Thái âm xuất huyết ố khí, thích Quyết âm xuất huyết ố khí, thích Thiếu âm xuất khí ố huyết dă. Túc Dương minh Thái âm vi biểu lư, Thiếu dương Quyết âm vi biểu lư, Thái dương Thiếu âm vi biểu lư, thị vị túc chi âm dương dă. Thủ Dương minh Thái âm vi biểu lư, Thiếu dương Tâm chủ vi biểu lư, Thái dương Thiếu âm vi biểu lư, thị vị thủ chi âm dương dă.

Phần giải nghĩa
Kinh Dương minh th́ nhiều huyết nhiều khí; kinh Thái dương th́ nhiều huyết ít khí; kinh Thiếu dương th́ nhiều khí ít huyết; kinh Thái âm th́ nhiều huyết ít khí; kinh Quyết âm th́ nhiều huyết ít khí; kinh Thiếu âm th́ nhiều khí ít huyết.

V́ thế mới nói: châm kinh Dương minh th́ có thể tiết cả huyết lẫn khí; châm kinh Thái dương th́ nên tiết huyết mà không nên tiết khí; châm kinh Thiếu dương th́ nên tiết khí mà không nên tiết huyết; châm kinh Thái âm th́ nên tiết huyết mà không nên tiết khí; châm kinh Quyết âm th́ nên tiết huyết mà không nên tiết khí; châm kinh Thiếu âm th́ nên tiết khí mà không nên tiết huyết.

Ở chân th́ Túc Dương minh và Túc Thái âm là quan hệ biểu lư, Túc Thiếu dương và Túc Quyết âm là quan hệ biểu lư, Túc Thái dương và Túc Thiếu âm là quan hệ biểu lư, đó gọi là âm dương của các kinh ở chân. Ở tay th́ Thủ Dương minh và Thủ Thái âm là quan hệ biểu lư, Thủ Thiếu dương và Tâm chủ là quan hệ biểu lư, Thủ Thái dương và Thủ Thiếu âm là quan hệ biểu lư, đó gọi là âm dương của các kinh ở tay.

Chú thích

Ố: Giá lư thị bất yếu, bất nghi chi ư. Giải nghĩa: “Ố” ở đây có nghĩa là không nên, không thích hợp.
Phân tích

Đoạn này luận về sự khác nhau giữa nhiều ít của khí huyết trong mười hai kinh, đồng thời nói rơ quan hệ phối hợp biểu lư giữa kinh âm và kinh dương. Điều này có tác dụng chỉ đạo nhất định đối với biện chứng luận trị trên lâm sàng, đặc biệt là trong châm cứu. Khi vận dụng phép bổ tả trong châm trị, cũng cần chú ư thích đáng đến t́nh h́nh nhiều ít của khí huyết ở từng kinh: cái ǵ nhiều th́ có thể tả, cái ǵ ít th́ không nên tả. Hai kinh một âm một dương có quan hệ biểu lư th́ trong biến hóa bệnh lư thường ảnh hưởng lẫn nhau, cho nên khi điều trị, nếu thấy bệnh ở kinh dương th́ có thể phối hợp lấy huyệt của kinh âm; ngược lại nếu bệnh ở kinh âm th́ có thể phối hợp lấy huyệt của kinh dương, thường sẽ nâng cao hiệu quả trị liệu.

Điều đoạn này nói về số lượng khí huyết trong mười hai kinh hơi khác với chỗ bàn trong Tố vấn. Huyết khí h́nh chí và Linh khu. Ngũ âm ngũ vị. Theo khảo chứng của một số y gia th́ cách ghi trong Tố vấn. Huyết khí h́nh chí được xem là chính xác hơn.

Định vị và phương pháp lấy huyệt đối với các du huyệt ở lưng của ngũ tạng, cùng các huyệt như Đại Trữ, Cách Du.

Nguyên văn

Phần Hán Việt

Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Nguyện văn ngũ tạng chi du, xuất ư bối giả. Kỳ Bá viết: Hung trung đại du tại Trữ cốt chi đoan, Phế du tại tam trùy chi bàng, Tâm du tại ngũ trùy chi bàng, Cách du tại thất trùy chi bàng, Can du tại cửu trùy chi bàng, Tỳ du tại thập nhất trùy chi bàng, Thận du tại thập tứ trùy chi bàng. Giai hiệp tích tương khứ tam thốn sở, tắc dục đắc nhi nghiệm chi, án kỳ xứ, ứng tại trung nhi thống giải, năi kỳ du dă.

Phần giải nghĩa

Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Tôi muốn nghe nói về các huyệt du của ngũ tạng xuất ra ở lưng. Kỳ Bá đáp: Huyệt Đại du của ngực ở đầu xương Trữ; Phế du ở cạnh đốt sống thứ ba; Tâm du ở cạnh đốt sống thứ năm; Cách du ở cạnh đốt sống thứ bảy; Can du ở cạnh đốt sống thứ chín; Tỳ du ở cạnh đốt sống thứ mười một; Thận du ở cạnh đốt sống thứ mười bốn. Các huyệt này đều nằm hai bên cột sống, cách nhau ba thốn. Muốn xác định và kiểm nghiệm chúng th́ ấn vào chỗ ấy, nơi nào có phản ứng ứng vào trong, ấn vào thấy đau rồi cảm giác thư giải, đó chính là huyệt du.

Chú thích

Hung trung đại du: Tức Đại trữ huyệt, nhân tại bối du huyệt chi trung, Đại trữ chi huyệt vị cao cư ư ngũ tạng lục phủ các du huyệt chi thượng, sở dĩ xưng vi Đại du. Giải nghĩa: “Hung trung đại du” tức là huyệt Đại trữ, v́ trong các huyệt du ở lưng th́ vị trí của huyệt này cao hơn các huyệt du của ngũ tạng lục phủ nên gọi là Đại du. 2. Trữ cốt: Đệ nhất trùy cốt. Giải nghĩa: “Trữ cốt” là đốt sống thứ nhất. 3. Tiêu: Căn cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn cập tiền nhân khán pháp, đương tác “trùy” tự vi thị, ngữ dịch cải. Dĩ hạ “tiêu” tự đồng thử. Giải nghĩa: Chữ “tiêu” ở đây theo nguyên văn và ư kiến của người trước nên sửa thành “trùy”, tức đốt sống. 4. Gian: Căn cứ tiền nhân sở dẫn nguyên văn cập khán pháp, đương tác “bàng” tự vi thị, ngữ dịch cải. Dĩ hạ “gian” tự đồng thử. Giải nghĩa: Chữ “gian” ở đây nên sửa thành “bàng”, tức bên cạnh. 5. Sở: Địa phương. Giải nghĩa: “Sở” nghĩa là chỗ, vị trí. 6. Ứng tại trung: Dụng thủ chỉ án áp huyệt vị, hữu toan trướng đằng thống chi phản ứng xứ tức vi huyệt vị. Giải nghĩa: “Ứng tại trung” nghĩa là dùng tay ấn vào huyệt, nơi nào có cảm giác tê, căng, đau phản ứng rơ th́ đó là huyệt.
Phân tích

Đoạn này tŕnh bày vị trí của các huyệt bối du thuộc ngũ tạng cùng các huyệt như Đại trữ, Cách du. Đây là một trong những ghi chép khá sớm của y học cổ truyền về các huyệt vùng lưng, và đă được các thầy thuốc đời sau sử dụng rộng răi trên lâm sàng.

Câu “ấn vào chỗ ấy, ứng vào bên trong mà đau rồi thư giải, đó là huyệt ấy” đă nêu ra một phương pháp lấy huyệt mà cho đến nay các thầy thuốc châm cứu vẫn c̣n sử dụng. Sở dĩ như vậy là v́ huyệt du là nơi tạng khí hội tụ, bên trong ứng với ngũ tạng; khi ngũ tạng có bệnh th́ tất nhiên sẽ phản ánh lên các huyệt du. Tuy nhiên vị trí và kích thước tạng phủ ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau, v́ vậy vị trí huyệt cũng không hoàn toàn giống nhau; cần phải t́m điểm phản ứng ở vùng tương ứng mới có thể xác định đúng vị trí huyệt của từng cá thể. Phương pháp này khá chính xác, có lợi cho việc nâng cao hiệu quả trị liệu, v́ thế người sau gọi đó là phép “lấy đau làm huyệt” và “lấy khoái làm huyệt”.

Có người căn cứ vào đó mà trong lâm sàng chọn những ca bệnh điển h́nh đă được chẩn đoán rơ, nhiều lần kiểm tra những kinh mạch và huyệt vị có tác dụng trị bệnh ấy, rồi có ư thức t́m quy luật phản ứng của huyệt, từ đó phát hiện ra một số bệnh thường gặp có liên hệ nội tại nhất định với phản ứng đau khi ấn trên một số huyệt. V́ vậy, phản ứng đau ở huyệt lại càng được dùng như một phương pháp hỗ trợ biện bệnh. Nếu châm đúng vào huyệt có phản ứng đau rơ th́ cảm giác đắc khí thường mạnh và hiệu quả điều trị cũng tốt hơn.

Sự tuần hành và bệnh chứng của ba mạch Nhâm, Đốc, Xung.

Nguyên văn

Phần Hán Việt

Nhâm mạch giả, khởi ư Trung cực chi hạ, dĩ thượng mao tế, tuần phúc lư, thượng Quan nguyên, chí yết hầu, thượng di tuần diện nhập mục. Xung mạch giả, khởi ư Khí nhai, tịnh Thiếu âm chi kinh, hiệp tề thượng hành, chí hung trung nhi tán. Nhâm mạch vi bệnh, nam tử nội kết thất sán, nữ tử đới hạ hà tụ. Xung mạch vi bệnh, nghịch khí lư cấp. Đốc mạch vi bệnh, tích cường phản chiết. Đốc mạch giả, khởi ư thiếu phúc dĩ hạ cốt trung ương, nữ tử nhập hệ đ́nh khổng, kỳ khổng, nịch khổng chi đoan dă. Kỳ lạc tuần âm khí hợp thoán gian, nhiễu thoán hậu, biệt nhiễu đồn, chí Thiếu âm dữ Cự dương trung lạc giả hợp, Thiếu âm thượng cổ nội hậu liêm, quán tích thuộc thận, dữ Thái dương khởi ư mục nội tư, thượng ngạch giao điên thượng, nhập lạc năo, hoàn xuất biệt hạ hạng, tuần kiên bác nội, hiệp tích để yêu trung, nhập tuần lữ lạc thận. Kỳ nam tử tuần hành hạ chí thoán, dữ nữ tử đẳng; kỳ thiếu phúc trực thượng giả, quán tề trung ương, thượng quán tâm nhập hầu, thượng di hoàn thần, thượng hệ lưỡng mục chi hạ trung ương. Thử sinh bệnh, ṭng thiếu phúc thượng xung tâm nhi thống, bất đắc tiền hậu, vi xung sán; kỳ nữ tử bất dựng, lung trĩ di nịch ế can.

Phần giải nghĩa

Nhâm mạch bắt đầu từ phía dưới huyệt Trung cực, đi lên qua bờ lông mu, theo bên trong bụng, lên huyệt Quan nguyên, đến yết hầu, rồi lên cằm, men theo mặt mà vào mắt.

Xung mạch bắt đầu từ vùng Khí nhai, đi song song với kinh Thiếu âm, kẹp hai bên rốn mà đi lên, đến giữa ngực th́ tản ra.

Khi Nhâm mạch phát bệnh th́ ở nam giới thường thấy các loại sán khí kết tụ ở trong; ở nữ giới thường thấy bạch đới và các khối tích tụ trong bụng dưới. Khi Xung mạch phát bệnh th́ khí nghịch, bụng đau co rút. Khi Đốc mạch phát bệnh th́ cột sống co cứng, thân ḿnh ưỡn cong ra sau.

Đốc mạch bắt đầu từ vùng bụng dưới, ở chỗ chính giữa xương phía dưới; ở nữ th́ đi vào liên hệ với đ́nh khổng, tức đầu ngoài của niệu đạo. Nhánh lạc của nó đi theo bộ phận sinh dục, hợp ở vùng hội âm, ṿng ra phía sau hội âm, tách ra ṿng quanh mông, rồi hợp với trung lạc của kinh Thiếu âm và Cự dương; kinh Thiếu âm đi lên theo bờ sau trong của đùi, xuyên cột sống, thuộc về thận; c̣n kinh Thái dương bắt đầu từ khóe mắt trong, lên trán, giao ở đỉnh đầu, vào lạc với năo, lại đi ra tách xuống gáy, theo mặt trong xương bả vai, kẹp hai bên cột sống đến giữa thắt lưng, vào theo cơ lữ mà lạc với thận.

Ở nam th́ một nhánh theo dương vật đi xuống đến hội âm, giống như ở nữ; c̣n một nhánh từ bụng dưới đi thẳng lên, xuyên qua giữa rốn, đi lên qua tim vào họng, lên cằm ṿng quanh môi, rồi lên buộc vào chính giữa phía dưới hai mắt.

Những bệnh do đường mạch này phát sinh là từ bụng dưới khí xung ngược lên tim gây đau, đại tiểu tiện không thông, gọi là xung sán; ở nữ c̣n có thể gây không có thai, bí tiểu, trĩ, són tiểu và họng khô.

Chú thích

Trung cực chi hạ: Trương Giới Tân chú: “Trung cực, Nhâm mạch huyệt danh, tại Khúc cốt thượng nhất thốn. Trung cực chi hạ, tức bào cung chi sở.” Giải nghĩa: “Dưới Trung cực” theo Trương Giới Tân là phía dưới huyệt Trung cực, tức khu vực bào cung.
Quan nguyên: Kinh huyệt danh, vi Tiểu trường mộ huyệt, vị ư phúc chính trung tuyến tề hạ tam thốn. Giải nghĩa: Quan nguyên là tên huyệt, là mộ huyệt của Tiểu trường, nằm trên đường giữa bụng, dưới rốn ba thốn.
Di: Chỉ hàm bộ chi ngoại thượng phương, khẩu giác chi ngoại hạ phương, tai bộ tiền hạ phương chi bộ vị. Giải nghĩa: “Di” chỉ vùng má dưới, gần cằm và phía ngoài khóe miệng.
Khởi: Trương Giới Tân chú: “Khởi, ngôn ngoại mạch chi sở khởi, phi phát nguyên chi vị dă.” Giải nghĩa: “Khởi” ở đây nói nơi mạch biểu hiện mà bắt đầu thấy, không phải nơi phát nguyên căn bản.
Thất sán: Chư thuyết bất nhất, đa số nhận vi chỉ hàn sán, cân sán, thủy sán, khí sán, huyết sán, hồ sán, điên sán. Trương Giới Tân chú: “Vân thất sán giả, năi tổng chư sán nhi ngôn.” Giải nghĩa: “Thất sán” có nhiều cách giải thích, thường chỉ bảy loại sán khí; cũng có thể hiểu là cách gọi chung các chứng sán. 6. Lư cấp: Đan Ba Nguyên Giản dẫn Đinh Đức Dụng chú Nan kinh nói: “Lư cấp, phúc thống dă.” Giải nghĩa: “Lư cấp” là bụng đau co rút, cấp bách ở bên trong.
Khởi ư thiếu phúc dĩ hạ cốt trung ương: Trương Giới Tân chú: “Thiếu phúc, tiểu phúc dă, bào cung chi sở cư. Cốt trung ương, hoành cốt hạ cận ngoại chi trung ương dă.” Giải nghĩa: Câu này chỉ vùng chính giữa phía dưới bụng dưới, gần xương vệ.
Đ́nh khổng: Trương Giới Tân chú: “Đ́nh, chính dă, trực dă. Đ́nh khổng, ngôn chính trung chi trực khổng, tức nịch khổng dă.” Giải nghĩa: “Đ́nh khổng” là lỗ nằm ngay chính giữa, tức niệu đạo.
Thoán: Hội âm bộ, vị ư tiền hậu âm chi gian. Giải nghĩa: “Thoán” là vùng hội âm, nằm giữa tiền âm và hậu âm.
Cự dương trung lạc: Chỉ Túc Thái dương kinh chi trung lạc. Giải nghĩa: “Cự dương trung lạc” chỉ nhánh lạc giữa của kinh Túc Thái dương.
Kỳ thiếu phúc trực thượng giả: Chỉ Đốc mạch chi nhất phân chi. Vương Băng chú: “Tự kỳ thiếu phúc trực thượng, chí lưỡng mục chi hạ trung ương, tịnh Nhâm mạch chi hành, nhi vân thị Đốc mạch sở hệ. Do thử ngôn chi, tắc Nhâm mạch, Xung mạch, Đốc mạch, danh dị nhi đồng thể dă.” Giải nghĩa: Đây là một nhánh của Đốc mạch đi thẳng từ bụng dưới lên, cho thấy Nhâm, Xung, Đốc tuy tên khác nhưng quan hệ rất mật thiết.
Bất đắc tiền hậu: Chỉ đại tiểu tiện bất thông. Giải nghĩa: “Không được trước sau” tức đại tiểu tiện không thông.
Xung sán: Sán khí chi nhất chủng. Cao Thế Thức chú: “Vị bất đăn sán bệnh ư nội, nhi thả bất đắc tiền hậu, bất đăn sán kết ư nội, nhi thả thượng xung dă.” Đan Ba Nguyên Giản nói: “Hậu thế hoặc hô vi bôn đồn sán khí.” Trương Giới Tân chú: “Thử Đốc mạch tự tề thượng quán ư tâm, cố kỳ vi thống như thử, danh vi Xung sán, cái kiêm Xung Nhâm nhi vi bệnh giả.” Giải nghĩa: “Xung sán” là một loại sán khí, có đặc điểm khí xung nghịch từ dưới lên, đau từ bụng dưới lên tim, lại kèm đại tiểu tiện bế tắc.
Phân tích

Đoạn này chủ yếu luận về đường đi và các bệnh chứng thường gặp của Nhâm mạch, Đốc mạch và Xung mạch. Cả ba đều thuộc kỳ kinh. Chức năng chủ yếu của kỳ kinh là điều tiết khí huyết của chính kinh; khi khí huyết của mười hai kinh đầy tràn th́ được tích chứa vào kỳ kinh.

Nhâm có nghĩa là “gánh vác, đảm nhận” và “nuôi dưỡng”; đường mạch đi ở phía trước thân, xuyên qua giữa rốn mà đi thẳng lên, thống lănh các kinh âm toàn thân, nên được gọi là “biển của âm mạch”. Lại v́ Nhâm mạch liên quan mật thiết với thai nghén, nên đời sau có thuyết “Nhâm chủ bào thai”.

Đốc có nghĩa là “chỉ huy, thống lănh”; đường mạch đi ở phía sau thân, xuyên dọc cột sống mà đi lên, có thể thống lănh các kinh dương toàn thân, nên được gọi là “biển của dương mạch”.

Xung có công năng tổng lĩnh khí huyết của các kinh, là nơi xung yếu của khí huyết mười hai kinh, nên c̣n được gọi là “huyết hải”, “biển của kinh mạch”. Đường đi của Xung mạch rất rộng: có phần đi ở trước thân, có phần đi ở sau thân, có phần lên môi miệng, có phần xuống đến các ngón chân; nó không chỉ liên hệ với Nhâm, Đốc, Đới mạch mà c̣n truyền chú vào Thiếu âm, hội với Dương minh và liên hệ đến Thái dương. V́ Nhâm, Đốc, Xung đều là “hải” của cơ thể người, nên đối với một số bệnh nội khoa, nam khoa, phụ khoa và sản khoa kéo dài, tái phát nhiều lần, việc biện chứng luận trị từ kỳ kinh đă cung cấp cơ sở lư luận rất quan trọng, nhất là trong điều trị thai sản và bệnh kinh nguyệt của phụ nữ.

Trong đoạn văn này, ba mạch Nhâm, Xung, Đốc đều khởi từ bụng dưới và vùng hội âm, rồi đi lên theo đường giữa bụng, hai bên bụng và đường giữa lưng; một nguồn mà chia làm ba ngả, cho thấy về mặt sinh lư và bệnh lư chúng có liên hệ tất nhiên với nhau. Khi vận dụng lư luận của Nhâm, Xung, Đốc vào lâm sàng th́ phải liên hệ với các tạng phủ hữu quan mới hiểu được căn nguyên sinh bệnh. Ngoài ra, quan hệ giữa ba mạch này với các kinh mạch khác cũng rất đáng chú ư. Riêng Xung mạch, v́ đường đi phân bố rộng khắp nên c̣n được gọi là “biển của mười hai kinh”, mà trong mười hai kinh th́ nó có quan hệ mật thiết nhất với Túc Thiếu âm và Túc Dương minh, v́ Xung mạch vừa đi song song với Túc Thiếu âm, vừa lệ thuộc vào Túc Dương minh. Điều này có ích rất lớn cho việc hiểu sinh lư của Xung mạch, phân tích bệnh cơ, cũng như xác định phép trị trong các bệnh trước sinh và bệnh kinh nguyệt ở phụ nữ.

Bộ vị tuần hành và công năng sinh lư của mạch Xung.

Nguyên văn

Phần Hán Việt

Hoàng Đế viết: Thiếu âm chi mạch độc hạ hành hà dă? Kỳ Bá viết: Bất nhiên, phu Xung mạch giả, ngũ tạng lục phủ chi hải dă, ngũ tạng lục phủ giai bẩm yên. Kỳ thượng giả, xuất ư hàng tang, sấm chư dương, quán chư tinh; kỳ hạ giả, chú Thiếu âm chi đại lạc, xuất ư Khí nhai, tuần âm cổ nội liêm, nhập khoát trung, phục hành hĩnh cốt nội, hạ chí nội khỏa chi hậu thuộc nhi biệt; kỳ hạ giả, tịnh ư Thiếu âm chi kinh, sấm tam âm; kỳ tiền giả, phục hành xuất phu thuộc, hạ tuần phu nhập đại chỉ gian, sấm chư lạc nhi ôn cơ nhục.

Phần giải nghĩa

Hoàng Đế hỏi: V́ sao mạch của Thiếu âm lại riêng có đường đi xuống? Kỳ Bá đáp: Không phải như vậy. Xung mạch là biển của ngũ tạng lục phủ, ngũ tạng lục phủ đều nhận khí từ đó.

Phần đi lên của Xung mạch ra ở vùng hàng tang, thấm vào các kinh dương, tưới rót cho các tinh. Phần đi xuống th́ truyền vào đại lạc của kinh Thiếu âm, đi ra ở vùng Khí nhai, theo bờ trong của đùi, vào khoeo chân, ẩn đi ở mặt trong xương chày, đi xuống đến phía sau mắt cá trong th́ tách ra. Một phần khác đi xuống song song với kinh Thiếu âm, thấm vào ba kinh âm. Một nhánh đi ra phía trước th́ ẩn đi, ra ở chỗ khớp mu chân, rồi theo mu chân mà đi xuống vào giữa ngón chân cái, thấm vào các lạc mạch mà làm ấm cơ nhục.

Chú thích

Thiếu âm chi mạch độc hạ hành hà dă: Thử Thiếu âm chi mạch, thực thị chỉ Xung mạch nhi ngôn. Nhân kỳ chú ư Túc Thiếu âm chi biệt lạc, thả dữ Túc Thiếu âm kinh tịnh hành, bất dị biện, cố Đế phát thử vấn. Trương Giới Tân chú: “Túc chi tam âm, ṭng túc tẩu phúc, giai tự hạ nhi thượng, độc Thiếu âm chi mạch hữu hạ hành giả, năi Xung mạch dă.” Giải nghĩa: Câu này thực ra không hỏi riêng về kinh Thiếu âm mà là nói đến Xung mạch, v́ Xung mạch chú vào biệt lạc của Túc Thiếu âm và đi song song với kinh này nên dễ nhầm lẫn.
Chú Thiếu âm chi đại lạc: Ṭng Đại chung huyệt xứ chú nhập Túc Thiếu âm Thận kinh chi biệt lạc. Giải nghĩa: “Chú vào đại lạc của Thiếu âm” là từ vùng huyệt Đại chung mà truyền vào biệt lạc của kinh Thận Túc Thiếu âm.
Âm cổ: Đồng cổ âm, tức đại thoái nội trắc. Giải nghĩa: “Âm cổ” tức mặt trong đùi.
Hĩnh cốt: Tức chày cốt. Giải nghĩa: “Hĩnh cốt” là xương chày.
Hạ chí nội khỏa chi hậu thuộc nhi biệt: 《Thái tố》 vô “hậu” tự. Dương Thượng Thiện chú: “Hĩnh cốt dữ phu cốt tương liên chi xứ viết thuộc dă, chí thử phân vi nhị đạo.” Phu cốt, tức chích cốt. Giải nghĩa: Câu này nói đến chỗ nối giữa xương chày và xương bàn chân, đến đây th́ mạch chia làm hai nhánh.
Phu thuộc: Phu, đồng với chữ phu, chỉ phần mu bàn chân. Phu thuộc, chỉ bờ trên của củ xương gót, tại chỗ gân gót bám vào. 《Linh khu. Cốt độ》 viết: “Tất khoát dĩ hạ chí phu thuộc, trường nhất xích lục thốn, phu thuộc dĩ hạ chí địa, trường tam thốn.”
Giải nghĩa: “Phu” là mu bàn chân. “Phu thuộc” là bờ trên của củ xương gót, chỗ gân gót bám. Sách Linh khu, thiên Cốt độ nói: “Từ dưới khoeo gối đến phu thuộc dài một thước sáu tấc; từ phu thuộc xuống đất dài ba tấc.”

Phân tích

Luận về vị trí tuần hành và chức năng sinh lư của Xung mạch. Phần này nêu ra luận điểm Xung mạch là “hải của ngũ tạng lục phủ”, có ảnh hưởng rất sâu xa đối với đời sau. Bởi v́ Xung mạch là nơi xung yếu tổng lĩnh khí huyết của các kinh, mạch này trên lên đến đầu, dưới xuống đến chân, có thể điều tiết khí huyết của mười hai kinh, trên tưới các dương, dưới thấm các âm, cho nên c̣n có tên là “hải của mười hai kinh” và “huyết hải”.

Đường đi và chức năng của kinh mạch Kiều

Nguyên văn

Phần Hán Việt

Hoàng Đế viết: Kiều mạch an khởi an chỉ? Hà khí vinh dă? Kỳ Bá đáp viết: Kiều mạch giả, Thiếu âm chi biệt, khởi ư Nhiên cốt chi hậu, thượng nội khỏa chi thượng, trực thượng tuần âm cổ nhập âm, thượng tuần hung lư nhập khuyết bồn, thượng xuất Nhân nghênh chi tiền, nhập cầu thuộc mục nội tư, hợp ư Thái dương. Dương kiều nhi thượng hành, khí tịnh tương hoàn tắc vi nhu mục, khí bất vinh tắc mục bất hợp. Hoàng Đế viết: Khí độc hành ngũ tạng, bất vinh lục phủ, hà dă? Kỳ Bá đáp viết: Khí chi bất đắc vô hành dă, như thủy chi lưu, như nhật nguyệt chi hành bất hưu, cố âm mạch vinh kỳ tạng, dương mạch vinh kỳ phủ, như hoàn chi vô đoan, mạc tri kỳ kỷ, chung nhi phục thủy. Kỳ lưu dật chi khí, nội cái tạng phủ, ngoại nhu tấu lư. Hoàng Đế viết: Kiều mạch hữu âm dương, hà mạch đương kỳ số? Kỳ Bá đáp viết: Nam tử số kỳ dương, nữ tử số kỳ âm, đương số giả vi kinh, kỳ bất đương số giả vi lạc dă.

Phần giải nghĩa

Hoàng Đế hỏi: Kiều mạch bắt đầu ở đâu, kết thúc ở đâu? Nhờ khí của kinh nào mà vận hành không ngừng?

Kỳ Bá đáp: Kiều mạch là biệt mạch của kinh Thiếu âm, bắt đầu từ phía sau huyệt Nhiên cốt, đi lên trên mắt cá trong, thẳng lên theo mặt trong đùi đi vào tiền âm, rồi đi lên theo trong ngực vào khuyết bồn, lại đi lên ra phía trước huyệt Nhân nghênh, vào vùng xương g̣ má dưới mắt, thuộc về khóe mắt trong, hợp với kinh Thái dương. Dương kiều mạch đi lên, khí của âm kiều và dương kiều cùng hội lại, qua lại với nhau th́ có tác dụng nhu nhuận đôi mắt; nếu khí không được nuôi dưỡng đầy đủ th́ mắt không khép lại được.

Hoàng Đế hỏi: Khí chỉ đi riêng ở ngũ tạng mà không nuôi lục phủ, là v́ sao?

Kỳ Bá đáp: Khí không thể không vận hành, cũng như nước luôn chảy, như mặt trời mặt trăng vận hành không ngừng nghỉ. Bởi vậy âm mạch nuôi dưỡng tạng, dương mạch nuôi dưỡng phủ, giống như ṿng tṛn không có đầu mối, không biết đâu là điểm bắt đầu, hết rồi lại bắt đầu. Khí tràn ra từ sự vận hành ấy th́ bên trong tưới nhuần tạng phủ, bên ngoài làm nhu nhuận tấu lư.

Hoàng Đế hỏi: Kiều mạch có âm và dương, vậy mạch nào được tính vào tổng số kinh mạch?

Kỳ Bá đáp: Ở nam th́ tính Dương kiều, ở nữ th́ tính Âm kiều. Mạch nào được tính vào tổng số th́ gọi là kinh; mạch nào không tính vào tổng số th́ gọi là lạc.

Chú thích

Hà khí vinh dă: Dă, 《Châm cứu giáp ất kinh》 tác “dă”. Ư tư thị vấn kiều mạch thị tá hà kinh chi khí nhi doanh vận bất hưu đích.
Giải nghĩa: Câu này hỏi Kiều mạch nhờ khí của kinh nào mà được nuôi dưỡng và vận hành không ngừng.

Nhiên cốt chi hậu: Nhiên cốt, Túc Thiếu âm Thận kinh Nhiên cốc huyệt chi biệt danh, hựu xưng Long uyên. Huyệt tại túc nội trắc duyên, nội khỏa tiền hạ phương chu cốt kết tiết hạ phương ao hăm xứ. Nhiên cốc chi hậu, chỉ Chiếu hải huyệt, thuộc Túc Thiếu âm Thận kinh. Vị ư túc cân nội trắc, nội khỏa tiêm trực hạ nhất thốn xứ, vi Âm kiều mạch chi khởi thủy bộ. Trương Giới Tân chú: “Nhiên cốt chi hậu, Chiếu hải dă, Túc Thiếu âm huyệt, tức Âm kiều chi sở sinh.”
Giải nghĩa: “Phía sau Nhiên cốt” là chỉ huyệt Chiếu hải, thuộc kinh Thận túc Thiếu âm, ở phía trong gót chân, dưới đỉnh mắt cá trong một tấc; đây là nơi bắt đầu của Âm kiều mạch.

Nhập âm: Chỉ tiến nhập tiền âm, Dương Thượng Thiện chú: “Nhập âm giả, Âm kiều mạch nhập âm khí dă.”
Giải nghĩa: “Nhập âm” nghĩa là đi vào tiền âm, tức bộ phận sinh dục ngoài.

Cầu: Chỉ mục hạ quyền bộ.
Giải nghĩa: “Cầu” là vùng g̣ má dưới mắt.

Khí tịnh tương hoàn tắc vi nhu mục: Âm, Dương nhị kiều mạch giao hội ư mục nội tư, tịnh hành hoàn nhiễu ư mục, hữu nhu nhuận lưỡng mục chi tác dụng.
Giải nghĩa: Âm kiều và Dương kiều gặp nhau ở khóe mắt trong, cùng đi quanh mắt, nên có tác dụng làm nhu nhuận đôi mắt.

Đương kỳ số: Số, thị chỉ toàn thân kinh mạch trường nhất thập lục trượng nhị xích chi tổng số. Nhân kỳ trung cận chỉ xuất kiều mạch trường thất xích ngũ thốn, tả hữu cộng hợp nhất trượng ngũ xích, như bao quát Âm kiều dữ Dương kiều tại nội, tắc tả hữu cộng tứ điều, giá dạng tựu ḥa mạch trường chi tổng số bất tương phù hợp. Sở dĩ Âm kiều, Dương kiều chi trường độ tuy thị nhất dạng, đăn kế toán tại tổng số chi nội thị chỉ nam tử chi Dương kiều, nữ tử chi Âm kiều, xưng vi đương kỳ số. Đương kỳ số đích tựu xưng vi kinh; bất đương kỳ số đích tắc xưng lạc, lạc thị bất hứa kế toán tại kinh mạch trường độ tổng số chi nội đích.
Giải nghĩa: “Đương kỳ số” nghĩa là được tính vào tổng số chiều dài kinh mạch toàn thân. Tuy Âm kiều và Dương kiều có độ dài như nhau, nhưng khi tính tổng số th́ ở nam chỉ tính Dương kiều, ở nữ chỉ tính Âm kiều. Mạch nào được tính vào tổng số th́ gọi là kinh, không tính th́ gọi là lạc.

Phân tích

Phần này phân tích cụ thể về đường đi, công dụng của Kiều mạch, đồng thời nói rơ vấn đề nam lấy Dương kiều làm kinh, nữ lấy Âm kiều làm kinh. Nội dung ở đây có thể đối chiếu với các ghi chép liên quan trong Nan kinh để có được sự hiểu biết đầy đủ hơn về sinh lư và bệnh lư của Kiều mạch. Nan kinh, thiên Nhị thập bát nan nói: “Dương kiều giả, khởi ư cân trung, tuần ngoại khỏa thượng hành nhập Phong tŕ; Âm kiều giả, diệc khởi ư cân trung, tuần nội khỏa thượng chí yết hầu, giao quán Xung mạch.”

“Kiều” có nghĩa là nhẹ nhàng, mạnh mẽ, nhanh nhẹn. Kiều mạch cũng thuộc kỳ kinh. Cả hai mạch Âm kiều và Dương kiều đều bắt đầu từ gót chân. Âm kiều là biệt mạch của Thiếu âm, khởi ở Chiếu hải, đi lên dọc mắt cá trong; Dương kiều là biệt mạch của Thái dương, khởi ở Thân mạch, đi lên dọc mắt cá ngoài. Cả hai đều đi lên đến khóe mắt trong, là nơi vệ khí giao hội giữa ngày và đêm. Vệ khí từ kinh Thận túc Thiếu âm mà đi vào tưới nhuần tạng phủ bên trong, từ kinh Bàng quang túc Thái dương mà ra ngoài làm nhuần tấu lư; dương thăng âm giáng, âm dương trong ngoài quân b́nh, doanh vệ vận hành điều ḥa, th́ sự ngủ nghỉ thức tỉnh sẽ phù hợp với quy luật của trời đất, tinh thần phấn chấn, động tác tay chân tự nhiên nhẹ nhàng nhanh nhẹn. Từ đó có thể thấy Âm kiều và Dương kiều cũng là một hệ thống điều tiết nhỏ trong cơ thể người.

Cái gọi là “đương kỳ số” trong kinh văn chỉ là một cách thống kê. Ở nam th́ tính Dương kiều, ở nữ th́ tính Âm kiều; mạch nào được tính vào tổng số th́ thuộc kinh mạch, mạch nào không được tính vào tổng số th́ thuộc lạc mạch.

Quan hệ của mạch Kiều với giấc ngủ

Nguyên văn

Phần Hán Việt

Âm kiều, Dương kiều, âm dương tương giao, dương nhập âm, âm xuất dương, giao ư mục nội tư, dương khí thịnh tắc sân mục, âm khí thịnh tắc minh mục.

Phần giải nghĩa

Âm kiều và Dương kiều giao nhau, âm dương qua lại với nhau: dương đi vào âm, âm đi ra dương, gặp nhau ở khóe mắt trong. Khi dương khí thịnh th́ mắt mở; khi âm khí thịnh th́ mắt nhắm.

Chú thích

Mục nhuệ giai: Đương vi mục nội tư. Trương Giới Tân chú: “《Mạch độ》 thiên ngôn kiều mạch thuộc mục nội tư, hợp ư Thái dương. Hạ văn 《Nhiệt bệnh》 thiên viết mục trung xích thống, ṭng mục nội tư thủy, thủ chi Âm kiều. Nhiên tắc thử vân nhuệ giai giả, đương tác nội tư dă.”
Giải nghĩa: “Mục nhuệ giai” ở đây phải là “mục nội tư”, tức khóe mắt trong.

Sân mục: Tức tranh khai nhăn t́nh.
Giải nghĩa: “Sân mục” là mở mắt ra.

Minh mục: Tức bế thượng nhăn t́nh.
Giải nghĩa: “Minh mục” là nhắm mắt lại.

Phân tích

Phần này chỉ ra nơi giao hội của Âm kiều và Dương kiều, đồng thời luận về quan hệ giữa sự thiên thịnh của âm dương ở hai mạch này với giấc ngủ. Điều đó cung cấp cơ sở lư luận cho phép chữa mất ngủ theo hướng dưỡng âm tiềm dương. Nan kinh, thiên Nhị thập cửu nan c̣n bổ sung thêm về biến hóa bệnh lư của hai mạch này, nói rằng: “Âm kiều vi bệnh, dương hoăn nhi âm cấp; Dương kiều vi bệnh, âm hoăn nhi dương cấp.”

Trích đoạn Kinh Thánh tham khảo

“Kinh mạch vi lư, chi nhi hoành giả vi lạc, lạc chi biệt giả vi tôn.” (《Linh khu. Mạch độ》)
Giải nghĩa: Kinh mạch là phần ở bên trong; những nhánh tỏa ngang ra gọi là lạc; nhánh nhỏ hơn tách ra từ lạc gọi là tôn lạc.

“Kinh mạch giả, sở dĩ hành huyết khí nhi doanh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết giả dă.” (《Linh khu. Bản tạng》)
Giải nghĩa: Kinh mạch là cái dùng để vận hành khí huyết, nuôi dưỡng âm dương, làm nhu nhuần gân xương, làm lợi cho khớp xương.

“Phu thập nhị kinh mạch giả, nội thuộc ư phủ tạng, ngoại lạc ư chi tiết.” (《Linh khu. Hải luận》)
Giải nghĩa: Mười hai kinh mạch th́ bên trong thuộc về phủ tạng, bên ngoài liên lạc với chân tay khớp xương.

“Phu thập nhị kinh mạch giả, nhân chi sở dĩ sinh, bệnh chi sở dĩ thành, nhân chi sở dĩ trị, bệnh chi sở dĩ khởi, học chi sở thủy, công chi sở chỉ dă, thô chi sở dị, thượng chi sở nan dă.” (《Linh khu. Kinh biệt》)
Giải nghĩa: Mười hai kinh mạch là cơ sở của sự sống con người, là nơi bệnh tật h́nh thành, là chỗ để chữa bệnh, là nơi bệnh phát sinh, là điểm khởi đầu của việc học và điểm cuối của nghề y; đối với người học nông th́ dễ, c̣n với bậc cao minh th́ rất khó.

“Thủ chi lục dương, ṭng thủ chí đầu, trường ngũ xích, ngũ lục tam trượng. Thủ chi lục âm, ṭng thủ chí hung trung, tam xích ngũ thốn, tam lục nhất trượng bát xích, ngũ lục tam xích, hợp nhị trượng nhất xích. Túc chi lục dương, ṭng túc thượng chí đầu bát xích, lục bát tứ trượng bát xích. Túc chi lục âm, ṭng túc chí hung trung, lục xích ngũ thốn, lục lục tam trượng lục xích, ngũ lục tam xích, hợp tam trượng cửu xích. Kiều mạch ṭng túc chí mục, thất xích ngũ thốn, nhị thất nhất trượng tứ xích, nhị ngũ nhất xích, hợp nhất trượng ngũ xích. Đốc mạch, Nhâm mạch các tứ xích ngũ thốn, nhị tứ bát xích, nhị ngũ nhất xích, hợp cửu xích. Phàm đô hợp nhất thập lục trượng nhị xích, thử khí chi đại kinh toại dă.” (《Linh khu. Mạch độ》)
Giải nghĩa: Đoạn này nêu tổng chiều dài của các kinh mạch trong cơ thể, cuối cùng cộng lại thành mười sáu trượng hai xích, cho rằng đó là đại kinh toại để khí vận hành.

“Thập nhị kinh mạch, tam bách lục thập ngũ lạc, kỳ huyết khí giai thượng ư diện nhi tẩu không khiếu, kỳ tinh dương khí thượng tẩu ư mục nhi vi t́nh, kỳ biệt khí tẩu ư nhĩ nhi vi thính, kỳ tông khí thượng xuất ư tỵ nhi vi xú, kỳ trọc khí xuất ư vị, tẩu thần thiệt nhi vi vị.” (《Linh khu. Tà khí tạng phủ bệnh h́nh》)
Giải nghĩa: Huyết khí của mười hai kinh và ba trăm sáu mươi lăm lạc đều đi lên mặt và các khiếu; tinh dương khí đi lên mắt thành thị giác, biệt khí đi lên tai thành thính giác, tông khí ra mũi thành khứu giác, trọc khí từ vị ra môi lưỡi thành vị giác.

“Kinh mạch thập nhị giả, ngoại hợp ư thập nhị kinh thủy, nhi nội thuộc ư ngũ tạng lục phủ. Phu thập nhị kinh thủy giả, kỳ hữu đại tiểu, thâm thiển, quảng hiệp, viễn cận các bất đồng, ngũ tạng lục phủ chi cao hạ, tiểu đại, thụ cốc chi đa thiểu diệc bất đẳng, tương ứng nại hà? Phu kinh thủy giả, thụ thủy nhi hành chi; ngũ tạng giả, hợp thần khí hồn phách nhi tàng chi; lục phủ giả, thụ cốc nhi hành chi, thụ khí nhi dương chi; kinh mạch giả, thụ huyết nhi doanh chi.” (《Linh khu. Kinh thủy》)
Giải nghĩa: Mười hai kinh mạch ở ngoài ứng với mười hai kinh thủy, ở trong thuộc với ngũ tạng lục phủ. Kinh thủy tiếp nhận nước mà chảy, ngũ tạng tàng giữ thần khí hồn phách, lục phủ nhận thức ăn mà vận hành, nhận khí mà truyền đi, c̣n kinh mạch th́ nhận huyết mà nuôi dưỡng vận hành.

“Kinh mạch thập nhị giả, dĩ ứng thập nhị nguyệt, thập nhị nguyệt giả, phân vi tứ thời, tứ thời giả, xuân thu đông hạ, kỳ khí các dị, doanh vệ tương tùy, âm dương dĩ ḥa, thanh trọc bất tương can, như thị tắc thuận chi nhi trị.” (《Linh khu. Ngũ loạn》)
Giải nghĩa: Mười hai kinh mạch ứng với mười hai tháng; mười hai tháng chia thành bốn mùa, bốn mùa có khí khác nhau. Nếu doanh vệ theo nhau, âm dương điều ḥa, thanh trọc không xâm phạm nhau th́ có thể thuận theo đó mà trị.

“Ngũ tạng hữu tật dă, ứng xuất thập nhị nguyên, nhi nguyên các hữu sở xuất, minh tri kỳ nguyên, đổ kỳ ứng, nhi tri ngũ tạng chi hại hĩ.” (《Linh khu. Cửu châm thập nhị nguyên》)
Giải nghĩa: Khi ngũ tạng có bệnh th́ phản ứng xuất hiện ở mười hai nguyên huyệt. Hiểu rơ nguyên huyệt nào ứng với tạng nào, quan sát phản ứng ấy th́ có thể biết được tổn hại của ngũ tạng.

Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-04-14 20:06:20
Bài Giảng thứ 6 HỌC THUYẾT BỆNH NHÂN BỆNH CƠ
Học thuật chỉ yếu sơ nghĩa (Giải thích về các yếu tố thiết yếu trong học tập)

1.Phần Hán Việt: 《Nội kinh》 bệnh nhân bệnh cơ học thuyết đích khái yếu, tham kiến đệ nhất giảng “《Nội kinh》 lư luận thể hệ đích chủ yếu nội dung” trung tương quan giới thiệu.

Phần giải nghĩa: Khái lược về học thuyết bệnh nhân và bệnh cơ trong 《Nội kinh》 có thể xem thêm ở bài giảng thứ nhất, phần giới thiệu các nội dung chủ yếu của hệ thống lư luận 《Nội kinh》.

Giải thích: Đoạn này chỉ là lời dẫn nhập, nhắc người đọc rằng vấn đề bệnh nhân và bệnh cơ đă được giới thiệu sơ bộ từ trước, ở đây sẽ đi sâu hơn vào ư chính.

2.Phần Hán Việt: 《Nội kinh》 băi thoát liễu quỷ thần trí bệnh đích mê tín tư tưởng, tại thiên nhân tương ứng ḥa h́nh thần thống nhất quan niệm đích chỉ đạo hạ, chỉ xuất: “Phù bách bệnh chi thủy sinh dă, giai sinh ư phong vũ hàn thử, âm dương hỉ nộ, ẩm thực cư xử, đại kinh tốt khủng。” Thuyết minh tự nhiên khí hậu đích dị thường, nhân thể tự thân đích t́nh chí quá kích, dĩ cập ẩm thực bất tiết, lao dật thất đương, pḥng sự quá độ đẳng, đô khả thành vi trí bệnh nhân tố.

Phần giải nghĩa: 《Nội kinh》 đă thoát khỏi tư tưởng mê tín cho rằng quỷ thần gây bệnh. Dưới sự chỉ đạo của quan niệm thiên nhân tương ứng và h́nh thần thống nhất, sách chỉ ra rằng: “Sự phát sinh ban đầu của trăm bệnh đều do phong vũ hàn thử, do âm dương hỉ nộ, do ăn uống cư xử, do quá sợ hăi đột ngột mà thành.” Điều này nói rơ rằng khí hậu tự nhiên bất thường, t́nh chí con người quá kích động, cùng với ăn uống không điều độ, lao động nghỉ ngơi không thích hợp, pḥng sự quá độ... đều có thể trở thành nguyên nhân gây bệnh.

Giải thích: Ư chính của đoạn này là 《Nội kinh》 dùng cách nh́n tự nhiên và sinh lư để giải thích bệnh tật, không quy bệnh cho lực lượng thần bí. Bệnh phát sinh do ngoại cảnh, tinh thần, ăn uống, sinh hoạt và lao lực, tức là bệnh có nguyên nhân cụ thể, có thể nhận biết và pḥng tránh.

3.Phần Hán Việt: Căn cứ giá ta bệnh nhân đích lai nguyên, 《Tố vấn. Điều kinh luận》 chỉ xuất: “Phù tà chi sinh dă, hoặc sinh ư âm, hoặc sinh ư dương. Kỳ sinh ư dương giả, đắc chi phong vũ hàn thử; kỳ sinh ư âm giả, đắc chi ẩm thực cư xử, âm dương hỉ nộ。” Tương bệnh nhân phân vi âm, dương lưỡng đại loại: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa đẳng, ṭng ngoại nhập nhi xâm phạm nhân thể, thuộc dương tà, vi ngoại cảm bệnh nhân; thất t́nh, ẩm thực, cư xử, lao quyện đẳng, tự nội sinh nhi tổn hại kiện khang, thuộc âm tà, vi nội thương bệnh nhân.

Phần giải nghĩa: Dựa theo nguồn gốc của bệnh nhân, 《Tố vấn. Điều kinh luận》 nói: “Tà phát sinh, hoặc sinh ở âm, hoặc sinh ở dương. Cái sinh ở dương th́ do phong vũ hàn thử; cái sinh ở âm th́ do ẩm thực cư xử, âm dương hỉ nộ.” Như vậy bệnh nhân được chia làm hai loại lớn là âm và dương. Các tà như phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa... từ ngoài xâm nhập cơ thể th́ thuộc dương tà, là nguyên nhân ngoại cảm. C̣n thất t́nh, ăn uống, cư xử, lao quyện... từ trong phát sinh mà làm tổn hại sức khỏe th́ thuộc âm tà, là nguyên nhân nội thương.

Giải thích: Đoạn này nêu phép phân loại bệnh nhân theo hai cương lĩnh âm và dương. Nói gọn, bệnh từ bên ngoài vào gọi là ngoại cảm, bệnh do bên trong sinh ra gọi là nội thương. Đây là nền tảng rất quan trọng cho biện chứng về sau.

4.Phần Hán Việt: 《Linh khu. Bách bệnh thủy sinh》 tắc đề xuất tam bộ phân loại pháp, tương nguyên ư thiên đích “phong vũ hàn thử” đẳng tà quy ư “thượng bộ” bệnh nhân; nguyên ư thiên địa chi gian đích nhân vi sinh hoạt nhân tố, như hỉ nộ, ẩm thực, khởi cư thất điều đẳng, quy ư “trung bộ” bệnh nhân; nguyên ư địa đích “thanh thấp” tà khí sở thương quy ư “hạ bộ” bệnh nhân. 《Nội kinh》 đích bệnh nhân phân loại thị Trung Quốc tối tảo đích bệnh nhân phân loại pháp, vi hậu thế tam nhân học thuyết đích h́nh thành điện định liễu lư luận cơ sở.

Phần giải nghĩa: 《Linh khu. Bách bệnh thủy sinh》 lại đề xuất phép phân loại thành ba phần. Những tà khí như “phong vũ hàn thử” có nguồn từ trời th́ xếp vào nguyên nhân phần thượng; những yếu tố sinh hoạt do con người gây ra giữa trời đất như hỉ nộ, ăn uống, khởi cư thất điều... th́ xếp vào nguyên nhân phần trung; những tà khí “thanh thấp” có nguồn từ đất th́ xếp vào nguyên nhân phần hạ. Cách phân loại bệnh nhân của 《Nội kinh》 là phương pháp phân loại bệnh nhân sớm nhất ở Trung Quốc, đặt nền tảng lư luận cho học thuyết tam nhân đời sau.

Giải thích: Ngoài cách chia âm dương, 《Nội kinh》 c̣n có cách chia thượng, trung, hạ. Đây là cách nh́n bệnh nhân theo nguồn gốc từ trời, từ sinh hoạt con người, và từ đất. Về sau học thuyết tam nhân chính là phát triển từ nền tảng này.

5.Phần Hán Việt: Ưng cai đặc biệt chỉ xuất đích thị, 《Nội kinh》 sở định đích Trung y bệnh nhân học thuyết, đối bệnh nhân đích nhận thức thường thấu quá loại tỷ, thôi lư đẳng thẩm chứng cầu nhân hoạch đắc, kỳ bệnh nhân bất cận bao quát cụ thể đích trí bệnh nhân tố, hoàn bao quát nhất ta bệnh lư biến hóa ḥa bệnh lư sản vật, ví như “nội sinh chi tà” đích phong hỏa hàn thấp đẳng.

Phần giải nghĩa: Cần đặc biệt nói rơ rằng học thuyết bệnh nhân của Trung y do 《Nội kinh》 xác lập thường nhận biết nguyên nhân bệnh thông qua so sánh, suy luận, xét chứng t́m nguyên nhân. V́ vậy “bệnh nhân” không chỉ bao gồm các yếu tố gây bệnh cụ thể, mà c̣n bao gồm cả một số biến hóa bệnh lư và sản vật bệnh lư, ví dụ như các thứ “nội sinh chi tà” như phong, hỏa, hàn, thấp.

Giải thích: Đoạn này rất quan trọng. Trung y không phải lúc nào cũng thấy trực tiếp “nguyên nhân” như vi khuẩn hay chấn thương, mà nhiều khi phải từ biểu hiện bệnh mà suy ra nguyên nhân. V́ vậy khái niệm bệnh nhân trong Trung y rộng hơn, gồm cả tà khí nội sinh và các sản vật bệnh lư.

6.Phần Hán Việt: 《Nội kinh》 đại lượng xiển thuật liễu bất đồng bệnh nhân đích trí bệnh đặc điểm ḥa phát bệnh quy luật. Ví như 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》 chỉ xuất “phong thắng tắc động, nhiệt thắng tắc thũng, táo thắng tắc can, hàn thắng tắc phù, thấp thắng tắc nhu tiết”; 《Tố vấn. Cử thống luận》 tắc luận thuật thuyết: “Hàn tắc khí thu, quưnh tắc khí tiết。”

Phần giải nghĩa: 《Nội kinh》 đă tŕnh bày rất nhiều về đặc điểm gây bệnh và quy luật phát bệnh của những nguyên nhân khác nhau. Ví dụ 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》 nói: “Phong thắng th́ động, nhiệt thắng th́ sưng, táo thắng th́ khô, hàn thắng th́ phù, thấp thắng th́ nhu tiết”; 《Tố vấn. Cử thống luận》 lại nói: “Hàn th́ khí co rút, nhiệt th́ khí tiết ra.”

Giải thích: Đoạn này nêu các quy luật bệnh lư cơ bản của từng tà. Mỗi loại tà khí có tính chất riêng, khi thắng thế sẽ tạo ra biểu hiện bệnh riêng. Đây chính là cơ sở để nh́n triệu chứng mà đoán tà khí nào đang chiếm ưu thế.

7.Phần Hán Việt: Thử ngoại, phong tà thượng hữu “thiện hành sác biến”, “vi bách bệnh chi trường” đích đặc tính; lục dâm tà khí thương nhân đồ kính hựu hữu sở bất đồng, “thương ư phong giả, thượng tiên thụ chi; thương ư thấp giả, hạ tiên thụ chi”, “dương thụ phong khí, âm thụ thấp khí”。 T́nh chí thất thường, tắc dị thương ngũ tạng, “hỉ nộ bất tiết tắc thương tạng, tạng thương tắc bệnh khởi ư âm dă”。 Thất t́nh quá kích tựu đạo trí khí cơ thất điều, “nộ tắc khí thượng, hỉ tắc khí hoăn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ, kinh tắc khí loạn...... tư tắc khí kết”。

Phần giải nghĩa: Ngoài ra, phong tà c̣n có đặc tính “thiện hành sác biến”, “là đầu mối của trăm bệnh”. Con đường làm tổn thương người của lục dâm tà khí cũng khác nhau: “Bị thương bởi phong th́ phần trên tiếp nhận trước; bị thương bởi thấp th́ phần dưới tiếp nhận trước”; “dương chịu phong khí, âm chịu thấp khí”. T́nh chí thất thường th́ dễ làm tổn thương ngũ tạng, như câu: “Hỉ nộ không điều độ th́ thương tạng, tạng bị thương th́ bệnh khởi từ âm.” Thất t́nh quá mức c̣n dẫn đến khí cơ thất điều: “Nộ th́ khí thượng, hỉ th́ khí hoăn, bi th́ khí tiêu, khủng th́ khí hạ, kinh th́ khí loạn... tư th́ khí kết.”

Giải thích: Đoạn này nối tiếp đoạn trên nhưng đi sâu hơn. Không chỉ ngoại tà có quy luật riêng, mà t́nh chí cũng có đường lối gây bệnh riêng. Đặc biệt, mỗi cảm xúc quá mức sẽ làm khí cơ biến động theo một kiểu khác nhau. Đây là nền tảng của học thuyết thất t́nh nội thương.

8.Phần Hán Việt: Tổng chi, 《Nội kinh》 đích bệnh nhân học thuyết đích nội dung ḥa lư luận nguyên tắc, thị lâm sàng phân tích tật bệnh, thám cầu bệnh nhân, biện chứng luận trị đích chủ yếu y cứ.

Phần giải nghĩa: Tóm lại, nội dung và nguyên tắc lư luận của học thuyết bệnh nhân trong 《Nội kinh》 là căn cứ chủ yếu để lâm sàng phân tích bệnh tật, t́m nguyên nhân bệnh và tiến hành biện chứng luận trị.

Giải thích: Đây là câu tổng kết phần bệnh nhân. Mục đích cuối cùng của việc học bệnh nhân không phải chỉ để biết lư thuyết, mà là để dùng trong chẩn đoán và điều trị.

9.Phần Hán Việt: “Bệnh cơ” nhị tự tại 《Nội kinh》 trung cận kiến ư 《Tố vấn. Chí chân yếu đại luận》, thị chỉ tật bệnh phát sinh, phát triển, biến hóa đích nội tại cơ chế. Bệnh cơ học thuyết, thị nghiên cứu ḥa thám thảo tật bệnh phát sinh, bệnh lư biến hóa, bệnh chứng truyền biến chuyển quy đích cơ lư ḥa quy luật đích nhất môn học vấn.

Phần giải nghĩa: Hai chữ “bệnh cơ” trong 《Nội kinh》 chỉ thấy xuất hiện ở 《Tố vấn. Chí chân yếu đại luận》, dùng để chỉ cơ chế bên trong của sự phát sinh, phát triển và biến hóa của bệnh. Học thuyết bệnh cơ là môn học nghiên cứu và thảo luận về cơ lư, quy luật của sự phát sinh bệnh tật, biến hóa bệnh lư, cũng như sự truyền biến và chuyển quy của bệnh chứng.

Giải thích: Nếu “bệnh nhân” là nguyên nhân gây bệnh, th́ “bệnh cơ” là cách bệnh h́nh thành và vận động ở bên trong cơ thể. Nói cách khác, bệnh nhân trả lời câu hỏi “do đâu mà bệnh”, c̣n bệnh cơ trả lời câu hỏi “bệnh vận hành thế nào”.

10.Phần Hán Việt: 《Nội kinh》 bả nhân thể đối các chủng trí bệnh nhân tố đích pḥng ngự năng lực, xưng chi “chính khí”, tương trí bệnh nhân tố xưng chi “tà khí”。 Tật bệnh năng phủ phát sinh, thủ quyết ư chính tà lực lượng đích đối tỷ, “chính khí tồn nội, tà bất khả can”, “tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư”, nhân thể chính khí vượng thịnh, tà khí tựu bất dị xâm nhập, hoặc tuy hữu tà khí xâm tập, dă bất hội phát sinh tật bệnh; đương nhân thể chính khí tương đối hư nhược, bất túc dĩ để kháng tà khí thời, tà khí tài năng vi hại nhi trí bệnh.

Phần giải nghĩa: 《Nội kinh》 gọi năng lực pḥng ngự của cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh là “chính khí”, c̣n các yếu tố gây bệnh th́ gọi là “tà khí”. Bệnh có phát sinh hay không là do so sánh lực lượng giữa chính và tà. “Chính khí tồn nội, tà bất khả can”; “tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư”. Nếu chính khí của cơ thể đầy đủ, mạnh mẽ, tà khí sẽ không dễ xâm nhập, hoặc dù có xâm nhập cũng chưa chắc phát bệnh; chỉ khi chính khí tương đối hư yếu, không đủ sức chống lại tà khí, th́ tà khí mới làm hại và gây bệnh.

Giải thích: Đây là nguyên lư trung tâm của bệnh cơ trong Trung y: bệnh sinh ra bởi quan hệ giữa chính và tà. Không phải cứ có tà là nhất định sinh bệnh, mà c̣n tùy chính khí mạnh hay yếu. Điều này giải thích v́ sao cùng một tà khí nhưng người phát bệnh, người không.

11.Phần Hán Việt: Nhân thử, 《Nội kinh》 cường điệu nhân đích thể chất trạng thái dữ tật bệnh đích phát sinh dữ diễn biến hữu trước mật thiết đích quan hệ, đề xuất “sinh bệnh khởi ư quá dụng” đích quan điểm. Đồng thời, 《Nội kinh》 dă khán đáo nhân thể đích chính khí thị hữu nhất định hạn độ đích, như quả tà khí đích trí bệnh năng lực đại đại siêu việt liễu nhân thể đích pḥng ngự năng lực, đồng dạng khả dĩ đạo trí tật bệnh đích phát sinh. Sở dĩ 《Nội kinh》 dă cường điệu yếu “tị kỳ độc khí”, trọng thị đối tật bệnh đích dự pḥng.

Phần giải nghĩa: V́ vậy, 《Nội kinh》 nhấn mạnh rằng trạng thái thể chất của con người có quan hệ rất mật thiết với sự phát sinh và diễn biến của bệnh, đồng thời nêu ra quan điểm “sinh bệnh khởi từ quá dụng”. Mặt khác, 《Nội kinh》 cũng thấy rằng chính khí của cơ thể có giới hạn nhất định; nếu sức gây bệnh của tà khí vượt quá nhiều khả năng pḥng vệ của cơ thể, th́ bệnh vẫn có thể phát sinh. V́ thế, sách cũng nhấn mạnh cần “tránh độc khí”, coi trọng việc pḥng bệnh.

Giải thích: Đoạn này bổ sung cho đoạn trên: ngoài chính khí yếu, việc sử dụng thân thể quá mức cũng là nguyên nhân làm phát bệnh. Đồng thời, ngay cả người khỏe cũng có thể mắc bệnh nếu tà khí quá mạnh. Cho nên dưỡng sinh và pḥng bệnh đều rất quan trọng.

12.Phần Hán Việt: 《Nội kinh》 nhận vi, tật bệnh thị “chính tà tương bác” phá hoại liễu nhân thể âm dương động thái b́nh hành đích kết quả, thị do ư “chính tà tương bác”, sử nhân thể âm dương thất hành, đạo trí tạng phủ kinh lạc khí cơ thăng giáng dĩ cập khí huyết vận hành văn loạn, ṭng nhi sản sinh nhất hệ liệt bệnh lư biến hóa. Tật bệnh đích bệnh lư biến hóa tuy cực vi phức tạp, đăn đô thị tà thịnh chính suy, âm dương thất điều đích phản ánh, khái quát khởi lai chủ yếu hữu hàn, nhiệt, hư, thực tứ cá phương diện.

Phần giải nghĩa: 《Nội kinh》 cho rằng bệnh tật là kết quả của việc “chính tà tương bác” phá vỡ sự cân bằng động của âm dương trong cơ thể. Chính v́ chính tà giao tranh mà âm dương mất điều ḥa, dẫn đến khí cơ thăng giáng của tạng phủ kinh lạc và sự vận hành của khí huyết bị rối loạn, từ đó sinh ra một loạt biến hóa bệnh lư. Tuy những biến hóa ấy rất phức tạp, nhưng xét chung đều là sự phản ánh của tà thịnh chính suy và âm dương thất điều, có thể khái quát thành bốn mặt lớn là hàn, nhiệt, hư, thực.

Giải thích: Đây là đoạn then chốt. Tác giả gom toàn bộ bệnh cơ phức tạp về một khung lớn: chính tà giao tranh làm âm dương mất cân bằng, rồi biểu hiện thành hàn, nhiệt, hư, thực. Đây là nền tảng cho bát cương biện chứng.

13.Phần Hán Việt: Hàn dữ nhiệt, thị âm dương thất điều đích chủ yếu biểu hiện, dă thị biện biệt nhất thiết tật bệnh thuộc tính đích lưỡng đại cương lĩnh. Giá lưỡng chủng bệnh biến, kư khả do ngoại lai hàn tà hoặc nhiệt tà dẫn khởi, dă khả do nhân thể nội tạng công năng thất điều sở sản sinh. Nhất ban thuyết lai, nhiệt thị dương thiên thịnh đích biểu hiện, hàn thị âm thiên thịnh đích biểu hiện. Tại tật bệnh phát triển quá tŕnh trung, nhiệt thịnh hựu khả đạo trí âm thương, hàn thịnh hựu khả đạo trí dương tổn, sở vị “dương thắng tắc âm bệnh, âm thắng tắc dương bệnh”。 Hàn nhiệt đích bệnh lư, tịnh bất thị nhất thành bất biến đích, tại nhất định điều kiện hạ, khả dĩ tương hỗ chuyển hóa, hoặc do hàn chuyển nhiệt, hoặc do nhiệt chuyển hàn, sử tật bệnh đích tính chất phát sinh căn bản cải biến, sở vị “hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn”。

Phần giải nghĩa: Hàn và nhiệt là biểu hiện chủ yếu của âm dương mất điều ḥa, cũng là hai cương lĩnh lớn để phân biệt thuộc tính của mọi bệnh. Hai loại bệnh biến này có thể do hàn tà hay nhiệt tà từ bên ngoài gây nên, cũng có thể do công năng nội tạng mất điều ḥa mà sinh ra. Nói chung, nhiệt là biểu hiện của dương thiên thịnh, c̣n hàn là biểu hiện của âm thiên thịnh. Trong quá tŕnh phát triển bệnh, nhiệt thịnh lại có thể làm tổn thương âm, hàn thịnh lại có thể làm tổn thương dương, tức là “dương thắng th́ âm bệnh, âm thắng th́ dương bệnh”. Bệnh lư hàn nhiệt không phải bất biến, mà trong những điều kiện nhất định có thể chuyển hóa lẫn nhau: hoặc từ hàn chuyển sang nhiệt, hoặc từ nhiệt chuyển sang hàn, tức là “hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn”.

Giải thích: Đoạn này chuyên nói về cặp hàn – nhiệt. Cốt lơi là hàn nhiệt không chỉ là triệu chứng mà c̣n phản ánh trạng thái âm dương. Đồng thời hàn nhiệt có thể hóa chuyển, cho nên lâm sàng không được nh́n bệnh một cách cố định.

14.Phần Hán Việt: Hư dữ thực, thị tà chính thịnh suy đích chủ yếu biểu hiện. Hư, chủ yếu chỉ chính khí bất túc. Cục bộ hoặc chỉnh thể đích âm dương khí huyết khuy tổn, chính khí bất năng dữ tà khí kháng tranh, tiện thị thuộc hư đích bệnh lư biến hóa, tức sở vị “tinh khí đoạt tắc hư”。 Thực, chủ yếu chỉ tà khí hữu dư. Tà khí thịnh, chính khí vị suy, tà chính tương tranh, tiện thị thuộc thực đích bệnh lư biến hóa, tức sở vị “tà khí thịnh tắc thực”。 Hư thực dă khả dĩ tương hỗ chuyển hóa, như bệnh tà cửu lưu, chính khí hao tổn, khả dĩ do thực trí hư; dă hữu chính khí bất túc, đàm, thực, thủy, huyết lưu trệ, dĩ trí nhân hư trí thực. Hư thực bất cận khả dĩ giao thác xuất hiện, hữu thời hoàn khả xuất hiện “chân hư giả thực” hoặc “chân thực giả hư” đích hiện tượng, sở vị “đại thực hữu luy trạng, chí hư hữu thịnh hậu”。

Phần giải nghĩa: Hư và thực là biểu hiện chủ yếu của sự thịnh suy giữa tà và chính. “Hư” chủ yếu chỉ chính khí bất túc. Khi âm dương khí huyết ở cục bộ hoặc toàn thân bị hao tổn, chính khí không đủ để chống tà, th́ đó là biến hóa bệnh lư thuộc hư, tức là “tinh khí mất th́ thành hư”. “Thực” chủ yếu chỉ tà khí hữu dư. Khi tà khí đang thịnh, chính khí chưa suy, hai bên c̣n giao tranh, th́ đó là biến hóa bệnh lư thuộc thực, tức là “tà khí thịnh th́ thực”. Hư và thực cũng có thể chuyển hóa lẫn nhau. Ví dụ bệnh tà lưu lại lâu ngày làm hao tổn chính khí, từ thực có thể chuyển thành hư; cũng có khi chính khí vốn bất túc, lại thêm đàm, thực, thủy, huyết đ́nh trệ, dẫn đến do hư mà thành thực. Hư thực không chỉ có thể xen lẫn, mà c̣n có thể xuất hiện hiện tượng “chân hư giả thực” hoặc “chân thực giả hư”, như câu “đại thực có dáng suy, chí hư lại có vẻ thịnh”.

Giải thích: Đoạn này chuyên nói về cặp hư – thực. Điều quan trọng là hư không chỉ đơn giản là yếu, thực không chỉ đơn giản là mạnh, mà phải xét trong quan hệ giữa chính khí và tà khí. Lâm sàng khó nhất là nhận ra các trường hợp giả tượng: bề ngoài giống thực mà bản chất là hư, hoặc ngược lại.

15.Phần Hán Việt: Đối ư bệnh chứng đích truyền biến, 《Nội kinh》 trước trọng đề xuất liễu biểu lư tương truyền, tuần kinh truyền biến, tạng phủ tương di ḥa tuần sinh chi thứ đệ truyền biến đẳng đa chủng mô thức, giai thị nhân dĩ quy củ. Tật bệnh đích chuyển quy, thủ quyết ư tà chính song phương lực lượng đích đối tỷ: chính thắng tà khước, tắc bệnh dũ; tà thắng chính suy, tắc bệnh trọng.

Phần giải nghĩa: Đối với sự truyền biến của bệnh chứng, 《Nội kinh》 nhấn mạnh nhiều mô thức như biểu lư tương truyền, tuần kinh truyền biến, tạng phủ tương di, và truyền biến theo thứ tự tương sinh... tất cả đều nhằm chỉ ra quy luật cho người học. Sự chuyển quy của bệnh phụ thuộc vào so sánh lực lượng giữa chính và tà: nếu chính thắng, tà lui th́ bệnh khỏi; nếu tà thắng, chính suy th́ bệnh nặng lên.

Giải thích: Đoạn này bàn về diễn biến của bệnh. Bệnh không đứng yên mà có thể truyền từ biểu vào lư, theo kinh, theo tạng phủ, theo quan hệ sinh khắc. Kết cục tốt hay xấu đều do tương quan chính – tà quyết định.

16.Phần Hán Việt: Tổng chi, 《Nội kinh》 đích bệnh nhân bệnh cơ học thuyết nội dung thị tương đương phong phú đích, hậu diện ngă môn trọng điểm tuyển độc bộ phận thiên đoạn, dĩ quan đại khái.

Phần giải nghĩa: Tóm lại, nội dung của học thuyết bệnh nhân và bệnh cơ trong 《Nội kinh》 là vô cùng phong phú; ở phần sau sẽ chọn đọc trọng điểm một số thiên đoạn để thấy được đại khái toàn bộ học thuyết này.

Giải thích: Đây là lời kết đoạn. Tác giả nhấn mạnh rằng phần vừa tŕnh bày mới là phần cương lĩnh khái quát, c̣n những phần sau sẽ đi vào từng thiên đoạn cụ thể để làm rơ hơn.




Đại biểu kinh văn chú tích

Liên hệ mật thiết giữa người và giới tự nhiên

Nguyên văn

Hoàng Đế viết: Phù tự cổ thông thiên giả, sinh chi bản, bản ư âm dương. Thiên địa chi gian, lục hợp chi nội, kỳ khí cửu châu, cửu khiếu, ngũ tạng, thập nhị tiết, giai thông hồ thiên khí. Kỳ sinh ngũ, kỳ khí tam, sổ phạm thử giả, tắc tà khí thương nhân, thử thọ mệnh chi bản dă.

Nghĩa là : Hoàng Đế nói: Từ xưa, đạo thông với trời là cái gốc của sự sống, mà cái gốc ấy ở nơi âm dương. Trong khoảng giữa trời đất, trong phạm vi lục hợp, khí của cửu châu, cửu khiếu, ngũ tạng và mười hai khớp lớn đều thông với thiên khí. Tự nhiên hóa sinh ngũ hành, khí hóa phân thành tam âm tam dương. Nếu con người thường xuyên trái phạm quy luật ấy th́ tà khí sẽ làm tổn thương con người, mà đây chính là căn bản liên quan đến thọ mệnh.

Giải thích: Đoạn này nêu tổng cương của toàn thiên. Ư chính là sinh mệnh con người không tách rời trời đất, mà lấy âm dương làm gốc. Cơ thể người, từ tạng phủ, khiếu, khớp xương đến toàn bộ khí hóa, đều có quan hệ thông ứng với tự nhiên. V́ vậy, muốn hiểu dưỡng sinh hay phát bệnh đều phải đặt con người trong chỉnh thể thiên địa.

Hán Việt: Thương thiên chi khí, thanh tĩnh tắc chí ư trị, thuận chi tắc dương khí cố, tuy hữu tặc tà, phất năng hại dă, thử nhân thời chi tự. Cố thánh nhân truyền tinh thần, phục thiên khí, nhi thông thần minh. Thất chi tắc nội bế cửu khiếu, ngoại ủng cơ nhục, vệ khí tán giải, thử vị tự thương, khí chi tước dă.

Giải nghĩa: Khí của trời xanh, nếu thanh tĩnh th́ chí ư con người cũng điều ḥa; thuận theo nó th́ dương khí được bền chắc, dù có tà khí xâm nhập cũng không thể làm hại, đó là thuận theo trật tự của thời tiết bốn mùa. V́ vậy bậc thánh nhân biết tụ giữ tinh thần, thuận theo thiên khí mà ḥa thông với sự biến hóa âm dương. Nếu làm mất điều ấy th́ bên trong bế tắc cửu khiếu, bên ngoài cơ nhục bị ủng trở, vệ khí tán giải, đó gọi là tự ḿnh làm tổn thương ḿnh, tức dương khí bị suy giảm.

Giải thích: Đoạn này nói rơ nguyên tắc dưỡng sinh: bên trong phải giữ tinh thần chuyên nhất, bên ngoài phải thuận theo tự nhiên. Khi con người hợp với thiên thời th́ dương khí vững, vệ khí bền, tà không dễ xâm nhập. Nếu trái quy luật ấy, chưa cần ngoại tà mạnh mà bản thân đă tự làm tổn thương chính khí.

Chú thích

生之本,本於陰陽

Phần Hán Việt: Sinh chi bản, bản ư âm dương.

Phần giải nghĩa: Cái gốc của sinh mệnh ở nơi âm dương.

Giải thích: Ư nói sự sống tồn tại nhờ âm dương điều ḥa và thống nhất.

六合

Phần Hán Việt: Lục hợp.

Phần giải nghĩa: Chỉ trên, dưới và bốn phương đông, tây, nam, bắc, dùng để chỉ toàn thể không gian trời đất.

Giải thích: Đây là cách nói khái quát về vũ trụ hay thiên hạ.

九州

Phần Hán Việt: Cửu châu.

Phần giải nghĩa: Theo Vương Băng là chín châu trong thiên hạ; theo Du Việt th́ cửu châu tức cửu khiếu, v́ xưa gọi khiếu là châu.

Giải thích: Chữ này có dị giải. V́ phía sau đă có “cửu khiếu”, nên nhiều người nghi chữ “cửu châu” ở đây có thể là phần trùng lặp.

九竅

Phần Hán Việt: Cửu khiếu.

Phần giải nghĩa: Chín lỗ của cơ thể, gồm hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, một miệng, tiền âm và hậu âm.

Giải thích: Đây là các cửa ngơ liên hệ giữa cơ thể với ngoại giới.

十二節

Phần Hán Việt: Thập nhị tiết.

Phần giải nghĩa: Mười hai khớp lớn như cổ tay, khuỷu tay, vai, mắt cá, gối, háng ở hai bên.

Giải thích: Chữ “tiết” ở đây chỉ các quan tiết, tức khớp xương lớn.

其生五,其氣三

Phần Hán Việt: Kỳ sinh ngũ, kỳ khí tam.

Phần giải nghĩa: Tự nhiên âm dương hóa sinh ngũ hành, khí hóa phân thành tam âm tam dương.

Giải thích: Đây là cách dùng học thuyết âm dương ngũ hành để giải thích cấu trúc và vận hành của tự nhiên.



Phần Hán Việt: Sổ.

Phần giải nghĩa: Nhiều lần, thường xuyên.

Giải thích: Có nghĩa là thường hay trái phạm quy luật tự nhiên.

蒼天

Phần Hán Việt: Thương thiên.

Phần giải nghĩa: Trời xanh, ở đây chỉ giới tự nhiên.

Giải thích: Không chỉ là bầu trời, mà là toàn bộ khí hóa của tự nhiên.

清淨則志意治

Phần Hán Việt: Thanh tĩnh tắc chí ư trị.

Phần giải nghĩa: Nếu khí hóa của tự nhiên thanh tĩnh th́ hoạt động tinh thần của con người cũng được điều ḥa b́nh thường.

Giải thích: “Trị” ở đây nghĩa là yên ổn, điều ḥa, không rối loạn.

賊邪

Phần Hán Việt: Tặc tà.

Phần giải nghĩa: Tà khí làm tổn hại con người.

Giải thích: “Tặc” nghĩa là giặc, là thứ đến cướp phá, làm hại chính khí.

此因時之序

Phần Hán Việt: Thử nhân thời chi tự.

Phần giải nghĩa: Đó là thuận theo thứ tự, quy luật biến hóa của bốn mùa.

Giải thích: “Nhân” là thuận theo, “tự” là thứ tự, quy luật.

傳精神

Phần Hán Việt: Truyền tinh thần.

Phần giải nghĩa: Tụ giữ tinh thần, làm cho tinh thần chuyên nhất.

Giải thích: Chữ “truyền” ở đây theo Du Việt đọc như “bác”, nghĩa là tụ lại.

服天氣

Phần Hán Việt: Phục thiên khí.

Phần giải nghĩa: Thuận theo sự biến hóa của thiên khí.

Giải thích: “Phục” ở đây không phải uống, mà là thuận theo.

通神明

Phần Hán Việt: Thông thần minh.

Phần giải nghĩa: Khiến âm dương trong thân thể ḥa hợp với sự biến hóa âm dương của tự nhiên.

Giải thích: “Thần minh” ở đây không phải thần linh, mà là sự biến hóa sáng tỏ của âm dương.



Phần Hán Việt: Ủng.

Phần giải nghĩa: Ứ trệ, sưng trở.

Giải thích: Chỉ t́nh trạng bế tắc ở ngoài cơ nhục.

衛氣散解

Phần Hán Việt: Vệ khí tán giải.

Phần giải nghĩa: Vệ khí tản mất, không c̣n bền chắc.

Giải thích: Vệ khí vốn có chức năng bảo vệ cơ biểu, chống ngoại tà; một khi tán giải th́ khả năng pḥng vệ suy yếu.

氣之削

Phần Hán Việt: Khí chi tước.

Phần giải nghĩa: Dương khí bị hao tổn, suy giảm.

Giải thích: “Tước” nghĩa là bị cắt giảm, bị làm suy yếu.

Phân tích 1

Phần Hán Việt: Bản đoạn luận thuật liễu nhân dữ tự nhiên giới đích mật thiết quan hệ, dĩ cập sinh mệnh chi căn bản tại ư âm dương nhị khí chi hiệp điều thống nhất.

Phần giải nghĩa: Đoạn này bàn về mối liên hệ mật thiết giữa con người và tự nhiên, đồng thời nêu rơ rằng gốc của sinh mệnh nằm ở sự điều ḥa thống nhất của âm dương.

Giải thích: Đây là ư tổng quát nhất của đoạn kinh. Không thể tách y học ra khỏi quy luật vận hành của thiên địa.

Phân tích 2

Phần Hán Việt: Tác vi cai thiên chi tổng cương, minh xác địa đáp phục liễu sinh mệnh chi bản nguyên thị thập ma chi vấn đề. Chỉ xuất “sinh chi bản, bản ư âm dương”, xác lập liễu “sinh mệnh chi bản nguyên thị tự nhiên vật chất” giá cá duy vật quan điểm.

Phần giải nghĩa: Với tư cách là tổng cương của thiên này, đoạn văn đă trả lời rơ ràng vấn đề bản nguyên của sinh mệnh là ǵ. Câu “gốc của sự sống ở nơi âm dương” xác lập quan điểm rằng sinh mệnh bắt nguồn từ vật chất tự nhiên.

Giải thích: Giá trị của đoạn này không chỉ ở y học mà c̣n ở tư tưởng triết học: nó bác bỏ cách giải thích mê tín về bệnh và sinh mệnh.

Phân tích 3

Phần Hán Việt: Kinh văn trước trọng thuyết minh nhân thể âm dương chi khí dữ tự nhiên giới âm dương tương hỗ thông ứng, mật bất khả phân. Giá thị 《Nội kinh》 cơ bản học thuật tư tưởng chi nhất, quán xuyên ư dưỡng sinh, pḥng bệnh, trị bệnh đẳng các phương diện.

Phần giải nghĩa: Kinh văn nhấn mạnh rằng âm dương trong thân người và âm dương của tự nhiên luôn thông ứng, không thể tách rời. Đây là một trong những tư tưởng cơ bản của 《Nội kinh》, xuyên suốt trong dưỡng sinh, pḥng bệnh và trị bệnh.

Giải thích: V́ có mối liên hệ ấy, nên mới có các phép dưỡng sinh theo mùa như xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm.

Phân tích 4

Phần Hán Việt: Bản đoạn chính thị ṭng thời gian, không gian cập kỳ tha vật chất điều kiện đẳng phương diện, khái quát địa luận chứng nhân loại ưng như hà chủ động thích ứng tự nhiên quy luật nhi bảo tŕ kiện khang chi đạo lư.

Phần giải nghĩa: Đoạn này chính là từ các mặt thời gian, không gian và những điều kiện vật chất khác mà khái quát thành đạo lư con người phải chủ động thích ứng với quy luật tự nhiên để giữ ǵn sức khỏe.

Giải thích: Thuận tự nhiên không phải chỉ là lời nói chung chung, mà phải thể hiện trong cách sống, cách dưỡng thần, cách ăn ở, cách thích ứng theo thời tiết.

Phân tích 5

Phần Hán Việt: Thiên trung “truyền tinh thần, phục thiên khí, nhi thông thần minh”, năi bản thiên nhăn mục, chiêu thị dưỡng sinh yếu chỉ, nội tắc tinh thần chuyên nhất, ngoại tắc thuận ứng tự nhiên, bảo tŕ nhân dữ tự nhiên chi ḥa hài.

Phần giải nghĩa: Câu “truyền tinh thần, phục thiên khí, nhi thông thần minh” chính là con mắt của cả thiên, nêu rơ yếu chỉ dưỡng sinh: bên trong th́ tinh thần chuyên nhất, bên ngoài th́ thuận ứng tự nhiên, giữ sự hài ḥa giữa người và trời đất.

Giải thích: Đây là chỗ then chốt nhất của phần này. Nếu nắm được câu này th́ hiểu được tinh thần chính của thiên sinh khí thông thiên luận (生氣通天論).

Dương khí tại nhân thể sinh lư, bệnh lư trung đích trọng yếu tác dụng cập kỳ lâm sàng ư nghĩa

Phần Hán Việt: Dương khí giả, nhược thiên dữ nhật, thất kỳ sở tắc chiết thọ nhi bất chương, cố thiên vận đương dĩ nhật quang minh. Thị cố dương nhân nhi thượng, vệ ngoại giả dă.

Phần giải nghĩa: Dương khí đối với cơ thể cũng như mặt trời đối với trời. Nếu mặt trời mất chỗ của nó th́ tuổi thọ bị tổn mà công năng không hiển lộ; cho nên sự vận hành của trời phải nhờ mặt trời mà sáng rơ. Cũng vậy, dương khí có tính đi lên và có công năng bảo vệ bên ngoài cơ thể.

Giải thích: Đoạn mở đầu này lấy mặt trời để ví với dương khí, nhằm nhấn mạnh rằng dương khí là căn bản của sinh cơ và là lực pḥng vệ chủ yếu của cơ thể.

Nguyên văn 2

Phần Hán Việt: Nhân ư hàn, dục như vận xu, khởi cư như kinh, thần khí năi phù. Nhân ư thử, hăn, phiền tắc suyễn hát, tĩnh tắc đa ngôn, thể nhược phiền thán, hăn xuất nhi tán. Nhân ư thấp, thủ như quả, thấp nhiệt bất nhương, đại cân anh đoản, tiểu cân tŕ trường, đoản vi câu, tŕ trường vi nuy. Nhân ư khí, vi thũng, tứ duy tương đại, dương khí năi kiệt.

Phần giải nghĩa: Bị hàn tà th́ vận động như trục xoay mất linh hoạt, đứng ngồi đi lại như hoảng hốt, thần khí nổi lên không yên. Bị thử tà th́ ra mồ hôi, phiền th́ thở gấp, yên tĩnh th́ nói nhiều, thân nóng như than cháy, mồ hôi ra mà tán mất. Bị thấp tà th́ đầu nặng như bị bọc kín, thấp nhiệt không trừ được, gân lớn co ngắn, gân nhỏ trùng dài, ngắn th́ thành co quắp, trễ dài th́ thành chứng nuy. Bị khí tà th́ sinh phù thũng, tứ chi luân phiên chịu ảnh hưởng, dương khí dần dần suy kiệt.

Giải thích: Đoạn này tŕnh bày các loại tà khác nhau đều có thể làm tổn thương dương khí, nhưng biểu hiện lâm sàng của mỗi loại lại khác nhau. Điểm chung là khi dương khí bị hại, khí cơ và tấu lư đều rối loạn.

Nguyên văn 3

Phần Hán Việt: Dương khí giả, phiền lao tắc trương, tinh tuyệt, tích bế ư hạ, sử nhân tiên quyết. Mục manh bất khả dĩ thị, nhĩ bế bất khả dĩ thính, hội hội hồ nhược hoại đô, cốt cốt hồ bất khả chỉ. Dương khí giả, đại nộ tắc h́nh khí tuyệt, nhi huyết uất ư thượng, sử nhân bạc quyết.

Phần giải nghĩa: Dương khí nếu bị phiền lao quá mức th́ trở nên căng vượt mà hao tuyệt tinh khí, tà tích bế ở hạ tiêu khiến người sinh chứng tiên quyết. Mắt mù không thể nh́n, tai bế không thể nghe, bên trong rối loạn như thành quách đổ nát, cuồn cuộn không thể dừng. Dương khí nếu gặp đại nộ th́ h́nh khí bế tuyệt, huyết uất lên trên, làm thành chứng bạc quyết.

Giải thích: Đoạn này nhấn mạnh lao lực quá độ và đại nộ là hai yếu tố lớn làm dương khí rối loạn dữ dội. Khi dương khí và huyết khí nghịch loạn đến mức nặng th́ sẽ xuất hiện các chứng quyết nguy hiểm.

Nguyên văn 4

Phần Hán Việt: Hữu thương ư cân, túng, kỳ nhược bất dung, hăn xuất thiên thư, sử nhân thiên khô. Hăn xuất kiến thấp, năi sinh ṭa phí. Cao lương chi biến, túc sinh đại đinh, thụ như tŕ hư. Lao hăn đương phong, hàn bạc vi cổ, uất năi ṭa.

Phần giải nghĩa: Nếu gân bị tổn thương th́ trùng nhẽo, cử động không c̣n b́nh thường; ra mồ hôi mà dương khí thiên lệch th́ có thể khiến người bị thiên khô, tức bán thân bất toại. Ra mồ hôi mà lại gặp thấp th́ sinh mụn nhọt, rôm sảy. Ăn nhiều cao lương hậu vị th́ chân dễ sinh đại đinh. Lao động đổ mồ hôi lại gặp gió, hàn tà xâm nhập bức ở bên trong thành chứng cổ, uất lại th́ phát thành sang chẩn.

Giải thích: Đoạn này nói các bệnh không chỉ do ngoại tà đơn thuần mà c̣n do sinh hoạt thất điều như đổ mồ hôi gặp thấp, lao hăn đương phong, ăn nhiều cao lương. Tất cả đều làm dương khí bị tổn và tà khí nhân đó xâm nhập.

Nguyên văn 5

Phần Hán Việt: Dương khí giả, tinh tắc dưỡng thần, nhu tắc dưỡng cân. Khai hợp bất đắc, hàn khí ṭng chi, năi sinh đại lũ; hăm mạch vi lũ. Lưu liên nhục tấu, du khí hóa bạc, truyền vi thiện úy, cập vi kinh hăi. Doanh khí bất ṭng, nghịch ư nhục lư, năi sinh ung thũng. Phách hăn vị tận, h́nh nhược nhi khí thước, huyệt du dĩ bế, phát vi phong ngược.

Phần giải nghĩa: Dương khí nếu tinh thuần th́ nuôi dưỡng thần, nếu ḥa nhu th́ nuôi dưỡng gân. Nếu công năng khai hợp không điều ḥa, hàn khí theo đó mà xâm nhập th́ sinh đại lũ; hăm vào mạch th́ thành chứng lũ. Nếu tà khí lưu luyến ở nhục tấu, khí hóa ở du huyệt bị suy mỏng, th́ truyền thành chứng hay sợ hăi, rồi kinh hăi. Doanh khí không thuận, nghịch ở trong thớ thịt th́ sinh ung thũng. Nếu mồ hôi ra mà tà vẫn chưa hết, h́nh thể suy yếu, khí bị hao đốt, huyệt du bế tắc th́ phát thành phong ngược.

Giải thích: Đoạn này bàn sâu hơn về công năng của dương khí: dưỡng thần, dưỡng cân, chủ khai hợp và điều ḥa doanh vệ. Một khi dương khí suy, nhiều loại bệnh có thể xuất hiện từ lũ, ung thũng đến kinh hăi, phong ngược.

Nguyên văn 6

Phần Hán Việt: Cố phong giả, bách bệnh chi thủy dă, thanh tĩnh tắc nhục tấu bế cự, tuy hữu đại phong kha độc, phất chi năng hại, thử nhân thời chi tự dă. Cố bệnh cửu tắc truyền hóa, thượng hạ bất tịnh, lương y phất vi. Cố dương súc tích bệnh tử, nhi dương khí đương cách, cách giả đương tả, bất cức chính trị, thô năi bại chi.

Phần giải nghĩa: V́ thế phong là đầu mối của trăm bệnh. Nếu cơ thể giữ được thanh tĩnh th́ nhục tấu đóng kín mà chống đỡ, dù có gió độc mạnh cũng không làm hại được, đó là v́ thuận theo trật tự thời tiết. Cho nên bệnh để lâu th́ truyền biến, trên dưới không c̣n điều ḥa cùng nhau, đó là điều người thầy thuốc giỏi phải tránh. Nếu dương tà tích súc, bế cách th́ có thể khiến bệnh nặng đến chết; khi dương khí bị cách trở th́ phải tả giải, nếu không kịp thời chữa đúng th́ thầy thuốc vụng sẽ làm hỏng bệnh.

Giải thích: Đoạn này đưa lư luận dương khí sang ư nghĩa lâm sàng. Khi chính khí vững th́ phong tà khó hại; khi dương khí bị bế th́ bệnh dễ trở nặng. Việc điều trị phải nhanh và đúng, nhất là trong các chứng bế cách.

Nguyên văn 7

Phần Hán Việt: Cố dương khí giả, nhất nhật nhi chủ ngoại, b́nh đán nhân khí sinh, nhật trung nhi dương khí long, nhật tây nhi dương khí dĩ hư, khí môn năi bế. Thị cố mộ nhi thu cự, vô nhiễu cân cốt, vô kiến vụ lộ, phản thử tam thời, h́nh năi khốn bạc.

Phần giải nghĩa: Dương khí trong một ngày chủ về bên ngoài cơ thể. Sáng sớm th́ nhân khí bắt đầu sinh, giữa trưa th́ dương khí thịnh nhất, chiều xế th́ dương khí đă hư, khí môn v́ thế mà khép lại. Bởi vậy chiều tối phải biết thu liễm và pḥng giữ, không nên quấy nhiễu gân cốt, không nên ra ngoài gặp sương mù, trái với ba thời đoạn ấy th́ h́nh thể sẽ mệt mỏi, hao tổn.

Giải thích: Đoạn này nêu quy luật thịnh suy của dương khí trong một ngày. Nó có giá trị dưỡng sinh rất thực tế: sáng nên thuận dương khí mà hoạt động, chiều tối phải thu liễm, tránh hao dương.

Chú thích

若天與日

Phần Hán Việt: Nhược thiên dữ nhật.

Phần giải nghĩa: Ví dương khí giống như trời và mặt trời.

Giải thích: Dùng h́nh tượng mặt trời để làm nổi bật địa vị trung tâm của dương khí.

不彰

Phần Hán Việt: Bất chương.

Phần giải nghĩa: Không hiển lộ, không sáng rơ công năng.

Giải thích: Chỉ sinh cơ không phát huy được.

陽因而上

Phần Hán Việt: Dương nhân nhi thượng.

Phần giải nghĩa: Dương khí có tính đi lên.

Giải thích: Đây là thuộc tính cơ bản của dương khí trong sinh lư.

衛外者也

Phần Hán Việt: Vệ ngoại giả dă.

Phần giải nghĩa: Dương khí có tác dụng bảo vệ phần ngoài cơ thể.

Giải thích: Đây là chức năng hộ vệ cơ biểu của dương khí.

運樞

Phần Hán Việt: Vận xu.

Phần giải nghĩa: Như trục cửa quay chuyển không linh hoạt.

Giải thích: Dùng để ví vận động cơ thể mất điều ḥa v́ bị hàn tà.

神氣乃浮

Phần Hán Việt: Thần khí năi phù.

Phần giải nghĩa: Thần khí nổi lên, không yên ở bên trong.

Giải thích: Chỉ trạng thái tinh thần không an định.

靜則多言

Phần Hán Việt: Tĩnh tắc đa ngôn.

Phần giải nghĩa: Tuy ở trạng thái yên tĩnh mà vẫn nói nhiều.

Giải thích: Đây là biểu hiện thần không được tàng giữ.

汗出而散

Phần Hán Việt: Hăn xuất nhi tán.

Phần giải nghĩa: Mồ hôi ra mà khí cũng theo đó hao tán.

Giải thích: Mồ hôi thuộc phần tân dịch, ra quá mức th́ dễ hao khí thương dương.

濕熱不攘

Phần Hán Việt: Thấp nhiệt bất nhương.

Phần giải nghĩa: Thấp nhiệt ứ lại mà không được trừ bỏ.

Giải thích: Đây là trạng thái thấp nhiệt lưu trệ.

大筋纓短,小筋弛長

Phần Hán Việt: Đại cân anh đoản, tiểu cân tŕ trường.

Phần giải nghĩa: Gân lớn co ngắn, gân nhỏ trùng dài.

Giải thích: Mô tả biến đổi của gân dưới tác động của thấp nhiệt.

因於氣

Phần Hán Việt: Nhân ư khí.

Phần giải nghĩa: Bị tổn thương bởi khí tà.

Giải thích: Chỉ một loại tà khí gây bệnh dẫn đến phù thũng.

四維相代

Phần Hán Việt: Tứ duy tương đại.

Phần giải nghĩa: Tứ chi thay nhau phát bệnh.

Giải thích: Nói sự ảnh hưởng luân phiên ở bốn chi.



Phần Hán Việt: Trương.

Phần giải nghĩa: Căng lên, cang thịnh.

Giải thích: Phiền lao làm dương khí bị kéo căng quá mức rồi hao tổn.

精絕

Phần Hán Việt: Tinh tuyệt.

Phần giải nghĩa: Tinh khí hao kiệt.

Giải thích: Chỉ mức tổn thương rất nặng.

辟積

Phần Hán Việt: Tích bế.

Phần giải nghĩa: Tà khí tích tụ bế lại.

Giải thích: Chỉ trạng thái kết tích ở bên trong.

煎厥

Phần Hán Việt: Tiên quyết.

Phần giải nghĩa: Chứng quyết do phiền nhiệt bức bách.

Giải thích: Một trạng thái cấp do nhiệt và quyết nghịch cùng xuất hiện.

潰潰乎若壞都,汨汨乎不可止

Phần Hán Việt: Hội hội hồ nhược hoại đô, cốt cốt hồ bất khả chỉ.

Phần giải nghĩa: Rối loạn dữ dội như thành quách đổ nát, cuồn cuộn không ngừng.

Giải thích: Câu này dùng h́nh tượng để mô tả t́nh trạng bên trong đại loạn.

形氣絕

Phần Hán Việt: H́nh khí tuyệt.

Phần giải nghĩa: H́nh thể và khí cơ bỗng nhiên bế tuyệt.

Giải thích: Thường chỉ t́nh trạng nặng, khí cơ bị cắt đứt.

血菀

Phần Hán Việt: Huyết uất.

Phần giải nghĩa: Huyết uất ứ ở phía trên.

Giải thích: Đại nộ làm khí nghịch, huyết theo khí mà dồn lên trên.

薄厥

Phần Hán Việt: Bạc quyết.

Phần giải nghĩa: Một loại quyết chứng do khí huyết bốc nghịch dữ dội.

Giải thích: Thường liên quan đến đại nộ, huyết khí thượng nghịch.



Phần Hán Việt: Túng.

Phần giải nghĩa: Lỏng trễ, mềm nhẽo.

Giải thích: Nói gân mất khả năng co giữ b́nh thường.

不容

Phần Hán Việt: Bất dung.

Phần giải nghĩa: Cử động không c̣n tự nhiên, không c̣n b́nh thường.

Giải thích: Chỉ trạng thái vận động trở nên không thuận.

汗出偏沮

Phần Hán Việt: Hăn xuất thiên thư.

Phần giải nghĩa: Ra mồ hôi mà dương khí bị tổn thương thiên lệch.

Giải thích: Có thể dẫn đến thiên khô, bán thân bất toại.

痤疿

Phần Hán Việt: Ṭa phí.

Phần giải nghĩa: Mụn nhọt, rôm sảy.

Giải thích: Do hăn xuất gặp thấp hoặc uất nhiệt ở b́ phu mà sinh.

大丁

Phần Hán Việt: Đại đinh.

Phần giải nghĩa: Nhọt độc lớn.

Giải thích: Cao lương hậu vị dễ sinh nhiệt độc, kết thành đinh sang.

受如持虛

Phần Hán Việt: Thụ như tŕ hư.

Phần giải nghĩa: Tà nhận vào dễ như nắm lấy chỗ trống.

Giải thích: Chỉ khi chính khí suy, tà khí rất dễ xâm nhập.

寒薄為皷

Phần Hán Việt: Hàn bạc vi cổ.

Phần giải nghĩa: Hàn tà bức vào gây đầy trướng, cổ chướng.

Giải thích: “Cổ” ở đây thiên về trướng măn, bế tắc.

精則養神,柔則養筋

Phần Hán Việt: Tinh tắc dưỡng thần, nhu tắc dưỡng cân.

Phần giải nghĩa: Dương khí tinh thuần th́ nuôi thần, nhu ḥa th́ nuôi gân.

Giải thích: Đây là cách tóm tắt hai công năng lớn của dương khí.

開闔不得

Phần Hán Việt: Khai hợp bất đắc.

Phần giải nghĩa: Công năng đóng mở mất điều ḥa.

Giải thích: Chỉ cơ biểu, khiếu môn không c̣n đóng mở đúng mức.

大僂

Phần Hán Việt: Đại lũ.

Phần giải nghĩa: Chứng lưng c̣ng, co rút nặng.

Giải thích: Hàn khí nhập vào khi khai hợp thất điều sẽ sinh biến dạng co rút.

陷脈為瘺

Phần Hán Việt: Hăm mạch vi lũ.

Phần giải nghĩa: Hăm vào mạch th́ thành chứng lũ, lậu.

Giải thích: Tà khí vào sâu trong mạch lạc mà sinh bệnh mạn tính ṛ rỉ.

留連肉腠

Phần Hán Việt: Lưu liên nhục tấu.

Phần giải nghĩa: Tà khí lưu lại dai dẳng ở cơ nhục và tấu lư.

Giải thích: Chỉ tà không giải mà lưu luyến ở phần biểu lư nông.

俞氣化薄

Phần Hán Việt: Du khí hóa bạc.

Phần giải nghĩa: Khí hóa ở du huyệt trở nên mỏng yếu.

Giải thích: Chính khí suy, khí của các du huyệt không đủ mạnh.

善畏

Phần Hán Việt: Thiện úy.

Phần giải nghĩa: Dễ sợ hăi.

Giải thích: Một biểu hiện của thần khí bất túc.

逆於肉理

Phần Hán Việt: Nghịch ư nhục lư.

Phần giải nghĩa: Đi ngược ở trong các thớ thịt.

Giải thích: Doanh khí không thuận mà nghịch hành trong cơ nhục.

魄汗

Phần Hán Việt: Phách hăn.

Phần giải nghĩa: Mồ hôi ra mà tà khí vẫn chưa hết.

Giải thích: Chỉ trạng thái sau khi hăn xuất nhưng biểu tà chưa giải tận.

氣爍

Phần Hán Việt: Khí thước.

Phần giải nghĩa: Khí bị hao đốt, suy yếu.

Giải thích: Nói chính khí bị tổn hao nặng.

風瘧

Phần Hán Việt: Phong ngược.

Phần giải nghĩa: Chứng ngược có liên quan đến phong tà.

Giải thích: Một loại ngược bệnh do tà khí lưu lại và dương khí thất điều.

清靜

Phần Hán Việt: Thanh tĩnh.

Phần giải nghĩa: Trong sạch, yên tĩnh, không vọng động.

Giải thích: Đây là trạng thái lư tưởng để giữ cơ biểu bền chắc.

肉腠閉拒

Phần Hán Việt: Nhục tấu bế cự.

Phần giải nghĩa: Cơ nhục tấu lư khép kín mà chống giữ.

Giải thích: Chỉ cơ biểu đủ sức cự tà.

大風苛毒

Phần Hán Việt: Đại phong kha độc.

Phần giải nghĩa: Gió độc mạnh, tà khí dữ dội.

Giải thích: Dùng để chỉ ngoại tà rất mạnh.

傳化

Phần Hán Việt: Truyền hóa.

Phần giải nghĩa: Bệnh truyền biến và biến hóa sang giai đoạn khác.

Giải thích: Bệnh lâu ngày th́ không đứng yên mà chuyển đổi.

上下不並

Phần Hán Việt: Thượng hạ bất tịnh.

Phần giải nghĩa: Trên dưới không c̣n điều ḥa, không cùng vận hành được.

Giải thích: Đây là t́nh trạng khí cơ thăng giáng mất cân bằng.

粗乃敗之

Phần Hán Việt: Thô năi bại chi.

Phần giải nghĩa: Thầy thuốc vụng làm hỏng bệnh.

Giải thích: Ư cảnh báo điều trị sai có thể làm bệnh nặng hơn.

平旦

Phần Hán Việt: B́nh đán.

Phần giải nghĩa: Sáng sớm.

Giải thích: Là lúc dương khí bắt đầu sinh.

日西而陽氣已虛

Phần Hán Việt: Nhật tây nhi dương khí dĩ hư.

Phần giải nghĩa: Mặt trời xế th́ dương khí đă suy.

Giải thích: Nói quy luật tự nhiên của dương khí trong ngày.

氣門

Phần Hán Việt: Khí môn.

Phần giải nghĩa: Cửa ngơ đóng mở của khí ở cơ biểu.

Giải thích: Khi dương khí suy th́ khí môn khép lại.

暮而收拒

Phần Hán Việt: Mộ nhi thu cự.

Phần giải nghĩa: Chiều tối th́ phải thu liễm và pḥng giữ.

Giải thích: Đây là nguyên tắc dưỡng sinh theo thời trong ngày.

三時

Phần Hán Việt: Tam thời.

Phần giải nghĩa: Ba thời đoạn là sáng sớm, giữa trưa và chiều tối.

Giải thích: Ba thời này ứng với quá tŕnh sinh, thịnh, suy của dương khí.




形乃困薄

Phần Hán Việt: H́nh năi khốn bạc.

Phần giải nghĩa: H́nh thể mệt mỏi, suy mỏng.

Giải thích: Nếu sinh hoạt trái quy luật dương khí trong ngày th́ thân thể sẽ hao tổn.




Phân tích 1

Phần Hán Việt: Bản đoạn trọng tại luận dương khí ư nhân thể sinh lư, bệnh lư trung chi trọng yếu tác dụng cập kỳ lâm sàng ư nghĩa. Kinh văn dĩ thiên dữ nhật vi dụ, minh kỳ dương khí vi nhân thân chi căn bản, chủ ư vệ ngoại, thăng phát, ôn dưỡng, khai hợp, dưỡng thần, dưỡng cân.

Phần giải nghĩa: Đoạn này chủ yếu bàn về vai tṛ rất quan trọng của dương khí trong sinh lư, bệnh lư của cơ thể, cũng như ư nghĩa lâm sàng của nó. Kinh văn lấy trời và mặt trời làm ví dụ để nói rơ dương khí là căn bản của thân thể, chủ về bảo vệ bên ngoài, thăng phát, ôn dưỡng, khai hợp, dưỡng thần và dưỡng gân.

Giải thích: Đây là ư khái quát nhất của toàn đoạn: hiểu được dương khí th́ mới nắm được nhiều mặt sinh lư và bệnh lư của cơ thể.

Phân tích 2

Phần Hán Việt: Kinh văn hựu phân biệt luận hàn, thử, thấp, khí, lao, nộ, hăn, phong đẳng nhân tố giai khả tổn thương dương khí, nhi sản sinh các chủng bệnh biến. Kỳ sở bệnh tuy dị, kỳ cơ nhất dă, tức dương khí bị tổn, vệ ngoại thất cố, khí cơ thất điều, doanh vệ bất ḥa, tấu lư bất mật, tà khí năi thừa hư nhi nhập.

Phần giải nghĩa: Kinh văn lại phân biệt bàn rằng hàn, thử, thấp, khí tà, lao lực, đại nộ, mồ hôi và phong tà đều có thể làm tổn thương dương khí, từ đó sinh ra nhiều loại bệnh biến khác nhau. Tuy biểu hiện bệnh không giống nhau, nhưng cơ chế chung vẫn là một: dương khí bị tổn, công năng bảo vệ bên ngoài mất vững, khí cơ rối loạn, doanh vệ không ḥa, tấu lư không kín, tà khí nhờ chỗ hư mà vào.

Giải thích: Đây là điểm quan trọng để đọc các bệnh chứng trong đoạn: nhiều biểu hiện khác nhau nhưng đều quy về một trục bệnh cơ là “dương khí bị thương”.

Phân tích 3

Phần Hán Việt: Kỳ lâm sàng ư nghĩa tại ư, dưỡng sinh đương dĩ cố hộ dương khí vi yếu, trị bệnh đương thẩm kỳ dương khí thịnh suy, hoặc ôn, hoặc tả, hoặc điều doanh vệ, hoặc cố biểu, giai bất khả ly thử. Hựu nhất nhật chi trung dương khí hữu sinh, long, hư, bế chi thứ đệ, cố khởi cư tác tức diệc đương thuận chi.

Phần giải nghĩa: Ư nghĩa lâm sàng của đoạn này là trong dưỡng sinh phải lấy việc bảo vệ dương khí làm trọng, khi trị bệnh phải xét kỹ dương khí đang thịnh hay suy, rồi mới quyết định nên ôn, nên tả, nên điều doanh vệ hay cố biểu. Hơn nữa trong một ngày, dương khí có quy luật sinh, thịnh, suy, bế, cho nên sinh hoạt nghỉ ngơi cũng phải thuận theo.

Giải thích: Đây là phần ứng dụng thực tế. Lư luận dương khí không chỉ để hiểu nghĩa kinh văn, mà trực tiếp dùng để dưỡng sinh và chỉ đạo phép chữa.

Chú thích

失其所Phần Hán Việt: Thất kỳ sở. Sở, sở trường. Vị dương khí vận hành, tác dụng thất thường, thất khứ kỳ ưng cư sở trường. Phần giải nghĩa: Mất chỗ của nó. “Sở” nghĩa là nơi chốn. Ư nói sự vận hành và tác dụng của dương khí bị rối loạn, không c̣n ở đúng vị trí, công năng vốn có của nó.

Giải thích: Đây là chỉ dương khí không c̣n hoạt động đúng quy luật sinh lư b́nh thường.

折壽而不彰 Phần Hán Việt: Chiết thọ nhi bất chương. Chiết thọ, tức đoản thọ; bất chương, bất hiển trước. Chỉ nhân thân dương khí nhược công năng thất thường khả đạo trí đoản chiết thọ mệnh chi kết quả. Phần giải nghĩa: Giảm thọ mà công năng không hiển lộ. “Chiết thọ” là giảm tuổi thọ, “bất chương” là không sáng rơ, không phát huy được. Ư nói nếu dương khí của cơ thể mất điều ḥa th́ có thể làm ngắn tuổi thọ.

Giải thích: Dương khí là nền tảng sinh mệnh, nên một khi rối loạn th́ ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ.

天運Phần Hán Việt: Thiên vận, tức thiên thể chi vận hành.Phần giải nghĩa: Sự vận hành của trời, tức sự vận hành của thiên thể. Giải thích: Ở đây dùng để ví với sự vận hành của dương khí trong cơ thể.
陽因而上 Phần Hán Việt: Dương nhân nhi thượng. Nhân, y kháo, bằng tá. Dương khí bằng tá kỳ thượng thăng ngoại việt chi tính phát huy vệ ngoại chi tác dụng. Phần giải nghĩa: Dương khí nhờ tính đi lên và phát ra ngoài mà thực hiện công năng bảo vệ phần ngoài cơ thể.

Giải thích: Dương có tính thăng phát, v́ vậy mới có thể ôn dưỡng và hộ vệ cơ biểu.

欲如運樞Phần Hán Việt: Dục như vận xu. Vận, vận chuyển; xu, hộ xu, tức môn trục. Dục như vận xu, thị chỉ vệ dương chi khí như hộ xu bàn khai hợp vận chuyển tự như. Ngô Côn tương “dục như vận xu, khởi cư như kinh, thần khí năi phù” di chí “dương nhân nhi thượng, vệ ngoại giả dă” cú hạ, khả tham. Phần giải nghĩa: “Như trục cửa vận hành”. “Vận” là vận chuyển, “xu” là trục cửa. Ư nói khí vệ dương đóng mở, ra vào linh hoạt như trục cửa quay chuyển tự nhiên.

Giải thích: Đây là h́nh tượng để nói công năng đóng mở linh hoạt của dương khí ở phần biểu.

起居如驚,神氣乃浮 Phần Hán Việt: Khởi cư như kinh, thần khí năi phù. Thần khí, tức chỉ dương khí. Ư vi ngoại tà xâm phạm, sinh hoạt khởi cư bị nhiễu, thần t́nh bất an, vệ dương chi khí tắc thượng phù dữ tà khí kháng tranh. Hựu, kinh, Vương Băng chú “bạo tốt dă”, tức khởi cư động tác tốt bạo vô thường, phiếm chỉ sinh hoạt tác tức vô hữu quy luật, trí sử dương khí khai hợp thất tự nhi phù tán tổn thương.

Phần giải nghĩa: Đi đứng nằm ngồi như bị kinh động, thần khí nổi lên. “Thần khí” ở đây tức là dương khí. Ư nói khi ngoại tà xâm phạm hoặc sinh hoạt thất thường th́ thần t́nh bất an, vệ dương nổi lên để chống tà. Cũng có thể hiểu là nếp sinh hoạt quá đột ngột, không điều độ, làm dương khí mất điều ḥa mà tán nổi lên.

Giải thích: Câu này vừa nói phản ứng chống tà của dương khí, vừa nhắc đến tác hại của sinh hoạt thất thường.

煩則喘喝,靜則多言Phần Hán Việt: Phiền tắc suyễn hát, tĩnh tắc đa ngôn. Phiền, phiền táo bất an; suyễn hát, khí suyễn khí cấp, hát hát hữu thanh. Phiền tắc suyễn hát, vi dương nhiệt nội thịnh sở trí. Tĩnh, tương đối phiền nhi ngôn, chỉ thần hôn thịa ngọa; đa ngôn, chỉ thần hôn thiệm ngữ, Trịnh thanh chi loại. Tĩnh tắc đa ngôn, vi thử nhiệt thương âm sở trí.

Phần giải nghĩa: Phiền táo th́ thở gấp có tiếng, yên lặng th́ nói nhiều. “Phiền” là bứt rứt không yên; “suyễn hát” là khó thở, thở gấp có tiếng. Đây là do dương nhiệt quá thịnh. “Tĩnh” ở đây không phải b́nh thường, mà chỉ trạng thái thần hôn, nằm lịm; “đa ngôn” là mê sảng, nói lảm nhảm. Đó là do thử nhiệt làm thương âm.

Giải thích: Cùng là tổn thương do thử nhiệt nhưng có thể biểu hiện ở hai mặt: nhiệt thịnh bức bách hoặc âm thương thần loạn.

體若燔炭,汗出而散 Phần Hán Việt: Thể nhược phiền thán, hăn xuất nhi tán. Phiền, phần thiêu chi ư. H́nh dung thân nhiệt như phần thiêu chi thán hỏa nhất dạng, hăn xuất chi hậu, tùy hăn nhi giải. Cứ Ngô Côn tương thử nhị cú di chí tiền văn “nhân ư hàn” cú hạ.

Phần giải nghĩa: Thân thể nóng như than cháy, ra mồ hôi rồi th́ tà theo mồ hôi mà tan.

Giải thích: Đây là h́nh dung mức độ nhiệt thịnh của cơ thể trong chứng thử nhiệt.

攘Phần Hán Việt: Nhương, tiêu trừ chi ư.

Phần giải nghĩa: “Nhương” nghĩa là trừ bỏ, xua tan.

Giải thích: Trong câu “thấp nhiệt bất nhương” tức là thấp nhiệt không được giải trừ.

大筋纓短,小筋弛長 Phần Hán Việt: Đại cân anh đoản, tiểu cân tŕ trường. Anh, thu súc chi ư. Bản cú tác hỗ văn giải, tức đại cân, tiểu cân hoặc vi thu súc nhi đoản, hoặc vi tŕ hoăn nhi trường.

Phần giải nghĩa: Gân lớn co rút ngắn lại, gân nhỏ trùng giăn dài ra. Có thể hiểu theo lối hỗ văn: cả gân lớn và gân nhỏ đều có thể hoặc co rút mà ngắn, hoặc giăn nhăo mà dài.

Giải thích: Đây là mô tả biến đổi bệnh lư của cân mạch khi bị thấp nhiệt lâu ngày.

氣 Phần Hán Việt: Khí, tức phong. Cao Sĩ Tông chú: “Khí, do phong dă, 《Âm dương ứng tượng đại luận》 vân: ‘dương chi khí, dĩ thiên địa chi tật phong danh chi.’ Cố bất ngôn phong nhi ngôn khí.”

Phần giải nghĩa: “Khí” ở đây tức là phong. Theo Cao Sĩ Tông, sở dĩ không nói “phong” mà nói “khí” là v́ phong vốn là biểu hiện mạnh của dương khí trong trời đất.

Giải thích: Chữ “khí” ở đây không phải khí nói chung, mà là chỉ khí tà thiên về phong.

四維相代

Phần Hán Việt: Tứ duy tương đại. Tứ duy, tứ phương tứ thời, thử xứ chỉ tứ thời tà khí; đại, canh đại. Vị tứ thời tà khí canh thế thương nhân.

Phần giải nghĩa: “Tứ duy” chỉ bốn phương, bốn mùa; ở đây chỉ tà khí của bốn mùa. “Tương đại” là thay nhau. Ư nói tà khí bốn mùa thay nhau làm hại con người.

Giải thích: Nói bệnh không chỉ do một tà nhất thời, mà c̣n có thể do nhiều tà khí theo mùa nối nhau tác động.

張 Phần Hán Việt: Trương, cang thịnh chi ư.

Phần giải nghĩa: “Trương” nghĩa là căng lên, cang thịnh, vượt quá mức b́nh thường.

Giải thích: Chỉ trạng thái dương khí bị kích phát quá mức rồi dẫn đến hao tổn.

精絕

Phần Hán Việt: Tinh tuyệt, âm tinh suy kiệt.

Phần giải nghĩa: Tinh bị hao kiệt, âm tinh suy cạn.

Giải thích: Đây là mức tổn thương nặng, khi dương cang mà âm tinh đă kiệt.

辟積

Phần Hán Việt: Tích bích. Bích, thông tích, tức y quần chi chiết. Bích tích, trùng phục chi ư.

Phần giải nghĩa: “Bích tích” nghĩa là chồng chất, tích tụ lặp đi lặp lại.

Giải thích: Ở đây chỉ bệnh tà hoặc nhiệt tà tích tụ lâu ngày mà thành.

煎厥

Phần Hán Việt: Tiên quyết. Bệnh danh. Chỉ lao thương dương cang thương âm, âm tinh kiệt tuyệt nhi trí chi hôn quyết bệnh chứng.

Phần giải nghĩa: “Tiên quyết” là một tên bệnh, chỉ chứng hôn quyết do lao thương làm dương cang, âm tinh bị hao kiệt mà sinh ra.

Giải thích: Đây là chứng bệnh nặng do âm dương đều bị tổn thương, đặc biệt là âm tinh bị đốt cạn.

潰潰乎若壞都,汨汨乎不可止

Phần Hán Việt: Hội hội hồ nhược hoại đô, cốt cốt hồ bất khả chỉ. Hội hội, h́nh dung hồng thủy phiếm lạm chi dạng; hoại đô, pḥng thủy đê hội phá; cốt cốt, thủy cấp lưu chi thanh. Bản cú dĩ hồng thủy quyết đê lai h́nh dung tiên quyết bệnh chứng lai thế hung mănh chi phát bệnh đặc điểm.

Phần giải nghĩa: “Cuồn cuộn như đê vỡ, ào ạt không dứt.” Câu này lấy h́nh ảnh nước lũ vỡ đê để h́nh dung thế phát bệnh dữ dội, hung mănh của chứng tiên quyết.

Giải thích: Đây là lối ví dụ rất mạnh của kinh văn, nhấn mạnh bệnh thế cấp bách và nguy hiểm.

形氣絕

Phần Hán Việt: H́nh khí tuyệt. H́nh, tức h́nh thể, thử xứ chủ yếu chỉ tạng phủ kinh lạc. H́nh khí tuyệt, tức tạng phủ kinh lạc chi khí trở tuyệt bất thông.

Phần giải nghĩa: “H́nh khí tuyệt” tức là khí của tạng phủ, kinh lạc bị bế tuyệt, không thông.

Giải thích: Đây là biểu hiện rất nặng của khí cơ bế tắc.



Phần Hán Việt: Uất, đồng “uất”. Ứ tích chi ư.

Phần giải nghĩa: “Uất” nghĩa là ứ đọng, tích lại.

Giải thích: Trong câu “huyết uất ư thượng” là huyết ứ dồn lên phía trên.

薄厥

Phần Hán Việt: Bạc quyết. Bệnh danh. Chỉ đại nộ nhi khí huyết thượng nghịch sở trí chi hôn quyết bệnh chứng.

Phần giải nghĩa: “Bạc quyết” là một loại hôn quyết do đại nộ làm khí huyết nghịch xung lên trên.

Giải thích: Đây là chứng quyết do t́nh chí, nhất là giận dữ quá mức.



Phần Hán Việt: Túng, tŕ hoăn. Thử chỉ chi thể nuy nhuyễn.

Phần giải nghĩa: “Túng” là trùng nhăo, mềm yếu; ở đây chỉ tay chân mềm nhũn.

Giải thích: Thường dùng để chỉ gân mạch mất sức co giữ.

不容

Phần Hán Việt: Bất dung. Dung, thông “dụng”. Bất dung, tức bất dụng, chỉ chi thể bất năng tùy ư vận động.

Phần giải nghĩa: “Bất dung” tức là không dùng được, tay chân không thể vận động theo ư muốn.

Giải thích: Đây là mức nặng hơn của chứng nuy nhuyễn hoặc bán thân bất toại.

汗出偏沮

Phần Hán Việt: Hăn xuất thiên thư. Thư, trở chỉ. Ư vi hăn xuất nhi bán thân vô hăn.

Phần giải nghĩa: Ra mồ hôi mà nửa thân không có mồ hôi.

Giải thích: Đây là dấu hiệu dương khí phân bố không đều, có thể báo hiệu chứng thiên khô.

痤疿

Phần Hán Việt: Ṭa phí. Ṭa, tức tiểu tiết; phí, tức hăn chẩn, phỉ tử.

Phần giải nghĩa: “Ṭa” là mụn nhọt nhỏ, “phí” là rôm sảy, phát ban do mồ hôi.

Giải thích: Thường do hăn xuất gặp thấp nhiệt hoặc tà khí uất ở b́ phu mà sinh.

高粱之變,足生大丁

Phần Hán Việt: Cao lương chi biến, túc sinh đại đinh. Cao, thông cao, tức chi cao loại thực vật; lương, tinh tế chi thực vật; túc, khả dĩ; đinh, thông đinh, thử phiếm chỉ sang dương. Bản cú thuyết minh quá thực cao lương hậu vị, nội nhiệt súc tích, nhật cửu sinh biến, khả dĩ sử nhân phát sinh đinh sang. Ngô Côn chú: “Cao lương chi nhân, nội đa trệ nhiệt, cố kỳ bệnh biến, năng sinh đại đinh.”

Phần giải nghĩa: Biến chứng do ăn nhiều cao lương hậu vị có thể khiến phát sinh đinh nhọt lớn ở chân. “Cao lương” chỉ thức ăn béo ngọt, tinh mỹ. Ăn quá nhiều làm nội nhiệt tích lại, lâu ngày hóa thành sang độc.

Giải thích: Đoạn này nêu rơ quan hệ giữa ăn uống quá béo ngọt với nhiệt độc và ung sang.

受如持虛

Phần Hán Việt: Thụ như tŕ hư. H́nh dung đắc bệnh dung dị, do như tŕ không hư chi khí thụ vật nhất dạng.

Phần giải nghĩa: Mắc bệnh dễ dàng như cầm một vật rỗng để nhận lấy đồ vật.

Giải thích: Ư nói cơ thể hư trống th́ tà khí rất dễ xâm nhập.

勞汗當風,寒薄為皷

Phần Hán Việt: Lao hăn đương phong, hàn bạc vi cổ. Trá, tức diện bộ sinh trưởng chi phấn thứ. Nhất thuyết vi tửu trá tỷ.

Phần giải nghĩa: Lao động ra mồ hôi mà gặp gió, hàn tà xâm bức có thể thành chứng cổ trướng, uất lại th́ sinh mụn nhọt hoặc các chứng ở mặt.

Giải thích: Câu này chủ yếu nhấn mạnh hăn xuất đương phong rất dễ khiến hàn tà thừa hư xâm nhập.

精則養神,柔則養筋

Phần Hán Việt: Tinh tắc dưỡng thần, nhu tắc dưỡng cân. Đương tác “dưỡng thần tắc tinh, dưỡng cân tắc nhu” giải. Tinh, chỉ tinh thần sảng tuệ; nhu, tức cân mạch nhu ḥa, hoạt động tự như. Ư vi cân mạch đắc đáo dương khí chi ôn dưỡng, tài hội nhu ḥa linh động.

Phần giải nghĩa: Có thể hiểu là: nhờ dương khí mà thần được nuôi th́ tinh sáng, gân được nuôi th́ mềm mại linh hoạt.

Giải thích: Đây là công năng trọng yếu của dương khí đối với thần và cân mạch.

開闔不得

Phần Hán Việt: Khai hợp bất đắc. Chỉ hăn khổng chi khai bế thất thường. Ṭng hậu văn “hàn khí ṭng chi” lai khán, đương thị khai nhi bất bế.

Phần giải nghĩa: Đóng mở không đúng, tức là lỗ chân lông đóng mở thất thường; xét theo văn sau th́ là mở mà không khép kín.

Giải thích: Khi biểu hư, tấu lư không kín, hàn tà sẽ theo đó mà vào.

大僂

Phần Hán Việt: Đại lũ. Lũ, thông “lữ”, khúc bối chi ư; đại lũ, chỉ dương khí bất năng ôn dưỡng cân mạch, sở đạo trí chi h́nh thái khu lũ, bất năng trực lập chi bệnh chứng.

Phần giải nghĩa: “Đại lũ” là chứng lưng c̣ng, không đứng thẳng được do dương khí không đủ ôn dưỡng gân mạch.

Giải thích: Đây là biểu hiện h́nh thể rơ rệt của dương khí suy tổn lâu ngày.

陷脈為瘺

Phần Hán Việt: Hăm mạch vi lũ. Tà khí nội hăm kinh mạch, nhật cửu nhi thành lũ. Lũ, kinh thường lậu hạ nùng thủy, bất dị thu khẩu chi sang dương lũ quản.

Phần giải nghĩa: Tà khí lún sâu vào kinh mạch, lâu ngày thành chứng lũ, tức các đường ṛ, lở loét lâu ngày chảy mủ khó liền miệng.

Giải thích: Đây là chỉ bệnh mạn tính, tà lưu sâu, chính khí suy, khó liền.

留連肉腠

Phần Hán Việt: Lưu liên nhục tấu. Nhục tấu, cơ nhục chi gian.

Phần giải nghĩa: Tà khí lưu luyến ở khoảng giữa cơ nhục và tấu lư.

Giải thích: Nói tà không giải, cứ lưu lại ở phần nông rồi dần dần truyền sâu hơn.

俞氣化薄

Phần Hán Việt: Du khí hóa bạc. Du, thông “du”, thị kinh mạch chi khí du chú xuất nhập chi xứ, nội thông ngũ tạng. Hóa, truyền hóa, thử đương truyền đạo giải. Bạc, đồng bách. Chỉ tà khí thấu quá kinh du truyền nhập, nội bách ngũ tạng.

Phần giải nghĩa: “Du” là nơi khí của kinh mạch ra vào, thông với ngũ tạng; “hóa bạc” ở đây chỉ tà khí theo kinh du truyền vào, bức ép ngũ tạng.

Giải thích: Câu này mô tả con đường tà từ phần ngoài truyền vào trong qua các du huyệt và kinh khí.

傳為善畏

Phần Hán Việt: Truyền vi thiện úy. Thiện úy, dị ư cụ úy. Ngũ tạng chủ tàng thần, tạng khí bị tà sở bách, cố kiến tâm thần bất an chi thiện úy.

Phần giải nghĩa: Truyền thành chứng dễ sợ hăi. V́ ngũ tạng tàng thần, khi tạng khí bị tà bức ép th́ tâm thần bất an, dễ sinh sợ hăi.

Giải thích: Đây là biểu hiện thần chí bị ảnh hưởng khi tà đă vào sâu.

肉理

Phần Hán Việt: Nhục lư, cơ nhục chi văn lư.

Phần giải nghĩa: Thớ và vân của cơ nhục.

Giải thích: “Nghịch ư nhục lư” tức doanh khí đi không thuận trong phần cơ thịt.

魄汗

Phần Hán Việt: Phách hăn. Phách dữ “bạch” thông, phách hăn tức bạch hăn, chỉ bất nhân thử nhiệt nhi hăn chi tự hăn.

Phần giải nghĩa: “Phách hăn” tức “bạch hăn”, chỉ mồ hôi tự ra, không phải do thử nhiệt.

Giải thích: Đây là chứng tự hăn, thường liên quan đến vệ dương bất cố.

氣爍

Phần Hán Việt: Khí thước. Thước, tiêu thước. Khí thước, thử chỉ dương khí bị tà nhiệt sở tiêu hao.

Phần giải nghĩa: “Khí thước” nghĩa là khí bị tiêu hao, bị đốt mất; ở đây chỉ dương khí bị tà nhiệt làm hao tổn.

Giải thích: Đây là hậu quả của nhiệt tà kéo dài hoặc hăn xuất quá mức.

風瘧

Phần Hán Việt: Phong ngược. Ngược tật chi nhất, dĩ hàn nhiệt văng lai, ố phong hăn xuất vi chủ chứng.

Phần giải nghĩa: Một loại ngược tật, lấy hàn nhiệt qua lại, sợ gió, ra mồ hôi làm biểu hiện chính.

Giải thích: Chỉ bệnh ngược có liên hệ với phong tà và doanh vệ thất điều.

清靜

Phần Hán Việt: Thanh tĩnh, dương khí chính thường, sung thịnh.

Phần giải nghĩa: Dương khí b́nh thường, đầy đủ, cơ thể thanh tĩnh không rối loạn.

Giải thích: Đây là trạng thái lư tưởng để cơ biểu khép kín, chống tà.

肉腠閉拒

Phần Hán Việt: Nhục tấu bế cự. Dương khí sung thịnh, vệ khí kiên cố, tấu lư mật bế, tự nhiên cự tà ư ngoại.

Phần giải nghĩa: Tấu lư khép kín, có khả năng chống giữ tà khí ở bên ngoài.

Giải thích: Đây là kết quả của dương khí và vệ khí đầy đủ.

大風苛毒

Phần Hán Việt: Đại phong kha độc. Đại phong, cường liệt chi phong tà. Kha, bạo dă; kha độc, lệ hại chi độc tà. Đại phong kha độc, phiếm chỉ nhất thiết cường liệt chi trí bệnh nhân tố.

Phần giải nghĩa: Gió độc mạnh, tà khí dữ dội; nói rộng ra là các yếu tố gây bệnh mạnh mẽ.

Giải thích: Ư nói nếu chính khí đủ mạnh th́ dù ngoại tà mạnh cũng chưa chắc làm hại được.

傳化

Phần Hán Việt: Truyền hóa, truyền biến, tức bệnh t́nh phát sinh biến hóa.

Phần giải nghĩa: Bệnh t́nh truyền sang giai đoạn khác, sinh biến đổi mới.

Giải thích: Đây là quá tŕnh bệnh phát triển lâu ngày mà thay đổi tính chất.

上下不並

Phần Hán Việt: Thượng hạ bất tịnh. Tịnh, giao tịnh, giao thông chi ư. Thượng hạ bất tịnh, chỉ nhân thể thượng bộ dữ hạ bộ chi khí bất tương giao thông, tương hỗ trở cách chi bệnh lư biến hóa.

Phần giải nghĩa: Khí ở phần trên và phần dưới không giao thông với nhau, thành trạng thái bế cách.

Giải thích: Đây là một loại bệnh cơ nặng, thường thấy trong các chứng cách, bế, quyết.

陽畜積病死,而陽氣當隔,隔者當寫,不亟正治,粗乃敗之

Phần Hán Việt: Dương súc tích bệnh tử, nhi dương khí đương cách, cách giả đương tả, bất cức chính trị, thô năi bại chi. Súc, đồng súc, súc tích chi ư; cách, tức trở cách; tả, tức tả, chỉ hăn, thổ, hạ đẳng khu tà pháp; cức, cấp dă; thô, thô công, tức y liệu thủy chuẩn đê liệt chi y sinh. Toàn cú ư vi dương khí súc tích bất hành, khả dĩ đạo trí tử vong, khả ư dương khí đương cách chi thời thái dụng tả pháp, sơ thông dương khí; nhược y liệu thủy chuẩn đê liệt chi y sinh bất tấn tốc cấp dữ chính xác trị liệu, khả sử bệnh t́nh bại hoại, ác hóa.

Phần giải nghĩa: Dương khí tích tụ mà không lưu hành có thể dẫn đến tử vong. Khi dương khí bị bế cách th́ phải dùng phép tả để thông dương, như phát hăn, thổ, hạ đuổi tà. Nếu không kịp thời chữa đúng, mà lại để thầy thuốc kém xử trí, th́ bệnh sẽ hỏng đi, nặng thêm.

Giải thích: Câu này có ư nghĩa lâm sàng rất rơ: gặp chứng dương bế phải biết kịp thời sơ tiết, không được chậm trễ hoặc chữa sai.

平旦

Phần Hán Việt: B́nh đán, nhật xuất chi thời.

Phần giải nghĩa: Lúc b́nh minh, khi mặt trời vừa mọc.

Giải thích: Đây là lúc dương khí bắt đầu sinh trong ngày.



Phần Hán Việt: Hư. Hoàng hôn thời, tương đối bạch thiên nhi ngôn, thể biểu chi dương khí giảm thiểu liễu, cố viết “hư”.

Phần giải nghĩa: Đến chiều tối, dương khí ở phần biểu giảm hơn so với ban ngày nên gọi là “hư”.

Giải thích: Không phải nói hư chứng bệnh lư, mà là trạng thái suy giảm tương đối của dương khí theo thời gian trong ngày.

氣門

Phần Hán Việt: Khí môn, thử xứ chỉ hăn khổng.

Phần giải nghĩa: “Khí môn” ở đây chỉ lỗ chân lông, nơi khí ra vào ở phần biểu.

Giải thích: Khi dương khí giảm th́ khí môn đóng lại để bảo vệ cơ thể.

收拒

Phần Hán Việt: Thu cự. Thu, dương khí thu tàng ư thể nội. Cự, cự tuyệt tà khí ư thể ngoại.

Phần giải nghĩa: “Thu” là dương khí thu vào bên trong, “cự” là ngăn tà khí ở ngoài.

Giải thích: Đây là trạng thái sinh lư nên có vào lúc chiều tối.

三時

Phần Hán Việt: Tam thời, tức thượng văn chi b́nh đán, nhật trung, nhật tây.

Phần giải nghĩa: Ba thời điểm là b́nh minh, giữa trưa và chiều xế.

Giải thích: Đây là ba giai đoạn lên xuống của dương khí trong một ngày.

形乃困薄

Phần Hán Việt: H́nh năi khốn bạc. Chỉ h́nh thể khốn đốn nhi suy bạc. Mă Thị chú: “Vị miễn khốn quẫn nhi suy bạc hĩ.”

Phần giải nghĩa: H́nh thể trở nên mệt mỏi, suy nhược, hao ṃn.

Giải thích: Nếu sinh hoạt trái quy luật của dương khí trong ngày th́ cơ thể sẽ dần suy tổn.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn khái quát địa luận thuật liễu nhân thể trung dương khí đích công năng đặc điểm cập kỳ trọng yếu tính, tịnh liệt cử hữu quan bệnh chứng, trị pháp dĩ cập nhân thời dưỡng sinh đích yếu điểm.

Phần giải nghĩa: Đoạn này tŕnh bày một cách khái quát về đặc điểm công năng và tầm quan trọng của dương khí trong cơ thể người, đồng thời nêu ra các bệnh chứng liên quan, phương pháp điều trị và những điểm chính của phép dưỡng sinh theo thời gian.

Giải thích: Đây là câu mở đầu của phần phân tích, nhằm cho biết toàn bộ đoạn kinh văn trước chủ yếu xoay quanh trục “dương khí”, từ sinh lư, bệnh lư cho đến điều trị và dưỡng sinh.

(1)

Phần Hán Việt: Kinh văn bả nhân thân dương khí tỷ tác thiên thể trung đích thái dương, nhận vi dương khí vi nhân thân chi bản, dương khí ư nhân, “nhược thiên dữ nhật”, dương năng hóa khí, sinh tân, hành huyết, huân phu, sung thân, trạch mao, “nhược vụ lộ chi cái”. Cố thần đắc kỳ dưỡng, tắc tinh thần hoán phát, tư duy chính thường; cân đắc kỳ dưỡng, tắc năng duy lạc toàn thân quan tiết, khuất thân hoạt động tự như; năo đắc kỳ dưỡng, tắc ngũ quan linh mẫn, nhĩ mục thông minh; h́nh đắc kỳ dưỡng, tắc chi thể ôn noăn, cơ phu cố mật, ngoại tà bất dị nhập xâm; mạch đắc kỳ dưỡng, tắc khí huyết lưu sướng, bố đạt chu thân...... Tổng chi, dương khí chi tính, chủ thăng chủ động, cụ hữu ôn dưỡng cố hộ công năng, đối nhân thể đích sinh lư, bệnh lư biến hóa đô khởi trước chủ đạo tính tác dụng. Cố Trương Giới Tân tại 《Loại kinh》 trung thuyết: “Dương hóa khí, âm thành h́nh. H́nh bản thuộc âm, nhi phàm thông thể chi ôn giả, dương khí dă; nhất sinh chi hoạt giả, dương khí dă; ngũ quan ngũ tạng chi thần minh bất trắc giả, dương khí dă; cập kỳ kư tử, tắc thân lănh như băng, linh giác tận diệt, h́nh cố tồn nhi khí tắc khứ, thử dĩ dương thoát tại tiền, nhi âm lưu tại hậu.” “Thiên chi dương khí, duy nhật vi bản, thiên vô thử nhật, tắc trú dạ vô phân, tứ thời thất tự, vạn vật bất chương hĩ. Kỳ tại ư nhân, tắc tự biểu chí lư, tự thượng chí hạ, diệc duy thử dương khí nhi dĩ. Nhân vô thử dương, do thiên chi vô nhật, dục bảo thiên niên, kỳ khả đắc hồ? 《Nội kinh》 nhất bách lục thập nhị thiên, thiên nhân đại nghĩa, thử kỳ tối yếu giả dă, bất khả bất tường sát chi.” Trương Giới Tân cứ thử cường điệu dương khí năi sinh mệnh chi khí, soạn 《Đại bảo luận》, đề xuất “thiên chi đại bảo, chỉ thử nhất hoàn hồng nhật; nhân chi đại bảo, chỉ thử nhất tức chân dương” đích “dương phi hữu dư” chi thuyết, chủ trương dĩ bổ dương hộ dương vi pḥng bệnh trị bệnh chi yếu vụ. Tổng chi, 《Nội kinh》 đích dương khí học thuyết, đối hậu thế ôn bổ học phái đích sáng lập ḥa phát triển cụ hữu thâm viễn ảnh hưởng.

Phần giải nghĩa: Kinh văn lấy dương khí của thân người ví như mặt trời trong thiên thể, cho rằng dương khí là cái gốc của thân người. Dương khí ở người cũng như trời với mặt trời, có khả năng hóa khí, sinh tân dịch, hành huyết, làm ấm da, sung thực thân thể, nhuận lông tóc, giống như sương móc tưới nhuần vạn vật. V́ vậy thần được nuôi dưỡng th́ tinh thần phấn chấn, tư duy b́nh thường; gân được nuôi dưỡng th́ có thể liên kết các khớp trong toàn thân, co duỗi vận động tự nhiên; năo được nuôi dưỡng th́ ngũ quan linh mẫn, tai mắt sáng suốt; h́nh thể được nuôi dưỡng th́ tay chân ấm áp, cơ da kín chắc, ngoại tà khó xâm nhập; mạch được nuôi dưỡng th́ khí huyết lưu thông khắp thân. Tóm lại, tính chất của dương khí là chủ thăng, chủ động, có công năng ôn dưỡng và cố hộ, giữ vai tṛ chủ đạo đối với mọi biến hóa sinh lư và bệnh lư của cơ thể. V́ vậy Trương Giới Tân trong 《Loại kinh》 đă nói rằng: “Dương hóa khí, âm thành h́nh. H́nh vốn thuộc âm, nhưng cái làm cho toàn thân ấm là dương khí; cái làm cho một đời sống động là dương khí; cái thần minh khó lường của ngũ quan ngũ tạng là dương khí. Đến khi đă chết th́ thân lạnh như băng, linh giác mất sạch, h́nh c̣n mà khí đă đi, đó là dương thoát trước, âm lưu lại sau.” Ông c̣n nói: “Dương khí của trời lấy mặt trời làm gốc. Trời không có mặt trời th́ ngày đêm không phân, bốn mùa mất thứ tự, vạn vật không hiển lộ. Ở người cũng vậy, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, chỉ nhờ dương khí mà thôi. Người không có dương khí cũng như trời không có mặt trời, muốn giữ được tuổi trời sao có thể được?” Dựa vào đó, Trương Giới Tân nhấn mạnh dương khí là sinh mệnh chi khí, soạn 《Đại bảo luận》 và nêu thuyết: “Báu lớn của trời chỉ là một vầng hồng nhật; báu lớn của người chỉ là một hơi chân dương”, chủ trương lấy bổ dương, hộ dương làm việc trọng yếu trong pḥng bệnh trị bệnh. Tóm lại, học thuyết dương khí của 《Nội kinh》 có ảnh hưởng rất sâu xa đến sự h́nh thành và phát triển của phái ôn bổ đời sau.

Giải thích: Đoạn này triển khai mạnh ư “dương khí là gốc của sinh mệnh”. Nó không chỉ nói dương khí làm ấm cơ thể, mà c̣n nhấn mạnh dương khí là nền tảng của thần chí, vận động, giác quan, khí huyết và sức đề kháng. V́ vậy trong lịch sử y học, học thuyết này đă trở thành nền móng cho tư tưởng ôn dương, hộ dương, nhất là ở các y gia coi dương khí là “đại bảo” của con người.

(2)

Phần Hán Việt: Kinh văn tường tế thảo luận liễu dương khí bệnh lư biến hóa. Ṭng bệnh nhân nhi ngôn, hữu lao quá độ chi phiền lao; hữu t́nh chí quá cực chi đại nộ; hữu ẩm thực bất tiết chi cao lương chi biến; tái gia chi phong, hàn, thử, thấp ngoại tà đích xâm tập, dị dẫn khởi nhân thể dương khí đích bệnh lư biến hóa. Ṭng bệnh cơ nhi ngôn, khả dĩ khái quát vi dương cang tinh tuyệt, dương khí quyết nghịch, dương khí thiên trở, dương khí uất át, dương nhiệt nội thịnh đẳng đa chủng t́nh huống.

Do ư ngoại tà xâm tập, vệ ngoại công năng thất thường đích hàn tà xâm phạm, tấu lư bế tắc, dương khí bất tiết, uất nhi phát nhiệt, trị liệu nghi phát hăn giải biểu, tà ṭng hăn giải nhi nhiệt b́nh; thử vi dương tà, dị thương âm tân, thực tắc tà nhiệt nội thịnh nhi đa hăn phiền suyễn, hư tắc âm thương thần nhiễu nhi thần hôn thiệm ngữ; thấp tà trọng trọc, dị thương dương khí, cố đầu trọng, dương khí bất năng ôn dưỡng cân mạch, hoặc vi luyên cấp, hoặc vi cân nuy; phong tính khinh dương, dị trí đầu diện phù thũng; như phong hàn thử thấp, giao thế vi bệnh, dương khí phản phục thụ tổn, khả sử dương khí suy kiệt.

B́nh tố phiền lao quá độ, dương khí quá cang, âm tinh khuy tổn, phục gia thử nhiệt tiên chước, trí âm tinh suy bại, phát sinh đột nhiên hôn quyết, cổ nhân xưng vi “tiên quyết”. Kỳ lâm sàng biểu hiện trừ hôn quyết ngoại, hoàn hữu nhĩ bế, mục manh. Thử bệnh lai thế cấp tốt, loại tự ư kim chi trúng thử. Do đại nộ nhi trí khí thượng nghịch, huyết tùy khí thăng, khí huyết nghịch loạn, xuất hiện đột nhiên hôn quyết, cổ nhân danh vi “bạc quyết”. Kỳ lâm sàng biểu hiện trừ hôn quyết ngoại, khả kiến cân mạch tŕ túng bất thu, loại tự ư kim chi trúng phong. Dương khí bất túc, thiên trở nhất trắc, bất năng ôn vận toàn thân, biểu hiện vi hăn xuất nhi bán thân vô hăn, hữu khả năng xuất hiện cục bộ chi thể khô nuy bất dụng chi bệnh chứng. Hăn xuất kiến thấp, đương dương khí tuyên tiết thời, thụ thủy thấp chi khí uất át, tuyên tiết bất sướng, hoặc h́nh lao hăn xuất, tọa ngọa đương phong, bách tụ ư b́ tấu, h́nh thành ṭa sang, uất nhi hóa nhiệt nhi thành sang tiết. Thị thực cao lương hậu vị, dương nhiệt súc tích, nhiệt độc nghịch ư nhục lư, dị sinh đinh sang.

Nhược quả dương khí khai hợp bất đắc, tà khí lưu luyến nhi nhập lư, hội đạo trí các chủng bệnh chứng. Tà nhập cân, dương hư hàn tà tư trở ư bối, cân thất ôn dưỡng, bất năng vận động tự như, xuất hiện bối khúc bất năng trực lập chi chứng; tà nhập mạch trung, dương hư tà hăm kinh mạch, kinh mạch bại lậu, nhật cửu thành lũ quản, cửu bất thu khẩu; tà nhập tạng phủ, dương hư tà khí lưu luyến nhục tấu, do du huyệt xâm nhập, nội truyền bách cập ngũ tạng, dương khí bất năng dưỡng thần, xuất hiện thiện úy, kinh hăi đẳng chứng; tà nhập nhục lư, doanh vệ thất điều, doanh khí bất ṭng, trở nghịch ư cơ nhục chi gian, phát sinh ung thũng; tà nhập du huyệt, dương khí bị nhiệt tà sở hao thương, hăn xuất bất chỉ, phong tà nhập xâm, du huyệt bế trở, phát sinh phong ngược; đương dương khí phát sinh trở cách, thượng hạ bất tương giao thông, bệnh t́nh nguy trọng, cấp đương dụng tả pháp dĩ khứ trừ thực tà, sơ thông dương khí, đương năng văn cứu.

Phần giải nghĩa: Kinh văn đă bàn rất kỹ về những biến hóa bệnh lư của dương khí. Xét về nguyên nhân gây bệnh th́ có lao lực quá độ, có t́nh chí thái quá như đại nộ, có ăn uống thất điều do cao lương hậu vị, lại thêm phong, hàn, thử, thấp từ bên ngoài xâm nhập, tất cả đều dễ dẫn đến biến hóa bệnh lư của dương khí. Xét về bệnh cơ th́ có thể khái quát thành nhiều loại như dương cang mà tinh tuyệt, dương khí quyết nghịch, dương khí thiên trở, dương khí uất át, dương nhiệt nội thịnh.

Do ngoại tà xâm nhập làm công năng vệ ngoại thất thường, nếu hàn tà phạm vào th́ tấu lư bế tắc, dương khí không thoát ra được, uất lại mà phát nhiệt; phép trị nên phát hăn giải biểu để tà theo mồ hôi mà ra th́ nhiệt tự lui. Thử là dương tà, dễ thương âm tân; nếu thuộc thực th́ tà nhiệt nội thịnh gây nhiều mồ hôi, phiền, suyễn; nếu thuộc hư th́ âm bị thương, thần bị quấy mà xuất hiện thần hôn, thiệm ngữ. Thấp tà nặng và trọc, dễ thương dương khí, nên sinh đầu nặng; dương khí không đủ ôn dưỡng gân mạch th́ hoặc co quắp, hoặc thành chứng cân nuy. Phong tà có tính nhẹ, bay lên, nên dễ gây phù thũng đầu mặt. Nếu phong, hàn, thử, thấp luân phiên làm bệnh th́ dương khí bị tổn thương lặp đi lặp lại, cuối cùng có thể đi đến suy kiệt.

Người vốn b́nh thường đă phiền lao quá mức, dương khí quá cang, âm tinh hao tổn, lại thêm thử nhiệt nung đốt, khiến âm tinh suy bại, phát sinh hôn quyết đột ngột, người xưa gọi là “tiên quyết”. Trên lâm sàng ngoài hôn quyết c̣n có nhĩ bế, mắt mù, khá giống chứng trúng thử hiện nay. Nếu do đại nộ mà khí xung nghịch lên, huyết theo khí mà dâng, khí huyết nghịch loạn gây hôn quyết đột ngột, người xưa gọi là “bạc quyết”; ngoài hôn quyết c̣n có thể thấy cân mạch trùng nhẽo, không thu giữ được, khá giống chứng trúng phong. Nếu dương khí không đủ, thiên trở ở một bên, không thể ôn vận toàn thân, có thể biểu hiện bằng ra mồ hôi mà nửa người không ra mồ hôi, thậm chí một phần chi thể khô héo, không dùng được. Nếu đang ra mồ hôi mà gặp thấp, trong lúc dương khí đang tuyên tiết lại bị thủy thấp uất bế, tuyên tiết không thông; hoặc người lao động mệt, ra mồ hôi, ngồi nằm gặp gió, tà bức tụ ở b́ tấu, sẽ thành ṭa sang, rồi uất lại hóa nhiệt thành sang nhọt. Nếu ưa ăn cao lương hậu vị th́ dương nhiệt tích lại, nhiệt độc nghịch vào trong cơ nhục, dễ sinh đinh sang.

Nếu dương khí đóng mở không điều ḥa, tà khí lưu lại rồi nhập lư th́ sẽ dẫn đến nhiều bệnh chứng. Tà vào gân th́ dương hư, hàn tà bế trở ở lưng, gân mất ôn dưỡng, lưng cong không thể đứng thẳng. Tà vào mạch th́ dương hư, tà hăm vào kinh mạch, làm kinh mạch bại lậu, lâu ngày thành lũ quản, khó liền miệng. Tà vào tạng phủ th́ do tà lưu ở nhục tấu rồi từ du huyệt xâm nhập, truyền vào năm tạng, dương khí không nuôi được thần nên sinh các chứng dễ sợ, kinh hăi. Tà vào nhục lư th́ doanh vệ thất điều, doanh khí đi nghịch trong cơ nhục mà sinh ung thũng. Tà vào du huyệt th́ dương khí bị nhiệt tà hao tổn, mồ hôi ra không dứt, phong tà lại xâm nhập, du huyệt bế trở mà phát thành phong ngược. Khi dương khí bị bế cách, trên dưới không thông, bệnh t́nh nguy cấp th́ phải gấp dùng phép tả để trừ thực tà, sơ thông dương khí, nhờ đó mới có thể cứu được bệnh.

Giải thích: Đoạn này là phần triển khai bệnh lư học của dương khí. Tác giả gom rất nhiều bệnh chứng khác nhau nhưng đều quy về một trục chung: dương khí bị tổn thương hoặc bị bế trở. Ngoại tà có thể gây thương dương, nội thương như lao lực, đại nộ, ăn uống thất điều cũng có thể gây thương dương. Khi dương khí bị thương, có thể biểu hiện thành phát nhiệt, hôn quyết, bán thân bất toại, ung thũng, phong ngược, sang nhọt, lũ quản... Điều rất quan trọng là phân biệt cơ chế cụ thể để chọn trị pháp thích hợp: giải biểu, phát hăn, tả thực, sơ dương, ôn dưỡng, điều doanh vệ. Ư chính ở đây là bệnh tuy thiên biến vạn hóa, nhưng nhiều chứng đều có thể quy nạp từ sự rối loạn của dương khí.

(3)

Phần Hán Việt: Kinh văn chỉ xuất liễu dương khí tùy trú dạ âm dương tiêu trưởng nhi biến hóa chi quy luật. Dương khí tại nhất trú dạ trung hữu sinh phát, long thịnh, hư suy chi biến hóa quy luật. Đề thị nhân thân dương khí dữ tự nhiên giới âm dương biến hóa tức tức tương quan. Nhân yếu tùy tự nhiên giới chi âm dương biến hóa lai điều tiết sinh hoạt khởi cư, dĩ bảo tŕ dương khí chi sung bái, pḥng chỉ tật bệnh chi phát sinh. Bệnh lư thượng, 《Linh khu. Thuận khí nhất nhật phân vi tứ thời》 hữu “đán huệ, trú an, tịch gia, dạ thậm” chi tật bệnh biến hóa quy luật, kỳ nội tại cơ chế tựu thị dương khí trú dạ tiêu trưởng chi tiết luật tính biến hóa. Giá chủng nhận thức dữ hiện đại nhân thể sinh vật chung lư luận tương tự, trị đắc tiến nhất bộ thám thảo ḥa nghiên cứu.

Phần giải nghĩa: Kinh văn c̣n chỉ ra quy luật dương khí biến hóa theo sự tiêu trưởng của âm dương trong ngày đêm. Dương khí trong một ngày có quy luật sinh phát, hưng thịnh rồi hư suy. Điều này gợi ư rằng dương khí của con người có quan hệ mật thiết với sự biến hóa âm dương của tự nhiên. V́ vậy con người phải theo sự biến hóa ấy mà điều chỉnh sinh hoạt, ăn ở, nghỉ ngơi để giữ cho dương khí sung măn và ngăn ngừa bệnh tật. Về mặt bệnh lư, trong 《Linh khu. Thuận khí nhất nhật phân vi tứ thời》 có quy luật bệnh biến là “sáng nhẹ, ban ngày yên, chiều tăng, đêm nặng”, mà cơ chế bên trong chính là sự thay đổi có tính nhịp điệu của dương khí trong ngày đêm. Cách nhận thức này có điểm tương tự với học thuyết đồng hồ sinh học của y học hiện đại, rất đáng để tiếp tục nghiên cứu.

Giải thích: Đoạn này nhấn mạnh một ư rất hiện đại trong 《Nội kinh》, đó là dương khí không cố định mà thay đổi theo thời gian trong ngày. V́ vậy dưỡng sinh phải thuận theo tiết luật ngày đêm, c̣n biện chứng bệnh cũng cần xét thời điểm bệnh nặng nhẹ khác nhau. Đây là chỗ nối rất hay giữa tư tưởng cổ điển của Trung y với lư luận nhịp sinh học hiện đại.

Quan hệ hỗ tương của khí âm và khí dương trong cơ thể

Nguyên văn

Phần Hán Việt: Kỳ Bá viết: Âm giả tàng tinh nhi khởi cức dă, dương giả vệ ngoại nhi vi cố dă. Âm bất thắng kỳ dương, tắc mạch lưu bạc tật, tịnh năi cuồng. Dương bất thắng kỳ âm, tắc ngũ tạng khí tranh, cửu khiếu bất thông. Thị dĩ thánh nhân trần âm dương, cân mạch ḥa đồng, cốt tủy kiên cố, khí huyết giai ṭng. Như thị tắc nội ngoại điều ḥa, tà bất năng hại, nhĩ mục thông minh, khí lập như cố.

Phần giải nghĩa: Kỳ Bá nói: Âm là thứ tàng giữ tinh mà luôn luôn ứng ra để tiếp tế, dương là thứ bảo vệ bên ngoài mà giữ cho cơ thể được bền chắc. Nếu âm không thắng được dương th́ mạch đi gấp gáp, dồn thúc mà nhanh, nặng hơn có thể phát cuồng. Nếu dương không thắng được âm th́ khí của ngũ tạng mất điều ḥa, cửu khiếu bế tắc không thông. V́ vậy bậc thánh nhân biết điều ḥa âm dương, làm cho cân mạch ḥa thuận, cốt tủy bền chắc, khí huyết đều vận hành b́nh thường. Được như thế th́ trong ngoài điều ḥa, tà không làm hại được, tai mắt sáng suốt, khí hóa vận hành như thường.

Giải thích: Đoạn này nêu quan hệ căn bản giữa âm tinh và dương khí. Âm ở trong làm nền tảng, nuôi dưỡng và tiếp ứng cho dương; dương ở ngoài làm công năng bảo vệ, giữ kín và che chở cho âm. Nếu một bên quá mạnh hoặc quá yếu so với bên kia th́ sẽ sinh bệnh. V́ vậy sức khỏe không nằm ở chỗ âm nhiều hay dương nhiều, mà ở chỗ âm dương điều ḥa, khí huyết thuận, trong ngoài ổn định.

Nguyên văn 2

Phần Hán Việt: Phong khách dâm khí, tinh năi vong. Tà thương can dă, nhân nhi băo thực, cân mạch hoành giải, trường phích vi trĩ. Nhân nhi đại ẩm, tắc khí nghịch. Nhân nhi cường lực, thận khí năi thương, cao cốt năi hoại.

Phần giải nghĩa: Khi phong tà xâm nhập, trở thành dâm khí ở trong thân, th́ tinh sẽ bị hao tổn. Nếu tà làm thương Can, lại thêm ăn quá no, th́ cân mạch buông giăn, ngang dọc mất thu nhiếp, sinh ra trường phích và trĩ. Nếu lại uống quá nhiều th́ khí nghịch lên. Nếu lại cố gắng dùng sức quá mức th́ thận khí bị tổn thương, xương sống vùng thắt lưng cũng bị hư hoại.

Giải thích: Đoạn này cho thấy sau khi ngoại tà xâm nhập, nếu lại thêm sinh hoạt thất điều như ăn quá no, uống quá nhiều, dùng sức quá mức hoặc pḥng sự quá độ th́ bệnh càng nặng hơn. Nghĩa là bệnh không chỉ do tà khí, mà c̣n do con người tiếp tục làm tổn thương chính khí của ḿnh, khiến Can, Thận, cân mạch và cốt xương đều bị hại.

Nguyên văn 3

Phần Hán Việt: Phàm âm dương chi yếu, dương mật năi cố, lưỡng giả bất ḥa, nhược xuân vô thu, nhược đông vô hạ, nhân nhi ḥa chi, thị vị thánh độ. Cố dương cường bất năng mật, âm khí năi tuyệt, âm b́nh dương bí, tinh thần năi trị, âm dương ly quyết, tinh khí năi tuyệt.

Phần giải nghĩa: Đại yếu của âm dương là dương phải kín chắc th́ cơ thể mới bền vững. Nếu hai bên không ḥa th́ cũng như có xuân mà không có thu, có đông mà không có hạ. Biết thuận đó mà điều ḥa chính là phép dưỡng sinh tốt nhất. Cho nên nếu dương quá mạnh mà không giữ được sự kín chắc th́ âm khí sẽ hao tuyệt; nếu âm b́nh ḥa, dương kín giữ th́ tinh thần mới yên ổn b́nh thường; c̣n nếu âm dương tách ĺa quyết tuyệt th́ tinh khí sẽ cạn kiệt.

Giải thích: Đây là đoạn rất trọng yếu. “Dương mật” nghĩa là dương khí phải vững ở ngoài, làm chức năng giữ kín, che chở. Nếu dương chỉ mạnh mà không “mật”, tức chỉ cang mà không cố hộ, th́ âm vẫn bị thoát ra ngoài. V́ vậy trạng thái tốt nhất không phải là dương mạnh đơn thuần, mà là “âm b́nh dương bí”. Đây là một nguyên tắc lớn của dưỡng sinh và trị bệnh.

Nguyên văn 4

Phần Hán Việt: Nhân ư lộ phong, năi sinh hàn nhiệt. Thị dĩ xuân thương ư phong, tà khí lưu liên, năi vi động tiết; hạ thương ư thử, thu vi giai ngược. Thu thương ư thấp, thượng nghịch nhi khái, phát vi nuy quyết. Đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh. Tứ thời chi khí, canh thương ngũ tạng.

Phần giải nghĩa: Bị cảm bởi gió sương th́ sinh bệnh hàn nhiệt. V́ vậy mùa xuân bị thương bởi phong, tà khí lưu lại không đi th́ có thể thành động tiết; mùa hạ bị thương bởi thử, đến mùa thu có thể phát thành ngược; mùa thu bị thương bởi thấp th́ khí nghịch lên mà sinh ho, rồi phát thành nuy quyết; mùa đông bị thương bởi hàn th́ sang xuân tất phát ôn bệnh. Khí bất chính của bốn mùa thay nhau làm thương tổn ngũ tạng.

Giải thích: Đoạn này nói lên tính chất thời lệnh của bệnh tà. Tà khí bốn mùa không phải lúc cảm vào là phát bệnh ngay, mà có thể lưu lại, ẩn phục, rồi đến mùa khác mới phát ra. Điều này cho thấy mối liên hệ sâu sắc giữa cơ thể con người với thời tiết bốn mùa, đồng thời nhấn mạnh vai tṛ của phục tà và truyền biến theo mùa.

Chú thích

起亟

Phần Hán Việt: Khởi cức. Cức, tần sác dă. Khởi cức, chỉ âm tinh bất đoạn địa khởi nhi dữ dương khí tương ứng, dĩ cung dưỡng dương khí, thuyết minh âm vi dương chi cơ.

Phần giải nghĩa: “Khởi cức” nghĩa là thường xuyên phát ra, liên tiếp ứng ra. Ư nói âm tinh không ngừng ứng ra để phối hợp và cung dưỡng dương khí, cho thấy âm là nền tảng của dương.

Giải thích: Âm không phải là vật chết đứng yên, mà luôn âm thầm tiếp ứng cho dương hoạt động.

脈流薄疾

Phần Hán Việt: Mạch lưu bạc tật. Bạc, bách dă. Mạch lưu bạc tật, chỉ dương khí thiên thịnh, sử mạch trung khí huyết lưu động cấp bách nhi khoái tốc.

Phần giải nghĩa: “Mạch lưu bạc tật” là mạch chạy gấp, dồn thúc, nhanh mạnh. Đó là do dương khí quá thịnh khiến khí huyết trong mạch vận hành gấp gáp.

Giải thích: Đây là biểu hiện của dương thịnh, nội nhiệt hoặc dương cang.

並乃狂

Phần Hán Việt: Tịnh năi cuồng. Tịnh, giao tịnh, dẫn thân vi trùng phục, gia thậm. Tịnh năi cuồng, thử chỉ dương nhiệt cực thịnh, thượng nhiễu thần minh, nhi xuất hiện cuồng loạn chi biểu hiện.

Phần giải nghĩa: “Tịnh năi cuồng” nghĩa là nặng thêm mà phát cuồng. Ư chỉ dương nhiệt cực thịnh, bốc lên quấy rối thần minh, nên xuất hiện hành vi cuồng loạn.

Giải thích: Đây là hậu quả nặng của dương cang không được âm chế ước.

五藏氣爭

Phần Hán Việt: Ngũ tạng khí tranh. Tranh, bất ḥa chi ư. Ngũ tạng khí tranh, chỉ ngũ tạng công năng thất điều, khí cơ thất ḥa.

Phần giải nghĩa: “Ngũ tạng khí tranh” nghĩa là khí của ngũ tạng mất ḥa, chức năng các tạng phủ rối loạn.

Giải thích: Đây là hậu quả khi âm quá mạnh mà dương không đủ điều động, khiến khí cơ trong tạng phủ bế tắc, xung đột.

陳陰陽

Phần Hán Việt: Trần âm dương. Trần, thuận ứng, điều ḥa. Trần âm dương, điều ḥa âm dương.

Phần giải nghĩa: “Trần âm dương” nghĩa là sắp xếp, điều ḥa, làm cho âm dương được ḥa thuận.

Giải thích: Đây là phép dưỡng sinh và trị bệnh ở mức gốc.

筋脈和同

Phần Hán Việt: Cân mạch ḥa đồng. Ḥa đồng, tức ḥa hài. Cân mạch ḥa đồng, chỉ cân mạch công năng ḥa hài, nhu ḥa linh hoạt.

Phần giải nghĩa: “Cân mạch ḥa đồng” nghĩa là gân mạch hài ḥa, mềm mại linh hoạt, hoạt động b́nh thường.

Giải thích: Khi âm dương điều ḥa th́ cân mạch mới được nuôi dưỡng đầy đủ.

氣立如故

Phần Hán Việt: Khí lập như cố. Lập, hành dă. Khí lập như cố, chỉ tạng phủ kinh lạc chi khí vận hành chính thường.

Phần giải nghĩa: “Khí lập như cố” nghĩa là khí của tạng phủ, kinh lạc vận hành như thường.

Giải thích: Đây là h́nh ảnh của trạng thái sinh lư khỏe mạnh.

風客淫氣

Phần Hán Việt: Phong khách dâm khí. Phong, phong tà; khách, động từ, chỉ tà ṭng ngoại nhập, lưu cư thể nội, hảo tượng khách nhân ṭng ngoại nhi lai; dâm khí, dâm loạn chi khí. Phong khách dâm khí, chỉ phong tà xâm nhập nhân thể, nhi thành vi dâm loạn chi khí.

Phần giải nghĩa: “Phong khách dâm khí” là phong tà từ ngoài vào, lưu trú trong cơ thể, trở thành thứ tà khí làm rối loạn bên trong.

Giải thích: Chữ “khách” cho thấy tà vốn từ ngoài tới, ở nhờ trong cơ thể.



Phần Hán Việt: Vong, hao thương chi ư.

Phần giải nghĩa: “Vong” nghĩa là hao tổn, mất mát.

Giải thích: Ở đây nói tinh bị phong tà làm hao tổn.

筋脈橫解

Phần Hán Việt: Cân mạch hoành giải. Hoành, phóng túng chi ư; giải, thông giải, tức tùng tŕ. Cân mạch hoành giải, tức cân mạch túng tŕ bất thu.

Phần giải nghĩa: “Cân mạch hoành giải” là gân mạch buông lỏng, trùng nhăo, mất sự thu nhiếp.

Giải thích: Thường do Can bị thương, cân mạch mất nuôi dưỡng và mất sự điều đạt.

腸澼為痔

Phần Hán Việt: Trường phích vi trĩ. Trường phích, bệnh danh, tức hạ lợi nùng huyết chi lỵ tật đẳng bệnh; vi, dữ dă; trĩ, trĩ sang.

Phần giải nghĩa: “Trường phích” là chứng lỵ hoặc hạ lợi ra mủ máu; “vi trĩ” là kèm theo trĩ sang.

Giải thích: Chỉ hậu quả ở trường đạo khi tà khí và ăn uống thất điều cùng làm hại.

強力

Phần Hán Việt: Cường lực. Miễn cưỡng dụng lực. Hựu chỉ pḥng sự, Vương Băng chú: “Cường lực, vị cường lực nhập pḥng dă.”

Phần giải nghĩa: “Cường lực” là gắng sức quá mức; cũng có thể chỉ pḥng sự quá độ.

Giải thích: Đây là nguyên nhân trực tiếp làm thương Thận khí.

高骨乃壞

Phần Hán Việt: Cao cốt năi hoại. Cao cốt, yêu gian chi tích cốt. Hoại, tổn thương, bại hoại.

Phần giải nghĩa: “Cao cốt” là xương sống vùng thắt lưng; “năi hoại” là bị hư hỏng, suy tổn.

Giải thích: Đây là biểu hiện Thận khí bị thương mà liên lụy đến cốt.

陽密乃固

Phần Hán Việt: Dương mật năi cố. Dương khí trí mật ư ngoại, âm khí tài năng cố thủ ư nội.

Phần giải nghĩa: Dương khí kín chắc ở bên ngoài th́ âm khí mới có thể giữ vững ở bên trong.

Giải thích: Đây là nguyên lư trung tâm của đoạn này, nói rơ quan hệ “dương hộ âm”.

聖度

Phần Hán Việt: Thánh độ, tối hảo chi dưỡng sinh pháp độ.

Phần giải nghĩa: “Thánh độ” là phép tắc dưỡng sinh tốt nhất, chuẩn mực nhất.

Giải thích: Ở đây chỉ phép điều ḥa âm dương đúng mức.

陽強不能密,陰氣乃絕

Phần Hán Việt: Dương cường bất năng mật, âm khí năi tuyệt. Dương cường, dương khí cang thịnh. Dương khí nhược trí mật ư ngoại, tắc âm khí năng cố thủ ư nội. Kim dương khí cang thịnh, bất năng vi âm khí trí mật ư ngoại, tắc âm khí diệc bất năng nội thủ nhi ngoại tiết, dĩ trí suy kiệt vong tuyệt.

Phần giải nghĩa: Dương quá mạnh mà không giữ kín được th́ âm khí sẽ hao tuyệt. Nếu dương chỉ cang bốc mà không làm được chức năng cố mật, th́ âm không thể ở trong mà sẽ bị thoát ra ngoài, cuối cùng suy kiệt.

Giải thích: Đây là chỗ rất tinh vi của lư luận âm dương: dương mạnh chưa chắc là tốt, nếu không “mật” th́ vẫn làm hại âm.

陰平陽秘,精神乃治

Phần Hán Việt: Âm b́nh dương bí, tinh thần năi trị. Âm b́nh dương bí vi hỗ văn, tức âm dương b́nh bí. B́nh bí, b́nh ḥa hiệp điều chi ư; trị, chính thường chi ư.

Phần giải nghĩa: Âm b́nh, dương kín giữ th́ tinh thần mới b́nh thường. “Âm b́nh dương bí” tức là âm dương cùng ở trạng thái điều ḥa, kín vững.

Giải thích: Đây là câu kết tinh của sinh lư học âm dương trong 《Nội經》.

陰陽離決,精氣乃絕

Phần Hán Việt: Âm dương ly quyết, tinh khí năi tuyệt. Ly, phân ly; quyết, quyết liệt. Âm dương phân ly quyết liệt, tắc cô dương bất sinh, độc âm bất trưởng, tinh khí vô dĩ tư sinh nhi kiệt tuyệt.

Phần giải nghĩa: Khi âm dương tách ĺa và đứt đoạn nhau th́ tinh khí sẽ tuyệt. Âm dương đă không c̣n nương dựa vào nhau th́ sinh cơ không thể tiếp tục.

Giải thích: Đây là hậu quả cuối cùng của âm dương ly quyết, tức mất nền tảng của sự sống.

露風

Phần Hán Việt: Lộ phong. Phiếm chỉ nhất ban ngoại cảm bệnh chi trí bệnh nhân tố. Hựu, lộ, xúc mạo; lộ phong, tức xúc mạo phong tà chi ư.

Phần giải nghĩa: “Lộ phong” chỉ chung các yếu tố ngoại cảm thông thường, nhất là bị xúc phạm bởi phong tà từ bên ngoài.

Giải thích: Đây là cách nói rộng, không chỉ gió sương theo nghĩa hẹp.

洞泄

Phần Hán Việt: Động tiết. Chỉ thủy cốc bất hóa, hạ lợi vô độ chi trọng độ tiết tả.

Phần giải nghĩa: “Động tiết” là tiêu chảy nặng, thủy cốc không hóa, đi lỏng không cầm.

Giải thích: Đây là bệnh có thể do phong tà mùa xuân lưu lại rồi phát ra.

痎瘧

Phần Hán Việt: Giai ngược. Ngược tật chi tổng xưng.

Phần giải nghĩa: “Giai ngược” là tên gọi chung của bệnh ngược, sốt rét theo cơn.

Giải thích: Chỉ loại bệnh hàn nhiệt qua lại, phát cơn từng lúc.

秋傷於濕,上逆而欬

Phần Hán Việt: Thu thương ư thấp, thượng nghịch nhi khái. Trương Giới Tân chú: “Thấp thổ dụng sự ư trường hạ chi mạt, cố thu thương ư thấp dă. Thu khí thông ư phế, thấp uất thành nhiệt, tắc thượng thừa phế kim, cố khí nghịch nhi vi khái thấu.”

Phần giải nghĩa: Mùa thu bị thương bởi thấp th́ khí nghịch lên mà sinh ho. Theo Trương Giới Tân, v́ thấp thổ tác động vào cuối trường hạ, lại gặp mùa thu thông với Phế, thấp uất hóa nhiệt nên bốc lên phạm Phế mà gây ho.

Giải thích: Đây là cách giải thích bệnh theo thời khí và tạng khí phối hợp với nhau.

痿厥

Phần Hán Việt: Nuy quyết. Thiên nghĩa phục từ, thiên tại “nuy”, tức chi thể khô nuy bất dụng chi bệnh chứng.

Phần giải nghĩa: “Nuy quyết” ở đây trọng ở chữ “nuy”, tức tay chân teo yếu, không dùng được.

Giải thích: Không nên hiểu đều cả hai chữ ngang nhau; ư chính là bệnh nuy.

冬傷於寒,春必溫病

Phần Hán Việt: Đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh. Nhân đông bất tàng tinh, cảm thụ hàn tà, phục tàng ư lư, uất cửu hóa nhiệt, chí xuân thiên dương khí thăng phát, hoặc hựu cảm tân tà, dẫn động phục nhiệt, phát vi ôn bệnh.

Phần giải nghĩa: Mùa đông bị thương bởi hàn th́ sang xuân tất phát ôn bệnh. Đó là v́ hàn tà ẩn ở trong, lâu ngày uất hóa thành nhiệt, đến mùa xuân dương khí phát lên hoặc lại cảm thêm tà mới, sẽ khơi động phục nhiệt mà phát thành ôn bệnh.

Giải thích: Đây là lư luận rất quan trọng về phục tà và ôn bệnh.

四時之氣,更傷五藏

Phần Hán Việt: Tứ thời chi khí, canh thương ngũ tạng. Canh, canh thế. Chỉ tứ thời bất chính chi khí, giao thế địa tổn thương ngũ tạng.

Phần giải nghĩa: Khí không chính của bốn mùa thay nhau làm tổn thương ngũ tạng.

Giải thích: Ư nói ngoại tà theo mùa có thể thay nhau gây bệnh, không chỉ ảnh hưởng một lúc một nơi.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn thấu quá đối sinh lư, bệnh lư cập dưỡng sinh đẳng hữu quan nội dung chi luận thuật, trọng điểm thuyết minh liễu âm tinh dữ dương khí quan hệ.

Phần giải nghĩa: Đoạn này thông qua việc bàn về sinh lư, bệnh lư và dưỡng sinh, chủ yếu nhằm làm rơ mối quan hệ giữa âm tinh và dương khí.

Giải thích: Đây là câu tổng quát của phần phân tích, cho thấy trục chính không c̣n là dương khí đơn độc, mà là quan hệ hỗ tương giữa âm và dương.

Phân tích

Phần Hán Việt: Âm tinh dữ dương khí chi gian, cụ hữu hỗ sinh, hỗ dụng, hỗ chế nhi nghi bảo tŕ hiệp điều chi quan hệ. “Âm giả tàng tinh nhi khởi cức dă, dương giả vệ ngoại nhi vi cố dă”, tức ngôn kỳ hỗ sinh, hỗ dụng. Âm thị nội tạng chi tinh khí, cung ứng thể nội ứng cấp chi dụng, âm tinh tu bất đoạn địa cung cấp dương khí, dương khí tài năng phát huy kỳ công năng; dương khí năng bảo vệ thể biểu, để ngự ngoại tà, dương khí tu hộ vệ ư ngoại, sử cơ thể cố mật, âm tinh tài năng thủ ư trung nhi bất trí tiết lậu, chính thường hóa sinh. Chỉ hữu âm khí ḥa b́nh, dương khí cố mật, tài thị chính thường sinh lư, nhân thể tài hữu kiện khang khả ngôn. 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》 sở vị “âm tại nội, dương chi thủ dă; dương tại ngoại, âm chi sử dă”. Nhược quả âm tinh ḥa dương khí chi quan hệ tao đáo phá hoại, tắc hội đạo trí “cô dương bất sinh, độc âm bất trưởng” chi bệnh lư biến hóa, lâm sàng khả kiến “dương tổn cập âm”, “âm tổn cập dương” chi bệnh lư biến hóa.

Phần giải nghĩa: Giữa âm tinh và dương khí có quan hệ hỗ sinh, hỗ dụng, hỗ chế, và cần phải được giữ ở trạng thái điều ḥa. Câu “Âm là tàng tinh mà luôn ứng ra, dương là vệ ngoại mà làm vững chắc” chính là nói lên sự hỗ sinh, hỗ dụng ấy. Âm là tinh khí của nội tạng, cung cấp phần dự trữ và phần cấp ứng ở bên trong; âm tinh phải không ngừng tiếp tế cho dương khí th́ dương khí mới phát huy được công năng. Ngược lại, dương khí bảo vệ phần ngoài cơ thể, chống ngoại tà xâm nhập; dương khí phải che chở ở bên ngoài, làm cho cơ thể kín vững, th́ âm tinh mới giữ được ở trong, không đến nỗi tiết thoát và vẫn có thể hóa sinh b́nh thường. Chỉ khi âm được an ḥa, dương được cố mật, đó mới là sinh lư b́nh thường và mới có thể nói đến sức khỏe. 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》 nói: “Âm ở trong, là chỗ dương nương tựa; dương ở ngoài, là chỗ âm sai sử使.” Nếu quan hệ giữa âm tinh và dương khí bị phá hoại th́ sẽ dẫn đến biến hóa bệnh lư “cô dương bất sinh, độc âm bất trưởng”; trên lâm sàng có thể thấy các kiểu “dương tổn cập âm” hoặc “âm tổn cập dương”.

Giải thích: Đây là phần giải thích sâu nhất của đoạn kinh. Tác giả nhấn mạnh âm và dương không đối lập đơn giản, mà dựa vào nhau để tồn tại. Âm là gốc vật chất cho dương, dương là lực bảo vệ và vận hóa cho âm. Bệnh phát sinh khi mối quan hệ ấy bị phá vỡ, nên trong điều trị cũng phải luôn xét cả hai mặt.

Phân tích

Phần Hán Việt: “Âm bất thắng kỳ dương, tắc mạch lưu bạc tật, tịnh năi cuồng; dương bất thắng kỳ âm, tắc ngũ tạng khí tranh, cửu khiếu bất thông”, đề thị âm dương chi gian tồn tại trước tương hỗ chế ước quan hệ, âm bất thắng dương tắc dương cang thịnh, dương bất thắng âm tắc âm thiên thịnh.

Phần giải nghĩa: Câu “Âm không thắng được dương th́ mạch đi gấp, nặng th́ phát cuồng; dương không thắng được âm th́ ngũ tạng khí tranh, cửu khiếu không thông” cho thấy giữa âm và dương luôn tồn tại quan hệ ước chế lẫn nhau. Khi âm không chế được dương th́ dương sẽ cang thịnh; khi dương không chế được âm th́ âm sẽ thiên thịnh.

Giải thích: Đây là phần nêu rơ cơ chế mất cân bằng. Âm dương không chỉ nương nhau mà c̣n kiềm chế nhau. Một bên không đủ sức chế ước bên kia th́ sẽ sinh thiên lệch, và thiên lệch ấy chính là cơ sở của bệnh lư.

1.

Phần Hán Việt: 「陰平陽秘,精神乃治」“Âm b́nh dương bí, tinh thần năi trị” thuyết minh âm dương b́nh ḥa hiệp điều, tinh thần t́nh chí hoạt động chính thường ḥa hài thị vạn vật tự thân vận động sở h́nh thành đích tối giai trạng thái. Tha thể hiện trước âm dương song phương đích tương hỗ tác dụng tại tiêu trưởng trạng thái trung, nhưng bảo tŕ mỗ chủng ổn định. Đối nhân thể lai thuyết, âm b́nh dương bí thị kiện khang đích tượng trưng. Sở dĩ “thánh nhân” dưỡng sinh “trần âm dương, cân mạch ḥa đồng, cốt tủy kiên cố, khí huyết giai ṭng. Như thị tắc nội ngoại điều ḥa, tà bất năng hại, nhĩ mục thông minh, khí lập như cố”. Nhất hữu thất điều, tức vi bệnh lư trạng thái, kỳ thất điều siêu xuất nhất định hạn độ, tựu hội biểu hiện xuất tật bệnh, âm dương ly quyết, tức vi tử hậu. Ṭng âm dương “hỗ sinh” phân tích, tắc nhất phương bất túc, tựu kỳ bản chất nhi ngôn, linh nhất phương dă tất nhiên bất túc. Ṭng “hỗ chế” phân tích, tắc nhất phương quá thịnh, tất nhiên đạo trí linh nhất phương bất túc; nhi nhất phương bất túc, tắc hội biểu hiện vi linh nhất phương đích tương đối quá thịnh, bản đoạn sở cử “âm bất thắng kỳ dương”, “dương bất thắng kỳ âm” chư bệnh, tức chỉ thử loại. Ṭng “hỗ dụng” phân tích, bản đoạn sở vị “dương cường bất năng mật, âm khí năi tuyệt”, tức chỉ dương khí quá thịnh thất kỳ cố mật chi năng, âm tinh nhân chi tẩu tiết, như nội nhiệt giả đa hăn, hỏa cang giả di tinh chi loại, kỳ âm tinh chi “tuyệt”, bất tại ư nhiệt hao, nhi thị do dương khí nội nhiễu sở trí, tả kỳ dương nhiệt, tắc âm tinh tự an.

Phần giải nghĩa: Câu “âm b́nh dương bí, tinh thần năi trị” cho thấy trạng thái âm dương điều ḥa, tinh thần và hoạt động t́nh chí b́nh thường, hài ḥa, chính là trạng thái tốt nhất do quy luật vận động tự thân của vạn vật tạo thành. Điều đó phản ánh rằng trong quá tŕnh âm dương tiêu trưởng lẫn nhau, vẫn có thể giữ được một thế ổn định tương đối. Đối với cơ thể con người, “âm b́nh dương bí” là dấu hiệu của sức khỏe. V́ vậy bậc thánh nhân trong dưỡng sinh biết điều ḥa âm dương, làm cho gân mạch ḥa thuận, xương tủy bền chắc, khí huyết thuận theo lẽ thường; nhờ đó trong ngoài điều ḥa, tà không làm hại được, tai mắt sáng suốt, khí hóa vận hành như cũ. Một khi mất điều ḥa th́ thành trạng thái bệnh lư; nếu sự mất điều ḥa vượt quá giới hạn nhất định th́ sẽ biểu hiện thành bệnh, c̣n nếu âm dương ĺa tuyệt th́ đó là dấu hiệu tử vong. Nếu phân tích theo quan hệ “hỗ sinh”, th́ một bên bất túc, về bản chất bên kia cũng tất nhiên bất túc. Nếu phân tích theo quan hệ “hỗ chế”, th́ một bên quá thịnh tất sẽ làm bên kia bất túc; c̣n khi một bên bất túc th́ bên c̣n lại sẽ biểu hiện thành tương đối quá thịnh. Những chứng như “âm không thắng được dương”, “dương không thắng được âm” mà đoạn này nêu ra đều thuộc loại đó. Nếu phân tích theo quan hệ “hỗ dụng”, th́ câu “dương cường bất năng mật, âm khí năi tuyệt” có nghĩa là dương khí quá mạnh mà mất đi công năng cố mật, khiến âm tinh theo đó mà thoát ra ngoài, như người có nội nhiệt thường ra mồ hôi nhiều, người hỏa cang th́ di tinh. Cái “tuyệt” của âm tinh ở đây không hoàn toàn do nhiệt trực tiếp đốt hao, mà chủ yếu là do dương khí quấy rối bên trong; nếu tả bớt dương nhiệt th́ âm tinh sẽ tự yên ổn.

Giải thích: Đoạn này triển khai rất sâu về cơ chế âm dương. Nó không chỉ nói âm dương cần cân bằng, mà c̣n dùng ba mặt “hỗ sinh, hỗ chế, hỗ dụng” để giải thích v́ sao một bên hư hay thực đều sẽ kéo theo biến động của bên kia. Ư rất quan trọng là trong lâm sàng, không được nh́n âm hay dương một cách cô lập. Có khi thấy âm hư nhưng gốc lại do dương quấy; có khi thấy dương cang nhưng thực chất là âm không đủ để chế ước. V́ vậy muốn trị đúng th́ phải nh́n được mối quan hệ qua lại này.

2.

Phần Hán Việt: 「陰陽之要,陽密乃固」“Âm dương chi yếu, dương mật năi cố” cường điệu âm dương quan hệ trung dĩ dương khí vi chủ đạo, thuyết minh dương khí tại âm dương quan hệ trung đích trọng yếu tác dụng. Trương Giới Tân chú: “Dương vi âm chi vệ, âm vi dương chi trạch. Tất dương khí bế mật ư ngoại, vô sở vọng hao, tắc tà bất năng hại, nhi âm khí hoàn cố ư nội. Thử bồi dưỡng âm dương chi yếu, tức sinh khí thông thiên chi đạo dă.”

Phần giải nghĩa: Câu “âm dương chi yếu, dương mật năi cố” nhấn mạnh rằng trong quan hệ âm dương, dương khí giữ vai tṛ chủ đạo; điều này nói rơ tác dụng rất quan trọng của dương khí trong mối quan hệ âm dương. Trương Giới Tân chú rằng: “Dương là cái bảo vệ của âm, âm là chỗ cư ngụ của dương. Chỉ cần dương khí đóng kín chặt chẽ ở bên ngoài, không vọng hao, th́ tà không thể làm hại, c̣n âm khí ở bên trong cũng được hoàn chỉnh, vững chắc. Đó là yếu quyết bồi dưỡng âm dương, cũng chính là đạo sinh khí thông thiên.”

Giải thích: Đoạn này đặc biệt đề cao vai tṛ của dương khí. Âm và dương cùng quan trọng, nhưng trong việc giữ cho cơ thể “cố” và “mật”, dương khí là lực lượng đi đầu. V́ vậy trong dưỡng sinh và điều trị, nhiều khi phải đặc biệt chú ư giữ dương, hộ dương, làm cho cơ biểu kín chắc, khí hóa vững vàng th́ âm mới được bảo toàn.

3.

Phần Hán Việt: 「陰陽失和則會產生疾病,甚至引起死亡」 Âm dương thất ḥa tắc hội sản sinh tật bệnh, thậm chí dẫn khởi tử vong. Nhược dương khí quá thịnh nhi âm bất tế, âm bất thắng kỳ dương, tắc dương dụng sự, khả xuất hiện “mạch lưu bạc tật, tịnh năi cuồng” đẳng bệnh chứng, thậm chí “dương cường bất năng mật, âm khí năi tuyệt”. Nhược âm khí quá thịnh nhi dương bất năng chế, dương bất thắng kỳ âm, tắc âm dụng sự, khả kiến “ngũ tạng khí tranh, cửu khiếu bất thông”. Nhược âm dương ly quyết, tắc nguy cập sinh mệnh. Thử ngoại, âm dương thất ḥa chi t́nh huống thập phần phức tạp, như đồng tự nhiên giới “nhược xuân vô thu, nhược đông vô hạ” na dạng, sử sinh trưởng thu tàng chi chính thường quy luật tao đáo phá hoại. Tại tật bệnh phát sinh dữ biến hóa phương diện, nhất cá quư tiết thụ tà, khả dĩ tại hạ nhất cá quư tiết phát sinh tật bệnh, nhi biểu hiện xuất âm dương thất điều, sở vị “xuân thương ư phong, tà khí lưu liên, hạ năi vi động tiết...... đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh”.

Phần giải nghĩa: Khi âm dương mất ḥa th́ sẽ sinh bệnh, thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Nếu dương khí quá thịnh mà âm không đủ giúp đỡ, tức âm không thắng được dương, th́ dương sẽ lấn quyền, có thể xuất hiện các chứng như “mạch đi gấp, nặng th́ phát cuồng”, thậm chí đến mức “dương cường mà không giữ kín được, âm khí bèn tuyệt”. Nếu âm khí quá thịnh mà dương không đủ sức chế ước, tức dương không thắng được âm, th́ âm lấn quyền, có thể thấy “ngũ tạng khí tranh, cửu khiếu không thông”. Nếu âm dương ĺa tuyệt th́ sẽ nguy đến tính mạng. Ngoài ra, t́nh trạng âm dương thất ḥa rất phức tạp, giống như trong tự nhiên “có xuân mà không có thu, có đông mà không có hạ”, khiến quy luật b́nh thường của sinh, trưởng, thu, tàng bị phá hoại. Về mặt phát sinh và biến hóa của bệnh, một mùa bị tà xâm phạm có thể đến mùa sau mới phát bệnh, biểu hiện thành âm dương mất điều ḥa, như câu “xuân bị thương bởi phong, tà khí lưu lại, sang hạ thành động tiết... đông bị thương bởi hàn, sang xuân tất thành ôn bệnh”.

Giải thích: Đoạn này chuyển từ lư luận sang biểu hiện bệnh lư cụ thể. Tác giả muốn nói rằng âm dương thất ḥa không phải một kiểu duy nhất, mà có thể thiên về dương, thiên về âm, hoặc đến mức ly quyết. Hơn nữa, sự thất ḥa ấy c̣n có tính thời lệnh, tức là tà khí cảm vào một mùa nhưng phát bệnh ở mùa sau. Đây là điểm nối rất quan trọng giữa học thuyết âm dương với học thuyết thời khí.

4.

Phần Hán Việt: (因此若養生失當,多種原因皆可傷精耗氣而引發疾病)Nhân thử nhược dưỡng sinh thất đương, đa chủng nguyên nhân giai khả thương tinh hao khí nhi dẫn phát tật bệnh. Quan ư tứ thời chi khí đích phát bệnh h́nh thức, bản thiên luận thuật liễu “cảm nhi tức phát” ḥa “phục nhi hậu phát” lưỡng chủng t́nh huống. Cảm nhi tức phát (đông bệnh): nhân ư hàn, thể nhược phiền thán, hăn xuất nhi tán. Hàn phục nhi hậu phát (xuân bệnh): đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh. Cảm nhi tức phát (thử bệnh): nhân ư thử, hăn, phiền tắc suyễn hát, tĩnh tắc đa ngôn. Thử phục nhi hậu phát (thu bệnh): hạ thương ư thử, thu vi giai ngược. Cảm nhi tức phát (thu bệnh): nhân ư thấp, thủ như quả, thấp nhiệt bất nhương, đại cân nhuyễn đoản, tiểu cân tŕ trường, nhuyễn đoản vi câu, tŕ trường vi nuy. Thấp phục nhi hậu phát (đông bệnh): thu thương ư thấp, thượng nghịch nhi khái, phát vi nuy quyết. Cảm nhi tức phát (xuân bệnh): nhân ư khí, vi thũng; nhân ư lộ phong, năi sinh hàn nhiệt. Phong phục nhi hậu phát (hạ bệnh): xuân thương ư phong, tà khí lưu liên, hạ năi vi động tiết. Thử thuyết minh, ngoại cảm thời tà, bất cận khả dĩ cảm nhi tức phát, thương hại bản tạng; dă khả dĩ phục nhi hậu phát, tổn hại tha tạng, kỳ phát sinh đích bệnh chứng đô hữu nhất định quy luật. Thử ngoại, mỗ ta tật bệnh đích phát sinh cụ hữu quư tiết tính đặc điểm. Như xuân hạ đa ôn nhiệt bệnh, hạ quư đa thử bệnh, tiết tả, hạ thu quư đa thấp bệnh, ngược tật, đông quư đa thương hàn, khái thấu, nuy quyết.

Phần giải nghĩa: V́ vậy, nếu dưỡng sinh không đúng th́ nhiều nguyên nhân khác nhau đều có thể làm tổn thương tinh, hao khí mà sinh bệnh. Về h́nh thức phát bệnh của khí bốn mùa, thiên này đă bàn đến hai trường hợp là “cảm vào rồi phát ngay” và “ẩn phục rồi phát về sau”. Cảm vào rồi phát ngay như bệnh do hàn: “nhân ư hàn, thể nhược phiền thán, hăn xuất nhi tán”. Hàn ẩn phục rồi phát về sau th́ là: “đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh”. Cảm vào rồi phát ngay như thử bệnh: “nhân ư thử, hăn, phiền tắc suyễn hát, tĩnh tắc đa ngôn”. Thử ẩn phục rồi phát về sau là: “hạ thương ư thử, thu vi giai ngược”. Cảm vào rồi phát ngay như thấp bệnh: “nhân ư thấp, thủ như quả, thấp nhiệt bất nhương, đại cân nhuyễn đoản, tiểu cân tŕ trường, nhuyễn đoản vi câu, tŕ trường vi nuy”. Thấp ẩn phục rồi phát về sau là: “thu thương ư thấp, thượng nghịch nhi khái, phát vi nuy quyết”. Cảm vào rồi phát ngay như phong khí: “nhân ư khí, vi thũng; nhân ư lộ phong, năi sinh hàn nhiệt”. Phong ẩn phục rồi phát về sau là: “xuân thương ư phong, tà khí lưu liên, hạ năi vi động tiết”. Điều đó cho thấy ngoại cảm thời tà không chỉ có thể cảm vào rồi phát bệnh ngay, làm hại bản tạng, mà c̣n có thể tiềm phục rồi phát ra về sau, làm tổn thương tạng khác; mà những bệnh chứng phát ra ấy đều có quy luật nhất định. Ngoài ra, một số bệnh c̣n có tính chất mùa rơ rệt, như xuân hạ hay gặp ôn nhiệt bệnh, mùa hè hay gặp thử bệnh và tiết tả, hạ thu hay gặp thấp bệnh và ngược, mùa đông hay gặp thương hàn, ho, nuy quyết.

Giải thích: Đoạn này rất có giá trị về mặt bệnh cơ và dự pḥng. Nó cho thấy tà khí có hai con đường phát bệnh: một là vào rồi phát ngay, hai là ẩn lại rồi đợi thời cơ mới phát. Chính điểm này làm nền cho lư luận phục tà, phục khí, và cũng giúp giải thích v́ sao bệnh có tính mùa rất rơ. Trong lâm sàng, hiểu được điều này sẽ giúp người thầy thuốc không chỉ nh́n bệnh ở hiện tại mà c̣n truy về mùa trước, tà trước, và hoàn cảnh cảm tà trước đó.




5.

Phần Hán Việt: 《Nội kinh》(中類似文字凡三見) trung loại tự văn tự phàm tam kiến. Trừ bản thiên ngoại, 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》 vân: “Đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh; xuân thương ư phong, hạ sinh tôn tiết; hạ thương ư thử, thu tất giai ngược; thu thương ư thấp, đông sinh khái thấu.” 《Linh khu. Luận tật chẩn xích》 vân: “Đông thương ư hàn, xuân sinh đản nhiệt; xuân thương ư phong, hạ sinh hậu tiết trường phích; hạ thương ư thử, thu sinh giai ngược; thu thương ư thấp, đông sinh khái thấu. Thị vị tứ thời chi tự dă.” Dĩ thượng tam xứ, văn tự lược dị, đăn nội dung vô biệt. Đối thượng thuật kư tải, khả ṭng lưỡng phương diện lư giải: kỳ nhất, thị giảng âm dương quan hệ tại tật bệnh phát sinh, phát triển trung đích phản ánh. Tức xuân hạ thu đông tứ quư phân âm dương, nhi phân chủ sinh, trưởng, thu, tàng chi khí, nhược xuân thụ phong tà, dương khí đương sinh nhi bất sinh, đáo hạ quư tắc dương khí bất năng trưởng, cố khả thành vi “động tiết” hàn trung chi bệnh...... đông quư cảm thụ hàn tà, tắc âm tinh bất năng tàng nhi khuy hư, đáo xuân quư dương khí sinh phát nhi âm tinh bất năng tương tế, nhược tái thụ ngoại tà, cực dị phát bệnh, cố viết “xuân tất ôn bệnh”. 《Tố vấn. Kim quỹ chân ngôn luận》 “tàng ư tinh giả, xuân bất bệnh ôn”, chính thị ṭng dưỡng sinh phương diện thuyết minh liễu “đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh” đích đạo lư. Kỳ nhị, ṭng tật bệnh đích phát sinh nhi ngôn, bản đoạn sở thuyết “xuân thương ư phong, tà khí lưu liên, hạ năi vi động tiết”, xác chỉ ngoại cảm thời tà xâm nhập nhân thể, diên kỳ nhi phát bệnh. Cố “đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh” nhất ngữ, dă khả dĩ lư giải vi “hàn tà nội phục” diên kỳ phát bệnh, giá dă chính thị hậu thế ôn bệnh học phái “phục khí ôn bệnh” thuyết chi lư luận lai nguyên.

Phần giải nghĩa: Trong 《Nội kinh》 những câu tương tự như vậy xuất hiện ba lần. Ngoài thiên này ra, 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》 nói: “Đông bị thương bởi hàn, xuân tất ôn bệnh; xuân bị thương bởi phong, hạ sinh tôn tiết; hạ bị thương bởi thử, thu tất giai ngược; thu bị thương bởi thấp, đông sinh khái thấu.” 《Linh khu. Luận tật chẩn xích》 lại nói: “Đông bị thương bởi hàn, xuân sinh đản nhiệt; xuân bị thương bởi phong, hạ sinh hậu tiết trường phích; hạ bị thương bởi thử, thu sinh giai ngược; thu bị thương bởi thấp, đông sinh khái thấu. Đó gọi là thứ tự của bốn mùa.” Ba chỗ ấy tuy chữ nghĩa hơi khác nhau, nhưng nội dung cơ bản không khác. Có thể hiểu các ghi chép ấy theo hai mặt. Thứ nhất, đó là nói về sự phản ánh của quan hệ âm dương trong sự phát sinh và phát triển của bệnh. Bốn mùa xuân hạ thu đông phân âm dương, lại lần lượt chủ sinh, trưởng, thu, tàng; nếu xuân bị phong tà làm hại, dương khí đáng lẽ phải sinh mà lại không sinh, đến hạ th́ dương khí không thể trưởng, nên có thể thành chứng động tiết, là bệnh hàn trung... Nếu mùa đông cảm hàn tà th́ âm tinh không tàng được mà trở nên hư tổn; đến xuân, dương khí phát sinh mà âm tinh không đủ phối hợp, lại gặp thêm ngoại tà th́ rất dễ phát bệnh, nên mới nói “xuân tất ôn bệnh”. Câu trong 《Tố vấn. Kim quỹ chân ngôn luận》 rằng “tàng ư tinh giả, xuân bất bệnh ôn” chính là giải thích từ phương diện dưỡng sinh cho đạo lư ấy. Thứ hai, xét từ mặt phát sinh bệnh tật, câu “xuân thương ư phong, tà khí lưu liên, hạ năi vi động tiết” đúng là nói đến ngoại cảm thời tà xâm nhập cơ thể, rồi tŕ hoăn một thời gian mới phát bệnh. V́ vậy câu “đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh” cũng có thể hiểu là hàn tà ẩn phục bên trong, rồi đến mùa sau mới phát ra. Đây chính là nguồn gốc lư luận cho học thuyết “phục khí ôn bệnh” của phái ôn bệnh đời sau.

Giải thích: Đoạn cuối này nâng vấn đề lên tầm hệ thống lư luận. Nó cho thấy các câu về “xuân thương phong, hạ bệnh”, “đông thương hàn, xuân ôn bệnh” không phải là câu riêng lẻ, mà là một tư tưởng lặp đi lặp lại trong 《Nội kinh》. Có thể nh́n nó dưới hai góc: một là quan hệ âm dương – tứ thời – sinh trưởng thu tàng, hai là cơ chế phục tà rồi phát bệnh về sau. Chính từ đây mà học thuyết ôn bệnh đời sau, đặc biệt là thuyết “phục khí ôn bệnh”, t́m được nền tảng lư luận của ḿnh.

Công dụng của âm tinh và tác hại của ngũ vị

Nguyên văn

Phần Hán Việt: Âm chi sở sinh, bản tại ngũ vị, âm chi ngũ cung, thương tại ngũ vị. Thị cố vị quá ư toan, can khí dĩ tân, tỳ khí năi tuyệt. Vị quá ư hàm, đại cốt khí lao, đoản cơ, tâm khí ức. Vị quá ư cam, tâm khí suyễn măn, sắc hắc, thận khí bất hành. Vị quá ư khổ, tỳ khí bất nhu, vị khí năi hậu. Vị quá ư tân, cân mạch thư tŕ, tinh thần năi ương. Thị cố cẩn ḥa ngũ vị, cốt chính cân nhu, khí huyết dĩ lưu, thấu lư dĩ mật, như thị, tắc cốt khí dĩ tinh, cẩn đạo như pháp, trường hữu thiên mệnh.

Phần giải nghĩa: Sự sinh ra của âm tinh vốn bắt nguồn từ ngũ vị; mà ngũ tạng tàng chứa âm tinh cũng lại bị tổn thương bởi ngũ vị. V́ thế, vị chua dùng quá mức th́ can khí đầy tràn quá thịnh, tỳ khí do đó mà suy tuyệt. Vị mặn dùng quá mức th́ khí của đại cốt mỏi mệt, cơ nhục co rút ngắn lại, tâm khí bị ức trệ. Vị ngọt dùng quá mức th́ tâm khí bức bách, hồi hộp phiền măn, sắc mặt ám đen, thận khí mất sự quân b́nh. Vị đắng dùng quá mức th́ tỳ khí không được nhu nhuận, vị khí thành đầy trướng. Vị cay dùng quá mức th́ cân mạch hư hoại, trùng nhăo, tinh thần cũng bị tổn hại. Cho nên phải thận trọng điều ḥa ngũ vị, như vậy xương mới ngay vững, gân mới mềm mại, khí huyết mới lưu thông, tấu lư mới kín chắc. Được như thế th́ khí của xương cốt, gân mạch, khí huyết, tấu lư đều được nuôi dưỡng mà mạnh mẽ sung túc; nếu giữ đạo dưỡng sinh đúng phép th́ có thể hưởng trọn tuổi trời.

Giải thích: Đoạn này nêu hai mặt của ngũ vị. Một mặt, ngũ vị là nguồn gốc hóa sinh âm tinh, nuôi dưỡng ngũ tạng; mặt khác, nếu ăn uống thiên lệch hay quá mức th́ chính ngũ vị lại trở thành nguyên nhân gây tổn thương tạng phủ. V́ vậy trọng điểm không phải là bỏ ngũ vị, mà là “cẩn ḥa ngũ vị”, tức điều ḥa cho thích hợp, không thiên lệch. Đây là nguyên tắc lớn của dưỡng sinh và dinh dưỡng trong y học cổ truyền.

Chú thích

陰之所生,本在五味

Phần Hán Việt: Âm chi sở sinh, bản tại ngũ vị. Âm, tức âm tinh; ngũ vị, tức toan, khổ, cam, tân, hàm ngũ chủng thực vật vị đạo, thử xứ phiếm chỉ ẩm thực vật. Ngôn âm tinh đích sản sinh, bản nguyên ư ẩm thực ngũ vị.

Phần giải nghĩa: “Âm chi sở sinh, bản tại ngũ vị” nghĩa là âm tinh được sinh ra, gốc ở nơi ngũ vị. “Âm” ở đây tức là âm tinh; “ngũ vị” là năm vị chua, đắng, ngọt, cay, mặn, dùng để chỉ chung thức ăn đồ uống.

Giải thích: Ư nói vật chất cơ bản để nuôi dưỡng cơ thể và hóa sinh tinh khí đều đến từ ăn uống.

陰之五宮

Phần Hán Việt: Âm chi ngũ cung. Ngũ cung, tức ngũ tạng. Âm chi ngũ cung, tức tàng súc âm tinh chi ngũ tạng.

Phần giải nghĩa: “Âm chi ngũ cung” tức là năm tạng, là nơi tàng chứa âm tinh.

Giải thích: Gọi là “ngũ cung” để nhấn mạnh tính chất như những nơi cất giữ, bảo tồn tinh khí.

味過於酸,肝氣以津,脾氣乃絕

Phần Hán Việt: Vị quá ư toan, can khí dĩ tân, tỳ khí năi tuyệt. Tân, măn dật, quá thịnh chi ư. Toan vị bản hữu tư dưỡng can tạng chi tác dụng, đăn quá thực toan vị, đạo trí can khí quá thịnh, can mộc thừa tỳ thổ, nhi sử tỳ khí suy tuyệt.

Phần giải nghĩa: Vị chua vốn có tác dụng nuôi dưỡng Can, nhưng nếu dùng quá mức sẽ làm can khí quá thịnh, Can mộc lấn Tỳ thổ, khiến tỳ khí suy kiệt.

Giải thích: Đây là dùng quan hệ ngũ hành để giải thích cơ chế bệnh: vị chua trước vào Can, quá mức th́ Can quá mạnh mà khắc Tỳ.

味過於鹹,大骨氣勞,短肌,心氣抑

Phần Hán Việt: Vị quá ư hàm, đại cốt khí lao, đoản cơ, tâm khí ức. Trương Chí Thông chú: “Đại cốt, yêu cao chi cốt, thận chi phủ dă; quá thực hàm tắc thương thận, cố cốt khí lao thương; thủy tà thịnh tắc vũ thổ, cố cơ nhục đoản súc; thủy thượng lăng tâm, cố tâm khí ức uất dă.”

Phần giải nghĩa: Vị mặn quá mức sẽ làm tổn thương Thận, nên đại cốt, nhất là xương sống vùng thắt lưng, bị mỏi mệt suy tổn; thủy tà quá thịnh th́ làm cơ nhục co rút; thủy khí lại lấn lên Tâm nên tâm khí bị ức uất.

Giải thích: Vị mặn vào Thận, nhưng nếu quá th́ không c̣n là bổ Thận mà trở thành thương Thận; sau đó bệnh c̣n lan sang Tỳ và Tâm theo cơ chế ngũ hành.

味過於甘,心氣喘滿,色黑,腎氣不衡

Phần Hán Việt: Vị quá ư cam, tâm khí suyễn măn, sắc hắc, thận khí bất hành. Cam, 《Thái tố》 tác “khổ”. Suyễn, thử chỉ tâm khiêu cấp xúc; măn, thông muộn, phiền muộn dă; hành, b́nh dă. Khổ nhập tâm, vị quá ư khổ tắc phản thương tâm khí, cố tâm khiêu cấp xúc nhi phiền muộn; hắc vi thủy sắc, hỏa bất túc tắc thủy khí thừa chi, cố kiến hắc sắc, tâm hỏa hư suy tắc thận thủy thiên thịnh, cố ngôn thận khí bất hành.

Phần giải nghĩa: Theo bản này là “vị ngọt quá mức”, nhưng 《Thái tố》 chép là “vị đắng”. Chữ “suyễn” ở đây chỉ tim đập gấp, “măn” là phiền muộn, “hành” là b́nh ḥa. Nếu hiểu theo bản 《Thái tố》 th́ vị đắng vào Tâm, quá mức sẽ làm tâm khí bị thương, sinh hồi hộp, phiền muộn; sắc đen là sắc của Thủy, do Tâm hỏa suy th́ Thận thủy lấn lên, nên nói thận khí mất quân b́nh.

Giải thích: Chỗ này văn bản có dị bản, cho nên cần hiểu thận trọng. Nghĩa chung là một vị dùng quá mức có thể làm hại tạng mà nó quy vào, rồi kéo theo mất cân bằng giữa Tâm và Thận.

味過於苦,脾氣不濡,胃氣乃厚

Phần Hán Việt: Vị quá ư khổ, tỳ khí bất nhu, vị khí năi hậu. Khổ, 《Thái tố》 tác “cam”, thả vô “bất” tự; nhu, thấp dă; hậu, thử chỉ trướng măn. Cam nhập tỳ, vị quá ư cam tắc thương tỳ, tỳ thương bất vận tắc sinh thấp, thấp trở tỳ vị tắc sinh trướng măn.

Phần giải nghĩa: Theo bản này là “vị đắng quá mức”, nhưng 《Thái tố》 chép là “vị ngọt”, và không có chữ “bất”. Nếu hiểu theo dị bản th́ vị ngọt vào Tỳ, quá mức sẽ làm thương Tỳ; Tỳ mất kiện vận th́ sinh thấp, thấp trở ở Tỳ Vị sẽ gây đầy trướng.

Giải thích: Đây cũng là chỗ có dị bản. Nhưng ư chính không đổi: vị quá thiên lệch sẽ làm thương trung tiêu, sinh thấp và trướng măn.

味過於辛,筋脈沮弛,精神乃央

Phần Hán Việt: Vị quá ư tân, cân mạch thư tŕ, tinh thần năi ương. Thư, bại hoại; ương, thông ương. Tân nhập phế, vị quá ư tân tắc thương phế, phế thương tắc tân dịch bất bố, cân thất sở dưỡng nhi bại hoại tŕ hoăn; tân tính tẩu tán, thần khí hao thương, cố ương cập tinh thần.

Phần giải nghĩa: Vị cay vào Phế, nếu dùng quá mức sẽ làm thương Phế; Phế bị thương th́ tân dịch không phân bố được, gân mất sự nuôi dưỡng nên hư hoại, trùng nhăo. Tính của vị cay là tẩu tán, v́ thế thần khí cũng bị hao thương, tinh thần bị ảnh hưởng.

Giải thích: Đây là ví dụ rơ về việc một vị không chỉ hại một tạng đơn lẻ mà c̣n ảnh hưởng đến cân mạch và tinh thần.

謹和五味

Phần Hán Việt: Cẩn ḥa ngũ vị. Cẩn thận địa thích đương điều ḥa ẩm thực ngũ vị.

Phần giải nghĩa: Thận trọng, khéo léo điều ḥa năm vị trong ăn uống.

Giải thích: Đây là nguyên tắc tổng quát nhất rút ra từ cả đoạn.

骨氣以精

Phần Hán Việt: Cốt khí dĩ tinh. Cốt khí, phiếm chỉ thượng văn chi cốt, cân, khí, huyết, tấu lư chư khí; tinh, cường thịnh. Cốt khí dĩ tinh, thị chỉ cốt, cân, khí, huyết, tấu lư quân đắc đáo ngũ vị chi tư dưỡng nhi cường thịnh bất suy.

Phần giải nghĩa: “Cốt khí dĩ tinh” nghĩa là khí của xương cốt, gân mạch, khí huyết và tấu lư đều được ngũ vị nuôi dưỡng mà mạnh mẽ sung thực.

Giải thích: Không nên hiểu hẹp chỉ riêng xương; ở đây là nói toàn thân đều được nuôi dưỡng đầy đủ.

謹道如法

Phần Hán Việt: Cẩn đạo như pháp. Án chiếu dưỡng sinh chi phương pháp khứ điều ḥa ngũ vị.

Phần giải nghĩa: Giữ đúng đạo lư, đúng phép mà điều ḥa ngũ vị theo phương pháp dưỡng sinh.

Giải thích: Không chỉ biết lư thuyết, mà c̣n phải thực hành đúng mức.

天命

Phần Hán Việt: Thiên mệnh. Tự nhiên phú dữ nhân chi thọ mệnh.

Phần giải nghĩa: “Thiên mệnh” ở đây là tuổi thọ tự nhiên mà trời đất phú cho con người.

Giải thích: Ư nói sống thuận đạo th́ có thể hưởng trọn tuổi trời.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn trọng điểm thảo luận hữu quan âm tinh đích vấn đề, luận cập âm tinh đích hóa sinh, tác dụng dĩ cập ngũ vị quá thực vi hại đẳng nội dung.

Phần giải nghĩa: Đoạn này chủ yếu bàn về âm tinh, gồm sự hóa sinh của âm tinh, tác dụng của nó, và tác hại do ăn uống ngũ vị quá mức.

Giải thích: Đây là câu mở đầu phần phân tích, xác định rơ trọng tâm chuyển từ dương khí sang âm tinh và ngũ vị.

Phân tích

Phần Hán Việt: Ẩm thực ngũ vị thị nhân lại dĩ sinh tồn đích cơ bản điều kiện, thị ngũ tạng tinh khí chi bản nguyên, cố kinh văn viết: “Âm chi sở sinh, bản tại ngũ vị。” Ẩm thực ngũ vị kinh tỳ vị chi hủ thục vận hóa, kỳ tinh vi du bố ư tạng phủ chu thân dĩ tư doanh dưỡng, chính như 《Tố vấn. Ngũ tạng biệt luận》 sở thuyết: “Vị giả, thủy cốc chi hải, lục phủ chi đại nguyên dă. Ngũ vị nhập khẩu, tàng ư vị, dĩ dưỡng ngũ tạng khí。” Ngũ tạng chủ tàng tinh nhi bất tả, cố xưng chi vi “âm chi ngũ cung”。 Đăn thị, thủy năng tải chu, diệc năng phúc chu, tuy nhiên ẩm thực ngũ vị năng hóa sinh âm tinh, nhi vi sinh mệnh chi bản nguyên chi nhất, đăn nhược thiên thực quá dụng, tắc phản vi hại, nhi trí đa chủng tật bệnh, thành vi tổn thương ngũ tạng tinh khí chi trọng yếu nguyên nhân. Cố kinh văn chỉ xuất: “Âm chi ngũ cung, thương tại ngũ vị。”

Phần giải nghĩa: Ăn uống ngũ vị là điều kiện cơ bản để con người tồn tại, là nguồn gốc của tinh khí ngũ tạng, v́ vậy kinh văn nói: “Sự sinh ra của âm tinh, gốc ở ngũ vị.” Sau khi ăn uống vào cơ thể, nhờ Tỳ Vị hủ thục, vận hóa, phần tinh vi được đưa đi nuôi dưỡng tạng phủ và toàn thân. Điều này cũng giống như 《Tố vấn. Ngũ tạng biệt luận》 nói: “Vị là biển của thủy cốc, là nguồn lớn của lục phủ. Ngũ vị vào miệng, chứa ở Vị để nuôi khí của ngũ tạng.” Ngũ tạng chủ tàng tinh mà không tả, nên được gọi là “năm cung của âm”. Nhưng nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền; tuy ngũ vị có thể hóa sinh âm tinh và là một trong những nguồn gốc của sinh mệnh, nhưng nếu thiên lệch hoặc dùng quá mức th́ trái lại sẽ gây hại, sinh nhiều bệnh và trở thành nguyên nhân quan trọng làm tổn thương tinh khí của ngũ tạng. V́ thế kinh văn mới nói: “Năm cung của âm, bị thương ở ngũ vị.”

Giải thích: Đoạn này nêu rơ tính hai mặt của ăn uống. Ăn uống là nguồn sống, nhưng cũng có thể thành nguyên nhân bệnh. Ư quan trọng là bệnh do ngũ vị không phải v́ ngũ vị tự nó xấu, mà v́ con người dùng sai, quá mức hoặc thiên lệch.

Phân tích

Phần Hán Việt: 《Tố vấn. Chí chân yếu đại luận》 vân: “Phù ngũ vị nhập vị, các quy sở hỉ. Cố toan tiên nhập can, khổ tiên nhập tâm, cam tiên nhập tỳ, tân tiên nhập phế, hàm tiên nhập thận. Cửu nhi tăng khí, vật hóa chi thường dă; khí tăng nhi cửu, yểu chi do dă。” Do ư ngũ vị hữu tuyển trạch địa “tiên nhập” mỗ tạng, cố cửu thực quá dụng mỗ vị, trừ năng trực tiếp thương hại trường vị dĩ ảnh hưởng ngũ tạng ngoại, hoàn khả thấu quá ngũ vị dữ ngũ tạng chi tương hợp quan hệ, tiên thương kỳ tương ứng chi tạng, kế tắc tổn thương tương quan chi tạng. Kỳ tổn hại tương quan chi tạng đích cơ chế, bản đoạn tắc dụng ngũ hành thừa vũ gia dĩ phân tích. Toan vị tiên tẩu can, khả dưỡng can tư cân, đăn toan vị thái quá, tắc can khí cang thịnh, dị thừa tỳ thổ, trí tỳ khí suy kiệt. Hàm vị tiên tẩu thận, khả dưỡng thận tư cốt, nhược hàm vị thái quá, tổn thương thận khí, đại cốt khí lao, khí hóa thất tư, thủy tà thiên thịnh, vũ thổ tắc thương cơ, lăng tâm tắc tâm khí ức. Khổ vị tiên tẩu tâm, khả dưỡng tâm tư huyết, nhược khổ vị thái quá, tổn thương tâm khí, tắc tâm quư phiền muộn, tâm thận tương giao, thủy hỏa kư tế, kim tâm hỏa bất túc, thận thủy thượng thừa, cố sắc hắc nhi thận khí bất hành. Cam vị tiên tẩu tỳ, khả dưỡng tỳ tư nhục, nhược cam vị thái quá, tổn thương tỳ khí, tỳ thất kiện vận, tắc thấp trở trung tiêu nhi quản phúc trướng măn. Tân vị tiên tẩu phế, khả dưỡng phế tư khí, nhược tân vị thái quá, phế khí thụ tổn, tân dịch bất bố, can cân thất dưỡng, cố cân mạch thư tŕ, can chủ hồn, phế chủ phách, hồn phách thất tàng, cố tinh thần năi ương.

Phần giải nghĩa: 《Tố vấn. Chí chân yếu đại luận》 nói: “Năm vị vào Vị, mỗi vị đều trước hết quy về tạng mà nó ưa vào. Chua vào Can, đắng vào Tâm, ngọt vào Tỳ, cay vào Phế, mặn vào Thận. Trong thời gian ngắn th́ làm tăng khí của tạng ấy, đó là lẽ thường; nhưng tăng lâu quá th́ lại là nguồn gốc của yểu tổn.” Chính v́ ngũ vị có tính lựa chọn “vào trước” một tạng nhất định, nên nếu ăn lâu ngày quá mức một vị nào đó, ngoài việc trực tiếp làm hại Trường Vị rồi ảnh hưởng ngũ tạng, c̣n có thể thông qua quan hệ phối hợp giữa ngũ vị và ngũ tạng mà trước hết làm thương tạng tương ứng, sau đó lại liên lụy đến tạng khác. Cơ chế tổn hại các tạng liên quan được đoạn này phân tích bằng ngũ hành thừa vũ. Vị chua trước vào Can, có thể dưỡng Can, nuôi gân, nhưng nếu quá mức th́ Can khí cang thịnh, dễ lấn Tỳ thổ, làm Tỳ khí suy kiệt. Vị mặn trước vào Thận, có thể dưỡng Thận, nuôi xương, nhưng nếu quá mức sẽ thương Thận khí, làm đại cốt mỏi mệt; khí hóa thất điều khiến thủy tà thiên thịnh, lấn Tỳ th́ hại cơ nhục, lấn Tâm th́ tâm khí bị ức. Vị đắng trước vào Tâm, có thể dưỡng Tâm, nuôi huyết, nhưng nếu quá mức th́ làm tâm khí tổn thương, sinh hồi hộp, phiền muộn; v́ Tâm Thận vốn tương giao, thủy hỏa kư tế, nay Tâm hỏa bất túc th́ Thận thủy lấn lên, nên sắc mặt đen và thận khí mất quân b́nh. Vị ngọt trước vào Tỳ, có thể dưỡng Tỳ, nuôi cơ nhục, nhưng nếu quá mức th́ thương Tỳ, Tỳ mất kiện vận nên thấp trở ở trung tiêu mà gây đầy trướng bụng ngực. Vị cay trước vào Phế, có thể dưỡng Phế, nuôi khí, nhưng nếu quá mức th́ Phế khí bị thương, tân dịch không phân bố, Can cân mất nuôi dưỡng nên cân mạch trùng nhăo; hơn nữa Can chủ hồn, Phế chủ phách, hồn phách mất nơi tàng giữ nên tinh thần cũng bị tổn hại.

Giải thích: Đây là đoạn quan trọng nhất về cơ chế “ngũ vị sở thương”. Tác giả không chỉ nói ăn vị nào hại tạng nào, mà c̣n chỉ rơ sự lan truyền sang các tạng khác qua quy luật ngũ hành. Nhờ vậy ta thấy bệnh do ăn uống không đơn giản chỉ là bệnh tiêu hóa, mà có thể dẫn tới tổn thương hệ thống toàn thân.

Phan tích

Phần Hán Việt: Sở dĩ, yếu tưởng đạt đáo kiện khang trường thọ, tựu tất tu cẩn thận địa điều ḥa ngũ vị, vật sử quá thiên, tắc ngũ tạng chi khí đắc dưỡng nhi ḥa b́nh. Nhân nhi thận chủ chi cốt kiên, can chủ chi cân nhu, phế chủ chi khí dữ tâm chủ chi huyết lưu hành thông sướng, tỳ chủ chi cơ tấu trí mật. Bỉ thử điều ḥa, bất thất thường độ, tắc tà bất năng xâm, nhi năng hưởng tận tự nhiên sở phú dữ chi thọ mệnh.

Phần giải nghĩa: Cho nên, muốn đạt tới khỏe mạnh và trường thọ th́ phải thận trọng điều ḥa ngũ vị, không để quá thiên lệch, như thế khí của ngũ tạng mới được nuôi dưỡng và điều ḥa. Nhờ đó xương do Thận chủ được vững chắc, gân do Can chủ được mềm mại, khí của Phế và huyết của Tâm lưu hành thông suốt, cơ nhục và tấu lư do Tỳ chủ được kín chắc. Khi các mặt ấy đều điều ḥa, không mất thường độ, th́ tà không thể xâm nhập, và con người có thể hưởng trọn tuổi thọ tự nhiên được phú cho.

Giải thích: Đây là phần quy kết về dưỡng sinh. Điều cốt lơi không phải là tránh một vị nào tuyệt đối, mà là biết quân b́nh, không quá thiên. Sự điều ḥa trong ăn uống chính là một phần của sự điều ḥa âm dương và ngũ tạng.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn quan ư ngũ vị thái quá đối ngũ tạng nguy hại chi luận thuật, đối lâm sàng dụng dược cập ẩm thực bảo kiện đô hữu trọng yếu đích chỉ đạo ư nghĩa. Ẩm thực ngũ vị nhược hữu thiên thích, tựu hội đạo trí nhân thể âm dương chi thất điều, ṭng nhi dẫn khởi tật bệnh, thuyết minh nhân thể trung âm dương chi khí “đắc ḥa tắc vi chính, thất ḥa tắc vi tà”, tà chính chi phân, toàn tại điều thuận dữ phủ. Kỳ “quá tắc vi hại” chi quan điểm, dữ 《Tố vấn. Kinh mạch biệt luận》 “sinh bệnh khởi ư quá dụng” chi luận, bỉ thử hỗ chứng.

Phần giải nghĩa: Những luận thuật trong đoạn này về tác hại của ngũ vị quá mức đối với ngũ tạng có ư nghĩa chỉ đạo rất quan trọng đối với cả lâm sàng dùng thuốc lẫn bảo kiện ăn uống. Nếu ăn uống có thiên lệch, ưa thích quá một vị nào đó, sẽ dẫn đến âm dương trong cơ thể mất điều ḥa mà phát sinh bệnh. Điều đó cho thấy khí âm dương trong cơ thể “được điều ḥa th́ là chính, mất điều ḥa th́ thành tà”; sự phân biệt tà hay chính cốt ở chỗ có được điều thuận hay không. Quan điểm “quá th́ thành hại” này cũng cùng chứng thực với nhận định trong 《Tố vấn. Kinh mạch biệt luận》 rằng “sinh bệnh khởi từ sự dùng quá mức”.

Giải thích: Đoạn cuối này mở rộng ư nghĩa của đoạn kinh từ phạm vi dưỡng sinh sang cả phạm vi điều trị. Nguyên tắc “quá tắc vi hại” không chỉ đúng với ăn uống mà c̣n nhắc người thầy thuốc khi dùng thuốc phải tránh thiên lệch, tránh lạm dụng. Cốt lơi vẫn là giữ sự điều ḥa, v́ điều ḥa th́ là chính, mất điều ḥa th́ thành bệnh.

Quan hệ giữa thể trạng và tỉ lệ phát bệnh.

Nguyên văn

Phần Hán Việt: Hoàng Đế vấn ư Thiếu Du viết: Dư văn bách tật chi thủy kỳ dă, tất sinh ư phong vũ hàn thử, tuần hào mao nhi nhập thấu lư, hoặc phục hoàn, hoặc lưu chỉ, hoặc vi phong thũng hăn xuất, hoặc vi tiêu đản, hoặc vi hàn nhiệt, hoặc vi lưu tư, hoặc vi tích tụ, kỳ tà dâm dật, bất khả thắng số, nguyện văn kỳ cố. Phù đồng thời đắc bệnh, hoặc bệnh thử, hoặc bệnh bỉ, ư giả thiên chi vi nhân sinh phong hồ? Hà kỳ dị dă?

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi Thiếu Du rằng: Ta nghe nói lúc trăm bệnh bắt đầu phát sinh, tất đều do phong, vũ, hàn, thử, theo đường lông tóc mà vào tấu lư; có khi tà lại lui ra, có khi lưu lại, có khi thành phong thũng ra mồ hôi, có khi thành tiêu đản, có khi thành hàn nhiệt, có khi thành lưu tư, có khi thành tích tụ. Các loại tà khí dâm dật ấy biến hóa rất nhiều, không thể kể hết, ta muốn nghe rơ nguyên do. Cùng một lúc cảm bệnh, có người mắc bệnh này, có người mắc bệnh kia, phải chăng là trời đă sinh ra nhiều loại phong tà khác nhau cho con người? V́ sao lại khác nhau như vậy?

Giải thích: Đoạn này nêu vấn đề trung tâm: cùng bị ngoại tà trong cùng hoàn cảnh, nhưng người này mắc bệnh này, người kia mắc bệnh khác. Hoàng Đế đặt câu hỏi không chỉ về nguyên nhân phát bệnh, mà c̣n về nguyên nhân của sự khác biệt giữa các cá thể trong biểu hiện bệnh.

Nguyên văn

Phần Hán Việt: Thiếu Du viết: Phù thiên chi sinh phong giả, phi dĩ tư bách tính dă, kỳ hành công b́nh chính trực, phạm giả đắc chi, tị giả đắc vô đăi, phi cầu nhân nhi nhân tự phạm chi.

Phần giải nghĩa: Thiếu Du đáp rằng: Trời sinh ra gió không phải là thiên vị riêng ai cả; tác động của nó là công bằng, ngay thẳng như nhau. Ai phạm vào th́ mắc bệnh, ai tránh được th́ không bị nguy hại. Không phải gió đi t́m người, mà là người tự chạm phải gió.

Giải thích: Đoạn này phủ nhận ư nghĩ rằng ngoại tà “chọn người” để gây bệnh. Ngoại tà là như nhau, vấn đề nằm ở chỗ con người có tránh được hay không, và sâu hơn là cơ thể có đủ sức chống đỡ hay không.

Nguyên văn

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Nhất thời ngộ phong, đồng thời đắc bệnh, kỳ bệnh các dị, nguyện văn kỳ cố. Thiếu Du viết: Thiện hồ tai vấn! Thỉnh luận dĩ tỷ tượng nhân. Tượng nhân ma phủ cân, lệ đao tước, chước tài mộc. Mộc chi âm dương, thượng hữu kiên thúy, kiên giả bất nhập, thúy giả b́ tŕ, chí kỳ giao tiết, nhi khuyết phủ cân yên. Phù nhất mộc chi trung, kiên thúy bất đồng, kiên giả tắc cương, thúy giả dị thương, huống kỳ tài mộc chi bất đồng, b́ chi hậu bạc, chấp chi đa thiểu, nhi các dị da.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Cùng một lúc gặp gió, cùng một lúc mắc bệnh, mà bệnh lại khác nhau, ta muốn nghe nguyên do. Thiếu Du đáp: Câu hỏi hay lắm! Xin cho phép tôi lấy người thợ đốn gỗ làm ví dụ. Người thợ mài ŕu, mài dao, rồi chặt cây gỗ. Trong cây gỗ cũng có âm dương, c̣n có chỗ cứng, chỗ gịn; chỗ cứng th́ ŕu khó ăn vào, chỗ gịn th́ dễ tách nứt; đến chỗ mấu, chỗ đốt giao nhau, thậm chí c̣n có thể làm mẻ cả ŕu búa. Trong cùng một cây mà độ cứng gịn đă khác nhau; chỗ cứng th́ rắn chắc, chỗ gịn th́ dễ tổn thương. Huống chi các loại cây khác nhau, vỏ dày hay mỏng, nhựa nhiều hay ít, th́ sự khác nhau lại càng lớn hơn nữa.

Giải thích: Thiếu Du dùng cây gỗ để ví với cơ thể người. Cùng chịu một tác động bên ngoài, nhưng do bản chất vật liệu khác nhau nên mức tổn thương khác nhau. Đây là cách nói rất sớm về tính khác biệt thể chất giữa các cá thể.

Nguyên văn

Phần Hán Việt: Phù mộc chi tảo hoa tiên sinh diệp giả, ngộ xuân sương liệt phong, tắc hoa lạc nhi diệp nuy; cửu bộc đại hạn, tắc thúy mộc bạc b́ giả, chi điều chấp thiểu nhi diệp nuy; cửu âm dâm vũ, tắc bạc b́ đa chấp giả, b́ hội nhi lộc; tốt phong bạo khởi, tắc cương thúy chi mộc, chi chiết ngột thương; thu sương tật phong, tắc cương thúy chi mộc, căn dao nhi diệp lạc. Phàm thử ngũ giả, các hữu sở thương, huống ư nhân hồ?

Phần giải nghĩa: Cây nào nở hoa sớm, ra lá sớm mà gặp sương xuân, gió dữ th́ hoa rụng, lá héo. Gặp nắng gắt, hạn lớn lâu ngày th́ loại gỗ gịn, vỏ mỏng sẽ cành ít nhựa, lá héo. Gặp âm u mưa dầm lâu ngày th́ loại vỏ mỏng, nhiều nhựa sẽ bị thối vỏ và rịn nhựa. Gặp gió dữ nổi lên đột ngột th́ loại cây vừa cứng vừa gịn sẽ găy cành, trụi thân. Gặp sương thu, gió mạnh th́ loại cây cứng gịn sẽ gốc lung lay, lá rụng. Năm loại t́nh huống ấy, mỗi loại đều có chỗ bị tổn thương khác nhau, huống chi là ở con người.

Giải thích: Đoạn này phát triển thêm ví dụ về cây gỗ. Không chỉ “chất gỗ” khác nhau mà từng loại tổn thương cũng khác nhau tùy cấu tạo, tính chất và hoàn cảnh. Ư của Thiếu Du là: thể chất khác nhau th́ cảm tà, phát bệnh, chuyển bệnh và vị trí tổn thương cũng sẽ khác nhau.

Nguyên văn

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Dĩ nhân ứng mộc nại hà? Thiếu Du đáp viết: Mộc chi sở thương dă, giai thương kỳ chi, chi chi cương thúy nhi kiên, vị thành thương dă. Nhân chi hữu thường bệnh dă, diệc nhân kỳ cốt tiết, b́ phu, thấu lư chi bất kiên cố giả, tà chi sở xá dă, cố thường vi bệnh dă. (《Linh khu. Ngũ biến》)

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Lấy người mà đối với cây th́ nên hiểu thế nào? Thiếu Du đáp: Cây bị thương, đều là thương ở cành nhánh; nếu cành vừa cứng chắc th́ chưa chắc đă bị thương. Con người có những bệnh thường mắc cũng là v́ xương khớp, da thịt, tấu lư có chỗ không được bền chắc, chính là nơi tà khí lưu trú, cho nên mới thường phát bệnh.

Giải thích: Đây là câu kết luận của toàn đoạn. Người dễ phát bệnh là do có “chỗ hư” trong cơ thể, tức bộ vị hoặc phương diện nào đó không đủ kiên cố để chống tà. V́ vậy cùng gặp tà mà người phát bệnh, người không; hoặc người này bệnh ở chỗ này, người kia bệnh ở chỗ khác.

Chú thích

少俞

Phần Hán Việt: Thiếu Du. Lịch sử truyền thuyết trung Hoàng Đế chi thần tử, tinh thông y lư.

Phần giải nghĩa: Thiếu Du là bề tôi của Hoàng Đế theo truyền thuyết, am hiểu y lư.

Giải thích: Là nhân vật đối đáp trong thiên này.

始期

Phần Hán Việt: Thủy kỳ. Khai thủy phát sinh chi thời hậu. Phần giải nghĩa: Lúc bắt đầu phát sinh. Giải thích: Chỉ giai đoạn đầu của sự phát bệnh.

復還

Phần Hán Việt: Phục hoàn. Tà khí nhập xâm nhân thể chi hậu, tại chính khí chi để kháng hạ nhi thoái khước, ly khai liễu nhân thể. Phần giải nghĩa: Tà khí vào cơ thể rồi, dưới sự kháng cự của chính khí mà rút lui, rời khỏi thân thể.

Giải thích: Đây là trường hợp cảm tà mà không thành bệnh hoặc bệnh không sâu.

風腫汗出

Phần Hán Việt: Phong thũng hăn xuất. Dữ hậu văn chi “phong quyết hăn” vi đồng nhất bệnh chứng, nhân phong tà nhập xâm thấu lư, sử đắc hăn thủy đặc đa, hoặc cơ phu hữu thũng trướng.

Phần giải nghĩa: Phong thũng ra mồ hôi, tức chứng do phong tà phạm vào tấu lư làm mồ hôi ra nhiều hoặc da thịt sưng nề.

Giải thích: Đây là một loại biểu hiện bệnh do phong tà xâm nhập phần nông.

消癉

Phần Hán Việt: Tiêu đản. Bệnh danh, tức tiêu khát bệnh, thị thượng, trung, hạ tam tiêu chi tổng xưng.

Phần giải nghĩa: Tên bệnh, tức tiêu khát, bao gồm các thể thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu.

Giải thích: Ở đây chỉ một loại bệnh phát sinh do tà khí và thể chất tương tác.

留痹

Phần Hán Việt: Lưu tư. Tư, nguyên tác “đản”, kim cứ Nguyên khắc bản cải, dĩ dữ hậu văn tương hợp. Chỉ tư chứng, nhân tà khí lưu trệ, kinh mạch khí huyết bế trở bất thông nhi danh.

Phần giải nghĩa: Chỉ chứng tư do tà khí lưu lại, làm kinh mạch khí huyết bế tắc không thông.

Giải thích: Đây là bệnh thiên về bế trở lâu ngày.

積聚

Phần Hán Việt: Tích tụ. Bệnh chứng danh, chỉ phúc nội kết khối, hoặc trướng hoặc thống chi bệnh chứng. Nhất ban dĩ tích khối minh hiển, trướng thống giảo thậm, cố định bất di vi tích; tích khối ẩn hiện, du thoán tác trướng, thống vô định xứ, thời hữu thời tiêu vi tụ. Đa do khí uất, huyết ứ, hàn ngưng, đàm trệ nhật cửu nhi thành.

Phần giải nghĩa: Chứng bệnh có khối kết ở trong bụng, hoặc trướng hoặc đau. Khối rơ, đau nhiều, cố định không di động gọi là tích; khối lúc có lúc không, chạy chỗ, đau không cố định gọi là tụ.

Giải thích: Ư nói tà khí vào sâu có thể thành bệnh ở lư, kết thành khối.

奇邪

Phần Hán Việt: Kỳ tà. Kỳ, diệc tà dă. Kỳ tà, đồng nghĩa phục từ.

Phần giải nghĩa: “Kỳ tà” tức cũng là tà khí, là từ ghép đồng nghĩa.

Giải thích: Chỉ các loại tà khí biến hóa đa dạng.

意者天之為人生風乎

Phần Hán Việt: Ư giả thiên chi vi nhân sinh phong hồ. Ư, liệu tưởng, suy trắc; thiên, chỉ tự nhiên giới. Ư vi đồng tại nhất cá thời gian đắc bệnh, hữu đích nhân hoạn giá chủng bệnh, hữu đích nhân hoạn na chủng bệnh, ngă tưởng giá thị phủ thị tự nhiên giới cấp nhân loại sản sinh liễu các chủng bất đồng tính chất chi phong tà chi duyên cố?

Phần giải nghĩa: Ư nói: cùng trong một lúc mắc bệnh, có người mắc bệnh này, có người mắc bệnh khác, phải chăng là tự nhiên đă sinh ra nhiều thứ phong tà khác nhau để gây bệnh cho người?

Giải thích: Đây là cách Hoàng Đế đặt vấn đề về sự khác biệt bệnh lư giữa các cá thể.

非以私百姓也

Phần Hán Việt: Phi dĩ tư bách tính dă. Tịnh bất thị thiên ái mỗ nhất bộ phận nhân.

Phần giải nghĩa: Không phải thiên vị, riêng tư với một số người nào.

Giải thích: Ngoại tà tác động công bằng, không chọn người.

其行公平正直

Phần Hán Việt: Kỳ hành công b́nh chính trực. Phong đối nhậm hà nhân chi tác dụng đô thị nhất dạng đích.

Phần giải nghĩa: Sự tác động của gió với mọi người là như nhau, công bằng, ngay thẳng.

Giải thích: Điểm khác biệt không nằm ở gió, mà ở người.

犯者得之,避者得無殆,非求人而人自犯之

Phần Hán Việt: Phạm giả đắc chi, tị giả đắc vô đăi, phi cầu nhân nhi nhân tự phạm chi. Thùy xúc phạm liễu phong, thùy tựu hội sinh bệnh; thùy tị khai liễu phong, thùy tựu bất hội thụ nguy hại; bất thị phong yếu xâm phạm nhân, nhi thị nhân tự xúc phạm liễu phong.

Phần giải nghĩa: Ai phạm vào gió th́ mắc bệnh; ai tránh được th́ không bị hại. Không phải gió đi t́m người, mà là người tự phạm phải gió.

Giải thích: Nhấn mạnh vai tṛ chủ động của con người trong pḥng bệnh.

請論以比匠人

Phần Hán Việt: Thỉnh luận dĩ tỷ tượng nhân. Thỉnh nhượng ngă dĩ tượng nhân phạt mộc vi dụ lai thuyết minh giá cá vấn đề.

Phần giải nghĩa: Xin cho tôi lấy việc người thợ đốn gỗ làm ví dụ để giải thích vấn đề này.

Giải thích: Đây là mở đầu cho phép tỷ dụ nổi tiếng của đoạn văn.

斧斤

Phần Hán Việt: Phủ cân, tức phủ đầu.

Phần giải nghĩa: Ŕu, búa.

Giải thích: Dụng cụ đốn cây của thợ mộc.

礪刀削

Phần Hán Việt: Lệ đao tước. Lệ, tại thạch đầu thượng ma sát chi ư; tước, đao chi biệt danh; lệ đao tước, tựu thị ma đao.

Phần giải nghĩa: Mài dao trên đá; “tước” là một tên khác của dao.

Giải thích: Chỉ việc chuẩn bị công cụ trước khi chặt cây.



Phần Hán Việt: Chước. Khảm phạt.

Phần giải nghĩa: Chặt, đốn.

Giải thích: Động tác chặt cây.

木之陰陽,尚有堅脆

Phần Hán Việt: Mộc chi âm dương, thượng hữu kiên thúy. Thụ mộc chất địa kiên ngạnh giả thuộc dương, chất địa tùng thúy giả thuộc âm.

Phần giải nghĩa: Trong cây gỗ cũng có âm dương: phần cứng chắc thuộc dương, phần gịn xốp thuộc âm.

Giải thích: Đây là cách mượn lư âm dương để nói về tính chất vật chất của cây.

堅者不入,脆者皮弛

Phần Hán Việt: Kiên giả bất nhập, thúy giả b́ tŕ. Chất kiên đích thụ mộc, phủ cân nan dĩ khảm tước; chất thúy đích thụ mộc, kỳ b́ tùng tŕ nhi dị liệt. B́, giá lư bất thị chỉ thụ b́, nhi thị bác ly chi ư; tŕ, giá lư thị tùng tán chi ư; h́nh dung mộc chất bất kiên, cực dị tùng tán liệt khai.

Phần giải nghĩa: Loại gỗ cứng th́ ŕu khó chặt vào; loại gỗ gịn th́ dễ bong nứt, lỏng rời.

Giải thích: Dùng để ví người có chỗ mạnh, chỗ yếu khác nhau.

交節

Phần Hán Việt: Giao tiết. Thụ mộc chi can giao tiếp xứ chi thụ tiết.

Phần giải nghĩa: Chỗ mấu, chỗ đốt nối giữa cành và thân cây.

Giải thích: Là điểm đặc biệt trong kết cấu cây, dễ tạo khác biệt trong sức chịu đựng.

缺斤斧

Phần Hán Việt: Khuyết phủ cân. Sử phủ cân khuyết tổn.

Phần giải nghĩa: Làm cho ŕu búa bị mẻ, bị khuyết.

Giải thích: Có những chỗ quá cứng đến mức ngay cả công cụ cũng bị tổn hại.

蚤花

Phần Hán Việt: Tảo hoa. Tảo, thông tảo. Tảo hoa, tức khai hoa tảo.

Phần giải nghĩa: Hoa nở sớm.

Giải thích: Chỉ loại cây phát triển sớm, dễ bị tổn thương bởi khí hậu bất thường.

淫雨

Phần Hán Việt: Dâm vũ, tức cửu vũ.

Phần giải nghĩa: Mưa dầm lâu ngày.

Giải thích: Chỉ môi trường ẩm lâu ngày làm hại cây, cũng như thấp tà đối với người.

皮潰而漉

Phần Hán Việt: B́ hội nhi lộc. Thụ b́ hội lạn, thụ chấp ngoại thẩm. Lộc, thẩm xuất.

Phần giải nghĩa: Vỏ cây mục nát, nhựa cây rịn ra ngoài.

Giải thích: H́nh dung sự hư tổn do thấp và mưa lâu ngày.



Phần Hán Việt: Tốt, tức “thốt” tự, đột nhiên.

Phần giải nghĩa: Đột ngột, bất ngờ.

Giải thích: Trong “tốt phong bạo khởi” là gió mạnh nổi lên bất ngờ.



Phần Hán Việt: Ngột. Chỉ vô hữu diệp tử, quang đột đột chi thụ can. Trương Giới Tân chú: “Mộc chi vô chi giả dă.”

Phần giải nghĩa: Thân cây trơ trụi không lá, không cành.

Giải thích: Chỉ trạng thái tổn thương nặng của cây.

未成傷

Phần Hán Việt: Vị thành thương. Vị tất thụ đáo thương hại. Thành, giá lư tác “tất” tự dụng.

Phần giải nghĩa: Chưa hẳn đă bị thương.

Giải thích: Nếu bản chất đủ cứng chắc th́ dù chịu tác động cũng chưa chắc bị tổn hại.

Phân tích

Phần Hán Việt: Thể chất thị nhất cá cổ lăo đích sinh vật học mệnh đề. Thể chất chi h́nh thành, chủ yếu thủ quyết ư phụ mẫu chi di truyền cơ nhân, đăn hựu thụ hậu thiên chư đa nhân tố chi ảnh hưởng. Thể chất h́nh thành chi hậu, nhất ban tương đối ổn định, sở dĩ y học trung nghiên cứu nhân chi thể chất trạng huống, đối chưởng ác kỳ nhân đích phát bệnh quy luật, cụ hữu trọng yếu ư nghĩa. Kinh văn chỉ xuất: đồng thời đắc bệnh, bệnh nhân tương đồng, hoặc bệnh ư thử, hoặc bệnh ư bỉ, thị nhân vi “phạm giả đắc chi, tị giả đắc vô đăi, phi cầu nhân nhi nhân tự phạm chi”. Thuyết minh nhân chi bẩm phú cường nhược dữ phủ phát bệnh, cập phát bệnh tŕnh độ, phát bệnh chủng loại hữu tương đương quan hệ. Kinh văn dĩ thụ mộc chất địa hữu kiên thúy chi dị tác phác tố tỷ dụ, thuyết minh nhân chi thể chất hữu cường nhược chi biệt. Thụ mộc chất thúy giả dị thương, thể chất nhược chi nhân dị bệnh, cố nhân phủ phát bệnh, tại ngận đại tŕnh độ thượng thủ quyết ư thể chất chi cường nhược. Nhi bất đồng đích thể chất loại h́nh, dă hữu bất đồng đích đa phát bệnh chủng, tức “nhân chi hữu thường bệnh dă”. Giá ta nhận thức ḥa lư luận, thực vi Trung y thể chất học thuyết chi cơ sở, đối bệnh nhân bệnh cơ chi phân tích cụ hữu trọng yếu ư nghĩa.

Phần giải nghĩa: Thể chất là một vấn đề sinh học rất cổ xưa. Sự h́nh thành thể chất chủ yếu do di truyền từ cha mẹ quyết định, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố hậu thiên. Sau khi h́nh thành, thể chất nói chung tương đối ổn định. V́ vậy trong y học, việc nghiên cứu t́nh trạng thể chất của con người có ư nghĩa rất quan trọng đối với việc nắm được quy luật phát bệnh của từng người. Kinh văn chỉ ra rằng: cùng một lúc mắc bệnh, cùng một nguyên nhân gây bệnh, mà có người mắc bệnh này, có người mắc bệnh khác, là v́ “ai phạm vào th́ mắc, ai tránh được th́ không bị hại, không phải tà khí đi t́m người mà người tự phạm vào tà khí”. Điều đó cho thấy sự mạnh yếu của bẩm phú có quan hệ rất lớn với việc có phát bệnh hay không, mức độ nặng nhẹ khi phát bệnh, cũng như loại bệnh sẽ phát ra. Kinh văn lấy sự khác nhau giữa cứng và gịn của cây gỗ để ví với sự mạnh yếu của thể chất con người. Gỗ gịn th́ dễ tổn thương, người thể chất yếu th́ dễ mắc bệnh; v́ vậy một người có phát bệnh hay không, ở mức độ rất lớn, phụ thuộc vào sự mạnh yếu của thể chất. Mặt khác, các loại thể chất khác nhau cũng có các loại bệnh dễ phát khác nhau, tức là “người có bệnh thường mắc”. Những nhận thức và lư luận này thực sự là cơ sở của học thuyết thể chất trong Trung y, có ư nghĩa rất quan trọng đối với việc phân tích bệnh nhân và bệnh cơ.

Giải thích: Phần phân tích này tổng kết rằng ngoại tà chỉ là một mặt của vấn đề; mặt c̣n lại là thể chất. Chính thể chất quyết định mức độ cảm tà, khả năng chống tà, nơi tà sẽ lưu lại, và loại bệnh dễ phát ra. Đây chính là nền tảng rất sớm của học thuyết thể chất Trung y và tư tưởng “nhân nhân bất đồng” trong chẩn trị.

Ngoại, nội bệnh nhân đích tính chất, trí bệnh đặc điểm, bệnh khởi ư tam bộ đích phát bệnh quy luật

Nguyên văn

Phần Hán Việt: Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Phù bách bệnh chi thủy sinh dă, giai sinh ư phong vũ hàn thử, thanh thấp hỉ nộ. Hỉ nộ bất tiết tắc thương tạng, phong vũ tắc thương thượng, thanh thấp tắc thương hạ. Tam bộ chi khí, sở thương dị loại, nguyện văn kỳ hội. Kỳ Bá viết: Tam bộ chi khí các bất đồng, hoặc khởi ư âm, hoặc khởi ư dương, thỉnh ngôn kỳ phương. Hỉ nộ bất tiết tắc thương tạng, tạng thương tắc bệnh khởi ư âm dă; thanh thấp tập hư, tắc bệnh khởi ư hạ; phong vũ tập hư, tắc bệnh khởi ư thượng, thị vị tam bộ. Chí ư kỳ dâm dật, bất khả thắng số.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Trăm bệnh lúc mới phát sinh đều do phong, vũ, hàn, thử, thanh thấp và hỉ nộ. Hỉ nộ không điều độ th́ làm thương tạng; phong vũ th́ làm thương phần trên; thanh thấp th́ làm thương phần dưới. Khí của ba bộ ấy gây tổn thương khác loại nhau, ta muốn nghe rơ chỗ hội thông của chúng. Kỳ Bá đáp: Khí của ba bộ vốn khác nhau, có cái khởi ở âm, có cái khởi ở dương, xin nói đại lược như sau. Hỉ nộ không điều độ th́ thương tạng, tạng bị thương th́ bệnh khởi ở âm; thanh thấp thừa lúc hư mà phạm vào th́ bệnh khởi ở dưới; phong vũ thừa lúc hư mà phạm vào th́ bệnh khởi ở trên, đó gọi là tam bộ. C̣n sự biến hóa dâm dật của chúng th́ nhiều không thể kể hết.

Giải thích: Đoạn này mở sang một cách phân loại bệnh nhân theo “tam bộ”: thượng, trung, hạ; đồng thời nối với cách phân âm dương. Nội thương do thất t́nh th́ quy về phần âm, thanh thấp thiên thương phần dưới, c̣n phong vũ thiên thương phần trên. Đây là một mô h́nh khái quát rất sớm về quy luật phát bệnh theo vị trí và tính chất của tà khí.

Chú thích

清濕

Phần Hán Việt: Thanh thấp. Thanh, hàn dă. Thanh thấp, tức hàn thấp chi tà.

Phần giải nghĩa: “Thanh thấp” nghĩa là hàn thấp, tức tà khí hàn thấp.

Giải thích: Chữ “thanh” ở đây không phải là trong sạch, mà là lạnh mát; v́ vậy “thanh thấp” chính là thấp tà mang tính hàn.

三部之氣

Phần Hán Việt: Tam bộ chi khí. Chỉ thương ư thượng bộ chi phong vũ chi tà, thương ư hạ bộ chi hàn thấp chi khí, dĩ cập thương ư ngũ tạng chi bạo hỉ bạo nộ chi khí.

Phần giải nghĩa: “Khí của ba bộ” là chỉ phong vũ làm thương phần trên, hàn thấp làm thương phần dưới, và khí do bạo hỉ, bạo nộ làm thương ngũ tạng.

Giải thích: “Tam bộ” ở đây là một cách phân loại bệnh nhân theo vị trí phát bệnh: thượng, hạ và nội tạng.



Phần Hán Việt: Hội. Hội thông, tức minh bạch, hội thông kỳ trung chi đạo lư.

Phần giải nghĩa: “Hội” nghĩa là hiểu rơ, thông đạt được đạo lư bên trong.

Giải thích: Hoàng Đế hỏi “nguyện văn kỳ hội”, tức là muốn hiểu chỗ mấu chốt thông suốt của toàn bộ vấn đề.

或起於陰,或起於陽

Phần Hán Việt: Hoặc khởi ư âm, hoặc khởi ư dương. Giá lư chỉ phát bệnh chi bộ vị. Âm, chỉ lư, thể nội; dương, chỉ biểu, thể biểu.

Phần giải nghĩa: “Hoặc khởi ở âm, hoặc khởi ở dương” tức là chỉ vị trí phát bệnh. “Âm” chỉ phần trong, phần lư; “dương” chỉ phần ngoài, phần biểu.

Giải thích: Đây là cách dùng âm dương để chỉ bệnh phát ở trong hay ở ngoài cơ thể.

襲虛

Phần Hán Việt: Tập hư. Thừa nhân thể hư suy nhi tập nhập.

Phần giải nghĩa: “Tập hư” nghĩa là thừa lúc cơ thể hư yếu mà xâm nhập vào.

Giải thích: Tà khí không dễ gây bệnh nếu chính khí vững; nó thường nhân lúc cơ thể có chỗ hư mà vào.

淫泆

Phần Hán Việt: Dâm dật. Đồng nghĩa phục từ, kỳ nghĩa quân đồng “dật”, hữu quá thịnh nhi khuếch tán chi ư, giá lư chỉ bệnh tà trục bộ truyền biến khuếch tán, tại thể nội xương quyết bá tán.

Phần giải nghĩa: “Dâm dật” là từ ghép đồng nghĩa, có ư nghĩa là quá thịnh rồi lan tràn, khuếch tán. Ở đây chỉ tà khí dần dần truyền biến, lan rộng và tung hoành trong cơ thể.

Giải thích: Chữ này nhấn mạnh tính chất tà khí không đứng yên mà ngày càng lan rộng, biến hóa phức tạp.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn chủ yếu xiển thuật liễu bệnh nhân dữ phát bệnh bộ vị chi quan hệ.

Phần giải nghĩa: Đoạn này chủ yếu tŕnh bày mối quan hệ giữa bệnh nhân và vị trí phát bệnh.

Giải thích: Ư chính là mỗi loại tà khí và mỗi loại nguyên nhân gây bệnh thường có xu hướng làm bệnh phát ra ở những bộ vị khác nhau.

Phần Hán Việt: Kinh văn căn cứ bất đồng đích bệnh nhân ḥa bất đồng đích bệnh vị, tương phát bệnh phân vi tam bộ, phong vũ chủ yếu bệnh phát ư thượng bộ, hàn thấp khởi bệnh đa tại hạ bộ, nhi t́nh chí bất tiết tắc đa kiến nội thương tạng khí. Giá chủng phân loại pháp vi hậu thế y gia nhận thức bệnh nhân điện định liễu cơ sở. Hán đại Trương Trọng Cảnh án bệnh nhân chi truyền biến khái quát vi tam điều đồ kính, tha thuyết: “Thiên ban sấn nan, bất việt tam điều: nhất giả, kinh lạc thụ tà nhập tạng phủ, vi nội sở nhân dă; nhị giả, tứ chi cửu khiếu, huyết mạch tương truyền, ủng tắc bất thông, vi ngoại b́ phu sở trúng dă; tam giả, pḥng thất, kim nhận, trùng thú sở thương. Dĩ thử tường chi, bệnh do đô tận。” Tống đại Trần Vô Trạch tắc cánh minh xác địa đề xuất “tam nhân học thuyết”。 Tha thuyết: “Lục dâm, thiên chi thường khí, mạo chi tắc tiên tự kinh lạc lưu nhập, nội hợp ư tạng phủ, vi ngoại sở nhân; thất t́nh, nhân chi thường tính, động chi tắc tiên tự tạng phủ uất phát, ngoại h́nh ư chi thể, vi nội sở nhân; kỳ như ẩm thực cơ băo, khiếu hô thương khí, kim sang đốn chiết, chú ngỗ phụ trước, úy áp nịch đẳng, hữu bội thường lư, vi bất nội ngoại nhân。”

Phần giải nghĩa: Kinh văn căn cứ vào nguyên nhân bệnh khác nhau và vị trí bệnh khác nhau, chia sự phát bệnh thành ba bộ: phong vũ chủ yếu phát bệnh ở phần trên, hàn thấp thường khởi bệnh ở phần dưới, c̣n t́nh chí không điều độ th́ phần nhiều thấy nội thương tạng khí. Cách phân loại này đă đặt nền móng cho các y gia đời sau nhận thức về bệnh nhân. Đời Hán, Trương Trọng Cảnh căn cứ vào sự truyền biến của bệnh nhân mà khái quát thành ba con đường. Ông nói: “Ngàn thứ bệnh tật, không vượt ngoài ba đường: một là kinh lạc thụ tà rồi nhập tạng phủ, đó là nội sở nhân; hai là tứ chi cửu khiếu, huyết mạch truyền nhau, bế tắc không thông, đó là bị trúng ở ngoài b́ phu; ba là do pḥng thất, dao kéo, trùng thú làm thương. Xét kỹ theo đó th́ nguyên do của bệnh đều có thể thấy hết.” Đời Tống, Trần Vô Trạch lại càng nêu rơ thành “tam nhân học thuyết”. Ông nói: “Lục dâm là thường khí của trời, nếu xúc phạm th́ trước từ kinh lạc mà vào, trong hợp với tạng phủ, đó là ngoại sở nhân; thất t́nh là thường tính của người, động quá th́ trước từ tạng phủ uất phát, ngoài hiện ra chi thể, đó là nội sở nhân; c̣n như ăn uống đói no thất thường, la hét thương khí, kim sang găy dập, các loại tổn thương trái với thường lư, th́ thuộc bất nội ngoại nhân.”

Giải thích: Đoạn này cho thấy lư luận “tam bộ” của 《Nội經》 về sau phát triển thành các hệ thống lớn hơn như “tam điều” của Trương Trọng Cảnh và “tam nhân” của Trần Vô Trạch. Điều đó chứng tỏ tư tưởng phân loại bệnh nhân của 《Nội經》 có ảnh hưởng rất sâu xa.

Phần Hán Việt: Thực tế thượng, thử bệnh nhân phân loại nhưng dĩ âm dương vi cương. Bệnh tà thương nhân bộ vị chi bất đồng, chủ yếu dữ tà khí chi thuộc tính hữu quan, phong vũ chi tà khinh thanh, thuộc dương trung chi dương, cố thương nhân chi ngoại thượng; hàn thấp chi tà trọng trọc ngưng trệ, thuộc dương trung chi âm, cố thương nhân chi ngoại hạ; hỉ nộ bất tiết, t́nh chí quá kích, thuộc âm, cố thương kỳ tạng thần chi ngũ tạng. Tổng chi, dương tà thương dương phân, âm tà thương âm phân, đồng khí tương cầu, dĩ loại tương ṭng dă. Quan ư bệnh nhân phân loại cập kỳ phát bệnh t́nh huống, 《Nội經》 loại tự luận thuật thượng đa, như “phù tà chi sinh dă, hoặc sinh ư âm, hoặc sinh ư dương. Kỳ sinh ư dương giả, đắc chi phong vũ hàn thử; kỳ sinh ư âm giả, đắc chi ẩm thực cư xử, âm dương hỉ nộ” (《Tố vấn. Điều kinh luận》), hựu như “thương ư phong giả, thượng tiên thụ chi; thương ư thấp giả, hạ tiên thụ chi” (《Tố vấn. Thái âm dương minh luận》) đẳng đương tham duyệt lư giải.

Phần giải nghĩa: Trên thực tế, cách phân loại bệnh nhân này vẫn lấy âm dương làm cương lĩnh. Việc tà khí làm hại các bộ vị khác nhau chủ yếu có liên quan đến thuộc tính của tà khí. Phong vũ chi tà nhẹ, thanh, thuộc dương trong dương, nên thường làm hại phần ngoài và phần trên cơ thể. Hàn thấp chi tà nặng, trọc, ngưng trệ, thuộc dương trong âm, nên thường làm hại phần ngoài và phần dưới. Hỉ nộ không điều độ, t́nh chí quá kích th́ thuộc âm, nên làm thương đến ngũ tạng là nơi tàng thần. Tóm lại, dương tà thương phần dương, âm tà thương phần âm, đó là “đồng khí tương cầu, dĩ loại tương ṭng”. Về phân loại bệnh nhân và t́nh huống phát bệnh, trong 《Nội經》 c̣n có nhiều chỗ luận tương tự, như câu: “Tà phát sinh, hoặc sinh ở âm, hoặc sinh ở dương. Cái sinh ở dương th́ do phong vũ hàn thử; cái sinh ở âm th́ do ẩm thực cư xử, âm dương hỉ nộ” trong 《Tố vấn. Điều kinh luận》, hoặc câu: “Bị thương bởi phong th́ phần trên tiếp nhận trước; bị thương bởi thấp th́ phần dưới tiếp nhận trước” trong 《Tố vấn. Thái âm dương minh luận》, đều nên tham khảo để hiểu rơ hơn.

Giải thích: Phần này nhấn mạnh rằng dù chia thành tam bộ hay tam nhân, cốt lơi vẫn là âm dương. Chính thuộc tính âm dương của tà khí quyết định nó sẽ xâm phạm vào phần nào của cơ thể. Đây là chỗ nối giữa bệnh nhân học và âm dương học.

Sự phát sinh và quy luật truyền biến của bệnh ngoại cảm, nguyên nhân, cơ chế và hội chứng của chúng.

Nguyên văn 1

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Dư cố bất năng sổ, cố vấn tiên sư, nguyện tốt văn kỳ đạo. Kỳ Bá viết: Phong vũ hàn nhiệt, bất đắc hư, tà bất năng độc thương nhân. Tốt nhiên phùng tật phong bạo vũ nhi bất bệnh giả, cái vô hư, cố tà bất năng độc thương nhân. Thử tất nhân hư tà chi phong, dữ kỳ thân h́nh, lưỡng hư tương đắc, năi khách kỳ h́nh. Lưỡng thực tương phùng, chúng nhân nhục kiên. Kỳ trúng ư hư tà dă, nhân ư thiên thời, dữ kỳ thân h́nh, tham dĩ hư thực, đại bệnh năi thành, khí hữu định xá, nhân xứ vi danh, thượng hạ trung ngoại, phân vi tam viên. Thị cố hư tà chi trúng nhân dă, thủy ư b́ phu, b́ phu hoăn tắc thấu lư khai, khai tắc tà ṭng mao phát nhập, nhập tắc để thâm, thâm tắc mao phát lập, mao phát lập tắc tích nhiên, cố b́ phu thống.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Ta thật không thể kể xiết, nên hỏi bậc tiên sư, mong được nghe trọn đạo lư ấy. Kỳ Bá đáp: Phong, vũ, hàn, nhiệt nếu không gặp chỗ hư th́ tà không thể tự ḿnh làm hại người. Có người đột nhiên gặp gió dữ mưa to mà không mắc bệnh, là v́ không có chỗ hư, cho nên tà không thể đơn độc làm hại người. Bệnh tất phải do hư tà chi phong gặp đúng lúc thân thể có hư, hai cái hư ấy gặp nhau th́ tà mới lưu trú vào thân. Nếu cả hai đều thực, tức tà không mạnh mà thân cũng vững, th́ người ta cơ nhục chắc khỏe mà không bệnh. Khi hư tà trúng vào người, phải xét đến thiên thời, lại phải xét đến h́nh thể người ấy, phối hợp với hư thực, rồi bệnh lớn mới thành. Tà khí có chỗ lưu trú nhất định, tùy nơi mà đặt tên, chia ra phần trên, phần dưới, phần trong, phần ngoài, tổng cộng làm ba loại lớn. V́ vậy, hư tà trúng vào người th́ bắt đầu từ b́ phu; b́ phu lỏng lẻo th́ tấu lư mở ra, tấu lư mở th́ tà theo lông tóc mà vào, vào rồi đi sâu dần, sâu th́ lông tóc dựng đứng, lông dựng th́ gai rét run rẩy, cho nên b́ phu đau.

Giải thích: Đoạn này xác lập nguyên lư rất quan trọng: tà khí không thể một ḿnh gây bệnh, mà phải gặp “hư” của cơ thể mới thành bệnh. Đây là nền tảng của quan niệm “chính khí bất túc, tà khí năi can”. Đồng thời đoạn này cũng mở đầu cho quá tŕnh truyền biến của ngoại tà từ nông vào sâu.

Nguyên văn 2

Phần Hán Việt: Lưu nhi bất khứ, tắc truyền xá ư lạc mạch, tại lạc chi thời, thống ư cơ nhục, kỳ thống chi thời tức, đại kinh năi đại. Lưu nhi bất khứ, truyền xá ư kinh, tại kinh chi thời, sái tích hỉ kinh. Lưu nhi bất khứ, truyền xá ư du, tại du chi thời, lục kinh bất thông tứ chi, tắc chi tiết thống, yêu tích năi cường. Lưu nhi bất khứ, truyền xá ư phục xung chi mạch, tại phục xung chi thời, thể trọng thân thống. Lưu nhi bất khứ, truyền xá ư trường vị, tại trường vị chi thời, bí hưởng phúc trướng, đa hàn tắc trường minh tôn tiết, thực bất hóa; đa nhiệt tắc đường xuất mi. Lưu nhi bất khứ, truyền xá ư trường vị chi ngoại, mộ nguyên chi gian, lưu trước ư mạch, kê lưu nhi bất khứ, tức nhi thành tích. Hoặc trước tôn mạch, hoặc trước lạc mạch, hoặc trước kinh mạch, hoặc trước du mạch, hoặc trước ư phục xung chi mạch, hoặc trước ư lữ cân, hoặc trước ư trường vị chi mạc nguyên, thượng liên ư hoăn cân, tà khí dâm dật, bất khả thắng luận.

Phần giải nghĩa: Nếu tà lưu lại không đi th́ sẽ truyền vào lạc mạch; lúc ở lạc mạch th́ đau ở cơ nhục, cơn đau lúc phát lúc ngừng, rồi đại kinh bị liên lụy. Nếu tà vẫn lưu lại không đi th́ truyền vào kinh mạch; lúc ở kinh th́ xuất hiện gai rét, sợ hăi, rùng ḿnh. Nếu c̣n lưu lại nữa th́ truyền vào du mạch; lúc ở du th́ sáu kinh không thông ra tứ chi, nên tay chân khớp đau, lưng sống cứng. Nếu tiếp tục lưu lại th́ truyền vào phục xung chi mạch; lúc ấy thân thể nặng nề, đau nhức. Nếu tiếp tục nữa th́ truyền vào trường vị; lúc ở trường vị th́ trong bụng có tiếng sôi, bụng trướng. Nếu thiên về hàn th́ trường minh, tiêu chảy ra thức ăn không tiêu; nếu thiên về nhiệt th́ đi phân lỏng nát như cháo. Nếu tà vẫn không đi mà truyền ra ngoài trường vị, ở khoảng giữa mộ nguyên, lưu bám ở mạch, đọng lại lâu ngày không tan, th́ nghỉ lại mà kết thành tích. Tà có thể bám ở tôn mạch, ở lạc mạch, ở kinh mạch, ở du mạch, ở phục xung chi mạch, ở lữ cân, hoặc ở mạc nguyên của trường vị, lên trên liên hệ với hoăn cân; tà khí lan tràn biến hóa, không thể kể hết.

Giải thích: Đoạn này mô tả rất rơ quy luật truyền biến của ngoại tà: từ b́ phu vào lạc, từ lạc vào kinh, từ kinh vào du, rồi vào các mạch sâu, vào trường vị, cuối cùng có thể thành tích. Đây là mô h́nh từ nông vào sâu, từ biểu vào lư, từ chức năng sang thực thể kết tụ.

Nguyên văn 3

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Nguyện tận văn kỳ sở do nhiên. Kỳ Bá viết: Kỳ trước tôn lạc chi mạch nhi thành tích giả, kỳ tích văng lai thượng hạ, tư thủ tôn lạc chi cư dă, phù nhi hoăn, bất năng câu tích nhi chỉ chi, cố văng lai di hành trường vị chi gian, thủy thấu thẩm chú quán, trạc trạc hữu âm, hữu hàn tắc phúc măn lôi dẫn, cố thời thiết thống. Kỳ trước ư dương minh chi kinh, tắc hiệp tề nhi cư, băo thực tắc ích đại, cơ tắc ích tiểu. Kỳ trước ư hoăn cân dă, tự dương minh chi tích, băo thực tắc thống, cơ tắc an. Kỳ trước ư trường vị chi mộ nguyên dă, thống nhi ngoại liên ư hoăn cân, băo thực tắc an, cơ tắc thống. Kỳ trước ư phục xung chi mạch giả, sủy chi ứng thủ nhi động, phát thủ tắc nhiệt khí hạ ư lưỡng cổ, như thang ốc chi trạng. Kỳ trước ư lữ cân, tại trường hậu giả, cơ tắc tích hiện, băo tắc tích bất hiện, án chi bất đắc. Kỳ trước ư du chi mạch giả, bế tắc bất thông, tân dịch bất hạ, khổng khiếu can ủng. Thử tà khí chi ṭng ngoại nhập nội, ṭng thượng hạ dă.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Ta muốn nghe hết nguyên do của những điều ấy. Kỳ Bá đáp: Nếu tà bám vào tôn lạc mà thành tích th́ khối tích ấy lên xuống qua lại, di chuyển trong khoảng giữa trường vị; v́ tôn lạc ở tay chân vốn nông và lỏng, không thể giữ khối tích cố định, nên nó qua lại di chuyển, nước tụ lại rót thấm, có tiếng óc ách; nếu có hàn th́ bụng đầy, tiếng vang như sấm, từng lúc đau dữ. Nếu tà bám ở kinh Dương minh th́ khối tích nằm cạnh rốn, ăn no th́ to lên, đói th́ nhỏ lại. Nếu tà bám ở hoăn cân th́ h́nh như tích của Dương minh, ăn no th́ đau, đói th́ đỡ. Nếu bám ở mộ nguyên của trường vị th́ đau mà lan ra ngoài đến hoăn cân, ăn no th́ yên, đói th́ đau. Nếu bám ở phục xung chi mạch th́ sờ vào thấy ứng tay mà động, rút tay ra th́ có hơi nóng chạy xuống hai đùi như nước nóng dội. Nếu bám ở lữ cân phía sau ruột th́ lúc đói thấy tích hiện, lúc no th́ tích không hiện, ấn lại không được. Nếu bám ở du mạch th́ bế tắc không thông, tân dịch không đi xuống, các khiếu khô và tắc. Đó là nói tà khí từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới mà truyền biến.

Giải thích: Đoạn này chuyển từ quy luật chung sang mô tả từng loại “tích” tùy nơi tà khí bám vào. Tùy vị trí bám khác nhau mà tính chất đau, mức di động, liên quan ăn no hay đói, sờ nắn được hay không đều khác nhau. Đây là một kiểu phân biệt chứng rất tinh vi của cổ y.

Nguyên văn 4

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Tích chi thủy sinh, chí kỳ dĩ thành, nại hà? Kỳ Bá viết: Tích chi thủy sinh, đắc hàn năi sinh, năi thành tích dă.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Từ lúc tích mới sinh cho đến khi đă thành, cơ chế như thế nào? Kỳ Bá đáp: Tích lúc mới sinh là do gặp hàn mà phát sinh, rồi dần dần mới thành tích.

Giải thích: Câu này nêu ngắn gọn một ư rất quan trọng: hàn là một trong những động lực chủ yếu khởi đầu cho sự h́nh thành tích tụ.

Nguyên văn 5

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Kỳ thành tích nại hà? Kỳ Bá viết: Quyết khí sinh túc phủ, phủ sinh hĩnh hàn, hĩnh hàn tắc huyết mạch ngưng sáp, huyết mạch ngưng sáp tắc hàn khí thượng nhập ư trường vị, nhập ư trường vị tắc phúc trướng, trướng tắc trường ngoại chi trấp mạt bách tụ bất đắc tán, nhật dĩ thành tích. Tốt nhiên đa thực ẩm, tắc trường măn, khởi cư bất tiết, dụng lực quá độ, tắc lạc mạch thương, dương lạc thương tắc huyết ngoại dật, huyết ngoại dật tắc nục huyết; âm lạc thương tắc huyết nội bồn, huyết nội bồn tắc hậu huyết. Trường vị chi lạc thương, tắc huyết dật ư trường ngoại, trường ngoại hữu hàn, trấp mạt dữ huyết tương bác, tắc tịnh hợp ngưng tụ bất đắc tán, nhi tích thành hĩ. Tốt nhiên ngoại trúng ư hàn, nhược nội thương ư ưu nộ, tắc khí thượng nghịch, khí thượng nghịch tắc lục du bất thông, ôn khí bất hành, ngưng huyết uẩn lư nhi bất tán, tân dịch sáp thẩm, trước nhi bất khứ, nhi tích giai thành hĩ.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Vậy tích được h́nh thành như thế nào? Kỳ Bá đáp: Quyết khí làm chân co quắp, co quắp th́ cẳng chân lạnh; cẳng chân lạnh th́ huyết mạch ngưng trệ sáp lại; huyết mạch ngưng sáp th́ hàn khí đi lên vào trường vị; vào trường vị th́ bụng trướng; bụng trướng th́ các chất dịch bọt ở ngoài ruột bị ép tụ lại mà không tan, lâu ngày thành tích. Nếu đột nhiên ăn uống quá nhiều th́ ruột đầy; sinh hoạt thất điều, dùng sức quá mức th́ lạc mạch bị thương. Dương lạc bị thương th́ huyết tràn ra ngoài, sinh chảy máu mũi; âm lạc bị thương th́ huyết tràn vào trong, sinh đại tiện ra máu. Nếu lạc của trường vị bị thương th́ huyết tràn ra ngoài ruột; ngoài ruột lại có hàn, dịch bọt và huyết xung đột lẫn nhau, kết lại mà không tan, rồi thành tích. Nếu đột nhiên bị hàn từ ngoài trúng vào, hoặc bên trong bị ưu nộ làm thương, th́ khí nghịch lên; khí nghịch th́ lục du không thông, ôn khí không vận hành, huyết ngưng ở trong mà không tan, tân dịch sáp trệ thấm ứ, bám lại không đi, thế là các loại tích đều thành.

Giải thích: Đoạn này giải thích cụ thể bệnh cơ của “tích”: bắt đầu từ hàn, khí nghịch, huyết ngưng, tân dịch đ́nh tụ, rồi lâu ngày kết lại thành khối. Ngoài ra c̣n có vai tṛ của ăn uống quá mức, lao lực, tổn thương lạc mạch, và nội thương ưu nộ. Điều đó cho thấy tích không phải chỉ do một nguyên nhân đơn độc, mà là kết quả của nhiều yếu tố cùng làm khí huyết tân dịch rối loạn rồi kết tụ lại.

Chú thích

虛邪

Phần Hán Việt: Hư tà. Khả dĩ sử nhân trí bệnh đích tứ thời bất chính chi khí.

Phần giải nghĩa: “Hư tà” là thứ khí không chính của bốn mùa, có thể làm cho con người phát bệnh.

Giải thích: Không phải mọi khí hậu đều là tà; chỉ những khí trái thường, không đúng thời mới gọi là hư tà.

兩虛相得,乃客其形

Phần Hán Việt: Lưỡng hư tương đắc, năi khách kỳ h́nh. Lưỡng hư, hư tà ḥa chính khí hư nhược; tương đắc, tương hợp; khách, xâm phạm. Ngôn hư tà dữ chính khí hư nhược lưỡng chủng t́nh huống tương hợp, hư tà tựu hội xâm phạm nhân thể trí bệnh.

Phần giải nghĩa: “Hai hư gặp nhau th́ tà mới phạm vào thân.” “Hai hư” là hư tà ở ngoài và chính khí hư yếu ở trong; “tương đắc” là gặp nhau, phù hợp nhau; “khách” là xâm phạm. Nghĩa là khi hư tà gặp đúng lúc cơ thể chính khí suy yếu th́ tà khí mới xâm nhập gây bệnh.

Giải thích: Đây là một nguyên lư rất quan trọng của ngoại cảm bệnh: tà khí không tự ḿnh gây bệnh được, mà phải gặp lúc cơ thể có chỗ hư th́ mới phát bệnh.

兩實相逢,眾人肉堅

Phần Hán Việt: Lưỡng thực tương phùng, chúng nhân nhục kiên. Lưỡng thực, ngôn lục khí chính thường ḥa chính khí sung thực; nhục kiên, chỉ cơ phu cố mật bất dị thụ tà phát bệnh.

Phần giải nghĩa: “Hai thực gặp nhau th́ người ta cơ nhục chắc.” “Hai thực” là khí hậu b́nh thường và chính khí sung thực; “nhục kiên” là cơ da kín chắc, không dễ bị tà xâm nhập mà phát bệnh.

Giải thích: Nếu ngoại cảnh không quá độc hại, lại gặp cơ thể khỏe mạnh th́ dù có tiếp xúc với khí hậu cũng không dễ sinh bệnh.

參以虛實,大病乃成

Phần Hán Việt: Tham dĩ hư thực, đại bệnh năi thành. Tham, tham hợp; hư, chính khí hư; thực, tà khí thịnh thực. Chính khí hư dữ tà khí thực lưỡng chủng t́nh huống tương tham hợp, ngoại cảm bệnh chứng tức h́nh thành. Phần giải nghĩa: “Phối hợp giữa hư và thực th́ bệnh nặng mới thành.” “Tham” là phối hợp; “hư” là chính khí hư; “thực” là tà khí mạnh. Khi chính khí hư và tà khí thịnh cùng gặp nhau th́ chứng ngoại cảm sẽ h́nh thành.

Giải thích: Đây là cách diễn đạt rơ hơn mối quan hệ giữa tà và chính trong phát bệnh: bệnh nặng thường là kết quả của cả hai mặt cùng hội đủ.

氣有定舍,因處為名

Phần Hán Việt: Khí hữu định xá, nhân xứ vi danh. Khí, tà khí; định xá, đ́nh lưu chi xứ. Tức căn cứ tà khí nhập xâm hậu đích đ́nh lưu bộ vị mệnh danh tật bệnh.

Phần giải nghĩa: “Tà khí có chỗ ở nhất định, tùy nơi mà đặt tên.” “Khí” ở đây là tà khí; “định xá” là nơi tà lưu lại. Nghĩa là bệnh được gọi tên dựa theo nơi tà khí sau khi vào cơ thể đă dừng lại.

Giải thích: Đây là cơ sở để phân biệt bệnh theo bộ vị, như bệnh ở b́ phu, ở lạc, ở kinh, ở trường vị...

三員

Phần Hán Việt: Tam viên. Tức thượng văn sở ngôn tam bộ chi khí.

Phần giải nghĩa: “Tam viên” tức là ba phần, chính là ba bộ khí đă nói ở trên.

Giải thích: Ở đây là cách gọi khác của “tam bộ”, không đổi nghĩa.

皮膚緩

Phần Hán Việt: B́ phu hoăn. Hoăn giả, bất kiên dă, chỉ biểu hư. Trương Giới Tân chú: “Biểu hư tắc b́ phu hoăn, cố tà đắc thừa chi.”

Phần giải nghĩa: “B́ phu hoăn” nghĩa là da lỏng, không chắc, chỉ trạng thái phần biểu hư yếu. Trương Giới Tân nói: “Biểu hư th́ da thịt lỏng, cho nên tà mới thừa cơ vào được.”

Giải thích: Đây là dấu hiệu cho thấy cơ biểu không c̣n giữ kín, nên rất dễ bị ngoại tà xâm nhập.

淅然

Phần Hán Việt: Tích nhiên. Phạ lănh chi dạng.

Phần giải nghĩa: “Tích nhiên” là dáng vẻ sợ lạnh, run rẩy.

Giải thích: Đây là biểu hiện thường thấy khi tà khí từ nông đi vào sâu hơn mà chính khí bắt đầu chống đỡ.

皮膚痛

Phần Hán Việt: B́ phu thống. Trương Giới Tân chú: “Hàn tà thương vệ tắc huyết khí ngưng trệ, cố b́ phu vi thống.”

Phần giải nghĩa: Đau da thịt. Trương Giới Tân giải thích: “Hàn tà làm thương vệ khí th́ huyết khí ngưng trệ, cho nên da thịt đau.”

Giải thích: Đau ở b́ phu là một trong những biểu hiện sớm khi tà c̣n ở phần nông.

時息

Phần Hán Việt: Thời tức. Tức, chỉ dă. Chỉ thống thống thời tác thời chỉ. 《Giáp Ất kinh》 tác “kỳ bệnh thời thống thời tức”.

Phần giải nghĩa: “Thời tức” nghĩa là lúc đau lúc ngừng, cơn đau có khi phát có khi lắng.

Giải thích: Đây là đặc điểm của tà c̣n lưu ở lạc mạch, chưa vào sâu hẳn.

大經乃代

Phần Hán Việt: Đại kinh năi đại. Đại kinh chỉ kinh mạch; đại, thị thế. Đại kinh năi đại, chỉ nguyên lai lưu tồn tà khí chi lạc mạch, hiện tại dĩ do kinh mạch đại thế liễu, dă tức thâm nhập chi ư. Trương Giới Tân chú: “Lạc thiển ư kinh, cố thống ư cơ nhục chi gian. Nhược cơ nhục chi thống thời tiệm chỉ tức, thị tà tương khứ nhi thâm, đại kinh đại thụ chi hĩ.”

Phần giải nghĩa: “Đại kinh năi đại” nghĩa là kinh mạch đă thay thế lạc mạch để nhận tà, tức tà đă đi sâu hơn từ lạc vào kinh. Trương Giới Tân giải thích rằng lạc nông hơn kinh, nên khi tà c̣n ở lạc th́ đau ở cơ nhục; nếu đau dần bớt mà tà chưa hết th́ nghĩa là tà đi sâu, kinh mạch tiếp nhận nó.

Giải thích: Đây là một mốc quan trọng trong quá tŕnh truyền biến của ngoại tà từ nông vào sâu.

灑淅喜驚

Phần Hán Việt: Sái tích hỉ kinh. Sái tích, hàn lănh bất an chi dạng; hỉ, 《Giáp Ất kinh》, 《Thái tố》 quân tác “thiện”; hỉ kinh, chỉ tà thịnh phát nhiệt thời dung dị phát kinh.

Phần giải nghĩa: “Sái tích” là run lạnh, không yên; “hỉ kinh” hoặc “thiện kinh” là dễ kinh sợ, phát kinh khi tà thịnh sinh nhiệt.

Giải thích: Đây là biểu hiện tà đă vào kinh, không c̣n chỉ ở ngoài da thịt nữa.



Phần Hán Việt: Du. Tức hạ văn chi “du mạch”. Trương Chí Thông chú: “Du giả, chuyển du huyết khí chi kinh mạch.”

Phần giải nghĩa: “Du” ở đây chính là “du mạch”, tức những kinh mạch đảm nhiệm việc chuyển đưa khí huyết.

Giải thích: Khi tà vào “du”, bệnh đă sâu hơn mức ở kinh thông thường.

伏沖之脈

Phần Hán Việt: Phục xung chi mạch. Chỉ xung mạch ẩn hành ư tích trụ nội chi bộ phận, bộ vị giảo thâm, sở dĩ khiếu phục xung chi mạch. Trương Giới Tân chú: “Phục xung chi mạch, tức xung mạch tại tích giả, dĩ kỳ tối thâm, cố viết phục xung, 《Tuế lộ thiên》 viết: nhân tích nội chú ư phục xung chi mạch thị dă.”

Phần giải nghĩa: “Phục xung chi mạch” chỉ phần xung mạch đi ẩn sâu trong cột sống, v́ bộ vị rất sâu nên gọi như vậy.

Giải thích: Khi tà vào đến phục xung th́ bệnh đă vào rất sâu, không c̣n ở biểu hoặc lạc kinh nữa.

賁響

Phần Hán Việt: Bí hưởng. Bí đồng bôn. Ư vi phúc trung nhân khí xung kích nhi minh hưởng.

Phần giải nghĩa: “Bí hưởng” là trong bụng có tiếng chạy rầm rầm do khí xung động mà phát ra.

Giải thích: Đây là biểu hiện tà đă vào trường vị, làm khí cơ trong bụng bị xung nghịch.

溏出麋

Phần Hán Việt: Đường xuất mi. Đường, đại tiện hy đường; mi, đồng mi, chỉ đại tiện mi lạn hủ bại, ác xú nan văn. Đường xuất mi, thị nhiệt tính tả lỵ chi đặc chinh.

Phần giải nghĩa: “Đường xuất mi” là đi ngoài phân lỏng nát như cháo, hôi thối, là đặc điểm của tả lỵ thiên về nhiệt.

Giải thích: Dùng để phân biệt với loại tiêu chảy thiên về hàn ở câu trước.

募原之間

Hán Việt: Mộ nguyên chi gian. Mộ dữ mạc thông. Trương Chí Thông chú: “Mộ nguyên giả, trường vị ngoại chi cao mạc.”

Giải nghĩa: “Mộ nguyên” ở đây hiểu là “mạc nguyên”, tức lớp mỡ và màng ở ngoài trường vị.

Giải thích: Đây là một vị trí sâu trong cơ thể, nơi tà có thể lưu lại mà kết thành tích.

息而成積

Phần Hán Việt: Tức nhi thành tích. Trục tiệm trưởng thành tích khối thũng vật. Tức, thử tác “sinh trưởng” giải. Dương Thượng Thiện chú: “Truyền ư trường vị chi gian, trưởng tức thành ư tích bệnh.”

Phần giải nghĩa: “Tức mà thành tích” nghĩa là dần dần lớn lên rồi thành khối tích. “Tức” ở đây nên hiểu là sinh trưởng, tăng dần.

Giải thích: Chỉ quá tŕnh bệnh tà lưu lại lâu ngày, không tan, rồi hóa thành tích tụ hữu h́nh.

輸脈

Phần Hán Việt: Du mạch. Chuyển du huyết khí chi kinh mạch.

Phần giải nghĩa: “Du mạch” là những kinh mạch có chức năng vận chuyển khí huyết.

Giải thích: Đây là một tầng bệnh vị sâu hơn lạc và kinh trong đoạn văn này.

膂筋

Phần Hán Việt: Lữ cân. Tức hành ư tích trụ chi cân mạc. Trương Chí Thông chú: “Lữ cân giả, đối ư tích lữ chi cân.”

Phần giải nghĩa: “Lữ cân” là cân mạc đi dọc theo cột sống.

Giải thích: Đây là nơi tà có thể lưu lại, gây nên loại tích khó sờ thấy.

緩筋

Phần Hán Việt: Hoăn cân. Tuần ư phúc nội chi cân, chỉ túc dương minh chi cân.

Phần giải nghĩa: “Hoăn cân” là gân đi trong bụng, chỉ cân của kinh Túc Dương minh.

Giải thích: Khi bệnh liên lụy tới hoăn cân th́ đau và tích có quan hệ chặt với ăn

uống,trường vị.

邪氣淫泆,不可勝論 Phần Hán Việt: Tà khí dâm dật, bất khả thắng luận. Trương Giới Tân chú: “Tà khí sở trước tắc lưu nhi vi bệnh, vô xứ bất đáo, cố dâm dật bất khả thắng số.”

Phần giải nghĩa: Tà khí lan tràn, biến hóa, không thể nói cho hết. Trương Giới Tân nói: “Tà bám vào đâu th́ lưu lại đó mà thành bệnh, không chỗ nào không tới, cho nên sự lan tràn ấy không thể kể hết.” Giải thích: Đây là lời tổng kết rằng sự truyền biến của tà khí trong cơ thể là rất phức tạp.

臂手孫絡之居

Phần Hán Việt: Tư thủ tôn lạc chi cư. 《Giáp Ất kinh》 tác “phách hồ”, phách, thông “tịch”. Tịch, tụ dă; hồ, ư dă. Chỉ tích tụ ư tôn lạc chi xứ, tức vi tôn lạc chi tích.

Phần giải nghĩa: Chỉ chỗ tụ lại ở tôn lạc, tức loại tích thuộc về tôn lạc.

Giải thích: Đây là tên gọi theo vị trí bám của bệnh tích.

句積

Phần Hán Việt: Câu tích. Câu, 《Giáp Ất kinh》 tác “câu”, ước thúc chi ư. Câu tích, ước thúc tích khối, sử kỳ bất đắc lai hồi thượng hạ di động.

Phần giải nghĩa: “Câu tích” nghĩa là giữ khối tích lại, không cho nó di động lên xuống qua lại.

Giải thích: Tôn lạc nông và lỏng nên thường không đủ sức “câu” giữ tích cho cố định.

水湊滲注灌,濯濯有音

Phần Hán Việt: Thủy thấu thẩm chú quán, trạc trạc hữu âm. Tân dịch tụ tích thành thủy, tại trường vị gian lai hồi chấn đăng tác hưởng.

Phần giải nghĩa: Tân dịch tụ lại thành thủy, rung động qua lại trong khoảng trường vị mà phát ra tiếng óc ách.

Giải thích: Đây là mô tả một loại tích có kèm ứ thủy hoặc đàm ẩm.

腹膜滿雷引

Phần Hán Việt: Phúc măn lôi dẫn. Phúc, phúc măn; lôi, trường minh kháng tiến thanh đại như lôi minh; dẫn, thu dẫn, kinh luyên; lôi dẫn, phúc trung minh hưởng như lôi, kiêm牽 dẫn tác thống.

Phần giải nghĩa: Bụng đầy, ruột kêu to như sấm, lại co kéo mà đau.

Giải thích: Đây là biểu hiện hàn tà và thủy khí kết lại trong bụng.

揣之應手而動

Phần Hán Việt: Sủy chi ứng thủ nhi động. Sủy, xúc mạc; ứng thủ nhi động, thuyết minh hữu động mạch chi bác động cảm.

Phần giải nghĩa: Sờ vào th́ ứng tay mà động, tức có cảm giác đập theo mạch.

Giải thích: Đây là đặc điểm chẩn đoán khi tích bám vào phục xung chi mạch.

發手則熱氣下於兩股

Phần Hán Việt: Phát thủ tắc nhiệt khí hạ ư lưỡng cổ. Phát, đài, cử; nhiệt khí, xung mạch trung chi huyết khí chi nhiệt; lưỡng cổ, song trắc đại thoái.

Phần giải nghĩa: Nhấc tay ra th́ thấy hơi nóng chạy xuống hai đùi.

Giải thích: Đây là mô tả cảm giác dẫn truyền theo đường mạch.

湯沃

Phần Hán Việt: Thang ốc. Thang, nhiệt thủy; ốc, kiêu quán.

Phần giải nghĩa: “Thang ốc” là như nước nóng dội xuống.

Giải thích: Dùng để ví cảm giác nóng chạy xuống đùi khi sờ vào phục xung.

按之不得

Phần Hán Việt: Án chi bất đắc. Nhân tích sở tại bộ vị thâm, cố xúc án nhi bất đắc kỳ h́nh trạng.

Phần giải nghĩa: Ấn vào mà không nắm được h́nh dạng của khối tích, v́ vị trí của nó nằm quá sâu. Giải thích: Đây là một dấu hiệu giúp phân biệt tích ở sâu với tích ở nông.



Phần Hán Việt: Tích. Thũng khối, tích tụ chi chứng.

Phần giải nghĩa: “Tích” là khối tụ, chỉ chứng có khối kết trong cơ thể.

Giải thích: Ở đây nói rộng về chứng tích tụ, không chỉ riêng một loại khối.

厥乃成積

Phần Hán Việt: Quyết năi thành tích. Quyết, quyết nghịch. Hàn tà quyết nghịch ư thượng, khí huyết uất trệ bất hành, nhật cửu tiệm thành tích.

Phần giải nghĩa: Hàn tà nghịch lên trên, làm khí huyết uất trệ không lưu thông, lâu ngày dần thành tích.

Giải thích: Đây là cách giải thích nguyên nhân sâu xa của tích theo cơ chế hàn – khí nghịch – huyết trệ.

厥氣生足俛

Phần Hán Việt: Quyết khí sinh túc phủ. Quyết khí, hàn tà quyết nghịch hướng thượng; phủ, đồng “muộn”; túc, chỉ túc bộ toan khốn, hoạt động bất lợi đẳng chứng trạng.

Phần giải nghĩa: “Quyết khí” là hàn tà nghịch lên; “túc phủ” chỉ chân mỏi nặng, hoạt động khó khăn.

Giải thích: Câu này mô tả giai đoạn sớm, khi hàn tà và khí nghịch đă ảnh hưởng xuống chân trước.

腹脹

Phần Hán Việt: Phúc trướng. Phúc, chống dă; trướng, chi chống trướng măn.

Phần giải nghĩa: Bụng bị chống lên, đầy trướng.

Giải thích: Đây là hậu quả khi hàn khí vào trường vị làm khí cơ không thông.

腸外之汁沫迫聚不得散

Phần Hán Việt: Trường ngoại chi trấp mạt bách tụ bất đắc tán. Trấp mạt, tân dịch. Chỉ bách sử trường ngoại chi tân dịch ngưng tụ, h́nh thành đàm thấp.

Phần giải nghĩa: Tân dịch ở ngoài ruột bị ép tụ lại mà không tan, dần h́nh thành đàm thấp.

Giải thích: Đây là một mắt xích quan trọng trong cơ chế tạo tích: từ khí trệ dẫn đến tân dịch đ́nh tụ.

腸滿

Phần Hán Việt: Trường măn. Trường vị trướng măn.

Phần giải nghĩa: Ruột, dạ dày đầy trướng.

Giải thích: Thường do ăn uống quá nhiều, làm cho khí cơ trường vị bị bế.

陽絡、陰絡

Phần Hán Việt: Dương lạc, âm lạc. Tại thượng tại biểu chi lạc mạch vi dương lạc; tại hạ tại lư chi lạc mạch vi âm lạc.

Phần giải nghĩa: Lạc mạch ở trên, ở ngoài là dương lạc; lạc mạch ở dưới, ở trong là âm lạc.

Giải thích: Cách chia này giúp giải thích v́ sao tổn thương ở các lạc khác nhau lại gây xuất huyết ở những vị trí khác nhau.

衄血

Phần Hán Việt: Nục huyết. Chỉ b́ phu cập ngũ quan thất khiếu chi xuất huyết.

Phần giải nghĩa: Chảy máu mũi, hoặc rộng hơn là xuất huyết ở da và các khiếu trên.

Giải thích: Ở đây dùng để chỉ huyết tràn ra ngoài khi dương lạc bị thương.

後血

Phần Hán Việt: Hậu huyết. Phiếm chỉ tiền hậu nhị âm xuất huyết.

Phần giải nghĩa: Chỉ xuất huyết ở tiền âm hoặc hậu âm, nhất là đại tiện ra máu.

Giải thích: Đây là hậu quả khi âm lạc bị thương.



Phần Hán Việt: Vị. 《Giáp Ất kinh》, 《Thái tố》 tác “ngoại”.

Phần giải nghĩa: Chữ “vị” ở đây, theo một số bản khác th́ chép là “ngoại”.

Giải thích: Đây là một chỗ dị văn, cần lưu ư khi đọc và giải thích.

六輸

Phần Hán Việt: Lục du. Lục, lục kinh; du, đồng “du”, tức du huyệt.

Phần giải nghĩa: “Lục du” chỉ các du huyệt thuộc sáu kinh.

Giải thích: Khi khí nghịch, lục du không thông th́ khí cơ toàn thân khó điều đạt.

溫氣

Phần Hán Việt: Ôn khí. Dương khí.

Phần giải nghĩa: “Ôn khí” chính là dương khí, tức thứ khí có công năng ôn dưỡng và vận hành.

Giải thích: Khi ôn khí không đi th́ huyết và tân dịch dễ ngưng trệ.

凝血蘊裡

Phần Hán Việt: Ngưng huyết uẩn lư. Uẩn, tích dă, tích tụ; lư, 《Giáp Ất kinh》, 《Thái tố》 tác “lư”. Ngưng kết chi huyết tích tụ tương lư nhi bất đắc tán giải.

Phần giải nghĩa: Huyết ngưng kết lại, tích tụ, quấn bọc với nhau mà không thể tan ra.

Giải thích: Đây là trạng thái huyết ứ lâu ngày, là cơ sở h́nh thành tích.

津液澀滲

Phần Hán Việt: Tân dịch sáp thẩm. Sáp thẩm, 《Giáp Ất kinh》 tác “ngưng sáp”. Tức tân dịch ngưng sáp đ́nh tụ.

Phần giải nghĩa: Tân dịch trở nên ngưng sáp, đ́nh đọng không lưu hành.

Giải thích: Tân dịch không thông là một phần quan trọng trong bệnh cơ của tích tụ.



Phần Hán Việt: Trước. Lưu trước. Chỉ khí trệ, huyết ứ, tân dịch ngưng trệ giai lưu trước ư trường ngoại nhi bất khứ.

Phần giải nghĩa: “Trước” là bám lại, lưu lại. Ở đây chỉ khí trệ, huyết ứ, tân dịch ngưng tụ đều lưu bám ở ngoài ruột mà không tan đi.

Giải thích: Chữ này tóm gọn trạng thái “tà lưu bất khứ”, là điểm chung của sự h́nh thành tích tụ.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn luận thuật liễu ngoại cảm bệnh đích phát bệnh cơ chế cập truyền biến quy luật, liệt cử liễu bệnh khởi ư dương đích tích chứng, xiển minh liễu bất đồng bộ vị tích chứng đích bệnh nhân bệnh cơ ḥa bất đồng biểu hiện.

Phần giải nghĩa: Đoạn này bàn về cơ chế phát bệnh và quy luật truyền biến của bệnh ngoại cảm, đồng thời nêu ra các chứng tích thuộc loại bệnh khởi từ dương, làm rơ nguyên nhân, bệnh cơ và biểu hiện khác nhau của các chứng tích ở những vị trí khác nhau.

Giải thích: Đây là câu mở đầu có tính tổng quát. Tác giả cho biết toàn bộ đoạn trước xoay quanh hai nội dung lớn: một là ngoại cảm bệnh phát sinh và truyền biến như thế nào, hai là tích chứng h́nh thành ra sao và biểu hiện khác nhau tùy vị trí.

(1)

Phần Hán Việt: Phong vũ hàn nhiệt, tật phong bạo vũ đẳng hư tà thị ngoại cảm phát bệnh đích ngoại bộ điều kiện, chỉ hữu ngoại bộ điều kiện, một hữu nội tại nhân tố bất khả năng phát bệnh; phản chi, chỉ hữu chính khí hư nhược, một hữu hư tà chi phong, dă bất khả năng phát sinh ngoại cảm bệnh chứng. Nhân thử nguyên văn cường điệu “lưỡng hư tương đắc, năi khách kỳ h́nh”, yếu lưỡng chủng t́nh huống đồng thời tồn tại, tài khả năng trí bệnh. Tại lưỡng giả chi trung, chính hư thị khởi chủ đạo tác dụng đích. Tại chính khí hư đích tiền đề hạ ngoại tà tài khả năng xâm tập nhân thể. Giá chủng trọng thị nội nhân đích phát bệnh học quan điểm thể hiện liễu cổ đại phác tố đích biện chứng pháp tư tưởng, hữu hiệu địa chỉ đạo trước Trung y đích dự pḥng, dưỡng sinh, dĩ cập tảo kỳ trị liệu đẳng lâm sàng thực tiễn.

Kinh văn đối ngoại cảm bệnh đích phát bệnh cập truyền biến tiến hành luận thuật, thuyết minh ngoại tà xâm tập nhân thể đích truyền biến đồ kính. Tức do biểu nhập lư, do thiển nhập thâm thị ngoại cảm tật bệnh đích nhất ban quy luật. Đồng thời chỉ xuất tại truyền biến quá tŕnh trung, nhân tà khí đ́nh lưu chi xứ bất đồng, nhi xuất hiện bất đồng đích phức tạp chứng hậu. Đồng thời, giá đoạn nguyên văn diệc đề thị, chưởng ác ngoại cảm bệnh đích truyền biến quy luật, khả dĩ tảo kỳ trị liệu, pḥng chỉ kỳ truyền biến, đăi “tà khí dâm dật” thời nhi trị chi, chỉ năng hăm ư “đấu nhi chú trùy, khát nhi xuyên tỉnh” đích kham khái cảnh địa.

Phần giải nghĩa: Phong, vũ, hàn, nhiệt, gió dữ mưa to và các loại hư tà là điều kiện bên ngoài để ngoại cảm bệnh phát sinh. Nhưng chỉ có điều kiện bên ngoài mà không có nhân tố bên trong th́ không thể phát bệnh; ngược lại, chỉ có chính khí hư yếu mà không gặp hư tà chi phong th́ cũng không thể sinh ra ngoại cảm bệnh chứng. V́ vậy nguyên văn nhấn mạnh rằng “hai hư gặp nhau th́ tà mới phạm vào thân”, tức là phải đồng thời có tà khí ở ngoài và chính khí hư ở trong th́ mới gây bệnh. Trong hai mặt ấy, chính hư giữ vai tṛ chủ đạo. Chỉ trên cơ sở chính khí hư, ngoại tà mới có thể xâm nhập vào cơ thể. Cách nh́n này coi trọng nội nhân trong phát bệnh học, phản ánh tư tưởng biện chứng chất phác của cổ nhân, đồng thời có giá trị chỉ đạo rất thực tế đối với pḥng bệnh, dưỡng sinh và điều trị sớm trong lâm sàng Trung y.

Kinh văn cũng bàn rơ về sự phát bệnh và truyền biến của ngoại cảm, cho thấy con đường truyền biến của ngoại tà khi xâm nhập cơ thể. Nói chung, từ biểu vào lư, từ nông vào sâu là quy luật phổ biến của ngoại cảm bệnh. Đồng thời, trong quá tŕnh truyền biến ấy, do nơi tà khí dừng lại khác nhau nên sẽ sinh ra các chứng hậu phức tạp khác nhau. Đoạn này c̣n nhắc rằng, nếu nắm được quy luật truyền biến của ngoại cảm bệnh th́ có thể điều trị từ sớm để ngăn bệnh đi sâu. Nếu đợi đến lúc “tà khí dâm dật”, tức lan tràn mạnh rồi mới chữa, th́ sẽ rơi vào thế bị động, giống như “đến lúc giao chiến mới đúc dùi, khát rồi mới đào giếng”.

Giải thích: Phần này có hai ư rất quan trọng. Thứ nhất, bệnh ngoại cảm không phải chỉ do tà khí mạnh, mà nhất định phải có nền tảng là chính khí suy. Thứ hai, ngoại cảm bệnh có quy luật đi từ ngoài vào trong, từ nông vào sâu, nên nếu phát hiện sớm và chặn sớm th́ dễ trị; c̣n nếu bỏ lỡ giai đoạn đầu, để bệnh truyền sâu th́ sẽ trở nên khó khăn. Đây chính là cơ sở lư luận cho nguyên tắc “trị bệnh cầu kỳ tảo (sớm)” trong Trung y.

(2)

Phần Hán Việt: Kinh văn luận thuật liễu tích đích các chủng chứng trạng biểu hiện. Tích chi thủy sinh, kỳ thể vi tiểu, bất dị sát giác, chí kỳ dĩ thành, khả dĩ giám biệt, giám biệt phương pháp khả ṭng tích đích bộ vị cố định dữ phủ, hoạt động độ chi đại tiểu, thị phủ hữu bác động cảm, dữ tiến thực chi quan hệ, thị phủ hữu thủy dịch ba động dĩ cập kỳ tha kiêm kiến chứng trạng tiến hành. Nhất ban lai thuyết, bộ vị thiển biểu đích tôn lạc chi tích, như thuộc lương tính thũng khối, tắc hoạt động độ tương đối giảo đại, khả “văng lai thượng hạ” di hành; nhược huyết quản lưu chi loại, tắc đa kiến “sủy chi ứng thủ nhi động”。 Như vị trường đạo chi tích, tắc hiển nhiên dữ tiến thực hữu mật thiết quan hệ, hoặc băo thực tắc an, cơ tắc thống; hoặc băo thực tắc thống, cơ thời an; hoặc tiến thực tiền tiểu nhi thực hậu ích đại. Giá ta luận thuật vi tích đích giám biệt chẩn đoán khai liễu tiên hà, tuy bất hoàn thiện, đăn ngận hữu khải phát, vi hậu thế đối tích đích chẩn đoán đề cung liễu phương pháp.

Tích đích bệnh nhân chủ yếu hữu hàn tà ngoại tập, thất t́nh bất ḥa, ẩm thực thất điều, khởi cư bất tiết, dụng lực quá độ đẳng nhân tố. “Tích chi thủy sinh, đắc hàn năi sinh”, minh xác chỉ xuất hàn tà thị tích bệnh đích trọng yếu nguyên nhân. Hàn vi âm tà, kỳ tính ngưng trệ thu dẫn, nhi nhân thân khí huyết tân dịch giai “hỉ ôn nhi ố hàn, hàn tắc sáp bất năng lưu”。 Hàn tà cửu lưu nhi bất khứ, sử khí trệ huyết ngưng đàm thấp đ́nh lưu, nhật cửu thành tích. Thất t́nh bất ḥa diệc dữ tích hữu quan, “tốt nhiên ngoại trúng ư hàn, nội thương ư ưu nộ tắc khí thượng nghịch”, khả sử nội tạng khí cơ nghịch loạn, doanh huyết, tân dịch vận hành chướng ngại, kết tụ nhật cửu nhi thành tích. Bạo ẩm bạo thực, hàn ôn bất thích đẳng tổn thương vị trường công năng, thị trường vị tích chứng đích chủ yếu bệnh nhân. Giá phương diện cổ kim nhận thức cận tự. Tích đích bệnh cơ chủ yếu thị hàn tà, khí trệ, huyết ứ, tân dịch ngưng sáp tương hợp, tích tụ nhi bất tán, nhật cửu thành tích. Giá ta lư luận đề thị, trị liệu tích chứng đương dụng khứ tà công độc, hoạt huyết hóa ứ, hành khí phá khí, hóa đàm nhuyễn kiên tán kết đẳng phương pháp, thể hư hoặc bệnh chi hậu kỳ, tắc đương dưỡng huyết bổ khí, công bổ kiêm thi, thượng thuật quan điểm chí kim nhưng thị lâm sàng trị liệu thũng lưu đích lư luận y cứ.

Phần giải nghĩa: Kinh văn đă bàn đến nhiều loại biểu hiện của chứng tích. Khi tích mới sinh th́ h́nh thể rất nhỏ, khó nhận ra; đến khi đă thành th́ có thể phân biệt được. Phương pháp phân biệt có thể dựa vào việc khối tích cố định hay không, mức độ di động nhiều hay ít, có cảm giác mạch đập hay không, mối quan hệ với việc ăn uống, có hiện tượng dao động của thủy dịch hay không, và các triệu chứng kèm theo khác. Nói chung, loại tích ở vị trí nông như tích thuộc tôn lạc, nếu là khối lành th́ thường di động tương đối nhiều, có thể “lên xuống qua lại”; nếu là loại như huyết quản lưu th́ thường thấy “sờ vào ứng tay mà động”. C̣n tích thuộc vị trường th́ rơ ràng có quan hệ mật thiết với ăn uống: có loại ăn no th́ đỡ, đói th́ đau; có loại ăn no th́ đau, đói th́ yên; lại có loại trước ăn th́ nhỏ, sau ăn th́ to hơn. Những luận thuật ấy có thể xem là mở đầu cho phép chẩn đoán phân biệt chứng tích. Tuy c̣n chưa hoàn chỉnh, nhưng rất có tính gợi mở, và đă cung cấp phương pháp cho việc chẩn đoán tích của đời sau.

Nguyên nhân gây nên chứng tích chủ yếu gồm có hàn tà từ ngoài xâm nhập, thất t́nh không điều ḥa, ăn uống thất thường, sinh hoạt không điều độ, dùng sức quá mức và các yếu tố tương tự. Câu “tích chi thủy sinh, đắc hàn năi sinh” đă chỉ rơ hàn tà là nguyên nhân rất quan trọng của bệnh tích. Hàn là âm tà, tính chất của nó là ngưng trệ và thu dẫn; mà khí, huyết, tân dịch trong thân người th́ đều “ưa ấm, ghét lạnh; gặp lạnh th́ trở sáp, không lưu hành được”. Hàn tà lưu lại lâu ngày không đi khiến khí trệ, huyết ngưng, đàm thấp đ́nh lại, lâu ngày mà thành tích. Thất t́nh không điều ḥa cũng có liên quan đến tích. Câu “đột nhiên ngoài bị trúng hàn, trong lại bị ưu nộ làm thương th́ khí nghịch lên” cho thấy nội tạng khí cơ có thể bị nghịch loạn, doanh huyết và tân dịch vận hành bị chướng ngại, lâu ngày kết tụ mà thành tích. Ăn uống bừa băi, quá no quá nhiều, lạnh nóng không thích hợp làm tổn thương công năng vị trường, cũng là nguyên nhân quan trọng của các chứng tích ở trường vị. Nhận thức này cổ và kim khá gần nhau. Bệnh cơ chủ yếu của tích là hàn tà, khí trệ, huyết ứ và tân dịch ngưng sáp cùng kết hợp với nhau, tích tụ mà không tan, lâu ngày thành khối tích. Những lư luận này gợi ư rằng khi điều trị tích chứng, nên dùng các phép như khử tà công độc, hoạt huyết hóa ứ, hành khí phá khí, hóa đàm, nhuyễn kiên, tán kết. Nếu cơ thể hư hoặc bệnh đă đến giai đoạn sau th́ cần dưỡng huyết, bổ khí, phối hợp giữa công và bổ. Những quan điểm ấy đến nay vẫn c̣n là cơ sở lư luận trong điều trị các chứng khối u trên lâm sàng.

Giải thích: Phần này có hai giá trị lớn. Một là về chẩn đoán: cổ nhân đă biết dựa vào tính chất khối tích, sự di động, mối liên hệ với ăn uống, cảm giác khi sờ nắn để phân biệt các loại tích khác nhau. Hai là về bệnh cơ và điều trị: tích không phải tự nhiên mà có, mà là kết quả của hàn, khí trệ, huyết ứ, đàm thấp, tân dịch ngưng tụ kết lại với nhau. V́ vậy khi chữa phải biết công tà, hành khí, hoạt huyết, hóa đàm, nhưng cũng phải xét chính khí hư hay thực để quyết định có nên vừa công vừa bổ hay không. Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong điều trị các chứng tích tụ và khối u.

Bảng biểu 3

五臟所傷及治療原則

Ngũ tạng sở thương cập trị liệu nguyên tắc

Nguyên văn 1

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Kỳ sinh ư âm giả, nại hà? Kỳ Bá viết: Ưu tư thương tâm; trọng hàn thương phế; phẫn nộ thương can; túy dĩ nhập pḥng, hăn xuất đương phong, thương tỳ; dụng lực quá độ, nhược nhập pḥng hăn xuất dục, tắc thương thận. Thử nội ngoại tam bộ chi sở sinh bệnh giả dă.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Những bệnh phát sinh ở âm th́ như thế nào? Kỳ Bá đáp: Lo buồn suy nghĩ quá mức th́ hại Tâm; hàn lạnh quá nặng th́ hại Phế; giận dữ phẫn nộ th́ hại Can; say rượu rồi nhập pḥng, hoặc ra mồ hôi mà gặp gió th́ hại Tỳ; dùng sức quá độ, hoặc nhập pḥng rồi ra mồ hôi mà tắm th́ hại Thận. Đó là những bệnh do ba bộ trong ngoài phát sinh ra.

Giải thích: Đoạn này quy nạp các nguyên nhân chủ yếu làm tổn thương ngũ tạng. Mỗi tạng có một loại nguyên nhân dễ làm tổn thương nhất: Tâm thường bị hại bởi ưu tư, Phế bị hại bởi hàn, Can bị hại bởi nộ, Tỳ bị hại bởi ẩm thực và lao hăn, Thận bị hại bởi pḥng lao và dụng lực quá độ. Đây là nền tảng cho biện chứng tạng phủ về sau.

Nguyên văn 2

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Thiện. Trị chi nại hà? Kỳ Bá đáp viết: Sát kỳ sở thống, dĩ tri kỳ ứng, hữu dư bất túc, đương bổ tắc bổ, đương tả tắc tả, mẫu nghịch thiên thời, thị vị chí trị.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Vậy chữa như thế nào? Kỳ Bá đáp: Xét kỹ cái nơi có bệnh chứng để biết nó ứng với tạng phủ nào, phân biệt là hữu dư hay bất túc; nên bổ th́ bổ, nên tả th́ tả, chớ trái với thời khí tự nhiên, đó gọi là phép trị tốt nhất.

Giải thích: Đoạn này nêu nguyên tắc trị liệu rất quan trọng: trước hết phải xác định bệnh vị, sau đó biện hư thực, rồi mới định bổ tả. Đồng thời điều trị c̣n phải thuận theo thiên thời, tức là không được trái quy luật tự nhiên và thời tiết bốn mùa.

Chú thích

生於陰

Phần Hán Việt: Sinh ư âm. Bản thiên thiên thủ hữu “hỉ nộ bất tiết tắc thương tạng, tạng thương tắc bệnh khởi ư âm dă”. Cố thử xứ “sinh ư âm” chỉ nội thương ngũ tạng chi bệnh chứng.

Phần giải nghĩa: “Sinh ở âm” là chỉ các bệnh chứng do nội thương ngũ tạng. V́ ở đầu thiên đă nói “hỉ nộ không điều độ th́ thương tạng, tạng thương th́ bệnh khởi ở âm”.

Giải thích: “Âm” ở đây không chỉ âm dương trừu tượng, mà chủ yếu chỉ phần lư, phần tạng ở bên trong cơ thể.

此內外三部之所生病者也

Phần Hán Việt: Thử nội ngoại tam bộ chi sở sinh bệnh giả dă. Thử cú dữ thiên thủ đệ nhất đoạn chi nội dung tương hô ứng, tổng kết thượng hạ nội ngoại chi tam bộ chi khí.

Phần giải nghĩa: Câu này đối ứng với đoạn đầu của thiên, dùng để tổng kết khí bệnh thuộc ba bộ trên, dưới, trong, ngoài.

Giải thích: Đây là câu kết, gom lại toàn bộ cách phân loại bệnh nhân theo “tam bộ”.

察其所痛,以知其應

Phần Hán Việt: Sát kỳ sở thống, dĩ tri kỳ ứng. Thống, thử chỉ bệnh hậu; ứng, tương ứng bệnh biến tạng khí bộ vị. Ngôn thẩm sát bệnh hậu, dĩ định bệnh vị.

Phần giải nghĩa: “Xét cái nơi có bệnh chứng để biết nó ứng với đâu.” “Thống” ở đây chỉ bệnh chứng; “ứng” là bộ vị tạng khí tương ứng có biến bệnh. Ư nói phải xét kỹ biểu hiện bệnh để định vị trí bệnh.

Giải thích: Đây là bước đầu tiên của biện chứng luận trị: nh́n chứng mà xác định bệnh vị.

母逆天時,是謂至治

Phần Hán Việt: Mẫu nghịch thiên thời, thị vị chí trị. Mẫu, vật; chí, tối. Ngôn trị liệu bất yếu vi bối thiên thời khí hậu chi nguyên tắc, thử vi tối hảo chi trị pháp.

Phần giải nghĩa: Chớ trái với thiên thời, đó gọi là phép trị cao nhất. Nghĩa là điều trị không được trái nguyên tắc khí hậu, thời tiết và quy luật tự nhiên.

Giải thích: Đây là tư tưởng “nhân thời chế nghi” trong trị bệnh, rất quan trọng trong y học cổ truyền.

Phân tích

Phần Hán Việt: Kinh văn luận thuật liễu ngũ tạng sở thương chi bệnh, tức “sinh ư âm giả”, chủ yếu thị do ư thất t́nh thái quá, trọng hàn, pḥng lao, lao quyện đẳng nhân tố tạo thành tạng bệnh. Thử loại bệnh nhân trực tiếp tổn thương nội tạng, tối sơ ảnh hưởng tạng phủ chi khí hóa công năng, tiếp trước tiện khả năng đạo trí khí chất tổn hại, thậm chí h́nh thành tích bệnh, cố bệnh t́nh thâm trọng, dự hậu giảo sai. 《Loại kinh》 chỉ xuất: “Tà chi trúng ư ngũ tạng dă, nhiên tất kỳ nội hữu sở thương, nhi hậu ngoại tà đắc dĩ nhập chi。” Thuyết minh tạng khí bất kiện thị nội thương bệnh phát bệnh chi quan kiện nhân tố. Ngũ tạng bệnh chi trí bệnh nguyên nhân các hữu kỳ đặc điểm, như tâm can bệnh đa thương ư tinh thần t́nh cảm thất điều, phế đa thương ư hàn tà, tỳ đa thương ư ẩm thực bất tiết, thận đa thương ư pḥng thất lao quyện. Giá ta đô vi hậu thế chi tạng phủ biện chứng đề cung liễu y cứ.

Phần giải nghĩa: Kinh văn ở đây luận về các bệnh do ngũ tạng bị tổn thương, tức loại “sinh ở âm”, chủ yếu do thất t́nh quá mức, hàn lạnh quá nặng, pḥng lao, lao quyện và những nhân tố tương tự gây thành tạng bệnh. Loại bệnh nhân này trực tiếp làm hại nội tạng, lúc đầu ảnh hưởng đến công năng khí hóa của tạng phủ, sau đó có thể dẫn đến tổn thương thực thể, thậm chí h́nh thành tích bệnh, v́ vậy bệnh thường sâu nặng, tiên lượng cũng kém hơn. 《Loại kinh》 nói rằng: “Tà vào ngũ tạng, tất trước phải có cái bị thương ở bên trong, sau đó ngoại tà mới có thể vào được.” Điều này cho thấy tạng khí không khỏe là yếu tố then chốt trong phát sinh bệnh nội thương. Mỗi tạng lại có nguyên nhân gây bệnh đặc thù riêng: bệnh của Tâm và Can phần nhiều bị thương bởi tinh thần t́nh chí thất điều; Phế thường bị hại bởi hàn tà; Tỳ thường bị hại bởi ăn uống thất tiết; Thận thường bị hại bởi pḥng thất và lao quyện. Những nhận thức ấy đă cung cấp căn cứ cho biện chứng tạng phủ ở đời sau.

Giải thích: Đoạn này nhấn mạnh rằng nội thương không chỉ là rối loạn chức năng nhẹ, mà có thể phát triển thành bệnh sâu nặng của tạng phủ. Cái quan trọng là phải thấy được mỗi tạng có một loại “thiên thương” riêng, từ đó mới chẩn đoán và điều trị đúng đường.

Phân tích

Phần Hán Việt: Đối tích bệnh chi trị liệu, bản thiên đề xuất liễu dĩ hạ nguyên tắc: “sát kỳ sở thống”, tức tường thẩm bệnh vị biểu lư thiển thâm, quyết định trị liệu bộ vị; biện “hữu dư bất túc”, tức biện biệt bệnh tính, xác định bổ tả nguyên tắc; “mẫu nghịch thiên thời”, cường điệu thuận ứng tự nhiên, nhân thời chế nghi tiến hành trị liệu.

Phần giải nghĩa: Đối với việc điều trị tích bệnh, thiên này nêu ra những nguyên tắc sau: “xét cái nơi có bệnh chứng”, tức là xem kỹ bệnh vị nông sâu, biểu lư để quyết định chỗ điều trị; phân biệt “hữu dư hay bất túc”, tức là phân biệt bệnh tính để xác định phép bổ hay tả; và “chớ trái thiên thời”, tức nhấn mạnh phải thuận ứng tự nhiên, tùy thời mà chữa.

Giải thích: Đây là ba nguyên tắc lớn trong điều trị: định bệnh vị, biện hư thực, và thuận thiên thời. Dù là tích bệnh hay các bệnh nội thương khác, cũng đều không thể rời ba nguyên tắc này.

內有故邪,因加而發的病理

Nội hữu cố tà, nhân gia nhi phát đích bệnh lư

Nguyên văn 1

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Phu tử ngôn tặc phong tà khí chi thương nhân dă, linh nhân bệnh yên, kim hữu kỳ bất ly b́nh chướng, bất xuất không huyệt chi trung, tốt nhiên bệnh giả, phi bất ly tặc phong tà khí, kỳ cố hà dă?

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Thầy nói rằng tặc phong tà khí làm hại con người th́ khiến người ta mắc bệnh. Nay lại có người không rời màn che, không ra khỏi hang pḥng mà đột nhiên sinh bệnh, như vậy đâu phải là họ không tránh tặc phong tà khí, thế th́ nguyên do là ǵ?

Giải thích: Hoàng Đế đặt ra một nghi vấn rất thực tế: có người hầu như không tiếp xúc ngoại tà rơ ràng mà vẫn đột nhiên phát bệnh. Câu hỏi này dẫn sang học thuyết về “cố tà”, tức tà khí lưu trú sẵn bên trong cơ thể.

Nguyên văn 2

Phần Hán Việt: Kỳ Bá viết: Thử giai thường hữu sở thương ư thấp khí, tàng ư huyết mạch chi trung, phân nhục chi gian, cửu lưu nhi bất khứ; nhược hữu sở đọa trụy, ác huyết tại nội nhi bất khứ. Tốt nhiên hỉ nộ bất tiết, ẩm thực bất thích, hàn ôn bất thời, thấu lư bế nhi bất thông. Kỳ khai nhi ngộ phong hàn, tắc huyết khí ngưng kết, dữ cố tà tương tập, tắc vi hàn tư. Kỳ hữu nhiệt tắc hăn xuất, hăn xuất tắc thụ phong, tuy bất ngộ tặc phong tà khí, tất hữu nhân gia nhi phát yên.

Phần giải nghĩa: Kỳ Bá đáp: Đó đều là do trước đây từng bị thấp khí làm thương, tà khí ấy ẩn tàng trong huyết mạch, giữa các lớp cơ nhục, lưu lại lâu ngày không đi; hoặc do từng bị ngă đập, chấn thương khiến ác huyết lưu ở trong không tan. Khi đột nhiên có hỉ nộ không điều độ, ăn uống không thích hợp, lạnh nóng không điều ḥa, th́ tấu lư bế tắc mà không thông. Khi cơ thể đang mở mà lại gặp phong hàn, huyết khí liền ngưng kết, phối hợp với “cố tà” đang có sẵn bên trong th́ thành hàn tư. Nếu trong người có nhiệt th́ thường ra mồ hôi, mà mồ hôi ra th́ dễ bị phong xâm nhập; dù không trực tiếp gặp tặc phong tà khí mạnh, cũng tất sẽ có hiện tượng “nhân cái có sẵn mà thêm vào rồi phát ra”.

Giải thích: Đoạn này giải thích rất rơ cơ chế “nhân gia nhi phát”: trong cơ thể vốn đă có tà cũ như thấp khí, ác huyết, tích nhiệt... tiềm ẩn sẵn; khi gặp thêm một kích thích mới như phong hàn, thất t́nh, ăn uống thất điều, lạnh nóng không thích hợp, th́ tà cũ và tà mới hợp lại mà phát bệnh. Như vậy bệnh không phải chỉ do “tà mới”, mà là do “tà cũ” làm nền.

Chú thích

1/ 夫子

Phần Hán Việt: Phu tử. Do ngôn tiên sinh, thị Hoàng Đế đối Kỳ Bá chi tôn xưng.

Phần giải nghĩa: “Phu tử” cũng như nói “tiên sinh”, là cách Hoàng Đế kính xưng Kỳ Bá.

Giải thích: Đây là cách xưng hô tôn kính trong văn cổ.

2/ 賊風邪氣

Phần Hán Việt: Tặc phong tà khí. Trương Giới Tân chú: “Phàm tứ thời bất chính chi khí, giai vị chi tặc phong tà khí。”

Phần giải nghĩa: Tặc phong tà khí là các thứ khí bất chính của bốn mùa.

Giải thích: Đây là tên gọi chung của ngoại tà trái thường, có khả năng gây bệnh.

3/ 屏障

Phần Hán Việt: B́nh chướng. Tức già tế dụng chi b́nh chướng.

Phần giải nghĩa: Màn che, vật che chắn.

Giải thích: Ư nói người bệnh đă ở nơi kín gió, có che chắn.

4/ 空穴

Phần Hán Việt: Không huyệt. Không, 《Giáp Ất kinh》, 《Thái tố》 tác “thất”. Trương Giới Tân chú: “Thất huyệt giả, cổ nhân đa huyệt cư dă。” Tức thượng cổ chi nhân cư trụ chi xứ, động huyệt.

Phần giải nghĩa: “Không huyệt” theo dị bản là “thất huyệt”, tức nơi ở dạng hang động của người xưa.

Giải thích: Ở đây chỉ chỗ cư trú kín đáo, tránh được phong tà từ ngoài.

5/離

Phần Hán Việt: Ly. Tác tị khai giải.

Phần giải nghĩa: “Ly” ở đây nghĩa là tránh xa, tránh khỏi.

Giải thích: Câu “bất ly” tức là không rời khỏi nơi che chắn.

6/ 墮墜

Phần Hán Việt: Đọa trụy. Tức ṭng cao xứ điệt hạ, thử xứ phiếm chỉ điệt đả thiểm tọa.

Phần giải nghĩa: Ngă từ cao xuống, rộng ra chỉ các chấn thương do va đập, té ngă, trẹo sái.

Giải thích: Đây là nguyên nhân dễ để lại “ác huyết” trong cơ thể.

7/ 惡血

Phần Hán Việt: Ác huyết. Hữu hại ư nhân thể chi huyết, tức kim chi sở ngôn “ứ huyết”。

Phần giải nghĩa: Huyết có hại cho cơ thể, tức là huyết ứ theo cách nói ngày nay.

Giải thích: Đây là một loại “cố tà” rất quan trọng trong bệnh lư học Trung y.

8/ 寒溫不時

Phần Hán Việt: Hàn ôn bất thời. Thời, điều dă. Hàn ôn bất thời, chỉ đối hàn ôn khí hậu biến hóa bất năng ngận hảo địa điều nhiếp.

Phần giải nghĩa: “Hàn ôn bất thời” nghĩa là không biết điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi lạnh nóng của thời tiết.

Giải thích: Đây là một dạng thất điều sinh hoạt, dễ làm bệnh bộc phát.

9/ 腠理閉而不通

Phần Hán Việt: Thấu lư bế nhi bất thông. Phiếm chỉ thấu lư khai hợp công năng thất thường.

Phần giải nghĩa: Tấu lư đóng bế mà không thông, chỉ chung trạng thái đóng mở của tấu lư bị rối loạn.

Giải thích: Khi tấu lư mất điều ḥa th́ tà dễ lưu lại hoặc dễ bị kích phát.

10/ 其開而遇風寒

Phần Hán Việt: Kỳ khai nhi ngộ phong hàn. 《Giáp Ất kinh》 tác “nhi thích ngộ phong hàn” ngũ tự.

Phần giải nghĩa: Khi tấu lư mở ra mà lại gặp phong hàn.

Giải thích: Đây là thời điểm rất dễ phát bệnh, nhất là khi bên trong đă có cố tà sẵn.

11/ 與故邪相襲

Phần Hán Việt: Dữ cố tà tương tập. Cố tà, chỉ nguyên lai tồn tại ư thể nội chi tà khí, tức thượng nghĩa sở ngôn chi thấp khí, ác huyết đẳng. Tập, hợp dă. Dữ cố tà tương tập, thị ngôn phong hàn chi tà dữ thể nội chi thấp khí, ác huyết đẳng cố tà tương kết hợp nhi thương hại nhân thể.

Phần giải nghĩa: “Cùng với cố tà giao tập với nhau.” “Cố tà” là tà khí vốn đă có sẵn trong cơ thể như thấp khí, ác huyết; “tập” là hợp lại. Nghĩa là phong hàn từ ngoài vào phối hợp với tà cũ bên trong mà cùng gây hại.

Giải thích: Đây chính là cốt lơi của chữ “nhân gia nhi phát”.

12/ 寒痹

Phần Hán Việt: Hàn tư. Mă Thị chú: “Tức 《Tư luận》 chi sở vị hàn khí thắng giả vi thống tư dă。”

Phần giải nghĩa: “Hàn tư” là chứng tư do hàn khí thắng, chủ về đau nhiều.

Giải thích: Khi phong hàn gặp thấp và ứ huyết bên trong th́ rất dễ phát thành thống tư.

13/ 因加而發

Phần Hán Việt: Nhân gia nhi phát. Trương Giới Tân chú: “Kỳ hoặc hữu nhân nhiệt hăn xuất nhi thụ phong giả, tuy phi tặc phong tà khí, diệc vi ngoại cảm. Tất hữu nhân gia nhi phát giả, vị nhân ư cố nhi gia dĩ tân dă, tân cố hợp tà, cố bệnh phát hĩ。”

Phần giải nghĩa: “Nhân thêm vào mà phát ra.” Trương Giới Tân giải thích rằng có người vốn trong có nhiệt nên hay ra mồ hôi, ra mồ hôi rồi lại bị phong xâm nhập, tuy không phải gặp loại tặc phong quá mạnh, nhưng vẫn là ngoại cảm; sở dĩ phát bệnh là v́ trên cái tà cũ lại chồng thêm tà mới, tà cũ tà mới hợp lại nên bệnh phát.

Giải thích: Đây là một nguyên tắc bệnh cơ rất quan trọng: bệnh có thể do cái cũ làm nền, cái mới chỉ là yếu tố châm ng̣i.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn xiển phát liễu nội hữu cố tà, nhân gia nhi phát chi phát bệnh cơ chế.

Phần giải nghĩa: Đoạn này làm sáng tỏ cơ chế phát bệnh “bên trong có cố tà, v́ có cái mới thêm vào mà phát ra”.

Giải thích: Đây là câu tổng quát của toàn đoạn, nêu rơ trọng tâm không phải tà mới đơn độc, mà là sự kết hợp giữa tà cũ và nhân tố mới.

Phân tích

Phần Hán Việt: Cố giả, cổ dă, tức nhân môn tại quá khứ chi sinh sản sinh hoạt quá tŕnh trung cảm thụ chi tà khí, nhân kỳ tàng ư huyết mạch, phân nhục đẳng ẩn tế chi xứ, cửu lưu bất khứ, nhi cơ thể hựu thượng năng đại thường điều tiết, cố bất biểu hiện xuất minh hiển chi bệnh thái. Giá chủng lưu túc ư thể nội chi bệnh tà, xưng chi vi “cố tà”, hậu thế sở vị “phục tà”, “phục khí”, “túc tật”, “cố tật” đẳng, dữ thử đồng nghĩa. “Cố tà” chi chủng loại ngận đa, bản thiên lệ cử hữu “thấp khí”, “ác huyết”, “tích nhiệt” đẳng, hậu thế hoàn hữu “hàn”, “đàm ẩm”, “trùng tích”, “ban tích” đẳng. Quảng nhi ngôn chi, phàm tạng phủ khí hóa văn loạn hoặc h́nh chất khuy tổn cập kỳ sản sinh chi bệnh lư sản vật, đô khả năng thành vi “cố tà”。 “Cố tà” thị hứa đa tật bệnh chi nội nhân chi nhất, dă thị tạo thành chính khí khuy hư chi nhất chủng nhân tố, cố bất khả hốt thị.

Phần giải nghĩa: “Cố” nghĩa là cũ, tức tà khí mà con người đă cảm phải trong quá khứ, do nó ẩn tàng trong huyết mạch, giữa lớp cơ nhục và những nơi kín đáo, lưu lại lâu ngày không đi, trong khi cơ thể vẫn c̣n khả năng bù trừ, điều tiết nên chưa biểu hiện thành bệnh trạng rơ ràng. Loại bệnh tà lưu trú trong cơ thể ấy gọi là “cố tà”. Những khái niệm đời sau như “phục tà”, “phục khí”, “túc tật”, “cố tật” đều đồng nghĩa với nó. Chủng loại của cố tà rất nhiều; trong thiên này nêu ví dụ có thấp khí, ác huyết, tích nhiệt; đời sau c̣n nói đến hàn tà cũ, đàm ẩm, trùng tích, ban tích... Nói rộng hơn, hễ là rối loạn khí hóa của tạng phủ, tổn thương h́nh chất, hoặc các sản vật bệnh lư do đó sinh ra, đều có thể trở thành “cố tà”. “Cố tà” là một trong những nội nhân của rất nhiều bệnh, đồng thời cũng là một nhân tố làm cho chính khí hao hư, v́ vậy tuyệt đối không thể xem nhẹ.

Giải thích: Đoạn này mở rộng khái niệm “cố tà” rất sâu. Nó không chỉ là một tà khí cảm từ bên ngoài c̣n sót lại, mà c̣n bao gồm cả ứ huyết, đàm ẩm, tích nhiệt và nhiều bệnh lư sản vật khác. Đây là nền tảng để hiểu nhiều bệnh mạn tính, tái phát, hoặc bệnh đột nhiên bùng lên dù bên ngoài không có tà rơ rệt.

Phân tích

Phần Hán Việt: “Cố tà” tàng ư nội, đạo trí nội hư hoặc nội loạn, diệc thường chiêu trí ngoại tà nhập xâm, cố danh “nhân gia nhi phát”。 Như “hàn tư” tựu thị nội hữu “thấp khí”, “ác huyết” đ́nh lưu, gia chi điều nhiếp bất thận, ngẫu cảm phong hàn, hoặc khí uất thực tích, đạo trí huyết khí ngưng kết, “dữ cố tà tương tập” nhi thành. Hựu như tố hữu “tích nhiệt”, nhiệt tắc thời thường hăn xuất, hăn xuất tắc dị thụ phong, thử tức tục xưng chi “nhiệt thương phong”, hoạn giả biểu hiện vi kinh thường “cảm mạo”。

Phần giải nghĩa: “Cố tà” ẩn ở bên trong làm cho cơ thể bên trong đă hư hoặc đă loạn, v́ vậy cũng thường chiêu cảm ngoại tà xâm nhập, cho nên gọi là “nhân thêm vào mà phát ra”. Ví dụ như “hàn tư” chính là trong cơ thể vốn đă có thấp khí hoặc ác huyết đ́nh lưu, lại thêm điều dưỡng không cẩn thận, ngẫu nhiên cảm phong hàn, hoặc khí uất, thực tích, dẫn đến huyết khí ngưng kết, “hợp với cố tà” mà thành bệnh. Lại như người vốn sẵn có “tích nhiệt”, hễ có nhiệt th́ thường dễ ra mồ hôi, mà ra mồ hôi th́ rất dễ bị phong xâm nhập; đó chính là điều dân gian thường gọi là “nhiệt thương phong”, biểu hiện là người ấy hay bị “cảm mạo” lặp đi lặp lại.

Giải thích: Đoạn này cho thấy giá trị lâm sàng của học thuyết cố tà. Nhiều bệnh tái phát hoặc đột nhiên bùng phát thực ra là v́ trong người đă có nền bệnh lư cũ. Do đó nếu chỉ trị cái “tà mới” mà không xử lư “tà cũ” th́ bệnh rất dễ tái phát.

「祝由」療法的適應證和取效機制

Thích ứng chứng và cơ chế thủ hiệu của liệu pháp “Chúc do” (Hỗ trợ tâm linh).

Nguyên văn 1

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Kim phu tử chi sở ngôn giả, giai bệnh nhân chi sở tự tri dă. Kỳ mẫu sở ngộ tà khí, hựu mẫu xúc dịch chi sở chí, tốt nhiên nhi bệnh giả, kỳ cố hà dă? Duy hữu nhân quỷ thần chi sự hồ?

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Những điều thầy vừa nói th́ người bệnh c̣n có thể tự biết phần nào. Nhưng có những người vốn không gặp tà khí rơ rệt, cũng không hề bị kinh sợ ǵ đặc biệt, mà lại đột nhiên mắc bệnh, nguyên do là ǵ? Chẳng lẽ quả thật là do chuyện quỷ thần hay sao?

Giải thích: Câu hỏi này tiếp tục đào sâu hơn nữa: có những bệnh đột phát, không t́m thấy nguyên nhân rơ ràng từ bên ngoài hay từ tinh thần, khiến người ta dễ quy cho quỷ thần. Hoàng Đế nêu nghi vấn ấy để Kỳ Bá bác bỏ mê tín và giải thích bằng cơ chế bệnh lư.

Nguyên nhân 2

Phần Hán Việt: Kỳ Bá viết: Thử diệc hữu cố tà lưu nhi vị phát, nhân nhi chí hữu sở ố, cập hữu sở mộ, huyết khí nội loạn, lưỡng khí tương bác. Kỳ sở ṭng lai giả vi, thị chi bất kiến, thính nhi bất văn, cố tự quỷ thần.

Phần giải nghĩa: Kỳ Bá đáp: Đó cũng là v́ trong cơ thể vốn đă có cố tà lưu lại mà chưa phát. Đến khi tâm chí có điều ghét, hoặc có điều ham muốn quá mức, làm cho huyết khí rối loạn ở bên trong, hai thứ khí ấy xung đột với nhau, th́ bệnh liền phát ra. V́ đầu mối của nó rất vi tế, mắt không nh́n thấy, tai không nghe được, cho nên người ta mới tưởng giống như chuyện quỷ thần.

Giải thích: Kỳ Bá giải thích rất rơ rằng đây không phải bệnh do quỷ thần, mà là do cố tà bên trong kết hợp với biến động tinh thần, làm huyết khí nội loạn mà phát bệnh. V́ cơ chế ấy kín đáo, khó nhận biết bằng giác quan thông thường, nên người ta mới tưởng là thần bí.

Nguyên nhân 3

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Kỳ chúc nhi dĩ giả, kỳ cố hà dă? Kỳ Bá viết: Tiên vu giả, nhân tri bách bệnh chi thắng, tiên tri kỳ bệnh chi sở ṭng sinh giả, khả chúc nhi dĩ dă. (《Linh khu. Tặc phong》)

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Vậy những bệnh chỉ cần dùng phép “chúc” mà khỏi th́ là v́ sao? Kỳ Bá đáp: Các thầy vu thời xưa do biết quy luật của trăm bệnh, lại biết trước bệnh ấy sinh ra từ đâu, cho nên đối với những bệnh thích hợp th́ có thể dùng phép chúc do mà làm cho khỏi.

Giải thích: Ở đây Kỳ Bá không hề thừa nhận quỷ thần gây bệnh, mà cho rằng “chúc do” có hiệu quả là v́ người làm phép ấy hiểu được bệnh, hiểu được nguyên nhân, rồi dùng lời nói, ám thị, an ủi để điều chỉnh tinh thần người bệnh. Về bản chất, đây là một dạng tinh thần liệu pháp cổ xưa.

Chú thích

母怵惕之所志

Phần Hán Việt: Mẫu xúc dịch chi sở chí. Xúc dịch, khủng cụ dă; sở, 《Giáp Ất kinh》, 《Thái tố》 vô thử tự. Thử cú ư vi một hữu khủng cụ đẳng quá độ t́nh chí thích kích.

Phần giải nghĩa: “Không có điều ǵ làm kinh sợ quá mức.” “Xúc dịch” nghĩa là sợ hăi, kinh hoảng. Câu này có ư nói người ấy không có kích thích t́nh chí quá mạnh mà vẫn đột nhiên phát bệnh.

Giải thích: Đây là điều làm người ta dễ nghi ngờ đến nguyên nhân thần bí.

此亦有故邪留而未發……故似鬼神

Phần Hán Việt: Thử diệc hữu cố tà lưu nhi vị phát...... cố tự quỷ thần. Mă Thị chú: “Cửu hữu thấp khí, ác huyết đẳng chi cố tà lưu nhi vị phát, nhân bệnh nhân tố sở bất tri, nhân nhi ngẫu hữu sở xúc, hoặc hảo hoặc ố, tắc huyết khí nội loạn, cố tà dữ tâm chí tương bác, toại nhĩ vi bệnh. Thử kỳ sở ṭng lai giả thậm vi, phi kiến văn chi sở năng cập, cố nhân bất tri kỳ cố, nhi dĩ quỷ thần vi nghi, năi tự quỷ thần nhi phi quỷ thần dă。”

Phần giải nghĩa: Mă Thị giải thích rằng: bên trong vốn có thấp khí, ác huyết và các loại cố tà đă lưu lại lâu ngày mà chưa phát, người bệnh vốn không tự biết. Sau đó do ngẫu nhiên có điều xúc động, hoặc thích hoặc ghét, huyết khí ở trong rối loạn, cố tà cùng tâm chí xung đột với nhau mà thành bệnh. V́ nguồn gốc ấy quá vi tế, không thể thấy bằng mắt hay nghe bằng tai, nên người ta mới nghi là do quỷ thần; thực ra chỉ là “giống như” quỷ thần chứ không phải quỷ thần.

Giải thích: Chú giải này làm rơ lập trường duy lư của y học cổ điển: bác bỏ mê tín, dùng bệnh cơ để giải thích hiện tượng tưởng chừng thần bí.



Phần Hán Việt: Chúc. Tức chúc do, chỉ thượng cổ thời đại thấu quá chúc thuyết hoạn bệnh duyên do, tịnh cấp dữ an úy ḥa ám thị, ṭng nhi trị liệu mỗ ta tật bệnh đích nhất chủng tinh thần liệu pháp.

Phần giải nghĩa: “Chúc” tức là chúc do, chỉ một phương pháp trị liệu thời cổ, dùng lời nói để giải thích nguyên do mắc bệnh, an ủi và ám thị người bệnh, từ đó chữa một số loại bệnh.

Giải thích: Đây có thể xem như một dạng liệu pháp tâm lư rất sớm của y học cổ truyền.

先巫者……可祝而已也

Phần Hán Việt: Tiên vu giả...... khả chúc nhi dĩ dă. Cổ thời chi vu y, tha môn đổng đắc nhất ta tật bệnh chi trị liệu nguyên tắc, hựu sự tiên liễu giải đáo bệnh nhân phát bệnh chi nguyên nhân, sở dĩ, đương ngộ đáo nhất ta khả dụng tinh thần liệu pháp chi tật bệnh thời, tha môn tựu thái dụng chúc do chi phương pháp, hữu thời bệnh diệc năng trị dũ. Trương Giới Tân chú: “Thắng giả, bách bệnh ngũ hành chi đạo, tất hữu sở dĩ thắng chi giả. Nhiên tất tiên tri kỳ bệnh sở ṭng sinh chi do, nhi hậu dĩ thắng pháp thắng chi, tắc khả di tinh biến khí, khứ kỳ tà hĩ. Bệnh hữu dược thạch sở bất cập, phi thử bất khả giả。”

Phần giải nghĩa: Các vu y thời xưa hiểu được một số nguyên tắc trị bệnh, lại biết trước nguyên nhân phát bệnh của người bệnh, cho nên khi gặp loại bệnh có thể dùng tinh thần liệu pháp th́ họ dùng chúc do, và có khi bệnh cũng khỏi. Trương Giới Tân c̣n nói rằng: “Cái gọi là ‘thắng’ là đạo lư ngũ hành của trăm bệnh, tất có cái dùng để thắng nó. Nhưng phải biết trước nguyên do sinh bệnh rồi sau mới dùng phép ‘thắng’ để thắng nó, như vậy có thể chuyển tinh, biến khí mà trừ tà. Có những bệnh thuốc men không với tới được, không dùng cách này th́ không được.”

Giải thích: Đoạn này cho thấy “chúc do” không phải mê tín đơn thuần, mà dựa trên hai điều: hiểu nguyên nhân bệnh và biết vận dụng tác động tinh thần để thay đổi khí cơ. V́ vậy, nó có chỗ đứng nhất định trong một số loại bệnh liên quan nhiều đến thần chí và khí huyết nội loạn.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn giản yếu luận thuật liễu “Chúc do” liệu pháp đích thích ứng chứng ḥa thủ hiệu cơ chế.

Phần giải nghĩa: Đoạn này tŕnh bày ngắn gọn về phạm vi thích ứng và cơ chế đạt hiệu quả của liệu pháp “Chúc do”.

Giải thích: Đây là câu mở đầu, nêu rơ trọng tâm của phần phân tích: “Chúc do” không phải bàn chung chung, mà là bàn xem bệnh nào dùng được và v́ sao có thể có hiệu quả.

Phần Hán Việt: “Chúc do” thị nhất chủng trị liệu “thần” bệnh đích phương pháp, do lai dĩ cửu, cổ đại vi vu sở sự, cố đa thị kỳ vi vu chú chi thuộc. Nguyên đại khai thủy, “Chúc do” bị chính thức liệt nhập thập tam khoa chi nội. Do ư tại hứa đa tật bệnh đích quá tŕnh trung, “thần khí” hoặc đa hoặc thiểu yếu thụ ảnh hưởng, trừ thái dụng dược vật, châm cứu đẳng pháp, hoặc bổ tinh tế thần, hoặc dưỡng tâm an thần, hoặc sơ can điều khí dĩ sướng thần chi ngoại, thấu quá y sinh đối bệnh nhân chúc cáo bệnh do, bệnh thế cập kỳ điều nhiếp phương pháp đẳng, dă thị nhất chủng trực tiếp trị thần chi phương pháp, ưng cai thuyết thử pháp thập phần trọng yếu nhi khả hành, đăn đương kim lâm sàng y sinh tri hiểu thiện dụng giả bất đa. Ngô Đường thể nghiệm ngận hảo, tha thuyết: “Án Chúc do nhị tự, xuất tự 《Tố vấn》。 Chúc, cáo dă; do, bệnh chi sở ṭng xuất dă, cận thời dĩ vu gia vi Chúc do khoa, tịnh liệt ư thập tam khoa chi trung. 《Nội kinh》 vị tín vu bất tín y bất trị, vu khởi khả liệt chi y khoa trung tai? Ngô vị phàm trị nội thương giả, tất tiên Chúc do, tường cáo dĩ bệnh chi sở do lai, sử bệnh nhân tri chi, nhi bất cảm tái phạm; hựu tất tế thể biến phong biến nhă, khúc sát lao nhân tư phụ chi ẩn t́nh, uyển ngôn dĩ khai đạo chi, trang ngôn dĩ chấn kinh chi, nguy ngôn dĩ tủng cụ chi, tất sử chi tâm duyệt thành phục, nhi hậu khả dĩ tấu hiệu như thần。” Khả kiến, 《Nội kinh》 sở vị “Chúc do” liệu pháp, thị hữu y học tâm lư học thành phần đích, ưng đồng hậu thế đích vu thuật mê tín tương khu biệt.

Phần giải nghĩa: “Chúc do” là một phương pháp điều trị bệnh thuộc về “thần”, có nguồn gốc rất lâu đời. Thời cổ, việc này thường do vu thực hiện, nên nhiều người xem nó như một loại bùa chú hay vu thuật. Từ đời Nguyên, “Chúc do” được chính thức xếp vào một trong mười ba khoa. V́ trong quá tŕnh của nhiều loại bệnh, “thần khí” thường ít nhiều đều bị ảnh hưởng, nên ngoài việc dùng thuốc, châm cứu, hoặc bổ tinh để giúp thần, dưỡng tâm để an thần, hoặc sơ can điều khí để làm cho thần được thư sướng, th́ việc thầy thuốc trực tiếp giải thích cho người bệnh biết nguyên nhân mắc bệnh, diễn biến bệnh, và cách điều dưỡng giữ ǵn cũng là một phương pháp trực tiếp trị “thần”. Có thể nói phương pháp này rất quan trọng và khả thi, nhưng ngày nay người biết rơ và dùng khéo trên lâm sàng không nhiều. Ngô Đường đă có nhận xét rất đáng chú ư. Ông nói: “‘Chúc do’ hai chữ xuất phát từ 《Tố vấn》. ‘Chúc’ là nói cho biết, ‘do’ là nguồn gốc bệnh từ đâu mà ra. Gần đây người ta đem vu gia xếp thành Chúc do khoa, lại liệt vào mười ba khoa. Nhưng 《Nội kinh》 nói tin vu mà không tin y th́ không thể trị, vậy vu sao có thể xếp vào y khoa được? Theo tôi, phàm trị nội thương th́ trước hết phải Chúc do, nghĩa là nói rơ cho bệnh nhân biết bệnh do đâu mà tới, để họ hiểu mà không dám phạm lại; lại phải tinh tế xét rơ những uẩn khúc trong ḷng người lao động, người tư phụ, dùng lời mềm mỏng để khai đạo, lời nghiêm chỉnh để cảnh tỉnh, lời nặng để làm họ biết sợ, nhất định khiến họ tâm phục ư phục, rồi sau mới có thể đạt hiệu quả như thần.’” Có thể thấy, cái gọi là “Chúc do” trong 《Nội kinh》 thật ra có thành phần của y học tâm lư, cần phân biệt với vu thuật mê tín về sau.

Giải thích: Đoạn này làm rơ bản chất của “Chúc do”. Đây không phải là mê tín thuần túy, mà là một phương pháp điều trị thông qua tác động vào tinh thần người bệnh. Trọng điểm là giải thích bệnh, khai đạo tâm lư, điều chỉnh cảm xúc và niềm tin của người bệnh. V́ vậy, nếu hiểu đúng, “Chúc do” gần với liệu pháp tâm lư hơn là bùa chú.

Phần Hán Việt: “Chúc do” pháp chi sử dụng, tất tu yếu hữu “lưỡng tri”, nhất thị tri “bách bệnh chi thắng”, nhị thị “tiên tri kỳ bệnh chi sở ṭng sinh”。 “Bách bệnh chi thắng” chủ yếu chỉ ngũ hành tương chế chi quy luật, tức “dĩ t́nh thắng t́nh” pháp. Như 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》 viết: “Nộ thương can, bi thắng nộ; hỉ thương tâm, khủng thắng hỉ; tư thương tỳ, nộ thắng tư; khủng thương thận, tư thắng khủng。” Ling ngoại, 《Linh khu. Sư truyền》 vân: “Nhân chi t́nh, mạc bất ố tử nhi lạc sinh, cáo chi dĩ kỳ bại, ngữ chi dĩ kỳ thiện, đạo chi dĩ kỳ sở tiện, khai chi dĩ kỳ sở khổ。” Tắc thuộc ngữ ngôn chi thắng. 《Tố vấn. Di tinh biến khí luận》 sở thuyết đích “di tinh biến khí, khả Chúc do nhi dĩ”, tắc thị ám thị pháp, tức “dĩ trá chế trá” pháp. Chí ư ṭng dược thực khí vị khảo lự đích, như cuồng chứng đoạt thực, hoặc dụng tư âm tức hỏa chi dược, tắc hựu vị chi ngũ vị tương chế pháp, đẳng đẳng, giai thuộc tương thắng nội dung. Đăn cứu cánh thái dụng hà pháp tương chế, tất “tiên tri kỳ bệnh chi sở ṭng sinh”, tài năng hữu đích phóng thỉ, pháp đáo bệnh trừ. Tổng chi, “Chúc do” liệu pháp trị đắc kế thừa, phát dương dữ đề cao, tha thị cận đại y học tâm lư học, tâm thân y học tinh thần liệu pháp chi tiên đạo, bất khả nhân cổ đại hội bị vu sở dụng, nhi xích chi vi mê tín.

Phần giải nghĩa: Muốn dùng phép “Chúc do” th́ phải có “hai điều biết”. Thứ nhất là biết “cái ǵ thắng được trăm bệnh”, thứ hai là “biết trước bệnh ấy từ đâu mà sinh ra”. “Biết cái thắng của trăm bệnh” chủ yếu là hiểu quy luật ngũ hành tương chế, tức phép “lấy t́nh thắng t́nh”. Ví dụ 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》 nói: “Giận làm thương Can, buồn thắng được giận; vui quá làm thương Tâm, sợ thắng được vui; lo nghĩ làm thương Tỳ, giận thắng được lo nghĩ; sợ hăi làm thương Thận, suy nghĩ thắng được sợ hăi.” Ngoài ra, 《Linh khu. Sư truyền》 nói: “T́nh của con người, không ai không ghét chết mà thích sống; hăy nói cho họ biết cái hại của bệnh, nói cho họ biết cái lợi, chỉ cho họ điều thuận tiện, mở cho họ điều uất khổ.” Đó là loại “thắng” bằng lời nói. C̣n câu trong 《Tố vấn. Di tinh biến khí luận》 rằng “di tinh biến khí, có thể dùng Chúc do mà thôi”, th́ đó là phép ám thị, tức kiểu “lấy giả để chế giả”. C̣n nếu xét từ phương diện thuốc men, ăn uống, khí vị, như cuồng chứng mà夺食, hoặc dùng thuốc tư âm tức hỏa, th́ lại có thể gọi là phép ngũ vị tương chế. Tất cả đều thuộc phạm vi “tương thắng”. Nhưng rốt cuộc nên dùng cách nào để chế ngự, th́ nhất định phải “biết trước bệnh đó sinh ra từ đâu”, như vậy mới nhắm đúng đích mà chữa, dùng đúng pháp th́ bệnh mới trừ được. Tóm lại, liệu pháp “Chúc do” đáng được kế thừa, phát huy và nâng cao. Nó là tiền thân của tâm lư học y học hiện đại, của tâm thân y học và các liệu pháp tinh thần; không thể v́ thời cổ từng bị vu dùng đến mà gạt bỏ nó như mê tín.

Giải thích: Đoạn này nêu rơ điều kiện để dùng “Chúc do” có hiệu quả. Một là phải hiểu quy luật chế thắng, hai là phải nắm đúng căn nguyên bệnh. V́ vậy “Chúc do” không phải chỉ là nói vài lời an ủi, mà là một phương pháp có cơ sở biện chứng, có mục tiêu tâm lư rơ ràng và cần dùng đúng bệnh, đúng người, đúng t́nh huống.

Cửu khí vi bệnh (九氣為病)

Nguyên văn 1

Phần Hán Việt: Dư tri bách bệnh sinh ư khí dă. Nộ tắc khí thượng, hỉ tắc khí hoăn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ, hàn tắc khí thu, quưnh tắc khí tiết, kinh tắc khí loạn, lao tắc khí hao, tư tắc khí kết, cửu khí bất đồng, hà bệnh chi sinh?

Phần giải nghĩa: Ta biết rằng trăm bệnh đều sinh từ khí. Giận th́ khí bốc lên; vui th́ khí ḥa hoăn; buồn th́ khí hao tiêu; sợ th́ khí hạ xuống; lạnh th́ khí co thu; nóng th́ khí tiết ra; kinh th́ khí rối loạn; lao th́ khí hao tổn; nghĩ ngợi th́ khí kết lại. Chín loại khí như vậy đều không giống nhau, vậy chúng sinh ra những bệnh ǵ?

Giải thích: Đây là câu nêu đầu đề của phần “cửu khí vi bệnh”. Tác giả gom nhiều trạng thái khí cơ khác nhau do t́nh chí, lao động và khí hậu gây ra, rồi đặt câu hỏi: mỗi loại khí biến ấy sẽ sinh ra bệnh như thế nào.

Nguyên văn 2

Phần Hán Việt: Kỳ Bá viết: Nộ tắc khí nghịch, thậm tắc ẩu huyết cập tôn tiết, cố khí thượng hĩ. Hỉ tắc khí ḥa chí đạt, vinh vệ thông lợi, cố khí hoăn hĩ. Bi tắc tâm hệ cấp, phế bố diệp cử, nhi thượng tiêu bất thông, vinh vệ bất tán, nhiệt khí tại trung, cố khí tiêu hĩ. Khủng tắc tinh khước, khước tắc thượng tiêu bế, bế tắc khí hoàn, hoàn tắc hạ tiêu trướng, cố khí bất hành hĩ. Hàn tắc thấu lư bế, khí bất hành, cố khí thu hĩ. Quưnh tắc thấu lư khai, vinh vệ thông, hăn đại tiết, cố khí tiết. Kinh tắc tâm vô sở ỷ, thần vô sở quy, lự vô sở định, cố khí loạn hĩ. Lao tắc suyễn tức hăn xuất, ngoại nội giai việt, cố khí hao hĩ. Tư tắc tâm hữu sở tồn, thần hữu sở quy, chính khí lưu nhi bất hành, cố khí kết hĩ.

Phần giải nghĩa: Kỳ Bá đáp: Giận th́ khí nghịch lên; nặng th́ có thể nôn ra máu và tiêu chảy thức ăn không tiêu, cho nên nói khí bốc lên. Vui th́ khí ḥa, chí được thư đạt, doanh vệ lưu thông, cho nên nói khí ḥa hoăn. Buồn th́ mạch hệ của Tâm co gấp, Phế giương lên, làm thượng tiêu không thông, doanh vệ không tán ra, nhiệt khí uất lại ở giữa, cho nên nói khí hao tiêu. Sợ th́ tinh bị thoái lui, tinh đă thoái th́ thượng tiêu bế, thượng tiêu bế th́ khí trở về dưới, xuống dưới th́ hạ tiêu trướng, cho nên khí không thông hành. Hàn th́ tấu lư đóng lại, khí không vận hành, cho nên khí bị co thu. Nóng th́ tấu lư mở ra, doanh vệ lưu thông, mồ hôi tiết ra nhiều, cho nên khí bị tiết. Kinh th́ Tâm không c̣n chỗ nương, thần không c̣n chỗ về, lo nghĩ không c̣n chỗ định, cho nên khí rối loạn. Lao th́ thở dốc, ra mồ hôi, trong ngoài đều bị hao thoát, cho nên khí hao tổn. Nghĩ ngợi th́ tâm có điều vướng, thần có chỗ trụ, chính khí bị giữ lại mà không vận hành, cho nên khí kết.

Giải thích: Đoạn này lần lượt giải thích bệnh cơ của từng loại “khí biến”. Mỗi cảm xúc hoặc tác nhân khác nhau đều làm khí cơ biến đổi theo một kiểu riêng: có thứ làm khí đi lên, có thứ làm khí hạ xuống, có thứ làm khí kết, có thứ làm khí tán, có thứ làm khí hao. Đây là nền tảng rất quan trọng để biện chứng các bệnh do thất t́nh, hàn nhiệt và lao thương.

Chú thích

百病生於氣

Phần Hán Việt: Bách bệnh sinh ư khí. Trương Giới Tân chú: “Khí chi tại nhân, ḥa tắc vi chính khí, bất ḥa tắc vi tà khí. Phàm biểu lư hư thực, nghịch thuận hoăn cấp, vô bất nhân khí nhi chí, cố bách bệnh giai sinh ư khí。”

Phần giải nghĩa: “Trăm bệnh sinh từ khí.” Trương Giới Tân giải thích rằng: khí trong người, nếu điều ḥa th́ là chính khí, nếu không điều ḥa th́ thành tà khí. Mọi loại biểu lư, hư thực, nghịch thuận, hoăn cấp đều không ǵ không do khí mà thành, cho nên trăm bệnh đều sinh từ khí.

Giải thích: Đây là câu tổng lĩnh của cả thiên, khẳng định địa vị trung tâm của khí trong bệnh cơ học.

飧泄

Phần Hán Việt: Sôn tiết. 《Giáp Ất kinh》, 《Thái tố》 quân tác “thực nhi khí nghịch”, nghĩa thắng.

Phần giải nghĩa: “Sôn tiết” là tiêu chảy thức ăn chưa tiêu; nhưng trong một số bản cổ chép là “ăn vào th́ khí nghịch”, ư nghĩa c̣n rơ hơn.

Giải thích: Chỗ này có dị văn, nhưng đều chỉ hậu quả của can khí nghịch mạnh làm rối loạn tiêu hóa.

氣上

Phần Hán Việt: Khí thượng. Thử chỉ can khí thượng nghịch. Trương Giới Tân chú: “Nộ, can chí dă. Nộ động ư can, tắc khí nghịch nhi thượng, khí bức huyết thăng, cố thậm tắc ẩu huyết. Can mộc thừa tỳ, cố vi tôn tiết. Can vi âm trung chi dương, khí phát ư hạ, cố khí thượng hĩ。”

Phần giải nghĩa: “Khí thượng” ở đây chủ yếu chỉ can khí thượng nghịch. Khi giận th́ khí của Can nghịch lên trên, có thể bức huyết đi lên gây nôn ra máu, lại làm Can mộc lấn Tỳ mà sinh tiêu chảy.

Giải thích: Đây là một ví dụ điển h́nh của thất t́nh gây bệnh theo cơ chế khí cơ nghịch loạn.

氣緩

Phần Hán Việt: Khí hoăn. Khí ḥa chí đạt, vinh vệ thông lợi, vi khí cơ ḥa hoăn chi chính thường trạng thái. Nhi bạo hỉ, quá hỉ, tắc sử tâm khí hoán tán bất thu nhi bệnh, như 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》: “Hỉ thương tâm”, “bạo hỉ thương dương”, 《Linh khu. Bản thần》: “Hỉ lạc giả, thần đạn tán nhi bất tàng” đẳng. Trương Kỳ chú: “Cửu khí giai dĩ bệnh ngôn, hoăn đương vi hoăn tán bất thu chi ư。”

Phần giải nghĩa: “Khí hoăn” vốn là trạng thái khí ḥa, chí đạt, doanh vệ thông lợi, là trạng thái b́nh thường. Nhưng nếu vui quá mức, mừng đột ngột th́ tâm khí lại bị tán mà không thu, cũng thành bệnh. V́ vậy các nhà chú giải cho rằng ở đây “hoăn” nên hiểu là ḥa hoăn đến mức tản mát, không thu nhiếp được.

Giải thích: Đây là chỗ cần hiểu kỹ: “hỉ” không phải luôn xấu, nhưng quá hỉ th́ làm khí thư giăn quá mức, đến nỗi tán mà không thu.

氣消

Phần Hán Việt: Khí tiêu. Tiêu, tựu thị tiêu hao chi ư. Bi tắc tâm hệ cấp, phế bố diệp cử, đạo trí vinh vệ chi khí ủng át ư thượng tiêu, khí uất hóa nhiệt, nhiệt tà hao thương hung trung khí huyết, cố vị “khí tiêu”。 《Tố vấn. Nuy luận》: “Bi ai thái thậm tắc bào lạc tuyệt, bào lạc tuyệt tắc dương khí nội động, phát tắc tâm hạ băng, sổ sẩu huyết dă。”

Phần giải nghĩa: “Khí tiêu” nghĩa là khí bị tiêu hao. Buồn quá th́ tâm hệ co gấp, phế khí nâng lên, làm doanh vệ bị uất ở thượng tiêu, khí uất hóa nhiệt, rồi nhiệt hao tổn khí huyết trong ngực, cho nên nói là “khí tiêu”.

Giải thích: Buồn thương không chỉ làm khí yếu đi một cách đơn giản, mà là qua cơ chế uất trở rồi hóa nhiệt, cuối cùng tiêu hao khí huyết.

精卻

Phần Hán Việt: Tinh khước. Khước, thoái dă. Tinh khước, thử chỉ thận tinh bất năng thượng thừa nhi hạ hăm vi bệnh. 《Linh khu. Bản thần》: “Khủng cụ nhi bất giải tắc thương tinh, tinh thương tắc cốt toan nuy quyết, tinh thời tự hạ。”

Phần giải nghĩa: “Tinh khước” nghĩa là tinh bị lui xuống, rút lui. Ở đây chỉ thận tinh không thể nâng lên mà bị hạ hăm thành bệnh.

Giải thích: Sợ hăi quá mức làm tổn thương Thận tinh, khiến khí cơ đi xuống mà không thăng được.

氣不行

Phần Hán Việt: Khí bất hành. 《Tân hiệu chính》 tác “khí hạ hành”. Khủng tắc tinh khước, khí hăm nhi vô thăng, cố khí hạ hành.

Phần giải nghĩa: “Khí không hành” hoặc theo dị bản là “khí hạ hành”. Nghĩa là do sợ hăi làm tinh lui, khí hạ xuống mà không thăng lên được.

Giải thích: Đây là khí cơ thiên xuống dưới, mất sự điều đạt b́nh thường.

寒則腠理閉,氣不行,故氣收

Phần Hán Việt: Hàn tắc thấu lư bế, khí bất hành, cố khí thu. Khí bất hành, 《Tân hiệu chính》 vân: “án 《Giáp Ất kinh》, khí bất hành tác vinh vệ bất hành。” Vương Băng chú: “Thân hàn tắc vệ khí trầm, cố b́ phu văn lư cập thẩm tiết chi xứ giai bế mật nhi khí bất lưu hành, vệ khí thu liễm ư trung nhi bất phát tán。”

Phần giải nghĩa: Khi lạnh th́ tấu lư bế lại, khí không lưu hành, cho nên khí co thu. Theo Vương Băng, v́ cơ thể lạnh th́ vệ khí ch́m xuống, các lỗ chân lông và đường thẩm tiết đều đóng kín, khí không lưu thông mà co rút lại vào trong.

Giải thích: Hàn làm khí thu liễm, bế tắc, đây là nguyên tắc cơ bản trong bệnh cơ của hàn tà.

氣泄

Phần Hán Việt: Khí tiết. Chỉ dương khí âm dịch giai tùy hăn nhi hao tiết. Vương Băng chú: “Nhiệt tắc phu thấu khai phát, vinh vệ đại thông, tân dịch ngoại thẩm nhi hăn đại tiết dă。”

Phần giải nghĩa: “Khí tiết” là dương khí và âm dịch đều theo mồ hôi mà tiết hao ra ngoài.

Giải thích: Nhiệt làm tấu lư mở, khí và tân dịch cùng dễ hao thoát.

心無所倚,神無所歸,慮無所定

Phần Hán Việt: Tâm vô sở ỷ, thần vô sở quy, lự vô sở định. Thử tam cú giai h́nh dung tâm thần bất năng nội thủ nhi động đăng bất ninh. Cao Thế Thức chú: “Kinh tắc tâm khí động nhi vô sở ỷ, thần khí việt nhi vô sở quy, tư lự hoặc nhi vô sở định。”

Phần giải nghĩa: Ba câu này đều h́nh dung trạng thái tâm thần không c̣n giữ được ở bên trong mà rung động, bất an. Khi bị kinh hăi, tâm khí động mà không có chỗ nương, thần khí vượt ra ngoài mà không có chỗ quay về, tư lự rối loạn không có chỗ ổn định.

Giải thích: Đây là đặc điểm bệnh cơ của “kinh”: trọng ở thần khí thất thủ, tâm thần động loạn.

外內皆越

Phần Hán Việt: Ngoại nội giai việt. Việt, tiêu tán, tán thất. Mă Thị chú: “Phù suyễn tắc nội khí việt, hăn tắc ngoại khí việt, cố khí dĩ chi nhi hao tán dă.”

Phần giải nghĩa: “Ngoại nội giai việt” nghĩa là trong ngoài đều bị hao tán, thất thoát. Mă Thị giải thích: thở gấp th́ nội khí bị thoát ra, ra mồ hôi th́ ngoại khí bị thất tán, cho nên khí bởi đó mà hao tán.

Giải thích: Câu này nói rơ cơ chế “lao tắc khí hao”: lao lực quá mức làm khí thoát cả bên trong lẫn bên ngoài, nên chính khí bị suy tổn.

神有所歸,正氣留而不行

Phần Hán Việt: Thần hữu sở quy, chính khí lưu nhi bất hành. Quy, quy súc, hữu lưu chỉ chi ư. Dương Thượng Thiện chú: “Chuyên tư nhất sự, tắc tâm khí trú nhất vật, sở dĩ thần vụ nhất vật chi trung, tâm thần dẫn khí nhi tụ, cố kết nhi vi bệnh dă.”

Phần giải nghĩa: “Thần có chỗ quy về, chính khí lưu lại mà không vận hành.” Chữ “quy” ở đây có nghĩa là co về, dừng lại. Dương Thượng Thiện giải thích: nếu chỉ chăm chăm nghĩ một việc, th́ tâm khí dừng ở một chỗ, thần chỉ chăm vào một đối tượng, tâm thần dẫn khí tụ lại, v́ thế mà khí kết thành bệnh.

Giải thích: Đây là cơ chế của “tư tắc khí kết”: nghĩ ngợi quá mức không phải làm khí bốc lên hay hạ xuống, mà làm khí bị trệ lại, không thông hành.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản tiết chủ yếu thấu quá cửu khí vi bệnh chi lệ, xiển phát liễu “bách bệnh sinh ư khí” đích phát bệnh quan điểm.

Phần giải nghĩa: Mục này chủ yếu thông qua ví dụ chín loại khí gây bệnh để làm sáng tỏ quan điểm “trăm bệnh sinh từ khí”.

Giải thích: Đây là câu tổng quát, cho thấy trọng tâm của đoạn không phải chỉ là kể tên chín khí, mà là dùng chín khí để chứng minh rằng khí cơ là trung tâm của bệnh lư.

Phần Hán Việt: Khí, tức 《Linh khu. Quyết khí》 thiên trung chi “nhất khí”, đương bao quát tinh huyết tân dịch tại nội. Trung y học tương khí tác vi cấu thành nhân thể cập duy hộ sinh mệnh chi căn bản, tạng phủ kinh lạc đích sinh lư hoạt động cập kỳ vật chất đại tạ quá tŕnh khả dĩ thị vi khí đích chính thường vận động cập kỳ biến hóa đích biểu hiện, nhất thiết bệnh lư quá tŕnh năi thị khí đích phản thường vận động đích kết quả. Trương Giới Tân khái quát thuyết: “Khí chi tại nhân, ḥa tắc vi chính khí, bất ḥa tắc vi tà khí。” Chính khí ḥa tà khí thị tương đối khái niệm, dă tức khí đích chính thường vận động ḥa phản thường vận động. Nhất thiết trí bệnh nhân tố thủ tiên dẫn khởi khí đích vận động hỗn loạn, nhiên hậu diễn sinh xuất chủng chủng bệnh lư biến hóa. Như bản tiết sở thuật, nộ, hỉ, bi, khủng, kinh, tư, quân thuộc t́nh chí nhân tố, hàn, nhiệt thuộc lục dâm phạm trù, lao tắc thuộc ư lao quyện nội thương nhân tố, tức bất quản thị thất t́nh, lục dâm, lao quyện đẳng chư nhân tố quân khả đạo trí khí cơ đích hỗn loạn hoặc chính khí đích khuy hao. Nhân thử, ṭng giá nhất ư nghĩa giảng, “bách bệnh sinh ư khí” đích quan điểm cụ hữu phổ biến ư nghĩa.

Phần giải nghĩa: “Khí” ở đây chính là “nhất khí” trong thiên 《Linh khu. Quyết khí》, và nên bao gồm cả tinh, huyết, tân dịch ở trong đó. Trung y xem khí là nền tảng cấu thành cơ thể và duy tŕ sinh mệnh; hoạt động sinh lư của tạng phủ, kinh lạc cùng quá tŕnh chuyển hóa vật chất đều có thể xem là biểu hiện của sự vận động b́nh thường của khí. Mọi quá tŕnh bệnh lư đều là kết quả của sự vận động bất thường của khí. Trương Giới Tân đă khái quát rằng: “Khí ở trong người, ḥa th́ là chính khí, không ḥa th́ là tà khí.” Chính khí và tà khí ở đây thực chất là hai mặt tương đối của sự vận động b́nh thường và bất thường của khí. Tất cả các nhân tố gây bệnh trước hết đều làm rối loạn vận động của khí, sau đó mới diễn sinh ra các biến hóa bệnh lư khác nhau. Như đoạn này đă nêu, giận, vui, buồn, sợ, kinh, nghĩ đều thuộc về nhân tố t́nh chí; hàn và nhiệt thuộc phạm trù lục dâm; c̣n lao th́ thuộc nhân tố nội thương do lao quyện. Tức là bất kể thất t́nh, lục dâm hay lao quyện, tất cả đều có thể dẫn đến khí cơ rối loạn hoặc làm chính khí hao tổn. Xét từ ư nghĩa ấy, quan điểm “trăm bệnh sinh từ khí” có ư nghĩa rất phổ quát.

Giải thích: Đoạn này nâng vấn đề từ “cửu khí” lên thành nguyên lư chung của bệnh cơ học Trung y. Muốn hiểu bệnh, trước hết phải hiểu khí cơ. Nhiều bệnh tuy biểu hiện ở huyết, tân dịch, tạng phủ, nhưng gốc đều bắt đầu từ sự rối loạn vận động của khí.

Phần Hán Việt: Đạo trí khí cơ hỗn loạn đích nguyên nhân ngận đa, bản thiên đề xuất đích “cửu nhân” trung, thuộc lục dâm giả nhị, lao thương giả nhất, t́nh chí cư lục. Khả kiến thất t́nh bất ḥa thị tạo thành khí cơ thất điều đích chủ yếu nguyên nhân, khí cơ bệnh biến biểu hiện phức tạp, thiên trung liệt xuất “cửu khí” bệnh lư, cơ bản thượng khái quát liễu hữu quan khí đích bệnh lư biến hóa, như khí trệ, khí hăm, khí thoát, khí nghịch, khí hư, khí bế đẳng. Giá đối ư hiện đại lâm sàng thượng phân tích bệnh lư, chỉ đạo trị liệu, cụ hữu trọng yếu đích thực tiễn ư nghĩa.

Phần giải nghĩa: Nguyên nhân làm khí cơ rối loạn rất nhiều. Trong “chín nguyên nhân” mà thiên này nêu ra th́ có hai thuộc lục dâm, một thuộc lao thương, c̣n sáu thuộc về t́nh chí. Có thể thấy thất t́nh không điều ḥa là nguyên nhân chủ yếu làm cho khí cơ mất điều đạt. Biểu hiện bệnh lư của khí cơ rất phức tạp, nhưng những điều được nêu trong “cửu khí vi bệnh” về cơ bản đă khái quát được các biến hóa bệnh lư quan trọng của khí như khí trệ, khí hăm, khí thoát, khí nghịch, khí hư, khí bế... Điều này có ư nghĩa thực tiễn rất lớn đối với việc phân tích bệnh lư và chỉ đạo điều trị trong lâm sàng hiện đại.

Giải thích: Chỗ quan trọng ở đây là “cửu khí” không phải chỉ là chín hiện tượng rời rạc, mà là khung lư luận để quy nạp rất nhiều loại rối loạn khí cơ khác nhau trong lâm sàng.

Phần Hán Việt: Bản tiết sở thuật t́nh chí quá độ, khí cơ thất điều chi bệnh biến, kỳ “nộ tắc khí thượng”, chỉ can khí nghịch loạn; “hỉ tắc khí hoăn”, chỉ tâm khí hoăn tán bất thu; “bi tắc khí tiêu”, chỉ thượng tiêu phế khí tiêu hao; “khủng tắc khí hạ”, chỉ hạ tiêu thận khí hạ hăm; “kinh tắc khí loạn”, chỉ tâm thần chi khí tán loạn; “tư tắc khí kết”, chỉ tâm thần chi khí tụ kết. Tha dữ 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》 sở thuật “nộ thương can”, “hỉ thương tâm”, “tư thương tỳ”, “bi thương phế”, “khủng thương thận” đích đạo lư cơ bản nhất trí. Nhiên thử tắc dĩ thương khí cơ nhi luận, nhi bỉ tắc dĩ thương tạng nhi ngôn, thực tức t́nh chí quá độ, tổn thương tạng khí.

Phần giải nghĩa: Những biến hóa bệnh lư do t́nh chí quá mức được nêu trong mục này gồm: “giận th́ khí bốc lên” là chỉ can khí nghịch loạn; “vui th́ khí ḥa hoăn” là chỉ tâm khí tán ra mà không thu lại; “buồn th́ khí tiêu” là chỉ phế khí ở thượng tiêu bị tiêu hao; “sợ th́ khí hạ” là chỉ thận khí ở hạ tiêu bị hạ hăm; “kinh th́ khí loạn” là chỉ khí của tâm thần bị tán loạn; “nghĩ th́ khí kết” là chỉ khí của tâm thần bị tụ kết lại. Những điều này về căn bản phù hợp với đạo lư trong 《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》 như “giận làm thương Can”, “vui làm thương Tâm”, “nghĩ làm thương Tỳ”, “buồn làm thương Phế”, “sợ làm thương Thận”. Chỉ khác là ở đây thiên về bàn trên mặt khí cơ bị tổn thương, c̣n chỗ kia thiên về nói trên mặt tạng bị tổn thương. Thực chất th́ đều là t́nh chí quá độ làm tổn thương tạng khí.

Giải thích: Đoạn này chỉ ra hai cách nh́n của cùng một hiện tượng: một bên nhấn mạnh “khí cơ”, một bên nhấn mạnh “tạng phủ”. Thực ra hai cách ấy không tách rời nhau.

Phần Hán Việt: Kinh dữ khủng, nhất ban đa hỗn xưng, đăn bản thiên phân luận chi, xác hữu khu biệt. Chính như Trương Ṭng Chính sở thuyết: “Kinh giả vi dương, ṭng ngoại nhập dă; khủng giả vi âm, ṭng nội nhi xuất. Kinh giả vi tự bất tri, khủng giả tự tri dă。” Kinh thị đoản tạm đích, khủng thị trường kỳ đích. Trị liệu thượng, “kinh giả b́nh chi”, dụng dược dĩ trấn tĩnh an thần vi chủ, dă khả sử dụng tinh thần dụ đạo pháp; khủng tắc “tinh khước khí hạ” bất thăng, cố dụng dược nghi bổ thận thăng dương, tinh thần liệu pháp đương dĩ “tư thắng khủng”。

Phần giải nghĩa: “Kinh” và “khủng” thường hay bị gọi chung, nhưng thiên này phân biệt hai thứ ấy, quả thực là có khác nhau. Đúng như Trương Ṭng Chính nói: “Kinh là dương, từ ngoài mà vào; khủng là âm, từ trong mà phát ra. Kinh là do bất chợt mà tự ḿnh không biết trước; khủng là do tự biết, tự lo.” Kinh là phản ứng ngắn hạn, c̣n khủng là trạng thái kéo dài. Về điều trị, “kinh th́ b́nh nó”, tức dùng thuốc lấy trấn tĩnh an thần làm chủ, cũng có thể dùng phép dẫn dắt tinh thần; c̣n khủng th́ làm “tinh lui, khí hạ”, không thăng lên được, nên về dùng thuốc cần thiên về bổ Thận, thăng dương, c̣n về tinh thần liệu pháp th́ nên lấy “tư thắng khủng”.

Giải thích: Đây là điểm rất tinh tế của cổ nhân. Tuy “kinh” và “khủng” đều thuộc phạm vi sợ hăi, nhưng bệnh cơ và cách chữa khác nhau. Phân biệt được điều này rất có giá trị trong lâm sàng.

Mười chín cơ chế gây bệnh và tầm quan trọng của chúng

Nguyên văn 1

Phần Hán Việt: Đế viết: Thiện. Phù bách bệnh chi sinh dă, giai sinh ư phong hàn thử thấp táo hỏa, dĩ chi hóa chi biến dă. Kinh ngôn thịnh giả tả chi, hư giả bổ chi, dư tích dĩ phương sĩ, nhi phương sĩ dụng chi, thượng vị năng thập toàn, dư dục lệnh yếu đạo tất hành, phù cổ tương ứng, do bạt thích tuyết ô, công xảo thần thánh, khả đắc văn hồ? Kỳ Bá viết: Thẩm sát bệnh cơ, vô thất khí nghi, thử chi vị dă.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Trăm bệnh phát sinh đều do phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa cùng những biến hóa bất thường của chúng mà ra. Kinh nói rằng bệnh thuộc thịnh th́ tả, thuộc hư th́ bổ. Ta đă ban những phép ấy cho các thầy thuốc, nhưng họ dùng vẫn chưa thể đạt hoàn toàn. Ta muốn cho những đạo lư cốt yếu ấy được thi hành chắc chắn, trị bệnh nhanh như đánh dùi vào trống th́ trống liền ứng, như nhổ gai, rửa bẩn, khiến kỹ thuật y học đạt đến mức công, xảo, thần, thánh — liệu có thể nghe được chăng? Kỳ Bá đáp: Phải xét kỹ bệnh cơ, không được làm trái sự thích nghi của khí theo thời, đó chính là điều cốt yếu ấy.

Giải thích: Đoạn mở đầu này dẫn nhập cho “mười chín điều bệnh cơ”. Hoàng Đế không chỉ hỏi nguyên tắc bổ tả, mà hỏi làm sao để trị bệnh thật chuẩn, thật nhanh, thật hiệu quả. Kỳ Bá trả lời: cốt lơi nằm ở chỗ nhận đúng bệnh cơ và không trái khí thời.

Nguyên văn 2

Phần Hán Việt: Đế viết: Nguyện văn bệnh cơ hà như? Kỳ Bá viết: Chư phong điệu huyễn giai thuộc ư can. Chư hàn thu dẫn, giai thuộc ư thận. Chư khí phẫn uất, giai thuộc ư phế. Chư thấp thũng măn, giai thuộc ư tỳ. Chư nhiệt mạo xị, giai thuộc ư hỏa. Chư thống dương sang, giai thuộc ư tâm. Chư quyết cố tiết, giai thuộc ư hạ. Chư nuy suyễn ẩu, giai thuộc ư thượng. Chư cấm cổ lật, như táng thần thủ, giai thuộc ư hỏa. Chư kinh hạng cường, giai thuộc ư thấp. Chư nghịch xung thượng, giai thuộc ư hỏa. Chư trướng phúc đại, giai thuộc ư nhiệt. Chư táo cuồng việt, giai thuộc ư hỏa. Chư bạo cường trực, giai thuộc ư phong. Chư bệnh hữu thanh, cổ chi như cổ, giai thuộc ư nhiệt. Chư bệnh phu thũng, thống toan kinh hăi, giai thuộc ư hỏa. Chư chuyển phản lệ, thủy dịch hỗn trọc, giai thuộc ư nhiệt. Chư bệnh thủy dịch, trừng triệt thanh lănh, giai thuộc ư hàn. Chư ẩu thổ toan, bạo chú hạ bách, giai thuộc ư nhiệt. Cố 《Đại yếu》 viết: Cẩn thủ bệnh cơ, các ty kỳ thuộc, hữu giả cầu chi, vô giả cầu chi; thịnh giả trách chi, hư giả trách chi, tất tiên ngũ thắng, sơ kỳ huyết khí, lệnh kỳ điều đạt, nhi trí ḥa b́nh, thử chi vị dă.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin được nghe bệnh cơ là thế nào. Kỳ Bá đáp: Các chứng phong làm run rẩy, hoa mắt chóng mặt phần nhiều thuộc Can. Các chứng hàn gây co rút, thu dẫn phần nhiều thuộc Thận. Các chứng khí uất phẫn phần nhiều thuộc Phế. Các chứng thấp gây sưng trướng phần nhiều thuộc Tỳ. Các chứng nhiệt gây hôn mê, co giật phần nhiều thuộc Hỏa. Các chứng đau, ngứa, lở loét phần nhiều thuộc Tâm. Các chứng quyết, bế, tiết phần nhiều thuộc phần dưới. Các chứng nuy, suyễn, nôn phần nhiều thuộc phần trên. Các chứng cứng đờ, run lẩy bẩy, như mất sự giữ ǵn của thần, phần nhiều thuộc Hỏa. Các chứng co giật, cổ gáy cứng phần nhiều thuộc Thấp. Các chứng khí nghịch xung lên phần nhiều thuộc Hỏa. Các chứng bụng trướng to phần nhiều thuộc Nhiệt. Các chứng bứt rứt, cuồng loạn, vượt phép phần nhiều thuộc Hỏa. Các chứng đột nhiên cứng thẳng phần nhiều thuộc Phong. Các bệnh có tiếng động như gơ trống phần nhiều thuộc Nhiệt. Các bệnh sưng phù, đau nhức, kinh hăi phần nhiều thuộc Hỏa. Các chứng chuyển vặn, phản lệ, thủy dịch đục bẩn phần nhiều thuộc Nhiệt. Các bệnh mà thủy dịch trong, lỏng, lạnh phần nhiều thuộc Hàn. Các chứng nôn ra chua, tiêu chảy dữ dội, mót ép đi xuống phần nhiều thuộc Nhiệt. Cho nên 《Đại yếu》 nói: Phải cẩn thận nắm chắc bệnh cơ, mỗi chứng phải quy về đúng loại của nó; cái có th́ t́m ở đó, cái không th́ cũng phải t́m cho ra; chứng thịnh th́ xét cái thịnh, chứng hư th́ xét cái hư; trước hết phải xét quy luật ngũ thắng, làm cho huyết khí được thông sơ, khiến khí cơ điều đạt, rồi mới đạt tới ḥa b́nh. Đó chính là ư nghĩa của bệnh cơ.

Giải thích: Đây là phần cốt lơi của “mười chín điều bệnh cơ”, dùng để quy nạp các chứng hậu lớn về những tạng phủ, khí hóa, hàn nhiệt, thượng hạ chủ yếu. Nó là công cụ rất quan trọng trong biện chứng: từ hiện tượng triệu chứng mà truy ngược về cơ chế bệnh lư.

Chú thích

之化之變

Phần Hán Việt: Chi hóa chi biến. Lục khí chi chính thường biến hóa vi hóa, dị thường biến hóa vi biến. Đăn tiền văn kư vân “bách bệnh chi sinh dă, giai sinh ư phong hàn thử thấp táo hỏa”, tắc tất định thị chỉ lục khí chi dị thường biến hóa, cố “chi hóa chi biến” đương tác “chi biến hóa” giải. Trương Giới Tân chú: “Khí chi chính giả vi hóa, khí chi tà giả vi biến, cố viết chi hóa chi biến dă。”

Phần giải nghĩa: “Hóa” là sự biến chuyển b́nh thường của lục khí, “biến” là sự biến chuyển bất thường. Nhưng ở đây v́ đă nói là trăm bệnh đều sinh ra từ phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, nên phải hiểu là nói đến sự biến hóa bất thường của lục khí.

Giải thích: Chỗ này nhắc rằng bệnh không sinh từ lục khí b́nh thường, mà sinh từ sự “thái quá, bất cập” của chúng.



Phần Hán Việt: Tích. Thông “tứ”, tức cấp dữ chi ư.

Phần giải nghĩa: “Tích” thông với “tứ”, nghĩa là ban cho, trao cho.

Giải thích: Hoàng Đế nói ḿnh đă ban những phương pháp ấy cho thầy thuốc.

方士

Phần Hán Việt: Phương sĩ. Phương thuật chi sĩ, thử chỉ y sinh.

Phần giải nghĩa: Người có thuật pháp, ở đây chỉ các thầy thuốc.

Giải thích: Không nên hiểu hẹp là người làm pháp thuật, mà là người hành nghề y.

余欲令要道必行

Phần Hán Việt: Dư dục lệnh yếu đạo tất hành. Yếu đạo, trọng yếu chi y học đạo lư. Toàn cú ư vi: ngă tưởng sử giá ta trọng yếu đích y học lư luận năng夠 thiết thực địa đắc đáo thôi quảng ḥa vận dụng.

Phần giải nghĩa: Ta muốn cho những đạo lư y học quan trọng ấy được thực hiện chắc chắn, được phổ biến và ứng dụng thiết thực.

Giải thích: Đây là tâm ư của Hoàng Đế khi hỏi về bệnh cơ: muốn biến lư luận thành hiệu quả trị liệu thực tế.

桴鼓相應

Phần Hán Việt: Phù cổ tương ứng. Phù, kích cổ chi chùy. Ư tứ thị dĩ chùy kích cổ, chùy đáo cổ hưởng. Tỷ dụ trị liệu hiệu quả khoái tiệp, dược đáo bệnh trừ.

Phần giải nghĩa: Dùi đánh trống, dùi đến th́ trống ứng ngay. Dùng để ví hiệu quả điều trị nhanh chóng, bệnh vừa chạm thuốc đă ứng.

Giải thích: Đây là h́nh ảnh ví von cho trị bệnh đúng bệnh cơ, nên hiệu quả rất mau lẹ.

雪污

Phần Hán Việt: Tuyết ô. Tuyết, tẩy dă. Ô, nguyên bản tác “hăn”, chư bản tác “ô”. Ô, đồng ô.

Phần giải nghĩa: “Tuyết ô” nghĩa là rửa sạch vết bẩn.

Giải thích: Cùng với “nhổ gai”, đây là ví dụ cho trị bệnh nhanh gọn, dứt khoát.




工巧神聖

Phần Hán Việt: Công xảo thần thánh. 《Nan kinh. Lục thập nhất nan》 thuyết: “Vọng nhi tri chi vị chi thần, văn nhi tri chi vị chi thánh, vấn nhi tri chi vị chi công, thiết mạch nhi tri chi vị chi xảo。” Thử chỉ y liệu kỹ thuật thủy chuẩn ngận cao minh.

Phần giải nghĩa: “Công, xảo, thần, thánh” là những mức độ cao của năng lực chẩn trị. Theo 《Nan kinh》: nh́n mà biết gọi là thần, nghe mà biết gọi là thánh, hỏi mà biết gọi là công, bắt mạch mà biết gọi là xảo. Ở đây chỉ tŕnh độ y thuật cực cao.

Giải thích: Hoàng Đế muốn hỏi con đường để đạt tới tŕnh độ chẩn trị cao minh ấy.

病機

Phần Hán Việt: Bệnh cơ. Tức bệnh chi cơ yếu, tật bệnh phát sinh, phát triển, biến hóa chi cơ chế. Trương Giới Tân chú: “Cơ giả, yếu dă, biến dă, bệnh biến sở do xuất dă。”

Phần giải nghĩa: “Bệnh cơ” là mấu chốt cơ chế của bệnh, tức cơ chế phát sinh, phát triển và biến hóa của bệnh tật.

Giải thích: Đây là khái niệm trung tâm của toàn đoạn, cũng là một trong những khái niệm trọng yếu nhất của lư luận bệnh học Trung y.

無失氣宜

Phần Hán Việt: Vô thất khí nghi. Khí nghi, lục khí chủ thời chi sở nghi. Vô thất khí nghi, ư vi trị liệu thời bất yếu vi bối lục khí chủ thời chi quy luật. Trương Giới Tân chú: “Bệnh tùy khí động, tất sát kỳ cơ, trị chi đắc kỳ yếu, thị vô thất khí nghi dă。”

Phần giải nghĩa: “Không được mất cái thích nghi của khí”, nghĩa là khi điều trị không được trái quy luật thời khí của lục khí chủ thời.

Giải thích: Điều trị không chỉ đúng bệnh cơ, mà c̣n phải đúng thời, đúng khí hậu, đúng hoàn cảnh.



Phần Hán Việt: Chư. Chúng dă. Thử xứ tác “đa chủng” giải. Hạ đồng.

Phần giải nghĩa: “Chư” nghĩa là nhiều loại, các thứ. Ở đây nên hiểu là “nhiều chứng loại”.

Giải thích: Chữ này nhắc rằng các câu sau không phải tuyệt đối hóa, mà là chỉ những xu hướng quy thuộc chủ yếu.

掉眩

Phần Hán Việt: Điệu huyễn. Điệu, chỉ chi thể động diêu chi bệnh chứng. Huyễn, chỉ đầu mục huyễn vựng, thị vật toàn chuyển chi bệnh chứng.

Phần giải nghĩa: “Điệu huyễn” gồm hai ư: “điệu” là tay chân, thân ḿnh rung động, lay lắc; “huyễn” là đầu choáng mắt hoa, nh́n vật thấy xoay tṛn.

Giải thích: Đây là nhóm triệu chứng động dao và chóng mặt, thường dùng để chỉ các biểu hiện như run rẩy, lay động, huyễn vựng.



Phần Hán Việt: Giai. Tác “đại đa” giải, dĩ hạ đồng.

Phần giải nghĩa: “Giai” ở đây nên hiểu là “phần nhiều”, “đa số”, các chỗ dưới cũng hiểu như vậy.

Giải thích: Chữ này không nên hiểu tuyệt đối là “đều hoàn toàn”, mà là chỉ khuynh hướng quy thuộc chủ yếu.

收引

Phần Hán Việt: Thu dẫn. Thu, thu súc; dẫn, câu cấp. Thu dẫn, tức thân thể quyển súc, cân mạch câu cấp, quan tiết khuất thân bất lợi chi bệnh chứng.

Phần giải nghĩa: “Thu dẫn” là co rút, co quắp, làm cho thân thể co lại, gân mạch căng rút, khớp xương co duỗi khó khăn.

Giải thích: Đây là biểu hiện co rút, câu cấp, vận động không thư lợi, thường thấy trong chứng hàn hoặc gân mạch mất nuôi dưỡng.

賸鬱

Phần Hán Việt: Phẫn uất. Phẫn, thông phẫn, muộn măn; uất, phất uất bất sướng. Chỉ hung bộ măn muộn, hô hấp bất lợi, cấp bách thượng nghịch chi chứng hậu.

Phần giải nghĩa: “Phẫn uất” chỉ trạng thái ngực đầy tức, bứt bối khó chịu, hô hấp không thuận, khí cấp mà xung nghịch lên trên.

Giải thích: Đây là biểu hiện khí cơ uất trệ, không được thư sướng, thường liên quan đến Phế khí hoặc khí cơ toàn thân không điều đạt.

瞀瘛

Phần Hán Việt: Mạo xệ. Mạo, thần thức hôn hồ; xệ, tứ chi trừu súc.

Phần giải nghĩa: “Mạo” là thần trí mê mờ, hôn ám; “xệ” là tay chân co giật, giật rung.

Giải thích: Đây là nhóm triệu chứng vừa có thần chí hôn mê vừa có co giật chi thể, thường gặp trong nhiệt thịnh, nhiệt nhập tâm bào hoặc động phong.



Phần Hán Việt: Hỏa. Cao Thế Thức cải tác “tâm”. Tâm tàng thần, chủ huyết mạch, tà nhiệt nhiễu loạn tâm thần tắc thần thức hôn hồ, nhiệt chước huyết mạch tắc cân mạch trừu xế, giai thuộc ư tâm chi bệnh biến. Khả ṭng Cao chú.

Phần giải nghĩa: Chữ “hỏa” này, Cao Thế Thức sửa thành “tâm”. V́ Tâm tàng thần, chủ huyết mạch; nhiệt tà quấy nhiễu Tâm thần th́ thần thức hôn mê, nhiệt đốt huyết mạch th́ cân mạch co giật, cho nên có thể quy về bệnh biến của Tâm. Có thể theo chú giải của Cao Thế Thức.

Giải thích: Đây là một chỗ dị giải. Nếu theo bản gốc là “hỏa” th́ nhấn mạnh tà nhiệt; nếu theo Cao Thế Thức là “tâm” th́ nhấn mạnh tạng bị bệnh. Hai cách hiểu thực ra có liên hệ chặt chẽ với nhau.



Phần Hán Việt: Dương. 《Thuyết văn》: “Dương dă。”

Phần giải nghĩa: “Dương” ở đây tức là ngứa, và theo 《Thuyết văn》 th́ có liên hệ với chứng sang dương.

Giải thích: Chữ này cho thấy ngứa và sang lở có quan hệ gần nhau trong bệnh cơ học cổ điển.



Phần Hán Việt: Tâm. Cao Thế Thức cải tác “hỏa”. Hỏa nhiệt chi tà ủng át kinh lạc, phát vi sang dương đằng thống. Khả ṭng Cao chú.

Phần giải nghĩa: Chữ “tâm” này, Cao Thế Thức đổi thành “hỏa”. V́ tà hỏa nhiệt ủng trệ kinh lạc th́ sinh sang lở đau nhức. Có thể theo chú của Cao Thế Thức.

Giải thích: Đây cũng là một chỗ dị giải. Nếu hiểu theo “hỏa” th́ câu “chư thống dương sang” sẽ thuận hơn về mặt bệnh cơ, tức đau ngứa sang lở phần nhiều do hỏa nhiệt gây ra.



Phần Hán Việt: Quyết. 《Tố vấn. Quyết luận》: “Dương khí suy ư hạ, tắc vi hàn quyết; âm khí suy ư hạ, tắc vi nhiệt quyết。” Chỉ khí nghịch sở trí chi túc nhiệt, túc hàn.

Phần giải nghĩa: “Quyết” là chỉ chứng khí nghịch làm cho chân nóng hoặc chân lạnh. Theo 《Tố vấn. Quyết luận》, dương khí suy ở dưới th́ thành hàn quyết, âm khí suy ở dưới th́ thành nhiệt quyết.

Giải thích: “Quyết” là một loại bệnh cơ rất quan trọng, chủ yếu nhấn mạnh sự nghịch loạn của khí cơ và sự mất điều ḥa âm dương ở phần dưới.

固泄

Phần Hán Việt: Cố tiết. Cố, chỉ nhị tiện lung bế bất thông; tiết, chỉ nhị tiện tả lợi bất cấm.

Phần giải nghĩa: “Cố” là đại tiểu tiện bế tắc không thông; “tiết” là đại tiểu tiện tiết ra không cầm được.

Giải thích: Hai mặt này đối lập nhau, nhưng đều quy về rối loạn công năng khai hợp của hạ tiêu.



Phần Hán Việt: Hạ. Chỉ nhân thân hạ bộ chi tạng phủ, như can, thận, bàng quang, đại tiểu trường đẳng.

Phần giải nghĩa: “Hạ” là chỉ phần dưới của cơ thể và các tạng phủ thuộc phần dưới như Can, Thận, Bàng quang, Đại trường, Tiểu trường.

Giải thích: Khi nói “giai thuộc ư hạ” tức là quy bệnh cơ về vùng hạ tiêu hoặc các tạng phủ ở dưới.



Phần Hán Việt: Thượng. Chỉ nhân thân thượng bộ chi tạng phủ, như tâm, phế đẳng.

Phần giải nghĩa: “Thượng” là chỉ phần trên của cơ thể và các tạng phủ ở trên như Tâm, Phế.

Giải thích: “Chư nuy suyễn ẩu, giai thuộc ư thượng” tức là nhấn mạnh bệnh cơ phần nhiều liên hệ đến thượng tiêu.

禁鼓栗

Phần Hán Việt: Cấm cổ lật. Cấm, đồng cấm, giảo nha khẩu cấm bất khai; cổ, thượng hạ nha xỉ chấn chiến; lật, chiến lật. H́nh dung ố hàn chi thậm.

Phần giải nghĩa: “Cấm” là nghiến răng, cứng hàm không mở được; “cổ” là hai hàm răng va lập cập; “lật” là run rẩy. Toàn câu h́nh dung t́nh trạng sợ lạnh rất nặng.

Giải thích: Đây là nhóm chứng vừa có co cứng hàm miệng vừa run rét dữ dội, cho thấy khí cơ và thần khí đều bị rối loạn mạnh.

如喪神守

Phần Hán Việt: Như táng thần thủ. Vị cấm cổ đẳng chứng năi tự thân bất năng khống chế, do như thất khứ liễu thần minh chi chủ tŕ nhất dạng.

Phần giải nghĩa: “Như mất chỗ thần giữ” nghĩa là các chứng như cứng hàm, run rẩy ấy người bệnh không tự chủ được, như thể đă mất sự chủ tŕ của thần minh.

Giải thích: Đây là cách h́nh dung bệnh t́nh nặng, thần khí không c̣n làm chủ được thân thể.

痙項強

Phần Hán Việt: Kính hạng cường. Kính, bệnh danh, chứng kiến cân mạch câu cấp, thân thể cường trực, khẩu cấm phản trương đẳng; hạng cường, thị kính bệnh chi nhất cá chứng trạng, dă khả đơn độc xuất hiện, kỳ biểu hiện vi cảnh hạng cường trực, chuyển động bất linh.

Phần giải nghĩa: “Kính” là chứng co cứng, co giật, thân thể cứng đờ, miệng cắn chặt, thậm chí ưỡn cong ra sau; “hạng cường” là cổ gáy cứng, xoay trở khó khăn, có thể đi riêng hoặc đi kèm chứng kính.

Giải thích: Đây là nhóm bệnh chứng liên hệ mật thiết với gân mạch, kinh lạc và tà khí phong, hàn, thấp, nhiệt.

皆屬於濕

Phần Hán Việt: Giai thuộc ư thấp. Thấp vi âm tà, tối dị thương hại dương khí, cân mạch lại dương khí dĩ ôn húc phương năng khuất thân tự như, kim dương thương cân mạch thất dưỡng nhi phát kính bệnh, kiến cảnh hạng cường trực đẳng chứng hậu.

Phần giải nghĩa: “Đều thuộc về thấp” là v́ thấp là âm tà, rất dễ làm tổn thương dương khí; mà gân mạch muốn co duỗi thuận lợi th́ phải nhờ dương khí ôn dưỡng. Nay dương bị thương, gân mạch mất nuôi dưỡng nên phát ra chứng kính, cổ gáy cứng.

Giải thích: Câu này cho thấy trong bệnh cơ học cổ điển, thấp tà không chỉ gây nặng nề mà c̣n có thể ảnh hưởng đến cân mạch, gây co cứng.

諸逆沖上,皆屬於火

Phần Hán Việt: Chư nghịch xung thượng, giai thuộc ư hỏa. Nghịch xung thượng, chỉ khí nghịch đột nhiên thượng xung chi bệnh chứng, như ẩu thổ, ế khí, ách nghịch, thổ huyết đẳng. Hỏa tính viêm thượng, hỏa nghịch thượng xung, cố khả kiến thượng thuật chư chứng.

Phần giải nghĩa: “Các chứng nghịch xung lên trên đều thuộc về hỏa.” “Nghịch xung thượng” là chỉ các chứng khí nghịch đột ngột xông lên như nôn, ợ hơi, nấc, thổ huyết. V́ hỏa có tính bốc lên, nên khi hỏa nghịch lên sẽ sinh ra các chứng ấy.

Giải thích: Đây là cách quy nạp những biểu hiện xung nghịch, bốc lên, xao động về bệnh cơ hỏa nhiệt.

脹腹大

Phần Hán Việt: Trướng phúc đại. Chỉ phúc bộ trướng măn bành đại chi chứng.

Phần giải nghĩa: “Trướng phúc đại” là bụng đầy trướng, ph́nh to.

Giải thích: Đây là một biểu hiện h́nh thái rơ rệt, có thể do nhiệt kết, thấp nhiệt, khí trệ, thủy tụ, nhưng ở đây thiên về quy thuộc nhiệt.

狂越

Phần Hán Việt: Cuồng việt. Táo, phiền táo bất ninh, tọa ngọa bất an; cuồng, cuồng loạn, như vọng ngôn mạ lỵ, bất tị thân sơ, khốc tiếu vô thường đẳng; việt, vị ngôn hành cử chỉ, quai thất thường độ.

Phần giải nghĩa: “Táo” là bứt rứt không yên, ngồi nằm không ổn; “cuồng” là cuồng loạn như nói nhảm, chửi mắng, không kể thân sơ, khóc cười thất thường; “việt” là lời nói, hành vi, cử chỉ vượt khỏi lẽ thường.

Giải thích: Đây là nhóm chứng thần chí rối loạn mạnh, phần nhiều liên hệ đến hỏa nhiệt quấy rối tâm thần.

暴強直

Phần Hán Việt: Bạo cường trực. Bạo, tốt nhiên; cường trực, cân mạch khiên cường, thể trực bất năng khuất thân.

Phần giải nghĩa: “Bạo cường trực” là đột nhiên thân thể co cứng, gân mạch kéo căng, người cứng đờ không thể co duỗi.

Giải thích: Đặc điểm ở đây là phát bệnh đột ngột, thiên về phong động.

有聲

Phần Hán Việt: Hữu thanh. Trường minh, can ẩu chi loại.

Phần giải nghĩa: “Có tiếng” là chỉ những tiếng như ruột kêu, nôn khan, hoặc những âm thanh bệnh lư phát ra trong cơ thể.

Giải thích: Đây là loại triệu chứng có thể nghe thấy được, thường phản ánh khí cơ bất ḥa.

鼓之如鼓

Phần Hán Việt: Cổ chi như cổ. Tiền nhất “cổ” tự hệ động từ, khấu đả phúc bộ; hậu nhất “cổ” tự vi h́nh dung từ, ngôn kỳ tượng cổ nhất dạng không hưởng. Trương Giới Tân chú: “Cổ chi như cổ, trướng nhi hữu thanh dă。”

Phần giải nghĩa: Chữ “cổ” thứ nhất là động từ, nghĩa là gơ vào; chữ “cổ” thứ hai là danh từ, nghĩa là cái trống. Toàn câu nói rằng gơ vào bụng nghe vang rỗng như đánh trống.

Giải thích: Đây là mô tả một loại bụng trướng có âm vang, thường gặp trong chứng nhiệt, khí trướng hoặc tích trệ.

附腫

Phần Hán Việt: Phụ thũng. Phụ, đồng hủ. Phụ thũng, b́ nhục thũng trướng hội lạn.

Phần giải nghĩa: “Phụ thũng” là sưng phù rồi loét rữa ở phần da thịt.

Giải thích: Đây là dạng sưng lở có tính chất hỏa nhiệt, ung độc hoặc thấp nhiệt nung nấu.

轉反戾

Phần Hán Việt: Chuyển phản lệ. Chuyển, tả hữu nữu chuyển; phản, giác cung phản trương; lệ, khúc dă, kỳ thân khúc lệ bất trực. Trương Giới Tân chú: “Chuyển phản lệ, chuyển cân câu luyên dă。”

Phần giải nghĩa: “Chuyển” là vặn xoắn qua lại; “phản” là uốn ngược ra sau như cung; “lệ” là cong quẹo, vặn lệch. Trương Giới Tân giải rằng đây là chứng gân chuyển, co quắp câu luyên.

Giải thích: Đây là nhóm biểu hiện rất nặng của cân mạch co rút, thường thấy trong nhiệt cực sinh phong hoặc tổn thương thần kinh nặng.



Phần Hán Việt: Dịch. Phiếm chỉ nhân thể đại tạ sở sản sinh chi dịch thể, như niệu, thế, thóa, đàm, tiên, bạch đái đẳng.

Phần giải nghĩa: “Dịch” là chỉ chung các loại dịch thể do cơ thể sinh ra như nước tiểu, nước mũi, nước dăi, đờm, nước bọt, khí hư...

Giải thích: Trong bệnh cơ học, việc quan sát tính chất của các loại “dịch” có giá trị rất lớn để biện hàn nhiệt, hư thực.

澄澈清冷

Phần Hán Việt: Trừng triệt thanh lănh. H́nh dung thủy dịch thanh hy, thấu minh nhi hàn lănh.

Phần giải nghĩa: “Trừng triệt thanh lănh” là chỉ dịch thể trong, loăng, trong suốt và lạnh.

Giải thích: Đây là đặc điểm thiên về hàn.

暴注下迫

Phần Hán Việt: Bạo chú hạ bách. Bạo chú, cấp kịch chi tiết tả; hạ bách, lư cấp hậu trọng.

Phần giải nghĩa: “Bạo chú” là tiêu chảy dữ dội, cấp bách; “hạ bách” là mót rặn, muốn đi ngoài liên tục, nặng hậu môn.

Giải thích: Đây là đặc điểm của thấp nhiệt hoặc nhiệt tà ở trường đạo, nhất là trong chứng tả lỵ.

《大要》

Phần Hán Việt: 《Đại yếu》. Cổ đại y học văn hiến, dĩ vong dật.

Phần giải nghĩa: 《Đại yếu》 là một sách y học cổ, hiện nay đă thất truyền.

Giải thích: Tuy sách không c̣n, nhưng lời trích dẫn của nó vẫn được bảo tồn trong kinh văn.

各司其屬

Phần Hán Việt: Các ty kỳ thuộc. Ty, chưởng ác; thuộc, lệ thuộc, quy thuộc. Ngôn chưởng ác các chủng bệnh chứng dữ bệnh cơ chi gian đích quy thuộc liên hệ.

Phần giải nghĩa: “Mỗi cái nắm lấy cái nó thuộc về.” Tức là phải nắm vững mối liên hệ quy thuộc giữa từng loại bệnh chứng và bệnh cơ của nó.

Giải thích: Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong biện chứng: thấy chứng nào th́ phải biết quy về bệnh cơ nào.

有者求之,無者求之;盛者責之,虛者責之

Phần Hán Việt: Hữu giả cầu chi, vô giả cầu chi; thịnh giả trách chi, hư giả trách chi. Cầu, thám cầu, biện biệt. Trách, truy cứu, phân tích. Toàn cú thị ngôn hữu ngoại tà đích, đương biện biệt thị thập ma tính chất đích tà khí; một hữu ngoại tà đích, ưng tầm cầu kỳ tha phương diện đích bệnh nhân. Tật bệnh biểu hiện vi thực chứng đích, ưng nghiên cứu kỳ tà khí vi thập ma thịnh; biểu hiện vi hư chứng đích, ưng thám minh kỳ chính khí vi thập ma hư. Nhất thuyết “hữu giả” chỉ thượng văn dĩ kư tải chi bệnh chứng, “vô giả” chỉ thượng văn vị tằng thuật cập chi bệnh chứng.

Phần giải nghĩa: “Có th́ t́m ở đó, không có th́ cũng phải t́m; thịnh th́ xét cái thịnh, hư th́ xét cái hư.” “Cầu” là t́m ṭi,辨別; “trách” là truy xét, phân tích. Toàn câu nghĩa là: nếu có ngoại tà th́ phải phân biệt đó là tà khí ǵ; nếu không có ngoại tà th́ phải t́m các nguyên nhân khác. Nếu biểu hiện là thực chứng th́ phải xét v́ sao tà lại thịnh; nếu là hư chứng th́ phải t́m v́ sao chính khí lại hư. Cũng có cách hiểu khác: “hữu giả” chỉ các bệnh chứng đă nêu ở trên, “vô giả” là các bệnh chứng chưa được nêu đến.

Giải thích: Đây là tư tưởng biện chứng rất linh hoạt: không được chấp vào khuôn mẫu có sẵn, mà phải tiếp tục truy cứu nguyên nhân và bản chất bệnh.

必先五勝

Phần Hán Việt: Tất tiên ngũ thắng. Ngũ thắng, vận khí học thuyết trung ngũ vận cánh thắng. Tất tiên ngũ thắng, tất tu thủ tiên chưởng ác thiên chi ngũ khí cập nhân chi ngũ tạng chi khí cánh thắng đích nội tại liên hệ.

Phần giải nghĩa: “Trước hết phải xét ngũ thắng.” “Ngũ thắng” là quy luật thắng phục của ngũ vận trong vận khí học. Nghĩa là cần phải nắm được mối liên hệ giữa ngũ khí của trời và ngũ tạng khí của người trong thế thắng phục qua lại.

Giải thích: Đây là chỗ kết nối bệnh cơ với vận khí, tức đem bệnh đặt trong quan hệ với thiên thời và quy luật ngũ hành.

調達

Phần Hán Việt: Điều đạt. Điều, hiệp điều; đạt, sướng đạt.

Phần giải nghĩa: “Điều đạt” nghĩa là điều ḥa mà thông đạt, làm cho khí huyết vận hành thư畅.

Giải thích: Đây là mục tiêu trực tiếp của trị liệu: khiến khí huyết được điều ḥa, thông suốt, từ đó đạt đến ḥa b́nh.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn đề xuất bệnh cơ vấn đề, tịnh vi bệnh cơ lư luận đích vận dụng tố liễu đại lượng thị lệ, tức bệnh cơ thập cửu điều.

Phần giải nghĩa: Đoạn này nêu ra vấn đề bệnh cơ, đồng thời dùng rất nhiều ví dụ để minh họa cho việc vận dụng lư luận bệnh cơ, tức mười chín điều bệnh cơ.

Giải thích: Đây là câu mở đầu phần phân tích, xác định rằng giá trị lớn nhất của đoạn kinh là ở việc đặt nền móng cho học thuyết bệnh cơ.

Phần Hán Việt: Lịch đại Trung y văn hiến trung hữu quan bệnh cơ đích luận thuật thậm đa, đăn hiện tồn khả kiến, đột xuất tịnh năng thị nhân dĩ quy củ giả, đương thủy suy bản tiết chi bệnh cơ thập cửu điều. Thập cửu điều bệnh cơ tuy bất năng bao la vạn tượng, đăn tha cấp hậu nhân đích khải địch tuyệt phi hạn ư kỳ nội dung chi bản thân.

Phần giải nghĩa: Trong y văn Trung y các đời, bàn về bệnh cơ th́ rất nhiều, nhưng hiện nay c̣n thấy được một cách nổi bật, rơ ràng, có thể làm khuôn phép cho người học, th́ trước hết phải kể đến mười chín điều bệnh cơ ở đoạn này. Tuy mười chín điều ấy không thể bao quát hết mọi hiện tượng bệnh lư, nhưng giá trị gợi mở mà nó để lại cho đời sau tuyệt không chỉ giới hạn ở chính nội dung bề mặt của nó.

Giải thích: Tác giả muốn nhấn mạnh rằng giá trị của “thập cửu điều” không chỉ nằm ở từng câu quy thuộc cụ thể, mà c̣n ở phương pháp tư duy biện chứng mà nó dạy cho người học.

(1) 掌握病機的重要性

Phần Hán Việt: Chưởng ác bệnh cơ đích trọng yếu tính.

Phần giải nghĩa: Tầm quan trọng của việc nắm vững bệnh cơ.

Giải thích: Đây là tiểu mục thứ nhất trong phần phân tích.

Phần Hán Việt: Bản tiết chỉ xuất, nhất ban y sinh tuy nhiên thục am lục khí trí bệnh chi lư, diệc chưởng ác “thịnh giả tả chi, hư giả bổ chi” đích trị liệu đại pháp, vi hà bất năng thủ hiệu thập toàn? Kỳ nguyên nhân tựu thị vị năng “thẩm sát bệnh cơ”。

Phần giải nghĩa: Mục này chỉ ra rằng: thầy thuốc b́nh thường tuy đă quen thuộc đạo lư lục khí gây bệnh, cũng đă nắm được phép trị lớn là “thịnh th́ tả, hư th́ bổ”, nhưng v́ sao vẫn không thể đạt hiệu quả trọn vẹn? Nguyên nhân là v́ chưa thể “thẩm sát bệnh cơ”.

Giải thích: Đây là lời cảnh tỉnh rất quan trọng. Chỉ biết nguyên tắc bổ tả chung chung th́ chưa đủ, phải nắm được bệnh cơ cụ thể của từng bệnh, từng chứng.

Phần Hán Việt: Sở vị bệnh cơ, tức “bệnh chi cơ quát”, thị “bệnh biến sở do xuất dă”。 Bệnh cơ đích khái niệm giản đơn địa thuyết, tựu thị tật bệnh phát sinh, phát triển dữ biến hóa đích cơ chế, nội dung ưng bao quát bệnh nhân, bệnh lư, bệnh tính, bệnh vị đẳng; tha khái quát địa phản ánh liễu nhân thể nội bộ âm dương thất điều, chính tà giao tranh, thăng giáng thất thường đẳng nhất hệ liệt chi mâu thuẫn vận động, thị Trung y nhận thức tật bệnh đích chủ yếu trước nhăn điểm; ṭng biện chứng thi trị đích nội dung khán, ưng bao quát lư, pháp, phương, dược tứ cá phương diện, kỳ trung “lư” trí ư đệ nhất vị. Sở vị “lư”, tựu thị chỉ bệnh nhân bệnh lư, tức biện tích bệnh cơ, tha thị lập pháp tuyển phương đích lư luận y cứ, 《Thần nông bản thảo kinh》 thuyết: “Dục liệu bệnh, tiên sát kỳ nguyên, tiên hậu bệnh cơ。” Ṭng biện chứng thi trị đích toàn quá tŕnh lai thuyết, biện tích bệnh cơ thị biện chứng đích quan kiện.

Phần giải nghĩa: Cái gọi là bệnh cơ tức là “mấu chốt của bệnh”, là “nơi từ đó bệnh biến phát ra”. Nói đơn giản, bệnh cơ là cơ chế phát sinh, phát triển và biến hóa của bệnh. Nội dung của nó bao gồm bệnh nhân, bệnh lư, bệnh tính, bệnh vị... Nó khái quát phản ánh hàng loạt vận động mâu thuẫn bên trong cơ thể như âm dương mất điều ḥa, chính tà giao tranh, thăng giáng thất thường, và là điểm đặt mắt chủ yếu của Trung y khi nhận thức bệnh. Xét từ nội dung của biện chứng luận trị th́ phải bao gồm bốn mặt: lư, pháp, phương, dược, trong đó “lư” đứng hàng đầu. “Lư” ở đây chính là bệnh nhân bệnh lư, tức là phân tích bệnh cơ. Nó là cơ sở lư luận để lập pháp, chọn phương. 《Thần nông bản thảo kinh》 nói: “Muốn chữa bệnh, trước phải xét gốc của nó, trước phải xét bệnh cơ.” V́ vậy, xét trong toàn bộ quá tŕnh biện chứng luận trị, phân tích bệnh cơ chính là khâu then chốt của biện chứng.

Giải thích: Đây là đoạn quan trọng nhất về mặt phương pháp luận. Nó cho thấy Trung y không lấy triệu chứng đơn thuần làm trung tâm, mà lấy bệnh cơ làm trung tâm. Từ bệnh cơ mới suy ra phép chữa, bài thuốc và dùng thuốc.

(2) 病機與病證聯繫的多元性

Phần Hán Việt: Bệnh cơ dữ bệnh chứng liên hệ đích đa nguyên tính.

Phần giải nghĩa: Tính đa chiều, đa dạng trong mối liên hệ giữa bệnh cơ và bệnh chứng.

Giải thích: Đây là tiểu mục thứ hai, bàn về sự phức tạp trong quan hệ giữa cơ chế bệnh và biểu hiện lâm sàng.

Phần Hán Việt: Bệnh cơ đích biến hóa thị cực kỳ phức tạp đích, tha dữ bệnh chứng chi gian đích liên hệ thị đa nguyên đích. Bệnh cơ thập cửu điều cáo tố ngă môn, bất đồng bệnh chứng hữu bất đồng đích bệnh cơ, tương đồng đích bệnh chứng khả dĩ hữu bất đồng đích bệnh cơ, nhi bất đồng đích bệnh chứng dă khả hữu tương đồng đích bệnh cơ.

Phần giải nghĩa: Sự biến hóa của bệnh cơ là vô cùng phức tạp, và mối liên hệ giữa bệnh cơ với bệnh chứng là đa chiều. Mười chín điều bệnh cơ cho chúng ta thấy rằng: bệnh chứng khác nhau có bệnh cơ khác nhau; cùng một loại bệnh chứng có thể do những bệnh cơ khác nhau gây nên; và những bệnh chứng khác nhau cũng có thể do cùng một bệnh cơ gây ra.

Giải thích: Đây là nguyên tắc cốt lơi của biện chứng luận trị. Không thể thấy cùng một triệu chứng mà chữa giống nhau hoàn toàn, cũng không thể thấy bệnh khác tên là cho rằng cơ chế nhất định phải khác.

Phần Hán Việt: Lệ như “chư phong điệu huyễn” chi “điệu”, “chư hàn thu dẫn” chi “thu dẫn”, “chư kính hạng cường” chi “kính”, “chư bạo cường trực” chi “cường trực”, “chư chuyển phản lệ” chi “chuyển phản lệ”, “chư nhiệt mạo xệ” chi “xệ”, “chư cấm cổ lật” chi “cấm”, đô thuộc ư cảnh hạng cường cấp, chi thể chấn diêu, câu luyên, trừu súc, giác cung phản trương, nha quan khẩn bế đẳng nhất loại chi thể cân mạch vi bệnh đích lâm sàng biểu hiện. Nhiên nhi giá ta loại đồng đích chứng trạng các do bất đồng đích bệnh cơ sở dẫn khởi, bệnh vị hoặc tại can, hoặc tại thận; bệnh tính hoặc phong, hoặc thấp, hoặc nhiệt, hoặc hỏa đẳng sổ đoan. Thử thị bệnh chứng đồng nhi bệnh cơ dị.

Phần giải nghĩa: Ví dụ như các chữ “điệu” trong “chư phong điệu huyễn”, “thu dẫn” trong “chư hàn thu dẫn”, “kính” trong “chư kính hạng cường”, “cường trực” trong “chư bạo cường trực”, “chuyển phản lệ” trong “chư chuyển phản lệ”, “xệ” trong “chư nhiệt mạo xệ”, “cấm” trong “chư cấm cổ lật” — tất cả đều thuộc về nhóm biểu hiện lâm sàng như cổ gáy co cứng, tay chân run động, gân mạch co quắp, co giật, ưỡn cong như cung, hàm răng cắn chặt. Tuy các triệu chứng ấy có vẻ giống nhau, nhưng bệnh cơ gây ra lại không giống nhau: bệnh vị có khi ở Can, có khi ở Thận; bệnh tính có thể là phong, thấp, nhiệt, hỏa... Đây chính là trường hợp “bệnh chứng giống mà bệnh cơ khác”.

Giải thích: Đoạn này dạy người học không được chỉ nh́n bề ngoài triệu chứng. Những biểu hiện rất giống nhau về co giật, cứng gáy, run rẩy... có thể bắt nguồn từ bệnh cơ hoàn toàn khác nhau, nên điều trị cũng phải khác nhau.

Phần Hán Việt: Hựu như “chư nhiệt mậu khiết”, “chư cấm cổ lật, như táng thần thủ”, “chư nghịch xung thượng”, “chư táo cuồng việt”, “chư bệnh phụ thũng, đằng toan kinh hăi”, ngũ điều bệnh chứng các dị, đăn đô do đồng nhất bệnh cơ “hỏa” sở đạo trí. Thử thị bệnh chứng dị nhi bệnh cơ đồng. 《Bị cấp thiên kim yếu phương. Đại y tinh thành》 thuyết: “Bệnh hữu nội đồng ngoại dị, diệc hữu nội dị nhi ngoại đồng”, bệnh cơ dữ bệnh chứng chi gian giá chủng phức tạp đa nguyên đích liên hệ, vi dị bệnh đồng trị, đồng bệnh dị trị điện định liễu lư luận cơ sở, dă vi bệnh chứng giám biệt chẩn đoán đề cung liễu tối hảo đích thị phạm.

Phần giải nghĩa: Lại như các chứng “chư nhiệt mạo xệ”, “chư cấm cổ lật như mất thần giữ”, “chư nghịch xung thượng”, “chư táo cuồng việt”, “chư bệnh phụ thũng, đau nhức, kinh hăi” ("Mọi loại sốt và co giật," "Mọi loại run rẩy và co giật, như thể mất hết ư chí," "Mọi loại cảm giác choáng váng," "Mọi loại bồn chồn và hưng phấn," "Mọi loại bệnh có triệu chứng sưng tấy, đau nhức, khó chịu và sợ hăi.") — năm điều bệnh chứng này biểu hiện khác nhau, nhưng đều do cùng một bệnh cơ là “hỏa” gây nên. Đây là trường hợp “bệnh chứng khác mà bệnh cơ giống”. 《Bị cấp thiên kim yếu phương. Đại y tinh thành》 nói: “Bệnh có cái bên trong giống mà bên ngoài khác, cũng có cái bên trong khác mà bên ngoài giống.” Chính mối liên hệ phức tạp, đa chiều giữa bệnh cơ và bệnh chứng như vậy đă đặt nền tảng lư luận cho phép “dị bệnh đồng trị” và “đồng bệnh dị trị”, đồng thời cũng cung cấp mô h́nh mẫu mực nhất cho chẩn đoán phân biệt bệnh chứng.

Giải thích: Đây là kết luận cực kỳ quan trọng. Từ quan hệ đa nguyên giữa bệnh cơ và bệnh chứng mà Trung y mới có thể h́nh thành hai nguyên tắc nổi tiếng: khác bệnh mà cùng chữa một pháp, hoặc cùng bệnh mà phải chữa nhiều pháp khác nhau. Đây chính là tinh thần linh hoạt của biện chứng luận trị.

(3) 辨析病機的方法

Phần Hán Việt: Biện tích bệnh cơ đích phương pháp.

Phần giải nghĩa: Phương pháp phân tích và nhận định bệnh cơ.

Giải thích: Đây là mục nói về cách vận dụng mười chín điều bệnh cơ vào thực tế chẩn trị, tức không chỉ biết thuộc ḷng điều văn mà c̣n phải biết dùng nó để phân tích bệnh.

Phần Hán Việt: Thập cửu điều bệnh cơ khả phân vi ngũ tạng bệnh cơ ḥa lục khí bệnh cơ lưỡng loại, tha đề thị ngă môn biện tích bệnh cơ yếu ṭng ngũ tạng định bệnh vị, ṭng lục khí định bệnh nhân; “hữu giả cầu chi, vô giả cầu chi, thịnh giả trách chi, hư giả trách chi”, tức thấu quá cầu hữu vô, trách hư thực, dĩ xác định bệnh biến đích tính chất; hoàn yêu cầu “vô thất khí nghi”, “tất tiên ngũ thắng”, tức ưng kết hợp khí hậu đích biến hóa lai phân tích bệnh cơ. Giá ta quân ách yếu địa vi ngă môn đề cung liễu biện tích bệnh cơ đích phương pháp.

Phần giải nghĩa: Mười chín điều bệnh cơ có thể chia thành hai loại lớn là bệnh cơ thuộc ngũ tạng và bệnh cơ thuộc lục khí. Điều đó gợi cho chúng ta rằng khi phân tích bệnh cơ th́ phải từ ngũ tạng mà xác định bệnh vị, từ lục khí mà xác định bệnh nhân. Câu “có th́ t́m ở đó, không có th́ cũng phải t́m; thịnh th́ xét cái thịnh, hư th́ xét cái hư” có nghĩa là thông qua việc xét có hay không, hư hay thực để xác định tính chất của bệnh biến. Lại c̣n phải “không làm mất khí nghi”, “trước hết xét ngũ thắng”, tức là phải kết hợp với biến hóa của khí hậu thời tiết để phân tích bệnh cơ. Những điều này đều đă khái quát, súc tích mà cung cấp cho chúng ta phương pháp nhận định bệnh cơ.

Giải thích: Đoạn này là phần tổng cương về phương pháp luận. Nó cho thấy biện bệnh cơ không phải chỉ nh́n triệu chứng đơn độc, mà phải đồng thời xét bệnh vị, bệnh nhân, hư thực và thiên thời.

Phần Hán Việt: Biện ngũ tạng dĩ định vị: xác định tật bệnh phát sinh đích bộ vị thị biện tích bệnh cơ đích trọng yếu nhất hoàn. Mỗi nhất tạng phủ do ư kỳ sở tại bộ vị cập sinh lư công năng các bất tương đồng, đương phát sinh bệnh biến thời, kỳ lâm sàng biểu hiện diệc các kỳ đặc điểm, nhân thử biện bệnh vị thời yếu trảo trú giá ta chủ chứng đích đặc điểm, thấu quá cầu kỳ sở thuộc đích phương pháp dĩ thôi cầu chi.

Phần giải nghĩa: Biện ngũ tạng để định vị nghĩa là: xác định nơi phát sinh bệnh là một khâu rất quan trọng trong phân tích bệnh cơ. Mỗi tạng phủ do vị trí và công năng sinh lư không giống nhau, nên khi bị bệnh th́ biểu hiện lâm sàng cũng có đặc điểm riêng. V́ vậy, khi biện bệnh vị cần nắm chắc đặc điểm của các chủ chứng ấy, rồi từ đó suy ra nó thuộc về tạng phủ nào.

Giải thích: Đây là nguyên tắc “ṭng chứng cầu vị”. Thấy chứng ở đâu, tính chất ra sao, th́ truy về tạng phủ tương ứng.

Phần Hán Việt: Thẩm lục khí dĩ định nhân: bệnh cơ thập cửu điều trung chi lục khí, thị dĩ lục dâm trí bệnh đích nhận thức vi cơ sở, thấu quá phân tích cơ thể đối bệnh tà đích phản ứng lai xác định bệnh nhân khái niệm. Lục khí trí bệnh các hữu đặc điểm, “phong thắng tắc động, nhiệt thắng tắc thũng, táo thắng tắc can, hàn thắng tắc phù, thấp thắng tắc nhu tả” (《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》). Thẩm sát lục khí bệnh cơ đích phương pháp, tựu thị dĩ lục dâm trí bệnh đích lâm sàng biểu hiện đặc điểm vi y cứ, thấu quá thẩm chứng dĩ cầu nhân.

Phần giải nghĩa: Xét lục khí để định bệnh nhân nghĩa là: sáu loại bệnh cơ trong mười chín điều là dựa trên nhận thức về lục dâm gây bệnh, rồi thông qua việc phân tích phản ứng của cơ thể đối với tà khí mà xác định nguyên nhân gây bệnh. Sáu khí gây bệnh mỗi loại có đặc điểm riêng, như “phong thắng th́ động, nhiệt thắng th́ sưng, táo thắng th́ khô, hàn thắng th́ co rút, thấp thắng th́ nhu tiết”. V́ vậy, phương pháp xét bệnh cơ của lục khí chính là dựa vào đặc điểm lâm sàng của lục dâm gây bệnh, rồi từ chứng mà t́m ra nguyên nhân.

Giải thích: Đây là nguyên tắc “thẩm chứng cầu nhân”. Không phải nh́n thấy hàn, nhiệt, phong, thấp trực tiếp, mà là nh́n phản ứng bệnh lư của cơ thể để suy ra tà khí.

Phần Hán Việt: Trách hư thực dĩ định tính: “thịnh giả trách chi, hư giả trách chi”, hư thực phản ánh liễu nhân thể tà chính đấu tranh đích tiêu trưởng t́nh huống, thị xác định bệnh biến thái thế ḥa tính chất đích cương lĩnh, chỉ đạo thi trị đích lập pháp tiền đề. 《Nội kinh》 thời đại thượng vị hữu “bát cương” chi luận, cận dĩ hư thực vi cương định bệnh tính, đăn Trương Giới Tân thuyết: “Nhân chi tật bệnh, vô quá biểu, lư, hàn, nhiệt, hư, thực, chỉ thử lục tự, nghiệp dĩ tận chi. Nhiên lục giả chi trung, hựu duy hư thực nhị tự vi tối yếu. Cái phàm dĩ biểu chứng, lư chứng, hàn chứng, nhiệt chứng, vô bất giai hữu hư thực, năng tri biểu lư hàn nhiệt, nhi phục năng dĩ hư thực nhị tự quyết chi, tắc thiên bệnh vạn bệnh, khả dĩ nhất quán hĩ。”

Phần giải nghĩa: Xét hư thực để định tính nghĩa là: câu “thịnh th́ xét nó, hư th́ xét nó” cho thấy hư thực phản ánh t́nh trạng tiêu trưởng của cuộc đấu tranh giữa tà và chính trong cơ thể. Nó là cương lĩnh để xác định thế bệnh và tính chất bệnh, đồng thời là tiền đề để lập pháp điều trị. Vào thời 《Nội kinh》 chưa có thuyết “bát cương”, mà chủ yếu lấy hư thực làm cương lĩnh để định bệnh tính. Trương Giới Tân nói rằng: bệnh của con người không ngoài biểu, lư, hàn, nhiệt, hư, thực; nhưng trong sáu chữ ấy th́ hư thực là quan trọng nhất. V́ bất kể biểu chứng, lư chứng, hàn chứng hay nhiệt chứng, đều có phân hư và thực; nếu đă biết biểu lư hàn nhiệt, lại c̣n có thể dùng hư thực để quyết định, th́ ngàn bệnh vạn bệnh đều có thể quán thông.

Giải thích: Đoạn này nhấn mạnh hư thực là then chốt của biện chứng. Biểu, lư, hàn, nhiệt rất quan trọng, nhưng nếu không định được hư thực th́ vẫn chưa thể quyết định phép chữa.

Phần Hán Việt: Thẩm sát bệnh cơ, vô thất khí nghi: tức thẩm sát bệnh cơ thời ưng chú ư quư tiết khí hậu đối bệnh cơ chuyển quy đích ảnh hưởng, sở vị “tất tiên ngũ thắng”, tựu thị xác định thiên chi ngũ khí dữ nhân chi ngũ tạng chi khí đích thiên thịnh thiên suy, toàn diện phân tích tự nhiên hoàn cảnh dữ cơ thể đích chỉnh thể liên hệ. Hiện đại y học khí tượng học nhận vi, các chủng khí tượng nhân tố, bao quát khí ôn, khí áp, thấp độ, phong tốc đẳng đối nhân thể bệnh lư quá tŕnh đô hữu nhất định ảnh hưởng. Trung y đối thử thập phần cường điệu, ư thử khả kiến nhất ban.

Phần giải nghĩa: Xét bệnh cơ mà không làm mất khí nghi nghĩa là: khi phân tích bệnh cơ cần phải chú ư ảnh hưởng của mùa tiết và khí hậu đối với sự chuyển biến và quy thuộc của bệnh cơ. Cái gọi là “trước hết xét ngũ thắng” là phải xác định sự thiên thịnh hay thiên suy giữa ngũ khí của trời và khí của ngũ tạng người, để phân tích toàn diện mối liên hệ chỉnh thể giữa tự nhiên và cơ thể. Y học khí tượng hiện đại cũng cho rằng các yếu tố khí tượng như nhiệt độ, áp suất không khí, độ ẩm, tốc độ gió... đều có ảnh hưởng nhất định đến quá tŕnh bệnh lư của cơ thể. Trung y đặc biệt nhấn mạnh điều này, và đoạn này là một ví dụ rơ ràng.

Giải thích: Đây là chỗ thể hiện tư tưởng “thiên nhân tương ứng” trong bệnh cơ học. Muốn biện bệnh đúng, không thể tách con người ra khỏi thời tiết, mùa khí và môi trường sống.

(4) 病機十九條對後世的影響

Phần Hán Việt: Bệnh cơ thập cửu điều đối hậu thế đích ảnh hưởng.

Phần giải nghĩa: Ảnh hưởng của mười chín điều bệnh cơ đối với các đời sau.

Giải thích: Đây là mục nói về giá trị lịch sử và học thuật của “thập cửu điều bệnh cơ”.

Phần Hán Việt: Bệnh cơ thập cửu điều vi hậu thế y gia đề cung liễu phân tích bệnh cơ đích phạm lệ, đối hậu thế bệnh cơ lư luận đích phát triển ảnh hưởng ngận đại. Kim đại Lưu Hoàn Tố tại thử cơ sở thượng, tham khảo Vương Băng chú thích tả thành liễu 《Tố vấn huyền cơ nguyên bệnh thức》 nhất thư, dĩ ngũ vận lục khí đích lư luận xiển phát “lục khí đô ṭng hỏa hóa” đích bệnh cơ, ṭng nhi khuếch đại liễu bệnh cơ thập cửu điều hỏa nhiệt chứng đích phạm vi. Tha hoàn đề xuất “chư sáp khô hạc, can kính nhăn yết, giai thuộc ư táo” đích bệnh cơ, bổ sung liễu 《Nội kinh》 táo tà bệnh cơ. Thanh đại Dụ Gia Ngôn minh xác đề xuất “thu táo luận”, sáng danh phương Thanh táo cứu phế thang, sử lục khí táo tà vi bệnh, trăn ư hoàn thiện.

Phần giải nghĩa: Mười chín điều bệnh cơ đă cung cấp cho các y gia đời sau một mẫu mực để phân tích bệnh cơ, và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của lư luận bệnh cơ về sau. Đời Kim, Lưu Hoàn Tố dựa trên cơ sở này, lại tham khảo chú giải của Vương Băng, viết thành sách 《Tố vấn huyền cơ nguyên bệnh thức》, dùng lư luận ngũ vận lục khí để phát huy bệnh cơ “lục khí đều từ hỏa hóa”, nhờ đó mở rộng phạm vi của các chứng hỏa nhiệt trong mười chín điều bệnh cơ. Ông c̣n đề ra bệnh cơ “các chứng khô sáp, khô kiệt, nứt nẻ, khô cứng đều thuộc về táo”, qua đó bổ sung phần bệnh cơ của táo tà mà 《Nội kinh》 chưa nói đầy đủ. Đến đời Thanh, Dụ Gia Ngôn lại nêu rơ “thu táo luận”, sáng chế danh phương Thanh táo cứu phế thang, làm cho lư luận về táo tà trong sáu khí trở nên hoàn chỉnh hơn.

Giải thích: Đoạn này cho thấy “thập cửu điều bệnh cơ” không phải là hệ thống đóng kín, mà là nền móng để đời sau tiếp tục phát triển. Các y gia lớn như Lưu Hoàn Tố, Dụ Gia Ngôn đều đi ra từ nền tảng ấy mà mở rộng thêm bệnh cơ mới.

病情輕重與四時的關係

Phần Hán Việt: Bệnh t́nh khinh trọng dữ tứ thời đích quan hệ.

Phần giải nghĩa: Quan hệ giữa mức độ nặng nhẹ của bệnh t́nh với bốn mùa, hoặc rộng hơn là với quy luật thời gian.

Giải thích: Đây là tiêu đề mới, chuyển sang bàn về quy luật bệnh t́nh thay đổi theo thời gian trong ngày và tương ứng với bốn mùa.

Nguyên văn

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Phù bách bệnh chi sở thủy sinh giả, tất khởi ư táo thấp hàn thử phong vũ, âm dương hỉ nộ, ẩm thực cư xử, khí hợp nhi hữu h́nh, đắc tạng nhi hữu danh, dư tri kỳ nhiên dă. Phù bách bệnh giả, đa dĩ đán huệ, trú an, tịch gia, dạ thậm, hà dă? Kỳ Bá viết: Tứ thời chi khí sử nhiên. Hoàng Đế viết: Nguyện văn tứ thời chi khí. Kỳ Bá viết: Xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng, thị khí chi thường dă, nhân diệc ứng chi, dĩ nhất nhật phân vi tứ thời, triêu tắc vi xuân, nhật trung vi hạ, nhật nhập vi thu, dạ bán vi đông. Triêu tắc nhân khí thủy sinh, bệnh khí suy, cố đán huệ; nhật trung nhân khí trưởng, trưởng tắc thắng tà, cố an; tịch tắc nhân khí thủy suy, tà khí thủy sinh, cố gia; dạ bán nhân khí nhập tàng, tà khí độc cư ư thân, cố thậm dă.

Hoàng Đế viết: Kỳ thời hữu phản giả hà dă? Kỳ Bá viết: Thị bất ứng tứ thời chi khí, tạng độc chủ kỳ bệnh giả, thị tất dĩ tạng khí chi sở bất thắng thời giả thậm, dĩ kỳ sở thắng thời giả khởi dă. (《Linh khu. Thuận khí nhất nhật phân vi tứ thời》)

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Trăm bệnh lúc bắt đầu phát sinh đều do táo, thấp, hàn, thử, phong, vũ, do pḥng sự, thất t́nh, do ăn uống, cư xử mà ra; tà khí hợp lại th́ thành bệnh có h́nh chứng, nhập vào tạng phủ th́ có tên bệnh, điều ấy ta đă biết rồi. Nhưng trăm bệnh phần nhiều lại có quy luật là sáng th́ đỡ tỉnh táo, ban ngày th́ yên, chiều th́ tăng, ban đêm th́ nặng hơn, là v́ sao? Kỳ Bá đáp: Đó là do khí của bốn mùa khiến nên. Hoàng Đế nói: Xin được nghe về khí của bốn mùa. Kỳ Bá đáp: Xuân chủ sinh, hạ chủ trưởng, thu chủ thu, đông chủ tàng, đó là lẽ thường của khí; con người cũng ứng theo như thế. Nếu đem một ngày chia làm bốn mùa, th́ buổi sáng là xuân, giữa trưa là hạ, chiều tối là thu, nửa đêm là đông. Buổi sáng th́ dương khí của người bắt đầu sinh ra, bệnh khí suy, nên sáng thấy tỉnh hơn; giữa trưa th́ dương khí của người lớn mạnh, mạnh th́ thắng tà, nên thấy yên hơn; chiều tối th́ dương khí bắt đầu suy, tà khí bắt đầu tăng, nên bệnh nặng thêm; đến nửa đêm th́ dương khí nhập tàng, tà khí riêng chiếm lấy thân, nên bệnh càng nặng hơn.

Hoàng Đế hỏi: Có khi nào lại trái với quy luật ấy không? Kỳ Bá đáp: Có, đó là do bệnh không c̣n thuận theo khí của bốn mùa nữa, mà tạng phủ tự nó làm chủ bệnh t́nh. Khi ấy, vào thời điểm mà khí của tạng bị khắc th́ bệnh sẽ nặng hơn, c̣n vào thời điểm mà khí của tạng ấy được thắng th́ bệnh sẽ khởi nhẹ hơn hoặc đỡ hơn.

Giải thích: Đoạn này nêu một quy luật rất quan trọng: bệnh t́nh thay đổi theo nhịp sinh lư ngày đêm, mà cổ nhân dùng mô h́nh “một ngày chia làm bốn mùa” để giải thích. Dương khí ban ngày mạnh dần rồi suy dần, v́ vậy bệnh cũng theo đó mà có “đán huệ, trú an, tịch gia, dạ thậm”. Nhưng nếu bệnh đă rất sâu, thuộc riêng một tạng nào đó, th́ quy luật biến đổi c̣n có thể chịu ảnh hưởng của ngũ hành thắng phục của tạng ấy.

Chú thích

陰陽喜怒

Phần Hán Việt: Âm dương hỉ nộ. Âm dương, thử chỉ nam nữ, ngụ pḥng sự thất tiết chi ư; hỉ nộ, khái quát thất t́nh bất ḥa.

Phần giải nghĩa: “Âm dương” ở đây là chỉ nam nữ, ngụ ư pḥng sự không điều độ; “hỉ nộ” là nói khái quát các rối loạn của thất t́nh.

Giải thích: Cụm này gom cả nội thương do t́nh chí và do pḥng lao vào cùng một loại nguyên nhân.

氣合而有形,得藏而有名

Phần Hán Việt: Khí hợp nhi hữu h́nh, đắc tạng nhi hữu danh. Khí hợp, chỉ tà khí phạm nhân; hữu h́nh, tức hữu mạch chứng chi bệnh h́nh. Đắc tạng, chỉ tà khí khách ư tạng phủ. Ngôn tà khí xâm phạm nhân thể nhi xuất hiện bệnh h́nh chứng trạng, nhân tà khí khách ư tạng phủ nhi các hữu bệnh danh.

Phần giải nghĩa: “Khí hợp th́ có h́nh, vào tạng th́ có tên.” Nghĩa là tà khí xâm phạm cơ thể th́ xuất hiện h́nh chứng, mạch chứng; khi tà khí vào từng tạng phủ khác nhau th́ h́nh thành tên bệnh khác nhau.

Giải thích: Đây là cách nói quá tŕnh từ tà khí thành bệnh chứng cụ thể và thành bệnh danh.

旦慧、晝安、夕加、夜甚

Phần Hán Việt: Đán huệ, trú an, tịch gia, dạ thậm. Ngôn nhất trú dạ bệnh nhân đối bệnh t́nh chi tự ngă cảm giác đích tiết luật tính biến hóa. Huệ, chỉ thần t́nh thanh sảng; an, tức cảm giác an thích; gia, bệnh t́nh gia trọng; thậm, bệnh t́nh cánh kịch.

Phần giải nghĩa: “Sáng tỉnh, ngày yên, chiều tăng, đêm nặng” là chỉ sự biến đổi có tính nhịp điệu của cảm giác bệnh t́nh trong một ngày đêm. “Huệ” là tinh thần sáng sủa hơn, “an” là thấy dễ chịu hơn, “gia” là nặng thêm, “thậm” là càng kịch liệt hơn.

Giải thích: Đây là mô h́nh lâm sàng rất nổi tiếng để quan sát sự biến đổi bệnh t́nh theo thời gian.

四時之氣使然

Phần Hán Việt: Tứ thời chi khí sử nhiên. Do ư nhân thể đích dương khí tùy trước tứ thời chi khí đích tiêu trưởng nhi hữu thịnh suy chi biến hóa, nhân thử tật bệnh đích bệnh t́nh diệc tùy trước nhân thể dương khí đích thịnh suy nhi hữu huệ, an, gia, thậm chi sai dị.

Phần giải nghĩa: Đó là do khí của bốn mùa gây nên. V́ dương khí của con người thay đổi thịnh suy theo sự tiêu trưởng của khí bốn mùa, nên mức độ nặng nhẹ của bệnh cũng biến đổi theo sự thịnh suy ấy.

Giải thích: Ở đây “tứ thời” không chỉ là bốn mùa thật, mà c̣n được dùng để giải thích quy luật ngày đêm của dương khí.

人氣

Phần Hán Việt: Nhân khí. Giá lư chỉ dương khí.

Phần giải nghĩa: “Nhân khí” ở đây là chỉ dương khí của con người.

Giải thích: Muốn hiểu đoạn này đúng th́ phải nắm được rằng “nhân khí” không phải chỉ khí nói chung, mà là phần dương khí vận hành theo thời gian.

日中人氣長,長則勝邪,故安

Phần Hán Việt: Nhật trung nhân khí trưởng, trưởng tắc thắng tà, cố an. Nhật trung dương khí chính thịnh, thịnh tắc tà khí suy, chính khí thắng tà, sở dĩ bệnh nhân cảm đáo thư thích.

Phần giải nghĩa: Giữa trưa th́ dương khí đang thịnh, chính khí mạnh lên th́ thắng được tà khí, nên người bệnh cảm thấy dễ chịu, yên ổn hơn.

Giải thích: Đây là lư do v́ sao nhiều bệnh nhân ban ngày thấy đỡ hơn ban đêm.

夕則人氣始衰,邪氣始生,故加

Phần Hán Việt: Tịch tắc nhân khí thủy suy, tà khí thủy sinh, cố gia. Bàng văn dương khí thu liễm, tà khí tiệm thịnh, sở dĩ bệnh nhân tiệm cảm nan thụ.

Phần giải nghĩa: Buổi chiều tối, dương khí bắt đầu thu lại, tà khí bắt đầu tăng lên, nên bệnh dần nặng hơn.

Giải thích: Đây là giai đoạn chuyển từ “an” sang “gia”, phản ánh dương khí đang mất dần ưu thế.

夜半人氣入藏,邪氣獨居於身,故甚也

Phần Hán Việt: Dạ bán nhân khí nhập tàng, tà khí độc cư ư thân, cố thậm dă. Trương Giới Tân chú: “Cái tà khí chi khinh trọng, do ư chính khí chi thịnh suy. Chính khí giả, dương khí dă. Thăng tắc ṭng dương, ṭng dương tắc sinh; giáng tắc ṭng âm, ṭng âm tắc tử. Thiên nhân chi khí, nhất nhi dĩ hĩ。”

Phần giải nghĩa: Nửa đêm th́ dương khí đi vào tàng, tà khí gần như chiếm lĩnh thân thể, cho nên bệnh nặng nhất. Trương Giới Tân nói: mức độ nặng nhẹ của tà khí là do chính khí thịnh hay suy mà quyết định; chính khí tức là dương khí.

Giải thích: Đây là chỗ nhấn mạnh vai tṛ quyết định của chính khí trong biểu hiện nặng nhẹ của bệnh.

其時有反者

Phần Hán Việt: Kỳ thời hữu phản giả. Chỉ hữu thời bệnh t́nh chi biến hóa, hữu dữ đán huệ, trú an, tịch gia, dạ thậm chi quy luật bất phù chi t́nh huống.

Phần giải nghĩa: “Có khi trái lại” là chỉ trường hợp bệnh t́nh biến đổi không phù hợp với quy luật “sáng đỡ, ngày yên, chiều tăng, đêm nặng”.

Giải thích: Đây là ngoại lệ của quy luật chung, và cần có cách giải thích riêng.

藏獨主其病者

Phần Hán Việt: Tạng độc chủ kỳ bệnh giả. Ư vi tạng phủ bản thân chi bệnh biến đơn độc chi phối trước bệnh t́nh chi biến hóa, nhi bất thụ ngoại giới chi ảnh hưởng.

Phần giải nghĩa: Nghĩa là bệnh biến của tạng phủ tự nó chi phối sự thay đổi của bệnh t́nh, không c̣n hoàn toàn chịu ảnh hưởng của quy luật ngày đêm bên ngoài nữa.

Giải thích: Khi bệnh đă sâu vào tạng, th́ biến hóa của bệnh có thể theo quy luật riêng của tạng khí.

以藏氣之所不勝時者

Phần Hán Việt: Dĩ tạng khí chi sở bất thắng thời giả. Ư vi thụ bệnh nội tạng đích ngũ hành thuộc tính bị thời nhật đích ngũ hành thuộc tính khắc chế thời, bệnh t́nh tựu hội gia trọng. Như can bệnh phùng canh tân nhật, thân dậu thời; tỳ bệnh phùng giáp ất nhật, dần măo thời; thận bệnh phùng mậu kỷ nhật, th́n tuất sửu vị thời; tâm bệnh phùng nhâm quư nhật, hợi tư thời; phế bệnh phùng bính đinh nhật, tị ngọ thời đẳng.

Phần giải nghĩa: Nghĩa là khi tạng khí của tạng đang bị bệnh gặp đúng thời điểm bị hành khác khắc chế th́ bệnh sẽ nặng hơn. Ví dụ Can bệnh gặp ngày giờ thuộc Kim th́ nặng, Tỳ bệnh gặp ngày giờ thuộc Mộc th́ nặng, Thận bệnh gặp ngày giờ thuộc Thổ th́ nặng, Tâm bệnh gặp ngày giờ thuộc Thủy th́ nặng, Phế bệnh gặp ngày giờ thuộc Hỏa th́ nặng.

Giải thích: Đây là cách giải thích ngoại lệ theo quy luật ngũ hành thắng khắc, cho thấy bệnh t́nh không chỉ biến đổi theo ngày đêm mà c̣n có thể theo thời khắc, nhật thần và ngũ hành của tạng bị bệnh.

以其所勝時者起

Phần Hán Việt: Dĩ kỳ sở thắng thời giả khởi: ư vi thụ bệnh nội tạng đích ngũ hành thuộc tính khắc chế thời nhật đích ngũ hành thuộc tính thời, bệnh t́nh tựu hội giảm khinh. Như can bệnh phùng Mậu Kỷ nhật, Th́n Tuất Sửu Vị thời (mộc khắc thổ); tỳ bệnh phùng Nhâm Quư nhật, Hợi Tư thời (thổ khắc thủy); thận bệnh phùng Bính Đinh nhật, Tị Ngọ thời (thủy khắc hỏa); tâm bệnh phùng Canh Tân nhật, Thân Dậu thời (hỏa khắc kim); phế bệnh phùng Giáp Ất nhật, Dần Măo thời (kim khắc mộc) đẳng.

Phần giải nghĩa: “Vào thời điểm mà tạng bị bệnh thắng được khí của thời nhật th́ bệnh sẽ nhẹ đi.” Nghĩa là khi thuộc tính ngũ hành của tạng đang bị bệnh có thể khắc chế được thuộc tính ngũ hành của ngày giờ tương ứng, th́ bệnh t́nh sẽ giảm bớt. Ví dụ: bệnh Can gặp ngày Mậu Kỷ, giờ Th́n Tuất Sửu Vị th́ nhẹ hơn v́ Mộc khắc Thổ; bệnh Tỳ gặp ngày Nhâm Quư, giờ Hợi Tư th́ nhẹ hơn v́ Thổ khắc Thủy; bệnh Thận gặp ngày Bính Đinh, giờ Tị Ngọ th́ nhẹ hơn v́ Thủy khắc Hỏa; bệnh Tâm gặp ngày Canh Tân, giờ Thân Dậu th́ nhẹ hơn v́ Hỏa khắc Kim; bệnh Phế gặp ngày Giáp Ất, giờ Dần Măo th́ nhẹ hơn v́ Kim khắc Mộc.

Giải thích: Đây là phần bổ sung cho nguyên lư “tạng khí bất thắng thời giả thậm”. Nếu gặp lúc tạng bệnh bị thời khí khắc th́ bệnh nặng hơn, c̣n gặp lúc tạng bệnh thắng được thời khí th́ bệnh nhẹ hơn.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn luận thuật liễu nhân dữ tứ thời tương ứng, kỳ bệnh hữu đán huệ, trú an, tịch gia, dạ thậm chi biến hóa đích đạo lư.

Phần giải nghĩa: Đoạn này bàn về đạo lư con người tương ứng với bốn mùa, v́ thế bệnh t́nh có sự biến hóa theo quy luật “sáng nhẹ, ngày yên, chiều tăng, đêm nặng”.

Giải thích: Đây là phần phân tích tổng quát cho thấy bệnh t́nh không đứng yên, mà biến động theo tiết luật âm dương của thời gian.

Phần Hán Việt: Nhất niên chi trung, tự nhiên giới đích âm dương chi khí tùy tứ thời nhi tiêu trưởng thịnh suy, cố vạn vật hữu xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng chi quy luật. Nhất nhật chi trung, âm dương chi khí tùy trú dạ thần hôn nhi biến hóa, dữ tứ thời tương loại tự. Nhân dữ tự nhiên tương ứng, nhân thể đích dương khí thị tùy trước tự nhiên giới dương khí đích thịnh suy nhi phát sinh tương ứng biến hóa đích, nhất nhật chi trung “b́nh đán nhân khí sinh, nhật trung dương khí long, nhật tây nhi dương khí dĩ hư, khí môn năi bế” (《Tố vấn. Sinh khí thông thiên luận》). 《Tố vấn. Sinh khí thông thiên luận》 viết: “Dương khí giả, nhược thiên dữ nhật。” Tại bệnh lư t́nh huống hạ, dương khí thịnh tắc bệnh khí suy, dương khí suy tắc tà khí thịnh, do ư nhân thể dương khí tại trú dạ đích chu kỳ tính biến hóa, sử chính tà đấu tranh tŕnh hiện thử tiêu bỉ trưởng, thử trưởng bỉ tiêu chi diễn biến, nhân thử, bệnh t́nh dă tựu tùy nhân thể chính khí đích thịnh suy nhi hữu “đán huệ, trú an, tịch gia, dạ thậm” đích tương ứng cải biến, giá bất cận chứng thực liễu nhân thể sinh mệnh tiết luật đích bệnh lư học ư nghĩa, nhi thả dă thuyết minh liễu chính khí tại tật bệnh quá tŕnh trung đích quyết định tác dụng, chính như Trương Giới Tân sở thuyết: “Cái tà khí chi khinh trọng, do ư chính khí chi thịnh suy. Chính khí giả, dương khí dă. Thăng tắc ṭng dương, ṭng dương tắc sinh, giáng tắc ṭng âm, ṭng âm tắc tử. Thiên nhân chi khí, nhất nhi dĩ hĩ。” Giá chủng nhận thức, sung phân thể hiện liễu 《Nội kinh》 “nhân dữ thiên địa tương ứng” đích chỉnh thể quan tư tưởng. Giá thị cơ ư cổ đại y gia trường kỳ đối bệnh t́nh biến hóa đích tử tế quan sát, dĩ cập đối sự vật chỉnh thể tính dữ quy luật tính đích khoa học bả ác chi thượng đích. Khả quư đích thị, tại phân tích cụ thể tật bệnh thời, cổ nhân tịnh bất câu nệ ư sở vị đích thường quy, nhận thức đáo ảnh hưởng bệnh t́nh đích nhân tố ngận đa, tịnh bất thị sở hữu tật bệnh đô tồn tại giá chủng trú khinh dạ trọng đích biến hóa, đặc biệt chỉ xuất “bất ứng tứ thời chi khí, tạng độc chủ kỳ bệnh” đích t́nh huống.

Phần giải nghĩa: Trong một năm, khí âm dương của tự nhiên theo bốn mùa mà tiêu trưởng, thịnh suy, v́ thế vạn vật có quy luật xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng. Trong một ngày, khí âm dương cũng theo sáng tối, ngày đêm mà biến hóa, tương tự như bốn mùa. Con người ứng với tự nhiên, nên dương khí trong cơ thể cũng biến đổi tương ứng với sự thịnh suy của dương khí ngoài trời. Trong một ngày có quy luật: sáng sớm dương khí bắt đầu sinh, giữa trưa dương khí thịnh, chiều xuống th́ dương khí đă suy, đến tối th́ khí môn đóng lại. V́ vậy trong trạng thái bệnh lư, khi dương khí thịnh th́ bệnh khí suy, khi dương khí suy th́ tà khí thịnh. Chính do dương khí của cơ thể có biến hóa chu kỳ theo ngày đêm, nên cuộc đấu tranh giữa chính và tà cũng thành thế lúc bên này lên th́ bên kia xuống, lúc bên kia lên th́ bên này xuống. Do đó bệnh t́nh cũng theo sự thịnh suy của chính khí mà có biến đổi tương ứng: sáng thấy tỉnh hơn, ban ngày yên hơn, chiều nặng thêm, đêm th́ nặng nhất. Điều này không chỉ chứng minh ư nghĩa bệnh lư học của tiết luật sinh mệnh trong cơ thể, mà c̣n nói rơ vai tṛ quyết định của chính khí trong quá tŕnh bệnh. Đúng như Trương Giới Tân nói: mức độ nặng nhẹ của tà khí là do sự thịnh suy của chính khí quyết định; mà chính khí tức là dương khí. Nhận thức này thể hiện rất rơ tư tưởng chỉnh thể quan “con người ứng với trời đất” của 《Nội kinh》. Nó dựa trên sự quan sát rất tỉ mỉ, lâu dài của cổ nhân đối với diễn biến bệnh t́nh, cũng như sự nắm bắt quy luật một cách khoa học. Điều đáng quư là cổ nhân không cứng nhắc theo quy luật chung, mà c̣n nhận thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng bệnh t́nh, nên không phải bệnh nào cũng có quy luật ngày nhẹ đêm nặng. V́ vậy mới đặc biệt nêu ra trường hợp “không ứng theo khí bốn mùa, mà do riêng tạng phủ làm chủ bệnh”.

Giải thích: Phần này nhấn mạnh ba ư lớn. Một là bệnh t́nh thay đổi theo nhịp ngày đêm giống như bốn mùa. Hai là sự biến đổi ấy lấy chính khí, nhất là dương khí, làm then chốt. Ba là cổ nhân không tuyệt đối hóa quy luật, mà thừa nhận vẫn có ngoại lệ khi bệnh đă do tạng phủ tự chi phối.

五臟疾病的傳變方式及其預後

Phần Hán Việt: Ngũ tạng tật bệnh đích truyền biến phương thức cập kỳ dự hậu.

Phần giải nghĩa: Phương thức truyền biến của bệnh ngũ tạng và tiên lượng của nó.

Giải thích: Đây là tiêu đề mới, chuyển sang bàn về quy luật truyền bệnh giữa các tạng và cách dự đoán sống chết.

Nguyên văn 1

Phần Hán Việt: Ngũ tạng thụ khí ư kỳ sở sinh, truyền chi ư kỳ sở thắng, khí xá ư kỳ sở sinh, tử ư kỳ sở bất thắng. Bệnh chi thả tử, tất tiên truyền hành, chí kỳ sở bất thắng, bệnh năi tử. Thử ngôn khí chi nghịch hành dă, cố tử. Can thụ khí ư tâm, truyền chi ư tỳ, khí xá ư thận, chí phế nhi tử. Tâm thụ khí ư tỳ, truyền chi ư phế, khí xá ư can, chí thận nhi tử. Tỳ thụ khí ư phế, truyền chi ư thận, khí xá ư tâm, chí can nhi tử. Phế thụ khí ư thận, truyền chi ư can, khí xá ư tỳ, chí tâm nhi tử. Thận thụ khí ư can, truyền chi ư tâm, khí xá ư phế, chí tỳ nhi tử. Thử giai nghịch tử. Nhất nhật nhất dạ ngũ phân chi, thử sở dĩ chiêm tử sinh chi tảo mộ dă.

Phần giải nghĩa: Ngũ tạng nhận bệnh khí từ cái “sở sinh” của nó, truyền sang cái “sở thắng” của nó, rồi bệnh khí lưu lại ở cái “sở sinh”, và nếu đến cái “sở bất thắng” th́ có thể chết. Khi bệnh phát triển đến chỗ sắp chết, tất phải có quá tŕnh truyền biến, truyền đến tạng khắc ḿnh th́ bệnh mới chết. Đây là nói về khí bệnh đi theo lối nghịch hành, cho nên tiên lượng xấu. Ví dụ: Can nhận bệnh khí từ Tâm, truyền sang Tỳ, bệnh khí lưu ở Thận, nếu đến Phế th́ chết. Tâm nhận bệnh khí từ Tỳ, truyền sang Phế, lưu ở Can, nếu đến Thận th́ chết. Tỳ nhận bệnh khí từ Phế, truyền sang Thận, lưu ở Tâm, nếu đến Can th́ chết. Phế nhận bệnh khí từ Thận, truyền sang Can, lưu ở Tỳ, nếu đến Tâm th́ chết. Thận nhận bệnh khí từ Can, truyền sang Tâm, lưu ở Phế, nếu đến Tỳ th́ chết. Những trường hợp ấy đều là “nghịch tử”. Một ngày một đêm chia theo năm tạng, nhờ đó có thể dự đoán thời điểm sớm hay muộn của sự sống chết.

Giải thích: Đoạn này nêu quy luật truyền biến kiểu “nghịch”. Bệnh khí có thể từ tử tạng truyền lên mẫu tạng, rồi lại truyền sang nơi bị ḿnh khắc, cuối cùng nếu đến tạng khắc ḿnh th́ tiên lượng rất xấu. Đây là cách cổ nhân dùng ngũ hành để dự đoán chiều hướng nặng của bệnh.

Nguyên văn 2

Phần Hán Việt: Hoàng Đế viết: Ngũ tạng tương thông, di giai hữu thứ, ngũ tạng hữu bệnh, tắc các truyền kỳ sở thắng. Bất trị, pháp tam nguyệt, nhược lục nguyệt, nhược tam nhật, nhược lục nhật, truyền ngũ tạng nhi đương tử, thị thuận truyền sở thắng chi thứ. Cố viết: Biệt ư dương giả, tri bệnh ṭng lai; biệt ư âm giả, tri tử sinh chi kỳ. Ngôn tri chí kỳ sở khốn nhi tử.

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Năm tạng thông với nhau, sự chuyển dời của bệnh đều có thứ tự. Khi một tạng có bệnh th́ thường truyền sang cái mà nó khắc. Nếu không chữa, có thể sau ba tháng, hoặc sáu tháng, hoặc ba ngày, hoặc sáu ngày mà truyền khắp ngũ tạng rồi có thể chết. Đó là thứ tự “thuận truyền” theo cái mà nó khắc. V́ vậy nói rằng: phân biệt được phần dương th́ biết bệnh từ đâu đến; phân biệt được phần âm th́ biết được kỳ hạn sống chết. Tức là biết bệnh sẽ đến chỗ bị khốn mà chết.

Giải thích: Đoạn này nói về “thuận truyền”, tức là bệnh từ một tạng truyền sang tạng mà nó khắc. Nếu cứ truyền dần như vậy mà không chữa, cuối cùng sẽ truyền khắp ngũ tạng và dẫn tới tử vong. Đây là cách nh́n rất đặc trưng của y học cổ về diễn biến bệnh theo hệ ngũ hành.

Chú thích

五藏受氣於其所生

Phần Hán Việt: Ngũ tạng thụ khí ư kỳ sở sinh. Thụ khí, tao thụ bệnh khí; sở sinh, chỉ ngă sinh chi tạng. Ngũ tạng thụ khí ư kỳ sở sinh tạng, ṭng kỳ sở sinh đích tử tạng tiếp thụ bệnh khí, tức tử bệnh truyền mẫu.

Phần giải nghĩa: “Năm tạng nhận khí ở cái nó sinh ra.” “Thụ khí” là chịu bệnh khí; “sở sinh” ở đây là tạng do ḿnh sinh ra, tức tạng con. Nghĩa là một tạng nhận bệnh khí từ tạng con của nó, tức theo kiểu “tử bệnh truyền mẫu”.

Giải thích: Câu này là điểm khó, v́ phải hiểu theo quan hệ ngũ hành sinh khắc chứ không đọc theo nghĩa thông thường.

傳之於其所勝

Phần Hán Việt: Truyền chi ư kỳ sở thắng. Sở thắng, tức ngă khắc chi tạng. Bản cú vi sáp nhập ngữ, ngôn ngũ tạng tật bệnh đích nhất ban truyền biến quy luật thị tương khắc nhi truyền, tức hạ văn sở thuyết đích thuận truyền, như can bệnh truyền tỳ đẳng.

Phần giải nghĩa: “Truyền sang cái mà nó thắng” tức truyền sang tạng mà nó khắc. Đây là câu chen thêm để nói rằng quy luật truyền biến thông thường của bệnh ngũ tạng là truyền theo quan hệ tương khắc, tức “thuận truyền”, như Can bệnh truyền sang Tỳ.

Giải thích: Đây là quy luật truyền bệnh thường gặp hơn so với nghịch truyền.

氣舍於其所生,死於其所不勝

Phần Hán Việt: Khí xá ư kỳ sở sinh, tử ư kỳ sở bất thắng. Xá, lưu chỉ dă. Sở sinh, thử xứ chỉ sinh ngă chi tạng, tức mẫu tạng. Sở bất thắng, chỉ khắc ngă chi tạng. Toàn cú ngôn bệnh khí đích lưu xá án tử bệnh truyền mẫu đích phương thức truyền biến, nhược truyền chí khắc ngă chi tạng thời, tựu hữu tử vong chi khả năng. Như can bệnh khí lưu xá ư mẫu tạng thận, tiến nhi truyền chí phế, nhân phế kim khắc can mộc, cố can bệnh truyền chí phế thời tựu hữu tử vong chi khả năng.

Phần giải nghĩa: “Khí lưu ở cái sinh ra ḿnh, chết ở cái không thắng được ḿnh.” “Xá” là lưu lại. “Sở sinh” ở đây là tạng mẹ, tức tạng sinh ra ḿnh; “sở bất thắng” là tạng khắc ḿnh. Cả câu nghĩa là: bệnh khí có thể lưu lại ở tạng mẹ theo lối tử bệnh truyền mẫu; nhưng nếu lại truyền tới tạng khắc ḿnh th́ có khả năng tử vong. Ví dụ Can bệnh lưu ở Thận là tạng mẹ, rồi truyền đến Phế; v́ Phế kim khắc Can mộc, nên Can bệnh truyền đến Phế th́ có nguy cơ tử vong.

Giải thích: Đây là nguyên lư dự hậu theo ngũ hành: khi bệnh truyền tới tạng khắc ḿnh th́ là dấu hiệu rất nặng.

病之且死,必先傳行,至其所不勝,病乃死

Phần Hán Việt: Bệnh chi thả tử, tất tiên truyền hành, chí kỳ sở bất thắng, bệnh năi tử. Tật bệnh phát triển đáo tương yếu tử vong chi thời, nhất ban lai thuyết, bệnh khí tương truyền khắc ngă chi tạng. Như can bệnh truyền thận, tái truyền chí phế, phế vi can chi sở bất thắng, cố can bệnh truyền chí phế, tựu hữu tử vong chi khả năng.

Phần giải nghĩa: Khi bệnh phát triển đến mức sắp chết th́ thường trước đó phải trải qua quá tŕnh truyền biến; đến khi truyền tới tạng khắc ḿnh th́ mới chết. Ví dụ Can bệnh truyền đến Thận rồi lại truyền đến Phế; v́ Phế là tạng Can không thắng được, nên đến đây có thể tử vong.

Giải thích: Đây là câu nhấn mạnh rằng tử vong không phải xảy ra đột ngột vô cớ, mà thường có quá tŕnh truyền biến trước đó.

氣之逆行

Phần Hán Việt: Khí chi nghịch hành. Chỉ thượng văn tử bệnh truyền mẫu đích tật bệnh truyền biến phương thức, dữ nhất ban tương khắc nhi truyền đích thuận truyền phương thức bất đồng, cố viết “nghịch hành”。

Phần giải nghĩa: “Khí nghịch hành” là chỉ lối truyền bệnh từ con sang mẹ như nói ở trên. Nó khác với lối truyền theo tương khắc thông thường, cho nên gọi là nghịch hành.

Giải thích: Đây là cách phân biệt hai loại truyền biến: thuận truyền và nghịch truyền.

逆死

Phần Hán Việt: Nghịch tử. Nghịch hành truyền biến chí khắc ngă chi tạng, dự hậu bất lương, hữu tử vong chi khả năng.

Phần giải nghĩa: “Nghịch tử” là do bệnh đi theo lối nghịch hành rồi truyền tới tạng khắc ḿnh, nên tiên lượng xấu và có khả năng tử vong.

Giải thích: Cụm này là tên gọi tắt cho một loại dự hậu cực kỳ bất lợi.

一日一夜五分之,此所以占死生之早暮也

Phần Hán Việt: Nhất nhật nhất dạ ngũ phân chi, thử sở dĩ chiêm tử sinh chi tảo mộ dă. Chiêm, dự trắc; tử sinh, thiên nghĩa phục từ, tức tử vong; tảo mộ, tức tảo văn, giá lư dẫn thân vi thời thần. Toàn cú ngôn nhất trú dạ thập nhị thời thần phân thuộc ngũ tạng, cứ thử khả dĩ dự trắc xuất ngũ tạng bệnh khí nghịch truyền chí kỳ sở bất thắng nhi tử đích đại ước thời thần.

Phần giải nghĩa: “Một ngày một đêm chia làm năm phần, đó là để đoán sớm muộn của chết sống.” “Chiêm” là dự đoán; “tảo mộ” là sớm muộn, ở đây chỉ thời điểm. Ư là một ngày đêm có thể quy thuộc theo ngũ tạng, nhờ đó mà dự đoán đại khái lúc nào bệnh khí nghịch truyền đến chỗ không thắng nổi mà dẫn đến chết.

Giải thích: Đây là cách dự hậu rất cổ, gắn giữa bệnh tạng với thời khắc trong ngày.

五藏相通,移皆有次,五藏有病,則各傳其所勝

Phần Hán Việt: Ngũ tạng tương thông, di giai hữu thứ, ngũ tạng hữu bệnh, tắc các truyền kỳ sở thắng. Thử ngôn ngũ tạng tật bệnh tương khắc nhi truyền đích thuận truyền phương thức. Ngũ tạng chi khí tương hỗ quán thông, ngũ tạng chi khí đích chuyển di hữu nhất định chi thứ tự, cố ngũ tạng hữu bệnh nhất ban truyền kỳ sở thắng chi tạng, như can bệnh truyền tỳ đẳng. 《Tân hiệu chính》 vân: “Thượng văn kư ngôn nghịch truyền, hạ văn sở ngôn năi thuận truyền chi thứ dă。”

Phần giải nghĩa: Câu này nói về phương thức “thuận truyền” của bệnh ngũ tạng, tức truyền theo quan hệ tương khắc. Khí của năm tạng thông với nhau, sự chuyển dời có thứ tự nhất định, nên khi một tạng có bệnh th́ thường truyền sang tạng mà nó khắc, như Can bệnh truyền Tỳ.

Giải thích: Đây là quy luật truyền biến thường quy, khác với nghịch truyền ở trên.

不治,法三月,若六月,若三日,若六日,傳五藏而當死

Phần Hán Việt: Bất trị, pháp tam nguyệt, nhược lục nguyệt, nhược tam nhật, nhược lục nhật, truyền ngũ tạng nhi đương tử. Thử chỉ ngũ tạng bệnh khí các truyền kỳ sở thắng, thôi trắc kỳ tử kỳ đích ước lược thời số. Trương Giới Tân chú: “Bệnh bất tảo trị, tất chí tương truyền, viễn tắc tam nguyệt, lục nguyệt, cận tắc tam nhật, lục nhật, ngũ tạng truyền biến, ư pháp đương tử: sở vị tam lục giả, cái thiên địa chi khí, dĩ lục vi tiết, như tam âm tam dương, thị vi lục khí, lục âm lục dương, thị vi thập nhị nguyệt, cố ngũ tạng tương truyền chi số, diệc dĩ tam lục vi tận. Nhược tam nguyệt nhi truyền biến, nhất khí nhất tạng dă; lục nguyệt nhi truyền biến, nhất nguyệt nhất tạng dă; tam nhật giả, trú dạ các nhất tạng dă; lục nhật giả, nhất nhật nhất tạng dă. Tạng duy ngũ nhi truyền biến dĩ lục giả, giả lệnh bệnh thủy ư phế, nhất dă; phế truyền can, nhị dă; can truyền tỳ, tam dă; tỳ truyền thận, tứ dă; thận truyền tâm, ngũ dă; tâm phục truyền phế, lục dă. Thị vị lục truyền. Lục truyền dĩ tận, bất khả tái truyền, cố 《Nan kinh. Ngũ thập tam nan》 viết: ‘Nhất tạng bất tái thương, thất truyền giả tử dă.’”

Phần giải nghĩa: Câu này chỉ việc ngũ tạng bệnh khí lần lượt truyền sang cái mà nó thắng, rồi theo đó mà suy đoán đại khái thời gian tử vong: có thể là ba tháng, sáu tháng, ba ngày, hoặc sáu ngày. Trương Giới Tân giải thích rất kỹ rằng: nếu không chữa sớm, bệnh tất truyền dần; lâu th́ ba tháng hay sáu tháng, gần th́ ba ngày hay sáu ngày, đến khi truyền khắp ngũ tạng th́ theo lẽ có thể chết. Số ba và sáu ở đây liên quan tới tiết luật của trời đất, như tam âm tam dương thành lục khí, lục âm lục dương thành mười hai tháng.

Giải thích: Đây là phép ước lượng tử kỳ theo truyền biến của tạng khí, dựa trên tư duy vận hành tuần hoàn của ngũ tạng và số học âm dương.

別於陽者,知病從來;別於陰者,知死生之期

Phần Hán Việt: Biệt ư dương giả, tri bệnh ṭng lai; biệt ư âm giả, tri tử sinh chi kỳ. Ngô Khôn chú: “Dương, chí ḥa chi mạch, hữu vị khí giả dă. Âm, chí bất ḥa chi mạch, chân tạng thiên thắng, vô vị khí giả dă. Ngôn năng biệt ư dương ḥa chi mạch giả, tri kỳ bệnh chi ṭng lai; biệt ư chân tạng ngũ âm mạch giả, tắc kỳ tử sinh chi kỳ khả dự tri dă。” Chí ḥa chi mạch, hữu vị khí giả tắc nhất bộ bất ḥa tiện tri kỳ bệnh.

Phần giải nghĩa: “Phân biệt được phần dương th́ biết bệnh từ đâu đến; phân biệt được phần âm th́ biết được kỳ hạn chết sống.” Ngô Khôn giải thích rằng: “Dương” là mạch điều ḥa, c̣n có vị khí; “âm” là mạch rất bất ḥa, chân tạng thiên thắng, không c̣n vị khí. Ư nói nếu phân biệt được loại mạch c̣n điều ḥa, c̣n vị khí, th́ có thể biết nguồn gốc bệnh; nếu phân biệt được loại chân tạng âm mạch, tức loại mạch không c̣n vị khí, th́ có thể dự đoán được kỳ hạn sống chết.

Giải thích: Đây là chỗ nối giữa mạch học và dự hậu học. C̣n vị khí th́ c̣n cơ hội sống; mất vị khí, chân tạng lộ ra th́ tiên lượng rất xấu.

至其所困而死

Phần Hán Việt: Chí kỳ sở khốn nhi tử: chỉ chí kỳ sở bất thắng đích tạng khí đương vượng chi thời lệnh tắc tử, như tỳ bệnh chí can đương vượng chi thời, tắc thổ bất thắng mộc khắc, cố tử. Trương Giới Tân chú: “Chí kỳ sở khốn nhi tử, tử ư kỳ sở bất thắng dă, phàm niên, nguyệt, nhật, thời, kỳ hậu giai nhiên.”

Phần giải nghĩa: “Đến lúc bị khốn mà chết” nghĩa là khi bệnh truyền đến tạng mà bản tạng không thắng nổi, lại đúng vào lúc khí của tạng ấy đang vượng, th́ người bệnh có thể chết. Ví dụ tỳ bệnh đến lúc can khí đương vượng, th́ thổ không thắng được mộc, v́ thế dễ tử vong. Trương Giới Tân nói rằng: “Đến lúc bị khốn mà chết tức là chết ở tạng mà ḿnh không thắng nổi; phàm năm, tháng, ngày, giờ, quy luật ấy đều như vậy.”

Giải thích: Câu này nhấn mạnh rằng không chỉ có hướng truyền biến quyết định tiên lượng, mà c̣n phải xét thêm thời điểm vượng suy của tạng khí. Khi bệnh gặp đúng lúc bất lợi nhất th́ nguy cơ tử vong tăng cao.

Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn chủ yếu luận thuật ngũ tạng tật bệnh đích lưỡng chủng truyền biến phương thức cập kỳ dự hậu.

Phần giải nghĩa: Đoạn này chủ yếu bàn về hai phương thức truyền biến của bệnh ngũ tạng và tiên lượng của chúng.

Giải thích: Đây là câu tổng quát, cho biết nội dung chính là vừa nói về cách bệnh truyền giữa các tạng, vừa nói về ư nghĩa sống chết, nặng nhẹ của sự truyền ấy.

Phần Hán Việt: Ngũ tạng tật bệnh đích lưỡng chủng truyền biến phương thức: nhất vi nghịch hành truyền biến, tức tử bệnh truyền mẫu đích tật bệnh truyền biến phương thức, như can truyền thận, thận truyền phế, phế truyền tỳ, tỳ truyền tâm. Nhân dữ tương khắc nhi truyền đích thuận truyền phương thức bất đồng, cố viết “nghịch hành”, nhược tiến nhất bộ truyền biến chí khắc kỷ chi tạng, tạng khí bị khắc, chính khí cánh hư, tắc dự hậu sai. Như can bệnh truyền đáo phế, phế bệnh truyền đáo tâm, tâm bệnh truyền đáo thận, thận bệnh truyền đáo tỳ, tỳ bệnh truyền đáo can đẳng. Nhị vi thuận truyền, tức án tương khắc quan hệ nhi truyền biến đích phương thức, như can truyền tỳ, tỳ truyền thận, thận truyền tâm, tâm truyền phế, phế truyền can đẳng. Đăi ngũ tạng truyền biến, tạng khí dĩ kiệt, tựu yếu tử vong. Giá thị dĩ ngũ hành sinh khắc quan hệ thuyết minh nhân thể thị nhất cá thống nhất đích chỉnh thể, ngũ tạng chi gian tại sinh lư bệnh lư thượng đô hữu trước mật thiết đích liên hệ, nhậm hà nhất tạng phát bệnh, giai năng truyền biến chí kỳ tha tạng phủ, sở dĩ chẩn trị tật bệnh ưng tùy thời chú ư tật bệnh đích phát triển xu thế, pḥng chỉ kỳ truyền biến, tị miễn bệnh t́nh ác hóa.

Phần giải nghĩa: Bệnh ngũ tạng có hai cách truyền biến chính. Một là nghịch hành truyền biến, tức kiểu tử bệnh truyền mẫu, như can truyền sang thận, thận truyền sang phế, phế truyền sang tỳ, tỳ truyền sang tâm. V́ kiểu này khác với lối thuận truyền theo tương khắc, nên gọi là “nghịch hành”. Nếu bệnh c̣n truyền tiếp đến tạng khắc ḿnh, làm tạng khí bị chế, chính khí càng hư, th́ tiên lượng rất xấu. Ví dụ can bệnh truyền đến phế, phế bệnh truyền đến tâm, tâm bệnh truyền đến thận, thận bệnh truyền đến tỳ, tỳ bệnh truyền đến can. Hai là thuận truyền, tức truyền theo quan hệ tương khắc, như can truyền tỳ, tỳ truyền thận, thận truyền tâm, tâm truyền phế, phế truyền can. Khi bệnh truyền khắp năm tạng, tạng khí kiệt dần th́ sẽ đi đến tử vong. Tất cả điều này dùng quan hệ sinh khắc ngũ hành để giải thích rằng cơ thể là một chỉnh thể thống nhất; giữa năm tạng có liên hệ rất mật thiết về cả sinh lư lẫn bệnh lư, nên một tạng phát bệnh có thể truyền sang các tạng phủ khác. V́ thế khi chẩn trị phải luôn chú ư xu thế phát triển của bệnh để ngăn ngừa truyền biến và tránh bệnh nặng thêm.

Giải thích: Đoạn này có giá trị rất lớn về mặt lâm sàng. Nó nhắc người thầy thuốc không được chỉ nh́n bệnh ở một tạng cô lập, mà phải theo dơi xu hướng truyền sang tạng khác. Tư tưởng “pḥng truyền biến” ở đây chính là một nguyên tắc quan trọng của điều trị sớm.

Phần Hán Việt: Quan ư “nhất nhật nhất dạ ngũ phân chi, thử sở dĩ chiêm tử sinh chi tảo mộ dă” đích vấn đề, kết hợp 《Tố vấn. Sinh khí thông thiên luận》 hữu quan dương khí trú dạ tiêu trưởng biến hóa đích luận thuật lai khán, nhất nhật chi gian âm dương tiêu trưởng biến hóa dữ nhân thể đích cơ năng hoạt động xác hữu mật thiết quan hệ, vưu kỳ tại bệnh lư quá tŕnh trung biểu hiện cánh vi minh hiển, như “đán huệ, trú an, tịch gia, dạ thậm” (《Linh khu. Thuận khí nhất nhật phân vi tứ thời》). Nhân thử, như hà chính xác bả ác tật bệnh phát triển đích quy luật, thị cổ kim y gia nghiên cứu đích trọng yếu khóa đề. Tại thử cơ sở thượng, dự trắc tật bệnh đích tử sinh, thị hoàn toàn hữu khả năng đích.

Phần giải nghĩa: Về vấn đề “một ngày một đêm chia làm năm phần, đó là để đoán sớm muộn của sống chết”, nếu kết hợp với những luận thuật trong 《Tố vấn. Sinh khí thông thiên luận》 về sự tiêu trưởng biến hóa của dương khí theo ngày đêm, th́ có thể thấy rằng trong một ngày, sự biến hóa âm dương quả thực có quan hệ rất mật thiết với hoạt động chức năng của cơ thể, nhất là trong quá tŕnh bệnh lư th́ biểu hiện càng rơ. Ví dụ như quy luật “sáng tỉnh, ngày yên, chiều tăng, đêm nặng”. V́ vậy, làm sao nắm đúng quy luật phát triển của bệnh là một vấn đề rất quan trọng mà các y gia từ xưa đến nay đều nghiên cứu. Trên cơ sở đó, việc dự đoán sống chết của bệnh không phải là điều không thể làm được.

Giải thích: Phần này nối học thuyết truyền biến tạng phủ với học thuyết tiết luật ngày đêm. Cổ nhân cho rằng nếu nắm được quy luật vận hành của chính khí và tà khí theo thời gian, th́ có thể đoán được lúc bệnh chuyển nặng, thậm chí dự đoán được nguy cơ tử vong.




外邪侵犯人體的傳變規律及其治療

Phần Hán Việt: Ngoại tà xâm phạm nhân thể đích truyền biến quy luật cập kỳ trị liệu.

Phần giải nghĩa: Quy luật truyền biến của ngoại tà khi xâm phạm cơ thể và cách điều trị tương ứng.

Giải thích: Đây là tiêu đề mới, chuyển từ bệnh ngũ tạng sang bàn về đường đi, diễn biến và phép trị của ngoại tà.

Nguyên văn 1

Phần Hán Việt: Thị cố phong giả, bách bệnh chi trưởng dă. Kim phong hàn khách ư nhân, sử nhân hào mao tất trực, b́ phu bế nhi vi nhiệt, đương thị chi thời, khả hăn nhi phát dă. Hoặc tư bất nhân, thũng thống, đương thị chi thời, khả thang úy cập hỏa cứu thích nhi khứ chi.

Phần giải nghĩa: V́ vậy, phong là đầu mối của trăm bệnh. Nay nếu phong hàn xâm nhập vào người, khiến lông tóc dựng lên, da lông bế kín mà phát nhiệt, th́ ngay lúc ấy có thể dùng phép phát hăn để giải ra. Nếu tà lưu lại gây tê dại không biết đau ngứa, hoặc sưng đau, th́ vào lúc ấy có thể dùng tắm nước nóng, chườm nóng, cứu bằng lửa hay châm để khu tà đi.

Giải thích: Đoạn này nói về giai đoạn đầu của ngoại tà. Khi tà c̣n ở phần biểu hay mới vào kinh lạc nông, th́ phép trị nên lấy phát tán, ôn thông, cứu châm để đuổi tà ra ngoài, ngăn không cho nó truyền sâu.

Nguyên văn 2

Phần Hán Việt: Phất trị, bệnh nhập xá ư phế, danh viết phế tư, phát khái thượng khí. Phất trị, phế tức truyền nhi hành chi can, bệnh danh viết can tư, nhất danh viết quyết, hiếp thống xuất thực, đương thị chi thời, khả án nhược thích.

Phần giải nghĩa: Nếu không chữa, bệnh sẽ vào mà lưu ở Phế, gọi là phế tư, phát ra ho và khí nghịch lên. Nếu vẫn không chữa, Phế lại truyền sang Can, gọi là can tư, cũng gọi là quyết, biểu hiện là đau vùng sườn, ăn vào lại nôn ra. Đến lúc ấy có thể dùng xoa bóp hoặc châm để trị.

Giải thích: Ở đây ngoại tà đă từ biểu truyền vào tạng. Trước vào Phế rồi lan sang Can, cho thấy nếu bỏ qua giai đoạn đầu th́ bệnh ngày càng sâu hơn, biểu hiện cũng phức tạp hơn.

Phần Hán Việt: Phất trị, can truyền chi tỳ, bệnh danh viết tỳ phong, phát đản, phúc trung nhiệt, phiền tâm, xuất hoàng, đương thử chi thời, khả án khả dược khả dục. Phất trị, tỳ truyền chi thận, bệnh danh viết sán giả, thiểu phúc oan nhiệt nhi thống, xuất bạch, nhất danh viết cổ, đương thử chi thời, khả án khả dược.

Phần giải nghĩa: Nếu không chữa nữa, Can truyền sang Tỳ, bệnh gọi là tỳ phong, phát hoàng đản, bụng nóng, tâm phiền, tiểu tiện vàng. Đến lúc này có thể xoa bóp, dùng thuốc hoặc tắm trị. Nếu vẫn không chữa, Tỳ truyền sang Thận, bệnh gọi là sán hà, biểu hiện là vùng tiểu phúc nóng bức mà đau, tiểu ra đục trắng; cũng c̣n gọi là cổ. Lúc ấy có thể xoa bóp và dùng thuốc.

Giải thích: Bệnh tiếp tục truyền từ Can sang Tỳ rồi từ Tỳ sang Thận. Tức là càng đi sâu, bệnh càng từ biểu chuyển vào tạng phủ hạ tiêu, xuất hiện thấp nhiệt, khí kết, bạch trọc và đau tiểu phúc.

Phần Hán Việt: Phất trị, thận truyền chi tâm, bệnh cân mạch tương dẫn nhi cấp, bệnh danh viết xệ, đương thử chi thời, khả cứu khả dược. Phất trị, măn thập nhật, pháp đương tử. Thận nhân truyền chi tâm, tâm tức phục phản truyền nhi hành chi phế, phát hàn nhiệt, pháp đương tam tuế tử, thử bệnh chi thứ dă.

Phần giải nghĩa: Nếu c̣n không chữa, Thận truyền sang Tâm, làm cho gân mạch co kéo mà căng gấp, bệnh gọi là xệ, lúc ấy có thể cứu và dùng thuốc. Nếu vẫn không chữa, đầy mười ngày th́ theo lẽ có thể chết. Từ Thận truyền sang Tâm, rồi Tâm lại phản truyền sang Phế, phát ra hàn nhiệt, theo lư sẽ chết sau ba năm — hoặc theo một số chú giải là ba ngày — đó là thứ tự truyền của bệnh.

Giải thích: Đây là giai đoạn rất nặng. Bệnh đă truyền đến Tâm, rồi lại phản truyền sang Phế, chứng tỏ chính khí suy kiệt, tạng phủ liên hoàn bị liên lụy, nên tiên lượng rất xấu.

Phần Hán Việt: Nhiên kỳ tốt phát giả, bất tất trị ư truyền, hoặc kỳ truyền hóa hữu bất dĩ thứ, bất dĩ thứ nhập giả, ưu khủng bi hỉ nộ, lệnh bất đắc dĩ kỳ thứ, cố linh nhân hữu đại bệnh hĩ. Nhân nhi hỉ, đại hư, tắc thận khí thừa hĩ, nộ tắc can khí thừa hĩ, bi tắc phế khí thừa hĩ, khủng tắc tỳ khí thừa hĩ, ưu tắc tâm khí thừa hĩ, thử kỳ đạo dă. Cố bệnh hữu ngũ, ngũ ngũ nhị thập ngũ biến, cập kỳ truyền hóa. Truyền, thừa chi danh dă.

Phần giải nghĩa: Nhưng nếu bệnh phát đột ngột th́ không nhất định phải chữa theo thứ tự truyền biến. Có khi sự truyền hóa của bệnh không theo đúng thứ lớp, bởi v́ ưu, khủng, bi, hỉ, nộ có thể làm cho bệnh không đi theo trật tự thông thường, v́ vậy mới khiến người ta mắc bệnh lớn. Ví dụ v́ vui quá mà đại hư, th́ thận khí có thể thừa lên; giận th́ can khí thừa; buồn th́ phế khí thừa; sợ th́ tỳ khí thừa; lo th́ tâm khí thừa. Đó là đạo lư của nó. V́ thế bệnh có năm, năm lần năm thành hai mươi lăm biến, và lại c̣n có các h́nh thức truyền hóa khác nhau. “Truyền” ở đây tức là “thừa”.

Giải thích: Đoạn này nhấn mạnh rằng quy luật truyền bệnh tuy có thứ tự, nhưng không phải lúc nào cũng cứng nhắc. Yếu tố t́nh chí có thể làm rối loạn quy luật ấy, khiến bệnh bộc phát, nhảy tầng, hoặc biến hóa khác thường. Đây là một nhận xét rất sâu sắc về tính linh hoạt của bệnh cơ thực tế.

Chú thích

風者,百病之長

Phần Hán Việt: Phong giả, bách bệnh chi trưởng. Trưởng, thủ dă. Phong vi lục dâm chi thủ, thường vi ngoại tà trí bệnh đích tiên đạo, hựu thiện hành sổ biến, cố xưng bách bệnh chi trưởng.

Phần giải nghĩa: “Phong là đầu của trăm bệnh.” “Trưởng” nghĩa là đứng đầu. Phong là đầu của lục dâm, thường làm kẻ mở đường cho ngoại tà gây bệnh, lại có tính đi nhanh, biến hóa nhiều, nên được gọi là đầu mối của trăm bệnh.

Giải thích: Đây là cách nói rất nổi tiếng trong Trung y, nhấn mạnh vai tṛ quan trọng của phong tà trong ngoại cảm bệnh.

皮膚閉而為熱

Phần Hán Việt: B́ phu bế nhi vi nhiệt. Hàn tà thúc biểu, thấu lư bế tắc, dương khí nội uất, cố phát nhiệt.

Phần giải nghĩa: Da lông bế kín mà phát nhiệt là v́ hàn tà bó buộc phần biểu, làm tấu lư bế tắc, dương khí bị uất ở bên trong nên sinh sốt.

Giải thích: Đây là bệnh cơ rất điển h́nh của phong hàn biểu chứng có phát nhiệt.

痹不仁、腫痛

Phần Hán Việt: Tư bất nhân, thũng thống. Phong hàn lưu xá kinh mạch, bế trở mạch đạo, khí huyết vận hành bất sướng, cố kiến ma tư bất nhân, thũng thống chư chứng.

Phần giải nghĩa: Tê dại không biết đau ngứa, hoặc sưng đau là do phong hàn lưu lại ở kinh mạch, làm bế tắc đường mạch, khiến khí huyết vận hành không thông.

Giải thích: Đây là biểu hiện tà đă từ biểu nhập vào kinh lạc, gây tư chứng.

可湯熨及火灸刺而去之

Phần Hán Việt: Khả thang úy cập hỏa cứu thích nhi khứ chi. Thang, dụng nhiệt thủy tẩy dục; úy, dụng bố quả nhiệt dược tại thể biểu lai hồi ôn úy; hỏa cứu, dụng hỏa huân chước; thích, châm thích; khứ chi, tức khử trừ bệnh tà.

Phần giải nghĩa: Có thể dùng tắm nước nóng, chườm ấm bằng thuốc nóng, cứu bằng lửa, hoặc châm để đuổi tà đi.

Giải thích: Đây là các phép trị thiên về ôn thông, phát tán, rất thích hợp khi phong hàn c̣n ở nông hoặc ở kinh lạc.

肺痹

Phần Hán Việt: Phế tư. Bệnh chứng danh. Chỉ phế khí bế trở bất thông, dĩ phát khái thượng khí vi chủ chứng đích bệnh chứng.

Phần giải nghĩa: “Phế tư” là tên một chứng bệnh, chỉ t́nh trạng phế khí bế trở không thông, lấy ho và khí nghịch lên làm chủ chứng.

Giải thích: Khi ngoại tà vào sâu đến Phế, biểu hiện chủ yếu sẽ nằm ở hô hấp.

病名曰肝痹,一名曰厥

Phần Hán Việt: Bệnh danh viết can tư, nhất danh viết quyết. Can tư, bệnh chứng danh. Thử chỉ dĩ hiếp thống, thực nhập nhi xuất vi chủ chứng đích bệnh chứng. Trương Giới Tân chú: “Can khí thiện nghịch, cố nhất danh viết quyết。”

Phần giải nghĩa: Bệnh gọi là can tư, cũng gọi là quyết. Đây là chứng lấy đau vùng hông sườn và ăn vào lại nôn ra làm chủ chứng. Trương Giới Tân nói: v́ can khí vốn dễ nghịch lên, nên cũng gọi là “quyết”.

Giải thích: Ở đây “quyết” nhấn mạnh tính nghịch của can khí, chứ không chỉ đơn thuần là lạnh tay chân.

脅痛出食

Phần Hán Việt: Hiếp thống xuất thực. Hiếp thống, can bệnh dă; xuất thực, thực nhập nhi xuất, tỳ bệnh dă. Hiếp thống xuất thực, can bệnh truyền tỳ chi triệu.

Phần giải nghĩa: Đau hông sườn là biểu hiện của bệnh Can; ăn vào lại nôn ra là biểu hiện của bệnh Tỳ. Khi vừa có hiếp thống vừa có xuất thực th́ đó là dấu hiệu can bệnh đă bắt đầu truyền sang tỳ.

Giải thích: Đây là một ví dụ điển h́nh của việc từ triệu chứng lâm sàng mà nhận ra chiều hướng truyền biến của bệnh.

可按若刺

Phần Hán Việt: Khả án nhược thích. Án, án ma; nhược, dữ dă. Ngôn can tư khả dụng án ma ḥa châm thích tiến hành trị liệu.

Phần giải nghĩa: Có thể dùng xoa bóp và châm để điều trị can tư.

Giải thích: Phép trị ở giai đoạn này vẫn thiên về thông kinh điều khí, chưa hoàn toàn chỉ dùng nội dược.

脾風

Phần Hán Việt: Tỳ phong. Bệnh chứng danh. Thử chỉ dĩ phát đản, phúc trung nhiệt, phiền tâm, xuất hoàng vi chủ chứng đích bệnh chứng. Vương Băng chú: “Can khí ứng phong, mộc thắng tỳ thổ, thổ thụ phong khí, cố viết tỳ phong. Cái vi phong khí thông can nhi vi danh dă。”

Phần giải nghĩa: “Tỳ phong” là tên chứng bệnh, lấy hoàng đản, bụng nóng, phiền tâm, tiểu tiện vàng làm chủ chứng. Vương Băng giải thích rằng Can ứng với phong, Mộc thắng Tỳ thổ, Tỳ thổ bị phong khí xâm phạm nên gọi là “tỳ phong”.

Giải thích: Tuy gọi là tỳ phong, nhưng thực chất vẫn có liên hệ chặt chẽ với can phong và mộc khắc thổ.

發癉

Phần Hán Việt: Phát đản. Đản, thông đản, hoàng đản. Trương Chí Thông chú: “Phong dâm thấp thổ nhi thành nhiệt, cố thấp nhiệt nhi phát đản dă。”

Phần giải nghĩa: “Phát đản” tức phát sinh hoàng đản. Trương Chí Thông cho rằng phong tà xâm phạm thấp thổ hóa thành nhiệt, do đó thấp nhiệt mà sinh hoàng đản.

Giải thích: Câu này cho thấy hoàng đản ở đây là thấp nhiệt hoàng đản, không phải hư hàn.

出黃

Phần Hán Việt: Xuất hoàng. Chỉ tiểu tiện sắc hoàng.

Phần giải nghĩa: “Xuất hoàng” là nước tiểu vàng.

Giải thích: Đây là một biểu hiện cụ thể giúp nhận biết thấp nhiệt ở trung hạ tiêu.

疝瘕

Phần Hán Việt: Sán hà. Bệnh chứng danh. Thử chỉ tỳ kinh thấp nhiệt hạ chú ư thận, thấp nhiệt kết tụ thiểu phúc, khí cơ bị trở nhi dĩ thiểu phúc phiền nhiệt nhi thống, tiểu tiện bạch trọc vi chủ chứng đích bệnh chứng.

Phần giải nghĩa: “Sán hà” là tên chứng bệnh. Ở đây chỉ thấp nhiệt của tỳ kinh dồn xuống thận, kết tụ ở tiểu phúc, làm khí cơ bế trở, biểu hiện chủ yếu là vùng bụng dưới phiền nhiệt đau và tiểu tiện đục trắng.

Giải thích: Đây là bệnh đă xuống sâu ở hạ tiêu, liên quan cả tỳ, thận và bàng quang.

冤熱

Phần Hán Việt: Oan nhiệt. Ngô Khôn: “Oan nhiệt, phiền nhiệt dă。”

Phần giải nghĩa: “Oan nhiệt” nghĩa là bức bối, phiền nhiệt.

Giải thích: Đây là cách diễn tả cảm giác nóng bức uất lại ở tiểu phúc.

出白

Phần Hán Việt: Xuất bạch. Trương Giới Tân chú: “Sấu xuất bạch trọc dă。”

Phần giải nghĩa: “Xuất bạch” là tiểu tiện ra đục trắng.

Giải thích: Đây là dấu hiệu thường gợi ư thấp trọc hoặc hạ tiêu khí hóa thất điều.



Phần Hán Việt: Cổ. Bệnh chứng danh. Trương Giới Tân chú: “Nhiệt kết bất tán, khuy thực chân âm, như trùng chi hấp huyết, cố diệc danh viết cổ。” Phần giải nghĩa: “Cổ” là tên một chứng bệnh. Trương Giới Tân giải thích rằng nhiệt kết lâu ngày không tan, hao tổn chân âm, giống như sâu trùng hút máu, nên cũng gọi là cổ.

Giải thích: Tên gọi này nhấn mạnh tính chất kéo dài, âm tổn và ngầm hao tổn của bệnh.



Phần Hán Việt: Xệ. Cân mạch trừu súc chi chứng. Tâm chủ huyết mạch, tâm huyết bất túc, bất năng nhu dưỡng cân mạch, cân mạch thất dưỡng nhi vi xệ.

Phần giải nghĩa: “Xệ” là chứng co giật của gân mạch. V́ Tâm chủ huyết mạch, nếu tâm huyết không đủ th́ không nuôi được gân mạch, gân mạch mất nuôi dưỡng mà co giật.

Giải thích: Đây là chỗ bệnh đă truyền rất sâu, ảnh hưởng đến Tâm huyết và gân mạch.

滿十日,法當死

Phần Hán Việt: Măn thập nhật, pháp đương tử. Ngô Khôn chú: “Măn thập thiên tắc thiên can nhất chu, ngũ tạng sinh ư giai tức, cố tử。”

Phần giải nghĩa: “Đủ mười ngày th́ theo lẽ phải chết.” Ngô Khôn giải thích rằng mười ngày là một ṿng của thiên can, lúc ấy sinh ư của ngũ tạng đều dứt, nên chết.

Giải thích: Đây là cách dự hậu cổ điển, gắn bệnh t́nh với số học âm dương thiên can.

法當三歲死

Phần Hán Việt: Pháp đương tam tuế tử. Hoạt Thọ 《Độc Tố vấn sao》 chú: “Tam tuế, đương tác tam nhật。” Thử thời bệnh khí do tâm tái truyền chí phế, sử phế khí cánh suy, thậm chí bại tuyệt, cố viết tam nhật nhi tử.

Phần giải nghĩa: “Theo lẽ sẽ chết sau ba năm.” Nhưng Hoạt Thọ chú rằng “tam tuế” nên đọc là “tam nhật”. Ư là lúc này bệnh khí từ Tâm lại truyền sang Phế, làm phế khí càng suy, thậm chí bại tuyệt, cho nên có thể hiểu là ba ngày th́ chết.

Giải thích: Đây là một chỗ có dị giải văn bản. Cách hiểu “tam nhật” hợp với mạch văn bệnh cấp nặng hơn là “tam tuế”.

此病之次

Phần Hán Việt: Thử bệnh chi thứ. Cao Thế Thức chú: “Thượng văn ngũ tạng tương thông, di giai hữu thứ giả, tương sinh chi thứ dă; thử bệnh chi thứ, năi tương thắng chi thứ dă。”

Phần giải nghĩa: “Đây là thứ tự của bệnh.” Cao Thế Thức giải thích rằng chỗ trên nói ngũ tạng tương thông, sự chuyển dời có thứ tự, đó là thứ tự theo tương sinh; c̣n “thứ tự của bệnh” ở đây là nói thứ tự theo tương thắng.

Giải thích: Chú này giúp phân biệt hai loại tŕnh tự khác nhau: một là theo sinh, một là theo thắng, không nên lẫn lộn.

然其卒發者,不必治於傳

Phần Hán Việt: Nhiên kỳ tốt phát giả, bất tất trị ư truyền. Tốt, đồng thốt; tốt phát, đột nhiên phát tác, chỉ bạo phát đích cấp bệnh. Thử loại tật bệnh đích phát bệnh cấp sậu, bất án nhất ban đích truyền biến quy luật, cố trị liệu đương căn cứ bệnh nhân, chứng trạng cụ thể phân tích, bất tất câu nệ ư tương truyền chi thứ.

Phần giải nghĩa: Nhưng nếu bệnh phát đột ngột th́ không nhất định phải chữa theo thứ tự truyền biến. “Tốt phát” tức là phát bệnh cấp, đột ngột. Loại bệnh này phát sinh rất nhanh, không theo quy luật truyền biến thông thường, v́ vậy điều trị phải căn cứ nguyên nhân và triệu chứng cụ thể mà phân tích, không nên câu nệ vào thứ tự truyền bệnh.

Giải thích: Đây là một nhắc nhở rất quan trọng. Quy luật truyền biến chỉ là quy luật chung, c̣n lâm sàng thực tế có nhiều bệnh cấp tính, bạo phát, cần xử trí theo chứng và bệnh cơ hiện tại, không thể cứng nhắc bám theo lư thuyết truyền thứ tự.

不以次入者,憂恐悲喜怒

Phần Hán Việt: Bất dĩ thứ nhập giả, ưu khủng bi hỉ nộ: ưu, khủng, bi, hỉ, nộ đẳng t́nh chí trí bệnh, trực tiếp tổn thương ngũ tạng chi khí, cố bất y thứ tương truyền. Vương Băng chú: “Ưu khủng bi hỉ nộ, phát vô thường phân, xúc ngộ tắc phát, cố lệnh bệnh khí diệc bất thứ nhi sinh.”

Phần giải nghĩa: “Không vào theo thứ tự là do ưu, sợ, buồn, vui, giận.” Những t́nh chí như lo buồn, sợ hăi, bi thương, vui mừng, giận dữ khi gây bệnh th́ trực tiếp làm tổn thương khí của ngũ tạng, cho nên bệnh không nhất định truyền theo thứ tự thông thường. Vương Băng giải thích rằng: các loại ưu, khủng, bi, hỉ, nộ phát sinh không có quy luật cố định, hễ xúc chạm là phát, cho nên bệnh khí cũng phát sinh không theo thứ tự.

Giải thích: Câu này nhấn mạnh rằng bệnh do thất t́nh có thể trực tiếp đánh vào tạng khí, không nhất thiết đi theo lộ tŕnh biểu vào lư hay tạng này truyền sang tạng kia như ngoại cảm thông thường.

因而喜,大虚,則腎氣乘矣

Phần Hán Việt: Nhân nhi hỉ, đại hư, tắc thận khí thừa hĩ: thừa, dĩ cường lăng nhược dă. Ngô Khôn chú: “Hỉ tắc khí hoăn, cố quá ư hỉ, lệnh tâm hỏa hư, hư tắc thận khí thừa chi, thủy thắng hỏa dă.”

Phần giải nghĩa: V́ quá mừng mà thành đại hư, th́ thận khí sẽ thừa lên. “Thừa” nghĩa là lấy mạnh lấn yếu. Ngô Khôn giải thích: vui th́ khí thư hoăn, cho nên vui quá mức làm cho tâm hỏa hư; tâm đă hư th́ thận khí thừa lên, tức thủy thắng hỏa.

Giải thích: Đây là ví dụ cho thấy t́nh chí quá mức có thể làm mất cân bằng ngũ hành tạng phủ, từ đó phát sinh hiện tượng một tạng “thừa” lên tạng khác.

怒則肝氣乘矣

Phần Hán Việt: Nộ tắc can khí thừa hĩ: nộ vi can chí, đại nộ tắc can khí hoành nghịch thừa tỳ, vi mộc khắc thổ.

Phần giải nghĩa: Giận th́ can khí thừa lên. Giận là chí của Can; giận dữ quá mức khiến can khí hoành nghịch mà lấn sang Tỳ, tức là Mộc khắc Thổ.

Giải thích: Đây là cơ chế rất điển h́nh trong Trung y: can khí uất nghịch hoặc bốc mạnh sẽ dễ phạm tỳ vị.

悲則肺氣乘矣

Phần Hán Việt: Bi tắc phế khí thừa hĩ: bi vi phế chí, quá bi tắc phế khí uất nhi thừa can, vi kim khắc mộc.

Phần giải nghĩa: Buồn th́ phế khí thừa lên. Buồn là chí của Phế; buồn quá th́ phế khí uất lại rồi lấn sang Can, tức Kim khắc Mộc.

Giải thích: Câu này cho thấy bi thương không chỉ làm hại Phế, mà khi khí cơ mất điều đạt c̣n có thể ảnh hưởng sang Can.

恐則脾氣乘矣

Phần Hán Việt: Khủng tắc tỳ khí thừa hĩ: khủng vi thận chí, quá khủng tắc thận khí hư, bị tỳ thừa, vi thổ khắc thủy.

Phần giải nghĩa: Sợ th́ tỳ khí thừa lên. Sợ là chí của Thận; sợ quá làm thận khí hư, nên bị Tỳ lấn, tức là Thổ khắc Thủy.

Giải thích: Đây là cách giải thích theo ngũ hành: khi một tạng bị t́nh chí làm suy yếu th́ tạng khắc nó sẽ dễ thừa cơ lấn át.

憂則心氣乘矣

Phần Hán Việt: Ưu tắc tâm khí thừa hĩ: ưu vi phế chí, quá ưu tắc phế khí hư, bị tâm thừa, vi hỏa khắc kim.

Phần giải nghĩa: Lo buồn th́ tâm khí thừa lên. Ưu là chí của Phế; lo buồn quá mức làm phế khí hư, nên bị Tâm lấn sang, tức Hỏa khắc Kim.

Giải thích: Ưu thương Phế là nguyên lư quen thuộc, ở đây tiến thêm một bước nữa là giải thích sự “tương thừa” giữa các tạng sau khi một tạng bị hư.

此其道也

Phần Hán Việt: Thử kỳ đạo dă: giá thị tật bệnh bất y thứ tương truyền chi nguyên nhân. Trương Giới Tân chú: “Hoặc dĩ hữu dư nhi thừa bỉ, hoặc dĩ bất túc nhi bị thừa, giai thừa sở bất thắng, thử bất thứ chi đạo dă.”

Phần giải nghĩa: “Đó là đạo lư của nó.” Nghĩa là đây chính là nguyên nhân khiến bệnh không truyền theo thứ tự thông thường. Trương Giới Tân giải thích: hoặc do một bên hữu dư mà lấn bên kia, hoặc do một bên bất túc mà bị bên kia lấn, đều là quan hệ tương thừa ở chỗ không thắng nổi, đó chính là đạo lư của sự truyền không theo thứ tự.

Giải thích: Câu này tổng kết cơ chế “bất thứ truyền”, tức là bệnh có thể nhảy sang tạng khác do mất cân bằng ngũ hành, chứ không nhất thiết tuần tự như sách vở.

故病有五,五五二十五變

Phần Hán Việt: Cố bệnh hữu ngũ, ngũ ngũ nhị thập ngũ biến: nhân hữu ngũ tạng, nhất tạng hữu bệnh tắc kiêm truyền kỳ tha tứ tạng. Mỗi nhất tạng bệnh biến hữu ngũ, cố ngũ tạng bệnh biến vị ngũ ngũ nhị thập ngũ biến.

Phần giải nghĩa: Cho nên bệnh có năm loại lớn, năm lần năm thành hai mươi lăm biến. Con người có năm tạng; một tạng có bệnh th́ có thể kiêm truyền sang bốn tạng c̣n lại. Mỗi tạng có năm khả năng biến hóa, nên tổng cộng gọi là hai mươi lăm biến.

Giải thích: Đây là cách cổ nhân quy nạp số lượng biến hóa của bệnh theo hệ ngũ tạng và quan hệ giữa chúng.

傳,乘之名也

Phần Hán Việt: Truyền, thừa chi danh dă: truyền, truyền biến; thừa, dĩ cường lăng nhược. Tật bệnh truyền biến văng văng thừa hư nhi truyền, hàm hữu dĩ cường lăng nhược chi ư. Ngô Khôn chú: “Ngôn truyền giả, diệc thị tương thừa chi dị danh nhĩ.”

Phần giải nghĩa: “Truyền” là tên gọi khác của “thừa”. “Truyền” là truyền biến; “thừa” là mạnh lấn yếu. Sự truyền biến của bệnh phần nhiều là thừa chỗ hư mà truyền, hàm ư có sự mạnh lấn yếu. Ngô Khôn nói: gọi là “truyền” cũng chính là một tên khác của “tương thừa”.

Giải thích: Câu này nối khái niệm “truyền biến” với “tương thừa”, cho thấy truyền bệnh trong ngũ tạng không chỉ là di chuyển đơn thuần, mà là một quan hệ mất cân bằng quyền lực giữa các tạng.




Phân tích

Phần Hán Việt: Bản đoạn luận thuật liễu ngoại tà xâm phạm nhân thể đích truyền biến quy luật cập kỳ trị liệu.

Phần giải nghĩa: Đoạn này bàn về quy luật truyền biến của ngoại tà khi xâm phạm cơ thể và cách điều trị của nó.

Giải thích: Đây là câu tổng quát mở đầu phần phân tích.

Phần Hán Việt: Bản đoạn xiển thuật liễu ngoại tà xâm phạm nhân thể thị do biểu nhập lư, bệnh t́nh do khinh cập trọng. Tịnh dĩ thuận truyền vi lệ, thuyết minh ngũ tạng tật bệnh tương hỗ truyền biến đích quy luật. Đề thị đối ư tật bệnh yếu tố đáo kịp thời chẩn đoán, kịp thời trị liệu, đương bệnh tà thượng tại thiển biểu thời, tựu tích cực thái dụng châm thích, ngải cứu, án ma, dược vật, thang dục, úy phu đẳng các chủng trị liệu phương pháp khôi phục chính khí, khứ tà ngoại xuất. Nhất đán bệnh tà nhập lư nhập tạng, cánh yếu kư bệnh pḥng biến, tại chưởng ác ngũ tạng tật bệnh tương khắc nhi truyền đích quy luật đích cơ sở thượng, tiến hành hữu châm đối tính đích trị liệu. Hậu thế y gia Trương Trọng Cảnh sở thuyết đích “kiến can chi bệnh, tri can truyền tỳ, đương tiên thực tỳ”, tựu thị cơ ư ngũ tạng tật bệnh tương khắc nhi truyền đích quy luật đề xuất lai đích.

Phần giải nghĩa: Đoạn này giải thích rằng ngoại tà xâm phạm cơ thể thường đi từ biểu vào lư, bệnh t́nh từ nhẹ mà thành nặng. Đồng thời lấy thuận truyền làm ví dụ để nói rơ quy luật ngũ tạng bệnh có thể truyền biến lẫn nhau. Điều đó gợi ư rằng đối với bệnh tật phải làm được chẩn đoán kịp thời, điều trị kịp thời. Khi bệnh tà c̣n ở phần nông bên ngoài, phải tích cực dùng các phương pháp như châm, cứu, xoa bóp, thuốc, tắm thuốc, chườm ấm... để phục hồi chính khí và đuổi tà ra ngoài. Một khi bệnh tà đă nhập lư, nhập tạng, th́ càng phải “đă bệnh th́ pḥng biến”, nghĩa là pḥng ngừa bệnh truyền sâu thêm; trên cơ sở nắm được quy luật ngũ tạng tương khắc mà truyền, tiến hành điều trị có mục tiêu. Câu nổi tiếng của Trương Trọng Cảnh: “Thấy bệnh Can, biết Can sẽ truyền Tỳ, nên phải làm cho Tỳ vững trước”, chính là đề ra dựa trên quy luật này.

Giải thích: Phần này nhấn mạnh giá trị thực hành của lư luận truyền biến. Mục đích không phải chỉ để mô tả bệnh đi thế nào, mà để can thiệp sớm, chặn bệnh ngay từ khi c̣n ở nông hoặc trước khi nó truyền sang tạng khác.

Phần Hán Việt: Đăn thị, lâm sàng thượng tật bệnh đa chủng đa dạng, nhân đích thể chất hựu hữu sai dị, chứng hậu biểu hiện bất nhất, bệnh t́nh thập phần phức tạp. 《Nội kinh》 dĩ kinh nhận thức đáo, tật bệnh đích phát triển biến hóa bất thị “nghịch hành”, “thuận truyền” lưỡng chủng phương thức sở năng hàm cái đích. Chợt nhiên phát sinh đích tật bệnh, tịnh một hữu do biểu nhập lư đích quá tŕnh, như thương hàn trực trúng, ôn dịch bạo phát đẳng, sở dĩ thuyết “nhiên kỳ tốt phát giả, bất tất trị ư truyền”。 Tái như, thất t́nh trí bệnh, do nội nhi phát, tùy xúc nhi động, cố phát bệnh diệc bất dĩ kỳ thứ. Đề thị lâm sàng chẩn trị tật bệnh bất khả câu nệ ư ngũ hành quan hệ hạ đích “nghịch hành”, “thuận truyền”, cánh yếu ṭng thực tế xuất phát, linh hoạt vận dụng.

Phần giải nghĩa: Nhưng trên lâm sàng, bệnh tật rất nhiều loại, thể chất con người lại khác nhau, biểu hiện chứng hậu không giống nhau, cho nên bệnh t́nh vô cùng phức tạp. 《Nội kinh》 đă nhận ra rằng sự phát triển biến hóa của bệnh không thể chỉ gói gọn trong hai kiểu “nghịch hành” và “thuận truyền”. Những bệnh phát ra đột ngột nhiều khi không có quá tŕnh từ biểu vào lư, như thương hàn trực trúng, ôn dịch bộc phát, v́ thế mới nói “những bệnh phát đột ngột th́ không nhất thiết chữa theo đường truyền biến”. Lại như bệnh do thất t́nh th́ phát từ bên trong, hễ xúc động là phát, cho nên cũng không đi theo thứ tự truyền biến thông thường. Điều đó nhắc rằng khi chẩn trị trên lâm sàng, không được câu nệ cứng nhắc vào “nghịch hành”, “thuận truyền” dưới mô h́nh ngũ hành, mà phải xuất phát từ thực tế, vận dụng linh hoạt.

Giải thích: Đây là một điểm rất tiến bộ của 《Nội kinh》. Tuy có nêu quy luật, nhưng không thần thánh hóa quy luật. Cổ nhân thừa nhận lâm sàng thực tế phức tạp hơn lư thuyết, nên người thầy thuốc phải biết tùy bệnh mà ứng biến.




參考經文擷萃

Phần Hán Việt: Tham khảo kinh văn hiệt tụy.

Phần giải nghĩa: Trích tuyển các kinh văn tham khảo.

Giải thích: Phần dưới là các câu kinh văn được dẫn ra để bổ sung, đối chiếu và làm rơ thêm học thuyết bệnh nhân, bệnh cơ, chính tà, hư thực, t́nh chí, ẩm thực và truyền biến.

Phần Hán Việt: “Phù bách bệnh chi thủy sinh dă, giai sinh ư phong vũ hàn thử, âm dương hỉ nộ, ẩm thực cư xử, đại kinh tốt khủng, tắc huyết khí phân ly, âm dương phá tán, kinh lạc quyết tuyệt, mạch đạo bất thông, âm dương tương nghịch, vệ khí kê lưu, kinh mạch không hư, huyết khí bất thứ, năi thất kỳ thường。” (《Linh khu. Khẩu vấn》)

Phần giải nghĩa: Trăm bệnh lúc bắt đầu phát sinh đều do phong, vũ, hàn, thử, do pḥng sự thất tiết, do hỉ nộ, ăn uống, sinh hoạt, do kinh hăi, sợ hăi đột ngột mà ra; từ đó huyết khí phân ly, âm dương tán loạn, kinh lạc bị cách tuyệt, mạch đạo không thông, âm dương nghịch nhau, vệ khí đ́nh lưu, kinh mạch rỗng hư, huyết khí mất thứ tự, v́ thế mất đi trạng thái b́nh thường.

Giải thích: Câu này tổng kết rất cô đọng nguyên nhân bệnh và hậu quả của nó đối với khí huyết, âm dương và kinh lạc.

Phần Hán Việt: “Cố xuân thu đông hạ, tứ thời âm dương, sinh bệnh khởi ư quá dụng, thử vi thường dă。” (《Tố vấn. Kinh mạch biệt luận》)

Phần giải nghĩa: Cho nên xuân, thu, đông, hạ, bốn mùa âm dương, bệnh phát sinh thường bắt đầu từ sự dùng quá mức, đó là lẽ thường.

Giải thích: “Quá dụng” là một nguyên lư lớn, chỉ mọi sự quá mức trong sinh hoạt, t́nh chí, lao lực, pḥng sự, ẩm thực.

Phần Hán Việt: “Phong hàn thương h́nh, ưu khủng phẫn nộ thương khí. Khí thương tạng, năi bệnh tạng; hàn thương h́nh, năi ứng h́nh; phong thương cân mạch, cân mạch năi ứng. Thử h́nh khí ngoại nội chi tương ứng dă。” (《Linh khu. Thọ yểu cương nhu》)

Phần giải nghĩa: Phong hàn làm thương h́nh thể, ưu khủng phẫn nộ làm thương khí. Khí bị thương th́ bệnh ở tạng; hàn làm thương h́nh thể th́ bệnh ứng ở h́nh; phong làm thương cân mạch th́ cân mạch phát bệnh. Đó là sự tương ứng giữa h́nh và khí, ngoài và trong.

Giải thích: Câu này cho thấy nguyên nhân khác nhau th́ trước hết đánh vào những tầng khác nhau của cơ thể.

Phần Hán Việt: “Phù tà chi sinh dă, hoặc sinh ư âm, hoặc sinh ư dương. Kỳ sinh ư dương giả, đắc chi phong vũ hàn thử; kỳ sinh ư âm giả, đắc chi ẩm thực cư xử, âm dương hỉ nộ。” (《Tố vấn. Điều kinh luận》)

Phần giải nghĩa: Tà bệnh phát sinh, có khi sinh ở âm, có khi sinh ở dương. Cái sinh ở dương là do phong, vũ, hàn, thử; cái sinh ở âm là do ăn uống, sinh hoạt, pḥng sự thất tiết, hỉ nộ.

Giải thích: Đây là nguyên tắc phân loại lớn giữa ngoại cảm và nội thương.

Phần Hán Việt: “Thương thiên chi khí, bất đắc vô thường dă. Khí chi bất tập, thị vị phi thường, phi thường tắc biến hĩ...... biến chí tắc bệnh, sở thắng tắc vi, sở bất thắng tắc thậm, nhân nhi trọng cảm ư tà, tắc tử hĩ。” (《Tố vấn. Lục tiết tạng tượng luận》)

Phần giải nghĩa: Khí của trời xanh không thể không có thường độ. Khi khí không thuận theo quy luật ấy th́ gọi là bất thường; bất thường th́ sinh biến... Biến đến th́ thành bệnh; nếu gặp cái ḿnh thắng được th́ bệnh nhẹ, gặp cái ḿnh không thắng nổi th́ bệnh nặng; lại thêm cảm tà lần nữa th́ có thể chết.

Giải thích: Câu này nối liền bệnh cơ với thiên thời và ngũ hành thắng phục.

Phần Hán Việt: “Cố thiên chi tà khí, cảm tắc hại nhân ngũ tạng; thủy cốc chi hàn nhiệt, cảm tắc hại ư lục phủ; địa chi thấp khí, cảm tắc hại b́ nhục cân mạch。” (《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》)

Phần giải nghĩa: Tà khí của trời nếu cảm phải th́ hại ngũ tạng; hàn nhiệt của thủy cốc nếu cảm phải th́ hại lục phủ; thấp khí của đất nếu cảm phải th́ hại da thịt, gân mạch.

Giải thích: Đây là cách phân loại rất đẹp giữa thiên tà, thực tà và địa thấp theo bộ vị bị hại.

Phần Hán Việt: “Hư tà giả, bát chính chi hư tà khí dă. Chính tà giả, thân h́nh nhược dụng lực, hăn xuất, thấu lư khai, phùng hư phong, kỳ trúng nhân dă vi, cố mạc tri kỳ t́nh, mạc kiến kỳ h́nh。” (《Tố vấn. Bát chính thần minh luận》)

Phần giải nghĩa: Hư tà là khí tà bất chính của tám phương. Chính tà là khi thân h́nh vừa mới dùng sức, ra mồ hôi, tấu lư mở, lại gặp hư phong, th́ tà vào người rất vi tế, cho nên khó biết rơ t́nh trạng, khó thấy rơ h́nh chứng.

Giải thích: Câu này nhấn mạnh tính kín đáo, khó nhận biết của tà khi nhân lúc cơ thể sơ hở mà vào.

Phần Hán Việt: “Hư tà chi trúng thân dă, sái tích động h́nh. Chính tà chi trúng nhân dă vi, tiên kiến ư sắc, bất tri ư thân, nhược hữu nhược vô, nhược vong nhược tồn, hữu h́nh vô h́nh, mạc tri kỳ t́nh。” (《Linh khu. Tà khí tạng phủ bệnh h́nh》)

Phần giải nghĩa: Hư tà trúng vào thân th́ làm người rét run, rung động h́nh thể. Chính tà vào người th́ rất vi tế, trước thấy ở sắc mặt, thân thể lại chưa rơ, như có như không, như mất như c̣n, nửa hữu h́nh nửa vô h́nh, khó biết hết t́nh trạng.

Giải thích: Đây là mô tả rất tinh tế về giai đoạn rất sớm của bệnh.

Phần Hán Việt: “Chính khí giả, chính phong dă, ṭng nhất phương lai, phi thực phong, hựu phi hư phong dă. Tà khí giả, hư phong chi tặc thương nhân dă, kỳ trúng nhân dă thâm, bất năng tự khứ. Chính phong giả, kỳ trúng nhân dă thiển, hợp nhi tự khứ, kỳ khí lai nhu nhược, bất năng thắng chân khí, cố tự khứ。” (《Linh khu. Thích tiết chân tà》)

Phần giải nghĩa: Chính khí ở đây là chính phong, đến từ một phương, không phải thực phong, cũng không phải hư phong. Tà khí th́ là loại hư phong làm hại người, vào người sâu và không tự lui được. C̣n chính phong th́ vào người nông, hợp một lúc rồi tự lui, v́ khí của nó đến mềm yếu, không thắng nổi chân khí, nên tự đi mất.

Giải thích: Câu này phân biệt giữa tà phong và chính phong, rất quan trọng trong nhận định ngoại cảm.

Phần Hán Việt: “Lệ giả, hữu vinh khí nhiệt phủ, kỳ khí bất thanh, cố sử kỳ tỵ trụ hoại nhi sắc bại, b́ phu dương hội, phong hàn khách ư mạch nhi bất khứ, danh viết lệ phong, hoặc danh viết hàn nhiệt。” (《Tố vấn. Phong luận》)

Phần giải nghĩa: Chứng lệ là do doanh khí nhiệt ở trong, khí không thanh, cho nên làm hỏng sống mũi, sắc mặt bại xấu, da thịt lở loét; lại thêm phong hàn lưu ở mạch mà không đi, gọi là lệ phong, hoặc gọi là hàn nhiệt.

Giải thích: Đây là một ví dụ về nội nhiệt phối hợp với ngoại tà lâu ngày mà thành bệnh nặng ở da thịt và mạch.

Phần Hán Việt: “Thị cố xúc dịch tư lự giả tắc thương thần, thần thương tắc khủng cụ lưu dâm nhi bất chỉ. Nhân bi ai động trung giả, kiệt tuyệt nhi thất sinh. Hỉ lạc giả, thần đạn tán nhi bất tàng. Sầu ưu giả, khí bế tắc nhi bất hành. Thịnh nộ giả, mê hoặc nhi bất trị. Khủng cụ giả, thần đăng đạn nhi bất thu. Tâm xúc dịch tư lự tắc thương thần...... tỳ ưu sầu nhi bất giải tắc thương ư...... can bi ai động trung tắc thương hồn...... phế hỉ lạc vô cực tắc thương phách.......... thận thịnh nộ nhi bất chỉ tắc thương chí...... khủng cụ nhi bất giải tắc thương tinh。” (《Linh khu. Bản thần》)

Phần giải nghĩa: Cho nên sợ hăi lo nghĩ th́ làm thương thần; thần bị thương th́ sợ hăi lan tràn không dứt. Bi ai động đến bên trong th́ kiệt tuyệt mà mất sức sống. Vui mừng quá th́ thần tán mà không tàng. Sầu ưu th́ khí bế tắc không hành. Giận dữ quá th́ mê hoặc mà không yên. Khủng cụ th́ thần dao động mà không thu lại. Tâm v́ sợ lo mà thương thần; Tỳ v́ ưu sầu không giải mà thương ư; Can v́ bi ai động trung mà thương hồn; Phế v́ vui mừng vô cực mà thương phách; Thận v́ giận dữ không dứt mà thương chí; khủng cụ không giải th́ thương tinh.

Giải thích: Đây là đoạn kinh rất trọng yếu về thất t́nh và ngũ thần, làm rơ mỗi loại t́nh chí quá mức đều có đối tượng tổn thương đặc thù.

Phần Hán Việt: “Cố bi ai sầu ưu tắc tâm động, tâm động tắc ngũ tạng lục phủ giai dao。” (《Linh khu. Khẩu vấn》)

Phần giải nghĩa: Cho nên bi ai, sầu ưu th́ làm Tâm động; Tâm động th́ ngũ tạng lục phủ đều dao động theo.

Giải thích: Câu này cho thấy Tâm là trung tâm thống lĩnh thần minh, một khi Tâm bị ảnh hưởng th́ toàn thân đều bị liên lụy.

Phần Hán Việt: “Cửu thị thương huyết, cửu ngọa thương khí, cửu tọa thương nhục, cửu lập thương cốt, cửu hành thương cân, thử ngũ cửu lao sở bệnh dă。” (《Linh khu. Cửu châm luận》)

Phần giải nghĩa: Nh́n lâu hại huyết, nằm lâu hại khí, ngồi lâu hại cơ nhục, đứng lâu hại xương, đi lâu hại gân; đó là bệnh do năm loại lao lâu ngày gây ra.

Giải thích: Đây là học thuyết “ngũ cửu lao”, rất quan trọng trong dưỡng sinh và bệnh cơ học nội thương.

Phần Hán Việt: “H́nh lạc chí khổ, bệnh sinh ư mạch...... h́nh lạc chí lạc, bệnh sinh ư nhục...... h́nh khổ chí lạc, bệnh sinh ư cân...... h́nh khổ chí khổ, bệnh sinh ư yết ải...... h́nh sác kinh khủng, kinh lạc bất thông, bệnh sinh ư bất nhân...... thị vị ngũ h́nh chí dă。” (《Tố vấn. Huyết khí h́nh chí》)

Phần giải nghĩa: Thân thể nhàn mà ư chí khổ th́ bệnh sinh ở mạch; thân thể nhàn mà tinh thần cũng vui th́ bệnh sinh ở nhục; thân thể khổ mà ư chí vui th́ bệnh sinh ở gân; thân thể khổ mà tinh thần cũng khổ th́ bệnh sinh ở họng; thân thể luôn kinh sợ th́ kinh lạc không thông, bệnh sinh thành tê dại. Đó gọi là năm loại quan hệ giữa h́nh và chí.

Giải thích: Đoạn này bàn về tương quan giữa thân thể và tinh thần trong sinh bệnh, rất có giá trị về mặt tâm thân y học.

「飲食自倍,腸胃乃傷。」(《素問.痹論》)

Phần Hán Việt: “Ẩm thực tự bội, trường vị năi thương。” (《Tố vấn. Tư luận》)

Phần giải nghĩa: Ăn uống gấp bội quá mức, th́ trường vị bị tổn thương.

Giải thích: Đây là nguyên tắc rất cơ bản trong bệnh học do ẩm thực.

Phần Hán Việt: “Hoàng Đế vấn ư Thiếu Du viết: Ngũ vị nhập ư khẩu dă, các hữu sở tẩu, các hữu sở bệnh. Toan tẩu cân, đa thực chi, linh nhân lung. Hàm tẩu huyết, đa thực chi, linh nhân khát. Tân tẩu khí, đa thực chi, linh nhân động tâm. Khổ tẩu cốt, đa thực chi, linh nhân biến ẩu. Cam tẩu nhục, đa thực chi, linh nhân oản tâm. Dư tri kỳ nhiên dă, bất tri kỳ hà do, nguyện văn kỳ cố. Thiếu Du đáp viết: Toan nhập ư vị, kỳ khí sáp dĩ thu, thượng chi lưỡng tiêu, phất năng xuất nhập dă, bất xuất tức lưu ư vị trung, vị trung ḥa ôn, tắc hạ chú bàng quang, bàng quang chi bào bạc dĩ nọa, đắc toan tắc súc quyển, ước nhi bất thông, thủy đạo bất hành, cố lung. Âm giả, tích cân chi sở chung dă, cố toan nhập nhi tẩu cân hĩ. Hoàng Đế viết: Hàm tẩu huyết, đa thực chi, linh nhân khát, hà dă? Thiếu Du viết: Hàm nhập ư vị, kỳ khí thượng tẩu trung tiêu, chú ư mạch, tắc huyết khí tẩu chi, huyết dữ hàm tương đắc, tắc ngưng, ngưng tắc vị trung trấp chú chi, chú chi tắc vị trung kiệt, kiệt tắc yết lộ tiêu, cố thiệt bản can nhi thiện khát. Huyết mạch giả, trung tiêu chi đạo dă, cố hàm nhập nhi tẩu huyết hĩ. Hoàng Đế viết: Tân tẩu khí, đa thực chi, linh nhân động tâm, hà dă? Thiếu Du viết: Tân nhập ư vị, kỳ khí tẩu ư thượng tiêu, thượng tiêu giả, thụ khí nhi doanh chư dương giả dă, khương cửu chi khí huân chi, doanh vệ chi khí, bất thời thụ chi, cửu lưu tâm hạ, cố động tâm. Tân dữ khí câu hành, cố tân nhập nhi dữ hăn câu xuất. Hoàng Đế viết: Khổ tẩu cốt, đa thực chi, linh nhân biến ẩu, hà dă? Thiếu Du viết: Khổ nhập ư vị, ngũ cốc chi khí, giai bất năng thắng khổ, khổ nhập hạ quản, tam tiêu chi đạo, giai bế nhi bất thông, cố biến ẩu. Xỉ giả, vị chi sở chung dă, cố khổ nhập nhi tẩu cốt, cố nhập nhi phục xuất tri kỳ tẩu cốt dă. Hoàng Đế viết: Cam tẩu nhục, đa thực chi, linh nhân oản tâm, hà dă? Thiếu Du viết: Cam nhập ư vị, kỳ khí nhược tiểu, bất năng thượng chí ư thượng tiêu, nhi dữ cốc lưu ư vị trung giả, linh nhân nhu nhuận giả dă, vị nhu tắc hoăn, hoăn tắc cổ động, cổ động tắc linh nhân oản tâm. Kỳ khí ngoại thông ư nhục, cố cam tẩu nhục。” (《Linh khu. Ngũ vị luận》)

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi Thiếu Du rằng: Năm vị vào miệng, mỗi vị có chỗ nó đi đến, cũng có bệnh mà nó gây ra. Chua đi vào gân, ăn nhiều th́ sinh lung bế; mặn đi vào huyết, ăn nhiều th́ khát; cay đi vào khí, ăn nhiều th́ làm tâm rỗng bồn chồn; đắng đi vào xương, ăn nhiều th́ nôn; ngọt đi vào thịt, ăn nhiều th́ làm khó chịu trong tâm vị. Ta biết là như vậy nhưng chưa rơ nguyên do, xin nghe giải thích. Thiếu Du đáp: Vị chua vào vị, khí của nó sáp mà thu, làm hai tiêu trên khó xuất nhập; lưu trong vị rồi hạ xuống bàng quang, khiến bàng quang co rút, thủy đạo không thông, nên thành lung. Chua chủ đi vào gân, nên nói chua đi gân. Vị mặn vào vị, khí đi lên trung tiêu nhập mạch; huyết gặp mặn th́ dễ ngưng, làm dịch vị bị hao, họng khô, lưỡi khô nên khát. Vị cay vào vị rồi đi lên thượng tiêu, lâu lưu ở tâm hạ nên làm bồn chồn, rỗng tức trong ngực; lại v́ cay đi cùng khí nên cũng cùng mồ hôi mà ra. Vị đắng vào vị, làm bế đường tam tiêu nên sinh nôn. Vị ngọt vào vị, khí nhẹ yếu, lưu ở vị, khiến vị mềm nhăo rồi sinh cổ động, làm khó chịu bứt rứt trong tâm vị.

Giải thích: Đoạn dài này là một ví dụ rất điển h́nh cho tư tưởng “ngũ vị各有所走, 各有所病”, tức mỗi vị vừa có sở trường dưỡng một phần của cơ thể, lại vừa có thể gây bệnh nếu dùng quá mức. Đây là nền tảng quan trọng của dưỡng sinh ẩm thực và dùng thuốc theo vị.

「正氣存內,邪不可干。」(《素問.刺法論》)

Phần Hán Việt: “Chính khí tồn nội, tà bất khả can。” (《Tố vấn. Thích pháp luận》)

Phần giải nghĩa: Chính khí ở trong đầy đủ th́ tà không thể xâm phạm.

Giải thích: Đây là một trong những câu cốt lơi nhất của y học cổ truyền về pḥng bệnh và phát bệnh.

「邪之所湊,其氣必虛。」(《素問.評熱病論》)

Phần Hán Việt: “Tà chi sở thấu, kỳ khí tất hư。” (《Tố vấn. B́nh nhiệt bệnh luận》)

Phần giải nghĩa: Nơi nào tà khí tụ đến th́ nơi ấy tất khí đă hư.

Giải thích: Câu này bổ sung cho câu trên, nhấn mạnh rằng phát bệnh là kết quả của cả tà khí và chính khí suy.

Hán Việt: “Hoàng Đế viết: Ngũ tạng chi trúng phong nại hà? Kỳ Bá viết: Âm dương câu cảm, tà năi đắc văng。” (《Linh khu. Tà khí tạng phủ bệnh h́nh》)

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Ngũ tạng bị trúng phong là thế nào? Kỳ Bá đáp: Khi âm dương đều cùng bị cảm ứng th́ tà mới vào được.

Giải thích: Ư nói ngoại tà muốn vào được tạng phủ sâu th́ phải có sự mất điều ḥa cả trong lẫn ngoài.




「故邪之所在,皆為不足。」(《靈樞.口問》)

Phần Hán Việt: “Cố tà chi sở tại, giai vi bất túc。” (《Linh khu. Khẩu vấn》)

Phần giải nghĩa: Cho nên nơi nào tà đang ở, nơi đó đều là bất túc.

Giải thích: Đây là cách nói rất cô đọng về mối quan hệ giữa tà và hư: tà sở dĩ lưu lại được v́ chính khí tại chỗ ấy đă không đầy đủ.

Phần Hán Việt: “Dĩ thân chi hư, nhi phùng thiên chi hư, lưỡng hư tương cảm, kỳ khí chí cốt, nhập tắc thương ngũ tạng, công hầu cứu chi, phất năng thương dă, cố viết thiên kỵ bất khả bất tri dă。” (《Tố vấn. Bát chính thần minh luận》)

Phần giải nghĩa: Lấy cái hư của thân mà gặp cái hư của trời, hai cái hư cảm ứng nhau, tà khí có thể vào đến xương, vào rồi th́ làm thương ngũ tạng. Người thầy thuốc giỏi phải biết cứu chữa đúng lúc; v́ vậy nói rằng điều kiêng kỵ của trời không thể không biết.

Giải thích: Đây là một cách nói khác của “lưỡng hư tương đắc, năi khách kỳ h́nh”, đồng thời nhấn mạnh vai tṛ biết thiên thời trong trị bệnh.

Phần Hán Việt: “Nguyện văn nhân chi hữu bất khả bệnh giả, chí tận thiên thọ, tuy hữu thâm ưu đại khủng, xúc dịch chi chí, do bất năng giảm dă. Thậm hàn đại nhiệt, bất năng thương dă. Kỳ hữu bất ly b́nh chướng thất nội, hựu vô xúc dịch chi khủng, nhiên bất miễn ư bệnh giả, hà dă, nguyện văn kỳ cố. Kỳ Bá viết: Ngũ tạng lục phủ, tà chi xá dă, thỉnh ngôn kỳ cố. Ngũ tạng giai tiểu giả, thiểu bệnh, khổ tiêu tâm, đại sầu ưu. Ngũ tạng giai đại giả, hoăn ư sự, nan sử dĩ ưu. Ngũ tạng giai cao giả, hiếu cao cử thố. Ngũ tạng giai hạ giả, hiếu xuất nhân hạ. Ngũ tạng giai kiên giả, vô bệnh. Ngũ tạng giai thúy giả, bất ly ư bệnh. Ngũ tạng giai đoan chính giả, ḥa lợi đắc nhân tâm. Ngũ tạng giai thiên khuynh giả, tà tâm nhi thiện đạo, bất khả dĩ vi nhân, b́nh phản phục ngôn ngữ dă。” (《Linh khu. Bản tạng》)

Phần giải nghĩa: Xin nghe về người không dễ mắc bệnh, sống hết tuổi trời, dù có ưu sầu sâu nặng hay kinh sợ lớn cũng không tổn hại, gặp lạnh nhiều nóng nhiều cũng không bị thương. Nhưng lại có người ở măi trong nhà kín, không có điều ǵ kinh sợ, mà vẫn không tránh khỏi bệnh, là v́ sao? Kỳ Bá đáp: Ngũ tạng lục phủ là chỗ tà lưu trú. Rồi giải thích rằng h́nh chất, lớn nhỏ, cao thấp, kiên脆, đoan chính hay lệch thiên của ngũ tạng đều liên quan đến khuynh hướng mắc bệnh và tính t́nh con người.

Giải thích: Đoạn này là tư liệu rất quan trọng về thể chất học của 《Nội kinh》. Nó cho thấy bệnh tật không chỉ do ngoại tà mà c̣n do bẩm phú tạng phủ khác nhau.

Phần Hán Việt: “Đế viết: Bệnh thành nhi biến hà vị? Kỳ Bá viết: Phong thành vi hàn nhiệt, đản thành vi tiêu trung, thành vi điên tật, cửu phong vi tôn tiết, mạch phong thành vi lệ, bệnh chi biến hóa, bất khả thắng số。” (《Tố vấn. Mạch yếu tinh vi luận》)

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Bệnh thành rồi mà biến đi là thế nào? Kỳ Bá đáp: Phong có thể biến thành hàn nhiệt, đản có thể biến thành tiêu trung, có thể thành điên tật, phong lâu ngày có thể thành tiết tả, mạch phong có thể thành lệ bệnh; sự biến hóa của bệnh th́ không thể kể hết.

Giải thích: Câu này nhấn mạnh tính biến hóa vô cùng phức tạp của bệnh, không thể lấy một chứng danh mà hiểu cố định.

Phần Hán Việt: “Hoàng Đế vấn viết: Hà vị hư thực? Kỳ Bá đối viết: Tà khí thịnh tắc thực, tinh khí đoạt tắc hư。” (《Tố vấn. Thông b́nh hư thực luận》)

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Thế nào gọi là hư và thực? Kỳ Bá đáp: Tà khí thịnh th́ là thực; tinh khí bị tổn đoạt th́ là hư.

Giải thích: Đây là định nghĩa kinh điển nhất về hư thực trong Trung y.

「夫實者,氣入也;虚者,氣出也;氣實者,熱也;氣虛者,寒也。」(《素問.刺志論》)

Phần Hán Việt: “Phù thực giả, khí nhập dă; hư giả, khí xuất dă; khí thực giả, nhiệt dă; khí hư giả, hàn dă。” (《Tố vấn. Thích chí luận》)

Phần giải nghĩa: Thực là khí vào; hư là khí ra. Khí thực th́ thành nhiệt; khí hư th́ thành hàn.

Giải thích: Câu này dùng ngôn ngữ rất giản yếu để nối hư thực với hàn nhiệt.




「陰勝則陽病,陽勝則陰病。陽勝則熱,陰勝則寒。」(《素問.陰陽應象大論》)

Phần Hán Việt: “Âm thắng tắc dương bệnh, dương thắng tắc âm bệnh. Dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tắc hàn。” (《Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận》)

Phần giải nghĩa: Âm thắng th́ dương bị bệnh, dương thắng th́ âm bị bệnh. Dương thắng th́ sinh nhiệt, âm thắng th́ sinh hàn.

Giải thích: Đây là nguyên lư cơ bản nhất của bệnh cơ hàn nhiệt trong học thuyết âm dương.

Phần Hán Việt: “Đế viết: Kinh ngôn dương hư tắc ngoại hàn, âm hư tắc nội nhiệt, dương thịnh tắc ngoại nhiệt, âm thịnh tắc nội hàn, dư dĩ văn chi hĩ, bất tri kỳ sở do nhiên dă. Kỳ Bá viết: Dương thụ khí ư thượng tiêu, dĩ ôn b́ phu phân nhục chi gian. Kim hàn khí tại ngoại, tắc thượng tiêu bất thông, thượng tiêu bất thông, tắc hàn khí độc lưu ư ngoại, cố hàn lật. Đế viết: Âm hư sinh nội nhiệt nại hà? Kỳ Bá viết: Hữu sở lao quyện, h́nh khí suy thiểu, cốc khí bất thịnh, thượng tiêu bất hành, hạ quản bất thông, vị khí nhiệt, nhiệt khí huân hung trung, cố nội nhiệt. Đế viết: Dương thịnh sinh ngoại nhiệt nại hà? Kỳ Bá viết: Thượng tiêu bất thông lợi, tắc b́ phu trí mật, thấu lư bế tắc, huyền phủ bất thông, vệ khí bất đắc tiết việt, cố ngoại nhiệt. Đế viết: Âm thịnh sinh nội hàn nại hà? Kỳ Bá viết: Quyết khí thượng nghịch, hàn khí tích ư hung trung nhi bất tả, bất tả tắc ôn khí khứ, hàn độc lưu, tắc huyết ngưng khấp, ngưng tắc mạch bất thông, kỳ mạch thịnh đại dĩ sáp, cố trung hàn。” (《Tố vấn. Điều kinh luận》)

Phần giải nghĩa: Hoàng Đế nói: Kinh nói dương hư th́ ngoài lạnh, âm hư th́ trong nóng, dương thịnh th́ ngoài nóng, âm thịnh th́ trong lạnh, ta đă nghe rồi nhưng chưa rơ v́ sao. Kỳ Bá giải thích rằng: dương khí nhận khí ở thượng tiêu để ôn ấm da thịt. Nếu hàn khí ở ngoài th́ thượng tiêu không thông, hàn khí lưu ở ngoài nên sinh rét run. Âm hư sinh nội nhiệt là do lao quyện, h́nh khí suy, cốc khí không đủ, thượng tiêu không hành, vị khí hóa nhiệt hun ở ngực nên thành nội nhiệt. Dương thịnh sinh ngoại nhiệt là do thượng tiêu không thông, da thịt quá kín, huyền phủ không thông, vệ khí không phát tiết được nên thành ngoại nhiệt. Âm thịnh sinh nội hàn là do quyết khí nghịch lên, hàn tích ở trong ngực không tả ra được, ôn khí rút đi, hàn độc ở lại, huyết ngưng, mạch tắc, v́ thế thành nội hàn.

Giải thích: Đoạn này là một mẫu mực của phân tích bệnh cơ hàn nhiệt, hư thực, thượng tiêu và khí huyết. Nó cho thấy mỗi loại hàn nhiệt đều có cơ chế riêng, không thể chỉ nh́n nóng lạnh bề ngoài mà quyết định.

Trường Xuân dịch
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-04-16 11:38:18
Đệ thất giảng –HOÀNG ĐẾ NỘI KINH CHẨN PHÁP(第七講 診法)
(Chẩn sát bệnh t́nh chi phương pháp bao quát vọng văn vấn thiết tứ chẩn):
Phương pháp chẩn đoán bệnh bao gồm bốn phép: nh́n (vọng), nghe/ngửi (văn), hỏi (vấn), bắt mạch/sờ (thiết).
(Thị thông quá cảm giác khí quan chi trực quan cảm giác, đối tật bệnh tiến hành tương đối toàn diện chi quan sát dữ liễu giải):
Đây là cách sử dụng trực tiếp các giác quan để quan sát và hiểu bệnh một cách tương đối toàn diện.
(Thông quá tinh thần h́nh thái ngũ quan xỉ thiệt phu sắc mao phát nhị tiện đẳng chi vọng chẩn):
Thông qua vọng chẩn, quan sát tinh thần, h́nh thể, ngũ quan, răng lưỡi, sắc da, tóc và đại tiểu tiện.
(Khả liễu giải bệnh nhân toàn thân dữ cục bộ chi t́nh huống):
Từ đó có thể nắm được t́nh trạng toàn thân và từng bộ phận của bệnh nhân.
(Thông quá văn chẩn liễu giải hô hấp ngôn ngữ thanh âm khí tức khứu vị chi biến hóa):
Thông qua văn chẩn, nhận biết sự thay đổi của hơi thở, lời nói, âm thanh và mùi cơ thể.
(Thông quá vấn chẩn liễu giải phát bệnh kinh quá dữ tự giác chứng trạng cập sinh tồn hoàn cảnh ẩm thực đẳng):
Thông qua vấn chẩn, t́m hiểu quá tŕnh phát bệnh, triệu chứng chủ quan và các yếu tố như môi trường sống, ăn uống.
(Thông quá thiết chẩn liễu giải mạch tượng cơ phu hung phúc thủ túc đẳng chi biến hóa):
Thông qua thiết chẩn, đánh giá mạch tượng, da thịt, vùng ngực bụng và tay chân.
(Nội Kinh trung chẩn sát bệnh t́nh chi phương pháp biến cập toàn thân thượng hạ nội ngoại nội dung quảng phú):
Trong Nội Kinh, phương pháp chẩn đoán bao quát toàn thân, từ trong ra ngoài, nội dung rất phong phú.
(Tứ chẩn phương pháp tại Nội Kinh trung đa dĩ thuật cập kỳ trung dĩ vọng thiết nhị chẩn vi toàn diện):
Bốn phương pháp chẩn đoán đều đă được tŕnh bày, trong đó vọng chẩn và thiết chẩn là đầy đủ nhất.
(Nội Kinh chi vọng chẩn trọng tại ngũ sắc chẩn nhan diện phân bộ vọng chẩn cập thân h́nh động thái vọng chẩn):
Vọng chẩn trong Nội Kinh chú trọng quan sát ngũ sắc, phân vùng khuôn mặt và động thái cơ thể.
(Đối nhăn thiệt đẳng quan khiếu diệc hữu sát nghiệm kư thuật):
Ngoài ra c̣n có ghi chép về việc quan sát mắt và lưỡi.
a(Thiết chẩn nội dung tối vi phong phú đề xuất chẩn xích phu thiết mạch môn án cục bộ đẳng phương pháp):
Thiết chẩn là phần phong phú nhất, bao gồm xem da, bắt mạch và sờ nắn từng vùng.
(Mạch chẩn phân tam bộ cửu hậu thốn khẩu dữ nhân nghênh thốn khẩu hợp chẩn):
Mạch chẩn chia thành các phương pháp như tam bộ cửu hậu, thốn khẩu và phối hợp nhân nghênh – thốn khẩu.
(Căn cứ mạch học lư luận hựu phân vận khí tạng phủ kinh lạc mạch pháp):
Theo lư luận, lại chia thành mạch pháp theo vận khí, tạng phủ và kinh lạc.
(Mạch tượng hữu phù trầm tŕ sác hoạt sáp hoăn cấp huyền hồng trường đoản đại tiểu tế nhược đại tán khẩn kiên hoành suyễn hư thực táo tĩnh đẳng nhị thập dư chủng):
Mạch tượng có hơn 20 loại như phù, trầm, tŕ, sác, hoạt, sáp, hoăn, cấp, huyền, hồng… phản ánh các trạng thái khác nhau của cơ thể.
(Hựu h́nh tượng miêu thuật ngũ tạng khí tuyệt vị khí toàn vô chi chân tạng mạch):
C̣n mô tả các loại “chân tạng mạch” khi ngũ tạng suy kiệt, vị khí mất hoàn toàn.
(Luận mạch tượng dữ thời tiết quan hệ tường thuật tứ thời ngũ tạng b́nh mạch bệnh mạch tử mạch):
Có phân tích mối liên hệ giữa mạch và thời tiết, phân biệt mạch b́nh thường, mạch bệnh và mạch tử theo bốn mùa.
(Vấn chẩn kư vấn sở thủy bệnh diệc vấn sở phương bệnh trọng thị sinh hoạt hoàn cảnh tinh thần trạng thái cập hỉ ố):
Vấn chẩn vừa hỏi bệnh sử vừa hỏi triệu chứng hiện tại, đồng thời chú trọng môi trường sống và trạng thái tinh thần.
(Văn chẩn thiệp cập thính thanh âm dữ khứu khí vị đăn nội dung thiểu nhi tán):
Văn chẩn gồm nghe âm thanh và ngửi mùi, nhưng nội dung tương đối ít và rải rác.
(Tứ chẩn lư luận kiến lập ư chỉnh thể quan niệm chi thượng):
Lư luận tứ chẩn được xây dựng trên quan điểm cơ thể là một chỉnh thể thống nhất.
(Nhân thể nội ngoại tương ứng hữu chư nội tất h́nh chư ngoại):
Bên trong và bên ngoài có quan hệ tương ứng, bên trong có ǵ th́ bên ngoài biểu hiện ra.
(Dĩ ngă tri bỉ dĩ biểu tri lư):
Dùng cái đă biết để suy ra cái chưa biết, từ biểu hiện bên ngoài suy ra bên trong.
(Dĩ ngă tri bỉ tức dĩ thường trắc biến):
Lấy trạng thái b́nh thường làm chuẩn để phát hiện sự bất thường.
(Dĩ biểu tri lư tức ṭng ngoại tri nội):
Từ biểu hiện bên ngoài suy ra t́nh trạng bên trong cơ thể.
(Yêu cầu y sinh tại lâm chứng thời, yếu án chiếu chính thường nhân chi sinh lư tiêu chuẩn khứ hành lượng bệnh nhân chi t́nh huống, thông quá đối tỷ giám biệt, khứ phát hiện vi tiểu chi biến hóa):
Yêu cầu thầy thuốc khi lâm sàng phải lấy tiêu chuẩn sinh lư b́nh thường làm chuẩn để đánh giá bệnh nhân, thông qua so sánh phân biệt để phát hiện những biến đổi rất nhỏ.
(Đồng thời thông quá quan sát liễu giải bệnh nhân biểu hiện ư ngoại chi các chủng bệnh lư biểu tượng, căn cứ kỳ nội tại liên hệ, khứ phân tích nhận thức nhân thể nội bộ bệnh lư biến hóa):
Đồng thời, thông qua quan sát các biểu hiện bệnh lư bên ngoài của bệnh nhân, dựa vào mối liên hệ bên trong của chúng để phân tích và nhận biết biến đổi bệnh lư bên trong cơ thể.
(Nội Kinh ṭng nhân thể âm dương nội ngoại tương hỗ liên hệ chi chỉnh thể quan niệm xuất phát, nhận vi hữu tố dưỡng chi y sinh, năng đối các chủng lâm sàng biểu hiện gia dĩ tổng hợp khảo sát):
Nội Kinh xuất phát từ quan điểm chỉnh thể về mối liên hệ âm dương trong ngoài của cơ thể, cho rằng người thầy thuốc có tŕnh độ có thể tổng hợp xem xét mọi biểu hiện lâm sàng.
(Tịnh vận dụng âm dương lư luận tiến hành quy nạp phân tích, động sát bệnh t́nh như thanh thủy minh kính phản ánh vật tượng chi chân thiết):
Đồng thời vận dụng lư luận âm dương để quy nạp phân tích, từ đó nh́n rơ bệnh t́nh giống như gương sáng phản chiếu sự vật một cách rơ ràng.
(Hợp nhi sát chi, thiết nhi nghiệm chi, kiến nhi đắc chi, nhược thanh thủy minh kính chi bất thất kỳ h́nh dă):
Tổng hợp quan sát, kiểm tra, xác nhận rồi mới kết luận, giống như nước trong gương sáng không làm sai lệch h́nh ảnh.
(Phân tích bệnh t́nh chi phương pháp, tắc thị vận dụng trung y lư luận tiến hành trừu tượng tư biện, bả tứ chẩn sở đắc chi cảm tính tài liệu tiến hành lư tính gia công):
Phương pháp phân tích bệnh t́nh là vận dụng lư luận Trung y để tư duy trừu tượng, xử lư các dữ liệu cảm tính thu được từ tứ chẩn thành nhận thức lư tính.
(Thông quá hiện tượng bả ác tật bệnh chi bản chất, đối tật bệnh tác xuất chính xác phán đoán):
Thông qua hiện tượng để nắm được bản chất bệnh và đưa ra chẩn đoán chính xác.
(Nội Kinh cường điệu “thiết mạch động tĩnh, nhi thị tinh minh, sát ngũ sắc, quan ngũ tạng hữu dư bất túc, lục phủ cường nhược, h́nh chi thịnh suy, dĩ thử tham ngũ, quyết sinh tử chi phân”):
Nội Kinh nhấn mạnh phải kết hợp bắt mạch, quan sát thần sắc, sắc mặt, t́nh trạng tạng phủ và h́nh thể để tổng hợp đánh giá, từ đó quyết định sống chết.
(Sở vị “tham ngũ”, thị chỉ đối tứ chẩn sở đắc tiến hành quy nạp phân tích, tỷ giảo ấn chứng):
“Tham ngũ” nghĩa là tổng hợp, so sánh và đối chiếu các thông tin thu được từ tứ chẩn.
(Dĩ liễu giải tật bệnh cơ chuyển cập dự hậu hảo hoại):
Từ đó hiểu được cơ chế bệnh và tiên lượng tốt xấu.
(Nội Kinh nhận vi tất tu “tứ chẩn hợp tham” phương năng chính xác biện chứng, tránh miễn sai lầm):
Nội Kinh cho rằng phải kết hợp cả bốn phép chẩn đoán mới có thể biện chứng chính xác, tránh sai sót.
(Năng hợp sắc mạch, khả dĩ vạn toàn):
Nếu kết hợp được sắc mặt và mạch tượng th́ có thể chẩn đoán toàn diện.
(Kiến kỳ sắc, tri kỳ bệnh, mệnh viết minh; án kỳ mạch, tri kỳ bệnh, mệnh viết thần; vấn kỳ bệnh, tri kỳ xứ, mệnh viết công):
Nh́n sắc biết bệnh gọi là “minh”; bắt mạch biết bệnh gọi là “thần”; hỏi bệnh biết vị trí gọi là “công”.
(Cố tri nhất tắc vi công, tri nhị tắc vi thần, tri tam tắc thần thả minh dă):
Biết một phương diện là giỏi, biết hai là tinh, biết ba th́ vừa tinh vừa sáng suốt.
(Tốt tŕ thốn khẩu, hà bệnh năng trúng, vọng ngôn tác danh, vi thô sở cùng):
Nếu chỉ dựa vào bắt mạch mà đoán bệnh tùy tiện th́ chỉ là tŕnh độ thấp, dễ sai lầm.
(Dĩ “thiên nhân tương ứng” chi chỉnh thể quan vi chỉ đạo, căn cứ nhân thể dữ ngoại tại hoàn cảnh chi quan hệ):
Lấy quan điểm “thiên nhân tương ứng” làm chỉ đạo, xem xét mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường.
(Nội Kinh nhận vi thời không hoàn cảnh nhân tố đối nhân thể chi ảnh hưởng, quyết định tật bệnh chi phát sinh phát triển):
Nội Kinh cho rằng yếu tố thời gian và môi trường ảnh hưởng đến cơ thể, quyết định sự phát sinh và phát triển của bệnh.
(Phân tích bệnh t́nh tất tu kết hợp thời lệnh quư tiết, khí hậu biến hóa): Khi phân tích bệnh phải kết hợp với mùa tiết và biến đổi khí hậu.
(Sở vị “vô thất thiên tín, vô nghịch khí nghi”):
Tức là không được trái với quy luật tự nhiên và khí hậu.
(Xuân hạ nhi mạch trầm sáp, thu đông nhi mạch phù đại, mệnh viết nghịch tứ thời):
Nếu mùa xuân hạ mà mạch trầm sáp, mùa thu đông mà mạch phù đại th́ gọi là trái với quy luật bốn mùa.
(Thuyết minh nhân thể dữ ngoại giới khí hậu bất tương thích, nội ngoại thất điều, tắc vi nan trị chi chứng):
Điều này cho thấy cơ thể không thích ứng với môi trường, mất cân bằng trong ngoài, dẫn đến bệnh khó chữa.
(Đắc nhất chi t́nh, dĩ tri sinh tử):
Nắm được quy luật này có thể dự đoán sống chết.
(Chỉ hữu chưởng ác nhân dữ hoàn cảnh tương ứng chi t́nh huống, phương năng phán đoán dự hậu hảo hoại):
Chỉ khi hiểu rơ mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường mới có thể đánh giá tiên lượng bệnh.
(Thử vi Nội Kinh chẩn pháp chi nhất đại đặc điểm):
Đây là một đặc điểm nổi bật của chẩn pháp trong Nội Kinh.
(Chẩn mạch độc thủ thốn khẩu chi nguyên lư cập chẩn bệnh chú ư sự hạng):
Nguyên lư bắt mạch chỉ ở thốn khẩu và những điểm cần chú ư khi chẩn bệnh.
(Khí khẩu hà dĩ độc vi ngũ tạng chủ):
V́ sao thốn khẩu (khí khẩu) lại đại diện cho ngũ tạng?
(Vị giả, thủy cốc chi hải, lục phủ chi đại nguyên dă):
Vị là biển của thủy cốc, nguồn lớn của lục phủ.
(Ngũ vị nhập khẩu, tàng ư vị, dĩ dưỡng ngũ tạng khí):
Ngũ vị vào miệng, chứa ở dạ dày, nuôi dưỡng khí của ngũ tạng.
(Khí khẩu diệc thái âm dă):
Khí khẩu thuộc kinh Thái Âm.
(Thị dĩ ngũ tạng lục phủ chi khí vị, giai xuất ư vị, biến kiến ư khí khẩu):
V́ vậy khí của ngũ tạng lục phủ đều xuất phát từ vị và biểu hiện ở thốn khẩu.
(Ngũ khí nhập tỵ, tàng ư tâm phế, tâm phế hữu bệnh, nhi tỵ vi chi bất lợi):
Ngũ khí vào mũi, liên quan đến tâm và phế; khi tâm phế có bệnh th́ mũi sẽ bị ảnh hưởng.
(Phàm trị bệnh tất sát kỳ hạ, thích kỳ mạch, quan kỳ chí ư, dữ kỳ bệnh dă):
Khi chữa bệnh phải xem xét toàn diện: mạch, ư chí và t́nh trạng bệnh.
(Câu ư quỷ thần giả, bất khả dữ ngôn chí đức):
Người mê tín quỷ thần th́ không thể nói đến đạo lư y học cao sâu.
(Ố ư châm thạch giả, bất khả dữ ngôn chí xảo):
Người sợ châm cứu th́ không thể nói đến kỹ thuật tinh xảo.
(Bệnh bất hứa trị giả, bệnh tất bất trị, trị chi vô công dă):
Người không chịu chữa th́ bệnh không thể khỏi, điều trị cũng không có hiệu quả.
Chú thích
1/(Khí khẩu): Chỉ bộ vị chẩn mạch ở động mạch quay phía trong đầu xương quay của hai tay. C̣n gọi là mạch khẩu, thốn khẩu. Trương Giới Tân chú rằng: “Nghĩa của khí khẩu có ba tên: thuộc thủ Thái âm Phế, là nơi kinh mạch của phế đi qua; phế chủ khí, sự thịnh suy của khí biểu hiện ở đây, nên gọi là khí khẩu; phế triều bách mạch, nơi hội lớn của mạch tụ lại ở đây, nên gọi là mạch khẩu; mạch xuất từ Thái uyên, dài một thốn chín phân, nên gọi là thốn khẩu. Tuy tên có ba, nhưng thực chất chỉ là một.”
2/(Biến hiện ư khí khẩu): Chữ “kiến” ở đây đồng với “hiện”, nghĩa là biểu hiện ra. Ư nói sự biến hóa khí huyết của tạng phủ có thể biểu hiện tại bộ vị khí khẩu.
3/(Tất sát kỳ hạ): Chữ “hạ”, bản 《Thái tố》 chép là “thượng hạ”. Dương Thượng Thiện chú rằng: “Cái cốt yếu của việc chữa bệnh là phải trên xét nhân nghênh, dưới chẩn thốn khẩu, khiến phù hợp với mạch hậu, lại c̣n quan sát có hay không có chí ư; nếu không có chí ư th́ không thể chữa được.”
4/(Chí đức): “Chí” nghĩa là rất cao, cao nhất. “Chí đức” ở đây chỉ lư luận y học khoa học ở mức cao nhất.
5/(Chí xảo): “Xảo” nghĩa là kỹ xảo, kỹ thuật. “Chí xảo” chỉ kỹ thuật chữa bệnh cao siêu.
(Bản đoạn luận thuật chẩn mạch độc thủ thốn khẩu chi nguyên lư cập chẩn bệnh chi chú ư sự hạng): Đoạn này bàn về nguyên lư v́ sao chẩn mạch chỉ lấy thốn khẩu, đồng thời nói đến những điểm cần chú ư khi chẩn bệnh.
(Độc thủ thốn khẩu chẩn sát tạng phủ tật bệnh chi cơ chế tại ư): Cơ chế của việc chỉ lấy mạch thốn khẩu để chẩn đoán bệnh tạng phủ nằm ở mấy điểm sau:
(1, nhân khí khẩu chi bộ vị thị thủ Thái âm Phế kinh sở quá chi động mạch, phế chủ khí): Thứ nhất, v́ vị trí khí khẩu là nơi động mạch đi qua thuộc kinh thủ Thái âm Phế, mà phế chủ khí. Như câu nói “chư khí giả, giai thuộc ư phế”, phế lại là trưởng của các tạng, chủ trị tiết, thông qua công năng tuyên phát và túc giáng của phế mà ngũ tạng lục phủ toàn thân được nuôi dưỡng, công năng sinh lư được điều ḥa.
(2, phế triều bách mạch, mạch hội Thái uyên): Thứ hai, phế triều bách mạch, mạch hội ở Thái uyên. Khí huyết trong toàn thân, từ đại kinh đến tiểu lạc, đều hội về phế rồi mới phân bố ra khắp cơ thể. V́ vậy huyết mạch ở mọi nơi trong thân thể đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên hệ với phế; sự thịnh suy của các tạng phủ cũng tất sẽ phản ánh ở Phế kinh, cho nên tại khí khẩu có thể chẩn đoán t́nh trạng khí huyết thịnh suy của toàn thân, kinh mạch, ngũ tạng lục phủ.
(3, mạch dĩ vị khí vi bản, hữu vị khí tắc sinh, vô vị khí tắc tử, vị khí thất thường tắc bệnh): Thứ ba, mạch lấy vị khí làm gốc; có vị khí th́ sống, không có vị khí th́ chết, vị khí thất thường th́ sinh bệnh. Khí khẩu có thể phản ánh t́nh trạng vị khí trong mạch, bởi v́ kinh thủ Thái âm Phế khởi từ trung tiêu, xuống lạc đại trường, ṿng qua vị khẩu, lên cách thuộc phế; khí huyết của mười hai kinh vận hành bắt đầu ở phế và cũng quy về phế, cho nên sự thịnh suy của vị khí trong mạch, cũng như có hay không có vị khí, đều có thể phản ánh rất rơ ở khí khẩu.
(Kinh văn hoàn cường điệu toàn diện chẩn sát chi trọng yếu tính): Kinh văn c̣n nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chẩn sát toàn diện.
(Phàm trị bệnh, tất sát kỳ hạ, thích kỳ mạch, quan kỳ chí ư, dữ kỳ bệnh dă): Khi chữa bệnh phải xem xét đầy đủ các mặt. Ngoài việc chẩn mạch ra, c̣n phải quan sát các triệu chứng, thể chứng ở toàn thân trên dưới, cùng với sự biến đổi về tinh thần, t́nh chí của người bệnh.
(Y sinh toàn diện chẩn sát thị đối tật bệnh tác xuất chính xác chẩn đoán chi cơ sở, diệc thị trị liệu tật bệnh chi tiền đề): Việc thầy thuốc chẩn sát một cách toàn diện là cơ sở để đưa ra chẩn đoán đúng, đồng thời cũng là tiền đề để điều trị bệnh.
(Kinh văn đặc biệt cáo giới bất khả câu ư quỷ thần, yếu phá trừ mê tín, tương tín khoa học): Kinh văn đặc biệt răn rằng không được câu nệ vào quỷ thần, phải phá bỏ mê tín và tin vào y học, khoa học.
(Hoạn giả yếu tích cực tiếp thụ trị liệu, vận dụng y học khoa học chi phương pháp thị trị dũ tật bệnh chi duy nhất đồ kính): Người bệnh cần tích cực tiếp nhận điều trị; vận dụng phương pháp y học khoa học là con đường đúng đắn để chữa khỏi bệnh. Những quan điểm này đến nay vẫn c̣n ư nghĩa lâm sàng rất quan trọng.
(Quan kỳ chí ư): Câu này nghĩa là t́m hiểu tinh thần và ư chí của người bệnh, có hai ư nghĩa trong chẩn đoán và điều trị.
(Nhất thị ṭng tinh thần ư chí thị phủ thông tuệ, khả biện biệt ngũ tạng tinh khí chi thịnh suy, phán đoán dự hậu cát hung): Một là, từ việc tinh thần ư chí của người bệnh có sáng suốt hay không, có thể phân biệt sự thịnh suy của tinh khí ngũ tạng, từ đó phán đoán tiên lượng tốt xấu. 《Tố vấn. Di tinh biến khí luận》 nói: “Đắc thần giả xương, thất thần giả vong.” 《Linh khu. Bản thần》 cũng nói: “Phàm thích chi pháp, tiên tất bản ư thần.”
(Nhị thị liễu giải bệnh gia thị phủ tương tín y học khoa học ḥa y sinh, dĩ tiện tiếp thụ tịnh tích cực phối hợp trị liệu): Hai là, cần biết người bệnh có tin vào y học và tin vào thầy thuốc hay không, để từ đó họ có thể tiếp nhận và tích cực phối hợp điều trị. Nếu “câu ư quỷ thần”, “ố ư châm thạch”, “bệnh bất hứa trị”, th́ đó đều là những yếu tố tinh thần không có lợi cho việc điều trị bệnh.
(Tâm phế hữu bệnh, nhi tị vi chi bất lợi): Câu này là biểu hiện lâm sàng và cũng là điểm chẩn đoán được đặt ra trên cơ sở “ngũ khí nhập tị tàng ư tâm phế”.
(Tâm phế cư thượng tiêu hung trung, ngũ khí do tị nhi nhập, tiên tàng ư tâm phế, nhiên hậu do tâm chủ chi huyết mạch, phế chủ chi tuyên phát bố ư chu thân): Tâm và phế ở thượng tiêu vùng ngực; ngũ khí từ mũi đi vào, trước hết tàng ở tâm phế, sau đó nhờ huyết mạch do tâm chủ và công năng tuyên phát của phế mà phân bố đi khắp cơ thể.
(Nhược nhị tạng hữu bệnh, thụ nạp thanh khí công năng bất túc, bất cận hội xuất hiện hung muộn, đoản khí đẳng chứng trạng, thả khả biểu hiện vi tị bất lợi): Nếu hai tạng này có bệnh, công năng tiếp nhận thanh khí bị suy kém, th́ không chỉ xuất hiện các triệu chứng như ngực bức, hơi ngắn, mà c̣n có thể biểu hiện thành “mũi không thông lợi”.
(Kỳ chứng trạng hoặc biểu hiện vi hô hấp bất sướng, hoặc vi khứu giác thất linh): Những biểu hiện ấy có thể là hô hấp không thông sướng(畅), hoặc là khứu giác kém, không thể ngửi.
(Chẩn bệnh chi nguyên tắc dữ phương pháp): Nguyên tắc và phương pháp chẩn bệnh.
(Hoàng Đế vấn viết: Chẩn pháp hà như? Kỳ Bá đối viết: Chẩn pháp thường dĩ b́nh đán): Hoàng Đế hỏi rằng: Phép chẩn bệnh như thế nào? Kỳ Bá đáp rằng: Phép chẩn bệnh thường nên lấy lúc sáng sớm làm thích hợp.
(Âm khí vị động, dương khí vị tán, ẩm thực vị tiến, kinh mạch vị thịnh, lạc mạch điều quân, khí huyết vị loạn): Khi ấy âm khí chưa bị xao động, dương khí chưa bị tán ra, chưa ăn uống, kinh mạch chưa thịnh, lạc mạch điều ḥa, khí huyết chưa rối loạn.
(Cố năi khả chẩn hữu quá chi mạch): Cho nên lúc đó mới có thể chẩn ra được mạch bệnh một cách rơ ràng.
(Thiết mạch động tĩnh, nhi thị tinh minh, sát ngũ sắc, quan ngũ tạng hữu dư bất túc, lục phủ cường nhược, h́nh chi thịnh suy, dĩ thử tham ngũ, quyết tử sinh chi phân): Bắt mạch để xét động tĩnh, xem mắt, quan sát ngũ sắc, xét ngũ tạng hữu dư hay bất túc, lục phủ mạnh hay yếu, h́nh thể thịnh hay suy, đem các mặt ấy đối chiếu tổng hợp mà phán đoán cát hung, sống chết.
(B́nh đán): Là lúc sáng sớm khi mặt trời vừa nhô lên khỏi đường chân trời.
(Âm khí vị động, dương khí vị tán): “Động” là bị khuấy động, “tán” là hao tán. Hai câu này có thể hiểu hỗ tương với nhau. V́ vào lúc sáng sớm, con người tuy đă tỉnh mà chưa hoạt động, âm dương chi khí c̣n ở trạng thái tương đối yên tĩnh.
(Quá): Nghĩa gốc là lỗi, ở đây dẫn nghĩa thành bệnh biến.
(Tinh minh): Chỉ đôi mắt. “Thị tinh minh” là quan sát thần thái của mắt, sức nh́n mạnh yếu, đồng tử, ḷng đen, ḷng trắng, mi mắt cùng các t́nh trạng khác.
(Tham ngũ): Là đem nhiều sự vật đối chiếu, kiểm chứng lẫn nhau. Trương Giới Tân nói: “Nghĩa của tham ngũ là lấy ba mặt để so sánh gọi là tham, lấy năm loại để quy loại gọi là ngũ; tức là phản quan lẫn nhau, bàn luận giống khác, cốt để t́m ra chỗ vi ẩn.”
(Quyết tử sinh chi phân): “Quyết” là phán đoán; “tử sinh” là chỉ tiên lượng cát hung; “phân” là phân biệt.
(Bản đoạn chỉ xuất chẩn bệnh chi nguyên tắc hữu nhị): Đoạn này chỉ ra hai nguyên tắc chẩn bệnh.
(Nhất thị chẩn đoán chi thời gian dĩ b́nh đán vi nghi): Một là thời điểm chẩn đoán thích hợp nhất là lúc sáng sớm.
(Nhị thị đa chủng chẩn pháp hợp tham): Hai là phải phối hợp nhiều phương pháp chẩn đoán với nhau.
(B́nh đán thị chẩn bệnh, đặc biệt thị thiết mạch chi tối giai thời gian): Buổi sáng sớm là thời điểm tốt nhất để chẩn bệnh, đặc biệt là bắt mạch.
(Nhân vi kinh quá nhất dạ chi hưu tức, nhân thể nội âm dương khí huyết chính xử ư tương đối b́nh tĩnh chi trạng thái, tịnh thả thượng vị tiến thực dữ vận động, tắc ngoại giới chi can nhiễu diệc bị bài trừ, sở dĩ hữu bệnh chi mạch tượng tối dung dị bị chẩn sát xuất lai): V́ sau một đêm nghỉ ngơi, âm dương khí huyết trong cơ thể đang ở trạng thái tương đối yên tĩnh, lại chưa ăn uống và vận động, nên những can nhiễu từ bên ngoài cũng được loại bỏ; do đó mạch bệnh dễ được nhận ra nhất.
(Kỳ thực chất thị chẩn bệnh tất tu bảo tŕ “tĩnh”): Bản chất của việc này là khi chẩn bệnh cần giữ được trạng thái “tĩnh”.
(Dĩ sử bệnh nhân khí huyết bất thụ kỳ tha nhân tố can nhiễu nhi tương đối b́nh tĩnh, gia dĩ hoàn cảnh chi an tĩnh, giá dạng tài tiện ư phân biệt xuất bệnh mạch): Làm cho khí huyết của người bệnh không bị những yếu tố khác quấy nhiễu mà giữ được tương đối ổn định, lại thêm môi trường yên tĩnh, như vậy mới dễ phân biệt được mạch bệnh.
(Đối b́nh đán chẩn mạch chi thời gian quy định bất tất câu nệ, nhi chỉ nghi thủ kỳ pháp độ): Tuy nhiên không nhất thiết phải câu nệ cứng nhắc vào giờ sáng sớm, mà nên nắm lấy tinh thần phương pháp ấy.
(Lâm sàng thượng bất khả năng đối mỗi cá hoạn giả quân thái dụng b́nh đán chẩn mạch pháp): Trên lâm sàng, không thể với mọi bệnh nhân đều chỉ dùng phép bắt mạch lúc sáng sớm.
(Đăn ưng tận khả năng nhượng bệnh nhân xử ư tương đối an tĩnh chi trạng thái, bài trừ nội ngoại hoàn cảnh đối tượng chi can nhiễu, sử mạch tượng năng phản ánh bệnh nhân chi chân thực t́nh huống): Nhưng cần cố gắng để người bệnh ở trạng thái tương đối yên tĩnh, loại bỏ các can nhiễu trong ngoài, để mạch tượng phản ánh đúng t́nh trạng thực của bệnh nhân.
(Lâm sàng thượng hữu hứa đa kiểm tra tật bệnh chi phương pháp diệc thường tuyển trạch thanh thần không phúc thời tiến hành, như cơ sở thể ôn, huyết chi, huyết đường, can công năng, cơ sở đại tạ đẳng, kỳ đạo lư thị tương đồng đích): Nhiều phương pháp kiểm tra bệnh hiện nay cũng thường chọn lúc sáng sớm, lúc bụng đói để tiến hành, như thân nhiệt cơ bản, mỡ máu, đường huyết, chức năng gan, chuyển hóa cơ bản..., đạo lư là giống nhau.
(Đa chủng chẩn pháp hợp tham, thị Nội Kinh chẩn pháp học chi nhất quán tư tưởng): Phối hợp nhiều phương pháp chẩn đoán để cùng tham chiếu là tư tưởng nhất quán trong học thuyết chẩn pháp của Nội Kinh.
(Thiết mạch, sát thần, vọng sắc, dĩ cập thẩm sát tạng phủ chi cường nhược ḥa h́nh thể chi thịnh suy, đa pháp tịnh dụng, bỉ thử tương hỗ ấn chứng, tài năng toàn diện bả ác bệnh t́nh, chính xác phán đoán bệnh thế cập dự hậu chi cát hung): Bắt mạch, xét thần, nh́n sắc, lại xem sự mạnh yếu của tạng phủ và thịnh suy của h́nh thể, phải dùng nhiều cách cùng lúc, đối chiếu kiểm chứng lẫn nhau, mới có thể nắm toàn diện bệnh t́nh và phán đoán chính xác diễn biến cùng tiên lượng tốt xấu.
(Kinh văn đề cương khiết lĩnh địa quy nạp liễu chẩn pháp chi chư đa nội dung): Kinh văn đă nêu một cách cương lĩnh nhiều nội dung của phép chẩn bệnh.
(Thiết mạch, thị tinh minh, sát ngũ sắc, quan ngũ tạng lục phủ chi cường nhược cập h́nh chi thịnh suy đẳng): Bao gồm bắt mạch, xem mắt, quan sát ngũ sắc, xét mạnh yếu của ngũ tạng lục phủ, cùng sự thịnh suy của h́nh thể.
(Dĩ bản tiết nội dung vi cương lĩnh, hạ văn vi nhiễu trước giá kỷ phương diện triển khai luận thuật, cụ thể địa thuyết minh như hà thông quá vọng văn vấn thiết đẳng phương pháp đạt đáo “dĩ thử tham ngũ, quyết tử sinh chi phân” chi mục đích): Lấy nội dung đoạn này làm cương lĩnh, phần sau sẽ triển khai quanh các mặt ấy, cụ thể nói rơ làm thế nào thông qua vọng, văn, vấn, thiết để đạt mục đích “đem đó tham ngũ mà quyết đoán sống chết, cát hung”.
(Thiết mạch, sát sắc, văn thanh, quan h́nh chẩn bệnh pháp): Phép chẩn bệnh bằng bắt mạch, xem sắc, nghe tiếng, quan sát h́nh thể.
(Phù mạch giả, huyết chi phủ dă): Mạch là phủ của huyết.
(Trường tắc khí trị): Mạch dài th́ khí điều ḥa.
(Đoản tắc khí bệnh): Mạch ngắn th́ khí có bệnh.
(Sác tắc phiền tâm): Mạch sác th́ thường có phiền táo trong tâm.
(Đại tắc bệnh tiến): Mạch lớn th́ bệnh đang tiến triển.
(Thượng thịnh tắc khí cao, hạ thịnh tắc khí trướng): Phần trên thịnh th́ khí nghịch lên, phần dưới thịnh th́ khí trướng đầy.
(Đại tắc khí suy): Mạch đại th́ khí suy.
(Tế tắc khí thiểu): Mạch nhỏ mịn th́ khí ít.
(Sáp tắc tâm thống): Mạch sáp th́ thường có đau tim hoặc đau vùng tâm.
(Hồn hồn cách chí như dũng tuyền, bệnh tiến nhi sắc tệ): Nếu mạch đến hỗn độn, cứng, dồn dập như suối vọt, th́ bệnh đang nặng dần và sắc diện cũng suy bại.
(Miên miên kỳ khứ như huyền tuyệt, tử): Nếu mạch đi lơ mơ yếu dần như dây đàn đứt, đó là mạch chết.
(Phù tinh minh ngũ sắc giả, khí chi hoa dă): Tinh minh của mắt và ngũ sắc trên mặt là phần hoa, phần biểu hiện rực rỡ của khí.
(Xích dục như bạch khỏa chu, bất dục như giả): Sắc đỏ tốt là đỏ tươi ẩn trong nền trắng, không tốt là đỏ như màu đất son khô.
(Bạch dục như nga vũ, bất dục như diêm): Sắc trắng tốt là trắng nhu nhuận như lông ngỗng, không tốt là trắng bệch như muối.
(Thanh dục như thương bích chi trạch, bất dục như lam): Sắc xanh tốt là xanh nhuận như ngọc xanh, không tốt là xanh tối như màu chàm.
(Hoàng dục như la khỏa hùng hoàng, bất dục như hoàng thổ): Sắc vàng tốt là vàng sáng nhuận như lụa bọc hùng hoàng, không tốt là vàng xạm như đất vàng.
(Hắc dục như trọng tất sắc, bất dục như địa thương): Sắc đen tốt là đen nhuận như sơn then, không tốt là đen xám như màu đất ẩm.
(Ngũ sắc tinh vi tượng kiến hĩ, kỳ thọ bất cửu dă): Nếu ngũ sắc chỉ c̣n biểu hiện vi tế, mờ bại, th́ thọ mệnh không c̣n dài.
(Phù tinh minh giả, sở dĩ thị vạn vật, biệt bạch hắc, thẩm đoản trường): Cái gọi là tinh minh là khả năng nh́n sự vật, phân biệt trắng đen, dài ngắn.
(Dĩ trường vi đoản, dĩ bạch vi hắc, như thị tắc tinh suy hĩ): Nếu nh́n dài thành ngắn, nh́n trắng thành đen, như vậy là tinh khí đă suy.
(Ngũ tạng giả, trung chi thủ dă): Ngũ tạng là cái giữ ǵn bên trong cơ thể.
(Trung thịnh tạng măn, khí thắng thương khủng giả, thanh như ṭng thất trung ngôn, thị trung khí chi thấp dă): Nếu bên trong đầy, tạng phủ trướng măn, khí uất hoặc do kinh sợ tổn thương, tiếng nói như phát ra từ trong pḥng kín, đó là biểu hiện thấp ở trung khí.
(Ngôn nhi vi, chung nhật năi phục ngôn giả, thử đoạt khí dă): Nói rất nhỏ, cả ngày mới nói lại được, đó là khí bị đoạt mất.
(Y bị bất liễm, ngôn ngữ thiện ác bất tị thân sơ giả, thử thần minh chi loạn dă): Áo quần không biết thu xếp, lời nói tốt xấu không kiêng người thân kẻ lạ, đó là thần minh rối loạn.
(Thương lẫm bất tàng giả, thị môn hộ bất yếu dă): Đại tiện không giữ được là do cửa ngơ không bền vững.
(Thủy tuyền bất chỉ giả, thị bàng quang bất tàng dă): Tiểu tiện không cầm là do bàng quang không tàng chứa được.
(Đắc thủ giả sinh, thất thủ giả tử): Giữ được sự bền vững ấy th́ sống, mất đi th́ chết.
(Phù ngũ tạng giả, thân chi cường dă): Ngũ tạng là chỗ dựa mạnh mẽ của thân thể.
(Đầu giả, tinh minh chi phủ): Đầu là phủ của tinh minh.
(Đầu khuynh thị thâm, tinh thần tương đoạt hĩ): Đầu nghiêng, mắt nh́n sâu lờ đờ, là tinh thần sắp bị mất.
(Bối giả, hung trung chi phủ, bối khúc kiên tùy, phủ tương hoại hĩ): Lưng là phủ của ngực; lưng cong, vai xuôi rũ là phủ ấy sắp hỏng.
(Yêu giả, thận chi phủ, chuyển dao bất năng, thận tương bại hĩ): Eo lưng là phủ của thận; nếu xoay trở không nổi th́ thận sắp suy bại.
(Tất giả, cân chi phủ, khuất thân bất năng, hành tắc lũ phụ, cân tương bại hĩ): Gối là phủ của cân; co duỗi không được, đi th́ khom rạp, là cân sắp suy bại.
(Cốt giả, tủy chi phủ, bất năng cửu lập, hành tắc chấn điệu, cốt tương bại hĩ): Xương là phủ của tủy; không đứng lâu được, đi th́ run rẩy lắc lư, là xương sắp suy bại.
(Đắc cường tắc sinh, thất cường tắc tử): Giữ được sự cường kiện th́ sống, mất sự cường kiện th́ chết. {Tố Vấn Mạch Yếu Tinh Vi Luận}
1/(Trường tắc khí trị): “Trường” là chỉ mạch thể ứng tay mà dài, vượt quá bản vị; “trị” là b́nh thường; “khí trị” là khí huyết điều ḥa, b́nh thường.
2/(Đoản tắc khí bệnh): “Đoản” là chỉ mạch thể ứng tay mà ngắn, không đến bản vị; “khí bệnh” là mạch tượng có biến bệnh của khí huyết. Như khí trệ, huyết ngưng th́ mạch ngắn mà sáp; khí huyết bất túc th́ mạch ngắn mà tế nhược.
3/(Sác tắc phiền tâm): Mạch sác chủ nhiệt, bất luận là thực nhiệt hay hư nhiệt, nhiệt nặng th́ tâm phiền bất an, cho nên người có mạch sác phần nhiều kèm chứng tâm phiền.
4/(Đại tắc bệnh tiến): “Đại” là mạch tượng đầy ngón tay mà to; “bệnh tiến” là bệnh t́nh đang tiếp tục phát triển. Thực chứng mà thấy đại mạch là nói rơ tà chính giao tranh mănh liệt, thế bệnh c̣n đang phát triển; hư chứng mà thấy đại mạch, như trong 《Kim Quỹ Yếu Lược》 nói “mạch đại vi lao”, tức là cho thấy hư chứng c̣n có xu thế ngày càng nặng thêm.
5/(Thượng thịnh tắc khí cao, hạ thịnh tắc khí trướng): “Thượng”, “hạ” là phần trước và phần sau của mạch thốn khẩu. Trương Giới Tân chú: “Thượng là thốn, thượng thịnh là tà bị ứ ở phần trên; khí cao là nói đến suyễn măn; quan xích là phần dưới, hạ thịnh là tà trệ ở phần dưới, cho nên bụng trướng đầy.” Lại có một thuyết khác cho rằng “thượng”, “hạ” là chỉ động mạch vùng đầu mặt ở phần trên và động mạch mu bàn chân ở phần dưới, chi tiết xem 《Tố Vấn・Tam Bộ Cửu Hậu Luận》.
6/(Đại tắc khí suy, tế tắc khí thiểu): “Đại” là đại mạch, mạch đến hoăn nhược mà có khoảng nghỉ theo quy luật, chủ tạng khí suy nhược. 《Linh Khu・Căn Kết》 chỉ ra rằng: “Năm mươi động mà không một đại th́ ngũ tạng đều thụ khí; bốn mươi động một đại th́ một tạng vô khí; ba mươi động một đại th́ hai tạng vô khí; hai mươi động một đại th́ ba tạng vô khí; mười động một đại th́ bốn tạng vô khí; chưa đầy mười động mà một đại th́ ngũ tạng vô khí.” “Tế” là tế mạch, h́nh mạch nhỏ như sợi tơ, chủ các chứng hư lao tổn thương, khí huyết hư thiểu.
7/(Sáp tắc tâm thống): “Sáp” là sáp mạch, mạch đến khó khăn, không trơn lợi, chủ khí huyết hư thiểu hoặc khí trệ huyết ứ. Tâm thống phần nhiều do tâm huyết bất túc hoặc tâm huyết ứ trở, cho nên thấy sáp mạch, nhưng sáp mạch không chỉ riêng chủ tâm thống.
8/(Hồn hồn cách chí như dũng tuyền, bệnh tiến nhi sắc tệ): “Hồn hồn” tức là cuồn cuộn; “cách” là gấp, mau. 《Giáp Ất Kinh》, 《Mạch Kinh》 đều chép là “hồn hồn cách cách, chí như dũng tuyền”, tức là mạch đến cuồn cuộn mà gấp như nước suối phun ra, chủ tà khí cang thịnh, bệnh t́nh nguy trọng. “Tệ” là bại hoại. “Sắc tệ” là khí sắc bại hoại.
9/(Miên miên kỳ khứ như huyền tuyệt): “Miên miên” là mạch tượng vi tế, như có như không. “Như huyền tuyệt” là như dây đàn đứt, thuộc tử hậu.
10/(Khí chi hoa): “Hoa” là vinh hoa biểu hiện ra bên ngoài, tức sự rực rỡ của tinh khí ngũ tạng. Mắt có thể phản ánh sự thịnh suy của tinh khí ngũ tạng, như 《Linh Khu・Đại Hoặc Luận》 nói: “Ngũ tạng lục phủ chi tinh khí giai thượng chú ư mục nhi vi chi tinh.” Sắc mặt cũng là sự phản ánh vinh hoa của tinh khí ngũ tạng, như 《Tố Vấn・Ngũ Tạng Sinh Thành》 luận ngũ sắc là “ngũ tạng sở sinh chi ngoại vinh dă.”
11/(Xích dục như bạch khỏa chu, bất dục như giả): “Dục” là nên, phải; “bạch” thông với “bạch” trong tơ lụa trắng; “chu” là chu sa; “giả” là đại giả thạch, màu đỏ mà xám tối, trầm trệ. Trương Giới Tân chú: “Bạch khỏa chu là đỏ nhuận ẩn bên trong mà không lộ ra ngoài.” Tức là sắc mặt hiện ra vẻ trắng trong ẩn hồng tươi nhuận. C̣n “như giả” là sắc mặt khô héo, không có nhuận trạch tự nhiên.
12/(Như diêm): Muối tuy màu trắng, nhưng thô ráp, không nhuận trạch.
13/(Thanh dục như thương bích chi trạch, bất dục như lam): “Thương bích” là ngọc xanh, xanh biếc mà nhuận sáng; “lam” là cỏ chàm dùng để nhuộm vải, màu xanh mà tối trệ.
14/(La khỏa hùng hoàng): “La” là lụa mỏng, đồ tơ lụa. Lấy lụa bọc hùng hoàng th́ cũng hiện ra sắc vàng sáng nhuận.
15/(Trọng tất sắc): “Trọng” là lặp đi lặp lại. Đồ sơn đen mà bóng là do nhiều lần sơn chồng, nên lấy “trọng tất sắc” để ví màu đen mà sáng bóng.
16/(Địa thương): Là bụi đất trên mặt đất, khô tối, không nhuận trạch.
17/(Ngũ sắc tinh vi tượng kiến hĩ, kỳ thọ bất cửu dă): “Ngũ sắc tinh vi” là tinh vi chi khí của ngũ tạng; “tượng” là bại tượng. Tinh vi chi khí của ngũ tạng lẽ ra phải hàm tàng mà không lộ, nay lại lộ ra ngoài, đó là bại tượng. “Kiến” đồng với “hiện”, nghĩa là biểu hiện ra. Khi tinh vi chi khí của ngũ tạng lộ ra ngoài, th́ thọ mệnh của người bệnh không c̣n bao lâu nữa, thuộc tử hậu.
18/(Trung chi thủ): “Trung” là trong cơ thể; “thủ” là chức giữ ǵn. Ngũ tạng ở bên trong cơ thể, mỗi tạng giữ một chức phận riêng.
19/(Trung thịnh tạng măn, khí thắng thương khủng giả, thanh như ṭng thất trung ngôn, thị trung khí chi thấp dă): “Trung thịnh tạng măn” là chỉ trong bụng tà thịnh, tạng khí trướng măn; “khí thắng” là khí cơ bế ủng, quá thịnh; “thương khủng” là dễ bị tổn thương v́ sợ hăi; “thanh như ṭng thất trung ngôn” là tiếng nói nặng đục, như phát ra từ trong pḥng kín; “trung khí chi thấp” là khí ở trung tiêu bị thấp tà khốn trở, làm cho khí cơ lên xuống không thông, nên xuất hiện các chứng như trên.
20(Ngôn nhi vi, chung nhật năi phục ngôn giả, thử đoạt khí dă): Nói nhỏ yếu không có lực, hơn nữa lời nói lặp đi lặp lại, thuộc “Trịnh thanh”, là hư chứng; “đoạt khí” là phế khí bị cướp mất, biểu hiện chức năng của phế tạng không c̣n giữ được.
Nếu bạn muốn, ḿnh sẽ tiếp tục dịch tiêu chuẩn phần c̣n lại từ mục 21 trở xuống theo đúng mẫu này.
21/(Y bị bất liễm, ngôn ngữ thiện ác bất tị thân sơ giả, thử thần minh chi loạn dă): Ngô Khôn chú: “Y bị bất liễm là cởi bỏ y bị, không c̣n biết xấu hổ ghét ác nữa. Ngôn ngữ thiện ác bất tị thân sơ, tức là dù người thân cũng mắng chửi, ấy là do thần minh bên trong rối loạn mà ra.” Đây là biểu hiện của tâm thần失守.
22/(Thương lẫm bất tàng giả, thị môn hộ bất yếu dă): “Thương lẫm” là kho chứa lương thực, ở đây chỉ công năng vận hóa thủy cốc của tỳ vị; “bất tàng” là nói công năng thất thủ; “môn hộ bất yếu”, Trương Giới Tân chú: “Yếu là ước thúc. U môn, lan môn, phách môn đều là cửa ngơ của thương lẫm; cửa ngơ không thể cố thủ th́ trường vị không thể tàng chứa, cho nên tiết lỵ không cầm, đó là tỳ tàng失守.” Ư nói tỳ vị vận hóa失司, phách môn mất sự ước thúc, tiêu chảy không ngừng.
23/(Thủy tuyền bất chỉ giả, thị bàng quang bất tàng dă): “Thủy tuyền bất chỉ” là chỉ tiểu tiện không cầm; “bàng quang bất tàng”, Trương Giới Tân chú: “Bàng quang và thận là biểu lư với nhau, cho nên có công năng tàng chứa tân dịch. Thủy tuyền không ngừng, di niệu không cấm, là biểu hiện thận tàng失守.”
24/(Đắc thủ giả sinh, thất thủ giả tử): Nếu chức thủ của ngũ tạng c̣n được duy tŕ th́ c̣n có sinh cơ; nếu chức thủ của ngũ tạng失司, không thể duy tŕ nữa, th́ tiên lượng hung hiểm.
25/(Ngũ tạng giả, thân chi cường dă): “Thân” là h́nh thể. Ngũ tạng là cơ sở làm cho h́nh thể cường tráng. Trương Giới Tân chú: “Phần dưới đây nói h́nh khí không giữ được mà bên trong ứng với ngũ tạng. Tạng khí đầy đủ th́ h́nh thể cường, cho nên nói ngũ tạng là cái mạnh của thân.”
26/(Đầu giả, tinh minh chi phủ): “Tinh minh chi phủ” là phủ của tinh khí và thần minh. Đầu có ngũ quan thất khiếu, công năng sinh lư của chúng đều do tinh khí ngũ tạng hóa sinh, cho nên đầu là phủ của tinh minh.
27/(Đầu khuynh thị thâm, tinh thần tương đoạt hĩ): “Đầu khuynh” là đầu rũ xuống không thể ngẩng lên; “thị thâm” là ánh mắt trũng sâu, vô thần. Cả hai đều là dấu hiệu ngũ tạng tinh khí và thần khí hư kiệt, sắp thoát, cho nên nói “tinh thần tương đoạt”; “đoạt” tức là thoát.
28/(Bối giả, hung trung chi phủ, bối khúc kiên tùy, phủ tương hoại hĩ): Lưng là nơi các du huyệt của ngũ tạng ở, bên trong liên hệ với ngũ tạng, cho nên là phủ của hung trung. Trương Chí Thông chú: “Tâm phế ở trong hung trung, mà du huyệt lại ở vai lưng, cho nên lưng là phủ của hung trung.” “Khúc” là cong; “tùy” là rũ xuống. Lưng cong không duỗi được, vai rũ không nâng lên được, là dấu hiệu tạng khí tinh vi không thể nuôi dưỡng vai lưng, tâm phế suy bại.
29/(Yêu giả, thận chi phủ, chuyển dao bất năng, thận tương bại hĩ): “Thận chi phủ” v́ thận ở trong vùng lưng eo, cho nên eo là phủ của thận. “Chuyển” là xoay; “dao” là lay động; “bại” là suy bại. Nếu vận động vùng eo失靈, phần nhiều do tinh khí của thận suy bại, không thể nuôi dưỡng yêu phủ.
30/(Tất giả, cân chi phủ, khuất thân bất năng, hành tắc lũ phụ, cân tương bại hĩ): “Cân chi phủ” nghĩa là đầu gối là nơi cân mạch hội tụ. “Lũ” là c̣ng lưng, thân thể cong không duỗi được, không thể đứng thẳng; “phụ” là phải nương tựa, v́ thân h́nh c̣ng khom nên phải chống gậy hay vật ǵ đó mới đi được. “Bại” là suy bại; gan chủ cân, cho nên nói “cân tương bại”, thực chất là chỉ tinh khí của gan suy bại.
31/(Hành tắc chấn điệu): “Điệu” là lắc; “chấn điệu” là run rẩy, lay động không vững. Đây là do chức năng thận chủ cốt sinh tủy suy giảm, thận khí suy bại gây ra.
32/(Đắc cường tắc sinh, thất cường tắc tử): “Đắc cường” là h́nh thể c̣n cường kiện, chứng tỏ tinh khí ngũ tạng c̣n vượng, tuy có bệnh nhưng tiên lượng c̣n tốt, cho nên sống; “thất cường” là h́nh thể bại hoại, báo hiệu tinh khí tạng phủ hư bại, tiên lượng cực xấu, cho nên nói là chết.
Phân tích
(Bản tiết thừa thượng văn “dĩ thử tham ngũ” chi ư, tiến nhất bộ giới thiệu hữu quan chẩn pháp chi nguyên lư cập ứng dụng): Phần này nối tiếp ư “dĩ thử tham ngũ” ở trên, tiến thêm một bước giới thiệu nguyên lư và ứng dụng của các phép chẩn bệnh.
(1)(“Mạch giả, huyết chi phủ dă”, “tinh minh ngũ sắc giả, khí chi hoa dă”, “ngũ tạng giả, trung chi thủ dă”, “ngũ tạng giả, thân chi cường dă”, phân biệt vi thiết mạch, vọng ngũ sắc, sát nhăn thần, văn thanh âm, vấn bệnh trạng ḥa vọng h́nh thái đề cung liễu sung phân chi lư luận y cứ): Các câu “mạch là phủ của huyết”, “tinh minh ngũ sắc là hoa của khí”, “ngũ tạng là cái giữ ở bên trong”, “ngũ tạng là cái mạnh của thân” lần lượt cung cấp đầy đủ cơ sở lư luận cho phép bắt mạch, nh́n ngũ sắc, xét thần ở mắt, nghe âm thanh, hỏi bệnh trạng và quan sát h́nh thái.
(Vô luận thị đa chủng mạch tượng chủ bệnh, ức thị ngũ sắc chi dục dữ bất dục, dĩ cập ngũ tạng thất thủ, thất cường chi các chủng biểu hiện, giai vi chẩn pháp chi phạm lệ, chí kim nhưng hữu較 cao chi tham khảo giá trị): Bất luận là nhiều loại mạch tượng chủ bệnh, hay các sắc “nên có” và “không nên có”, cũng như những biểu hiện ngũ tạng失守, thất cường, đều là những ví dụ điển h́nh của chẩn pháp, đến nay vẫn c̣n giá trị tham khảo cao.
(Do ư mạch vi khí huyết chi tàng tụ lưu thông chi xứ, sở dĩ mạch tượng chi biến hóa khả phản ánh khí huyết chi bệnh biến): V́ mạch là nơi khí huyết tụ hội và lưu thông, cho nên biến hóa của mạch tượng có thể phản ánh bệnh biến của khí huyết.
(Kinh văn chủ yếu ṭng mạch tượng chi động tĩnh biến hóa lai phán đoán các chủng bất đồng chi bệnh biến): Kinh văn chủ yếu từ biến hóa động tĩnh của mạch tượng mà phán đoán các loại bệnh biến khác nhau.
(Ṭng mạch thể ứng chỉ bộ vị chi trường đoản khả dĩ liễu giải khí huyết vận hành chính thường dữ phủ): Từ độ dài ngắn của mạch thể dưới đầu ngón tay có thể biết khí huyết vận hành có b́nh thường hay không.
(Ṭng mạch chi tần suất tốc độ khả đắc tri kỳ nhiệt nhi phiền tâm chi tŕnh độ): Từ tần suất và tốc độ của mạch có thể biết mức độ nhiệt gây phiền tâm.
(Ṭng mạch thể chi đại tiểu khả dĩ chưởng ác bệnh thế phát triển chi t́nh huống): Từ độ to nhỏ của mạch thể có thể nắm được t́nh h́nh phát triển của bệnh thế.
(Ṭng mạch chi tiền hậu phân bộ dĩ tri bệnh vị chi thượng hạ): Từ sự phân bộ trước sau của mạch có thể biết bệnh vị ở trên hay ở dưới.
(Ṭng mạch chi tiết luật khả dĩ phán đoán tạng khí chi chính thường dữ suy bại): Từ nhịp điệu của mạch có thể phán đoán tạng khí c̣n b́nh thường hay đă suy bại.
(Ṭng h́nh chi thô tế khả quan sát bệnh chứng chi hư thực): Từ độ thô tế của mạch có thể quan sát được hư thực của bệnh chứng.
(Ṭng mạch chi hoạt lợi gian sáp khả liễu giải khí huyết chi vận hành t́nh huống): Từ tính hoạt lợi hay gian sáp của mạch có thể hiểu được t́nh h́nh vận hành của khí huyết.
(Kinh văn đối nguy trọng, lâm chung chi mạch tượng diệc hữu miêu thuật, “hồn hồn cách chí như dũng tuyền”, “miên miên kỳ khứ như huyền tuyệt” đẳng, giá lưỡng chủng mạch tượng tại Nội Kinh trung quân thuộc chân tạng mạch): Kinh văn cũng có mô tả mạch tượng của t́nh trạng nguy trọng, lâm chung, như “hồn hồn cách chí như dũng tuyền”, “miên miên kỳ khứ như huyền tuyệt”; hai loại mạch này trong Nội Kinh đều thuộc chân tạng mạch.
(Thuyết minh ngũ tạng chân khí bại lộ, vị khí suy bại, tái tham dĩ “sắc tệ”, tắc chẩn đoán vi tử hậu vô nghi): Điều đó cho thấy chân khí ngũ tạng đă bại lộ, vị khí suy bại; nếu lại phối hợp thêm dấu “sắc tệ”, th́ chẩn đoán là tử hậu không c̣n nghi ngờ.
(Giá ta nội dung đô khẩn mật địa liên hệ lâm sàng, cố vi trung y mạch chẩn chi trọng yếu lư luận uyên nguyên): Những nội dung này đều gắn chặt với lâm sàng, cho nên là nguồn lư luận rất quan trọng của mạch chẩn Trung y.
(Mục chi tinh quang thần khí ḥa nhan diện ngũ sắc, thị tạng phủ tinh khí vinh hoa ư ngoại, thả dị ư chẩn sát, cố vọng sắc vi lâm chứng sở thường dụng): Tinh quang thần khí của mắt và ngũ sắc ở mặt là sự vinh hiển ra ngoài của tinh khí tạng phủ, lại dễ quan sát, cho nên vọng sắc là phép thường dùng khi lâm chứng.
(Kinh văn tường tế địa cử lệ các chủng sự vật chi nhan sắc, h́nh tượng hóa địa đề thị liễu vọng diện sắc trung chi yếu lĩnh): Kinh văn nêu chi tiết màu sắc của nhiều sự vật để h́nh tượng hóa, gợi rơ những điểm cốt yếu khi nh́n sắc mặt.
(Phàm sắc chẩn, minh nhuận hàm súc, hữu quang trạch chi diện sắc quân đề thị ngũ tạng tinh khí vị suy, vị khí vị bại, tật bệnh dự hậu thượng giai, khả xưng vi “vị khí sắc”): Nói chung, trong sắc chẩn, sắc mặt sáng nhuận, kín đáo, có quang泽 là dấu hiệu ngũ tạng tinh khí chưa suy, vị khí chưa bại, tiên lượng bệnh c̣n tốt, có thể gọi là “vị khí sắc”.
(Phản chi, thiên nhiên bất trạch, khô ám hối trệ chi diện sắc tắc đề thị tạng phủ tinh khí suy bại, vị khí dục kiệt, dự hậu hung hiểm, xưng vi “chân tạng sắc”): Ngược lại, sắc mặt khô tối, u ám, không có nhuận泽 tự nhiên là dấu hiệu tinh khí tạng phủ suy bại, vị khí sắp kiệt, tiên lượng hung hiểm, gọi là “chân tạng sắc”.
(Học tập thời khả kết hợp 《Tố Vấn・Ngũ Tạng Sinh Thành》 thiên trung hữu quan chẩn diện sắc chi luận thuật, khả gia thâm lư giải): Khi học phần này có thể kết hợp với những luận thuật về chẩn sắc mặt trong thiên 《Tố Vấn・Ngũ Tạng Sinh Thành》 để hiểu sâu hơn.
(Vọng nhăn t́nh diệc thị vọng chẩn chi nội dung chi nhất): Quan sát mắt cũng là một nội dung của vọng chẩn.
(Nhăn t́nh chi thị giác công năng thị ngũ tạng tinh khí thịnh suy chi phản ánh): Chức năng thị giác của mắt là sự phản ánh mức thịnh suy của tinh khí ngũ tạng.
(Vọng mục chi thần khí, thị giác biến hóa, mục chi các cá bộ vị chi dị thường đẳng t́nh huống, khả dĩ liễu giải ngũ tạng bất đồng chi bệnh lư biến hóa): Quan sát thần khí của mắt, sự thay đổi thị giác, và các bất thường ở từng bộ vị của mắt có thể giúp hiểu những biến hóa bệnh lư khác nhau của ngũ tạng.
(Bản tiết trước trọng luận thuật đích thị thị giác chi dị thường cải biến, thị ngũ tạng tinh khí suy kiệt chi biểu hiện): Phần này chủ yếu luận về sự thay đổi bất thường của thị giác, đó là biểu hiện tinh khí ngũ tạng suy kiệt.
(Sát ngũ tạng đắc thủ dữ thất thủ, khả thông quá vọng、văn、vấn chẩn liễu giải kỳ bệnh chứng biểu hiện): Muốn xét ngũ tạng c̣n giữ được chức thủ hay đă mất chức thủ, có thể thông qua vọng chẩn, văn chẩn, vấn chẩn để hiểu các biểu hiện bệnh chứng của nó.
(Thanh âm trọng trọc, hệ trung khí vi thấp tà sở khốn, vi tỳ thất thủ): Tiếng nói nặng đục là do trung khí bị thấp tà khốn trở, thuộc tỳ mất chức thủ.
(Thanh đê tức vi, ngôn bất tiếp tục, hệ khí bị kiếp đoạt, vi phế thất thủ): Tiếng nói thấp nhỏ, hơi thở yếu, lời nói không tiếp nối là do khí bị cướp đoạt, thuộc phế mất chức thủ.
(Bất tri tu sỉ, mạ lệ bất tị thân sơ, hệ thần minh chi loạn, vi tâm thất thủ): Không biết hổ thẹn, mắng chửi không kiêng người thân kẻ lạ là do thần minh rối loạn, thuộc tâm mất chức thủ.
(Tiết lỵ bất cấm, môn hộ bất cố, hệ trường vị thất điều, vi tỳ thất thủ): Tiêu chảy không cầm, cửa ngơ không bền vững là do trường vị thất điều, thuộc tỳ mất chức thủ.
(Tiểu tiện thất cấm, hệ bàng quang thất ước, vi thận thất thủ): Tiểu tiện không cầm là do bàng quang mất sự ước thúc, thuộc thận mất chức thủ.
(Kinh văn đề xuất ngũ tạng “đắc thủ giả sinh, thất thủ giả tử” chi luận đoạn, dĩ cường điệu ngũ tạng cập kỳ sở tàng chi tinh、khí、thần chi trọng yếu tính): Kinh văn nêu luận điểm “ngũ tạng c̣n giữ được th́ sống, mất giữ th́ chết” để nhấn mạnh tầm quan trọng của ngũ tạng cùng tinh, khí, thần mà ngũ tạng tàng giữ.
(Chính như 《Linh Khu・Bản Thần》 sở chỉ xuất “ngũ tạng chủ tàng tinh giả dă, bất khả thương, thương tắc thất thủ nhi âm hư, âm hư tắc vô khí, vô khí tắc tử hĩ”): Cũng như 《Linh Khu・Bản Thần》 đă chỉ ra rằng: “Ngũ tạng là nơi chủ tàng tinh, không thể tổn thương; tổn thương th́ mất giữ mà âm hư, âm hư th́ vô khí, vô khí th́ chết.”
(Sát ngũ tạng đắc cường dữ thất cường, khả thẩm thân thể chi đầu、hung、yêu、tất、hĩnh (cốt)、“ngũ phủ”、“h́nh chi thịnh suy” dĩ liễu giải ngũ tạng tinh khí chi thịnh suy): Muốn xét ngũ tạng c̣n mạnh hay đă suy yếu, có thể xem đầu, ngực, eo, gối, cẳng chân xương, “ngũ phủ” và t́nh trạng thịnh suy của h́nh thể để biết sự thịnh suy của tinh khí ngũ tạng.
(Đầu lô nội tàng năo tủy, ngoại thông thất khiếu, nhược đầu đê thùy bất cử, mục hăm vô quang, nhĩ bế thất thông, tắc ngũ tạng tinh khí dĩ suy, thần khí tương thất): Đầu chứa năo tủy ở bên trong, thông ra thất khiếu ở bên ngoài; nếu đầu cúi rũ không ngẩng lên được, mắt trũng không có thần quang, tai bít mất nghe, th́ ngũ tạng tinh khí đă suy, thần khí sắp mất.
(Hung bối nội tàng tâm phế, nhược bối khúc kiên thùy, vi tâm phế tinh khí suy bại, bất năng thượng doanh kiên bối chi tượng): Ngực lưng bên trong chứa tâm phế; nếu lưng cong, vai rũ xuống, là biểu hiện tinh khí tâm phế suy bại, không thể đưa tinh khí lên nuôi dưỡng vùng vai lưng.
(Yêu bộ vi thận sở cư, yêu thống chuyển trắc khốn nan, vi thận khí bại hoại chi trưng): Eo lưng là nơi thận cư trú; nếu đau lưng, trở ḿnh khó khăn, là dấu hiệu thận khí suy bại.
(Can chủ cân, tất vi chư cân sở tụ, tất quan tiết khuất thân bất lợi, tẩu lộ loan yêu phù vật, vi can khí bại hoại chi trưng): Can chủ cân, đầu gối là nơi các cân tụ hội; nếu khớp gối co duỗi không lợi, đi phải khom lưng vịn đồ vật, là dấu hiệu can khí suy bại.
(Cốt trung tàng tủy, bất nại cửu lập, hành tắc dao băi, vi cốt khí bại thương、thận tạng thất cường chi trưng): Trong xương tàng tủy; nếu không đứng lâu được, đi th́ lảo đảo, là dấu hiệu cốt khí tổn bại, thận tạng mất sự cường kiện.
(Giá ta cận thị vọng h́nh thái nội dung chi cử lệ nhi dĩ, yết thị trung y chi chẩn pháp thị căn cứ tạng tượng biểu lư tương ứng chi lư luận, ṭng biểu tri lư, dĩ phán đoán ngũ tạng lục phủ chi bệnh biến cập kỳ dự hậu): Những điều này chỉ là ví dụ thuộc phần vọng h́nh thái mà thôi, nhưng đă nêu rơ rằng chẩn pháp của Trung y là căn cứ vào lư luận tạng tượng biểu lư tương ứng, từ biểu biết lư, để phán đoán bệnh biến của ngũ tạng lục phủ và tiên lượng của nó.
(Quan ư “đầu giả, tinh minh chi phủ” cú, cận nhân đa dĩ tinh khí thần minh chi phủ tác giải, tịnh cứ thử thôi xuất 《Nội Kinh》 chi năo chủ thần minh thuyết): Về câu “đầu là phủ của tinh minh”, người gần đây phần nhiều giải là phủ của tinh khí thần minh, rồi từ đó suy ra học thuyết “năo chủ thần minh” của 《Nội Kinh》.
(Giá chủng quan điểm kư bất hợp 《Nội Kinh》 chi chỉ, dă dữ cổ đại chư chú gia chi ư kiến tương thù): Quan điểm ấy vừa không hợp với ư chỉ của 《Nội Kinh》, vừa khác với ư kiến của các nhà chú giải đời xưa.
(《Nội Kinh》 trung “tinh minh” nhất xưng phàm tứ kiến, bản thiên hữu tam, “thị tinh minh” vi thủ kiến, “tinh minh ngũ sắc” vi nhị kiến, bản cú “tinh minh chi phủ” vi tam kiến, đệ tứ kiến tải ư 《Linh Khu・Đại Hoặc Luận》 chi “thị cố, đồng tử hắc nhăn pháp ư âm, bạch nhăn xích mạch pháp ư dương dă, cố âm dương hợp truyền nhi tinh minh dă” cú trung): Trong 《Nội Kinh》, tên gọi “tinh minh” xuất hiện bốn lần; thiên này có ba chỗ: “thị tinh minh” là chỗ thứ nhất, “tinh minh ngũ sắc” là chỗ thứ hai, câu “tinh minh chi phủ” này là chỗ thứ ba; chỗ thứ tư nằm trong câu của 《Linh Khu・Đại Hoặc Luận》: “Cho nên đồng tử, tṛng đen pháp ở âm; tṛng trắng, mạch đỏ pháp ở dương, v́ vậy âm dương hợp truyền mà thành tinh minh.”
(Chư “tinh minh” giai chỉ mục tinh, bản cú dă bất đương lệ ngoại): Các chữ “tinh minh” ấy đều chỉ con mắt, câu này cũng không nên xem là ngoại lệ.
(《Linh Khu・Đại Hoặc Luận》 hoàn đặc biệt cường điệu chỉ xuất: “mục giả, ngũ tạng lục phủ chi tinh dă, doanh vệ hồn phách chi sở thường doanh dă, thần khí chi sở sinh dă”): 《Linh Khu・Đại Hoặc Luận》 c̣n đặc biệt nhấn mạnh rằng: “Mắt là tinh của ngũ tạng lục phủ, là nơi doanh vệ, hồn phách thường tới nuôi dưỡng, là nơi thần khí phát sinh.”
(Cố bản thiên vị “tinh thần tương đoạt” chi chứng hậu cận ngôn “đầu khuynh thị thâm”, toàn vị thiệp cập thần chí chi loạn): V́ vậy thiên này khi nói đến chứng hậu “tinh thần sắp mất” chỉ nêu “đầu cúi, mắt nh́n sâu”, hoàn toàn chưa bàn đến rối loạn thần chí.
(Nhân thử, “tinh minh chi phủ” bất năng dữ “thần minh chi phủ” đẳng đồng): Do đó, “tinh minh chi phủ” không thể đồng nhất với “thần minh chi phủ”.
(Đối thử, cổ đại chú gia dĩ hữu minh giám): Về điểm này, các nhà chú giải cổ đại đă có nhận định rất sáng rơ.
(Minh đại Ngô Khôn chú: “lục dương thanh khí thượng thăng ư đầu, cố đầu vi tinh minh chi phủ. Cái thất khiếu giai dĩ thần dụng, cố đồng vị chi tinh minh”): Nhà chú giải Ngô Khôn đời Minh nói: “Thanh khí của lục dương thăng lên đầu, cho nên đầu là phủ của tinh minh. Bởi thất khiếu đều dùng thần để hoạt động, nên cùng gọi là tinh minh.”
(Minh đại Trương Giới Tân chú: “ngũ tạng lục phủ chi tinh khí giai thượng thăng ư đầu, dĩ thành thất khiếu chi dụng, cố đầu vi tinh minh chi phủ”): Trương Giới Tân đời Minh chú rằng: “Tinh khí của ngũ tạng lục phủ đều thăng lên đầu để h́nh thành công dụng của thất khiếu, cho nên đầu là phủ của tinh minh.”
(Thanh đại Cao Thế Thức chú: “nhân thân tinh khí thượng hội ư đầu, thần minh thượng xuất ư mục, cố đầu giả, tinh minh chi phủ. Nhược đầu khuynh thị thâm, tắc tinh khí thần minh bất thượng hành ư đầu, nhi tinh thần tương đoạt hĩ”): Cao Thế Thức đời Thanh chú rằng: “Tinh khí của thân người hội lên đầu, thần minh xuất lên mắt, cho nên đầu là phủ của tinh minh. Nếu đầu cúi, mắt nh́n sâu, tức tinh khí thần minh không lên được đầu, mà tinh thần sắp mất.”
(Chư chú đa dĩ tạng phủ tinh khí thượng chú thất khiếu vi giải, tinh minh hựu vi thất khiếu chi đại biểu, sở dĩ tinh minh chi phủ thực tức thất khiếu chi phủ): Các lời chú giải phần nhiều đều hiểu theo nghĩa tinh khí tạng phủ dâng lên thất khiếu; mà tinh minh lại là đại biểu của thất khiếu, cho nên “tinh minh chi phủ” trên thực tế chính là phủ của thất khiếu.
(Tứ thời mạch pháp): Phép xem mạch theo bốn mùa.
(Đế viết: Mạch kỳ tứ thời động nại hà? Tri bệnh chi sở tại nại hà? Tri bệnh chi sở biến nại hà? Tri bệnh sạ tại nội nại hà? Tri bệnh sạ tại ngoại nại hà? Thỉnh vấn thử ngũ giả, khả đắc văn hồ?): Hoàng Đế hỏi rằng: Mạch theo bốn mùa vận động ra sao? Làm sao biết bệnh ở đâu? Làm sao biết bệnh biến ra sao? Làm sao biết bệnh mới ở trong? Làm sao biết bệnh mới ở ngoài? Xin hỏi năm điều ấy, có thể được nghe chăng?
(Kỳ Bá viết: Thỉnh ngôn kỳ dữ thiên vận chuyển đại dă): Kỳ Bá đáp rằng: Xin nói từ chỗ nó tương ứng với vận hành lớn của trời đất.
(Vạn vật chi ngoại, lục hợp chi nội, thiên địa chi biến, âm dương chi ứng, bỉ xuân chi noăn, vi hạ chi thử, bỉ thu chi phẫn, vi đông chi nộ): Bên ngoài muôn vật, trong khoảng lục hợp, sự biến hóa của trời đất và sự ứng hợp của âm dương là như thế: cái ấm của mùa xuân trở thành cái nóng của mùa hạ; cái nghiêm gắt của mùa thu trở thành cái rét giận dữ của mùa đông.
(Tứ biến chi động, mạch dữ chi thượng hạ, dĩ xuân ứng trung quy, hạ ứng trung củ, thu ứng trung hành, đông ứng trung quyền): Sự vận động của bốn biến ấy, mạch cũng theo đó mà lên xuống; mùa xuân ứng như compa vẽ ṿng tṛn, mùa hạ ứng như thước vuông, mùa thu ứng như cán cân, mùa đông ứng như quả cân.
(Thị cố đông chí tứ thập ngũ nhật, dương khí vi thượng, âm khí vi hạ; hạ chí tứ thập ngũ nhật, âm khí vi thượng, dương khí vi hạ): Cho nên từ sau đông chí bốn mươi lăm ngày th́ dương khí hơi dâng lên, âm khí hơi hạ xuống; từ sau hạ chí bốn mươi lăm ngày th́ âm khí hơi dâng lên, dương khí hơi hạ xuống.
(Âm dương hữu thời, dữ mạch vi kỳ, kỳ nhi tương thất, tri mạch sở phân, phân chi hữu kỳ, cố tri tử thời): Âm dương có thời của nó, mạch cũng có kỳ tương ứng; nếu đến kỳ mà sai mất, th́ biết mạch đă có phân biệt khác thường; sự phân biệt ấy lại có kỳ của nó, cho nên có thể biết thời điểm tử vong.
(Vi diệu tại mạch, bất khả bất sát, sát chi hữu kỷ, ṭng âm dương thủy): Cái vi diệu nằm ở nơi mạch, không thể không xem xét; xem xét phải có đầu mối, mà đầu mối ấy bắt đầu từ âm dương.
(Thủy chi hữu kinh, ṭng ngũ hành sinh): Đầu mối ấy có đường lối của nó, từ ngũ hành mà sinh ra.
(Sinh chi hữu độ, tứ thời vi nghi, bổ tả vật thất, dữ thiên địa như nhất): Sự sinh hóa có mức độ, lấy bốn mùa làm thích hợp, phép bổ tả không được sai, để ḥa hợp với trời đất như làm một.
(Đắc nhất chi t́nh, dĩ tri tử sinh): Nắm được cái t́nh “nhất” ấy, th́ có thể biết sống chết.
(Thị cố thanh hợp ngũ âm, sắc hợp ngũ hành, mạch hợp âm dương): V́ vậy tiếng ứng với ngũ âm, sắc ứng với ngũ hành, mạch ứng với âm dương.
(Thị tri âm thịnh tắc mộng thiệp đại thủy khủng cụ, dương thịnh tắc mộng đại hỏa phàn chước, âm dương câu thịnh tắc mộng tương sát hủy thương): Do đó biết rằng âm thịnh th́ mộng thấy lội nước lớn mà sợ hăi, dương thịnh th́ mộng thấy lửa lớn thiêu đốt, âm dương đều thịnh th́ mộng thấy giết hại, tổn thương lẫn nhau.
(Thượng thịnh tắc mộng phi, hạ thịnh tắc mộng đọa): Phần trên thịnh th́ mộng bay, phần dưới thịnh th́ mộng rơi xuống.
(Thậm băo tắc mộng dữ, thậm cơ tắc mộng thủ): Quá no th́ mộng cho người khác, quá đói th́ mộng lấy của người khác.
(Can khí thịnh tắc mộng nộ, phế khí thịnh tắc mộng khốc): Can khí thịnh th́ mộng giận dữ, phế khí thịnh th́ mộng khóc.
(Đoản trùng đa tắc mộng tụ chúng, trường trùng đa tắc mộng tương kích hủy thương): Trùng ngắn nhiều th́ mộng thấy tụ hội đông người, trùng dài nhiều th́ mộng thấy đánh nhau, tổn thương nhau.
(Thị cố tŕ mạch hữu đạo, hư tĩnh vi bảo): V́ vậy cầm mạch có đạo của nó, lấy hư tĩnh làm điều quư để giữ.
(Xuân nhật phù, như ngư chi du tại ba): Mạch mùa xuân phù lên, như cá bơi trong sóng.
(Hạ nhật tại phu, phiếm phiếm hồ vạn vật hữu dư): Mạch mùa hạ ở nơi da, dào dạt như vạn vật đầy dư.
(Thu nhật hạ phu, chập trùng tương khứ): Mạch mùa thu xuống dưới da, như loài côn trùng sắp ẩn đi.
(Đông nhật tại cốt, chập trùng chu mật, quân tử cư thất): Mạch mùa đông ở nơi xương, như loài côn trùng ẩn nấp kín đáo, như quân tử ở trong nhà.
(Cố viết: tri nội giả án nhi kỷ chi, tri ngoại giả chung nhi thủy chi): Cho nên nói: người biết bệnh ở trong th́ ấn để ghi lấy quy luật của nó; người biết bệnh ở ngoài th́ xét cái đầu và cái cuối của nó.
(Thử lục giả, tŕ mạch chi đại pháp): Sáu điều ấy là đại pháp của phép cầm mạch.
Chú thích
1/(Kỳ dữ thiên vận chuyển đại dă): Cao Thế Thức nói: “Âm dương thăng giáng trong thân người cũng như một ṿng vận chuyển rộng lớn của trời đất, cho nên mới nói xin bàn về sự tương ứng to lớn ấy với thiên vận.” Ư là mạch pháp phải đặt trong quan hệ với quy luật vận hành lớn của tự nhiên mà hiểu.
2/(Lục hợp): Ở đây chỉ phương trên, phương dưới cùng bốn phương đông, nam, tây, bắc.
3/(Phẫn): Vương Băng nói: “Phẫn, một nghĩa là gấp gáp.” Ư nói khí mùa thu có tính mạnh, gấp và nghiêm.
4/(Nộ): Vương Băng nói: “Thu cừu vi đông nộ, ư nói âm từ ít mà thành mạnh.” Đây là ví cái rét mùa đông nghiêm khắc, lạnh buốt.
5/(Tứ biến chi động, mạch dữ chi thượng hạ): “Tứ biến chi động” là chỉ sự biến động của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; “thượng hạ” là chỉ mạch tượng phù trầm. Trương Giới Tân chú rằng: “Xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng, đó chính là sự vận động của bốn biến âm dương.”
6/(Xuân ứng trung quy): “Quy” là dụng cụ vẽ h́nh tṛn như compa. Ư nói mạch mùa xuân có tượng tṛn trịa, nhu ḥa, trơn hoạt.
7/(Hạ ứng trung củ): “Củ” là dụng cụ làm vuông như thước vuông. Ư nói mạch mùa hạ có tượng vuông vức, thịnh vượng, đầy mạnh.
8/(Thu ứng trung hành): “Hành” là cán cân. Mạch mùa thu như cán cân, không quá nổi cũng không quá ch́m, b́nh ổn ở giữa.
9/(Đông ứng trung quyền): “Quyền” là quả cân. Ư nói mạch mùa đông như quả cân trầm xuống bên trong.
10/(Thị cố đông chí tứ thập ngũ nhật, dương khí vi thượng, âm khí vi hạ; hạ chí tứ thập ngũ nhật, âm khí vi thượng, dương khí vi hạ): Trương Giới Tân nói: “Đông chí th́ nhất dương sinh, cho nên sau đông chí bốn mươi lăm ngày cho đến lập xuân, dương khí dần dần hơi đi lên, dương hơi lên th́ âm hơi xuống; hạ chí th́ nhất âm sinh, cho nên sau hạ chí bốn mươi lăm ngày cho đến lập thu, âm khí dần dần hơi đi lên, âm hơi lên th́ dương hơi xuống. Đó là ư ‘âm dương hữu thời’.”
11/(Kỳ nhi tương thất, tri mạch sở phân): Ư nói mạch tượng bốn mùa nếu không phù hợp với pháp độ quy, củ, hành, quyền vừa nói trên, th́ nhờ đó biết được tạng phủ nào đang có bệnh biến. Trương Giới Tân nói: “Kỳ nhi tương thất là xuân phải quy, hạ phải củ, thu phải hành, đông phải quyền mà nay không hợp với độ ấy. Tri mạch sở phân là biết mạch của ngũ tạng, mỗi tạng đều có sở thuộc riêng.”
12/(Phân chi hữu kỳ, cố tri tử thời): Căn cứ vào quy luật thịnh suy của khí ngũ tạng theo bốn mùa mà suy đoán, có thể biết thời điểm sống chết. Như 《Tố Vấn・Tạng Khí Pháp Thời Luận》 nói: “Bệnh ở can, khỏi vào mùa hạ; hạ không khỏi th́ nặng vào mùa thu; thu không chết th́ cầm cự đến mùa đông; phát lại vào mùa xuân.”
13/(Sát chi hữu kỷ, ṭng âm dương thủy, thủy chi hữu kinh, ṭng ngũ hành sinh, sinh chi hữu độ, tứ thời vi nghi): Ba chữ “kỷ”, “kinh”, “độ” nghĩa gần giống nhau; “kỷ” là cương lĩnh, “kinh” là quy phạm, “độ” là tiêu chuẩn. “Ṭng âm dương thủy” là ư như trong 《Tố Vấn・Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》: “Âm dương giả... vạn vật chi cương kỷ”, và “sát sắc án mạch tiên biệt âm dương”. “Ṭng ngũ hành sinh”, chữ “sinh” ở đây cùng nghĩa với “thủy”, tức sau khi phân âm dương của mạch, c̣n phải phân tiếp đến ngũ tạng. “Tứ thời vi nghi” là mạch ứng hợp được với bốn mùa th́ mới là yên ổn, hợp lẽ.
14/(Bổ tả vật thất, dữ thiên địa như nhất, đắc nhất chi t́nh, dĩ tri tử sinh): “Bổ tả vật thất, dữ thiên địa như nhất” là nói hư th́ bổ, thực th́ tả, như vậy mới thích ứng được với quy luật biến hóa của tự nhiên. “Đắc nhất chi t́nh, dĩ tri tử sinh” là nói phải căn cứ vào t́nh trạng biến hóa tương ứng như một giữa con người và tự nhiên, như mạch có ứng âm dương hay không, sắc có hợp ngũ hành hay không, rồi mới phán đoán sống chết.
15/(Thanh hợp ngũ âm): “Thanh” là năm tiếng hô, tiếu, ca, khốc, thân; “âm” là năm âm cung, thương, giác, chủy, vũ. Ư nói năm loại tiếng của con người phải ứng hợp với quy luật ngũ âm của tự nhiên.
16/(Sắc hợp ngũ hành, mạch hợp âm dương): Ư nói sắc của ngũ tạng phải ứng với sắc của ngũ hành; mạch phù trầm phải ứng với khí âm dương của bốn mùa. Vương Băng nói: “Sắc thấy xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, cho nên hợp ngũ hành; mạch biểu hiện sự thịnh suy của hàn thử, cho nên hợp với khí âm dương.”
17/(Đoản trùng): Là giun kim. 《Thuyết Văn》 nói: “Nhiêu, là loài sâu ngắn trong bụng.”
18/(Trường trùng): Tức là giun đũa.
19/(Hư tĩnh vi bảo): “Hư” là vô dục; “tĩnh” là yên, nghĩa là cả tư tưởng lẫn h́nh thể đều phải yên tĩnh; “bảo”, Đan Ba Nguyên Giản nói: “Bảo, bảo, bảo xưa thông dùng với nhau.” Ư nói hư tĩnh là trạng thái mà thầy thuốc phải giữ khi chẩn mạch.
20/(Chập trùng tương khứ): “Chập trùng” là loài sâu trùng ẩn trong đất qua mùa đông. Ngô Khôn nói: “Mùa thu dương khí đi xuống, cho nên mạch đến ở dưới cơ phu, giống như tượng chập trùng sắp ẩn đi.”
21/(Chập trùng chu mật): Lư Trung Tử nói: “Mùa đông lấy bế tàng làm chủ, mạch ch́m ẩn ở xương, như chập trùng sợ lạnh, ở sâu nơi kín.”
22/(Quân tử cư thất): “Quân tử” ở đây chỉ người hiểu đạo dưỡng sinh. Ư nói mạch mùa đông trầm phục, giống như quân tử sợ lạnh mà ở sâu trong nhà.
23/(Tri nội giả án nhi kỷ chi, tri ngoại giả chung nhi thủy chi): “Nội” là chỉ nội tạng; “ngoại” là chỉ kinh mạch. Trương Giới Tân chú: “Khí của tạng tượng có vị trí, nên có thể ấn mà ghi nhận; ngoại là nói kinh khí, kinh mạch có thứ tự, nên có thể xét từ đầu đến cuối của nó.”
24/(Lục giả): Là chỉ sáu mục ở trên: xuân, hạ, thu, đông, nội, ngoại.
(Lục chủng mạch tượng hoặc mạch pháp): Sáu loại mạch tượng hoặc sáu phép xem mạch.
Phân tích
(Bản đoạn trọng điểm luận thuật liễu tứ thời mạch tượng, tái thứ cường điệu chỉ xuất liễu mạch chẩn chi đại pháp): Đoạn này trọng điểm bàn về mạch tượng của bốn mùa, đồng thời một lần nữa nhấn mạnh phép lớn của chẩn mạch.
(Kinh văn tiên ṭng thiên nhân tương ứng chỉnh thể quan chi đại bối cảnh xuất phát, xiển thuật liễu mạch ứng âm dương tứ thời chi đạo lư, h́nh tượng địa miêu thuật liễu tứ thời mạch khí chi động tượng): Kinh văn trước hết xuất phát từ bối cảnh lớn của quan niệm chỉnh thể thiên nhân tương ứng, tŕnh bày đạo lư mạch ứng với âm dương bốn mùa, và mô tả một cách h́nh tượng sự vận động của mạch khí theo bốn mùa.
(Nhân sinh hoạt tại tự nhiên giới chi trung, bất đản y lại tự nhiên giới sở đề cung chi vật chất nhi sinh tồn, nhi thả “thiên địa chi biến, âm dương chi ứng, bỉ xuân chi noăn, vi hạ chi thử, bỉ thu chi phẫn, vi đông chi nộ” đẳng tự nhiên giới chi các chủng biến hóa, đối nhân thể hữu thập phần trọng yếu chi ảnh hưởng): Con người sống trong tự nhiên giới, không chỉ dựa vào vật chất do tự nhiên cung cấp để tồn tại, mà mọi biến hóa của trời đất như “cái ấm của xuân thành cái nóng của hạ, cái gắt của thu thành cái rét dữ của đông” đều có ảnh hưởng rất quan trọng đối với cơ thể.
(Mạch tượng bác động thị nhân thể sinh lư hoạt động chi biểu hiện chi nhất, đồng dạng yếu thụ tự nhiên giới chi ảnh hưởng): Sự dao động của mạch tượng là một biểu hiện của hoạt động sinh lư cơ thể, v́ thế cũng phải chịu ảnh hưởng của tự nhiên giới.
(Giá tựu thị mạch ứng tứ thời chi lư luận cơ sở): Đó chính là cơ sở lư luận của học thuyết mạch ứng với bốn mùa.
(Nhân tại “dữ thiên vận chuyển” quá tŕnh trung, kỳ sinh mệnh tiết luật hội dữ vũ trụ tiết luật đạt đáo mỗ ta cận tự hoặc nhất trí): Trong quá tŕnh con người “cùng vận động với trời”, nhịp điệu sinh mệnh của con người sẽ đạt tới mức gần giống hoặc tương đồng với nhịp điệu của vũ trụ.
(Tự nhiên giới âm dương tứ thời chi biến hóa thị hữu nhất định quy luật đích): Sự biến hóa của âm dương bốn mùa trong tự nhiên giới có quy luật nhất định.
(Nhất niên chi trung âm dương nhị khí chi tiêu trưởng quyết định liễu xuân ôn, hạ nhiệt, thu lương, đông hàn chi biến hóa): Trong một năm, sự tiêu trưởng của hai khí âm dương quyết định sự biến hóa thành xuân ấm, hạ nóng, thu mát, đông lạnh.
(Thụ thử ảnh hưởng, nhân chi mạch tượng dă tùy quư tiết cánh điệt nhi hữu xuân thiên viên hoạt, hạ thiên phương đại, thu thiên phù mao, đông thiên trầm thạch chi bất đồng): Chịu ảnh hưởng đó, mạch tượng của người cũng theo mùa mà thay đổi: mùa xuân tṛn hoạt, mùa hạ phương đại, mùa thu phù mao, mùa đông trầm thạch.
(Đông chí ḥa hạ chí thị âm dương tiêu trưởng chi lưỡng cá chuyển lệ điểm): Đông chí và hạ chí là hai điểm chuyển tiếp của sự tiêu trưởng âm dương.
(Đông chí nhất dương sinh, đông chí hậu tứ thập ngũ nhật dĩ chí lập xuân, dương khí tiệm trưởng, âm khí tiệm tiêu): Đông chí là lúc một dương bắt đầu sinh; từ sau đông chí bốn mươi lăm ngày cho đến lập xuân, dương khí dần dần tăng lên, âm khí dần dần giảm xuống.
(Hạ chí nhất âm sinh, hạ chí hậu tứ thập ngũ nhật dĩ chí lập thu, âm khí tiệm trưởng, dương khí tiệm tiêu): Hạ chí là lúc một âm bắt đầu sinh; từ sau hạ chí bốn mươi lăm ngày cho đến lập thu, âm khí dần dần tăng lên, dương khí dần dần giảm xuống.
(Âm dương tiêu trưởng, tứ quư cánh điệt, tuần hoàn văng phục, niên niên như thử): Âm dương tiêu trưởng, bốn mùa thay nhau, tuần hoàn qua lại, năm nào cũng như vậy.
(Mạch tượng quy củ hành quyền, tương kỳ nhi chí, thị vi chính thường, phủ tắc vi bệnh, vi tử, tịnh khả y thử chu kỳ suy đoạn bệnh tử chi thời): Mạch tượng nếu phù hợp với quy, củ, hành, quyền mà đến đúng kỳ, đó là b́nh thường; nếu không th́ là bệnh, là nguy; và c̣n có thể dựa vào chu kỳ ấy để suy đoán thời điểm bệnh nặng hoặc tử vong.
(Tại chẩn mạch thời yếu nhận thức đáo tứ thời khí hậu đối mạch tượng chi ảnh hưởng, bả mạch chẩn ḥa vọng ngũ sắc, văn ngũ âm đẳng tương hỗ “tham ngũ”, tài năng toàn diện bả ác bệnh t́nh): Khi chẩn mạch phải nhận thức được ảnh hưởng của khí hậu bốn mùa đối với mạch tượng, đồng thời phải đem mạch chẩn phối hợp với vọng ngũ sắc, văn ngũ âm mà “tham ngũ” lẫn nhau, như vậy mới nắm được toàn diện bệnh t́nh.
(Sở dĩ kinh văn chỉ xuất “thanh hợp ngũ âm, sắc hợp ngũ hành, mạch hợp âm dương”, chỉ hữu bả thanh âm, ngũ sắc, mạch bác chi biến hóa đô dữ tự nhiên giới âm dương ngũ hành biến hóa quy luật kết hợp khởi lai, tài năng “dĩ tri tử sinh”): V́ thế kinh văn nêu ra rằng “tiếng hợp ngũ âm, sắc hợp ngũ hành, mạch hợp âm dương”; chỉ khi kết hợp sự biến hóa của thanh âm, ngũ sắc, mạch tượng với quy luật âm dương ngũ hành của tự nhiên, mới có thể “biết được sống chết”.
(Kinh văn cường điệu chỉ xuất “tŕ mạch hữu đạo, hư tĩnh vi bảo”, y sinh chẩn mạch yếu tố đáo hư tâm tĩnh lự): Kinh văn nhấn mạnh rằng “cầm mạch có đạo, hư tĩnh là quư”, nghĩa là thầy thuốc khi chẩn mạch phải đạt được trạng thái hư tâm tĩnh lự.
(Giá dạng tài năng toàn thần quán chú, ṭng vi diệu chi mạch tượng biến hóa chi trung, trảo xuất bệnh mạch, tựu năng chính xác địa liễu giải bệnh t́nh, tập trung tinh lực khiển phương dụng dược, cố tương “hư tĩnh” tác vi y sinh chẩn mạch thời ưng tŕ chi tối giai tinh thần trạng thái): Chỉ như vậy mới có thể chuyên tâm, từ những biến hóa vi diệu của mạch tượng mà t́m ra bệnh mạch, từ đó hiểu đúng bệnh t́nh, chuyên chú lập phương dùng thuốc; v́ vậy “hư tĩnh” được coi là trạng thái tinh thần tốt nhất mà thầy thuốc nên giữ khi chẩn mạch.
(Kinh văn “xuân nhật phù”, “đông nhật tại cốt” đẳng cú, bất năng cận ṭng mạch ứng tứ thời khứ lư giải): Những câu như “mùa xuân mạch phù”, “mùa đông mạch ở xương” không nên chỉ hiểu đơn thuần là mạch ứng với bốn mùa.
(Giá thị tại luận thuật ứng tứ thời chi tiền đề hạ, đề xuất như hà phán đoán tứ thời bất đồng chi mạch tượng, dụng đa đại chi chỉ lực, trước lực chi thâm thiển độ, giảng chẩn mạch phương pháp): Đây là trong tiền đề bàn về mạch ứng bốn mùa, kinh văn đồng thời nêu ra cách phán đoán mạch tượng khác nhau của từng mùa, lực ngón tay phải dùng mạnh nhẹ ra sao, ấn nông sâu thế nào, tức là đang nói đến phương pháp chẩn mạch.
(Cụ thể nhi ngôn, xuân mạch phù, hiển hiện bộ vị thiển biểu, chẩn mạch thời ưng khinh thủ, chỉ lực bất nghi quá trọng, năng cảm thụ đáo mạch phù ư b́ phu, hữu hoạt lợi chi tượng): Nói cụ thể, mạch mùa xuân phù, vị trí biểu hiện nông ở phần ngoài; khi chẩn mạch phải khinh thủ, lực ngón tay không nên quá nặng, để cảm nhận được mạch nổi ở da và có tượng hoạt lợi.
(Hạ nhật phiếm phiếm hữu dư, tức yếu dụng trung đẳng chỉ lực thủ mạch, nhân mạch tại phu, giảo xuân nhật tại “ba” sảo thâm, tắc khả cảm thụ mạch lai hồng đại hữu dư chi mạch tượng): Mạch mùa hạ “phiếm phiếm hữu dư”, tức phải dùng lực ngón tay trung b́nh để lấy mạch; v́ mạch ở nơi da nhưng sâu hơn xuân mạch ở mức “trên sóng”, nên có thể cảm nhận được mạch hồng đại hữu dư.
(Thu nhật “hạ phu”, chẩn mạch thời yếu khinh khinh thâm án, tài năng chính xác thể hội thu mạch như “chập trùng tương khứ” chi tượng): Mạch mùa thu “xuống dưới da”, khi chẩn phải nhẹ nhàng ấn sâu hơn một chút mới cảm nhận đúng tượng thu mạch như “sâu trùng sắp ẩn đi”.
(Đông mạch bộ vị tối thâm, phi thâm án chi bất đắc, cố tu trọng án chí cốt năi đắc): Mạch mùa đông nằm sâu nhất, nếu không ấn sâu th́ không bắt được; v́ thế phải trọng án tới gần xương mới thấy.
(Bộ vị tại nội đích tu trọng án chi; bệnh vị tại kinh lạc giả, thủy dụng phù thủ pháp, chung dụng trầm thủ pháp, phù trầm tương tỷ giảo, tài năng đắc tri bệnh tại ngoại phủ): Những vị trí nằm ở trong th́ phải ấn nặng; nếu bệnh vị ở kinh lạc, lúc đầu dùng phù thủ pháp, sau dùng trầm thủ pháp, so sánh phù với trầm rồi mới biết bệnh có ở ngoài hay không.
(Tổng chi, xuân, hạ, thu, đông, nội, ngoại giá lục cá phương diện, thị chẩn mạch chi trọng yếu pháp tắc, tác vi y sinh tất tu chưởng ác): Tóm lại, xuân, hạ, thu, đông, nội, ngoại là sáu phương diện quan trọng của phép chẩn mạch, người làm thầy thuốc nhất định phải nắm vững.
(Mộng cảnh dữ tật bệnh cứu cánh hữu hà quan hệ, giá thị vi cổ kim trung ngoại học giả sở quan chú nhi hựu tranh luận thậm đa chi vấn đề): Mộng cảnh rốt cuộc có quan hệ ǵ với bệnh tật, đó là một vấn đề từ xưa tới nay các học giả trong ngoài nước đều quan tâm và tranh luận rất nhiều.
(Nội Kinh khiêu xuất liễu “mộng thị quỷ thần tác túy” chi quyển tử, bả mộng dữ nhân chi sinh lư bệnh lư trạng thái khẩn mật địa liên hệ khởi lai, tác vi đối bất đồng bệnh chứng chẩn đoán chi phương pháp): 《Nội Kinh》 đă vượt ra ngoài quan niệm “mộng là do quỷ thần quấy phá”, mà gắn chặt giấc mộng với trạng thái sinh lư và bệnh lư của con người, dùng nó như một phương pháp chẩn đoán các bệnh chứng khác nhau.
(Y cứ hoạn giả sở sản sinh chi bất đồng mộng cảnh, suy trắc kỳ âm dương tạng phủ khí huyết chi thịnh suy trạng thái): Dựa vào những giấc mộng khác nhau mà người bệnh xuất hiện, có thể suy đoán trạng thái thịnh suy của âm dương, tạng phủ, khí huyết.
(Mộng cảnh thị đại năo tại thụy miên thời đối ngoại giới sự vật kích thích chi nhất chủng tái hiện, đồng cơ thể nhậm hà cơ năng hoạt động nhất dạng, mộng dă thụ thể nội tạng phủ kinh lạc, khí huyết âm dương chi thịnh suy biến hóa ảnh hưởng): Mộng cảnh là một dạng tái hiện của đại năo đối với kích thích sự vật bên ngoài trong khi ngủ; cũng như mọi hoạt động chức năng khác của cơ thể, giấc mộng cũng chịu ảnh hưởng của biến hóa thịnh suy nơi tạng phủ, kinh lạc, khí huyết, âm dương bên trong cơ thể.
(Bất đồng chi nội tại biến hóa tựu hội sản sinh tương ứng chi bất đồng cơ năng hoạt động, tiến nhi xuất hiện bất đồng chi mộng cảnh): Những biến hóa nội tại khác nhau sẽ sinh ra những hoạt động chức năng khác nhau tương ứng, rồi từ đó xuất hiện những giấc mộng khác nhau.
(Chẩn đoán khả vận dụng loại tỷ phương pháp): Trong chẩn đoán có thể dùng phương pháp loại tỷ.
(Như: thủy thuộc âm, sở dĩ âm thịnh khả mộng kiến đại thủy; hỏa vi dương, sở dĩ dương thịnh khả mộng kiến đại hỏa nhiên thiêu; âm dương câu thịnh, hỗ tương tranh đấu chế ước lực gia cường, cố mộng kiến hỗ tương tư sát chi trạng): Ví như nước thuộc âm, nên âm thịnh có thể mộng thấy nước lớn; lửa thuộc dương, nên dương thịnh có thể mộng thấy lửa lớn bốc cháy; âm dương đều thịnh, lực tranh đấu và chế ước lẫn nhau tăng mạnh, nên mộng thấy cảnh chém giết lẫn nhau.
(Hoàn khả căn cứ bất đồng bệnh vị sở tại tạng phủ tổ chức chi sinh lư đặc trưng quy loại): Cũng có thể căn cứ vào đặc trưng sinh lư của tạng phủ, tổ chức nơi bệnh vị để phân loại.
(Như can “tại chí vi nộ”, sở dĩ “can khí thịnh tắc mộng nộ”; phế “tại chí vi bi”, cố “phế khí thịnh tắc mộng khốc” đẳng): Như can “ở chí là nộ”, nên “can khí thịnh th́ mộng giận”; phế “ở chí là bi”, nên “phế khí thịnh th́ mộng khóc”, v.v.
(Thử ngoại, “mộng phi”, “mộng đọa”, “mộng thủ”, “mộng dữ” đẳng, đô thị kết hợp cơ thể nội tại âm dương thịnh suy biến hóa khứ nhận thức đích, thể hiện liễu duy vật luận chi quan điểm): Ngoài ra, những giấc mộng như mộng bay, mộng rơi, mộng lấy, mộng cho, đều được nhận thức trên cơ sở kết hợp với sự biến hóa thịnh suy âm dương nội tại của cơ thể, thể hiện quan điểm duy vật.
(Xích phu tạng phủ phân bộ chẩn pháp): Phép chẩn vùng xích phu theo phân bộ tạng phủ.
Nguyên văn
(Xích nội lưỡng bàng, tắc quư hiếp dă, xích ngoại dĩ hậu thận, chỉ lư dĩ hậu phúc): Hai bên phía trong vùng xích th́ ứng với vùng quư hiếp; phía ngoài vùng xích để đón xem thận; phía trong phía gan bàn tay để đón xem bụng.
(Trung phụ thượng, tả ngoại dĩ hậu can, nội dĩ hậu cách; hữu ngoại dĩ hậu vị, nội dĩ hậu tỳ): Ở phần giữa mà lệch lên trên, bên trái ngoài để đón xem can, phía trong để đón xem cách; bên phải ngoài để đón xem vị, phía trong để đón xem tỳ.
(Thượng phụ thượng, hữu ngoại dĩ hậu phế, nội dĩ hậu hung trung; tả ngoại dĩ hậu tâm, nội dĩ hậu đản trung): Ở phần trên mà lại lệch lên trên, bên phải ngoài để đón xem phế, phía trong để đón xem hung trung; bên trái ngoài để đón xem tâm, phía trong để đón xem đản trung.
(Tiền dĩ hậu tiền, hậu dĩ hậu hậu): Phía trước dùng để đón xem phần trước, phía sau dùng để đón xem phần sau.
(Thượng cánh thượng giả, hung hầu trung sự dă; hạ cánh hạ giả, thiểu phúc yêu cổ tất hĩnh túc trung sự dă): Phần trên nữa là việc của ngực, họng; phần dưới nữa là việc của thiếu phúc, lưng, đùi, gối, cẳng chân và bàn chân. {Tố Vấn. Mạch Yếu Tinh Vi Luận}
Chú thích
1/(Xích nội): Nghĩa là phía trong của xích trạch, tức vùng xích phu; là phần da ở mặt trong cẳng tay, từ khuỷu tay đến cổ tay.
2/(Quư hiếp): Là phần dưới của ngực sườn, c̣n gọi là nhuyễn lặc.
3/(Xích ngoại): Là phía ngoài của bộ xích, tức phía ngón cái.
4/(Xích lư): Là phía trong của bộ xích, tức phía ngón út.
5/(Trung phụ thượng、thượng phụ thượng): Phần da từ xích trạch đến ngư tế được chia làm ba đoạn; “trung” là đoạn giữa, “thượng” là đoạn trên, c̣n “xích ngoại”, “xích lư” nói ở trên là đoạn dưới.
6/(Thượng cánh thượng, hạ cánh hạ): “Cánh” nghĩa là hết, tận. “Thượng cánh thượng” tức là tận đến vùng cổ tay; “hạ cánh hạ” tức là tận đến vùng bộ xích.
Phân tích
(Bản đoạn luận thuật liễu xích phu chẩn chi nội dung):
Đoạn này bàn về nội dung của phép chẩn xích phu.
(Ṭng oản chí xích trạch chi nội trắc b́ phu xưng vi xích phu):
Phần da mặt trong từ cổ tay đến xích trạch được gọi là xích phu.
(Thông quá chẩn sát xích phu chi bất đồng bộ vị khả dĩ phân hậu tạng phủ ḥa toàn thân): Thông qua việc chẩn sát các bộ vị khác nhau của xích phu, có thể chia để xét tạng phủ và toàn thân.
(Xích phu chẩn diệc đồng trung y chẩn pháp trung thiệt chẩn、mạch chẩn、sắc chẩn nhất dạng, thị nhân thể nội bộ tạng phủ tư tấn biến hóa chi song khẩu): Phép chẩn xích phu cũng giống như thiệt chẩn, mạch chẩn, sắc chẩn trong chẩn pháp Trung y, đều là “cửa sổ” phản ánh sự biến hóa thông tin của tạng phủ bên trong cơ thể.
(Thị Trung Quốc cổ đại thường dụng chi chẩn pháp): Đây là một phương pháp chẩn đoán thường dùng trong y học cổ đại Trung Quốc.
(Phương pháp thị tương xích phu phân vi tam cá bộ phận, ngũ tạng lục phủ các hữu phân bộ): Cách làm là chia xích phu thành ba phần, ngũ tạng lục phủ mỗi thứ đều có phân bộ riêng.
(Chủ yếu chẩn sát xích phu chi hàn nhiệt、hoạt sáp cập lạc mạch sắc trạch): Chủ yếu là chẩn sát tính hàn nhiệt, hoạt sáp và màu sắc của lạc mạch ở vùng xích phu.
(Dĩ chẩn tật bệnh chi hàn nhiệt、tân dịch chi doanh khuy cập khí huyết chi thịnh suy): Từ đó chẩn đoán hàn nhiệt của bệnh, sự đầy đủ hay thiếu hụt của tân dịch, và sự thịnh suy của khí huyết.
(Cụ thể phân bộ khả kiến đồ): Sự phân bộ cụ thể có thể xem ở h́nh minh họa.
(Ṭng xích phu chẩn khả dĩ liễu giải toàn thân chi t́nh huống): Từ phép chẩn xích phu có thể hiểu được t́nh trạng của toàn thân.
(Nội Kinh trung hữu quan xích phu chẩn chi kư tải hữu đa xứ): Trong Nội Kinh có nhiều chỗ ghi chép liên quan đến phép chẩn xích phu.
(Trừ bản thiên ngoại, thượng kiến ư 《Tố Vấn・B́nh Nhân Khí Tượng Luận》, 《Linh Khu・Tà Khí Tạng Phủ Bệnh H́nh》 ḥa 《Linh Khu・Luận Tật Chẩn Xích》 đẳng thiên): Ngoài thiên này ra, c̣n thấy ở các thiên như 《Tố Vấn・B́nh Nhân Khí Tượng Luận》, 《Linh Khu・Tà Khí Tạng Phủ Bệnh H́nh》 và 《Linh Khu・Luận Tật Chẩn Xích》.
(Mục tiền, xích phu chẩn tại lâm sàng dĩ thậm thiểu ứng dụng): Hiện nay, phép chẩn xích phu trên lâm sàng đă rất ít được dùng.
(Đăn đối mỗ ta bệnh chứng, đặc biệt thị ôn nhiệt bệnh, nhưng hữu nhất định chi lâm sàng giá trị, đáng đắc tiến nhất bộ phát quật ḥa nghiên cứu): Nhưng đối với một số bệnh chứng, đặc biệt là ôn nhiệt bệnh, nó vẫn có giá trị lâm sàng nhất định, đáng được tiếp tục khai thác và nghiên cứu thêm.
Đồ h́nh hai tay
(Điều tức sát mạch ḥa biện biệt b́nh mạch、bệnh mạch、tử mạch chi cơ bản phương pháp): Phép điều ḥa hơi thở để xem mạch, cùng phương pháp cơ bản để phân biệt mạch b́nh thường, mạch bệnh và mạch tử.
Nguyên văn
(Hoàng Đế vấn viết: B́nh nhân hà như? Kỳ Bá đối viết: Nhân nhất hô mạch tái động, nhất hấp mạch diệc tái động, hô hấp định tức mạch ngũ động, nhuận dĩ thái tức, mệnh viết b́nh nhân): Hoàng Đế hỏi rằng: Người b́nh thường th́ thế nào? Kỳ Bá đáp rằng: Người b́nh thường, một lần thở ra mạch động hai lần, một lần hít vào mạch cũng động hai lần, cộng thêm khoảng nghỉ của một hơi thở th́ mạch đủ năm động, lại có dư một chút theo hơi thở dài, như thế gọi là người b́nh thường.
(B́nh nhân giả, bất bệnh dă): Người b́nh thường tức là người không có bệnh.
(Thường dĩ bất bệnh điều bệnh nhân, y bất bệnh, cố vi bệnh nhân b́nh tức dĩ điều chi vi pháp): Thường lấy trạng thái không bệnh để đo người bệnh; thầy thuốc là người không bệnh, cho nên lấy hơi thở b́nh ḥa của ḿnh làm chuẩn để đo bệnh nhân, đó là phương pháp.
(Nhân nhất hô mạch nhất động, nhất hấp mạch nhất động, viết thiểu khí): Nếu một lần thở ra mạch chỉ động một lần, một lần hít vào mạch cũng chỉ động một lần, th́ gọi là thiểu khí.
(Nhân nhất hô mạch tam động, nhất hấp mạch tam động nhi táo, xích nhiệt viết bệnh ôn, xích bất nhiệt mạch hoạt viết bệnh phong, mạch sáp viết tư): Nếu một lần thở ra mạch động ba lần, một lần hít vào cũng ba lần mà lại táo gấp, nếu vùng xích nóng th́ là bệnh ôn; vùng xích không nóng mà mạch hoạt th́ là bệnh phong; mạch sáp th́ là bệnh tư.
(Nhân nhất hô mạch tứ động dĩ thượng viết tử, mạch tuyệt bất chí viết tử, sạ sơ sạ sác viết tử): Nếu một lần thở ra mà mạch động bốn lần trở lên th́ là mạch chết; mạch tuyệt không đến cũng là mạch chết; chợt thưa chợt nhanh cũng là mạch chết.
1/(Định tức): “Định tức” là khoảng dư ra ngoài một lần hô và một lần hấp; hô là khí ra, hấp là khí vào, một hô một hấp gọi là một tức, phần dư sau một tức gọi là định tức.
2/(Nhuận dĩ thái tức):
“Nhuận” là có dư; ở đây chỉ mạch đập thêm một nhịp, c̣n “thái tức” là một hơi thở dài hơn b́nh thường.
3/(Điều): Ở đây có nghĩa là cân nhắc, đo lường.
4/(B́nh tức): Nghĩa là hô hấp đều đặn.
Phân tích
(Bản đoạn luận thuật liễu điều tức sát mạch chí số ḥa biện biệt b́nh mạch、bệnh mạch、tử mạch chi cơ bản phương pháp): Đoạn này bàn về cách điều ḥa hơi thở để xét số lần mạch đập, từ đó phân biệt mạch b́nh thường, mạch bệnh và mạch tử.
(Hoàn giới thiệu liễu án xích phu ḥa chẩn mạch tương kết hợp chi phương pháp lai giám biệt ôn bệnh、phong bệnh、tư bệnh): Đồng thời c̣n giới thiệu phương pháp kết hợp xem xích phu với chẩn mạch để phân biệt ôn bệnh, phong bệnh và tư bệnh.
(Bản tiết luận thuật liễu điều tức sát mạch, tịnh dĩ thử lai biện biệt chính thường mạch tượng、bệnh lư mạch tượng、tử vong mạch tượng chi cơ bản phương pháp dữ chủ bệnh ư nghĩa): Phần này nói về phép điều tức xem mạch, dùng đó để phân biệt mạch tượng b́nh thường, mạch tượng bệnh lư và mạch tượng tử vong, cùng ư nghĩa chủ bệnh của chúng.
(Sở vị “dĩ bất bệnh điều bệnh nhân”, tuy thuyết thị hạn ư đương thời lịch sử điều kiện chi nhất chủng phương pháp, đán thị tại kim nhật nhưng khả tá dụng): Cái gọi là “lấy người không bệnh để đo người bệnh”, tuy là một phương pháp bị giới hạn bởi điều kiện lịch sử đương thời, nhưng ngày nay vẫn có thể mượn dùng.
(Nhi thả tha chủ yếu ư nghĩa hoàn tại ư yết thị xuất liễu trung y học “dĩ ngă tri bỉ” ḥa “tri thường đạt biến” chi phương pháp luận): Hơn nữa, ư nghĩa chủ yếu của nó c̣n ở chỗ nêu rơ phương pháp luận của Trung y là “lấy ḿnh biết người” và “biết cái thường để đạt tới cái biến”.
(Tức thủ tiên yếu chưởng ác chính thường chi sinh lư hiện tượng dữ quy luật, tài năng thông hiểu dị thường chi bệnh lư hiện tượng dữ quy luật): Nghĩa là trước hết phải nắm được hiện tượng sinh lư và quy luật b́nh thường, rồi mới có thể hiểu được hiện tượng và quy luật bệnh lư bất thường.
(Dĩ chính thường chi vi tiêu chuẩn, khứ hành lượng dị thường chi, lưỡng tương đối tỷ phân tích, ṭng nhi bả ác tật bệnh chi biến hóa ḥa bản chất, giá thị trung y học tối cơ bản chi phương pháp): Lấy cái b́nh thường làm tiêu chuẩn để cân nhắc cái bất thường, đem hai bên so sánh phân tích, từ đó nắm được sự biến hóa và bản chất của bệnh tật; đó là phương pháp cơ bản nhất của Trung y.
(Kỳ thực, tây y học chẩn đoán tật bệnh tuyệt đại đa số t́nh huống hạ, dă thị dĩ các chủng kiểm tra、hóa nghiệm chi chính thường tư liệu vi tiêu chuẩn, tái căn cứ bệnh biến tư liệu chi thăng cao hoặc giáng đê lai xác chẩn tật bệnh, ṭng phương pháp học chi ư nghĩa giảng như xuất nhất triệt): Thực ra, trong Tây y, phần lớn các trường hợp chẩn đoán bệnh cũng lấy các số liệu kiểm tra, xét nghiệm b́nh thường làm tiêu chuẩn, rồi căn cứ vào sự tăng hay giảm của số liệu bệnh lư mà xác định bệnh; xét về mặt phương pháp học th́ hoàn toàn giống nhau.
(Vưu kỳ nhu yếu chỉ xuất đích thị, bản tiết xác nhận chính thường nhân hô hấp dữ mạch bác chi tỷ lệ thị nhất đối tứ, ṭng kim nhật sinh lư học chi tiêu chuẩn khán, chính thường nhân mỗi phân chung hô hấp thập bát thứ tả hữu, tâm suất thất thập nhị thứ tả hữu, vô nghi thị chính xác đích): Đặc biệt cần chỉ ra rằng phần này xác nhận tỷ lệ giữa hô hấp và mạch đập của người b́nh thường là 1:4; xét theo tiêu chuẩn sinh lư học ngày nay, người b́nh thường mỗi phút thở khoảng 18 lần, nhịp tim khoảng 72 lần, rơ ràng là hoàn toàn chính xác.
(Nhi hô hấp nhất thứ mạch lai cận hữu nhị thứ hoặc bát thứ dĩ thượng, hoặc hốt nhiên ngận mạn, hốt nhiên hựu ngận khoái, hựu dữ tây y học các chủng tâm luật thất thường chi bệnh biến phả đa tương tự): C̣n nếu một hơi thở mà mạch chỉ có 2 lần hoặc hơn 8 lần, hoặc lúc chợt rất chậm, lúc lại rất nhanh, th́ cũng rất giống với nhiều dạng rối loạn nhịp tim trong Tây y.
(Nội Kinh tảo tại nhị thiên đa niên tiền tựu năng hữu như thử khoa học chi nhận thức, xác thực liễu bất khởi): 《Nội Kinh》 từ hơn hai ngh́n năm trước mà đă có nhận thức khoa học như vậy, thật đáng kinh ngạc.
(Mạch dĩ vị khí vi bản chi ư nghĩa, dĩ cập hư lư đích chẩn pháp): Ư nghĩa của việc lấy vị khí làm gốc của mạch, cùng với phép chẩn hư lư.
Nguyên văn
(B́nh nhân chi thường khí bẩm ư vị, vị giả, b́nh nhân chi thường khí dă, nhân vô vị khí viết nghịch, nghịch giả tử): Thường khí của người b́nh thường nhận từ vị; vị chính là thường khí của người b́nh thường; người không có vị khí th́ gọi là nghịch, mà nghịch th́ chết.
(Xuân vị vi (huyền viết) b́nh): Mùa xuân, mạch có vị khí mà hơi mang huyền tượng th́ là mạch b́nh.
(Huyền đa vị thiểu can bệnh, đăn huyền vô vị viết tử): Huyền nhiều mà vị khí ít là can bệnh; chỉ có huyền mà không có vị khí th́ là mạch chết.
(Vị nhi hữu mao viết thu bệnh, mao thậm viết kim bệnh): Có vị khí mà lại kèm mao mạch th́ sẽ phát bệnh vào mùa thu; mao tượng nặng th́ hiện tại đă phát bệnh.
(Tạng chân tán ư can, can tàng cân mạc chi khí dă): Chân khí của các tạng tản ra ở can, v́ can tàng khí của cân mạc.
(Hạ vị vi câu viết b́nh): Mùa hạ, mạch có vị khí mà hơi mang câu tượng th́ là mạch b́nh.
(Câu đa vị thiểu viết tâm bệnh, đăn câu vô vị viết tử): Câu nhiều mà vị khí ít là tâm bệnh; chỉ có câu mà không có vị khí th́ là mạch chết.
(Vị nhi hữu thạch viết đông bệnh, thạch thậm viết kim bệnh): Có vị khí mà kèm thạch mạch th́ sẽ phát bệnh vào mùa đông; thạch tượng nặng th́ hiện tại đă phát bệnh.
(Tạng chân thông ư tâm, tâm tàng huyết mạch chi khí dă): Chân khí của các tạng thông ở tâm, v́ tâm tàng khí của huyết mạch.
(Trường hạ vị vi nhược viết b́nh): Mùa trường hạ, mạch có vị khí mà hơi mang nhược tượng th́ là mạch b́nh.
(Nhược đa vị thiểu viết tỳ bệnh, đăn đại vô vị viết tử): Nhược nhiều mà vị khí ít là tỳ bệnh; chỉ có đại mà không có vị khí th́ là mạch chết.
(Nhược hữu thạch viết đông bệnh, nhược thậm viết kim bệnh): Nhược mà kèm thạch th́ sẽ phát bệnh vào mùa đông; nhược quá nặng th́ hiện tại đă phát bệnh.
(Tạng chân nhu ư tỳ, tỳ tàng cơ nhục chi khí dă): Chân khí của các tạng nhu nhuận ở tỳ, v́ tỳ tàng khí của cơ nhục.
(Thu vị vi mao viết b́nh, mao đa vị thiểu viết phế bệnh, đăn mao vô vị viết tử): Mùa thu, mạch có vị khí mà hơi mang mao tượng th́ là b́nh; mao nhiều mà vị khí ít là phế bệnh; chỉ có mao mà không có vị khí th́ là mạch chết.
(Mao nhi hữu huyền viết xuân bệnh, huyền thậm viết kim bệnh): Mao mà lại có huyền th́ sẽ phát bệnh vào mùa xuân; huyền quá nặng th́ hiện tại đă phát bệnh.
(Tạng chân cao ư phế, dĩ hành doanh vệ âm dương dă): Chân khí của các tạng quy lên phế để vận hành doanh vệ âm dương.
(Đông vị vi thạch viết b́nh, thạch đa vị thiểu viết thận bệnh, đăn thạch vô vị viết tử): Mùa đông, mạch có vị khí mà hơi mang thạch tượng th́ là b́nh; thạch nhiều mà vị khí ít là thận bệnh; chỉ có thạch mà không có vị khí th́ là mạch chết.
(Thạch nhi hữu câu viết hạ bệnh, câu thậm viết kim bệnh): Thạch mà lại có câu th́ sẽ phát bệnh vào mùa hạ; câu quá nặng th́ hiện tại đă phát bệnh.
(Tạng chân hạ ư thận, thận tàng cốt tủy chi khí dă): Chân khí của các tạng đi xuống thận, v́ thận tàng khí của cốt tủy.
(Vị chi đại lạc, danh viết hư lư, quán cách lạc phế, xuất ư tả nhũ hạ, kỳ động ứng y, mạch tông khí dă): Đại lạc của vị gọi là hư lư, xuyên qua cơ hoành mà lạc với phế, xuất hiện ở dưới vú trái, chỗ đó động đến mức làm rung áo, ấy là mạch của tông khí.
(Thịnh suyễn sác tuyệt giả, tắc bệnh tại trung): Nếu động thịnh, suyễn, nhanh hoặc ngắt quăng, th́ bệnh ở trung tiêu.
(Kết nhi hoành, hữu tích hĩ): Nếu kết lại mà đi ngang th́ đă có tích tụ.
(Tuyệt bất chí, viết tử): Nếu tuyệt hẳn không đến th́ là tử chứng.
(Nhũ chi hạ, kỳ động ứng y, tông khí tiết dă): Dưới vú mà động làm rung áo, là biểu hiện tông khí bị tiết ra ngoài. {Tố Vấn. B́nh Nhân Khí Tượng Luận}
Chú thích
1/(Thường khí): Là mạch khí của người b́nh thường, tức là vị khí.
2/(Nhân vô vị khí viết nghịch, nghịch giả tử): Người không có vị khí th́ gọi là nghịch, mà đă nghịch th́ chết. Trương Giới Tân chú rằng: Thổ đắc khí trung ḥa của trời đất để sinh trưởng và nuôi dưỡng vạn vật, lại phân vượng ở bốn mùa, mà vị của con người chính là ứng với thổ ấy. Phàm người b́nh thường, khí đều nhận từ ngũ cốc; ngũ cốc vào vị rồi ngũ tạng lục phủ mới nhờ đó mà được khí, cho nên vị là gốc của tạng phủ. Vị khí này chính là thường khí của người b́nh thường, không thể thiếu dù chỉ trong chốc lát; hễ mất đi th́ là nghịch, mà nghịch th́ chết. Vị khí biểu hiện ở mạch, như trong 《Ngọc cơ chân tạng luận》 nói: “Mạch nhược mà hoạt, tức là có vị khí”; lại như thiên 《Chung thủy》 nói: “Tà khí đến th́ khẩn mà tật, cốc khí đến th́ từ mà ḥa.” Đó đều là nói về vị khí. Đại để, mạch hợp thời th́ không thái quá, không bất cập, tự có một dáng vẻ ung dung, ḥa hoăn, ấy chính là mạch có vị khí.
3/(Xuân vị vi huyền viết b́nh): Ư nói mạch mùa xuân có vị khí mà hơi mang huyền tượng th́ là mạch b́nh. Các câu dưới như “hạ vị vi câu”, “trường hạ vị vi nhuyễn nhược” đều hiểu tương tự.
4/(Huyền đa vị thiểu can bệnh, đăn huyền vô vị viết tử): Huyền nhiều mà vị khí ít là can mộc thiên thắng, mất khí xung ḥa, cho nên là can bệnh. Nếu chỉ có huyền cấp mà hoàn toàn không c̣n khí xung ḥa, tức là mất con đường sinh, nên chết. Các câu sau như “câu đa vị thiểu”, “nhược đa vị thiểu”, “đăn câu vô vị” đều cùng nghĩa này.
5/(Vị nhi hữu mao viết thu bệnh, mao thậm viết kim bệnh): Trương Giới Tân chú rằng: “Mao là mạch mùa thu thuộc kim, mùa xuân mà được mạch ấy là tặc tà; v́ vị khí c̣n tồn tại, cho nên đến mùa thu mới phát bệnh. Nếu mạch xuân mà mao quá nặng, tức mộc đă bị kim thương, nên không cần đợi tới thu, hiện nay đă phát bệnh.” “Mao”, đời Minh Mă Th́ trong 《Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn Chú Chứng Phát Vi》 giải là: “Khinh hư tựa phù gọi là mao”, có thể theo.
6/ (Tạng chân tán ư can, can tàng cân mạc chi khí): “Tạng chân” là chỉ chân khí được tàng chứa trong ngũ tạng. Ngô Khôn chú rằng: “Can khí hỷ tán, mùa xuân can mộc chủ sự, cho nên chân khí của ngũ tạng đều tán về can.” V́ can chủ cân, nên can tàng khí của cân mạc.
7/(Hạ vị vi câu viết b́nh): “Câu” tức là hồng đại mạch, có tượng đến th́盛 mà đi th́ suy, giống như đầu móc hơi cong. Trương Kỳ chú: “Câu tức hồng, phù thịnh隆 khởi, trung hư nhi viên hoạt, nên gọi là câu.” Ngô Khôn chú: “Nói mạch mùa hạ nên có câu tượng, nhưng phải là trong khí xung ḥa của vị mà mạch chỉ hơi câu, như thế mới gọi là mạch b́nh điều.”
8/(Vị nhi hữu thạch viết đông bệnh, thạch thậm viết kim bệnh): “Thạch” tức là trầm mạch. Trương Giới Tân chú: “Thạch là mạch mùa đông thuộc thủy, mùa hạ mà được mạch ấy là tặc tà. V́ vị khí c̣n tồn tại, cho nên đến mùa đông mới phát bệnh. Nếu mạch mùa hạ mà thạch quá nặng th́ tức là không có vị khí, hỏa đă bị thủy làm tổn thương sâu, nên không cần đợi đến đông, hiện nay đă phát bệnh.”
9/(Trường hạ vị vi nhược viết b́nh): Ngô Khôn chú: “Nhuyễn nhược là mạch của tỳ. Trường hạ thuộc thổ, mạch nên nhuyễn nhược; nhưng phải là trong khí xung ḥa của vị mà hơi mang nhuyễn nhược, như thế mới gọi là mạch b́nh điều.”
10(Đăn đại vô vị viết tử): Cao Thế Thức chú: “Đại là mức cực của nhuyễn nhược. Nhuyễn nhược đến cực điểm mà không có vị khí, th́ gọi là tử mạch.”
11/(Nhược hữu thạch viết đông bệnh, nhược thậm viết kim bệnh): Trương Giới Tân chú rằng: “Thạch là mạch mùa đông, thuộc thủy. Vào mùa trường hạ, khi dương khí đang rất thịnh mà lại thấy mạch trầm thạch, tức là hỏa thổ chi khí đă suy, c̣n thủy khí lại phản thừa lên, cho nên đến mùa đông th́ phát bệnh. Chữ ‘nhược’ ở đây nên đổi thành ‘thạch’. Nếu vào trường hạ mà thạch tượng quá nặng, tức là hỏa thổ đại suy, cho nên không cần đợi đến mùa đông, hiện tại đă phát bệnh rồi.”
12/(Tạng chân nhu ư tỳ, tỳ tàng cơ nhục chi khí dă): Ngô Khôn chú rằng: “Nhu là nhuận trạch. Tỳ khí ưa nhuận trạch, vào mùa trường hạ th́ tỳ thổ chủ sự, cho nên chân khí của ngũ tạng đều được nhuận trạch ở tỳ. C̣n cái mà tỳ tàng giữ, chính là khí của cơ nhục.” Ư câu này nói rằng vào mùa trường hạ, tinh khí của các tạng đều quy về tỳ để được nuôi dưỡng, mà tỳ th́ chủ cơ nhục, cho nên tỳ tàng khí của cơ nhục.
13(Vị vi mao viết b́nh, mao đa vị thiểu viết phế bệnh, đăn mao vô vị viết tử): “Mao” là thứ mạch giống như phù mạch. Vương Băng chú rằng: “Nghĩa là nhẹ nổi như vật nổi lên, như gió thổi vào lông vậy.” Tức là mạch đến nhẹ, hư, phù, có cảm giác như ấn lên lớp lông mỏng. Ngô Khôn chú rằng: “Mạch mùa thu nên là mao, nhưng phải là trong cái khí xung ḥa của vị mà mạch chỉ hơi có mao tượng, như vậy mới gọi là mạch b́nh điều. Mao nhiều mà vị khí ít, tức là phế kim thiên thắng mà mất đi cái khí xung ḥa, đó gọi là phế bệnh. Nếu chỉ có mạch phù mao mà hoàn toàn không có vị khí xung ḥa, tức là chân tạng mạch của phế đă lộ ra, sinh đạo đă mất, cho nên chết.”
14/(Mao nhi hữu huyền viết xuân bệnh, huyền thậm viết kim bệnh): Trương Giới Tân chú rằng: “Huyền là mạch mùa xuân, thuộc mộc. Vào mùa thu mà lại có huyền tượng, tức là kim khí suy mà mộc khí phản thừa lên, cho nên đến mùa xuân, khi mộc vượng th́ phát bệnh. Nếu mạch mùa thu mà huyền quá nặng, tức là kim khí đă đại suy, c̣n mộc th́ không c̣n sợ hăi ǵ nữa, cho nên không cần đợi đến mùa xuân, hiện tại đă phát bệnh rồi.”
15/(Tạng chân cao ư phế, dĩ hành doanh vệ âm dương dă): Ngô Khôn chú rằng: “Phế khí ưa thanh cao, vào mùa thu th́ phế kim chủ sự, cho nên chân khí của ngũ tạng đều cùng quy cao lên phế. Phế chủ trị tiết, có công năng vận hành doanh vệ, thông đạt âm dương, chứ không chỉ đơn thuần là thanh cao mà thôi.” Ư câu này muốn nói phế không chỉ là nơi tinh khí quy tụ vào mùa thu, mà c̣n đảm nhiệm việc điều hành doanh vệ, điều ḥa âm dương toàn thân.
16/(Đông vị vi thạch viết b́nh, thạch đa vị thiểu viết thận bệnh, đăn thạch vô vị viết tử): “Thạch” tức là trầm mạch. Mă Th́ chú rằng: “Vào mùa đông, mạch của thận tất phải chủ về thạch, như đá ch́m xuống nước vậy.” Mùa đông chủ bế tàng, thận khí tương ứng với điều đó, cho nên mạch phải có vị khí mà kiêm một chút trầm tượng, như vậy mới gọi là b́nh. Trương Giới Tân chú rằng: “Thạch nhiều mà vị khí ít, tức là thủy khí thiên thắng, phản thừa lên thổ, cho nên thành thận bệnh. Nếu chỉ có thạch mà không có vị khí, tức là vị khí của mùa đông đă tuyệt, mà chân tạng của thận đă hiện ra, cho nên chết.”
17/(Thạch nhi hữu câu viết hạ bệnh, câu thậm viết kim bệnh): Trương Giới Tân chú rằng: “Câu là mạch mùa hạ, thuộc hỏa. Vào mùa đông mà lại thấy câu tượng, tức là thủy khí suy mà hỏa khí phản thừa lên, cho nên đến mùa hạ, khi hỏa vượng th́ phát bệnh. Nếu mạch mùa đông mà câu tượng quá nặng, tức là thủy khí đă đại suy, mà hỏa không c̣n ǵ phải sợ nữa, cho nên không cần đợi đến mùa hạ, hiện tại đă phát bệnh rồi.”
18/(Tạng chân hạ ư thận, thận tàng cốt tủy chi khí dă): Chữ “hạ” ở đây là hạ tàng, nghĩa là đi xuống và ẩn tàng. Cao Thế Thức chú rằng: “Can chủ sơ tiết nên nói là tán; tâm chủ huyết mạch nên nói là thông; tỳ chủ quán khái nên nói là nhu; phế cư ở trên nên nói là cao; thận là thủy tạng nên nói là hạ.” Trương Giới Tân chú rằng: “Mùa đông thủy chủ sự, khí của nó chủ bế tàng, cho nên tạng chân chi khí đi xuống thận, mà cái thận tàng giữ chính là khí của cốt tủy.” Ư nói vào mùa đông, chân khí các tạng thu tàng xuống thận, mà thận chủ cốt tủy.
19(Hư lư): Hư lư nằm ở dưới vú trái, chỗ mỏm tim đập.
20/(Kỳ động ứng y, mạch tông khí dă): Chữ “y”, bản 《Giáp Ất Kinh》 chép là “thủ”. Chữ “mạch” ở đây là động từ, có nghĩa là xem xét, chẩn hậu. Chữ “tông” là tụ hợp. V́ hư lư là nơi các mạch hội tụ, cho nên gọi là tông khí.
21/(Thịnh suyễn sác tuyệt giả, tắc bệnh tại trung): Trương Giới Tân chú rằng: “Nếu động ở hư lư quá mạnh như suyễn, hoặc quá nhanh mà lại có lúc ngắt quăng, là do trung khí không giữ được mà ra, cho nên nói bệnh ở trung.” Ư là khi hư lư động quá mạnh, quá nhanh hoặc không đều, thường là biểu hiện bệnh ở trung tiêu hoặc trung khí thất thủ.
22/(Kết nhi hoành, hữu tích hĩ): 《Nan Kinh・Thập bát nan》 nói: “Kết là mạch đến không theo số thường, thỉnh thoảng dừng một lần, gọi là kết.” Ngô Khôn chú rằng: “Hoành là nằm ngang ở dưới đầu ngón tay.” Ư nói mạch ở hư lư nếu kết mà có cảm giác cứng ngang dưới tay, th́ là trong vị có tích. Chữ “tích” ở đây là chỉ chứng tích tụ.
23/(Tuyệt bất chí, viết tử): Ư nói tông khí đă tuyệt, cho nên gọi là tử chứng. Mă Th́ chú rằng: “Nếu tuyệt mà không đến, tức là vị khí đă tuyệt, cho nên gọi là chết.”
24/(Nhũ chi hạ, kỳ động ứng y, tông khí tiết dă): Ngô Khôn chú rằng: “Tông khí nên tàng mà không nên tiết. Mạch hư lư dưới vú nếu động đến mức làm rung áo, đó là tông khí không giữ được mà tiết ra ngoài.”
Phân tích
(Bản đoạn xiển phát liễu mạch dĩ vị khí vi bản chi ư nghĩa, chỉ xuất liễu tứ thời ngũ tạng chi b́nh mạch, bệnh mạch ḥa tử mạch, dĩ cập hư lư chi chẩn pháp): Đoạn này phát huy ư nghĩa của học thuyết “mạch lấy vị khí làm gốc”, đồng thời chỉ ra b́nh mạch, bệnh mạch, tử mạch của ngũ tạng theo bốn mùa, và cả phép chẩn hư lư.
(Kinh văn luận thuật liễu xuân, hạ, trường hạ, thu, đông trung ngũ tạng chi chính thường, bệnh lư ḥa tử vong chi mạch tượng, cường điệu chỉ xuất b́nh mạch, bệnh mạch ḥa tử mạch chi giám biệt, quan kiện tại ư vị khí chi hữu vô ḥa đa thiểu, tức các chủng mạch tượng thị phủ cụ hữu nhu ḥa chi chinh tượng): Kinh văn bàn về mạch tượng b́nh thường, bệnh lư và tử vong của ngũ tạng trong xuân, hạ, trường hạ, thu, đông, và nhấn mạnh rằng chỗ then chốt để phân biệt b́nh mạch, bệnh mạch và tử mạch là có vị khí hay không, nhiều hay ít, tức là các loại mạch tượng có c̣n giữ được dấu hiệu nhu ḥa hay không.
(Vị khí thiểu tắc bệnh, vị khí tuyệt tắc tử): Vị khí ít th́ thành bệnh, vị khí tuyệt th́ chết.
(Giá chủng mạch dĩ vị khí vi bản chi lư luận, đối hậu thế mạch học chi phát triển hữu thập phần thâm viễn chi ảnh hưởng, sở vị “vị、thần、căn” chi lư luận, tức bản nguyên ư thử): Học thuyết mạch lấy vị khí làm gốc này đă có ảnh hưởng rất sâu xa đến sự phát triển của mạch học đời sau; cái gọi là lư luận “vị, thần, căn” đều bắt nguồn từ đây.
(Văn trung đề đáo chi quư tiết chi gian giao xoa chi phát bệnh, thuộc ư “mạch nghịch tứ thời” chi nội dung, ưng dĩ ngũ tạng chi gian tương hỗ chế ước chi quan hệ tiến hành phân tích ḥa chẩn đoán): Những chỗ văn nói đến phát bệnh giao nhau giữa các mùa, thuộc nội dung “mạch nghịch tứ thời”, cần phân tích và chẩn đoán dựa trên quan hệ chế ước lẫn nhau giữa ngũ tạng.
(Chẩn sát hư lư, thị trung y nhất chủng đặc thù chi chẩn pháp, thuộc ư thiết chẩn chi nội dung): Phép chẩn sát hư lư là một phương pháp chẩn đoán đặc biệt của Trung y, thuộc phạm vi thiết chẩn.
(Trung y học nhận vi tâm tạng chi bác động ḥa huyết dịch chi vận hành dữ mạch trung tông khí chi thôi động tác dụng hữu quan): Trung y cho rằng sự co bóp của tim và sự vận hành của huyết dịch có liên quan đến tác dụng thúc đẩy của tông khí trong mạch.
(Tông khí, thị do phế ṭng tự nhiên giới hấp nhập chi thanh khí ḥa tỳ vị vận hóa chi thủy cốc tinh vi chi khí tổ thành, năng trợ phế dĩ hành hô hấp, trợ tâm dĩ hành khí huyết): Tông khí là do thanh khí do phế hít vào từ tự nhiên và tinh vi thủy cốc do tỳ vị vận hóa hợp thành; nó có thể giúp phế thực hiện hô hấp, giúp tâm vận hành khí huyết.
(Kỳ cụ thể tuần hành tại 《Linh Khu・Ngũ Vị》, 《Linh Khu・Tà Khách》, 《Linh Khu・Thích Tiết Chân Tà》 trung hữu tán tại luận thuật): Sự tuần hành cụ thể của tông khí được bàn rải rác trong các thiên 《Linh Khu・Ngũ Vị》, 《Linh Khu・Tà Khách》 và 《Linh Khu・Thích Tiết Chân Tà》.
(Bản tiết chỉ xuất liễu tông khí thôi động tâm tạng bác động, điều tiết tâm suất ḥa tâm luật chi công năng, lâm sàng thường dĩ tâm tiêm chi bác động t́nh huống kết hợp mạch tượng lai chẩn sát tông khí chi thịnh suy): Phần này nêu rơ công năng của tông khí trong việc thúc đẩy tim co bóp, điều tiết tần số và nhịp tim; trên lâm sàng thường kết hợp t́nh trạng mỏm tim đập với mạch tượng để xét sự thịnh suy của tông khí.
(Chẩn sát hư lư thực tế thượng tựu thị thông quá xúc mạc tâm tiền khu, trực tiếp liễu giải tâm tạng bác động chi t́nh huống, dữ tây y chi tâm tạng thính chẩn hữu trước tương tự chi ư nghĩa): Thực chất chẩn hư lư là thông qua sờ nắn vùng trước tim để trực tiếp hiểu được t́nh trạng tim đập, có ư nghĩa khá giống với nghe tim trong Tây y.
(Chỉ bất quá nhất cá dụng thủ mạc, nhất cá dụng nhĩ thính, phương pháp tuy dị, đăn mục đích tương đồng): Chỉ khác là một bên dùng tay sờ, một bên dùng tai nghe; phương pháp tuy khác nhưng mục đích th́ giống nhau.
(Như tiên thiên tính tâm tạng bệnh hoặc phong thấp tính tâm tạng bệnh, khinh trọng tŕnh độ bất đồng, tâm tiền khu chi bác động, xác hữu “ứng thủ” dữ “ứng y” chi khu biệt): Như trong bệnh tim bẩm sinh hoặc bệnh tim do phong thấp, mức độ nặng nhẹ khác nhau th́ sức đập vùng trước tim quả thực có phân biệt giữa “ứng thủ” và “ứng y”.
(Thốn khẩu mạch tượng dữ chủ bệnh, dĩ cập dữ chẩn hợp tham chi phương pháp): Mạch tượng ở thốn khẩu và bệnh chứng chủ yếu của nó, cùng phương pháp phối hợp với các phép chẩn khác.
Nguyên văn
(Dục tri thốn khẩu thái quá dữ bất cập, thốn khẩu chi mạch trúng thủ đoản giả, viết đầu thống; thốn khẩu mạch trúng thủ trường giả, viết túc hĩnh thống): Muốn biết bệnh mạch ở thốn khẩu là thái quá hay bất cập, nếu mạch đến dưới tay mà ngắn th́ là đầu đau; nếu mạch đến dưới tay mà dài th́ là chân cẳng đau.
(Thốn khẩu mạch trúng thủ xúc thượng kích giả, viết kiên bối thống): Nếu mạch ở thốn khẩu dồn gấp, vọt lên đánh vào tay, th́ chủ đau vai lưng.
(Thốn khẩu mạch trầm nhi kiên giả, viết bệnh tại trung; thốn khẩu mạch phù nhi thịnh giả, viết bệnh tại ngoại): Mạch thốn khẩu trầm mà kiên th́ bệnh ở bên trong; mạch phù mà thịnh th́ bệnh ở bên ngoài.
(Thốn khẩu mạch trầm nhi nhược, viết hàn nhiệt cập sán hà thiếu phúc thống): Mạch trầm mà nhược th́ chủ hàn nhiệt, sán hà và đau vùng thiếu phúc.
(Thốn khẩu mạch trầm nhi hoành, viết hiếp hạ hữu tích, phúc trung hữu hoành tích thống): Mạch trầm mà hữu lực, đi ngang chắc, th́ dưới sườn có tích, trong bụng có đau do tích tụ.
(Thốn khẩu mạch trầm nhi suyễn, viết hàn nhiệt): Mạch trầm mà gấp gáp như suyễn th́ chủ hàn nhiệt.
(Mạch thịnh hoạt kiên giả, bệnh tại ngoại; mạch tiểu thực nhi kiên giả, bệnh tại nội): Mạch thịnh, hoạt, kiên th́ bệnh ở ngoài; mạch nhỏ mà thực, lại kiên th́ bệnh ở trong.
(Mạch tiểu nhược dĩ sáp, vị chi cửu bệnh; mạch hoạt phù nhi tật giả, vị chi tân bệnh): Mạch nhỏ, yếu, sáp là bệnh lâu ngày; mạch hoạt, phù, lại nhanh là bệnh mới mắc.
(Mạch cấp giả, viết sán hà thiếu phúc thống): Mạch cấp th́ chủ sán hà, đau vùng bụng dưới.
(Mạch hoạt, viết phong; mạch sáp, viết tư): Mạch hoạt th́ chủ phong; mạch sáp th́ chủ tư chứng.
(Hoăn nhi hoạt viết nhiệt trung; thịnh nhi khẩn viết trướng): Mạch hoăn mà hoạt th́ là nhiệt ở trung tiêu; mạch thịnh mà khẩn th́ là trướng măn.
(Mạch ṭng âm dương, bệnh dị dĩ; mạch nghịch âm dương, bệnh nan dĩ): Mạch thuận với âm dương th́ bệnh dễ khỏi; mạch nghịch với âm dương th́ bệnh khó khỏi.
(Mạch đắc tứ thời chi thuận, viết bệnh vô tha; mạch phản tứ thời cập bất gian tạng, viết nan dĩ): Mạch thuận với bốn mùa th́ tuy có bệnh cũng không nguy hiểm ǵ khác; mạch nghịch bốn mùa hoặc truyền không theo quy luật tạng th́ bệnh khó khỏi.
(Tí đa thanh mạch, viết thoát huyết): Trên cánh tay thấy nhiều mạch xanh th́ là chứng thoát huyết, tức mất máu nhiều.
(Xích mạch hoăn sáp, vị chi giải an ngọa): Mạch xích hoăn sáp th́ gọi là giải đăi, thích nằm.
(Mạch thịnh, vị chi thoát huyết): Mạch quá thịnh cũng có thể là chứng thoát huyết.
(Xích sáp mạch hoạt, vị chi đa hăn): Xích phu sáp mà mạch hoạt th́ gọi là đa hăn.
(Xích hàn mạch tế, vị chi hậu tiết): Vùng xích lạnh mà mạch tế th́ gọi là hậu tiết, tức tiêu chảy.
(Mạch xích thô thường nhiệt giả, vị chi nhiệt trung): Mạch thô, vùng xích thường nóng th́ gọi là nhiệt ở trung tiêu.
(Can kiến Canh Tân tử, tâm kiến Nhâm Quư tử, tỳ kiến Giáp Ất tử, phế kiến Bính Đinh tử, thận kiến Mậu Kỷ tử, thị vị chân tạng kiến, giai tử): Can gặp ngày Canh Tân th́ chết, tâm gặp Nhâm Quư th́ chết, tỳ gặp Giáp Ất th́ chết, phế gặp Bính Đinh th́ chết, thận gặp Mậu Kỷ th́ chết; đó gọi là chân tạng hiện, đều là dấu hiệu tử.
(Cảnh mạch động, suyễn, tật khái, viết thủy): Mạch ở cổ động mạnh, kèm suyễn, ho gấp, th́ là thủy bệnh.
(Mục lư vi thũng, như ngọa tàm khởi chi trạng, viết thủy): Mi mắt hơi sưng như con tằm nằm nổi lên, th́ là thủy thũng.
(Nịch hoàng xích, an ngọa giả, hoàng đản): Nước tiểu vàng đỏ, người thích nằm yên, là hoàng đản.
(Dĩ thực như cơ giả, vị đản): Ăn rồi mà vẫn như đói là vị đản.
(Diện thũng viết phong): Mặt sưng th́ gọi là phong.
(Túc hĩnh thũng viết thủy): Cẳng chân sưng th́ gọi là thủy.
(Mục hoàng giả viết hoàng đản): Mắt vàng th́ gọi là hoàng đản.
(Phụ nhân thủ Thiếu âm mạch động thậm giả, nhâm tử dă): Phụ nữ mà mạch thủ Thiếu âm động quá mạnh th́ là có thai.
(Mạch hữu nghịch ṭng tứ thời, vị hữu tạng h́nh, xuân hạ nhi mạch sấu, thu đông nhi mạch phù đại, mệnh viết nghịch tứ thời dă): Mạch có thuận nghịch với bốn mùa; nếu xuân hạ mà mạch gầy sáp, thu đông mà mạch phù đại, th́ gọi là nghịch bốn mùa.
(Phong nhiệt nhi mạch tĩnh, tiết nhi thoát huyết mạch thực, bệnh tại trung mạch hư, bệnh tại ngoại mạch sáp kiên giả, giai nan trị, mệnh viết phản tứ thời dă): Phong nhiệt mà mạch lại tĩnh, tiết tả hoặc thoát huyết mà mạch lại thực, bệnh ở trong mà mạch hư, bệnh ở ngoài mà mạch sáp kiên, đều là khó trị, gọi là phản tứ thời.
Chú thích
1/(Dục tri thốn khẩu thái quá dữ bất cập, thốn khẩu chi mạch trúng thủ đoản giả, viết đầu thống. Thốn khẩu mạch trúng thủ trường giả, viết túc hĩnh thống): “Thốn khẩu” tức là khí khẩu. “Trúng thủ” là mạch động ứng dưới ngón tay. Cao Thế Thức chú rằng: Muốn biết bệnh mạch ở thốn khẩu là thái quá hay bất cập th́ phải dựa vào trường, đoản, phù, trầm của mạch mà xét. Mạch đến dưới tay mà ngắn th́ khí hư, không đủ lên trên, nên đầu đau; đó là chính khí hư ở phần trên. Mạch đến dưới tay mà dài th́ khí thịnh, thái quá ở phần dưới, nên chân cẳng đau; đó là tà thực ở phần dưới.
2/(Thốn khẩu mạch trúng thủ xúc thượng kích giả, viết kiên bối thống): Diêu Chỉ Am chú rằng: “Xúc thượng kích” là loại mạch hồng đại, cấp, sác, thuộc dương thịnh hỏa xí. Thân người lấy lưng làm dương, dương hỏa thái quá nên vai lưng đau.
3/(Thốn khẩu mạch trầm nhi kiên giả, viết bệnh tại trung. Thốn khẩu mạch phù nhi thịnh giả, viết bệnh tại ngoại): “Trung” tức là bên trong. Trương Giới Tân chú: Trầm là ở lư, kiên là dương thực, nên bệnh ở trong; phù là ở biểu, thịnh là dương cường, nên bệnh ở ngoài.
4/(Thốn khẩu mạch trầm nhi hoành, viết hiếp hạ hữu tích, phúc trung hữu hoành tích thống): “Hoành” ở đây cùng nghĩa với chữ hoành bên trên, tức mạch thực, hữu lực. Ngô Khôn chú: Trầm là bệnh ở trong, hoành là có tích, nên chủ dưới sườn và trong bụng có đau do tích tụ.
5/(Thốn khẩu mạch trầm nhi suyễn, viết hàn nhiệt): Trương Giới Tân chú: “Suyễn” là gấp gáp. Mạch trầm mà suyễn là nhiệt ở trong. Nhiệt ở trong mà phát hàn nhiệt, chính là ư “chư cấm, cổ, lật, giai thuộc ư hỏa”.
6/(Mạch thịnh hoạt kiên giả, viết bệnh tại ngoại. Mạch tiểu thực nhi kiên giả, bệnh tại nội): Vương Băng chú: Thịnh hoạt là dương, tiểu thực là âm. Âm bệnh th́ bệnh ở trong; dương bệnh th́ bệnh ở ngoài.
7/(Mạch tiểu nhược dĩ sáp, vị chi cửu bệnh. Mạch phù hoạt nhi tật giả, vị chi tân bệnh): Trương Giới Tân chú: Tiểu nhược là khí hư, sáp là huyết thiểu; khí hư huyết thiểu th́ bệnh đă lâu ngày. Hoạt mà phù là mạch dương, dương mạch mà lại nhanh th́ tà khí đang thịnh, thế tà đang mạnh, đó là bệnh mới.
8/(Mạch cấp giả, viết sán hà thiếu phúc thống): Trương Giới Tân chú: Huyền cấp là âm tà thịnh, cho nên chủ sán hà và đau vùng thiếu phúc.
9/(Mạch hoạt, viết phong. Mạch sáp, viết tư): Cao Thế Thức chú: Phong là dương tà, thiện hành và hay biến đổi, cho nên mạch hoạt. Mạch sáp chủ tư là v́ tư lấy bế trở làm chủ, khí huyết ngưng trệ nên mạch sáp.
10/(Hoăn nhi hoạt viết nhiệt trung. Thịnh nhi khẩn viết trướng): “Nhiệt trung” ở đây chỉ vị hỏa thịnh. Vương Băng chú: “Hoăn” là dáng nới lỏng, không phải là mạch đến chậm. Mă Th́ chú: Mạch đến hoăn mà hoạt, hoăn là tỳ mạch có dư, hoạt là vị hỏa rất thịnh, cho nên gọi là nhiệt trung. Khẩn mạch chủ hàn, mà thịnh là tà thắng; hàn thực ở trong, cho nên bụng trướng. Vương Băng chú: Hàn khí bĩ măn, v́ thế mạch thịnh khẩn.
11/(Mạch ṭng âm dương, bệnh dị dĩ; mạch nghịch âm dương, bệnh nan dĩ): Trương Giới Tân chú: Âm bệnh mà được âm mạch, dương bệnh mà được dương mạch th́ gọi là thuận, thuận th́ dễ khỏi; mạch và bệnh trái nhau th́ là nghịch, nghịch th́ khó khỏi.
12/(Mạch đắc tứ thời chi thuận, viết bệnh vô tha): “Bệnh vô tha” tức là tuy có bệnh nhưng không có nguy hiểm ǵ khác. Trương Giới Tân chú: Xuân được huyền, hạ được câu, thu được mao, đông được thạch, gọi là thuận bốn mùa; tuy có bệnh, cũng không có điều ǵ đáng lo thêm.
13/(Bất gian tạng): 《Nan Kinh・Ngũ thập tam nan》 nói: “Gian tạng giả, truyền kỳ sở sinh dă.” “Bất gian tạng” tức là truyền sang tạng mà nó khắc.
14/(Tí đa thanh mạch, viết thoát huyết): “Thoát huyết” tức là đại xuất huyết. Cánh tay có nhiều mạch xanh là do mất máu khiến huyết hư. Mă Th́ chú: Đại để trong cân mạch đều là huyết, huyết nhiều th́ đỏ, huyết ít th́ xanh, v́ thế biết mạch xanh là chứng thoát huyết.
15/(Xích mạch hoăn sáp, vị chi giải an ngọa): Cao Thế Thức chú: “Giải” cũng như giải đăi; “an ngọa” tức là thích nằm. Mạch hoăn là khí suy, mạch sáp là huyết thiểu, nên giải đăi, thích nằm. Có một thuyết cho rằng chữ “xích mạch sáp” là sai, đáng lẽ phải là “xích hoăn mạch sáp”. “Xích hoăn” là chỉ xích phu chùng nhăo.
16/(Mạch thịnh, vị chi thoát huyết): Mă Th́ chú: Mạch thịnh là hỏa càng bốc mạnh. Hỏa nhiệt th́ huyết vọng hành, cho nên cũng gọi là thoát huyết. Trên kia nói thoát huyết là nghĩa mất máu nhiều dần dần, không phải do hỏa thịnh bạo thoát trong chốc lát, nên mạch không quá mạnh mà sắc mạch lại xanh. C̣n ở đây nói thoát huyết là nghĩa hỏa thịnh mà bạo thoát.
17/(Xích sáp mạch hoạt, vị chi đa hăn): Trương Giới Tân chú: Xích phu sáp là doanh huyết ít; xích mạch hoạt là âm hỏa thịnh. Dương thịnh âm hư, cho nên ra nhiều mồ hôi. 《Âm Dương Biệt Luận》 nói: “Dương gia ư âm vị chi hăn.”
18/(Xích hàn mạch tế, vị chi hậu tiết): “Hậu tiết” là chỉ đại tiện tiết tả. Trương Giới Tân chú: Xích phu lạnh là do dương của tỳ suy, v́ tỳ chủ cơ nhục tứ chi; xích mạch tế là do dương của thận suy, v́ thận chủ nhị âm và phần dưới. Tỳ thận hư hàn, cho nên thành hậu tiết.
19/(Mạch xích thô thường nhiệt giả, vị chi nhiệt trung): Cao Thế Thức chú: Mạch thô mà da nóng, tức dương khí có dư, cho nên gọi là nhiệt trung.
20/(Cảnh mạch động, suyễn, tật khái): “Cảnh mạch” tức là nhân nghênh mạch, thuộc túc Dương minh Vị kinh. Trương Giới Tân chú: Thủy khí thượng nghịch, phản xâm Dương minh th́ cảnh mạch động; thủy tràn ở phế th́ suyễn gấp và ho dữ.
21/(Mục lư vi thũng, như ngọa tàm khởi chi trạng): Trương Giới Tân chú rằng: “Mục lư là phần bào dưới mắt, là nơi vị mạch đi đến, cũng là nơi tỳ khí chủ quản. Nếu thấy hơi sưng, giống như h́nh con tằm nằm nổi lên, th́ là do thủy khí tràn lan ảnh hưởng đến tỳ vị.”
22/(Hoàng đản): Là tên một chứng bệnh, c̣n gọi là hoàng chướng. Ba triệu chứng lớn là thân vàng, mắt vàng, tiểu tiện vàng. Phần nhiều do thấp nhiệt hoặc hàn thấp ngăn trở ở trung tiêu, khiến cho mật dịch không đi theo đường thường mà gây ra.
23/(Vị đản): Chữ “đản” ở đây thông với “đản”, nghĩa là nhiệt. Vương Băng chú rằng: “Đó là vị nhiệt. Nhiệt th́ tiêu cốc, cho nên ăn rồi mà vẫn như đói.”
24/(Diện thũng viết phong): Ngô Khôn chú rằng: “Khí của lục dương đều tụ ở mặt, mà phong tà làm thương người th́ dương phần bị nhận trước, cho nên mặt sưng th́ gọi là phong.”
25/(Túc hĩnh thũng viết thủy): Ngô Khôn chú rằng: “Tỳ vị chủ thấp, thận với bàng quang chủ thủy, mà mạch của chúng đều đi ở chân cẳng, cho nên cẳng chân sưng th́ là thủy.”
26/(Thủ Thiếu âm mạch động thậm): Vương Băng chú rằng: “Thủ Thiếu âm mạch là chỗ lơm phía sau bàn tay, nơi gần ngón út mà mạch động ứng vào tay.” Tức là chỉ bộ vị huyệt Thần môn.
27/(Vị hữu tạng h́nh): “Tạng h́nh” tức là mạch tượng b́nh thường của ngũ tạng khi phối hợp với bốn mùa. “Vị hữu tạng h́nh” nghĩa là không thấy mạch tượng ứng thời b́nh thường của bản tạng.
28/(Mạch sấu): Chỉ mạch tượng trầm tế.
29/(Phong nhiệt nhi mạch tĩnh, tiết nhi thoát huyết mạch thực, bệnh tại trung mạch hư, bệnh tại ngoại mạch sáp kiên giả, giai nan trị, mệnh viết phản tứ thời dă): Mă Th́ chú rằng: “Đây là nói mạch với bệnh trái nhau, cũng là ư mạch trái với thời. Bệnh do phong nhiệt, mạch lẽ ra phải phù đại mà trái lại trầm tĩnh, tức dương bệnh mà thấy âm mạch. Tiết lỵ và thoát huyết, mạch lẽ ra phải trầm tế mà trái lại thực đại, tức âm bệnh mà thấy dương mạch. Bệnh ở trong th́ mạch nên hữu lực, v́ trung khí đang thịnh, nay trái lại mạch hư; bệnh ở ngoài th́ mạch nên phù hư, v́ bệnh biểu dễ lành, nay trái lại mạch sáp kiên. Đó đều là những chứng khó trị, cũng giống như mạch trái với bốn mùa vậy.”
Phân tích
(Bản đoạn chủ yếu luận thuật liễu thốn khẩu mạch chi biến hóa ḥa chủ bệnh, dĩ cập dữ xích phu hợp tham chi chẩn pháp): Đoạn này chủ yếu bàn về sự biến hóa của mạch thốn khẩu và bệnh chứng chủ yếu của nó, đồng thời nói đến phép chẩn kết hợp với xích phu.
(Văn trung chỉ xuất ṭng thốn khẩu thái quá dữ bất cập sở biểu hiện chi mạch tượng biến hóa, lai biện biệt bệnh vị chi thượng hạ nội ngoại, bệnh t́nh chi khinh trọng tân cửu, bệnh nhân chi thuộc phong thuộc hàn thuộc nhiệt, chủ bệnh chi hoặc tư hoặc thống hoặc trướng, dĩ cập biện mạch chi thuận nghịch dĩ phán đoán bệnh chi dự hậu, thử chính dữ “khí khẩu thành thốn, dĩ quyết tử sinh” chi lư luận tương ấn chứng): Trong đoạn văn này, người ta chỉ ra rằng có thể từ sự biến hóa mạch tượng biểu hiện ở thốn khẩu theo thái quá hay bất cập mà phân biệt bệnh vị ở trên hay dưới, trong hay ngoài, bệnh t́nh mới hay cũ, nhẹ hay nặng, nguyên nhân bệnh thuộc phong, hàn hay nhiệt, chủ bệnh là tư, thống hay trướng, đồng thời phân biệt thuận nghịch của mạch để phán đoán tiên lượng. Điều đó chính là minh chứng cho lư luận “khí khẩu thành thốn, dĩ quyết tử sinh”.
(Ṭng âm dương chi tính chất lai phán đoán mạch tượng dữ tật bệnh, phàm thị phù、hồng、đại、trường、hoạt、sác chi loại đích mạch tượng dữ biểu、nhiệt、thực chứng đô thuộc ư dương): Xét theo tính chất âm dương để phán đoán mạch tượng và bệnh tật, th́ các loại mạch như phù, hồng, đại, trường, hoạt, sác cùng với các chứng biểu, nhiệt, thực đều thuộc dương.
(Nhi trầm、nhược、tế、đoản、sáp、tŕ chi loại đích mạch tượng dữ lư、hàn、hư chứng đô thuộc ư âm): C̣n các loại mạch như trầm, nhược, tế, đoản, sáp, tŕ cùng với các chứng lư, hàn, hư đều thuộc âm.
(Nhất ban lai thuyết, dương chứng xuất hiện dương mạch、âm chứng xuất hiện âm mạch, giá khiếu mạch chứng tương ứng, biểu thị chính khí vị suy hoặc tà khí dĩ thoái, sở dĩ dự hậu giảo hảo): Nói chung, dương chứng mà xuất hiện dương mạch, âm chứng mà xuất hiện âm mạch, đó gọi là mạch chứng tương ứng, biểu thị chính khí chưa suy hoặc tà khí đă lui, cho nên tiên lượng khá tốt.
(Tương phản, dương chứng xuất hiện âm mạch、âm chứng xuất hiện dương mạch, giá khiếu mạch chứng bất ứng, biểu thị chính khí đại suy, thậm chí ngoại thoát, nhi tà khí nhưng nhiên xương thịnh, sở dĩ dự hậu giảo sai): Ngược lại, dương chứng mà xuất hiện âm mạch, âm chứng mà xuất hiện dương mạch, đó gọi là mạch chứng không tương ứng, biểu thị chính khí đại suy, thậm chí có xu hướng ngoại thoát, trong khi tà khí vẫn c̣n quá thịnh, cho nên tiên lượng xấu hơn.
(Kinh văn luận thuật liễu chân tạng mạch xuất hiện hậu chi tử vong nhật kỳ): Kinh văn c̣n bàn về thời điểm tử vong sau khi chân tạng mạch xuất hiện.
(Chân tạng mạch lai toàn vô nhu ḥa chi tượng, chỉ hiển bản tạng mạch chi h́nh tượng, biểu thị vị khí toàn vô): Chân tạng mạch khi đến th́ hoàn toàn không c̣n tượng nhu ḥa, chỉ hiện rơ h́nh tượng mạch của bản tạng, điều đó biểu thị vị khí đă hoàn toàn mất.
(Hữu quan cụ thể chi nhật kỳ, bản tiết thị ṭng ngũ tạng tương hỗ chế ước tức “tương khắc” quan hệ thượng suy đoạn đích): Về ngày tháng cụ thể, phần này là suy đoán từ quan hệ chế ước lẫn nhau, tức quan hệ tương khắc giữa ngũ tạng.
(Các tạng đô hữu chủ khí chi nhật kỳ, kư bệnh chi tạng như can đáo liễu tương chế ước chi tạng như phế chủ khí chi nhật tử lư, do ư tao đáo liễu cánh vi nghiêm trọng chi chế ước, do sinh lư thượng chi chế ước chuyển biến vi bệnh lư ư nghĩa thượng chi tổn hại, sở dĩ dung dị tử vong): Mỗi tạng đều có ngày chủ khí của nó. Khi tạng đă mắc bệnh, như can, gặp đến ngày mà tạng tương khắc với nó, như phế, đang chủ khí, th́ do chịu sự chế ước càng nghiêm trọng hơn, từ chỗ chế ước sinh lư chuyển thành tổn hại về mặt bệnh lư, cho nên dễ tử vong.
(Đương nhiên, giá thị nhất chủng lư luận thượng chi suy đoạn, tật bệnh bản lai tựu thiên biến vạn hóa, các chủng ư ngoại nhân tố dă nan dĩ bả ác, nhân nhi lâm sàng thượng tịnh bất tận đô như thử, sở dĩ chỉ nghi bả tha tác vi nhất chủng khả năng tính lai dự trắc, bất nghi nhận định tựu thị na nhất thiên): Dĩ nhiên, đây chỉ là một loại suy đoán trên lư luận; bệnh tật vốn thiên biến vạn hóa, lại có nhiều yếu tố ngoài ư muốn khó nắm bắt, cho nên trên lâm sàng không phải lúc nào cũng đúng như vậy. V́ thế chỉ nên xem đó như một khả năng để dự đoán, không nên khẳng định chắc chắn là đúng ngày ấy.
(Kinh văn liệt cử chi thủy thũng、vị nhiệt、hoàng đản đẳng bệnh chi chẩn sát, dĩ thuyết minh thiết mạc cảnh động mạch、thủ Thiếu âm động mạch, vọng diện mục、h́nh thể、tiểu tiện đẳng chi lâm sàng ư nghĩa): Kinh văn liệt kê việc chẩn sát các bệnh như thủy thũng, vị nhiệt, hoàng đản để nói rơ ư nghĩa lâm sàng của việc sờ động mạch cổ, động mạch thủ Thiếu âm, và quan sát mặt, mắt, h́nh thể, tiểu tiện.
(Cảnh mạch động nhi suyễn khái cấp、mục thũng như ngọa tàm、niệu hoàng mục hoàng đẳng chi miêu thuật, dữ tây y chi phế tâm bệnh、thận viêm thủy thũng、hoàng đản đẳng thể chinh phả đa tương tự): Những mô tả như mạch cổ động mà suyễn ho cấp, mắt sưng như tằm nằm, nước tiểu vàng, mắt vàng… rất giống với thể chứng của phế tâm bệnh, thận viêm phù thũng, hoàng đản trong Tây y.
(Nhi phụ nữ thủ Thiếu âm mạch động thậm, biểu thị hoài dựng chi trưng, như năng kết hợp phu phụ đồng cư nhất khởi, phụ nữ nguyệt kinh đ́nh chỉ, hựu kiến ố tâm ẩu thổ、khẩu vị cải biến tức nhâm thần phản ứng đẳng t́nh huống, gia dĩ tổng hợp phân tích, kỳ chuẩn xác độ thị tương đối cao đích): C̣n phụ nữ mà mạch thủ Thiếu âm động mạnh, th́ là dấu hiệu có thai. Nếu kết hợp thêm việc vợ chồng sống chung, kinh nguyệt ngừng, lại thấy buồn nôn, nôn, thay đổi khẩu vị tức phản ứng thai nghén, rồi đem phân tích tổng hợp, th́ độ chính xác tương đối cao.
(Chí ư hậu thế hữu nhân đề xuất tả thủ mạch động thậm thị hoài nhi tử, hữu thủ mạch động thậm thị hoài nhi nữ, tắc thuần thuộc vô kê chi đàm, bất khả thính tín): C̣n như đời sau có người nói mạch tay trái động mạnh là mang thai con trai, tay phải động mạnh là mang thai con gái, th́ hoàn toàn là lời nói vô căn cứ, không thể tin theo.
(Tứ thời ngũ tạng chi b́nh mạch、bệnh mạch、tử mạch): Mạch b́nh thường, mạch bệnh và mạch chết của ngũ tạng theo bốn mùa.
(Nhân dĩ thủy cốc vi bản, cố nhân tuyệt thủy cốc tắc tử, mạch vô vị khí diệc tử): Con người lấy thủy cốc làm gốc, cho nên người mà tuyệt mất nguồn thủy cốc th́ chết; mạch nếu không có vị khí cũng chết.
(Sở vị vô vị khí giả, đăn đắc chân tạng mạch, bất đắc vị khí dă): Cái gọi là không có vị khí, tức là chỉ thấy chân tạng mạch mà không c̣n vị khí.
(Sở vị mạch bất đắc vị khí giả, can bất huyền, thận bất thạch dă): Cái gọi là mạch không có vị khí, tức là như can mạch không c̣n huyền ḥa, thận mạch không c̣n thạch ḥa.
(Thái dương mạch chí, hồng đại dĩ trường): Mạch của Thái dương đến th́ hồng đại mà dài.
(Thiếu dương mạch chí, sạ sác sạ sơ, sạ đoản sạ trường): Mạch của Thiếu dương đến th́ khi mau khi thưa, khi ngắn khi dài.
(Dương minh mạch chí, phù đại nhi đoản): Mạch của Dương minh đến th́ phù đại mà hơi ngắn.
(Phù b́nh tâm mạch lai, lũy lũy như liên châu, như tuần lang can, viết tâm b́nh, hạ dĩ vị khí vi bản): Mạch b́nh thường của tâm đến liên tiếp như chuỗi hạt, trơn nhuận như lần theo ngọc lang can, đó gọi là tâm mạch b́nh; mùa hạ phải lấy vị khí làm gốc.
(Bệnh tâm mạch lai, suyễn suyễn liên thuộc, kỳ trung vi khúc, viết tâm bệnh): Mạch bệnh của tâm đến dồn dập gấp gáp, liên tiếp không ngừng, ở giữa hơi cong gấp, đó là tâm bệnh.
(Tử tâm mạch lai, tiền khúc hậu cư, như thao đới câu, viết tâm tử): Mạch chết của tâm đến th́ phía trước cong, phía sau cứng trụ, như cầm cái móc dây lưng, đó là tâm mạch chết.
(B́nh phế mạch lai, yếm yếm nhiếp nhiếp, như lạc du giáp, viết phế b́nh, thu dĩ vị khí vi bản): Mạch b́nh thường của phế đến nhẹ mềm như lá du rơi, đó là phế mạch b́nh; mùa thu phải lấy vị khí làm gốc.
(Bệnh phế mạch lai, bất thượng bất hạ, như tuần kê vũ, viết phế bệnh): Mạch bệnh của phế đến không lên không xuống, như vuốt trên lông gà, đó là phế bệnh.
(Tử phế mạch lai, như vật chi phù, như phong xuy mao, viết phế tử): Mạch chết của phế đến như vật nổi bềnh, như gió thổi lông bay, đó là phế mạch chết.
(B́nh can mạch lai, nhu nhược chiêu chiêu, như kiệt trường can mạt sao, viết can b́nh, xuân dĩ vị khí vi bản): Mạch b́nh thường của can đến mềm yếu mà dài thoát, như ngọn cây sào dài lay động, đó là can mạch b́nh; mùa xuân phải lấy vị khí làm gốc.
(Bệnh can mạch lai, doanh thực nhi hoạt, như tuần trường can, viết can bệnh): Mạch bệnh của can đến đầy, thực mà hoạt, như vuốt thân cây sào dài, đó là can bệnh.
(Tử can mạch lai, cấp ích kính, như tân trương cung huyền, viết can tử): Mạch chết của can đến gấp và cứng mạnh hơn, như dây cung mới căng, đó là can mạch chết.
(B́nh tỳ mạch lai, ḥa nhu tương ly, như kê tiễn địa, viết tỳ b́nh, trường hạ dĩ vị khí vi bản): Mạch b́nh thường của tỳ đến ḥa hoăn mềm mại, rơ ràng từng nhịp, như gà bước trên đất, đó là tỳ mạch b́nh; mùa trường hạ phải lấy vị khí làm gốc.
(Bệnh tỳ mạch lai, thực nhi doanh sác, như kê cử túc, viết tỳ bệnh): Mạch bệnh của tỳ đến thực, đầy và mau, như gà nhấc chân, đó là tỳ bệnh.
(Tử tỳ mạch lai, nhuệ kiên như ô chi huệ, như điểu chi cự, như ốc chi lậu, như thủy chi lưu, viết tỳ tử): Mạch chết của tỳ đến sắc cứng như mỏ quạ, như cựa chim, như mái nhà dột, như nước chảy một đi không trở lại, đó là tỳ mạch chết.
(B́nh thận mạch lai, suyễn suyễn lũy lũy như câu, án chi nhi kiên, viết thận b́nh, đông dĩ vị khí vi bản): Mạch b́nh thường của thận đến tṛn đều liên tiếp như móc câu, ấn xuống th́ thấy chắc, đó là thận mạch b́nh; mùa đông phải lấy vị khí làm gốc.
(Bệnh thận mạch lai, như dẫn cát, án chi ích kiên, viết thận bệnh): Mạch bệnh của thận đến như kéo sợi cát đằng, ấn xuống càng thấy cứng, đó là thận bệnh.
(Tử thận mạch lai, phát như đoạt sách, tịch tịch như đàn thạch, viết thận tử): Mạch chết của thận đến bật lên như kéo đứt dây, cứng bật như gơ vào đá, đó là thận mạch chết.
1/(Chân tạng mạch): Chân tạng mạch tức là chân tạng chi mạch, là mạch không có vị khí mà chỉ thấy riêng khí thật của tạng hiện ra, như chỉ huyền mà không có vị, chỉ câu mà không có vị v.v.
2/(Can bất huyền, thận bất thạch): Trương Giới Tân chú rằng: “Chỉ huyền, chỉ thạch tuy là chân tạng mạch, nhưng nếu can không c̣n khí th́ không huyền, thận không c̣n khí th́ không thạch; cũng đều là ư ngũ tạng không được vị khí, cùng một nghĩa với chân tạng vô vị.”
3/(Thái dương mạch chí, hồng đại dĩ trường): Thái dương chủ tháng năm, tháng sáu. Trương Giới Tân chú rằng: “Đây là nói mạch khí của người tất phải thuận theo sự biến hóa âm dương của trời đất mà co duỗi. Thái dương chi khí vượng vào sáu mươi ngày sau Cốc Vũ, khi ấy dương khí rất thịnh, nên mạch hồng đại mà dài.”
4/(Thiếu dương mạch chí, sạ sác sạ sơ, sạ đoản sạ trường): Thiếu dương chủ tháng giêng, tháng hai; khi ấy dương khí c̣n hơi yếu, âm khí chưa lui, nên xuất hiện mạch tượng lúc mau lúc thưa, lúc ngắn lúc dài, âm dương cùng thấy. Dài và mau là dương, thưa và ngắn là âm.
5/(Dương minh mạch chí, phù đại nhi đoản): Dương minh chủ tháng ba, tháng tư; khi ấy dương khí chưa cực thịnh, âm khí vẫn c̣n, cho nên mạch tuy phù đại mà vẫn kèm tượng ngắn. Phù đại là dương, ngắn là âm.
6/(Như tuần lang can): Lang can là loại ngọc giống như châu. Ở đây dùng để h́nh dung mạch đến có ư mềm mại, trơn nhuận. Trương Giới Tân chú rằng: “Mạch đến dưới tay như chuỗi hạt, như ngọc lang can, là nói đầy đặn mà hoạt lợi, tức là nghĩa hơi câu; đó gọi là tâm mạch b́nh.”
7/(Hạ dĩ vị khí vi bản): Ư nói tâm mạch vượng vào mùa hạ, nhưng phải có vị khí xung ḥa, không được thái quá. Các câu sau như “thu dĩ vị khí vi bản” cũng cùng nghĩa như vậy.
8/(Suyễn suyễn liên thuộc, kỳ trung vi khúc): Ngô Khôn chú rằng: “Suyễn suyễn liên thuộc là mạch đến như hơi thở người suyễn, hiện ra dáng gấp gáp; ở giữa hơi cong, tức không c̣n được sự hoạt lợi như ngọc lang can nữa. Đó là mất khí xung ḥa, nên là tâm bệnh.”
9/(Tiền khúc hậu cư, như thao đới câu): Trương Giới Tân đời Minh trong 《Loại Kinh・Mạch Sắc Loại》 giải rằng: “Tiền khúc là nhẹ tay th́ thấy cứng mà không mềm; hậu cư là nặng tay th́ thấy chắc đặc mà không động. Như cầm móc dây lưng, hoàn toàn mất khí sung ḥa.” Câu này h́nh dung tâm mạch mất khí xung ḥa, tức chỉ c̣n câu mà không có vị.
10/(Yếm yếm nhiếp nhiếp, như lạc du giáp): Du giáp tức hạt cây du, thường gọi là tiền du. Trương Giới Tân chú rằng: “Như lá du rơi, là dáng nhẹ nổi, ḥa hoăn, tức là nghĩa hơi mao; đó gọi là phế mạch b́nh.”
11/(Bất thượng bất hạ, như tuần kê vũ): Trương Chí Thông chú rằng: “Không lên không xuống là qua lại sáp trệ. Như vuốt lông gà, so với du giáp th́ càng nhẹ hư hơn.” Mă Th́ chú rằng: “Như lông gà, tuy hai bên hư nhưng giữa vẫn hơi có ư cứng, cho nên gọi là bệnh.”
12/(Như vật chi phù, như phong xuy mao): Trương Giới Tân chú rằng: “Như vật nổi là rỗng hư vô căn; như gió thổi lông là tán loạn vô tự. Cũng là nghĩa chỉ có mao mà không có vị, cho nên nói phế chết.”
13/(Nhu nhược chiêu chiêu, như kiệt trường can mạt sao): Trương Giới Tân chú rằng: “Chiêu chiêu cũng như điều điều, nghĩa là dài mềm lay động. Kiệt là giơ cao. Giơ cao cây sào dài th́ ngọn tất mềm yếu, tức là nghĩa ḥa hoăn, huyền dài; đó là can mạch b́nh.”
14/(Doanh thực nhi hoạt, như tuần trường can): Trương Giới Tân chú rằng: “Đầy thực mà hoạt là huyền quá mạnh. Như vuốt thân cây sào dài, không c̣n cái mềm ḥa của ngọn nữa, cũng là nghĩa huyền nhiều mà vị ít.”
15/(Cấp ích kính, như tân trương cung huyền): Trương Giới Tân chú rằng: “Kính là cứng mạnh và gấp. Như dây cung mới căng là huyền quá mức. Cũng là nghĩa chỉ huyền mà không có vị, cho nên nói can chết.”
16/(Ḥa nhu tương ly, như kê tiễn địa): Trương Giới Tân chú rằng: “Ḥa nhu là ung dung không gấp; tương ly là đều đặn, rơ ràng; như gà bước trên đất là khoan ḥa, nhẹ chậm. Đây chính là khí sung ḥa, cũng là nghĩa hơi nhuyễn nhược, đó là tỳ mạch b́nh.”
17/(Thực nhi doanh sác, như kê cử túc): Trương Giới Tân chú rằng: “Thực mà đầy và sác là cứng gấp, không ḥa. Như gà nhấc chân là nhẹ nhanh, không an định.”
18/(Nhuệ kiên như ô chi huệ, như điểu chi cự, như ốc chi lậu, như thủy chi lưu): Cự là cái cựa bằng chất sừng mọc ở phía trong cổ chân gà trống trưởng thành, rất sắc. Vương Băng chú rằng: “Mỏ chim, cựa chim là nói sắc và cứng.” Trương Giới Tân chú rằng: “Như mái nhà dột là nhỏ giọt không đều; như nước chảy là đi mà không trở lại. Đó đều là tỳ khí đă tuyệt mà quái mạch hiện ra, cũng là nghĩa chỉ có đại mà không có vị, cho nên nói tỳ chết.”
19/(Suyễn suyễn lũy lũy như câu): Suyễn suyễn lũy lũy là h́nh dung mạch tượng tṛn hoạt mà liên tiếp. Trương Giới Tân chú rằng: “Suyễn suyễn lũy lũy như cái câu của tâm, trong âm tàng dương mà có được ư hơi thạch, đó gọi là thận mạch b́nh.”
20/(Như dẫn cát): Cát là dây leo sắn. “Như dẫn cát” là h́nh dung mạch đến trầm khẩn, bật ngón tay, như ấn lên sợi dây cát đang bị kéo căng. Trương Giới Tân chú rằng: “Mạch như dẫn cát là cứng, chắc, kéo liền nhau; ấn xuống càng cứng, đó là thạch quá mức mà không ḥa. Cũng là nghĩa thạch nhiều vị ít, cho nên nói thận bệnh.”
21/(Phát như đoạt sách, tịch tịch như đàn thạch): “Phát như đoạt sách” là h́nh dung mạch đến cứng mạnh, như đặt tay lên sợi dây đang bị hai người giằng kéo. “Đàn thạch” là h́nh dung mạch đến rắn chắc, như ngón tay gảy vào đá, tṛn cứng mà không mềm. Ngô Khôn chú rằng: “Đoạt sách là hai người tranh nhau một sợi dây, kéo dài mà cứng mạnh. Tịch tịch như đàn thạch, tức là đă đến mức như đá, hoàn toàn không c̣n khí xung ḥa của vị nữa, đó là dấu hiệu chết.”
Phân tích
(Bản đoạn sinh động nhi h́nh tượng địa miêu thuật liễu tứ thời ngũ tạng chi b́nh mạch、bệnh mạch、tử mạch chi bất đồng mạch tượng): Đoạn này miêu tả rất sinh động và cụ thể các loại b́nh mạch, bệnh mạch và tử mạch khác nhau của ngũ tạng theo bốn mùa.
(Tá trợ các chủng cụ thể sự vật tác liễu sinh động chi tỷ dụ, ṭng các tự đặc điểm chi tỷ giảo trung đột xuất liễu cộng đồng chi trưng tượng — nhu ḥa, giá tựu thị mạch hữu vị khí chi tượng trưng): Kinh văn mượn nhiều sự vật cụ thể để ví von sinh động, từ sự so sánh các đặc điểm riêng mà làm nổi bật lên dấu hiệu chung là “nhu ḥa”, và đó chính là biểu hiện của mạch c̣n có vị khí.
(Nhi chính thường、bệnh lư dữ tử vong mạch tượng chi khu biệt, căn bản điểm tựu tại ư giá chủng nhu ḥa chi tượng chi hữu vô ḥa đa thiểu): Sự khác nhau căn bản giữa mạch b́nh thường, mạch bệnh lư và mạch tử vong chính là ở chỗ c̣n hay mất, nhiều hay ít cái tượng nhu ḥa ấy.
(Dữ tiền tiết tương tỷ, bỉ xứ đề cương khiết lĩnh, thử xứ h́nh tượng cụ thể, tinh thần ư nghĩa nhất trí, tương đắc ích chương): So với phần trước, chỗ kia là nêu cương lĩnh khái quát, c̣n chỗ này là mô tả h́nh tượng cụ thể; tuy cách tŕnh bày khác nhau nhưng tinh thần và ư nghĩa hoàn toàn nhất trí, bổ sung cho nhau rất rơ.
(Sở vị vị khí, tại giá lư chỉ chỉnh cá tỳ vị công năng tại mạch tượng thượng chi nhất chủng phản ánh): Cái gọi là vị khí ở đây là chỉ sự phản ánh của toàn bộ công năng tỳ vị trên mạch tượng.
(Tỳ vị vi hậu thiên đích căn bản, khí huyết tinh tân chi nguyên tuyền, tỳ vị công năng vượng thịnh, tinh khí sung doanh, ngũ tạng cường thịnh, dă tựu sinh cơ bột bột, phản ánh ư mạch tượng, tự nhiên ḥa điều): Tỳ vị là gốc của hậu thiên, là nguồn của khí huyết tinh tân. Khi công năng tỳ vị mạnh, tinh khí đầy đủ, ngũ tạng cường thịnh, th́ sinh cơ sung măn; biểu hiện ra ở mạch tượng tất nhiên là ḥa hoăn, điều đạt.
(Nhi tỳ vị suy bại, tinh huyết kiệt tuyệt, ngũ tạng nhất quyết bất chấn, sinh cơ toàn vô, mạch tượng đương nhiên thất ư ḥa điều): Ngược lại, khi tỳ vị suy bại, tinh huyết kiệt tuyệt, ngũ tạng sa sút không thể chấn khởi, sinh cơ hoàn toàn không c̣n, th́ mạch tượng đương nhiên mất đi sự ḥa điều.
(Giá tựu thị 《Nội Kinh》 phản phục cường điệu dĩ vị khí vi căn bản chi đạo lư ḥa ư nghĩa chi sở tại): Đó chính là đạo lư và ư nghĩa v́ sao 《Nội Kinh》 lặp đi lặp lại nhấn mạnh rằng vị khí là căn bản.
(Nhân thử, vô luận thị hà thời、hà tạng, dă vô luận hà bệnh、hà mạch, chỉ yếu mạch lai cụ hữu nhu ḥa chi tượng tựu biểu thị vị khí thượng tại, hoặc vô bệnh, hoặc kư bệnh dă ngận khinh thiển、dị trị): V́ vậy, bất kể là lúc nào, thuộc tạng nào, cũng bất kể là bệnh ǵ hay mạch ǵ, chỉ cần mạch đến c̣n có tượng nhu ḥa th́ chứng tỏ vị khí vẫn c̣n; hoặc là chưa có bệnh, hoặc tuy đă có bệnh nhưng c̣n nhẹ, nông và dễ trị.
(Nhi nhu ḥa chi tượng việt thiểu, tắc biểu thị vị khí việt hư suy, tật bệnh việt thị thâm trọng nan trị): Nếu cái tượng nhu ḥa ấy càng ít th́ chứng tỏ vị khí càng hư suy, bệnh t́nh càng nặng và càng khó chữa.
(Thảng nhược hào vô nhu ḥa chi tượng, tắc biểu thị vị khí suy bại bất phục, dă tựu nan đào nhất tử): Nếu hoàn toàn không c̣n tượng nhu ḥa, th́ chứng tỏ vị khí đă suy bại không thể phục hồi, khó tránh khỏi cái chết.
(Giá chủng “mạch dĩ vị khí vi bản” chi lư luận, đối hậu thế mạch học dĩ cập chẩn trị dự hậu chi ảnh hưởng đô phi thường trọng đại, thực tiễn trung dă xác hữu ngận cao chi giá trị): Học thuyết “mạch lấy vị khí làm gốc” này có ảnh hưởng rất lớn đối với mạch học và việc chẩn đoán tiên lượng đời sau, đồng thời trong thực hành lâm sàng cũng thật sự có giá trị cao.
(Như: tây y chi cao huyết áp、động mạch ngạnh hóa loại tật bệnh đa xuất hiện trung y chi huyền khẩn mạch tượng, tâm luật thất thường đa kiến trung y chi táo tật xúc kết mạch tượng, toàn thân suy kiệt thời đa kiến trung y chi tế tiểu nhuyễn nhược mạch tượng): Ví dụ, trong Tây y, các bệnh như tăng huyết áp, xơ cứng động mạch thường xuất hiện mạch huyền khẩn theo cách gọi của Trung y; rối loạn nhịp tim thường thấy các mạch táo, tật, xúc, kết; khi toàn thân suy kiệt th́ thường thấy mạch tế, tiểu, nhuyễn, nhược.
(Nhi thả bệnh t́nh việt nghiêm trọng, sở vị huyền、khẩn、táo tật、tế nhuyễn dă việt minh hiển): Hơn nữa, bệnh t́nh càng nghiêm trọng th́ các đặc điểm huyền, khẩn, táo tật, tế nhuyễn ấy lại càng rơ rệt.
(Nhi đương cao huyết áp xuất hiện nguy tượng, tâm luật thất thường、toàn thân suy kiệt tần lâm tử vong chi tế, mạch tượng chi bác động tắc biểu hiện vi phi thường huyền khẩn kiên ngạnh、đặc biệt táo loạn cấp tật、cực đoan địa tế nhuyễn vi nhược, túc kiến 《Nội Kinh》 “mạch vô vị khí giả tử” chi luận đoạn xác thực hữu thực tiễn đích y cứ): Khi tăng huyết áp xuất hiện cơn nguy hiểm, khi rối loạn nhịp tim hoặc suy kiệt toàn thân gần đến lúc tử vong, th́ sự dao động của mạch sẽ biểu hiện rất huyền khẩn, cứng rắn, cực kỳ rối loạn gấp gáp, hoặc cực kỳ tế nhỏ, mềm yếu; đủ thấy luận điểm “mạch không có vị khí th́ chết” của 《Nội Kinh》 thật sự có cơ sở thực tiễn.
(Kinh văn sở luận hữu quan tam dương kinh đích mạch tượng, ư tại xiển minh nhân dữ thiên địa tương ứng, kinh mạch dă đồng dạng hữu trước tương ứng chi quư tiết tính biến hóa): Phần kinh văn bàn về mạch tượng của tam dương kinh là nhằm làm sáng tỏ rằng con người ứng với trời đất, và kinh mạch cũng có những biến hóa mang tính thời tiết tương ứng như vậy.
(Thiếu dương chủ nhất nguyệt nhị nguyệt, dương minh chủ tam nguyệt tứ nguyệt, thái dương chủ ngũ nguyệt lục nguyệt, thiếu âm chủ thất nguyệt bát nguyệt, thái âm chủ cửu nguyệt thập nguyệt, quyết âm chủ thập nhất nguyệt thập nhị nguyệt, do ư khí hậu bất đồng, cụ thể chi mạch tượng biểu hiện dă tựu bất đồng): Thiếu dương chủ tháng một, tháng hai; dương minh chủ tháng ba, tháng tư; thái dương chủ tháng năm, tháng sáu; thiếu âm chủ tháng bảy, tháng tám; thái âm chủ tháng chín, tháng mười; quyết âm chủ tháng mười một, tháng mười hai. V́ khí hậu mỗi thời khác nhau, nên biểu hiện mạch tượng cụ thể cũng khác nhau.
(Tha đích học thuật y cứ dữ y học ư nghĩa đồng ngũ tạng dữ tứ thời tương thích ứng cập kỳ mạch tượng biến hóa hoàn toàn nhất trí, quân thuộc ư 《Nội Kinh》 “thiên nhân tương ứng” quan niệm chi cụ thể nội dung): Cơ sở học thuật và ư nghĩa y học của điều này hoàn toàn nhất trí với học thuyết ngũ tạng ứng với bốn mùa và sự biến hóa mạch tượng của chúng, đều thuộc nội dung cụ thể của quan niệm “thiên nhân tương ứng” trong 《Nội Kinh》.
(Hữu quan tam âm kinh đích mạch tượng, khả tham kiến 《Nan Kinh・Thất Nan》): C̣n về mạch tượng của tam âm kinh th́ có thể tham khảo thêm ở 《Nan Kinh・Thất Nan》.
(Chân tạng mạch chi mạch h́nh cập kỳ trí tử chi cơ chế): H́nh thái của chân tạng mạch và cơ chế khiến nó dẫn đến tử vong.
Nguyên văn
(Chân can mạch chí, trung ngoại cấp, như tuần đao nhận, trách trách nhiên, như án cầm sắt huyền, sắc thanh bạch bất trạch, mao chiết năi tử): Chân can mạch đến th́ trong ngoài đều cấp, như sờ vào lưỡi dao, sắc bén đáng sợ, như ấn vào dây đàn cầm sắt; sắc mặt xanh trắng mà không nhuận, lông tóc khô găy th́ sẽ chết.
(Chân tâm mạch chí, kiên nhi bác, như tuần ư dĩ tử, lũy lũy nhiên, sắc xích hắc bất trạch, mao chiết năi tử): Chân tâm mạch đến th́ cứng và ngắn mạnh, như sờ vào hạt ư dĩ, dồn dập liên tiếp; sắc mặt đỏ đen mà không nhuận, lông tóc khô găy th́ sẽ chết.
(Chân phế mạch chí, đại nhi hư, như dĩ mao vũ trung nhân phu, sắc bạch xích bất trạch, mao chiết năi tử): Chân phế mạch đến th́ lớn mà hư, như lấy lông chim chạm vào da người; sắc mặt trắng đỏ mà không nhuận, lông tóc khô găy th́ sẽ chết.
(Chân thận mạch chí, bác nhi tuyệt, như chỉ đàn thạch tịch tịch nhiên, sắc hắc hoàng bất trạch, mao chiết năi tử): Chân thận mạch đến th́ cứng mạnh đến cực độ, như ngón tay gảy vào đá, cứng rắn rơ rệt; sắc mặt đen vàng mà không nhuận, lông tóc khô găy th́ sẽ chết.
(Chân tỳ mạch chí, nhược nhi sạ sác sạ sơ, sắc hoàng thanh bất trạch, mao chiết năi tử): Chân tỳ mạch đến th́ yếu mà khi nhanh khi chậm; sắc mặt vàng xanh mà không nhuận, lông tóc khô găy th́ sẽ chết.
(Chư chân tạng mạch kiến giả, giai tử bất trị dă): Hễ các chân tạng mạch xuất hiện th́ đều là chứng chết, không thể chữa.
(Hoàng Đế viết: Kiến chân tạng viết tử, hà dă? Kỳ Bá viết: Ngũ tạng giả, giai bẩm khí ư vị, vị giả ngũ tạng chi bản dă; tạng khí giả, bất năng tự trí ư thủ Thái âm, tất nhân ư vị khí, năi chí ư thủ Thái âm dă): Hoàng Đế hỏi: V́ sao thấy chân tạng mạch th́ gọi là chết? Kỳ Bá đáp: Ngũ tạng đều bẩm khí từ vị, mà vị là gốc của ngũ tạng. Tạng khí không thể tự ḿnh đến được tay Thái âm, mà nhất định phải nhờ vị khí rồi mới đến được tay Thái âm.
(Cố ngũ tạng các dĩ kỳ thời, tự vi nhi chí ư thủ Thái âm dă): V́ thế, mỗi tạng tùy theo thời của ḿnh mà biểu hiện ra ở thốn khẩu thuộc thủ Thái âm.
(Cố tà khí thắng giả, tinh khí suy dă, cố bệnh thậm giả, vị khí bất năng dữ chi câu chí ư thủ Thái âm, cố chân tạng chi khí độc kiến, độc kiến giả, bệnh thắng tạng dă, cố viết tử): Cho nên khi tà khí thắng th́ tinh khí suy. Bệnh càng nặng th́ vị khí không thể cùng với tạng khí đi tới tay Thái âm, v́ thế chân khí của tạng hiện ra riêng lẻ. Đă hiện riêng lẻ như vậy tức là bệnh tà đă thắng tạng khí, cho nên gọi là chết.
(Đế viết: Thiện): Hoàng Đế nói: Hay lắm.
Chú thích
1/(Như tuần đao nhận, trách trách nhiên): “Trách trách nhiên” là dáng sắc bén, đáng sợ. Ở đây dùng để h́nh dung chân tạng mạch của can có tính huyền, cấp, cứng chắc, hoàn toàn không c̣n vị khí.
2/(Sắc thanh bạch bất trạch, mao chiết năi tử): Xanh là sắc của can, trắng là sắc của phế. Bệnh can mà sắc xanh hiện rơ là chân tạng sắc xuất hiện; lại kèm sắc trắng là tượng kim khắc mộc. Can khí sắp tuyệt, cho nên sắc mặt không c̣n tươi nhuận, không có thần. “Chiết” là khô cháy, dễ găy đứt, do vệ khí bại tuyệt, da lông mất nuôi dưỡng mà gây nên.
3/(Kiên nhi bác, như tuần ư dĩ tử, lũy lũy nhiên): “Kiên nhi bác” là cứng, ngắn, đập mạnh hữu lực. “Lũy lũy nhiên” là dáng liên tiếp không dứt. Câu này h́nh dung chân tạng mạch của tâm, bắt vào như sờ hạt ư dĩ, ngắn, thực, cứng, liên tiếp không ngừng, hoàn toàn không có vẻ ḥa hoăn, thong dong.
4/(Sắc xích hắc bất trạch): Đỏ là sắc của tâm, đen là sắc của thận. Bệnh tâm mà sắc đỏ hiện rơ là chân tạng sắc xuất hiện; lại kèm sắc đen là tượng thủy khắc hỏa. Tâm khí sắp tuyệt, cho nên sắc mặt không c̣n tươi nhuận.
5/(Đại nhi hư, như dĩ mao vũ trung nhân phu): Câu này h́nh dung chân tạng mạch của phế: mạch đến phù đại, hư mà vô căn, nhẹ nổi, vô lực, như lông chim chạm vào da người.
6/(Sắc bạch xích bất trạch): Trắng là sắc của phế, đỏ là sắc của tâm. Bệnh phế mà sắc trắng hiện rơ là chân tạng sắc xuất hiện; lại kèm sắc đỏ là tượng hỏa khắc kim. Phế khí đă bại tuyệt, cho nên sắc mặt không c̣n tươi nhuận.
7/(Bác nhi tuyệt, như chỉ đàn thạch tịch tịch nhiên): “Tuyệt” ở đây có nghĩa là rất nặng, đến cực điểm. “Tịch tịch nhiên” là dáng cứng rắn. Câu này h́nh dung chân tạng mạch của thận: bắt vào như ngón tay gảy vào đá, trầm mà hữu lực, cứng chắc, không nhu ḥa.
8/(Sắc hắc hoàng bất trạch): Đen là sắc của thận, vàng là sắc của tỳ. Bệnh thận mà sắc đen hiện rơ là chân tạng sắc xuất hiện; lại kèm sắc vàng là tượng thổ khắc thủy. Thận tinh bại tuyệt, cho nên sắc mặt không c̣n tươi nhuận.
9/(Nhược nhi sạ sác sạ sơ): “Sạ sác sạ sơ” tức là mạch đập lúc nhanh lúc chậm, tiết luật rối loạn. Đây là nói chân tạng mạch của tỳ: ấn vào thấy yếu, vô lực, khi nhanh khi chậm, tiết luật không đều, hoàn toàn không có vẻ ḥa hoăn, thong dong.
10/(Sắc hoàng thanh bất trạch): Vàng là sắc của tỳ, xanh là sắc của can. Bệnh tỳ mà sắc vàng hiện rơ là chân tạng sắc xuất hiện; lại kèm sắc xanh là tượng mộc khắc thổ. Tỳ khí bại tuyệt, cho nên sắc mặt không c̣n tươi nhuận.
11/(Tạng khí giả, bất năng tự trí ư thủ Thái âm, tất nhân ư vị khí, năi chí ư thủ Thái âm dă): “Thủ Thái âm” ở đây chỉ mạch thốn khẩu. Tạng khí không thể tự ḿnh đi đến thủ Thái âm, mà nhất định phải nương nhờ vị khí rồi mới đến được thủ Thái âm; khi vị khí đến thủ Thái âm th́ sự biến hóa mới biểu hiện ra ở thốn khẩu.
12/(Ngũ tạng các dĩ kỳ thời, tự vi nhi chí ư thủ Thái âm dă): Nghĩa là ngũ tạng vào đúng thời lệnh mà ḿnh chủ quản, sẽ lần lượt biểu hiện ra ở thốn khẩu thuộc thủ Thái âm bằng các mạch như huyền, câu, mao, thạch.
13/(Bệnh thắng tạng dă, cố viết tử): “Bệnh” là bệnh tà; “tạng” là tạng khí, tức chính khí. Khi bệnh tà thắng được chính khí, th́ sẽ xuất hiện chân tạng tử mạch, v́ thế gọi là chết.
Phân tích
(Bản đoạn luận thuật liễu chân tạng mạch chi mạch h́nh cập kỳ trí tử đích cơ chế, chỉ xuất kỳ quan kiện tại ư vị khí chi thịnh suy hữu vô, tái thân mạch tượng hữu vị khí chi trọng yếu ư nghĩa): Đoạn này bàn về h́nh thái mạch của chân tạng mạch và cơ chế dẫn đến tử vong của nó, chỉ ra rằng chỗ then chốt nằm ở sự thịnh suy, c̣n mất của vị khí, đồng thời nhấn mạnh lại ư nghĩa rất quan trọng của việc mạch c̣n có vị khí.
(Chân tạng mạch, tức vô vị khí đích mạch tượng): Chân tạng mạch tức là loại mạch tượng không có vị khí.
(Chân tạng mạch đa kiến ư tật bệnh hậu kỳ, thuộc tạng phủ chi khí suy kiệt, vị khí bại tuyệt chi bệnh chứng): Chân tạng mạch phần nhiều xuất hiện vào giai đoạn muộn của bệnh, thuộc loại bệnh chứng mà khí của tạng phủ đă suy kiệt, vị khí đă bại tuyệt.(Kỳ đặc điểm thị một hữu ṭng dung ḥa hoăn, nhu ḥa hữu lực, tiết luật nhất trí chi xung ḥa chi tượng, vi chân tạng chi khí độc kiến, vô vị khí chi mạch): Đặc điểm của nó là không c̣n cái tượng thong dong ḥa hoăn, mềm ḥa mà có lực, tiết luật đều đặn của khí xung ḥa, mà chỉ c̣n thấy riêng khí thật của tạng hiện ra, tức là mạch không có vị khí.
(Nhân kỳ tạng chân chi khí độc kiến ư mạch, cố danh “chân tạng mạch”): V́ khí chân của tạng xuất hiện riêng rẽ ở mạch, cho nên gọi là “chân tạng mạch”.
(Ngũ tạng đô khả năng xuất hiện chân tạng mạch, kỳ mạch tượng đặc trưng, kinh văn tác liễu tỷ dụ miêu thuật): Cả năm tạng đều có thể xuất hiện chân tạng mạch, và đặc trưng mạch tượng của chúng đă được kinh văn mô tả bằng nhiều ví dụ so sánh.(Chân tạng mạch xuất hiện chi đồng thời đa bạn hữu chân tạng sắc đích ngoại lộ, cố đối chân tạng mạch chi phán đoán, ưng sắc mạch hợp tham tài năng đề cao kỳ chuẩn xác độ): Khi chân tạng mạch xuất hiện th́ thường đồng thời có chân tạng sắc lộ ra bên ngoài, cho nên khi phán đoán chân tạng mạch cần phải phối hợp cả sắc và mạch mới nâng cao được độ chính xác.
(“Ác sắc” đích đặc trưng hữu nhị): “Ác sắc” có hai đặc trưng.(Nhất thị dữ sở bất thắng chi tạng chi bệnh sắc đồng kiến, như can bệnh kiến thanh bạch sắc, dĩ kim khắc thừa mộc dă): Một là cùng xuất hiện với sắc bệnh của tạng mà nó không thắng nổi, như bệnh can mà thấy sắc xanh trắng là v́ kim khắc, hay kim thừa mộc.
(Nhị thị sắc “bất trạch”, tức bất minh nhuận quang trạch): Hai là sắc “không nhuận”, tức là không sáng, không bóng, không tươi nhuận.
(Chân tạng mạch h́nh thành đích cơ chế, chủ yếu thị tà khí quá thịnh, vị khí suy bại): Cơ chế h́nh thành chân tạng mạch chủ yếu là do tà khí quá thịnh, c̣n vị khí th́ suy bại.
(Nhân tỳ vị sở hóa sinh đích thủy cốc tinh khí vị khí năng tư dưỡng ngũ tạng, cổ động tạng chân chi khí hành ư kinh mạch, đạt ư khí khẩu, đồng thời dă năng chế ước tà khí): V́ thủy cốc tinh khí do tỳ vị hóa sinh ra, tức vị khí, có thể nuôi dưỡng ngũ tạng, thúc đẩy chân khí của tạng đi trong kinh mạch, tới khí khẩu, đồng thời cũng có thể chế ước tà khí.
(Sở dĩ vị khí sung thực, ngũ tạng chi khí tài năng sung bái, thủ Thái âm thốn khẩu bộ vị tài năng phản ánh xuất can mạch vi huyền, tâm mạch vi câu đẳng ṭng dung ḥa hoăn hữu lực chi vị khí mạch tượng): Cho nên khi vị khí đầy đủ th́ khí của ngũ tạng mới sung măn, và ở bộ vị thốn khẩu của thủ Thái âm mới có thể phản ánh ra những mạch tượng như can mạch hơi huyền, tâm mạch hơi câu, tức là những mạch có vị khí với dáng thong dong, ḥa hoăn mà hữu lực.
(Chính như kinh văn sở thuyết: “Vị giả, ngũ tạng chi bản dă, tạng khí giả, bất năng tự trí ư thủ Thái âm, tất nhân ư vị khí, năi chí ư thủ Thái âm dă”): Đúng như kinh văn nói: “Vị là gốc của ngũ tạng; tạng khí không thể tự ḿnh đến tay Thái âm, mà tất phải nhờ vào vị khí rồi mới đến được tay Thái âm.”
(Phản chi, nhược vị khí suy bại, bất năng hóa sinh ḥa phu bố thủy cốc tinh khí, ngũ tạng thất dưỡng, tạng khí hư nhược): Ngược lại, nếu vị khí suy bại, không thể hóa sinh và phân bố thủy cốc tinh khí, th́ ngũ tạng mất sự nuôi dưỡng, tạng khí sẽ hư nhược.
(Thử thời hoặc biểu hiện xuất “bất huyền, bất thạch” chi hư nhược tính chân tạng mạch): Khi ấy có thể biểu hiện ra loại chân tạng mạch thiên về hư nhược, như “không huyền, không thạch”.(Dă khả biểu hiện xuất “tà khí thắng, tinh khí suy”, tà thắng chính hư chi chân tạng mạch, tức “trung ngoại cấp như tuần đao nhận, trách trách nhiên, như án cầm sắt huyền” đẳng “đăn huyền, đăn thạch” chi mạch tượng): Cũng có thể biểu hiện ra loại chân tạng mạch mà tà thắng, chính hư, tức là “tà khí thắng, tinh khí suy”, như các mạch tượng “trong ngoài đều gấp như sờ lưỡi dao, sắc bén đáng sợ, như ấn dây đàn cầm sắt”, tức loại “chỉ huyền”, “chỉ thạch”.
(Sở dĩ vô luận chân tạng mạch tượng chi thái quá hoặc bất cập, đô thị vị khí suy vong, tạng chân chi khí độc kiến chi kết quả): V́ vậy, bất kể chân tạng mạch là thái quá hay bất cập, th́ đều là kết quả của sự suy vong vị khí và khí chân của tạng xuất hiện riêng rẽ.
(Bất cập vi chính khí suy kiệt, thái quá vi chính hư tà thắng, giai vi tật bệnh thùy nguy, dự hậu bất lương chi tử tượng): Bất cập là biểu hiện chính khí suy kiệt, c̣n thái quá là biểu hiện chính hư mà tà thắng, cả hai đều là dấu hiệu bệnh nguy kịch, tiên lượng xấu, thuộc tử tượng.(
Thông quá thẩm sát nhân thể các chủng chinh tượng biện biệt tật bệnh dự hậu đích phương pháp): Phương pháp phân biệt tiên lượng bệnh tật thông qua việc xem xét các loại dấu hiệu khác nhau của cơ thể.
(Hoàng Đế viết: Phàm trị bệnh, sát kỳ h́nh khí sắc trạch, mạch chi thịnh suy, bệnh chi tân cố, năi trị chi, vô hậu kỳ thời): Hoàng Đế nói: Hễ chữa bệnh th́ phải quan sát h́nh thể, khí sắc, sắc nhuận, sự thịnh suy của mạch, bệnh mới hay cũ, rồi mới chữa, chớ để lỡ mất thời cơ.
(H́nh khí tương đắc, vị chi khả trị; sắc trạch dĩ phù, vị chi dị dĩ; mạch ṭng tứ thời, vị chi khả trị; mạch nhược dĩ hoạt, thị hữu vị khí, mệnh viết dị trị, thủ chi dĩ thời): H́nh và khí tương hợp th́ gọi là có thể chữa; sắc nhuận mà sáng th́ gọi là dễ khỏi; mạch thuận theo bốn mùa th́ gọi là có thể chữa; mạch nhược mà hoạt tức là có vị khí, gọi là dễ chữa, và nên tùy thời mà trị.
(H́nh khí tương thất, vị chi nan trị; sắc yểu bất trạch, vị chi nan dĩ; mạch thực dĩ kiên, vị chi ích thậm; mạch nghịch tứ thời, vi bất khả trị): H́nh và khí không tương hợp th́ gọi là khó chữa; sắc mặt úa tổn, không nhuận th́ gọi là khó khỏi; mạch thực mà kiên th́ gọi là bệnh càng nặng; mạch nghịch bốn mùa th́ là không thể chữa.
(Tất sát tứ nan, nhi minh cáo chi): Nhất định phải xét rơ bốn điều khó ấy rồi nói rơ cho người bệnh biết.
(Hoàng Đế viết: Dư văn hư thực dĩ quyết tử sinh, nguyện văn kỳ t́nh): Hoàng Đế nói: Ta nghe rằng có thể dựa vào hư thực để quyết định sống chết, xin được nghe rơ đạo lư ấy.
(Kỳ Bá viết: Ngũ thực tử, ngũ hư tử): Kỳ Bá nói: Năm thực th́ chết, năm hư cũng chết.
(Đế viết: Nguyện văn ngũ thực, ngũ hư): Hoàng Đế nói: Xin được nghe thế nào là ngũ thực, thế nào là ngũ hư.
(Kỳ Bá viết: Mạch thịnh, b́ nhiệt, phúc trướng, tiền hậu bất thông, muộn mạo, thử vị ngũ thực; mạch tế, b́ hàn, khí thiểu, tiết lỵ tiền hậu, ẩm thực bất nhập, thử vị ngũ hư): Kỳ Bá nói: Mạch thịnh, da nóng, bụng trướng, đại tiểu tiện không thông, ngực bức bối mắt mờ, đó gọi là ngũ thực; mạch tế, da lạnh, khí ít, đại tiểu tiện rỉ chảy, ăn uống không vào, đó gọi là ngũ hư.
(Đế viết: Kỳ thời hữu sinh giả hà dă?): Hoàng Đế nói: Trong những lúc như vậy, có trường hợp nào c̣n sống được không?
(Kỳ Bá viết: Tương chúc nhập vị, tiết chú chỉ, tắc hư giả hoạt; thân hăn đắc hậu lợi, tắc thực giả hoạt. Thử kỳ hậu dă): Kỳ Bá nói: Nếu cháo nước vào được dạ dày, tiết tả ngừng lại, th́ người hư có thể sống; nếu thân ra mồ hôi, đại tiện thông lợi, th́ người thực có thể sống. Đó là dấu hiệu để xét vậy.
1/(H́nh khí tương đắc): “H́nh” là chỉ h́nh thể của con người, như béo gầy, cứng mềm, gịn yếu; “khí” là nói đến mạnh yếu của công năng tạng phủ khí huyết. Vương Băng chú rằng: “Khí thịnh th́ h́nh cũng thịnh, khí hư th́ h́nh cũng hư, đó là tương đắc.”2/(Sắc trạch dĩ phù): “Trạch” là nhuận; “phù” ở đây là sáng rơ. “Sắc trạch dĩ phù” tức là sắc mặt sáng sủa, tươi nhuận.(Mạch ṭng tứ thời): Vương Băng chú rằng: “Mạch mùa xuân huyền, mùa hạ câu, mùa thu phù, mùa đông doanh, đó gọi là thuận bốn mùa. ‘Ṭng’ nghĩa là thuận.”
4/(Mạch nhược dĩ hoạt): “Mạch nhược” là tương đối so với câu dưới “mạch thực” mà nói; “hoạt” là trơn lợi. “Nhược mà hoạt” ở đây là chỉ cái tượng thong thả, ḥa hoăn.
5/(Thủ chi dĩ thời): Nghĩa là căn cứ vào thời lệnh khác nhau mà dùng pháp trị khác nhau. Ngô Khôn chú rằng: “Thủ chi dĩ thời”, như mùa xuân châm tán du huyệt, mùa hạ châm lạc huyệt, mùa thu châm b́ phu, mùa đông châm du khiếu ở phần lư, đại loại như vậy.6/(H́nh khí tương thất): Vương Băng chú rằng: “H́nh thịnh mà khí hư, hoặc khí thịnh mà h́nh hư, đều gọi là tương thất.”7/(Tứ nan): Tức là bốn điều khó đă nói bên trên, gồm “h́nh khí tương thất”, “sắc yểu bất trạch”, “mạch thực dĩ kiên”, “mạch nghịch tứ thời”.
8/(Tiền hậu): Chỉ đại tiện và tiểu tiện.
9/(Muộn mạo): Tức là trong ngực uất muộn, mắt hoa đầu choáng.
10/(Tương chúc nhập vị, tiết chú chỉ, tắc hư giả hoạt): Khí của ngũ tạng đều do vị khí cung cấp, cho nên ăn uống vào được, tiêu chảy ngừng lại là biểu hiện vị khí phục hồi, v́ vậy tiên lượng của ngũ hư sẽ chuyển tốt.
11/(Thân hăn đắc hậu lợi, tắc thực giả hoạt): Chứng thực khi điều trị th́ nên dùng phép tả; ra mồ hôi có thể giải cái thực ở biểu, đại tiện thông lợi có thể trừ cái thực ở lư, tà đi th́ chính yên, cho nên tiên lượng của ngũ thực sẽ chuyển tốt.
Phân tích
(Bản đoạn ṭng chỉnh thể quan niệm xuất phát, chỉ xuất liễu chẩn trị tật bệnh thời, tất tu quan sát nhân chi h́nh thể, thần khí, sắc trạch, mạch tượng đẳng các chủng chinh tượng, tài năng biện biệt tật bệnh chi dị trị dữ nan trị): Đoạn này xuất phát từ quan niệm chỉnh thể, chỉ ra rằng khi chẩn trị bệnh tật, nhất định phải quan sát các loại dấu hiệu như h́nh thể, thần khí, sắc nhuận, mạch tượng của con người, rồi mới có thể phân biệt bệnh dễ trị hay khó trị.(《Nội Kinh》 phán đoán tật bệnh thuận nghịch tử sinh chi phương pháp đa chủng đa dạng, nhi thả thị linh hoạt biện chứng đích, tựu bản thiên sở ngôn, hữu dĩ hạ kỷ cá phương diện): Trong 《Nội Kinh》, các phương pháp phán đoán thuận nghịch, sống chết của bệnh tật rất đa dạng, lại mang tính biện chứng linh hoạt; riêng trong thiên này, có thể xét trên mấy phương diện sau.
(H́nh khí đắc thất: “h́nh khí tương đắc, vị chi khả trị”, “h́nh khí tương thất, vị chi nan trị”): Xét về h́nh khí được hay mất: “h́nh khí tương hợp th́ có thể chữa”, “h́nh khí không hợp th́ khó chữa”. Điều này cho thấy nếu t́nh trạng hưng suy của h́nh thể phù hợp với mạnh yếu của chính khí th́ tiên lượng tốt; ngược lại th́ tiên lượng xấu.
(Diện sắc trạch yểu: “sắc trạch dĩ phù, vị chi dị dĩ”, “sắc yểu bất trạch, vị chi nan dĩ”): Xét về sắc mặt sáng nhuận hay úa tổn: “sắc nhuận mà sáng th́ dễ khỏi”, “sắc úa mà không nhuận th́ khó khỏi”. Sắc trạch là sự vinh hiện ra ngoài của tinh khí thần; sắc mặt sáng nhuận hay khô tối trực tiếp phản ánh sự thịnh suy, c̣n mất của tinh khí thần. V́ vậy sắc mặt sáng nhuận có thần th́ tiên lượng tốt, c̣n sắc úa không nhuận th́ tiên lượng xấu.
(Mạch tượng hữu vô vị khí: “mạch nhược dĩ hoạt, thị hữu vị khí, mệnh viết dị trị”, “mạch thực dĩ kiên, vị chi ích thậm”, bệnh nan trị, như thượng thuật chân tạng mạch tức thị): Xét về mạch tượng có hay không có vị khí: “mạch nhược mà hoạt, tức là có vị khí, gọi là dễ chữa”; c̣n “mạch thực mà kiên” th́ là bệnh càng nặng, bệnh khó trị, như chân tạng mạch đă nói ở trên.
(Mạch dữ thời đích ṭng nghịch: “mạch ṭng tứ thời, vị chi khả trị”, “mạch nghịch tứ thời, vi bất khả trị”): Xét về mạch thuận hay nghịch với thời: “mạch thuận bốn mùa th́ có thể chữa”, “mạch nghịch bốn mùa th́ không thể chữa”.
(Chứng hậu chi hư thực: “tà khí thịnh tắc thực, tinh khí đoạt tắc hư”): Xét về hư thực của chứng hậu: “tà khí thịnh th́ là thực, tinh khí bị đoạt th́ là hư”. Hư thực hai bên liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau, cho nên bất kể là tà khí quá thịnh hay tinh khí hao tổn quá mức đều có thể nguy hại đến tính mạng.
(Kinh văn sở liệt cử chi “ngũ thực tử”, thị tà khí quá thịnh, khí cơ bế tắc sở trí; “ngũ hư tử” tắc thị tinh khí quá hao, chính khí hư thoát sở trí): Cái gọi là “ngũ thực tử” mà kinh văn nêu ra là do tà khí quá thịnh, khí cơ bế tắc gây nên; c̣n “ngũ hư tử” là do tinh khí hao tổn quá mức, chính khí hư thoát gây nên.
(Lưỡng giả dự hậu giai sai, đăn diệc phi tất nhiên, chỉ yếu cứu trị cập thời, đắc pháp, dă khả dĩ sử chi “hoạt”): Cả hai loại ấy tiên lượng đều xấu, nhưng cũng không phải tuyệt đối; chỉ cần cứu trị kịp thời, đúng pháp, th́ vẫn có thể làm cho “sống”.
(“Thực giả hoạt” chi quan kiện, thị sử kỳ “thân hăn đắc hậu lợi”, tà hữu xuất lộ, tắc bế trở đắc giải): Điểm mấu chốt để “người thực sống được” là làm cho “thân ra mồ hôi, đại tiện thông lợi”, để tà có lối thoát ra ngoài th́ bế trở được giải.
(“Hư giả hoạt” đích chuyển cơ tại ư “tương chúc nhập vị, tiết chú chỉ”, tức yếu trảo trụ vị khí giá cá hậu thiên chi bản, tiến hành bổ ích điều lư): Chỗ chuyển biến để “người hư sống được” nằm ở việc “cháo nước vào được dạ dày, tiêu chảy ngừng lại”, tức là phải nắm lấy vị khí, cái gốc của hậu thiên, mà tiến hành điều bổ và điều lư.
(Nhan diện phân bộ ḥa diện bộ sắc chẩn đích cơ chế): Cơ chế phân chia bộ vị ở vùng mặt và cơ chế chẩn đoán bằng sắc mặt.
(Lôi công vấn ư Hoàng Đế viết: Ngũ sắc độc quyết ư Minh đường hồ? Tiểu tử vị tri kỳ sở vị dă): Lôi Công hỏi Hoàng Đế rằng: Việc xét năm sắc chỉ quyết định ở Minh đường thôi sao? Kẻ hậu học này chưa hiểu rơ ư nghĩa ấy.
(Hoàng Đế viết: Minh đường giả tỵ dă, Khuyết giả my gian dă, Đ́nh giả nhan dă, Phiên giả giáp trắc dă, Tế giả nhĩ môn dă): Hoàng Đế nói: Minh đường là mũi, Khuyết là khoảng giữa hai đầu mày, Đ́nh là trán, Phiên là hai bên má, Tế là cửa tai.
(Kỳ gian dục phương đại, khứ chi thập bộ, giai kiến ư ngoại, như thị giả, thọ tất trung bách tuế): Những bộ vị ấy cần phải ngay ngắn, rộng răi, đầy đặn; đứng cách mười bước mà vẫn thấy sáng sủa rơ ràng, người như vậy ắt hưởng thọ đến trăm tuổi.
(Lôi công viết: Ngũ quan đích biện nại hà?): Lôi Công hỏi: Vậy phân biệt ngũ quan như thế nào?
(Hoàng Đế viết: Minh đường cốt cao dĩ khởi, b́nh dĩ trực): Hoàng Đế nói: Xương mũi ở Minh đường phải cao mà nổi lên, ngay ngắn mà thẳng.
(Ngũ tạng thứ ư trung ương, lục phủ hiệp kỳ lưỡng trắc): Năm tạng lần lượt ứng ở phần trung tâm của mặt, sáu phủ th́ phân bố kèm ở hai bên.
(Thủ diện thượng ư Khuyết Đ́nh, Vương cung tại ư Hạ cực): Đầu mặt ứng ở vùng Khuyết và Đ́nh, c̣n Vương cung ở tại Hạ cực.
(Ngũ tạng an ư hung trung, chân sắc dĩ chí, bệnh sắc bất kiến, Minh đường nhuận trạch dĩ thanh, ngũ quan ác đắc vô biện hồ): Ngũ tạng yên ổn ở trong ngực, chân sắc hiện ra đầy đủ, bệnh sắc không lộ, Minh đường lại sáng sạch, nhuận trạch, th́ làm sao ngũ quan lại không rơ ràng cho được.
(Lôi công viết: Kỳ bất biện giả, khả đắc văn hồ?): Lôi Công hỏi: C̣n những trường hợp không rơ ràng th́ có thể nghe giải thích được chăng?
(Hoàng Đế viết: Ngũ sắc đích kiến dă, các xuất kỳ sắc bộ): Hoàng Đế nói: Khi năm sắc xuất hiện, mỗi sắc đều có bộ vị riêng của nó.
(Bộ cốt hăm giả, tất bất miễn ư bệnh hĩ): Nếu xương ở bộ vị ấy bị lơm, th́ tất không tránh khỏi bệnh.
(Kỳ sắc bộ thừa tập giả, tuy bệnh thậm, bất tử hĩ): Nếu sắc ở bộ vị theo kiểu thừa tập, tuy bệnh có nặng cũng chưa đến chết.
(Lôi công viết: Quan ngũ sắc nại hà?): Lôi Công hỏi: Năm sắc chủ bệnh như thế nào?
(Hoàng Đế viết: Thanh hắc vi thống, hoàng xích vi nhiệt, bạch vi hàn, thị vị ngũ quan): Hoàng Đế nói: Xanh đen chủ đau, vàng đỏ chủ nhiệt, trắng chủ hàn, đó là phép xét ngũ sắc chủ bệnh.
Chú thích
1/(Minh đường): Tức là vùng mũi.
2/(Tiểu tử): Chỉ người trẻ tuổi, là lời tự xưng khiêm nhường. Trương Giới Tân chú rằng: Trong các bề tôi, chỉ riêng Lôi Công là ít tuổi, nên tự xưng là tiểu tử.
3/(Khuyết): Là khoảng giữa hai đầu lông mày.
4/(Đ́nh giả nhan dă): Chỉ vùng trán.
5/(Phiên giả giáp trắc dă, Tế giả nhĩ môn dă): Phiên thông với Phiên, ư nói hai bên má và cửa tai như hàng rào che chắn bốn phía.
6/(Phương đại): Nghĩa là đoan chính, rộng răi, đầy đặn.
7/(Khứ chi thập bộ, giai kiến ư ngoại): Nghĩa là đứng cách mười bước nh́n vẫn thấy sáng sủa, rơ ràng.
8/(Trúng): Ở đây có nghĩa là “được”.
9/(Minh đường cốt cao dĩ khởi, b́nh dĩ trực): Xương mũi cao mà nổi lên, ngay ngắn và thẳng.
10/(Ngũ tạng thứ ư trung ương, lục phủ hiệp kỳ lưỡng trắc): “Thứ” là lần lượt sắp xếp, tức năm tạng lần lượt phân bố ở trung tâm vùng mặt, c̣n sáu phủ ở hai bên.
11/(Thủ diện thượng ư Khuyết Đ́nh): Chỉ vùng trán và giữa hai đầu lông mày, là chỗ chủ đầu mặt.
12/(Vương cung tại ư Hạ cực): Trương Giới Tân chú rằng: Hạ cực ở giữa hai mắt, là bộ vị của tâm; tâm là quân chủ, nên gọi là Vương cung.
13/(Bộ cốt hăm giả): “Bộ” là các vùng mặt tương ứng với ngũ tạng; “bộ cốt hăm” là những vùng đó bị lơm, không đầy đặn, không đoan chính.
14/(Thừa tập): Chỉ sắc của con xuất hiện ở vị trí của mẹ. Trương Chí Thông chú rằng: Thừa tập là khí sắc của con nương theo khí của mẹ, như bộ vị tâm thấy vàng, bộ vị can thấy đỏ, bộ vị phế thấy đen, bộ vị thận thấy xanh, tức sắc của con xuất hiện ở bộ vị của mẹ.
15/(Quan ngũ sắc): “Quan” nghĩa là chủ, tức năm sắc chủ những chứng hậu nào.
Phân tích
(Bản đoạn luận thuật liễu nhan diện phân bộ ḥa diện bộ sắc chẩn đích cơ chế): Đoạn này bàn về cơ chế phân chia bộ vị vùng mặt và cơ chế chẩn đoán bằng sắc mặt.
(《Nội Kinh》 ṭng chỉnh thể quan xuất phát, nhận vi thanh, hoàng, xích, bạch, hắc ngũ sắc phân thuộc ư ngũ tạng, nhi ngũ tạng lục phủ tại diện bộ đích phản ánh các hữu kỳ nhất định đích bộ vị): 《Nội Kinh》 đứng trên quan điểm chỉnh thể, cho rằng xanh, vàng, đỏ, trắng, đen lần lượt thuộc về ngũ tạng, và ngũ tạng lục phủ đều có bộ vị phản ánh nhất định trên mặt.
(Căn cứ diện bộ các cá tương ứng bộ vị sắc trạch đích biến hóa, khả dĩ suy trắc tạng phủ đích bệnh biến, chuyển quy, dự hậu đẳng): Căn cứ vào sự thay đổi sắc trạch ở từng bộ vị tương ứng trên mặt, có thể suy đoán bệnh biến của tạng phủ, diễn biến bệnh và tiên lượng.
(Tịnh liên hệ mạch chẩn, dĩ sắc mạch hợp tham, lai chẩn sát bệnh, giá tại chẩn pháp trung thị hữu kỳ trọng yếu ư nghĩa đích): Đồng thời c̣n kết hợp với mạch chẩn, lấy sắc và mạch cùng tham khảo để chẩn bệnh, điều này có ư nghĩa rất quan trọng trong chẩn pháp.
(Văn trung sở thuật thanh hắc sắc chủ thống chứng, hoàng hồng sắc chủ nhiệt chứng, bạch sắc chủ hàn chứng đích ngũ sắc chủ bệnh, giảng đích thị nhất ban quy luật): Trong đoạn này, nói xanh đen chủ đau, vàng đỏ chủ nhiệt, trắng chủ hàn là đang nói quy luật chung của ngũ sắc chủ bệnh.
(Lâm sàng ứng dụng thời, hoàn ưng kết hợp tạng phủ, kết hợp bệnh vị tiến nhất bộ phân tích, tài năng tố xuất chính xác chẩn đoán): Khi ứng dụng lâm sàng, c̣n phải kết hợp với tạng phủ và vị trí bệnh để phân tích thêm, mới có thể đưa ra chẩn đoán chính xác.
(Như Trương Trọng Cảnh tại 《Kim Quỹ Yếu Lược》 trung đề xuất “nội hữu can huyết, cơ phu giáp thác, lưỡng mục ảm hắc”, “cách gian chi ẩm, kỳ nhân suyễn măn, tâm hạ bĩ kiên, diện sắc lê hắc”, tựu thuyết minh hắc sắc bất toàn thị chủ thống chứng): Như Trương Trọng Cảnh trong 《Kim Quỹ Yếu Lược》 nói “trong có huyết khô, da thịt ráp như vảy giáp, hai mắt tối đen”, lại nói “giữa cơ hoành có chi ẩm, người ấy suyễn đầy, dưới tim bĩ cứng, mặt đen sạm”, điều đó cho thấy sắc đen không phải hoàn toàn chỉ chủ chứng đau.
Biểu h́nh đầu
(Tốt tử chi chứng đích sắc chẩn biểu hiện): Biểu hiện sắc chẩn của chứng đột tử.
Nguyên văn
Đồ h́nh Minh đường
(Lôi công viết: Nhân bất bệnh tốt tử, hà dĩ tri chi?): Lôi Công hỏi: Người không có bệnh mà chết đột ngột th́ làm sao biết được?
(Hoàng Đế viết: Đại khí nhập ư tạng phủ giả bất bệnh nhi tốt tử hĩ): Hoàng Đế nói: Khi đại tà khí xâm nhập vào tạng phủ th́ có thể không biểu hiện bệnh rơ ràng mà đột ngột chết.
(Lôi công viết: Bệnh tiểu dũ nhi tốt tử giả, hà dĩ tri chi?): Lôi Công hỏi: Người bệnh đă đỡ ít nhiều rồi mà lại chết đột ngột th́ làm sao biết?
(Hoàng Đế viết: Xích sắc xuất lưỡng quyền, đại như mẫu chỉ giả, bệnh tuy tiểu dũ, tất tốt tử): Hoàng Đế nói: Nếu hai g̣ má hiện màu đỏ lớn như ngón tay cái, th́ bệnh tuy có vẻ đă đỡ, vẫn tất phải chết đột ngột.
(Hắc sắc xuất ư Đ́nh, đại như mẫu chỉ, tất bất bệnh nhi tốt tử): Nếu vùng trán xuất hiện màu đen lớn như ngón tay cái, th́ tất là không qua bệnh lâu mà chết đột ngột.
(Lôi công tái bái viết: Thiện tai, kỳ tử hữu kỳ hồ?): Lôi Công lạy hai lần rồi nói: Hay lắm, vậy cái chết ấy có thời điểm nhất định không?
(Hoàng Đế viết: Sát sắc dĩ ngôn kỳ thời): Hoàng Đế nói: Phải xét sắc để nói thời điểm ấy.
Chú thích
1/(Nhân bất bệnh tốt tử): “Tốt tử” tức là không thấy mắc bệnh rơ rệt mà đột nhiên chết.
2/(Đại khí): Tức là đại tà khí, là loại tà khí rất dữ dội. Trương Giới Tân chú rằng: Đại khí là đại tà chi khí, mà đại tà xâm nhập th́ đều do nguyên khí quá hư rồi tà mới thừa cơ tập kích, cho nên dẫn đến đột tử.
Phân tích
(Bản đoạn sở luận tại lâm sàng trung xuất hiện đích kỷ chủng đột nhiên tử vong đích sắc chẩn biểu hiện, thị cổ nhân ṭng thực tiễn trung tổng kết xuất lai đích kinh nghiệm): Đoạn này nói về vài loại biểu hiện sắc chẩn của đột tử trong lâm sàng, là kinh nghiệm người xưa tổng kết từ thực tiễn.
(Giá ta sắc hậu, đa thị tạng khí thoát tuyệt, âm dương ly quyết đích chinh tượng, cố chủ bệnh nguy, hữu nhất định đích chỉ đạo ư nghĩa, đáng đắc tố tiến nhất bộ nghiên cứu): Những sắc hậu ấy phần nhiều là dấu hiệu tạng khí thoát tuyệt, âm dương ly quyết, cho nên chủ bệnh nguy kịch, có ư nghĩa chỉ đạo nhất định, rất đáng được nghiên cứu thêm.
(Nhan diện đích ngũ tạng lục phủ, chi tiết phân bộ): Phân bộ ngũ tạng lục phủ và tứ chi trên vùng mặt.
(Hoàng Đế viết: Đ́nh giả, thủ diện dă; Khuyết thượng giả, yết hầu dă; Khuyết trung giả, phế dă; Hạ cực giả, tâm dă; trực hạ giả, can dă; can tả giả, đởm dă; hạ giả, tỳ dă; phương thượng giả, vị dă): Hoàng Đế nói: Đ́nh là đầu mặt; phần trên Khuyết là yết hầu; giữa Khuyết là phế; Hạ cực là tâm; phía dưới thẳng là can; bên trái can là đởm; phần dưới là tỳ; phần trên cạnh đó là vị.
(Trung ương giả, đại trường dă; hiệp đại trường giả, thận dă; đương thận giả, tề dă): Ở trung ương là đại trường; hai bên đại trường là thận; ngang vùng thận là rốn.
(Diện vương dĩ thượng giả, tiểu trường dă; diện vương dĩ hạ giả, bàng quang tử xứ dă): Phía trên diện vương là tiểu trường; phía dưới diện vương là bàng quang và tử cung.
(Quyền giả, kiên dă; quyền hậu giả, tư dă; tư hạ giả, thủ dă): G̣ má là vai; phía sau g̣ má là cánh tay; phía dưới cánh tay là bàn tay.
(Mục nội tư thượng giả, ưng nhũ dă; hiệp thằng nhi thượng giả, bối dă): Phía trên khóe mắt trong là ngực và vú; theo hai bên cạnh tai mà đi lên là lưng.
(Tuần nha xa dĩ hạ giả, cổ dă; trung ương giả, tất dă; tất dĩ hạ giả, hĩnh dă; đương hĩnh dĩ hạ giả, túc dă): Theo vùng hàm đi xuống là đùi; ở giữa là gối; dưới gối là cẳng chân; dưới cẳng chân là bàn chân.
(Cự phân giả, cổ lư dă; cự khuất giả, tất tẫn dă): Vùng phân rộng là mặt trong đùi; chỗ cong lớn là xương bánh chè.
(Thử ngũ tạng lục phủ chi tiết đích bộ dă, các hữu phân bộ): Đó là các bộ vị của ngũ tạng lục phủ và tứ chi, mỗi nơi đều có chỗ phân thuộc riêng.
(Hữu phân bộ, dụng âm ḥa dương, dụng dương ḥa âm, đương minh phân bộ, vạn cử vạn đương): Đă có phân bộ, th́ phải dùng âm để ḥa dương, dùng dương để ḥa âm; cần hiểu rơ từng phân bộ, th́ dùng muôn lần cũng đúng.
(Năng biệt tả hữu, thị vị đại đạo): Có thể phân biệt trái phải, đó gọi là đại đạo.
(Nam nữ dị vị, cố viết âm dương, thẩm sát trạch yểu, vị chi lương công): Nam nữ khác vị trí, cho nên gọi là âm dương; xét kỹ sắc nhuận hay sắc úa, như vậy mới gọi là thầy thuốc giỏi.
Chú thích
1/(Đ́nh giả, thủ diện dă): “Đ́nh” chỉ vùng trán, là bộ vị chủ về đầu mặt.
2/(Khuyết thượng giả, yết hầu dă): Chỉ phần phía trên ấn đường, là bộ vị chủ về yết hầu.
3/(Khuyết trung giả, phế dă): Chỉ khoảng giữa hai đầu lông mày, là bộ vị chủ về phế.
4/(Hạ cực giả, tâm dă): Chỉ khoảng giữa hai mắt, là bộ vị chủ về tâm.
5/(Trực hạ giả, can dă): Chỉ phần ngay phía dưới hạ cực, là bộ vị chủ về can.
6/(Can tả giả, đởm dă): Chỉ mặt trái của trụ mũi, là bộ vị chủ về đởm.
7/(Hạ giả, tỳ dă): Chỉ từ dưới trụ mũi đến đầu chóp mũi, là bộ vị chủ về tỳ.
8/(Phương thượng giả, vị dă): Chỉ hai bên cánh mũi ở cạnh chóp mũi, là bộ vị chủ về vị.
9/(Trung ương giả, đại trường dă; hiệp đại trường giả, thận dă): Chỉ vùng trung ương từ cánh mũi đến má, ở dưới xương g̣ má, là bộ vị chủ về đại trường; phần má mở ra phía ngoài từ đó là bộ vị chủ về thận.
10/(Đương thận giả, tề dă): Chỉ phần ở dưới vùng má thuộc thận, là bộ vị chủ về rốn.
11/(Diện vương dĩ thượng giả, tiểu trường dă): “Diện vương” tức là đầu chóp mũi; chỉ hai bên phía trên chóp mũi, giữa mũi và g̣ má, là bộ vị chủ về tiểu trường.
12/(Diện vương dĩ hạ giả, bàng quang tử xứ dă): Chỉ vùng nhân trung ở dưới chóp mũi, là bộ vị chủ về bàng quang và tử cung.
13(Quyền giả, kiên dă): Vùng g̣ má là bộ vị chủ về vai.
14/(Quyền hậu giả, tư dă): Chỉ phần phía sau g̣ má, là bộ vị chủ về cánh tay.
15/(Tư hạ giả, thủ dă): Chỉ phần phía dưới vùng cánh tay, là bộ vị chủ về bàn tay.
16/(Mục nội tư thượng giả, ưng nhũ dă): Chỉ phần trên khóe mắt trong, là bộ vị chủ về ngực và vú.
17/(Hiệp thằng nhi thượng giả, bối dă): “Thằng” tức là vùng cạnh tai; chỉ phần đi thẳng lên gần cạnh tai, là bộ vị chủ về lưng.
18/(Tuần nha xa dĩ hạ giả, cổ dă): “Nha xa” tức là vùng hàm, chỗ huyệt Giáp xa; chỉ phần đi dọc theo vùng này xuống dưới, là bộ vị chủ về đùi.
19/(Trung ương giả, tất dă): Chỉ phần trung ương của hai hàm, là bộ vị chủ về gối.
20/(Tất dĩ hạ giả, hĩnh dă): Chỉ phần từ trung ương hai hàm đi xuống, là bộ vị chủ về cẳng chân.
(21/Đương hĩnh dĩ hạ giả, túc dă): Chỉ phần dưới vùng cẳng chân nói trên, là bộ vị chủ về bàn chân.
22/(Cự phân giả, cổ lư dă): Chỉ chỗ mềm lơm ở cạnh miệng và trước vùng Giáp xa, là bộ vị chủ về mặt trong đùi.
23/(Cự khuất giả, tất tẫn dă): Chỉ chỗ xương cong ở dưới má, là bộ vị chủ về xương bánh chè.
24/(Hữu phân bộ): Nghĩa là các tạng phủ, tứ chi của cơ thể đều có bộ vị phản ánh tương ứng trên mặt.
25/(Năng biệt tả hữu, thị vị đại đạo): Nghĩa là có thể phân biệt được thuộc tính tả dương hữu âm, như vậy mới hợp với quy luật tương đối của âm dương.
26/(Nam nữ dị vị, cố viết âm dương): Nghĩa là sự di chuyển của bệnh sắc ở nam và nữ có vị trí khác nhau, cho nên phải hiểu quy luật âm dương.
Phân tích
(Bản đoạn xiển thuật liễu nhan diện đích ngũ tạng lục phủ chi tiết phân bộ): Đoạn này tŕnh bày sự phân bộ của ngũ tạng, lục phủ và tứ chi trên vùng mặt.
(Bản đoạn tường tế địa tự thuật liễu ngũ tạng lục phủ ḥa tứ chi quan tiết tại diện bộ đích tương ứng bộ vị, kỳ dữ tạng phủ chi tiết tại nhĩ quách thượng đích sở thuộc liên hệ thị nhất trí đích): Đoạn này tŕnh bày rất chi tiết các bộ vị tương ứng của ngũ tạng, lục phủ và tứ chi khớp xương trên mặt, và mối liên hệ này phù hợp với sự phân thuộc của tạng phủ, chi tiết trên vành tai.
(Nhân thử lâm sàng trị liệu thời, bất cận khả dụng nhĩ châm thích kích nhĩ huyệt lai điều trị nội tại tạng phủ tật bệnh, dă khả dĩ tương tạng phủ chi tiết tại nhan diện đích sở thuộc bộ vị tác vi tương ứng huyệt vị tiến hành trị liệu): V́ vậy khi điều trị lâm sàng, không chỉ có thể dùng nhĩ châm kích thích nhĩ huyệt để điều trị bệnh nội tạng, mà cũng có thể lấy các bộ vị tương ứng của tạng phủ, tứ chi trên mặt làm huyệt vị tương ứng để trị liệu.
(Như: hữu y gia dụng Ba đậu Chu sa cao thiếp tại dữ yết hầu tương ứng đích my tâm thượng bộ dĩ pḥng trị bạch hầu, thủ đắc liễu giảo hảo đích liệu hiệu): Ví dụ có thầy thuốc dùng cao Ba đậu Chu sa dán ở phần trên giữa hai lông mày, tương ứng với yết hầu, để pḥng trị bệnh bạch hầu, và đă thu được hiệu quả khá tốt.
(Án ma lưỡng my tâm dữ phế tương ứng đích bộ vị, khả hoăn giải châm thích ma túy thủ thuật thời xuất hiện đích nội tạng khiên lạp đằng thống): Xoa bóp vùng giữa hai lông mày tương ứng với phế có thể làm giảm đau do kéo căng nội tạng khi phẫu thuật dưới châm tê.
(Châm thích thử xứ đối trị liệu hô hấp ma tư hữu nhất định đích liệu hiệu đẳng, đáng đắc thâm nhập nghiên cứu): Châm vào vùng này cũng có hiệu quả nhất định trong điều trị liệt hô hấp, những điều đó đều đáng được nghiên cứu sâu hơn.
Đồ h́nh đầu 2
(Ngũ sắc chủ bệnh đích nguyên tắc dĩ cập tật bệnh ngũ sắc biến hóa đích giám biệt): Nguyên tắc ngũ sắc chủ bệnh và phép phân biệt biến hóa ngũ sắc trong bệnh tật.
(Trầm trọc vi nội, phù trạch vi ngoại): Sắc mặt trầm đục th́ chủ bệnh ở trong, ở tạng; sắc nổi sáng nhuận th́ chủ bệnh ở ngoài, ở phủ.
1/(Hoàng xích vi phong, thanh hắc vi thống): Sắc vàng đỏ phần nhiều thuộc loại bệnh phong nhiệt; sắc xanh đen phần nhiều do khí huyết ngưng trệ, cho nên thuộc loại bệnh đau.
2/(Bạch vi hàn): Sắc trắng chủ hàn, cho nên là bệnh hàn.
(Hoàng nhi cao nhuận vi nùng, xích thậm giả vi huyết): Câu này nói về chứng sang dương. Mă Th́ chú rằng: Sắc vàng mà bóng như mỡ là có mủ, sắc đỏ quá mức là có huyết.
(Thống thậm vi luyên, hàn thậm vi b́ bất nhân): Trương Chí Thông chú rằng: Đau ở cân cốt, nặng th́ thành co quắp; hàn làm thương da thịt, nặng th́ da mất cảm giác.
(Sát kỳ phù trầm, dĩ tri thiển thâm): Quan sát sắc nổi hay ch́m để biết bệnh nông hay sâu; sắc nổi chủ bệnh nông, sắc ch́m chủ bệnh sâu.
(Sát kỳ trạch yểu, dĩ quan thành bại): Quan sát sắc có nhuận hay héo để biết thành hay bại; sắc nhuận th́ tiên lượng tốt, sắc khô tối th́ tiên lượng xấu.
(Sát kỳ tán đoàn, dĩ tri viễn cận): “Đoàn” là kết tụ không tan. Sắc tán mà không tụ th́ bệnh tŕnh c̣n ngắn; sắc tụ mà không tan th́ bệnh đă lâu.
(Thị sắc thượng hạ, dĩ tri bệnh xứ): Mă Th́ chú rằng: Xem sắc ở trên th́ biết bệnh ở trên, sắc ở dưới th́ biết bệnh ở dưới.
(Tích thần ư tâm, dĩ tri văng kim): Nghĩa là thầy thuốc phải tập trung tinh thần để quan sát sắc và biện chứng, trong ḷng nắm chắc th́ có thể biết được t́nh trạng quá khứ và hiện tại của bệnh.
(Tướng khí bất vi, bất tri thị phi; chúc ư vật khứ, năi tri tân cố): Nghĩa là nếu quan sát khí sắc mà không đủ tinh tế sâu sát th́ không biết được phải trái của bệnh; chỉ khi chuyên chú không để tâm ư phân tán th́ mới biết được bệnh mới hay cũ.
(Sắc minh bất thô, trầm yểu vi thậm; bất minh bất trạch, kỳ bệnh bất thậm): Sắc sáng mà không thô trệ, nếu lại trầm và yểu th́ bệnh nặng; nếu sắc không sáng, không nhuận th́ bệnh cũng không nhẹ.
(Kỳ sắc tán, câu câu nhiên vị hữu tụ; kỳ bệnh tán nhi khí thống, tụ vị thành dă): Nếu sắc tán mà chưa tụ, giống như ngựa non chạy không định chỗ, th́ bệnh c̣n tán mà khí đau, sự kết tụ chưa thành.
1/(Trầm trọc vi nội, phù trạch vi ngoại): Nghĩa là sắc mặt trầm trệ tối đục th́ bệnh ở trong, ở tạng; sắc nhẹ nổi, có ánh nhuận th́ bệnh ở ngoài, ở phủ.
2/(Hoàng xích vi phong, thanh hắc vi thống): Sắc vàng đỏ phần nhiều thuộc các bệnh phong nhiệt; sắc xanh đen phần nhiều do khí huyết ngưng trệ, nên thuộc chứng đau.
3/(Bạch vi hàn): Sắc trắng thuộc hàn, nên là bệnh hàn.
4/(Hoàng nhi cao nhuận vi nùng, xích thậm giả vi huyết): Đây là nói về sang dương. Mă Th́ chú rằng: Màu vàng mà như có bóng mỡ là có mủ, đỏ quá mức là có huyết.
5/(Thống thậm vi luyên, hàn thậm vi b́ bất nhân): Trương Chí Thông chú rằng: Đau ở cân cốt, nặng th́ thành co rút; hàn làm thương da thịt, nặng th́ da mất cảm giác.
6/(Sát kỳ phù trầm, dĩ tri thiển thâm): Sắc nổi chủ bệnh nông, sắc ch́m chủ bệnh sâu.
7/(Sát kỳ trạch yểu, dĩ quan thành bại): Nếu sắc có nhuận th́ tiên lượng tốt, nếu sắc khô tối th́ tiên lượng không tốt.
8/(Sát kỳ tán đoàn, dĩ tri viễn cận): “Đoàn” nghĩa là tụ kết không tan. Sắc tán mà không tụ th́ bệnh tŕnh ngắn; sắc tụ mà không tan th́ bệnh đă lâu.
9/(Thị sắc thượng hạ, dĩ tri bệnh xứ): Mă Th́ chú rằng: Xem sắc ở trên th́ biết bệnh ở trên, ở dưới th́ bệnh ở dưới.
10/(Tích thần ư tâm, dĩ tri văng kim): Nghĩa là thầy thuốc phải tập trung tinh thần quan sát sắc và biện chứng, để trong ḷng nắm rơ được t́nh trạng bệnh trước đây và hiện tại.
11/(Tướng khí bất vi, bất tri thị phi; chúc ư vật khứ, năi tri tân cố): Nghĩa là nếu quan sát khí sắc không đủ tinh vi th́ không biết được đúng sai của bệnh; chỉ khi chuyên tâm không rời ư th́ mới biết được bệnh cũ hay mới.
12/(Câu câu nhiên): “Câu” là ngựa non. “Câu câu nhiên” là ví sắc bệnh giống như ngựa non chạy nhảy vô định, tán mà không tụ.
(Bản tiết luận thuật ngũ sắc chủ bệnh đích nguyên tắc cập tật bệnh ngũ sắc biến hóa đích giám biệt, kỳ quan kiện tại ư “trạch yểu” nhị tự, dă tựu thị diện bộ ngũ sắc thị phủ minh nhuận nhi hữu quang trạch): Phần này bàn về nguyên tắc ngũ sắc chủ bệnh và phép phân biệt sự biến hóa ngũ sắc trong bệnh tật; điểm then chốt nằm ở hai chữ “trạch yểu”, tức là ngũ sắc trên mặt có sáng nhuận, có ánh bóng hay không.
(B́ phu đích quang trạch thị tạng phủ tinh khí thịnh suy đích biểu hiện, đối phán đoán bệnh t́nh khinh trọng cập dự hậu hữu trọng yếu ư nghĩa): Ánh nhuận của da là biểu hiện sự thịnh suy của tinh khí tạng phủ, có ư nghĩa quan trọng đối với việc phán đoán mức độ nặng nhẹ của bệnh và tiên lượng.
(Tái tham dĩ ngũ sắc các tự sở chủ cập bộ vị phân thuộc, tức khả thành vi nhất cá giảo quang chỉnh đích ngũ sắc chẩn thể hệ): Nếu lại kết hợp với cái mà từng sắc chủ và sự phân thuộc của các bộ vị, th́ có thể h́nh thành một hệ thống chẩn ngũ sắc tương đối hoàn chỉnh.
(Trừ bản tiết ngoại, 《Tố Vấn・Mạch Yếu Tinh Vi Luận》, 《Tố Vấn・Ngũ Tạng Sinh Thành》 đẳng thiên trung diệc hữu giảo tường tế đích luận thuật, khả tham khảo học tập): Ngoài phần này ra, trong các thiên như 《Tố Vấn・Mạch Yếu Tinh Vi Luận》, 《Tố Vấn・Ngũ Tạng Sinh Thành》 cũng có những luận thuật tương đối chi tiết, có thể tham khảo thêm để học.
(Luận y liệu trung dị phạm đích “ngũ quá”): Bàn về năm sai lầm mà thầy thuốc rất dễ mắc phải trong quá tŕnh chữa bệnh.
(Hoàng Đế viết: Ô hô viễn tai! Mẫn mẫn hồ nhược thị thâm uyên, nhược nghênh phù vân, thị thâm uyên thượng khả trắc, nghênh phù vân mạc tri kỳ tế): Hoàng Đế nói: Than ôi, y đạo thật sâu xa! Mênh mang như nh́n xuống vực sâu, như ngẩng đón mây nổi. Nh́n vực sâu c̣n có thể ḍ được, chứ đón mây nổi th́ khó biết được bờ bến của nó.
(Thánh nhân chi thuật, vi vạn dân thức, luận tài chí ư, tất hữu pháp tắc, tuần kinh thủ số, án tuần y sự, vi vạn dân phó): Thuật của bậc thánh nhân là khuôn mẫu cho muôn dân. Khi bàn xét chí ư, nhất định phải có pháp tắc; phải theo kinh điển, giữ đúng kỹ thuật, thuận theo việc y mà hành, để giúp ích cho muôn dân.
(Cố sự hữu ngũ quá tứ đức, nhữ tri chi hồ?): Cho nên trong nghề y có năm điều quá lỗi và bốn đức lớn, ngươi có biết chăng?
(Lôi Công tị tịch tái bái viết: Thần niên ấu tiểu, mông ngu dĩ hoặc, bất văn ngũ quá tứ đức, tỷ loại h́nh danh, hư dẫn kỳ kinh, tâm vô sở đối): Lôi Công rời chiếu lạy hai lạy rồi thưa: Thần tuổi c̣n nhỏ, ngu muội mê hoặc, chưa từng nghe về ngũ quá tứ đức. Chỉ biết gượng đem tên bệnh, h́nh chứng ra mà so loại, trống rỗng dẫn kinh văn, trong ḷng không biết phải đáp thế nào.
(Đế viết: Phàm vị chẩn bệnh giả, tất vấn thường quư hậu tiện, tuy bất trúng tà, bệnh ṭng nội sinh, danh viết thoát doanh): Hoàng Đế nói: Phàm khi chưa chẩn bệnh, trước hết phải hỏi người ấy từng quư hiển rồi sau sa sút hay không. Dù không bị ngoại tà xâm nhập, bệnh vẫn có thể từ trong mà sinh ra, gọi là “thoát doanh”.
(Thường phú hậu bần, danh viết thất tinh): Từng giàu sang rồi sau nghèo khó, gọi là “thất tinh”.
(Ngũ khí lưu liên, bệnh hữu sở tịnh): Ngũ khí lưu lại, quấn quưt không đi, bệnh sẽ kiêm lẫn nhiều dạng.
(Y công chẩn chi, bất tại tạng phủ, bất biến khu h́nh, chẩn chi nhi nghi, bất tri bệnh danh): Thầy thuốc xem bệnh, nếu không hiểu bệnh ở tạng phủ nào, thân thể cũng chưa biến đổi rơ rệt, th́ khi chẩn rất dễ sinh nghi, không biết gọi tên bệnh thế nào.
(Thân thể nhật giảm, khí hư vô tinh, bệnh thâm vô khí, sái sái nhiên thời kinh): Người bệnh thân thể mỗi ngày một gầy yếu, khí hư, tinh suy, bệnh đă sâu mà khí đă mất, thường sợ lạnh run rẩy, thỉnh thoảng kinh hăi.
(Bệnh thâm giả, dĩ kỳ ngoại háo ư vệ, nội đoạt ư doanh): Bệnh đă sâu là v́ bên ngoài hao tổn vệ khí, bên trong tổn đoạt doanh khí.
(Lương công sở thất, bất tri bệnh t́nh, thử diệc trị chi nhất quá dă): Nếu thầy thuốc giỏi mà c̣n lỡ mất, không hiểu rơ bệnh t́nh, th́ đó là sai lầm thứ nhất trong chữa bệnh.
(Phàm dục chẩn bệnh giả, tất vấn ẩm thực cư xử, bạo lạc bạo khổ): Phàm muốn chẩn bệnh, tất phải hỏi về ăn uống, sinh hoạt, và các biến cố vui mừng hay đau khổ quá mức.
(Thủy lạc hậu khổ, giai thương tinh khí, tinh khí kiệt tuyệt, h́nh thể hủy trở): Trước vui sau khổ, tất cả đều có thể làm tổn thương tinh khí; tinh khí cạn tuyệt th́ h́nh thể suy hoại.
(Bạo nộ thương âm, bạo hỷ thương dương, quyết khí thượng hành, măn mạch khứ h́nh): Giận dữ quá mức làm tổn thương âm, vui mừng quá mức làm tổn thương dương; khí nghịch bốc lên, đầy nghẽn kinh mạch, thần khí ĺa h́nh.
(Ngu y trị chi, bất tri bổ tả, bất tri bệnh t́nh, tinh hoa nhật thoát, tà khí năi tịnh): Thầy thuốc kém chữa bệnh mà không biết bổ hay tả, không hiểu bệnh t́nh, khiến tinh hoa mỗi ngày một hao, tà khí càng tụ lại.
(Thử trị chi nhị quá dă): Đó là sai lầm thứ hai trong chữa bệnh.
(Thiện vi mạch giả, tất dĩ tỷ loại kỳ hằng, ṭng dung tri chi, vi công nhi bất tri đạo, thử chẩn chi bất túc quư, thử trị chi tam quá dă): Người giỏi xem mạch tất phải biết so loại, biết phép kỳ hằng, biết ṭng dung mà hiểu bệnh; nếu chỉ làm thầy thuốc mà không hiểu đạo lư y học, th́ việc chẩn ấy không đáng quư, đó là sai lầm thứ ba trong chữa bệnh.
(Chẩn hữu tam thường, tất vấn quư tiện, phong quân bại thương, cập dục hầu vương): Trong chẩn bệnh có ba điều thường phải hỏi: địa vị sang hèn, cảnh ngộ thịnh suy, và tâm ư mưu cầu quyền thế.
(Cố quư thoát thế, tuy bất trúng tà, tinh thần nội thương, thân tất bại vong): Cho nên người từng quư hiển mà mất thế, dù không bị ngoại tà, tinh thần vẫn bị nội thương, thân thể tất suy bại.
(Thủy phú hậu bần, tuy bất thương tà, b́ tiêu cân khuất, nuy tích vi luyên): Người trước giàu sau nghèo, dù không bị tà thương, da vẫn khô sạm, gân co rút, thành nuy tích, câu luyên.
(Y bất năng nghiêm, bất năng động thần): Nếu thầy thuốc không đủ nghiêm cẩn, không biết dẫn động tinh thần người bệnh.
(Ngoại vi nhu nhược, loạn chí thất thường, bệnh bất năng di, tắc y sự bất hành): Bề ngoài mềm yếu, xử trí rối loạn mất thường độ, bệnh không chuyển được, th́ việc y trị không có hiệu quả.
(Thử trị chi tứ quá dă): Đó là sai lầm thứ tư trong chữa bệnh.
(Phàm chẩn giả, tất tri chung thủy, hựu tri dư tự, thiết mạch vấn danh, đương hợp nam nữ): Phàm người chẩn bệnh, tất phải biết đầu cuối của bệnh, lại biết cả đầu mối, nhánh ngọn; khi bắt mạch hỏi bệnh, phải xét cả sự khác nhau giữa nam và nữ.
(Ly tuyệt uất kết, ưu khủng hỷ nộ, ngũ tạng không hư, huyết khí ly thủ): Những nỗi ly biệt, tuyệt vọng, uất kết, lo buồn, sợ hăi, vui giận đều có thể khiến ngũ tạng hư không, huyết khí ĺa mất chức phận giữ ǵn.
(Công bất năng tri, hà thuật chi ngữ): Nếu thầy thuốc không hiểu được điều ấy, th́ c̣n nói ǵ đến y thuật.
(Thường phú đại thương, trảm cân tuyệt mạch, thân thể phục hành, lệnh trạch bất tức): Người từng phú quư mà bị tổn thương lớn, như gân bị chém, mạch bị đứt; thân thể tuy c̣n đi lại được, nhưng tân dịch đă không c̣n sinh hóa.
(Cố thương bại kết, lưu bạc quy dương, nùng tích hàn quưnh): V́ vậy các tổn thương cũ, huyết bại kết lại, lưu giữ bên trong rồi hóa nhiệt, mủ tích tụ mà phát hàn nhiệt.
(Thô công trị chi, cức thích âm dương, thân thể giải tán, tứ chi chuyển cân, tử nhật hữu kỳ): Thầy thuốc vụng về lại dùng châm tả bừa băi vào âm dương kinh, khiến thân thể càng tán ră, tay chân chuyển cân, ngày chết đă có kỳ hạn.
(Y bất năng minh, bất vấn sở phát, duy ngôn tử nhật, diệc vi thô công, thử trị chi ngũ quá dă): Nếu thầy thuốc không sáng suốt, không hỏi nguyên do phát bệnh, chỉ nói ngày chết, th́ cũng chỉ là thầy thuốc vụng, đó là sai lầm thứ năm trong chữa bệnh.
(Phàm thử ngũ giả, giai thụ thuật bất thông, nhân sự bất minh dă): Năm sai lầm ấy đều do học thuật chưa thông, lại không hiểu rơ nhân t́nh sự lư mà ra.
1/(Mẫn mẫn hồ): “Mẫn mẫn hồ” là lời than về y đạo quá sâu xa, huyền diệu.
2/(Vạn dân thức): “Vạn dân” là đại chúng, “thức” là khuôn mẫu, phép tắc.
3/(Luận tài chí ư): “Tài” là phán xét, quyết đoán; “chí ư” ở đây là cách nh́n, nhận thức đối với y đạo.
4/(Tuần kinh thủ số): “Số” là kỹ thuật, phép thuật; nghĩa là phải theo kinh điển, giữ đúng y thuật.
5/(Phó): Nghĩa là trợ giúp.
6/(Tỷ loại h́nh danh, hư dẫn kỳ kinh, tâm vô sở đối): “Tỷ loại” là so loại phân tích; “h́nh danh” là tên gọi của các h́nh chứng bệnh; “hư dẫn” là dẫn kinh văn một cách rỗng tuếch; “tâm vô sở đối” là trong ḷng không hiểu rơ nghĩa kinh nên không đáp được.
7/(Thường quư hậu tiện): Từng ở địa vị quư hiển, sau đó rơi xuống thân phận thấp hèn.
8/(Thoát doanh): Tên một bệnh. Là chứng do t́nh chí uất ức, ưu tư mà làm doanh huyết bất túc, kinh mạch không hư. Trương Giới Tân chú rằng: Người từng quư rồi sau tiện th́ tâm bị khuất nhục, thần khí không thư đạt; tuy không bị ngoại tà mà bệnh sinh ở bên trong. Doanh là âm khí, đi trong mạch và do tâm chủ. Tâm chí không thư th́ huyết không sinh đủ, mạch ngày càng kiệt, cho nên gọi là thoát doanh.
9/(Thất tinh): Tên một bệnh. Là chứng do t́nh chí uất ức, ưu tư mà làm hao tổn tinh khí. Trương Giới Tân nói: Người từng giàu sau nghèo th́ ưu sầu nung nấu mỗi ngày, phụng dưỡng ngày một thiếu kém, nên tinh của ngũ tạng ngày càng hao tán, gọi là thất tinh.
10/(Sái sái nhiên): Dáng sợ lạnh.
11/(Trở): Nghĩa là hư hoại, suy bại.
12/(Măn mạch khứ h́nh): “Măn mạch” là khí nghịch hỗn loạn đầy trong kinh mạch; “khứ h́nh” là thần khí phù việt, như muốn ĺa h́nh thể.
13/(Tinh hoa nhật thoát): “Tinh hoa” là vẻ vinh nhuận của tinh khí ngũ tạng, biểu hiện ở sắc mặt, thần mắt, độ bóng của tóc, sắc móng, sự đầy đặn của cơ nhục. “Nhật thoát” là mỗi ngày một hao hụt.
14/(Tà khí năi tịnh): “Tịnh” là tụ lại; tà tụ ở đâu th́ chính là nơi chính khí hư yếu.
15/(Tỷ loại kỳ hằng, ṭng dung tri chi): “Tỷ loại”, “Kỳ hằng”, “Ṭng dung” đều là tên các sách chẩn kinh thời xưa. Mă Th́ chú rằng: Cổ kinh có các thiên 《Tỷ Loại》, 《Kỳ Hằng》, 《Ṭng Dung》, đều là chỗ tinh yếu của chí đạo.
16/(Tri đạo): “Tri” là nắm vững, “đạo” là lư luận y học.
17/(Tam thường): Chỉ ba điều thường quy khi hỏi bệnh: hỏi sang hèn, giàu nghèo, khổ vui.
18/(Phong quân bại thương): “Phong quân” là chư hầu được phong đất thời cổ; “bại thương” là mất chức, mất quyền, suy thế.
19/(Cập dục hầu vương): Là có ḷng mong cầu địa vị hầu vương.
20/(Cố quư thoát thế): Cùng nghĩa với các câu trên là “phong quân bại thương”, “thường quư hậu tiện”.
21/(Y bất năng nghiêm, bất năng động thần): “Nghiêm” là nghiêm cẩn, thầy thuốc chữa bệnh phải có nguyên tắc, không được tùy thuận theo ư bệnh nhân; “động thần” là thầy thuốc phải biết dùng tinh thần của ḿnh dẫn dắt thần khí của người bệnh, khiến họ chịu nghe lời dặn và phối hợp điều trị.
22/(Ngoại vi nhu nhược, loạn chí thất thường): “Ngoại” là biểu hiện bên ngoài; “nhu nhược” là mềm yếu, bất lực; “loạn” là cử chỉ, xử trí của thầy thuốc rối loạn; “thường” ở đây là phép tắc, pháp độ điều trị. Câu này nói đến dáng vẻ luống cuống, mất phương hướng của người thầy thuốc.
23/(Y sự bất hành): Hoạt động điều trị không có tác dụng, không có hiệu quả.
24/(Chung thủy): Ở đây chỉ lúc khởi bệnh và toàn bộ quá tŕnh bệnh.
25/(Hựu tri dư tự): “Hựu” thông với “lại”, “dư tự” là đầu mối, nhánh ngọn. Trương Giới Tân chú rằng: Nghĩa là xét được cái gốc th́ cũng biết được phần ngọn.
26/(Đương hợp nam nữ): Nghĩa là khi bắt mạch, chẩn bệnh phải chú ư khác biệt giới tính.
27/(Ly tuyệt uất kết): “Ly” là ly sầu biệt hận; “tuyệt” là tuyệt vọng; “uất” là uất ức; “kết” là t́nh chí vướng mắc khó cởi. Tất cả đều là yếu tố t́nh cảm gây bệnh.
28/(Thường phú đại thương): Từng giàu sang mà một khi suy bại th́ tinh thần bị tổn thương rất lớn.
29/(Thân thể phục hành, lệnh trạch bất tức): “Trạch” ở đây chỉ tân dịch; “tức” là sinh trưởng. Trương Giới Tân chú rằng: “Trạch” là tinh dịch, “tức” là sinh trưởng. Nghĩa là thân thể tuy vẫn cử động được như thường, nhưng tân dịch đă không c̣n tiếp tục sinh ra nữa.
30/(Cố thương bại kết, lưu bạc quy dương, nùng tích hàn quưnh): Nghĩa là huyết bại do tổn thương cũ kết lại trong cơ thể, lưu giữ mà bức bách bên trong rồi hóa nhiệt, mủ tích tụ mà sinh hàn nhiệt.
31/(Thô công): Thầy thuốc có kỹ thuật thấp kém.
32/(Cức thích âm dương): “Cức” là nhiều lần, liên tiếp; “thích âm dương” là châm tả các kinh âm dương một cách bừa băi.
33/(Thụ thuật bất thông): Đối với y thuật c̣n chưa tinh thông.
34/(Nhân sự): Chỉ nhân t́nh, sự lư, như các điều đă nói ở trên về sang hèn, giàu nghèo, khổ vui, quan hệ giữa thầy thuốc và người bệnh.
(Bản đoạn tường thuật liễu y giả lâm chứng dị phạm đích ngũ chủng quá thất): Đoạn này tŕnh bày tỉ mỉ năm loại sai lầm mà thầy thuốc rất dễ mắc phải khi lâm chứng.
(《Tố Vấn》 đích 《Sơ Ngũ Quá Luận》, 《Trứ Chí Giáo Luận》, 《Thị Ṭng Dung Luận》, 《Trưng Tứ Thất Luận》, 《Âm Dương Loại Luận》, 《Phương Thịnh Suy Luận》 ḥa 《Giải Tinh Vi Luận》, tức 《Tố Vấn》 đích đệ thất thập ngũ thiên chí đệ bát thập nhất thiên, sở tải giai dĩ y sự giáo dục vi chủ): Các thiên 《Sơ Ngũ Quá Luận》, 《Trứ Chí Giáo Luận》, 《Thị Ṭng Dung Luận》, 《Trưng Tứ Thất Luận》, 《Âm Dương Loại Luận》, 《Phương Thịnh Suy Luận》 và 《Giải Tinh Vi Luận》 của 《Tố Vấn》, tức từ thiên 75 đến thiên 81, đều lấy giáo dục y sự làm trọng tâm.
(Thái dụng Lôi Công vấn đạo, Hoàng Đế thụ đạo đích h́nh thức, phát huy cổ kinh, xiển thuật y lư, phân tích án lệ, chỉ đạo học tập cập lâm chứng): Các thiên ấy dùng h́nh thức Lôi Công hỏi đạo, Hoàng Đế truyền đạo, để phát huy cổ kinh, tŕnh bày y lư, phân tích trường hợp bệnh, hướng dẫn học tập và lâm chứng.
(Bản thiên đích “ngũ quá”, “tứ đức” dữ 《Trưng Tứ Thất Luận》 đích “tứ thất” đẳng, giai thị nhân dĩ quy củ, kham xưng cổ đại đích y liệu pháp quy): “Ngũ quá”, “tứ đức” của thiên này cùng với “tứ thất” trong 《Trưng Tứ Thất Luận》 đều là những quy phạm dùng để chỉ dạy người học, có thể xem như pháp quy y liệu thời cổ.
《Nội Kinh》 nhận vi, vi y tất tu “thượng tri thiên văn, hạ tri địa lư, trung tri nhân sự”): 《Nội Kinh》 cho rằng, làm thầy thuốc tất phải “trên biết thiên văn, dưới biết địa lư, giữa biết nhân sự”.
(Thiên địa tự nhiên chi sự tại 《Nội Kinh》 đa thiên dĩ hữu ngận đa kư tải, duy nhân sự tắc tại thụ đạo thất thiên trung giảo vi tập trung): Những việc thuộc về trời đất tự nhiên đă được chép rất nhiều trong nhiều thiên của 《Nội Kinh》, chỉ riêng phần nhân sự th́ được tập trung bàn kỹ hơn trong bảy thiên thụ đạo.
(Bản thiên sở ngôn “ngũ quá”, tựu thị vi nhiễu trước nhân đích xă hội tính dữ tật bệnh đích quan hệ, phản phục thâm nhập địa gia dĩ thảo luận): “Ngũ quá” được nói trong thiên này chính là xoay quanh mối quan hệ giữa tính xă hội của con người với bệnh tật mà bàn luận lặp đi lặp lại một cách sâu sắc.
(Y sinh tại chẩn trị tật bệnh quá tŕnh trung xuất hiện liễu ngũ quá, tắc kư bất năng tố đáo tảo kỳ chẩn đoán, dĩ cứu kỳ manh nha, diện lâm “bất tại tạng phủ, bất biến khu h́nh” nhi tinh thần nhật tổn chi chứng, mang nhiên vô thố): Nếu thầy thuốc trong quá tŕnh chẩn trị bệnh mà phạm vào năm điều quá ấy, th́ vừa không thể chẩn đoán sớm để cứu bệnh từ lúc mới manh nha, lại đứng trước những chứng trạng “chưa biểu hiện rơ ở tạng phủ, chưa biến đổi rơ ở h́nh thể” nhưng tinh thần ngày một tổn hao mà trở nên mờ mịt, không biết xoay xở ra sao.
(Hựu bất năng tố đáo chính xác trị liệu, cập chí bệnh thành, hoặc thúc thủ vô sách, “duy ngôn tử nhật” hoặc “cức thích âm dương”, lạm dụng khu tà chi pháp, diệc thực tốc kỳ tử): Lại cũng không thể điều trị đúng đắn; đến khi bệnh đă thành, hoặc bó tay hết cách, chỉ biết “nói ngày chết”, hoặc “liên tiếp châm tả âm dương”, lạm dụng phép trừ tà, thực ra càng làm cho bệnh nhân chóng chết hơn.
(Khả kiến, ngũ quá chi giới thị ṭng thảm thống đích giáo huấn trung tổng kết xuất lai đích): Có thể thấy, lời răn về ngũ quá là được tổng kết từ những bài học đau xót.

(Y sinh lâm chứng thời dị phạm đích ngũ chủng quá thất như hạ): Năm loại sai lầm mà thầy thuốc dễ mắc khi lâm chứng như sau.
(Nhất thị bất thiện ư thông quá vấn chẩn thu tập bệnh sử tư liệu): Một là không giỏi thu thập bệnh sử qua hỏi bệnh.
(Vị năng liễu giải bệnh nhân xă hội sinh hoạt đích biến thiên, một hữu chú ư đáo “thường quư hậu tiện”, “thường phú hậu bần” khả năng cấp hoạn giả tinh thần t́nh cảm thượng đới lai đích cự đại sang thương): Chưa hiểu được sự biến đổi trong đời sống xă hội của người bệnh, không chú ư rằng những hoàn cảnh như “xưa sang sau hèn”, “xưa giàu sau nghèo” có thể gây ra chấn thương rất lớn về tinh thần và t́nh cảm cho người bệnh.
(Nhi t́nh cảm đích ức uất bất thân hựu khả ảnh hưởng ngũ tạng khí cơ đích thăng giáng xuất nhập, huyết khí đích vận hành, ṭng nhi đạo trí huyết khí bất túc, kinh mạch không hư, tinh khí nhật tổn đích chủng chủng bệnh chứng): Mà t́nh cảm bị uất ức không thư đạt lại có thể ảnh hưởng đến sự thăng giáng xuất nhập của khí cơ ngũ tạng, sự vận hành của huyết khí, từ đó dẫn đến đủ loại bệnh chứng như huyết khí bất túc, kinh mạch trống rỗng, tinh khí hao tổn dần dần.
(Giá chủng ṭng nội nhi sinh đích bệnh chứng ưng dẫn khởi y sinh đích quan chú, tại vấn chẩn thời ưng toàn diện liễu giải kỳ xă hội sinh hoạt cải biến đích t́nh huống): Loại bệnh chứng từ bên trong mà sinh ra này cần được thầy thuốc đặc biệt chú ư; khi hỏi bệnh phải t́m hiểu toàn diện những biến đổi trong hoàn cảnh sống xă hội của người bệnh.
(Nhị thị chẩn bệnh thời một hữu toàn diện liễu giải hoạn giả đích ẩm thực t́nh huống, cư xử điều kiện, tinh thần t́nh cảm biến hóa đẳng): Hai là khi chẩn bệnh không t́m hiểu toàn diện t́nh h́nh ăn uống, điều kiện sinh sống, biến đổi tinh thần t́nh cảm của người bệnh.
(Ṭng 《Nội Kinh》 lư luận sở thuật, liễu giải ẩm thực t́nh huống ưng đương bao quát ẩm thực đích hàn ôn, ngũ vị đích thiên thị, cơ băo đẳng): Theo lư luận của 《Nội Kinh》, việc t́m hiểu t́nh h́nh ăn uống cần bao gồm tính hàn nhiệt của thức ăn, sự thiên lệch ưa thích ngũ vị, t́nh trạng đói no v.v.
(“Thủy cốc chi hàn nhiệt, cảm tắc hại ư lục phủ”, “âm chi sở sinh, bản tại ngũ vị; âm chi ngũ cung, thương tại ngũ vị”, ẩm thực nhân tố thị trí bệnh nhân tố trung đích trọng yếu phương diện): “Hàn nhiệt của thủy cốc, cảm vào th́ hại lục phủ”, “cái sinh ra âm, gốc ở ngũ vị; cái làm tổn thương ngũ tạng âm cũng ở ngũ vị”, cho nên yếu tố ăn uống là một phương diện rất quan trọng trong các nguyên nhân gây bệnh.
(Cư xử điều kiện diệc đương chú ư liễu giải, như cư xử triều thấp âm ám, dị hoạn tư chứng): Điều kiện nơi ở cũng phải lưu ư t́m hiểu, như ở nơi ẩm thấp tối tăm th́ dễ mắc chứng tư.
(Tinh thần t́nh cảm đích biến hóa vưu yếu tường tế vấn tấn): Sự biến đổi về tinh thần và t́nh cảm lại càng phải hỏi han kỹ càng.
(《Tố Vấn・Cử Thống Luận》 viết: “Dư tri bách bệnh giai sinh ư khí dă, nộ tắc khí thượng, hỷ tắc khí hoăn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ…… kinh tắc khí loạn”): 《Tố Vấn・Cử Thống Luận》 nói: “Ta biết trăm bệnh đều sinh ở khí; giận th́ khí lên, vui th́ khí ḥa hoăn, buồn th́ khí tiêu, sợ th́ khí hạ… kinh th́ khí loạn.”
(Hỷ nộ ai lạc khinh tắc thương khí, nhật cửu “giai thương tinh khí”, sử h́nh thể nhật tiệm bại hoại; trọng tắc “quyết khí thượng hành, măn mạch khứ h́nh”): Vui giận buồn sợ nếu nhẹ th́ làm tổn thương khí, lâu ngày th́ “đều làm tổn thương tinh khí”, khiến h́nh thể ngày càng suy bại; nếu nặng th́ “quyết khí thượng hành, măn mạch khứ h́nh”.
(Sở dĩ ẩm thực cư xử khổ lạc chi t́nh, vấn chẩn thời bất khả di lậu): V́ vậy, khi hỏi bệnh tuyệt đối không được bỏ sót các yếu tố ăn uống, nơi ở, cùng t́nh trạng vui khổ của người bệnh.
(Tam thị “vi công nhi bất tri đạo”): Ba là “làm nghề y mà không hiểu đạo”.
(Y sinh thị cấp nhân trị bệnh đích, nhi nhân hựu thị thiên địa gian tối vi trân quư đích sinh mệnh, sở dĩ đối y sinh đích yêu cầu ngận cao): Thầy thuốc là người chữa bệnh cho người khác, mà con người lại là sinh mệnh quư giá nhất giữa trời đất, cho nên yêu cầu đối với thầy thuốc rất cao.
(Y sinh ưng “thượng tri thiên văn, hạ tri địa lư, trung bàng nhân sự”, đối y học lư luận cánh thị yếu toàn diện chưởng ác): Thầy thuốc phải “trên biết thiên văn, dưới biết địa lư, giữa biết nhân sự”, lại càng phải nắm vững toàn diện lư luận y học.
(Như quả sơ thiệp y học, tựu mạo nhiên cấp nhân trị bệnh, nan miễn hữu ngộ chẩn ngộ trị chi ngu, sở dĩ bản đoạn trước trọng cường điệu y sinh tự thân tri thức tu dưỡng đích đề cao): Nếu mới bước vào y học mà đă liều lĩnh chữa bệnh cho người, th́ khó tránh khỏi sai lầm chẩn đoán và điều trị; v́ thế đoạn này đặc biệt nhấn mạnh việc nâng cao tri thức và tu dưỡng của bản thân người thầy thuốc.
(Tứ thị y sinh kư vị chưởng ác “tam thường”, cánh vị trảo trụ “trị bệnh vưu yếu trị nhân” giá nhất yếu tố nhi đạo trí y liệu đích thất bại): Bốn là thầy thuốc vừa không nắm được “tam thường”, lại càng không nắm được yếu tố “chữa bệnh trước hết phải biết chữa con người”, từ đó dẫn đến thất bại trong điều trị.
(Y hoạn chi gian ưng cai tương hỗ phối hợp, cộng đồng đích mục tiêu thị trị dũ tật bệnh): Giữa thầy thuốc và người bệnh phải phối hợp với nhau, cùng chung mục tiêu là chữa khỏi bệnh.
(Như quả y sinh đối hoạn giả mạc nhiên xử chi, hoặc diện đối vương công đại nhân chiến chiến căng căng, hại phạ bất dĩ, tắc bất năng dĩ y sinh chi thần t́nh điều động hoạn giả tinh thần, sử hoạn giả phục ṭng y chúc): Nếu thầy thuốc lạnh nhạt với bệnh nhân, hoặc khi đứng trước quyền quư th́ run sợ, e dè, th́ không thể dùng thần t́nh của người thầy thuốc để dẫn động tinh thần người bệnh, khiến họ phục tùng y chúc.
(Y sinh ưng đối hoạn giả sung măn đồng t́nh tâm ḥa trách nhiệm tâm, hoàn yếu hữu tự tín tâm): Thầy thuốc phải có ḷng cảm thông, có trách nhiệm với người bệnh, lại c̣n phải có ḷng tự tin.
(Nhân vi “nhân chi t́nh, mạc bất ác tử nhi lạc sinh, cáo chi dĩ kỳ bại, ngữ chi dĩ kỳ thiện, đạo chi dĩ kỳ sở tiện, khai chi dĩ kỳ sở khổ, tuy hữu vô đạo chi nhân, ác hữu bất thính giả hồ?”): Bởi v́ “t́nh của con người, không ai không ghét chết mà thích sống; nói cho họ biết điều bất lợi, chỉ cho họ điều tốt, dẫn họ theo điều thuận tiện, mở cho họ hiểu nỗi khổ của ḿnh, th́ dù là người vô đạo, há lại có người không nghe sao?”
(Nhân thử y sinh trừ liễu yếu toàn diện chưởng ác bệnh t́nh, liễu giải bệnh nhân xă hội sinh hoạt trung đích quư tiện, bần phú, khổ lạc đẳng t́nh huống ngoại, hoàn yếu “động chi dĩ t́nh, hiểu chi dĩ lư”, dụng y sinh đích “nghiêm” dĩ đả động bệnh nhân đích “thần”, tắc hữu lợi ư bệnh nhân tuân ṭng y chúc ḥa đề cao liệu hiệu): V́ vậy, ngoài việc phải nắm vững toàn diện bệnh t́nh, hiểu rơ hoàn cảnh xă hội của người bệnh như sang hèn, giàu nghèo, khổ vui v.v., thầy thuốc c̣n phải “lấy t́nh mà cảm động, lấy lư mà khai thị”, dùng cái “nghiêm” của thầy thuốc để cảm động cái “thần” của người bệnh, từ đó giúp họ tuân theo y chúc và nâng cao hiệu quả điều trị.
(Ngũ thị chẩn bệnh chi thời, một hữu minh liễu phát bệnh đích toàn quá tŕnh, vị năng chú ư bệnh nhân nam nữ chi biệt, dĩ cập t́nh tự chi biến cấp tạng phủ khí huyết đới lai đích tổn hại, sinh hoạt cảnh ngộ chi biến cấp h́nh thể đới lai đích ảnh hưởng đẳng): Năm là khi chẩn bệnh không hiểu rơ toàn bộ quá tŕnh phát bệnh, không chú ư đến sự khác nhau giữa nam và nữ, cũng như những tổn hại mà biến động cảm xúc gây ra cho khí huyết tạng phủ, và ảnh hưởng mà biến đổi hoàn cảnh sống gây ra cho h́nh thể.
(Trị bệnh chi thời, bất sát biểu lư hư thực, thảo suất thi châm, sử dĩ hư chi thể cánh háo kỳ khí, đạo trí toàn thân giải đọa, cân mạch câu luyên đích nghiêm trọng hậu quả): Khi chữa bệnh lại không xét rơ biểu lư hư thực, tùy tiện châm cứu, làm cho cơ thể vốn đă hư lại càng hao khí hơn, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là toàn thân mệt rũ, cân mạch co quắp.
(Thử thời y ngộ nhi bất tri ngộ, nhưng bất năng chính xác trị liệu, nhi chỉ thuyết bệnh hoạn tương tử ư mỗ nhật liễu sự): Đến lúc này, thầy thuốc đă sai mà c̣n không biết ḿnh sai, vẫn không thể điều trị đúng đắn, chỉ nói rằng bệnh nhân sẽ chết vào ngày nào đó cho xong chuyện.
(Tổng chi, ngũ chủng quá thất đích phát sinh, đô thị do ư y giả học nghiệp bất tinh, kư một hữu chưởng ác chẩn liệu kỹ thuật, dă vị tế tâm liễu giải toàn bộ t́nh huống sở trí): Tóm lại, năm loại sai lầm ấy đều phát sinh do thầy thuốc học chưa tinh, vừa không nắm được kỹ thuật chẩn trị, lại cũng không cẩn thận t́m hiểu đầy đủ toàn bộ t́nh h́nh.
(Kinh văn đề thị y sinh đương chú ư bệnh chi “dư tự”): Kinh văn nhắc rằng thầy thuốc cần phải chú ư đến “dư tự” của bệnh.
(Nhân vi bệnh t́nh thị tại bất đoạn địa biến hóa đích, đương thời khả năng nhận vi thị thứ yếu đích mâu thuẫn, tùy trước bệnh t́nh biến hóa hoặc trị liệu ảnh hưởng, khả năng hội thượng thăng vi chủ yếu mâu thuẫn): V́ bệnh t́nh luôn luôn biến đổi, điều ǵ lúc đầu có thể được xem là mâu thuẫn thứ yếu, nhưng theo sự chuyển biến của bệnh hoặc ảnh hưởng của điều trị, lại có thể nổi lên thành mâu thuẫn chủ yếu.
(Tác vi nhất cá y thuật cao minh đích y sinh, toàn diện chưởng ác bệnh t́nh thị tối khởi mă đích yêu cầu, giá xác nhiên thị kinh nghiệm chi pháp): Đối với một thầy thuốc giỏi, yêu cầu tối thiểu là phải nắm được toàn diện bệnh t́nh; điều này quả thực là phép tắc được rút ra từ kinh nghiệm.

(Chẩn trị trung ưng tuân tuần đích thường quy): Những quy tắc thường quy cần tuân theo trong chẩn trị.

(Cố viết: Thánh nhân chi trị bệnh dă, tất tri thiên địa âm dương, tứ thời kinh kỷ, ngũ tạng lục phủ, thư hùng biểu lư, thích cứu biếm thạch, độc dược sở chủ, ṭng dung nhân sự, dĩ minh kinh đạo): Cho nên nói: Bậc thánh nhân khi trị bệnh nhất định phải biết âm dương trời đất, cương kỷ của bốn mùa, ngũ tạng lục phủ, thư hùng biểu lư, châm cứu biếm thạch, sự chủ trị của thuốc độc, lại b́nh tĩnh t́m hiểu nhân sự để làm sáng tỏ đạo thường của chẩn trị.
(Quư tiện bần phú, các dị phẩm lư): Sang hèn, giàu nghèo, mỗi loại đều có đặc điểm khác nhau.
(Vấn niên thiểu trưởng, dũng khiếp chi lư, thẩm ư phân bộ, tri bệnh bản thủy, bát chính cửu hậu, chẩn tất phó hĩ): Hỏi tuổi trẻ già, xem người ấy dũng hay khiếp, xét kỹ phân bộ, biết gốc ngọn của bệnh, lại tham bát chính cửu hậu, th́ chẩn đoán tất sẽ phù hợp.
(Trị bệnh chi đạo, khí nội vi bảo, tuần cầu kỳ lư, cầu chi bất đắc, quá tại biểu lư): Đạo chữa bệnh, điều quư nhất là nguyên khí bên trong; phải theo đó mà t́m lư. Nếu t́m không được th́ lỗi là ở chỗ không phân rơ biểu lư.
(Thủ số cứ trị, vô thất du lư, năng hành thử thuật, chung thân bất đăi): Giữ đúng thường số mà trị, không làm sai đạo lư của du huyệt, nếu làm được phép ấy th́ suốt đời không đến nỗi nguy khốn.
(Bất tri du lư, ngũ tạng uất nhiệt, ung phát lục phủ): Nếu không biết đạo lư của du huyệt, th́ ngũ tạng uất nhiệt, ung thũng phát sinh ở lục phủ.
(Chẩn bệnh bất thẩm, thị vị thất thường): Chẩn bệnh mà không kỹ, đó gọi là mất phép thường.
(Cẩn thủ thử trị, dữ kinh tương minh, thượng kinh hạ kinh, quỹ độ âm dương, kỳ hằng ngũ trung, quyết dĩ Minh đường, thẩm ư chung thủy, khả dĩ hoành hành): Cẩn thận giữ phép trị này, đối chiếu sáng tỏ với kinh chỉ, thấu hiểu Thượng kinh, Hạ kinh, Quỹ độ, Âm dương, Kỳ hằng, Ngũ trung, quyết đoán bằng phép Minh đường, xét rơ từ đầu đến cuối của bệnh, th́ có thể tung hoành không trở ngại.

(Ṭng dung nhân sự): Nghĩa là b́nh tĩnh, thong thả t́m hiểu nhân t́nh sự lư của người bệnh.
(Dĩ minh kinh đạo): “Kinh” là thường, “đạo” là quy luật; ở đây chỉ những quy tắc thường quy trong chẩn trị bệnh.
(Các dị phẩm lư): Nghĩa là sang hèn, giàu nghèo, mỗi loại người có phẩm chất, hoàn cảnh khác nhau.
(Dũng khiếp): Chỉ người mạnh hay yếu, gan dạ hay nhút nhát; ở đây chủ yếu nói đến sự mạnh yếu của thể chất.
(Phân bộ): Chỉ sự phân bộ của ngũ tạng qua ngũ sắc ở vùng mặt.
(Bát chính cửu hậu): “Bát chính” là tám tiết khí, gồm đông chí, hạ chí, xuân phân, thu phân, lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông; “cửu hậu” là phép mạch chẩn tam bộ cửu hậu.
(Phó): Nghĩa là phù hợp, tương xứng. Nhan Sư Cổ chú trong 《Hán Thư・Lễ Nhạc Chí》 rằng: “Phó, tức là xứng hợp.”
(Khí nội vi bảo): “Khí nội” là nguyên khí trong cơ thể; “bảo” nghĩa là quan trọng, then chốt. Nói chung khi trị bệnh, điều cốt yếu là phải xem nguyên khí trong người mạnh hay yếu.
(Thủ số cứ trị): “Số” là những thường số và công năng sinh lư b́nh thường của biểu lư âm dương, tạng phủ kinh lạc; “thủ” là tuân theo; “cứ trị” là dựa vào những thường số, thường quy đó mà điều trị.
(Du lư): “Du” thông với “du huyệt”. Ngô Khôn chú rằng: Là ư chỉ về tác dụng chủ trị của các huyệt du.
(Ngũ tạng uất nhiệt): “Uất” thông với “uất”; “thục” có lẽ là sai chữ “nhiệt”. Nghĩa là ngũ tạng uất nhiệt.
(Kinh): Ở đây chỉ ư chỉ của kinh văn.
(Thượng kinh hạ kinh, quỹ độ âm dương, kỳ hằng ngũ trung): Theo khảo chứng, đây đều là tên các y kinh cổ, gồm 《Thượng Kinh》, 《Hạ Kinh》, 《Quỹ Độ》, 《Âm Dương》, 《Kỳ Hằng》, 《Ngũ Trung》.
(Minh đường): Trong phép chẩn mặt th́ mũi là Minh đường; ở đây nói rộng ra là phép chẩn sắc ở mặt.
(Chung thủy): Chỉ toàn bộ quá tŕnh phát sinh và phát triển của bệnh.
(Hoành hành): Nguyên nghĩa là tung hoành không bị ngăn trở; ở đây chỉ tŕnh độ chẩn trị đă đạt tới cảnh giới rất cao. Trương Giới Tân trong 《Loại Kinh》, quyển 12, phần “Luận trị loại thập bát・Ngũ quá tứ đức” giải thích câu này rằng: Nếu được như vậy th́ trong ḷng thông suốt một mạch, ứng dụng vô cùng, nh́n trâu mà không thấy toàn thân trâu nữa, nghĩa là mỗi lần xử trí đều trúng đích, đạt đến chỗ cao minh không bị rối loạn trong thiên hạ, nên mới có thể gọi là “hoành hành”.
(Bản tiết kế “ngũ quá” chi hậu, hựu đề xuất liễu chẩn trị tật bệnh ưng tuân tuần đích quy phạm): Phần này tiếp theo sau mục “ngũ quá”, lại nêu ra những quy phạm mà người thầy thuốc cần phải tuân theo trong chẩn trị bệnh tật.
(Kinh văn đề xuất chẩn trị tật bệnh tất tu tri hiểu “thiên địa âm dương, tứ thời kinh kỷ” cập dữ chi tương quan đích xă hội hoàn cảnh, thục tất nhân thể tự thân đích kết cấu dữ công năng, hoàn yếu thiện ư vận dụng chẩn sát thủ đoạn ḥa trị liệu phương pháp, tài năng hoạch đắc lư tưởng đích liệu hiệu, tài khả dĩ thuyết y liệu kỹ thuật đạt đáo liễu cao siêu đích thủy chuẩn): Kinh văn cho rằng muốn chẩn trị bệnh tốt th́ nhất định phải hiểu “thiên địa âm dương, tứ thời kinh kỷ” cùng hoàn cảnh xă hội có liên quan, phải thông thuộc kết cấu và công năng của cơ thể con người, lại c̣n phải giỏi vận dụng các phương pháp chẩn sát và trị liệu, th́ mới có thể đạt được hiệu quả điều trị lư tưởng, mới có thể nói là tŕnh độ y thuật đă đạt đến mức cao.
(Giá thực chất thượng thị đề xuất liễu nhất cá giảo vi hoàn chỉnh đích y học mô thức — tự nhiên - xă hội - tâm lư - sinh vật y học mô thức): Về thực chất, đây là nêu ra một mô thức y học khá hoàn chỉnh, tức mô thức y học tự nhiên - xă hội - tâm lư - sinh vật.
(Giá chủng tự nhiên, xă hội, nhân thân tịnh trọng đích y học tư tưởng, tại Trung Quốc cổ đại vô nghi thị tiên tiến đích, thời chí kim nhật, y nhiên hữu trước thực tế ư nghĩa): Loại tư tưởng y học coi trọng đồng thời tự nhiên, xă hội và thân thể con người này, ở thời cổ đại Trung Quốc rơ ràng là rất tiến bộ, mà cho đến ngày nay vẫn c̣n có ư nghĩa thực tế.

(Đối ư y sinh đích “tứ đức”, căn cứ kinh văn nội dung khả quy nạp như hạ): Đối với “tứ đức” của người thầy thuốc, căn cứ vào nội dung kinh văn có thể quy nạp như sau.
(Nhất thị “tất tri thiên địa âm dương, tứ thời kinh kỷ”): Thứ nhất là “phải biết thiên địa âm dương, tứ thời kinh kỷ”.
(Y sinh tất tri thiên địa âm dương, thị nhân vi thiên địa chi gian, “thượng hạ chi vị, khí giao chi trung, nhân chi cư dă”, “khí giao chi phân, nhân khí ṭng chi” 《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》, nhân cư ư tự nhiên chi trung, tự nhiên giới thiên thể đích vận hành, phong vũ hàn thử táo thấp đích biến hóa, vô nghi hội ảnh hưởng đáo nhân đích sinh lư bệnh lư, nhân thử tác vi y sinh tựu bất năng cận cận cục hạn ư đối nhân thể bản thân sinh lư bệnh lư đích nhận thức): Người thầy thuốc phải biết thiên địa âm dương, v́ con người sống giữa trời đất, “ở vị trí trên dưới, trong chỗ khí giao nhau, là chỗ con người cư trú”, “chỗ phân chia của khí giao, khí của con người theo đó mà biến đổi” 《Tố Vấn・Lục Vi Chỉ Đại Luận》. Con người sống trong tự nhiên, mà sự vận hành của thiên thể, sự biến hóa của phong, vũ, hàn, thử, táo, thấp trong tự nhiên chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sinh lư và bệnh lư của con người. V́ vậy, làm thầy thuốc th́ không thể chỉ bó hẹp ở việc nhận thức riêng sinh lư và bệnh lư của thân thể người.
(Nhị thị tri “ngũ tạng lục phủ, thư hùng biểu lư, thích cứu biếm thạch, độc dược sở chủ”): Thứ hai là biết “ngũ tạng lục phủ, thư hùng biểu lư, thích cứu biếm thạch, độc dược sở chủ”.
(Y sinh ưng chưởng ác trát thực đích y học tri thức, “ngũ tạng lục phủ, thư hùng biểu lư” thị chỉ đối tạng tượng học thuyết, âm dương ngũ hành học thuyết đích liễu giải; “thích cứu biếm thạch, độc dược sở chủ” thị chỉ đối châm cứu, dược vật đẳng trị pháp đích chưởng ác): Người thầy thuốc phải nắm vững kiến thức y học vững chắc. “Ngũ tạng lục phủ, thư hùng biểu lư” là nói đến sự hiểu biết về học thuyết tạng tượng, học thuyết âm dương ngũ hành; c̣n “thích cứu biếm thạch, độc dược sở chủ” là nói đến việc nắm vững các phương pháp điều trị như châm cứu, thuốc men v.v.
(Tam thị “ṭng dung nhân sự, dĩ minh kinh đạo”): Thứ ba là “ṭng dung nhân sự, dĩ minh kinh đạo”.
(Y sinh yếu đối “nhân sự” sung phân trọng thị): Người thầy thuốc phải hết sức coi trọng “nhân sự”.
(Nhân chi quư tiện, bần phú, khổ lạc đẳng nhân tố sở trí đích thương hại, hữu đích tảo kỳ chứng trạng bất minh hiển, nhiên nhi bệnh thế khước tại bất đoạn phát triển, đăi xuất hiện “thoát doanh”, “thất tinh” thời, trị liệu dĩ tương đương cức thủ): Những tổn hại do các yếu tố như sang hèn, giàu nghèo, khổ vui của con người gây nên, có khi ở giai đoạn đầu triệu chứng chưa rơ, nhưng thế bệnh lại đang âm thầm phát triển không ngừng; đến khi xuất hiện “thoát doanh”, “thất tinh” th́ việc điều trị đă trở nên rất khó khăn.
(Như năng tại chẩn bệnh chi thủy tựu “ṭng dung nhân sự”, khả dĩ tảo kỳ trị liệu, thủ đắc lương hiệu): Nếu ngay từ lúc bắt đầu chẩn bệnh mà biết “ṭng dung nhân sự”, th́ có thể điều trị sớm và đạt hiệu quả tốt.
(Tứ thị “thẩm ư phân bộ, tri bệnh bản thủy, bát chính cửu hậu, chẩn tất phó hĩ”): Thứ tư là “thẩm ư phân bộ, tri bệnh bản thủy, bát chính cửu hậu, chẩn tất phó hĩ”.
(Y sinh tất tu toàn diện chưởng ác chẩn bệnh phương pháp, thục luyện vận dụng vọng, văn, vấn, thiết các chủng chẩn liệu kỹ thuật, tế trí nhập vi địa quan sát sắc trạch, mạch tượng đích biến hóa, thâm nhập thám cầu tật bệnh đích bản nguyên, sử chẩn đoán minh xác, vi trị liệu đả hảo cơ sở): Người thầy thuốc nhất định phải nắm vững toàn diện các phương pháp chẩn bệnh, thuần thục vận dụng vọng, văn, vấn, thiết cùng các kỹ thuật chẩn trị khác, quan sát một cách tinh vi sự biến hóa của sắc trạch và mạch tượng, đi sâu truy t́m gốc nguồn của bệnh, để chẩn đoán được rơ ràng và tạo nền tảng tốt cho điều trị.
(Kinh văn hoàn đề đáo liễu trị bệnh đích nguyên tắc, giá diệc thị y sinh tất tu tuân tuần đích pháp tắc): Kinh văn c̣n nêu ra nguyên tắc trị bệnh, và đó cũng là pháp tắc mà người thầy thuốc nhất định phải tuân theo.
(“Trị bệnh chi đạo, khí nội vi bảo”: trị bệnh yếu dĩ khí đích cường nhược thịnh suy vi trọng): “Đạo trị bệnh, khí ở bên trong là quư”: chữa bệnh phải lấy sự mạnh yếu, thịnh suy của khí làm trọng.
(Chính khí hư thiểu tắc ngoại tà dung dị xâm tập, tà chính giao tranh thời tắc dị chuyển hóa vi tà thịnh chính suy đích bất lợi cục diện): Khi chính khí hư ít th́ ngoại tà dễ xâm nhập; lúc tà và chính giao tranh th́ rất dễ chuyển thành cục diện bất lợi là tà thịnh chính suy.
(Nguyên khí khuy tổn khả sử ngũ tạng công năng giảm thoái, khí hư huyết thiểu, thần khí bất túc đẳng chư đa nội thương bệnh chứng xuất hiện, cố bệnh dĩ “khí nội vi bảo”, chú ư bảo hộ nguyên khí): Nguyên khí bị hao tổn có thể làm suy giảm công năng của ngũ tạng, dẫn tới các bệnh chứng nội thương như khí hư, huyết thiếu, thần khí bất túc. V́ vậy chữa bệnh phải coi “khí nội vi bảo”, chú trọng bảo vệ nguyên khí.
(“Thủ số cứ trị, vô thất du lư”: y sinh trị bệnh yếu dĩ lư luận chỉ đạo thực tiễn, yếu y cứ tạng tượng, tinh khí thần, kinh lạc, âm dương ngũ hành, du huyệt chủ trị đẳng lư luận tiến hành thi trị, tài bất trí ư phát sinh vọng bổ vọng tả, hư hư thực thực, hoặc đầu thống y đầu, cước thống y cước đẳng t́nh huống): “Giữ đúng thường số mà trị, không làm sai đạo lư du huyệt”: người thầy thuốc chữa bệnh phải lấy lư luận chỉ đạo thực hành, phải dựa vào các học thuyết như tạng tượng, tinh khí thần, kinh lạc, âm dương ngũ hành, chủ trị của du huyệt mà tiến hành điều trị, th́ mới tránh được các t́nh trạng như bổ tả bừa băi, làm hư thêm cái hư, làm thực thêm cái thực, hoặc đau đầu th́ chỉ chữa đầu, đau chân th́ chỉ chữa chân.

(Dĩ ngă tri bỉ, dĩ biểu tri lư, dĩ quan quá dữ bất cập chi lư, kiến vi đắc quá, dụng chi bất đăi): Lấy ḿnh để biết người, lấy biểu để biết lư, xem xét cái lư của thái quá và bất cập, thấy được cái vi tế mà nhận ra chỗ sai lệch, dùng được như vậy th́ không đến nỗi nguy.
(Thiện chẩn giả, sát sắc án mạch, tiên biệt âm dương; thẩm thanh trọc, nhi tri phân bộ; thị suyễn tức, thính âm thanh, nhi tri sở khổ; quan quyền hành quy củ, nhi tri bệnh sở chủ): Người giỏi chẩn đoán th́ trước hết xem sắc, bắt mạch để phân biệt âm dương; xét thanh trọc mà biết phân bộ; nh́n hơi thở, nghe tiếng nói mà biết chỗ đau khổ; xem quy củ, cân đối mà biết bệnh chủ ở đâu.
(Án thốn xích, quan phù trầm hoạt sáp, nhi tri bệnh sở sinh; dĩ trị vô quá, dĩ chẩn tắc bất thất hĩ): Bắt thốn xích, xem phù trầm hoạt sáp mà biết bệnh từ đâu sinh ra; dùng để trị th́ không sai, dùng để chẩn th́ không lầm.
(Nhật dữ nguyệt yên, thủy dữ kính yên, cổ dữ hưởng yên): Giống như mặt trời với mặt trăng, nước với gương, trống với tiếng vang vậy.
(Phù nhật nguyệt chi minh, bất thất kỳ ảnh, thủy kính chi sát, bất thất kỳ h́nh, cổ hưởng chi ứng, bất hậu kỳ thanh, động dao tắc ứng ḥa, tận đắc kỳ t́nh): Ánh sáng của mặt trời mặt trăng không sai bóng của nó; sự soi xét của nước và gương không sai h́nh của vật; trống và tiếng vang không trễ tiếng; có lay động th́ có ứng ḥa, nhờ vậy có thể biết hết t́nh trạng của nó.
(Hoàng Đế viết: Quẫn hồ tai, chiêu chiêu chi minh bất khả tế, kỳ bất khả tế, bất thất âm dương dă): Hoàng Đế nói: Rơ ràng thay, cái sáng tỏ ấy không thể bị che lấp, v́ nó không rời âm dương.
(Hợp nhi sát chi, thiết nhi nghiệm chi, kiến nhi đắc chi, nhược thanh thủy minh kính chi bất thất kỳ h́nh dă): Gộp lại mà xét, sờ vào mà nghiệm, nh́n mà nắm được, cũng như nước trong gương sáng không làm mất h́nh của vật.
(Ngũ âm bất chương, ngũ sắc bất minh, ngũ tạng ba đăng, nhược thị tắc nội ngoại tương tập, nhược cổ chi ứng phù, hưởng chi ứng thanh, ảnh chi ứng h́nh): Nếu ngũ âm không rơ, ngũ sắc không sáng, ngũ tạng dao động bất an, th́ trong ngoài sẽ ảnh hưởng lẫn nhau, như trống ứng với dùi, tiếng ứng với âm thanh, bóng ứng với h́nh.
(Cố viễn giả tư ngoại sủy nội, cận giả, tư nội sủy ngoại, thị vị âm dương chi cực, thiên địa chi cái): Cho nên người ở xa th́ suy từ ngoài để biết trong, người ở gần th́ suy từ trong để biết ngoài; đó gọi là chỗ cùng cực của âm dương, là cái bao quát của trời đất.
(Đổ kỳ sắc, sát kỳ mục, tri kỳ tán phục, nhất kỳ h́nh, thính kỳ động tĩnh giả, ngôn thượng công tri tướng ngũ sắc ư mục, hựu tri điều thốn xích đại tiểu hoăn cấp hoạt sáp, dĩ ngôn sở bệnh dă): Xem sắc của người bệnh, xét mắt, biết được sắc ấy tán hay tụ, nhất quán với h́nh thể, nghe động tĩnh của họ, đó là nói người thầy thuốc giỏi biết nh́n ngũ sắc ở mắt, lại biết điều xét thốn xích cùng đại tiểu hoăn cấp hoạt sáp để nói ra bệnh.
(Kiến kỳ sắc, tri kỳ bệnh, mệnh viết minh; án kỳ mạch, tri kỳ bệnh, mệnh viết thần; vấn kỳ bệnh, tri kỳ xứ, mệnh viết công): Thấy sắc mà biết bệnh, gọi là minh; bắt mạch mà biết bệnh, gọi là thần; hỏi bệnh mà biết chỗ bệnh, gọi là công.
(Dư nguyện văn kiến nhi tri chi, án nhi đắc chi, vấn nhi cực chi, vi chi nại hà?): Ta muốn nghe rơ việc nh́n mà biết, bắt mà được, hỏi mà cùng tận, th́ phải làm thế nào?
(Kỳ Bá đáp viết: Phù sắc mạch dữ xích chi tương ứng dă, như phù cổ ảnh hưởng chi tương ứng dă, bất đắc tương thất dă, thử diệc bản mạt căn diệp chi xuất hậu dă): Kỳ Bá đáp rằng: Sắc, mạch và xích phu tương ứng với nhau, như dùi trống với tiếng vang ứng nhau vậy, không được sai lệch; đó cũng là biểu hiện của quan hệ gốc ngọn, căn lá.
(Cố căn tử tắc diệp khô hĩ. Sắc mạch h́nh nhục bất đắc tương thất dă, cố tri nhất tắc vi công, tri nhị tắc vi thần, tri tam tắc thần thả minh hĩ): Cho nên rễ chết th́ lá khô. Sắc, mạch, h́nh và nhục không được sai lệch nhau; v́ vậy biết được một điều th́ gọi là công, biết được hai điều th́ gọi là thần, biết được ba điều th́ vừa thần vừa minh.
Trường Xuân dịch
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-04-19 23:59:09
Bài Giảng Thứ Tám: NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
Yếu chỉ học thuật và sơ giải (Giải thích về các yếu tố thiết yếu trong học tập)
Trị tắc là nguyên tắc điều trị bệnh tật, cũng chính là điều trong Tố Vấn, thiên Di Tinh Biến Khí Luận gọi là:
Trị chi đại tắc.
Giải thích: Nghĩa là nguyên tắc lớn của việc trị bệnh. Khi điều trị không thể chỉ nh́n từng triệu chứng rời rạc, mà phải có cương lĩnh tổng quát để định hướng toàn bộ quá tŕnh chẩn đoán và trị liệu.
“Trị tắc” (Nguyên tắc điều trị) được xây dựng dưới sự chỉ đạo của quan niệm chỉnh thể, lấy tài liệu thu thập được qua tứ chẩn làm căn cứ, rồi căn cứ vào bệnh t́nh khác nhau mà đặt ra nguyên tắc điều trị khác nhau. Nội Kinh đă nêu ra rất nhiều trị tắc quan trọng, như:
“Trị bệnh cầu bản.” Giải thích: Trị bệnh phải t́m đến gốc bệnh. Không chỉ thấy đau th́ giảm đau, thấy sốt th́ hạ sốt, mà phải t́m nguyên nhân sâu xa làm phát sinh bệnh.
“Chính trị phản trị.” Giải thích: Chính trị là phép trị thông thường, dùng thuốc hoặc phương pháp có tính chất đối lập với bệnh, như hàn th́ dùng nhiệt, nhiệt th́ dùng hàn. Phản trị là trong bệnh t́nh phức tạp, có giả tượng bên ngoài, phải dùng phép trị thuận theo biểu hiện giả ấy để xử lư bản chất thật bên trong.
“Tiêu bản hoăn cấp.” Giải thích: Tiêu là ngọn, là biểu hiện trước mắt; bản là gốc bệnh. Hoăn cấp là phân biệt cái nào cần trị gấp, cái nào có thể trị sau. Lâm sàng phải biết khi nào trị tiêu, khi nào trị bản, khi nào tiêu bản cùng trị.
“Hư thực bổ tả.” Giải thích: Hư th́ dùng phép bổ để nâng đỡ chính khí; thực th́ dùng phép tả để khu trừ tà khí. Đây là nguyên tắc rất căn bản trong biện chứng luận trị.
“Tam nhân chế nghi.” Giải thích: Nghĩa là căn cứ vào ba phương diện mà lựa chọn phép trị thích hợp: nhân thời, nhân địa, nhân nhân. Tức phải xét thời tiết, địa phương, hoàn cảnh sống, tuổi tác, thể chất và t́nh trạng cụ thể của người bệnh.
Những điều này đều là nội dung quan trọng trong hệ thống lư luận cơ sở của Trung y.
Trị pháp là phương pháp điều trị cụ thể được đặt ra dưới sự chỉ đạo của trị tắc, căn cứ vào từng bệnh t́nh cụ thể khác nhau. V́ vậy trị pháp lệ thuộc vào trị tắc, là biện pháp điều trị do nguyên tắc điều trị quy định, đồng thời phụ thuộc vào một pháp tắc trị liệu nhất định. Ví dụ:
“Thực tắc tả chi.” Giải thích: Bệnh thuộc thực chứng th́ dùng phép tả. Trong nguyên tắc này có thể bao gồm các phương pháp như giải biểu, dũng thổ, tiêu đạo, công hạ, nhằm khu trừ tà khí, phá tích trệ, thông bế tắc.
“Hư tắc bổ chi.”
Giải thích: Bệnh thuộc hư chứng th́ dùng phép bổ. Trong nguyên tắc này có thể bao gồm các phương pháp như ích khí, tư âm, ôn dương, bổ huyết, nhằm bồi bổ chính khí và phục hồi phần suy yếu của cơ thể.

Trị pháp là căn cứ để thầy thuốc lập phương và dùng thuốc, trực tiếp liên quan đến hiệu quả điều trị tốt hay xấu. V́ vậy, xây dựng được trị pháp chính xác cũng là một trong những công phu cơ bản của thầy thuốc lâm sàng. Nội dung của bài giảng này, ngoài một số thiên chương trong Nội Kinh có liên quan đến trị tắc, trị pháp, c̣n chọn thêm một số nội dung liên quan đến pháp tắc cơ bản của việc chế phương. Những pháp tắc này đă đặt nền móng cho sự phát triển của phương tễ học đời sau.

Nội Kinh cho rằng, điều ḥa âm dương, sửa chữa t́nh trạng âm dương thiên thịnh hoặc thiên suy trong cơ thể là nguyên tắc điều trị tổng quát. Có thể thông qua các thủ đoạn điều trị như:

“Hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi.”
Giải thích: Bệnh thuộc hàn th́ dùng phép ôn nhiệt để điều trị; bệnh thuộc nhiệt th́ dùng phép hàn lương để điều trị. Đây là nguyên tắc dùng tính chất đối lập để điều chỉnh sự thiên lệch của bệnh.

“Hư tắc bổ chi, thực tắc tả chi.”
Giải thích: Hư chứng th́ bổ, thực chứng th́ tả. Nếu chính khí suy th́ phải nâng đỡ chính khí; nếu tà khí thịnh th́ phải khu trừ tà khí.
Nhờ những phương pháp này mà khôi phục sự cân bằng động thái của âm dương, đạt đến mục đích chữa khỏi bệnh. Đó chính là điều gọi là:

“Cẩn sát âm dương sở tại nhi điều chi, dĩ b́nh vi kỳ.”
Giải thích: Phải cẩn thận quan sát âm dương thiên lệch ở đâu rồi điều chỉnh nơi đó, lấy trạng thái b́nh ḥa làm mục tiêu cuối cùng. Nghĩa là trị bệnh không phải chỉ để hết triệu chứng, mà là đưa cơ thể trở lại thế cân bằng.

“Trị hàn dĩ nhiệt, trị nhiệt dĩ hàn.”
Giải thích: Dùng nhiệt pháp để trị hàn chứng, dùng hàn pháp để trị nhiệt chứng. Đây là phương pháp điều trị đối với t́nh trạng âm dương thiên thịnh, tà khí thịnh thực, thích hợp với thực hàn chứng hoặc thực nhiệt chứng.

Nếu do âm dương thiên hư, chính khí bất túc mà sinh ra hư hàn chứng hoặc hư nhiệt chứng, th́ nên dùng phép bổ âm hoặc bổ dương. Đó chính là điều gọi là:

“Chư hàn chi nhi nhiệt giả thủ chi âm, chư nhiệt chi nhi hàn giả thủ chi dương.”
Giải thích: Những bệnh đă dùng phép hàn để trị mà nhiệt vẫn c̣n, thường không phải chỉ là thực nhiệt, mà có thể do âm hư không chế được dương, nên phải trị vào phần âm. Những bệnh đă dùng phép nhiệt để trị mà hàn vẫn c̣n, thường không phải chỉ là thực hàn, mà có thể do dương hư không ôn ấm được cơ thể, nên phải trị vào phần dương.

Tóm lại, điều chỉnh âm dương không chỉ phải phân biệt rơ hàn nhiệt, mà c̣n phải phân rơ hư thực. Đối với thực chứng do âm dương thiên thịnh, nên lấy khu tà làm chính, tức là:

“Tổn kỳ hữu dư.”
Giải thích: Làm giảm phần có thừa. Khi tà khí thịnh, khí huyết ứ trệ, đàm thấp tích tụ, hàn nhiệt quá mức th́ phải dùng phép tả, phép công, phép tiêu, phép tán để loại bỏ phần dư thừa ấy.

Đối với hư chứng do âm dương thiên suy, nên lấy phù chính làm chính, tức là:

“Bổ kỳ bất túc.”
Giải thích: Bổ sung phần không đủ. Khi khí, huyết, âm, dương suy yếu th́ phải bồi bổ chính khí, giúp cơ thể phục hồi công năng b́nh thường.

Nếu chỉ dựa vào hiện tượng bên ngoài mà không t́m hiểu bản chất của bệnh, th́ sẽ phạm sai lầm:

“Hư hư thực thực.”
Giải thích: Nghĩa là bệnh vốn đă hư mà lại dùng phép tả làm cho càng hư thêm; bệnh vốn đă thực mà lại dùng phép bổ làm cho càng thực thêm. Đây là sai lầm nghiêm trọng do không phân biệt rơ hư thực.

Do vị trí của bệnh tà khác nhau, xu thế biến hóa bệnh lư khác nhau, và đường ra của bệnh tà cũng không giống nhau, nên Nội Kinh nhấn mạnh rằng trong điều trị, ngoài việc xét âm dương, hàn nhiệt, hư thực của bệnh, c̣n phải căn cứ vào vị trí của tà khí và t́nh thế đấu tranh giữa tà khí với chính khí để lựa chọn trị pháp cụ thể tương ứng. Như Tố Vấn, thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận nói:

“Kỳ cao giả, nhân nhi việt chi.”
Giải thích: Bệnh tà ở phần trên th́ thuận theo xu thế mà làm cho nó vượt ra ngoài, ví dụ dùng phép phát tán hoặc phép thổ để đưa tà khí ở thượng bộ ra ngoài.

“Kỳ hạ giả, dẫn nhi kiệt chi.”
Giải thích: Bệnh tà ở phần dưới th́ dẫn nó đi xuống và làm cho nó hết, ví dụ dùng phép lợi tiểu, thông tiện hoặc công hạ để dẫn tà ra theo đường dưới.

“Trung măn giả, tả chi ư nội.”
Giải thích: Nếu vùng trung tiêu đầy trướng, bên trong bị tích trệ, th́ phải dùng phép tả ở bên trong để thông trung tiêu, trừ măn trướng.

“Kỳ hữu tà giả, tẩm h́nh dĩ vi hăn.”
Giải thích: Nếu có tà khí ở biểu, có thể làm cho thân thể được khai thông để phát ra mồ hôi, nhờ đó tà khí theo mồ hôi mà giải.

“Tà tại b́ giả, hăn nhi phát chi.”
Giải thích: Tà khí ở phần da th́ dùng phép phát hăn để đưa tà ra ngoài. Đây là phép giải biểu thường dùng khi ngoại tà c̣n ở nông.

“Kỳ phiêu hăn giả, án nhi thu chi.”
Giải thích: Nếu tà khí có tính chất mạnh bạo, cấp tốc, tán loạn th́ phải dùng phép ấn nạp, thu liễm, điều phục để làm cho khí cơ ổn định trở lại.

“Kỳ thực giả, tán nhi tả chi.”
Giải thích: Nếu thuộc thực chứng, tà khí thịnh, khí huyết bế tắc hoặc tích tụ, th́ phải dùng phép tán và phép tả để làm cho tà khí được giải trừ.

Những điều này đều là phương pháp điều trị nhân thế lợi đạo, tức thuận theo xu thế biến hóa bệnh lư mà dẫn dắt bệnh tà ra ngoài. Nếu vận dụng thích đáng th́ có thể nâng cao hiệu quả lâm sàng. Phần sau sẽ chọn đọc trọng điểm một số đoạn kinh văn để nắm được đại khái.
Chú thích và phân tích kinh văn tiêu biểu

Lư luận và ứng dụng của phép nghịch, phép ṭng trong trị pháp, cùng phép trị âm hư, dương hư

Nguyên văn

“Hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi.”
Dịch nghĩa: Bệnh hàn th́ dùng phép nhiệt để trị; bệnh nhiệt th́ dùng phép hàn để trị.
Giải thích: Đây là chính trị, tức dùng phương pháp có tính chất đối lập với bệnh để điều chỉnh sự thiên lệch. Hàn th́ cần ôn, nhiệt th́ cần thanh.

1/ “Vi giả nghịch chi, thậm giả ṭng chi.”
Dịch nghĩa: Bệnh nhẹ, biểu hiện đơn thuần th́ dùng phép nghịch trị; bệnh nặng, biểu hiện phức tạp th́ dùng phép ṭng trị.
Giải thích: “Vi” là bệnh c̣n nhẹ, biểu hiện thật giả chưa lẫn lộn, nên dùng phép trị trái với bệnh tượng. “Thậm” là bệnh nặng, có thể xuất hiện giả tượng như chân hàn giả nhiệt, chân nhiệt giả hàn, nên cần dùng phép trị thuận theo giả tượng bên ngoài nhưng nhằm giải quyết bản chất bên trong.

2/ “Kiên giả tước chi.”
Dịch nghĩa: Chứng kiên cứng th́ làm cho tiêu ṃn.
Giải thích: “Kiên” là khối cứng, tích tụ hữu h́nh, như trưng hà, tích tụ. “Tước” là làm hao ṃn, công phá dần, thường dùng các phép hóa ứ, tiêu tích, nhuyễn kiên.

3/ “Khách giả trừ chi.”
Dịch nghĩa: Tà khí từ ngoài xâm nhập th́ trừ bỏ nó.
Giải thích: “Khách” là ngoại tà xâm phạm cơ thể. Nếu tà ở biểu th́ giải biểu; nếu tà vào lư th́ tùy t́nh h́nh mà công hạ, thanh giải hoặc khu tà.

4/ “Lao giả ôn chi.”
Dịch nghĩa: Bệnh hư lao th́ dùng phép ôn bổ.
Giải thích: “Lao” là hư lao, hư tổn lâu ngày, chính khí suy yếu. Dùng phép ôn bổ để nâng đỡ khí huyết, âm dương, giúp cơ thể hồi phục.

5/ “Kết giả tán chi.”
Dịch nghĩa: Chứng uất kết th́ làm cho tiêu tán.
Giải thích: “Kết” là khí trệ, huyết ứ, đàm ngưng, thấp tụ làm cho khí cơ bế tắc. “Tán” là làm tan kết tụ, thông khí cơ, hóa đàm, hành huyết.

6/ “Lưu giả công chi.”
Dịch nghĩa: Tà khí lưu lại th́ dùng phép công để trục ra.
Giải thích: “Lưu” là tà khí hoặc vật chất bệnh lư đ́nh lưu trong cơ thể, như lưu ẩm, súc huyết, đ́nh thực, đại tiện bí kết. “Công” là dùng phép mạnh để công trục tà lưu.

7/ “Táo giả nhu chi.”
Dịch nghĩa: Chứng khô táo th́ làm cho nhuận.
Giải thích: “Táo” là tân dịch khô hao, cơ thể thiếu nhuận. “Nhu” là tư nhuận, dưỡng âm, sinh tân, làm mềm và làm ẩm phần khô ráo.

8/ “Cấp giả hoăn chi.”
Dịch nghĩa: Chứng co rút cấp bách th́ làm cho thư hoăn.
Giải thích: “Cấp” là cân mạch co rút, đau gấp, căng cứng. “Hoăn” là làm dịu, làm mềm, thư cân, ḥa hoăn sự co thắt.

9/ “Tán giả thu chi.”
Dịch nghĩa: Tinh khí tán mất th́ dùng phép thu liễm.
Giải thích: “Tán” là tinh khí hao tán không giữ được, như tự hăn, đạo hăn, hoạt tinh. “Thu” là thu liễm, cố sáp, giúp giữ lại tinh khí.

10/ “Tổn giả ôn chi.”
Dịch nghĩa: Hư tổn th́ dùng phép ôn dưỡng.
Giải thích: “Tổn” là chính khí bị tổn thương, cơ thể suy nhược. “Ôn” ở đây không chỉ là làm ấm, mà c̣n có ư nghĩa ôn dưỡng, bồi bổ, giúp phục hồi phần bị tổn hao.

11/ “Dật giả hành chi.”
Dịch nghĩa: Do an dật quá mức mà khí huyết tŕ trệ th́ làm cho vận hành.
Giải thích: “Dật” là quá nhàn rỗi, ít vận động, khiến khí huyết không lưu thông. “Hành” là làm cho khí huyết vận hành, thông kinh hoạt lạc.

12/ “Kinh giả b́nh chi.”
Dịch nghĩa: Kinh sợ th́ làm cho b́nh ổn.
Giải thích: “Kinh” là do sợ hăi, kinh động làm thần khí rối loạn. “B́nh” là trấn tĩnh, an thần, điều ḥa khí cơ để tâm thần yên ổn.

13/ “Thượng chi hạ chi.”
Dịch nghĩa: Có khi làm cho đi lên, có khi làm cho đi xuống.
Giải thích: Tùy vị trí và xu thế của bệnh mà dùng phép thăng hoặc giáng. Bệnh cần đưa lên th́ thăng đề, bệnh cần dẫn xuống th́ giáng hạ.

14/ “Ma chi dục chi.”
Dịch nghĩa: Có khi xoa bóp, có khi tắm gội.
Giải thích: Đây là các phép trị bên ngoài, dùng xoa bóp, tắm rửa, làm ấm, thông kinh hoạt lạc, giúp khí huyết lưu thông.

15/ “Bạc chi kiếp chi.”
Dịch nghĩa: Có khi dùng phép áp sát, có khi dùng phép công phá mạnh.
Giải thích: “Bạc” là tiếp cận, áp vào để tác động; “kiếp” là dùng phép mạnh để đoạt tà, phá thế bệnh cấp. Thường dùng khi tà khí mạnh, bệnh thế cần xử lư nhanh.

16/ “Khai chi phát chi.”
Dịch nghĩa: Có khi khai mở, có khi phát tán.
Giải thích: “Khai” là mở bế tắc; “phát” là phát tán tà khí ra ngoài. Dùng khi tà khí bị bế ở biểu hoặc khí cơ không thông.

17/ “Thích sự vi cố.”
Dịch nghĩa: Phải lấy sự thích hợp với bệnh t́nh cụ thể làm nguyên tắc.
Giải thích: Không có một phép trị cố định cho mọi bệnh. Điều quan trọng là tùy bệnh, tùy người, tùy thời, tùy thế mà lựa chọn cách trị thích hợp.

“Đế viết: Hà vị nghịch ṭng?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Thế nào gọi là nghịch và ṭng?
Giải thích: Đây là câu hỏi mở đầu để phân biệt hai phương thức trị liệu quan trọng: nghịch trị và ṭng trị.

“Kỳ Bá viết: Nghịch giả chính trị, ṭng giả phản trị.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá thưa: Nghịch là chính trị, ṭng là phản trị.
Giải thích: Nghịch trị là dùng phương pháp trái với bệnh tượng, như hàn dùng nhiệt, nhiệt dùng hàn. Ṭng trị là dùng phương pháp thuận theo giả tượng bên ngoài, nhưng mục đích là trị bản chất thật bên trong.

18/ “Ṭng thiểu ṭng đa, quan kỳ sự dă.”
Dịch nghĩa: Ṭng ít hay ṭng nhiều phải xem xét t́nh h́nh cụ thể của bệnh.
Giải thích: Phản trị không phải lúc nào cũng dùng giống nhau. Phải xem giả tượng nặng hay nhẹ, bản chất bệnh sâu hay nông, chính khí suy hay thịnh để quyết định mức độ vận dụng.

“Đế viết: Phản trị hà vị?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Phản trị là thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi rơ hơn về ṭng trị, tức phản trị, v́ đây là phép trị phức tạp, dễ nhầm nếu chỉ nh́n hiện tượng bên ngoài.

“Kỳ Bá viết: Nhiệt nhân nhiệt dụng, hàn nhân hàn dụng.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá thưa: Nhiệt th́ nhân theo nhiệt mà dùng; hàn th́ nhân theo hàn mà dùng.
Giải thích: Đây là phản trị. Ví dụ bệnh bên ngoài thấy nhiệt nhưng gốc là chân hàn, th́ dùng thuốc nhiệt để trị; bệnh bên ngoài thấy hàn nhưng gốc là chân nhiệt, th́ dùng thuốc hàn để trị.

19/ “Tắc nhân tắc dụng.”
Dịch nghĩa: Bế tắc th́ nhân theo bế tắc mà dùng.
Giải thích: Có những trường hợp biểu hiện như bế tắc nhưng gốc bệnh là hư, không thể công phá. Khi ấy phải dùng phép bổ, phép cố sáp để trị gốc, nhờ chính khí phục hồi mà bế tắc tự thông.

20/ “Thông nhân thông dụng.”
Dịch nghĩa: Thông lợi th́ nhân theo thông lợi mà dùng.
Giải thích: Có những bệnh biểu hiện như tiêu chảy, băng lậu, tiết ra không ngừng, nhưng gốc là thực tà tích trệ bên trong. Khi ấy có thể dùng phép thông, phép tả để trừ tà; tà đi rồi th́ hiện tượng thông lợi quá mức tự dừng.

21/ “Tất phục kỳ sở chủ, nhi tiên kỳ sở nhân.”
Dịch nghĩa: Nhất định phải khuất phục được chủ bệnh, và trước hết phải nắm rơ nguyên nhân gây bệnh.
Giải thích: Khi dùng phản trị, không được chỉ nh́n hiện tượng bên ngoài. Phải nhận ra cái ǵ là chủ yếu, nguyên nhân thật sự là ǵ, rồi mới dùng thuốc chính xác.

22/ “Kỳ thủy tắc đồng, kỳ chung tắc dị.”
Dịch nghĩa: Lúc đầu th́ có vẻ giống nhau, nhưng kết quả cuối cùng th́ khác nhau.
Giải thích: Phản trị lúc đầu có vẻ như thuận theo bệnh tượng, ví dụ nhiệt lại dùng nhiệt, hàn lại dùng hàn. Nhưng v́ nó nhắm đúng bản chất bệnh, nên cuối cùng lại đạt kết quả khác: bệnh được giải.

23/ “Khả sử phá tích.”
Dịch nghĩa: Có thể làm cho tích tụ bị phá.
Giải thích: Nếu dùng đúng phép, các khối tích tụ, đ́nh trệ bên trong có thể được phá bỏ.

“Khả sử hội kiên.”
Dịch nghĩa: Có thể làm cho khối cứng tan ră.
Giải thích: Những khối kiên cứng, kết tụ lâu ngày có thể được làm mềm, làm tan, không c̣n bế tắc.

“Khả sử khí ḥa.”
Dịch nghĩa: Có thể làm cho khí cơ điều ḥa.
Giải thích: Mục tiêu quan trọng của trị pháp là làm cho khí cơ thăng giáng xuất nhập trở lại b́nh thường.

“Khả sử tất dĩ.”
Dịch nghĩa: Có thể khiến bệnh nhất định khỏi.
Giải thích: Khi trị đúng bản chất bệnh và vận dụng trị pháp phù hợp, bệnh có thể được giải quyết tận gốc.

“Đế viết: Thiện. Khí điều nhi đắc giả, hà như?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Nếu bệnh do khí cơ mất điều ḥa mà mắc phải th́ nên làm thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế tiếp tục hỏi về bệnh do khí cơ rối loạn, tức khí không điều ḥa, thăng giáng thất thường, xuất nhập không thông.

“Kỳ Bá viết: Nghịch chi, ṭng chi.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá thưa: Có thể dùng nghịch trị, có thể dùng ṭng trị.
Giải thích: Tùy bệnh t́nh đơn giản hay phức tạp, có giả tượng hay không, mà chọn chính trị hoặc phản trị.

“Nghịch nhi ṭng chi.”
Dịch nghĩa: Trong nghịch trị có thể có ṭng trị.
Giải thích: Có khi phép chính trị là chủ, nhưng trong quá tŕnh điều trị vẫn cần thuận theo một phần biểu hiện bệnh để tránh làm bệnh thế phản ứng quá mạnh.

“Ṭng nhi nghịch chi.”
Dịch nghĩa: Trong ṭng trị có thể có nghịch trị.
Giải thích: Có khi phản trị là chủ, nhưng vẫn phải có phần đối trị để xử lư tà khí hoặc biểu hiện thật sự của bệnh.

“Sơ khí linh điều, tắc kỳ đạo dă.”
Dịch nghĩa: Làm cho khí cơ thông suốt và điều ḥa, đó chính là con đường trị liệu.
Giải thích: Dù dùng nghịch hay ṭng, mục tiêu cuối cùng vẫn là sơ thông khí cơ, làm cho khí huyết vận hành điều ḥa, âm dương trở lại b́nh ổn.

“Đế viết: Luận ngôn trị hàn dĩ nhiệt, trị nhiệt dĩ hàn.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Trong sách luận có nói trị hàn th́ dùng nhiệt, trị nhiệt th́ dùng hàn.
Giải thích: Đây là nhắc lại nguyên tắc chính trị thông thường, tức dùng phép đối lập để trị bệnh.

“Nhi phương sĩ bất năng phế thằng mặc nhi canh kỳ đạo dă.”
Dịch nghĩa: Nhưng các phương sĩ không thể bỏ khuôn phép cũ mà thay đổi phương pháp.
Giải thích: Ư nói người làm thuốc nếu chỉ cứng nhắc theo quy tắc thông thường, không biết linh hoạt biến thông, th́ gặp bệnh phức tạp sẽ không xử lư được.

“Hữu bệnh nhiệt giả, hàn chi nhi nhiệt.”
Dịch nghĩa: Có người bệnh nhiệt, dùng phép hàn để trị mà nhiệt vẫn c̣n.
Giải thích: Đây là trường hợp nh́n như nhiệt chứng, nhưng dùng hàn lương không khỏi. Nguyên nhân có thể là âm hư sinh nhiệt, không thể chỉ tiếp tục thanh nhiệt.

“Hữu bệnh hàn giả, nhiệt chi nhi hàn.”
Dịch nghĩa: Có người bệnh hàn, dùng phép nhiệt để trị mà hàn vẫn c̣n.
Giải thích: Đây là trường hợp nh́n như hàn chứng, nhưng dùng ôn nhiệt không khỏi. Nguyên nhân có thể là dương hư sâu, cần bổ dương chứ không chỉ tán hàn.

“Nhị giả giai tại, tân bệnh phục khởi, nại hà trị?”
Dịch nghĩa: Hai t́nh huống này đều tồn tại, bệnh mới lại phát sinh, vậy phải điều trị như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi cách xử lư khi dùng phép đối trị thông thường không hiệu quả, thậm chí bệnh t́nh c̣n biến hóa thêm.

“Kỳ Bá viết: Chư hàn chi nhi nhiệt giả thủ chi âm.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá thưa: Những bệnh đă dùng phép hàn mà nhiệt vẫn c̣n th́ phải trị vào phần âm.
Giải thích: Nếu dùng hàn lương mà nhiệt không lui, thường là v́ âm hư không chế được dương, sinh ra hư nhiệt. Khi ấy cần dưỡng âm, tư âm, làm cho âm phục th́ nhiệt tự lui.

26/ “Nhiệt chi nhi hàn giả thủ chi dương.”
Dịch nghĩa: Những bệnh đă dùng phép nhiệt mà hàn vẫn c̣n th́ phải trị vào phần dương.
Giải thích: Nếu dùng ôn nhiệt mà hàn không giải, thường là v́ dương khí hư suy, không đủ sức ôn ấm cơ thể. Khi ấy cần bổ dương, ôn dương, giúp dương khí phục hồi th́ hàn tự tan.

27/ “Sở vị cầu kỳ thuộc dă.”
Dịch nghĩa: Đó gọi là t́m đúng chỗ quy thuộc của bệnh.
Giải thích: Phải t́m xem bệnh thật sự thuộc âm hay thuộc dương, thuộc hư hay thuộc thực, thuộc bản hay thuộc tiêu. Không được chỉ nh́n biểu hiện hàn nhiệt bên ngoài.

Trích Tố Vấn, thiên Chí Chân Yếu Đại Luận.

Chú thích

1. “Hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi.”
Giải thích: Bệnh hàn dùng phép ôn nhiệt để điều trị; bệnh nhiệt dùng phép hàn lương để điều trị. Đây là nguyên tắc chính trị cơ bản.

2. “Vi giả nghịch chi, thậm giả ṭng chi.”
Giải thích: “Vi” là bệnh thế nhẹ nông, bệnh t́nh đơn thuần, không có giả tượng, ví dụ hàn bệnh hiện hàn tượng, nhiệt bệnh hiện nhiệt tượng. “Nghịch chi” là dùng thuốc có tính chất trái ngược với bệnh tượng để điều trị, như bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn. “Thậm” là bệnh thế nặng hơn, bệnh t́nh phức tạp, xuất hiện giả tượng, như chân hàn giả nhiệt, chân nhiệt giả hàn. “Ṭng chi” là thuận theo giả tượng bên ngoài mà điều trị, nhưng mục tiêu là xử lư bản chất thật bên trong.

3. “Kiên giả tước chi.”
Giải thích: “Kiên” là khối cứng chắc, hữu h́nh, như trưng hà, tích tụ. “Tước chi” là dùng phép tiêu ṃn, công phá, đẩy trục, ví dụ hóa ứ tiêu trưng.

4. “Khách giả trừ chi.”
Giải thích: “Khách” là bệnh chứng do ngoại tà xâm nhập. “Trừ chi” là dùng phương pháp khu trừ ngoại tà. Tà ở biểu th́ dùng giải biểu; tà ở lư th́ dùng công hạ hoặc phương pháp thích hợp khác.

5. “Lao giả ôn chi.”
Giải thích: “Lao” là các bệnh chứng hư lao, hư tổn. “Ôn chi” là dùng phép ôn bổ để điều trị, giúp phục hồi chính khí.

6. “Kết giả tán chi.”
Giải thích: “Kết” là các bệnh chứng do khí trệ, huyết ứ, đàm ngưng v.v. làm tà khí uất kết. “Tán chi” là dùng phép tiêu tán để làm tan kết tụ.

7. “Lưu giả công chi.”
Giải thích: “Lưu” là các bệnh chứng như lưu ẩm, súc huyết, đ́nh thực, đại tiện bế kết. “Công chi” là dùng phép công trục để loại bỏ tà khí lưu lại.

8. “Táo giả nhu chi.”
Giải thích: “Táo” là bệnh chứng do tân dịch khô ráo. “Nhu chi” là dùng phép tư nhuận, cứu táo để điều trị.

9. “Cấp giả hoăn chi.”
Giải thích: “Cấp” là bệnh chứng cân mạch co rút, câu cấp, co quắp. “Hoăn chi” là dùng phép thư hoăn để làm mềm cân mạch, giảm co rút.

10. “Tán giả thu chi.”
Giải thích: “Tán” là bệnh chứng tinh khí hao tán, như tự hăn, đạo hăn, hoạt tinh. “Thu chi” là dùng phép thu liễm, cố sáp để giữ lại tinh khí, ngăn sự hao tán.

11. “Tổn giả ôn chi.”
Giải thích: “Tổn” chỉ các bệnh chứng thuộc loại hao tổn, suy yếu, hư nhược. “Ôn chi” là dùng phép ôn bổ để điều trị, nhằm làm ấm, bồi bổ và phục hồi phần chính khí bị tổn thương.

12. “Dật giả hành chi.”
Giải thích: “Dật” chỉ các bệnh chứng thuộc loại rối loạn vận động như nuy chứng, tư chứng, bại liệt v.v. “Hành chi” là dùng phép hành khí hoạt huyết để điều trị, giúp khí huyết vận hành, kinh lạc thông suốt, vận động được phục hồi.

13. “Kinh giả b́nh chi.”
Giải thích: “Kinh” chỉ các bệnh chứng như kinh quư, hồi hộp, bất an. “B́nh chi” là dùng phép trấn kinh an thần để điều trị, làm cho tâm thần yên ổn, khí cơ b́nh ḥa.

14. “Thượng chi hạ chi.”
Giải thích: “Thượng chi” là khi bệnh tà ở phần trên th́ dùng phương pháp làm cho bệnh tà vượt ra phía trên, như phép dũng thổ. “Hạ chi” là khi bệnh tà ở phần dưới th́ dùng phương pháp làm cho bệnh tà đi ra theo đường dưới, như phép công hạ, lợi niệu.

15. “Ma chi dục chi.”
Giải thích: Chỉ các phương pháp như xoa bóp và tắm thuốc. Đây là những phép trị bên ngoài, có tác dụng thông kinh hoạt lạc, điều ḥa khí huyết, làm ấm hoặc làm thông vùng bệnh.

16. “Bạc chi kiếp chi.”
Giải thích: “Bạc chi” là dùng thuốc tác động ăn ṃn hoặc tiêu phá tại chỗ bệnh, ví dụ dùng cao dán ngoài để làm tiêu các vật tăng sinh. “Kiếp chi” là dùng thuốc mạnh, tác dụng mănh liệt để đoạt trừ bệnh tà.

17. “Khai chi phát chi.”
Giải thích: Chỉ phép khai tiết và phát tán. “Khai” là mở sự bế tắc; “phát” là phát tán tà khí ra ngoài, thường dùng khi tà khí bị uất bế hoặc c̣n ở phần biểu.

18. “Nghịch giả chính trị, ṭng giả phản trị.”
Giải thích: Phương pháp dùng thuốc trái ngược với bệnh tượng gọi là nghịch trị, như hàn th́ dùng nhiệt, nhiệt th́ dùng hàn. Đây là phép thông thường nên gọi là chính trị. Phương pháp dùng thuốc thuận theo bệnh tượng gọi là ṭng trị, như hàn nhân hàn dụng, nhiệt nhân nhiệt dụng. Đây là phương pháp đặc biệt nên gọi là phản trị.

19. “Nhiệt nhân nhiệt dụng, hàn nhân hàn dụng.”
Giải thích: Nguyên văn vốn chép là “nhiệt nhân hàn dụng, hàn nhân nhiệt nhân”, nay căn cứ theo lệ văn phía sau là “tắc nhân tắc dụng, thông nhân thông dụng” mà sửa lại. Ư nghĩa là dùng thuốc nhiệt để điều trị chứng chân hàn giả nhiệt, dùng thuốc hàn để điều trị chứng chân nhiệt giả hàn.

20. “Tắc nhân tắc dụng.”
Giải thích: Nghĩa là dùng thuốc bổ ích để điều trị chứng bĩ tắc, hàn trệ, không thông do chính khí hư gây nên. Bề ngoài tuy có vẻ tắc, nhưng gốc là hư, nên không thể công phá bừa băi.

21. “Thông nhân thông dụng.”
Giải thích: Nghĩa là dùng thuốc thông lợi để điều trị chứng hạ lợi do thực kết. Tuy biểu hiện là đi ngoài, thông tiết, nhưng gốc là thực tà kết ở trong, nên phải thông để trừ tà, tà đi th́ lợi tự dừng.

22. “Tất phục kỳ sở chủ, nhi tiên kỳ sở nhân.”
Giải thích: “Phục” là chế phục. “Chủ” chỉ bản chất của bệnh. “Nhân” là nguyên nhân gây bệnh. Cả câu có nghĩa là: muốn điều trị phải nắm được gốc bệnh để chế phục nó, trước hết phải làm rơ nguyên nhân phát sinh bệnh.

23. “Kỳ thủy tắc đồng, kỳ chung tắc dị.”
Giải thích: Dùng thuốc nhiệt để trị giả nhiệt, dùng thuốc hàn để trị giả hàn, lúc đầu dược tính có vẻ giống với giả tượng bên ngoài; đến khi giả tượng mất đi, chân tượng hiện ra, th́ dược tính lại đối lập với bệnh tượng thật. V́ vậy ban đầu có vẻ giống, nhưng kết quả cuối cùng lại khác.

24. “Thằng mặc.”
Giải thích: Nghĩa là chuẩn tắc, khuôn phép, nguyên tắc cố định. Trong văn cảnh này chỉ các quy tắc trị liệu thông thường mà thầy thuốc thường dựa vào.

25. “Hàn chi nhi nhiệt giả thủ chi âm.”
Giải thích: Dùng thuốc hàn để trị bệnh nhiệt mà nhiệt thế không giảm, đó là âm hư phát nhiệt, nên dùng phép bổ âm, tư âm để điều trị.

26. “Nhiệt chi nhi hàn giả thủ chi dương.”
Giải thích: Dùng thuốc nhiệt để trị bệnh hàn mà hàn tượng không giảm, đó là dương hư sinh hàn, nên dùng phép bổ dương, ôn dương để điều trị.

27. “Cầu kỳ thuộc.”
Giải thích: Nghĩa là suy xét bản chất của bệnh rốt cuộc thuộc về âm hay thuộc về dương. Không chỉ nh́n hàn nhiệt bên ngoài mà phải t́m đúng nơi quy thuộc thật sự của bệnh.

Lư luận và ứng dụng của phép nghịch, phép ṭng trong trị pháp, cùng phép trị âm hư, dương hư

Nguyên văn

“Hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi.”
Dịch nghĩa: Bệnh hàn th́ dùng phép nhiệt để trị; bệnh nhiệt th́ dùng phép hàn để trị.
Giải thích: Đây là chính trị, tức dùng phương pháp có tính chất đối lập với bệnh để điều chỉnh sự thiên lệch. Hàn th́ cần ôn, nhiệt th́ cần thanh.

1/ “Vi giả nghịch chi, thậm giả ṭng chi.”
Dịch nghĩa: Bệnh nhẹ, biểu hiện đơn thuần th́ dùng phép nghịch trị; bệnh nặng, biểu hiện phức tạp th́ dùng phép ṭng trị.
Giải thích: “Vi” là bệnh c̣n nhẹ, biểu hiện thật giả chưa lẫn lộn, nên dùng phép trị trái với bệnh tượng. “Thậm” là bệnh nặng, có thể xuất hiện giả tượng như chân hàn giả nhiệt, chân nhiệt giả hàn, nên cần dùng phép trị thuận theo giả tượng bên ngoài nhưng nhằm giải quyết bản chất bên trong.

2/ “Kiên giả tước chi.”
Dịch nghĩa: Chứng kiên cứng th́ làm cho tiêu ṃn.
Giải thích: “Kiên” là khối cứng, tích tụ hữu h́nh, như trưng hà, tích tụ. “Tước” là làm hao ṃn, công phá dần, thường dùng các phép hóa ứ, tiêu tích, nhuyễn kiên.

3/ “Khách giả trừ chi.”
Dịch nghĩa: Tà khí từ ngoài xâm nhập th́ trừ bỏ nó.
Giải thích: “Khách” là ngoại tà xâm phạm cơ thể. Nếu tà ở biểu th́ giải biểu; nếu tà vào lư th́ tùy t́nh h́nh mà công hạ, thanh giải hoặc khu tà.

4/ “Lao giả ôn chi.”
Dịch nghĩa: Bệnh hư lao th́ dùng phép ôn bổ.
Giải thích: “Lao” là hư lao, hư tổn lâu ngày, chính khí suy yếu. Dùng phép ôn bổ để nâng đỡ khí huyết, âm dương, giúp cơ thể hồi phục.

5/ “Kết giả tán chi.”
Dịch nghĩa: Chứng uất kết th́ làm cho tiêu tán.
Giải thích: “Kết” là khí trệ, huyết ứ, đàm ngưng, thấp tụ làm cho khí cơ bế tắc. “Tán” là làm tan kết tụ, thông khí cơ, hóa đàm, hành huyết.

6/ “Lưu giả công chi.”
Dịch nghĩa: Tà khí lưu lại th́ dùng phép công để trục ra.
Giải thích: “Lưu” là tà khí hoặc vật chất bệnh lư đ́nh lưu trong cơ thể, như lưu ẩm, súc huyết, đ́nh thực, đại tiện bí kết. “Công” là dùng phép mạnh để công trục tà lưu.

7/ “Táo giả nhu chi.”
Dịch nghĩa: Chứng khô táo th́ làm cho nhuận.
Giải thích: “Táo” là tân dịch khô hao, cơ thể thiếu nhuận. “Nhu” là tư nhuận, dưỡng âm, sinh tân, làm mềm và làm ẩm phần khô ráo.

8/ “Cấp giả hoăn chi.”
Dịch nghĩa: Chứng co rút cấp bách th́ làm cho thư hoăn.
Giải thích: “Cấp” là cân mạch co rút, đau gấp, căng cứng. “Hoăn” là làm dịu, làm mềm, thư cân, ḥa hoăn sự co thắt.

9/ “Tán giả thu chi.”
Dịch nghĩa: Tinh khí tán mất th́ dùng phép thu liễm.
Giải thích: “Tán” là tinh khí hao tán không giữ được, như tự hăn, đạo hăn, hoạt tinh. “Thu” là thu liễm, cố sáp, giúp giữ lại tinh khí.

10/ “Tổn giả ôn chi.”
Dịch nghĩa: Hư tổn th́ dùng phép ôn dưỡng.
Giải thích: “Tổn” là chính khí bị tổn thương, cơ thể suy nhược. “Ôn” ở đây không chỉ là làm ấm, mà c̣n có ư nghĩa ôn dưỡng, bồi bổ, giúp phục hồi phần bị tổn hao.

11/ “Dật giả hành chi.”
Dịch nghĩa: Do an dật quá mức mà khí huyết tŕ trệ th́ làm cho vận hành.
Giải thích: “Dật” là quá nhàn rỗi, ít vận động, khiến khí huyết không lưu thông. “Hành” là làm cho khí huyết vận hành, thông kinh hoạt lạc.

12/ “Kinh giả b́nh chi.”
Dịch nghĩa: Kinh sợ th́ làm cho b́nh ổn.
Giải thích: “Kinh” là do sợ hăi, kinh động làm thần khí rối loạn. “B́nh” là trấn tĩnh, an thần, điều ḥa khí cơ để tâm thần yên ổn.

13/ “Thượng chi hạ chi.”
Dịch nghĩa: Có khi làm cho đi lên, có khi làm cho đi xuống.
Giải thích: Tùy vị trí và xu thế của bệnh mà dùng phép thăng hoặc giáng. Bệnh cần đưa lên th́ thăng đề, bệnh cần dẫn xuống th́ giáng hạ.

14/ “Ma chi dục chi.”
Dịch nghĩa: Có khi xoa bóp, có khi tắm gội.
Giải thích: Đây là các phép trị bên ngoài, dùng xoa bóp, tắm rửa, làm ấm, thông kinh hoạt lạc, giúp khí huyết lưu thông.

15/ “Bạc chi kiếp chi.”
Dịch nghĩa: Có khi dùng phép áp sát, có khi dùng phép công phá mạnh.
Giải thích: “Bạc” là tiếp cận, áp vào để tác động; “kiếp” là dùng phép mạnh để đoạt tà, phá thế bệnh cấp. Thường dùng khi tà khí mạnh, bệnh thế cần xử lư nhanh.

16/ “Khai chi phát chi.”
Dịch nghĩa: Có khi khai mở, có khi phát tán.
Giải thích: “Khai” là mở bế tắc; “phát” là phát tán tà khí ra ngoài. Dùng khi tà khí bị bế ở biểu hoặc khí cơ không thông.

17/ “Thích sự vi cố.”
Dịch nghĩa: Phải lấy sự thích hợp với bệnh t́nh cụ thể làm nguyên tắc.
Giải thích: Không có một phép trị cố định cho mọi bệnh. Điều quan trọng là tùy bệnh, tùy người, tùy thời, tùy thế mà lựa chọn cách trị thích hợp.

“Đế viết: Hà vị nghịch ṭng?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Thế nào gọi là nghịch và ṭng?
Giải thích: Đây là câu hỏi mở đầu để phân biệt hai phương thức trị liệu quan trọng: nghịch trị và ṭng trị.

“Kỳ Bá viết: Nghịch giả chính trị, ṭng giả phản trị.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá thưa: Nghịch là chính trị, ṭng là phản trị.
Giải thích: Nghịch trị là dùng phương pháp trái với bệnh tượng, như hàn dùng nhiệt, nhiệt dùng hàn. Ṭng trị là dùng phương pháp thuận theo giả tượng bên ngoài, nhưng mục đích là trị bản chất thật bên trong.

18/ “Ṭng thiểu ṭng đa, quan kỳ sự dă.”
Dịch nghĩa: Ṭng ít hay ṭng nhiều phải xem xét t́nh h́nh cụ thể của bệnh.
Giải thích: Phản trị không phải lúc nào cũng dùng giống nhau. Phải xem giả tượng nặng hay nhẹ, bản chất bệnh sâu hay nông, chính khí suy hay thịnh để quyết định mức độ vận dụng.

“Đế viết: Phản trị hà vị?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Phản trị là thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi rơ hơn về ṭng trị, tức phản trị, v́ đây là phép trị phức tạp, dễ nhầm nếu chỉ nh́n hiện tượng bên ngoài.

“Kỳ Bá viết: Nhiệt nhân nhiệt dụng, hàn nhân hàn dụng.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá thưa: Nhiệt th́ nhân theo nhiệt mà dùng; hàn th́ nhân theo hàn mà dùng.
Giải thích: Đây là phản trị. Ví dụ bệnh bên ngoài thấy nhiệt nhưng gốc là chân hàn, th́ dùng thuốc nhiệt để trị; bệnh bên ngoài thấy hàn nhưng gốc là chân nhiệt, th́ dùng thuốc hàn để trị.

19/ “Tắc nhân tắc dụng.”
Dịch nghĩa: Bế tắc th́ nhân theo bế tắc mà dùng.
Giải thích: Có những trường hợp biểu hiện như bế tắc nhưng gốc bệnh là hư, không thể công phá. Khi ấy phải dùng phép bổ, phép cố sáp để trị gốc, nhờ chính khí phục hồi mà bế tắc tự thông.

20/ “Thông nhân thông dụng.”
Dịch nghĩa: Thông lợi th́ nhân theo thông lợi mà dùng.
Giải thích: Có những bệnh biểu hiện như tiêu chảy, băng lậu, tiết ra không ngừng, nhưng gốc là thực tà tích trệ bên trong. Khi ấy có thể dùng phép thông, phép tả để trừ tà; tà đi rồi th́ hiện tượng thông lợi quá mức tự dừng.

21/ “Tất phục kỳ sở chủ, nhi tiên kỳ sở nhân.”
Dịch nghĩa: Nhất định phải khuất phục được chủ bệnh, và trước hết phải nắm rơ nguyên nhân gây bệnh.
Giải thích: Khi dùng phản trị, không được chỉ nh́n hiện tượng bên ngoài. Phải nhận ra cái ǵ là chủ yếu, nguyên nhân thật sự là ǵ, rồi mới dùng thuốc chính xác.

22/ “Kỳ thủy tắc đồng, kỳ chung tắc dị.”
Dịch nghĩa: Lúc đầu th́ có vẻ giống nhau, nhưng kết quả cuối cùng th́ khác nhau.
Giải thích: Phản trị lúc đầu có vẻ như thuận theo bệnh tượng, ví dụ nhiệt lại dùng nhiệt, hàn lại dùng hàn. Nhưng v́ nó nhắm đúng bản chất bệnh, nên cuối cùng lại đạt kết quả khác: bệnh được giải.

23/ “Khả sử phá tích.”
Dịch nghĩa: Có thể làm cho tích tụ bị phá.
Giải thích: Nếu dùng đúng phép, các khối tích tụ, đ́nh trệ bên trong có thể được phá bỏ.

“Khả sử hội kiên.”
Dịch nghĩa: Có thể làm cho khối cứng tan ră.
Giải thích: Những khối kiên cứng, kết tụ lâu ngày có thể được làm mềm, làm tan, không c̣n bế tắc.

“Khả sử khí ḥa.”
Dịch nghĩa: Có thể làm cho khí cơ điều ḥa.
Giải thích: Mục tiêu quan trọng của trị pháp là làm cho khí cơ thăng giáng xuất nhập trở lại b́nh thường.

“Khả sử tất dĩ.”
Dịch nghĩa: Có thể khiến bệnh nhất định khỏi.
Giải thích: Khi trị đúng bản chất bệnh và vận dụng trị pháp phù hợp, bệnh có thể được giải quyết tận gốc.

“Đế viết: Thiện. Khí điều nhi đắc giả, hà như?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Nếu bệnh do khí cơ mất điều ḥa mà mắc phải th́ nên làm thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế tiếp tục hỏi về bệnh do khí cơ rối loạn, tức khí không điều ḥa, thăng giáng thất thường, xuất nhập không thông.

“Kỳ Bá viết: Nghịch chi, ṭng chi.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá thưa: Có thể dùng nghịch trị, có thể dùng ṭng trị.
Giải thích: Tùy bệnh t́nh đơn giản hay phức tạp, có giả tượng hay không, mà chọn chính trị hoặc phản trị.

“Nghịch nhi ṭng chi.”
Dịch nghĩa: Trong nghịch trị có thể có ṭng trị.
Giải thích: Có khi phép chính trị là chủ, nhưng trong quá tŕnh điều trị vẫn cần thuận theo một phần biểu hiện bệnh để tránh làm bệnh thế phản ứng quá mạnh.

“Ṭng nhi nghịch chi.”
Dịch nghĩa: Trong ṭng trị có thể có nghịch trị.
Giải thích: Có khi phản trị là chủ, nhưng vẫn phải có phần đối trị để xử lư tà khí hoặc biểu hiện thật sự của bệnh.

“Sơ khí linh điều, tắc kỳ đạo dă.”
Dịch nghĩa: Làm cho khí cơ thông suốt và điều ḥa, đó chính là con đường trị liệu.
Giải thích: Dù dùng nghịch hay ṭng, mục tiêu cuối cùng vẫn là sơ thông khí cơ, làm cho khí huyết vận hành điều ḥa, âm dương trở lại b́nh ổn.

“Đế viết: Luận ngôn trị hàn dĩ nhiệt, trị nhiệt dĩ hàn.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Trong sách luận có nói trị hàn th́ dùng nhiệt, trị nhiệt th́ dùng hàn.
Giải thích: Đây là nhắc lại nguyên tắc chính trị thông thường, tức dùng phép đối lập để trị bệnh.

“Nhi phương sĩ bất năng phế thằng mặc nhi canh kỳ đạo dă.”
Dịch nghĩa: Nhưng các phương sĩ không thể bỏ khuôn phép cũ mà thay đổi phương pháp.
Giải thích: Ư nói người làm thuốc nếu chỉ cứng nhắc theo quy tắc thông thường, không biết linh hoạt biến thông, th́ gặp bệnh phức tạp sẽ không xử lư được.

“Hữu bệnh nhiệt giả, hàn chi nhi nhiệt.”
Dịch nghĩa: Có người bệnh nhiệt, dùng phép hàn để trị mà nhiệt vẫn c̣n.
Giải thích: Đây là trường hợp nh́n như nhiệt chứng, nhưng dùng hàn lương không khỏi. Nguyên nhân có thể là âm hư sinh nhiệt, không thể chỉ tiếp tục thanh nhiệt.

“Hữu bệnh hàn giả, nhiệt chi nhi hàn.”
Dịch nghĩa: Có người bệnh hàn, dùng phép nhiệt để trị mà hàn vẫn c̣n.
Giải thích: Đây là trường hợp nh́n như hàn chứng, nhưng dùng ôn nhiệt không khỏi. Nguyên nhân có thể là dương hư sâu, cần bổ dương chứ không chỉ tán hàn.

“Nhị giả giai tại, tân bệnh phục khởi, nại hà trị?”
Dịch nghĩa: Hai t́nh huống này đều tồn tại, bệnh mới lại phát sinh, vậy phải điều trị như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi cách xử lư khi dùng phép đối trị thông thường không hiệu quả, thậm chí bệnh t́nh c̣n biến hóa thêm.

“Kỳ Bá viết: Chư hàn chi nhi nhiệt giả thủ chi âm.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá thưa: Những bệnh đă dùng phép hàn mà nhiệt vẫn c̣n th́ phải trị vào phần âm.
Giải thích: Nếu dùng hàn lương mà nhiệt không lui, thường là v́ âm hư không chế được dương, sinh ra hư nhiệt. Khi ấy cần dưỡng âm, tư âm, làm cho âm phục th́ nhiệt tự lui.

26/ “Nhiệt chi nhi hàn giả thủ chi dương.”
Dịch nghĩa: Những bệnh đă dùng phép nhiệt mà hàn vẫn c̣n th́ phải trị vào phần dương.
Giải thích: Nếu dùng ôn nhiệt mà hàn không giải, thường là v́ dương khí hư suy, không đủ sức ôn ấm cơ thể. Khi ấy cần bổ dương, ôn dương, giúp dương khí phục hồi th́ hàn tự tan.

27/ “Sở vị cầu kỳ thuộc dă.”
Dịch nghĩa: Đó gọi là t́m đúng chỗ quy thuộc của bệnh.
Giải thích: Phải t́m xem bệnh thật sự thuộc âm hay thuộc dương, thuộc hư hay thuộc thực, thuộc bản hay thuộc tiêu. Không được chỉ nh́n biểu hiện hàn nhiệt bên ngoài.

Trích Tố Vấn, thiên Chí Chân Yếu Đại Luận.

Chú thích

1. “Hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi.”
Giải thích: Bệnh hàn dùng phép ôn nhiệt để điều trị; bệnh nhiệt dùng phép hàn lương để điều trị. Đây là nguyên tắc chính trị cơ bản.

2. “Vi giả nghịch chi, thậm giả ṭng chi.”
Giải thích: “Vi” là bệnh thế nhẹ nông, bệnh t́nh đơn thuần, không có giả tượng, ví dụ hàn bệnh hiện hàn tượng, nhiệt bệnh hiện nhiệt tượng. “Nghịch chi” là dùng thuốc có tính chất trái ngược với bệnh tượng để điều trị, như bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn. “Thậm” là bệnh thế nặng hơn, bệnh t́nh phức tạp, xuất hiện giả tượng, như chân hàn giả nhiệt, chân nhiệt giả hàn. “Ṭng chi” là thuận theo giả tượng bên ngoài mà điều trị, nhưng mục tiêu là xử lư bản chất thật bên trong.

3. “Kiên giả tước chi.”
Giải thích: “Kiên” là khối cứng chắc, hữu h́nh, như trưng hà, tích tụ. “Tước chi” là dùng phép tiêu ṃn, công phá, đẩy trục, ví dụ hóa ứ tiêu trưng.

4. “Khách giả trừ chi.”
Giải thích: “Khách” là bệnh chứng do ngoại tà xâm nhập. “Trừ chi” là dùng phương pháp khu trừ ngoại tà. Tà ở biểu th́ dùng giải biểu; tà ở lư th́ dùng công hạ hoặc phương pháp thích hợp khác.

5. “Lao giả ôn chi.”
Giải thích: “Lao” là các bệnh chứng hư lao, hư tổn. “Ôn chi” là dùng phép ôn bổ để điều trị, giúp phục hồi chính khí.

6. “Kết giả tán chi.”
Giải thích: “Kết” là các bệnh chứng do khí trệ, huyết ứ, đàm ngưng v.v. làm tà khí uất kết. “Tán chi” là dùng phép tiêu tán để làm tan kết tụ.

7. “Lưu giả công chi.”
Giải thích: “Lưu” là các bệnh chứng như lưu ẩm, súc huyết, đ́nh thực, đại tiện bế kết. “Công chi” là dùng phép công trục để loại bỏ tà khí lưu lại.

8. “Táo giả nhu chi.”
Giải thích: “Táo” là bệnh chứng do tân dịch khô ráo. “Nhu chi” là dùng phép tư nhuận, cứu táo để điều trị.

9. “Cấp giả hoăn chi.”
Giải thích: “Cấp” là bệnh chứng cân mạch co rút, câu cấp, co quắp. “Hoăn chi” là dùng phép thư hoăn để làm mềm cân mạch, giảm co rút.

10. “Tán giả thu chi.”
Giải thích: “Tán” là bệnh chứng tinh khí hao tán, như tự hăn, đạo hăn, hoạt tinh. “Thu chi” là dùng phép thu liễm, cố sáp để giữ lại tinh khí, ngăn sự hao tán.

11. “Tổn giả ôn chi.”
Giải thích: “Tổn” chỉ các bệnh chứng thuộc loại hao tổn, suy yếu, hư nhược. “Ôn chi” là dùng phép ôn bổ để điều trị, nhằm làm ấm, bồi bổ và phục hồi phần chính khí bị tổn thương.

12. “Dật giả hành chi.”
Giải thích: “Dật” chỉ các bệnh chứng thuộc loại rối loạn vận động như nuy chứng, tư chứng, bại liệt v.v. “Hành chi” là dùng phép hành khí hoạt huyết để điều trị, giúp khí huyết vận hành, kinh lạc thông suốt, vận động được phục hồi.

13. “Kinh giả b́nh chi.”
Giải thích: “Kinh” chỉ các bệnh chứng như kinh quư, hồi hộp, bất an. “B́nh chi” là dùng phép trấn kinh an thần để điều trị, làm cho tâm thần yên ổn, khí cơ b́nh ḥa.

14. “Thượng chi hạ chi.”
Giải thích: “Thượng chi” là khi bệnh tà ở phần trên th́ dùng phương pháp làm cho bệnh tà vượt ra phía trên, như phép dũng thổ. “Hạ chi” là khi bệnh tà ở phần dưới th́ dùng phương pháp làm cho bệnh tà đi ra theo đường dưới, như phép công hạ, lợi niệu.

15. “Ma chi dục chi.”
Giải thích: Chỉ các phương pháp như xoa bóp và tắm thuốc. Đây là những phép trị bên ngoài, có tác dụng thông kinh hoạt lạc, điều ḥa khí huyết, làm ấm hoặc làm thông vùng bệnh.

16. “Bạc chi kiếp chi.”
Giải thích: “Bạc chi” là dùng thuốc tác động ăn ṃn hoặc tiêu phá tại chỗ bệnh, ví dụ dùng cao dán ngoài để làm tiêu các vật tăng sinh. “Kiếp chi” là dùng thuốc mạnh, tác dụng mănh liệt để đoạt trừ bệnh tà.

17. “Khai chi phát chi.”
Giải thích: Chỉ phép khai tiết và phát tán. “Khai” là mở sự bế tắc; “phát” là phát tán tà khí ra ngoài, thường dùng khi tà khí bị uất bế hoặc c̣n ở phần biểu.

18. “Nghịch giả chính trị, ṭng giả phản trị.”
Giải thích: Phương pháp dùng thuốc trái ngược với bệnh tượng gọi là nghịch trị, như hàn th́ dùng nhiệt, nhiệt th́ dùng hàn. Đây là phép thông thường nên gọi là chính trị. Phương pháp dùng thuốc thuận theo bệnh tượng gọi là ṭng trị, như hàn nhân hàn dụng, nhiệt nhân nhiệt dụng. Đây là phương pháp đặc biệt nên gọi là phản trị.

19. “Nhiệt nhân nhiệt dụng, hàn nhân hàn dụng.”
Giải thích: Nguyên văn vốn chép là “nhiệt nhân hàn dụng, hàn nhân nhiệt nhân”, nay căn cứ theo lệ văn phía sau là “tắc nhân tắc dụng, thông nhân thông dụng” mà sửa lại. Ư nghĩa là dùng thuốc nhiệt để điều trị chứng chân hàn giả nhiệt, dùng thuốc hàn để điều trị chứng chân nhiệt giả hàn.

20. “Tắc nhân tắc dụng.”
Giải thích: Nghĩa là dùng thuốc bổ ích để điều trị chứng bĩ tắc, hàn trệ, không thông do chính khí hư gây nên. Bề ngoài tuy có vẻ tắc, nhưng gốc là hư, nên không thể công phá bừa băi.

21. “Thông nhân thông dụng.”
Giải thích: Nghĩa là dùng thuốc thông lợi để điều trị chứng hạ lợi do thực kết. Tuy biểu hiện là đi ngoài, thông tiết, nhưng gốc là thực tà kết ở trong, nên phải thông để trừ tà, tà đi th́ lợi tự dừng.

22. “Tất phục kỳ sở chủ, nhi tiên kỳ sở nhân.”
Giải thích: “Phục” là chế phục. “Chủ” chỉ bản chất của bệnh. “Nhân” là nguyên nhân gây bệnh. Cả câu có nghĩa là: muốn điều trị phải nắm được gốc bệnh để chế phục nó, trước hết phải làm rơ nguyên nhân phát sinh bệnh.

23. “Kỳ thủy tắc đồng, kỳ chung tắc dị.”
Giải thích: Dùng thuốc nhiệt để trị giả nhiệt, dùng thuốc hàn để trị giả hàn, lúc đầu dược tính có vẻ giống với giả tượng bên ngoài; đến khi giả tượng mất đi, chân tượng hiện ra, th́ dược tính lại đối lập với bệnh tượng thật. V́ vậy ban đầu có vẻ giống, nhưng kết quả cuối cùng lại khác.

24. “Thằng mặc.”
Giải thích: Nghĩa là chuẩn tắc, khuôn phép, nguyên tắc cố định. Trong văn cảnh này chỉ các quy tắc trị liệu thông thường mà thầy thuốc thường dựa vào.

25. “Hàn chi nhi nhiệt giả thủ chi âm.”
Giải thích: Dùng thuốc hàn để trị bệnh nhiệt mà nhiệt thế không giảm, đó là âm hư phát nhiệt, nên dùng phép bổ âm, tư âm để điều trị.

26. “Nhiệt chi nhi hàn giả thủ chi dương.”
Giải thích: Dùng thuốc nhiệt để trị bệnh hàn mà hàn tượng không giảm, đó là dương hư sinh hàn, nên dùng phép bổ dương, ôn dương để điều trị.

27. “Cầu kỳ thuộc.”
Giải thích: Nghĩa là suy xét bản chất của bệnh rốt cuộc thuộc về âm hay thuộc về dương. Không chỉ nh́n hàn nhiệt bên ngoài mà phải t́m đúng nơi quy thuộc thật sự của bệnh.
Phân tích

Tiết này tập trung thảo luận lư luận và ứng dụng của phép nghịch, phép ṭng trong trị pháp, cùng phương pháp điều trị âm hư và dương hư.

“Vi giả nghịch chi.”
Giải thích: Bệnh nhẹ, bệnh thế c̣n nông, biểu hiện đơn thuần, không có giả tượng th́ dùng phép nghịch trị, tức dùng phương pháp trái với bệnh tượng để trị.

“Nghịch giả chính trị.”
Giải thích: Nghịch trị là chính trị, tức phương pháp điều trị thông thường. Thuốc được chọn có tính chất trái ngược với tính chất bệnh: hàn th́ dùng nhiệt, nhiệt th́ dùng hàn.

Hai câu này nói về đối tượng áp dụng và phương pháp của chính trị pháp. Chính trị pháp c̣n gọi là nghịch trị pháp, là phép trị đi ngược lại với biểu hiện của bệnh, tức thuộc tính của thuốc được chọn đối lập với tính chất của bệnh. Phép này thích hợp với bệnh t́nh nhẹ nông, đơn thuần, không có giả tượng, tức là điều gọi là:

“Vi giả nghịch chi.”
Giải thích: Khi bệnh c̣n nhẹ, biểu hiện bên ngoài phù hợp với bản chất bên trong, th́ dùng phép đối trị thông thường là đủ.

Ví dụ:

“Hàn giả nhiệt chi.”
Giải thích: Bệnh hàn th́ dùng phép nhiệt để làm ấm, tán hàn.

“Nhiệt giả hàn chi.”
Giải thích: Bệnh nhiệt th́ dùng phép hàn để thanh nhiệt, làm mát.

“Kiên giả tước chi.”
Giải thích: Có khối cứng, tích tụ th́ dùng phép tiêu ṃn, công phá dần.

“Khách giả trừ chi.”
Giải thích: Ngoại tà xâm nhập th́ dùng phép khu tà để trừ bỏ.

“Lao giả ôn chi.”
Giải thích: Hư lao, hư tổn th́ dùng phép ôn bổ để phục hồi chính khí.

“Kết giả tán chi.”
Giải thích: Uất kết, đàm ngưng, huyết ứ th́ dùng phép tiêu tán để làm tan kết.

“Lưu giả công chi.”
Giải thích: Tà khí lưu lại, đ́nh ẩm, súc huyết, đ́nh thực th́ dùng phép công trục.

“Táo giả nhu chi.”
Giải thích: Khô táo, tân dịch hao tổn th́ dùng phép tư nhuận.

“Cấp giả hoăn chi.”
Giải thích: Cân mạch co rút, cấp bách th́ dùng phép thư hoăn.

“Tán giả thu chi.”
Giải thích: Tinh khí hao tán th́ dùng phép thu liễm, cố sáp.

“Tổn giả ôn chi.”
Giải thích: Hư tổn suy yếu th́ dùng phép ôn dưỡng, ôn bổ.

“Dật giả hành chi.”
Giải thích: Vận động tŕ trệ, nuy tư, bại liệt th́ dùng phép hành khí hoạt huyết.

“Kinh giả b́nh chi.”
Giải thích: Kinh sợ, hồi hộp, bất an th́ dùng phép trấn kinh an thần.

Khi vận dụng những phép này, phải nắm vững nguyên tắc:

“Thích sự vi cố.”
Giải thích: Lấy sự phù hợp với bệnh t́nh cụ thể làm căn cứ. Không được máy móc dùng một phép cho mọi bệnh, mà phải tùy người, tùy bệnh, tùy thời, tùy thế.

“Thậm giả ṭng chi.”
Giải thích: Bệnh nặng, bệnh t́nh phức tạp, có giả tượng th́ dùng phép ṭng trị, tức thuận theo giả tượng bên ngoài mà trị bản chất bên trong.

“Ṭng giả phản trị.”
Giải thích: Ṭng trị chính là phản trị. Đây là phép trị đặc biệt, không dùng theo cách đối trị trực tiếp với biểu hiện bên ngoài, mà dùng thuốc thuận theo giả tượng để xử lư chân tượng.

Hai câu này nói về đối tượng áp dụng và phương pháp của phản trị pháp. Phản trị pháp c̣n gọi là ṭng trị pháp, là phép trị thuận theo giả tượng của bệnh. Phép này thích hợp với bệnh thế tương đối nặng, bệnh t́nh phức tạp và xuất hiện giả tượng, như:

“Hàn nhân hàn dụng.”
Giải thích: Bệnh biểu hiện hàn nhưng bản chất là chân nhiệt giả hàn, có thể dùng thuốc hàn để trị chân nhiệt bên trong.

“Nhiệt nhân nhiệt dụng.”
Giải thích: Bệnh biểu hiện nhiệt nhưng bản chất là chân hàn giả nhiệt, có thể dùng thuốc nhiệt để trị chân hàn bên trong.

“Tắc nhân tắc dụng.”
Giải thích: Bệnh biểu hiện bế tắc nhưng gốc là hư, dùng phép bổ ích, cố sáp để trị gốc, nhờ đó bế tắc tự thông.

“Thông nhân thông dụng.”
Giải thích: Bệnh biểu hiện thông lợi quá mức nhưng gốc là thực tà kết tụ, dùng phép thông lợi để trừ thực tà; tà đi th́ thông lợi quá mức tự ngừng.

Tuy phản trị pháp là dùng thuốc thuận theo bệnh tượng bên ngoài, nhưng xét về bản chất, dược tính vẫn đối lập với tính chất thật của bệnh, cho nên không khác với chính trị pháp. Khi vận dụng cần chú ư:

“Tất phục kỳ sở chủ, nhi tiên kỳ sở nhân.”
Giải thích: Phải nắm được bản chất chủ yếu của bệnh và chế phục nó; trước hết phải t́m rơ nguyên nhân gây bệnh. Không được chỉ dựa vào hiện tượng bên ngoài.

“Ṭng đa ṭng thiểu, quan kỳ sự dă.”
Giải thích: Dùng phép ṭng nhiều hay ít phải xem xét bệnh t́nh cụ thể. Giả tượng nặng th́ mức độ ṭng trị có thể nhiều hơn; giả tượng nhẹ th́ ṭng trị ít hơn, hoặc phối hợp với chính trị.

Nói cách khác, trước hết phải t́m nguyên nhân bệnh, sau đó điều trị gốc bệnh. C̣n dùng thuốc thuận theo giả tượng nhiều hay ít th́ tùy bệnh t́nh mà quyết định. Phép này thích hợp với các bệnh phức tạp có giả tượng, trong đó thuộc tính của thuốc được chọn phù hợp với bệnh tượng giả bên ngoài.

Phép nghịch và phép ṭng trong trị pháp là bộ phận quan trọng trong lư luận trị pháp của Nội Kinh. Khi bệnh t́nh đơn thuần, thuộc tính của bệnh tượng phù hợp với bản chất bệnh. Khi bệnh phức tạp và xuất hiện giả tượng, bệnh tượng bên ngoài có thể trái ngược với bản chất bên trong. Để thích ứng với hai t́nh huống khác nhau này, Nội Kinh đă đặt ra hai phương pháp là chính trị và phản trị.

Đúng như Trương Giới Tân trong Loại Kinh, phần Luận Trị Loại đă nói:

“Trị hữu nghịch ṭng giả, dĩ bệnh hữu vi thậm.”
Giải thích: Sở dĩ điều trị có phép nghịch và phép ṭng là v́ bệnh có nhẹ và nặng khác nhau.

“Bệnh hữu vi thậm giả, dĩ chứng hữu chân giả dă.”
Giải thích: Sở dĩ bệnh có nhẹ nặng khác nhau là v́ chứng trạng có thật và giả. Có khi biểu hiện bên ngoài đúng với bản chất, có khi lại trái ngược với bản chất.

“Hàn nhiệt hữu chân giả, hư thực diệc hữu chân giả.”
Giải thích: Hàn nhiệt có chân hàn, giả hàn, chân nhiệt, giả nhiệt; hư thực cũng có chân hư, giả hư, chân thực, giả thực. Lâm sàng không thể chỉ nh́n biểu hiện bên ngoài.

“Chân giả chính trị, tri chi vô nan.”
Giải thích: Nếu là chứng thật, biểu hiện phù hợp với bản chất, th́ dùng chính trị; điều này không khó nhận biết.

“Giả giả phản trị, năi vi nan nhĩ.”
Giải thích: Nếu là giả tượng, biểu hiện bên ngoài trái với bản chất bên trong, th́ phải dùng phản trị. Đây mới là điều khó.

Ông liệt kê các biểu hiện như giả hàn là:

“Dương chứng tự âm, hỏa cực tự thủy.”
Giải thích: Chứng thuộc dương nhưng biểu hiện giống âm; hỏa cực thịnh lại có thể hiện ra giống thủy, tức chân nhiệt bên trong nhưng bên ngoài lại có vẻ hàn.

Giả nhiệt là:

“Âm chứng tự dương, thủy cực tự hỏa.”
Giải thích: Chứng thuộc âm nhưng biểu hiện giống dương; thủy hàn cực thịnh lại có thể hiện ra giống hỏa, tức chân hàn bên trong nhưng bên ngoài lại có vẻ nhiệt.

Giả thực là:

“Chí hư hữu thịnh hậu.”
Giải thích: Cơ thể cực hư nhưng lại có biểu hiện giống như thực thịnh, ví dụ bụng trướng, khí nghịch, bế tắc do hư.

Giả hư là:

“Đại thực hữu luy trạng.”
Giải thích: Bệnh rất thực nhưng lại có h́nh trạng giống hư nhược, ví dụ tà thực bế trở làm chính khí không thông đạt ra ngoài, khiến người bệnh có vẻ suy yếu.

Ông c̣n nói:

“Kiến hữu bất đích, tắc tử sinh hệ chi, thử kỳ sở dĩ nghi thận dă.”
Giải thích: Nếu nhận xét không chính xác, th́ sinh tử của người bệnh có thể bị ràng buộc vào sai lầm ấy. V́ vậy, khi phân biệt thật giả, hư thực, hàn nhiệt, thầy thuốc phải hết sức thận trọng.

Khi thầy thuốc gặp chứng trạng chân giả xen lẫn, nhất định phải vừa cẩn thận hành sự, vừa biết quyết đoán đúng thời cơ.

“Trị hàn dĩ nhiệt, trị nhiệt dĩ hàn.”
Giải thích: Trị hàn dùng nhiệt, trị nhiệt dùng hàn. Đây là phép thường dùng để điều trị thực hàn và thực nhiệt.

Nhưng đối với hư hàn chứng do dương khí bất túc, không đủ để phối hợp với âm; hoặc hư nhiệt chứng do âm khí bất túc, không đủ để chế ước dương, nếu chỉ điều trị phần âm thịnh hoặc dương cang tương đối thiên thịnh bên ngoài, th́ sẽ càng làm tổn thương âm dương vốn đă bất túc, từ đó dẫn đến âm càng thịnh hoặc dương càng cang. V́ vậy, bắt buộc phải bổ dương để phối âm, hoặc tư âm để chế dương. Đó chính là điều Vương Băng gọi là:

“Ích hỏa chi nguyên, dĩ tiêu âm ế.”
Giải thích: Bổ sung nguồn của hỏa, tức ôn bổ dương khí, để tiêu trừ phần âm hàn che lấp, u ám. Câu này chỉ phép bổ dương để trị hư hàn.

“Tráng thủy chi chủ, dĩ chế dương quang.”
Giải thích: Làm mạnh chủ của thủy, tức tư bổ thận âm, dưỡng âm dịch, để chế ước dương nhiệt quá bốc. Câu này chỉ phép tư âm để trị hư nhiệt.

Cuối cùng đạt đến trạng thái:

“Âm b́nh dương bí.”
Giải thích: Âm được b́nh ḥa, dương được kín giữ, không quá thịnh, không quá suy. Đây là trạng thái âm dương điều ḥa, cơ thể khỏe mạnh, bệnh tật được giải.

Pháp tắc bổ dương để ức chế âm hàn, tư âm để chế ước dương nhiệt này là biến pháp trong điều trị hàn nhiệt chứng, đồng thời cũng đặt ra khuôn mẫu cho đời sau trong việc nhận biết và điều trị hư hàn chứng, hư nhiệt chứng.

Năm phương có t́nh h́nh khác nhau và phương pháp điều trị tương ứng

Nguyên văn chuyển Hán Việt, dịch nghĩa và giải thích

“Hoàng Đế vấn viết: Y chi trị bệnh dă, nhất bệnh nhi trị các bất đồng, giai dũ, hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Thầy thuốc trị bệnh, cùng một bệnh mà cách trị mỗi nơi lại khác nhau, nhưng đều khỏi, là v́ sao?
Giải thích: Hoàng Đế nêu vấn đề về sự khác biệt trong phương pháp điều trị. Cùng một loại bệnh nhưng do địa phương, khí hậu, thể chất, ăn uống, sinh hoạt khác nhau nên cách trị có thể không giống nhau mà vẫn đạt hiệu quả.

“Kỳ Bá đối viết: Địa thế sử nhiên dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Đó là do địa thế khiến nên như vậy.
Giải thích: Ư nói môi trường địa lư, khí hậu, sản vật, tập quán ăn uống và sinh hoạt của từng vùng ảnh hưởng đến thể chất con người và loại bệnh thường gặp, từ đó quyết định phương pháp điều trị khác nhau.

“Cố Đông phương chi vực, thiên địa chi sở thủy sinh dă.”
Dịch nghĩa: Cho nên vùng phương Đông là nơi khí trời đất bắt đầu sinh phát.
Giải thích: Phương Đông ứng với sinh phát, mùa xuân, mộc khí. Đặc điểm tự nhiên và khí hóa của vùng này khiến con người dễ sinh một số bệnh tương ứng.

“Ngư diêm chi địa, hải tân bàng thủy.”
Dịch nghĩa: Đó là vùng cá muối, ven biển gần nước.
Giải thích: Phương Đông trong đoạn này chỉ vùng gần biển, nhiều cá và muối, cư dân sống dựa vào thủy sản và môi trường ẩm thấp ven biển.

“Kỳ dân thực ngư nhi thị hàm, giai an kỳ xứ, mỹ kỳ thực.”
Dịch nghĩa: Người dân nơi đó ăn cá và thích vị mặn, đều yên ổn với nơi ở của ḿnh, ưa thích thức ăn của ḿnh.
Giải thích: Tập quán ăn cá và ăn mặn lâu ngày ảnh hưởng đến khí huyết, tạng phủ và thể chất của cư dân vùng này.

“Ngư giả sử nhân nhiệt trung.”
Dịch nghĩa: Cá làm cho người ta sinh nhiệt ở bên trong.
Giải thích: Ăn nhiều cá có thể làm nội nhiệt tăng lên; theo quan niệm cổ, cá thuộc loại thức ăn dễ sinh nhiệt, sinh thấp, sinh độc.

“Diêm giả thắng huyết.”
Dịch nghĩa: Muối có thể thắng huyết.
Giải thích: “Thắng huyết” có ư chỉ ăn mặn quá mức làm tổn thương huyết, ảnh hưởng huyết mạch, khiến huyết không được điều ḥa nhuận trạch.

“Cố kỳ dân giai hắc sắc sơ lư.”
Dịch nghĩa: V́ vậy người dân nơi đó phần nhiều sắc da sẫm đen, thớ da sơ hở.
Giải thích: Do ăn mặn, ăn cá, sống ở vùng ven biển ẩm thấp, thể chất và sắc da có đặc điểm riêng; “sơ lư” là tấu lư thưa, dễ bị tà khí xâm nhập hoặc dễ sinh bệnh ngoài da.

“Kỳ bệnh giai vi ung dương.”
Dịch nghĩa: Bệnh của họ phần nhiều là ung nhọt, lở loét.
Giải thích: Do nội nhiệt, thấp độc, huyết bị ảnh hưởng, tấu lư sơ hở nên dễ phát sinh các bệnh ung thũng, nhọt độc, sang dương.

“Kỳ trị nghi biếm thạch.”
Dịch nghĩa: Điều trị thích hợp dùng biếm thạch.
Giải thích: Biếm thạch là phương pháp dùng đá nhọn hoặc dụng cụ tương tự để chích, rạch, dẫn lưu, giải độc, tiêu ung, thích hợp với các bệnh ung nhọt, mủ máu.

“Cố biếm thạch giả, diệc ṭng Đông phương lai.”
Dịch nghĩa: V́ vậy phép biếm thạch cũng từ phương Đông mà ra.
Giải thích: Do phương Đông thường gặp các bệnh ung dương nên phương pháp biếm thạch được h́nh thành và phát triển từ nhu cầu trị liệu của vùng này.

“Tây phương giả, kim ngọc chi vực, sa thạch chi xứ.”
Dịch nghĩa: Phương Tây là vùng kim ngọc, nơi nhiều cát đá.
Giải thích: Phương Tây có đặc điểm khô ráo, cứng rắn, nhiều núi đá, khoáng vật; môi trường này ảnh hưởng đến thể chất và bệnh tật của cư dân.

“Thiên địa chi sở thu dẫn dă.”
Dịch nghĩa: Là nơi khí trời đất thu liễm và dẫn vào trong.
Giải thích: Phương Tây ứng với thu, kim khí, tính thu liễm. Khí hậu và địa thế khiến khí cơ có xu hướng thu vào, khô ráo, cứng chắc.

“Kỳ dân lăng cư nhi đa phong.”
Dịch nghĩa: Người dân nơi đó sống ở vùng g̣ cao, nhiều gió.
Giải thích: Sống nơi cao, nhiều gió, khí hậu khô và mạnh, khiến h́nh thể và tấu lư của cư dân thích ứng với ngoại tà.

“Thủy thổ cương cường.”
Dịch nghĩa: Thủy thổ nơi đó cứng mạnh.
Giải thích: Địa chất, khí hậu, nguồn nước và đất đai đều có tính khô cứng, làm h́nh thành thể chất cường kiện.

“Kỳ dân bất y nhi hạt tiến.”
Dịch nghĩa: Người dân nơi đó không mặc y phục mềm đẹp mà mặc đồ thô bằng lông gai.
Giải thích: Chỉ lối sống thô giản, chịu được gió lạnh, không quá chú trọng che phủ mềm mại, cơ thể quen với môi trường khắc nghiệt.

“Kỳ dân hoa thực nhi chi ph́.”
Dịch nghĩa: Người dân nơi đó ăn thức ăn ngon béo, nhiều chất béo.
Giải thích: “Hoa thực” là thức ăn tinh mỹ, béo bổ. Ăn nhiều chất béo khiến bệnh dễ phát sinh bên trong.

“Cố tà bất năng thương kỳ h́nh thể.”
Dịch nghĩa: V́ vậy tà khí khó làm tổn thương h́nh thể của họ.
Giải thích: Do thể chất cường kiện, tấu lư chắc, sống quen với gió lạnh, ngoại tà khó xâm phạm phần ngoài.

“Kỳ bệnh sinh ư nội.”
Dịch nghĩa: Bệnh của họ thường sinh ra ở bên trong.
Giải thích: V́ ngoại tà khó xâm nhập, nhưng ăn uống béo bổ, khí cơ bên trong dễ tích trệ, nên bệnh thường từ nội thương mà phát.

“Kỳ trị nghi độc dược.”
Dịch nghĩa: Điều trị thích hợp dùng độc dược.
Giải thích: “Độc dược” trong cổ văn không chỉ là thuốc độc theo nghĩa nguy hiểm, mà chỉ các thuốc có dược tính mạnh, có khả năng công tà, phá tích, điều trị bệnh nội sinh tương đối sâu.

“Cố độc dược giả, diệc ṭng Tây phương lai.”
Dịch nghĩa: V́ vậy phép dùng độc dược cũng từ phương Tây mà ra.
Giải thích: Do phương Tây nhiều bệnh nội sinh, tích trệ bên trong, cần thuốc có sức mạnh để công trị, nên phương pháp dùng độc dược h́nh thành từ đó.

“Bắc phương giả, thiên địa sở bế tàng chi vực dă.”
Dịch nghĩa: Phương Bắc là vùng trời đất bế tàng.
Giải thích: Phương Bắc ứng với mùa đông, thủy khí, hàn khí, tính bế tàng. Khí hậu lạnh làm dương khí thu vào trong, dễ sinh hàn chứng.

“Kỳ địa cao lăng cư, phong hàn băng liệt.”
Dịch nghĩa: Đất nơi đó cao, người dân sống ở g̣ cao, gió lạnh, băng giá rét buốt.
Giải thích: Môi trường phương Bắc lạnh khắc nghiệt, hàn tà thịnh, dễ làm tổn thương dương khí và gây hàn tích.

“Kỳ dân lạc dă xứ nhi nhũ thực.”
Dịch nghĩa: Người dân nơi đó thích sống ngoài đồng hoang và ăn uống bằng sữa.
Giải thích: Chỉ tập quán du mục, sống ngoài trời, ăn nhiều sữa và sản phẩm từ động vật, làm thể chất và bệnh tật có đặc điểm riêng.

“Tạng hàn sinh măn bệnh.”
Dịch nghĩa: Hàn khí tàng ở trong làm sinh bệnh đầy trướng.
Giải thích: Hàn tà vào tạng phủ, dương khí bị trở ngại, khí cơ không vận hóa, nên dễ sinh đầy trướng, hàn tích, đau lạnh.

“Kỳ trị nghi cứu nhược.”
Dịch nghĩa: Điều trị thích hợp dùng phép cứu bằng ngải.
Giải thích: Cứu pháp có tác dụng ôn kinh tán hàn, trợ dương thông mạch, rất thích hợp với bệnh do hàn tà, dương khí suy, khí cơ bế tắc.

“Cố cứu nhược giả, diệc ṭng Bắc phương lai.”
Dịch nghĩa: V́ vậy phép cứu bằng ngải cũng từ phương Bắc mà ra.
Giải thích: Do phương Bắc nhiều hàn chứng, cần phương pháp ôn ấm mạnh, nên cứu pháp được xem là bắt nguồn từ nhu cầu trị bệnh của vùng này.

“Nam phương giả, thiên địa sở trưởng dưỡng, dương chi sở thịnh xứ dă.”
Dịch nghĩa: Phương Nam là nơi trời đất nuôi lớn vạn vật, là nơi dương khí thịnh.
Giải thích: Phương Nam ứng với mùa hạ, hỏa khí, dương khí sung thịnh, vạn vật sinh trưởng mạnh.

“Kỳ địa hạ.”
Dịch nghĩa: Đất nơi đó thấp.
Giải thích: Địa thế thấp dễ tụ thủy thấp, khí hậu ẩm nóng.

“Thủy thổ nhược, vụ lộ chi sở tụ dă.”
Dịch nghĩa: Thủy thổ mềm yếu, là nơi sương mù và hơi móc tụ lại.
Giải thích: Phương Nam nóng ẩm, nhiều thấp khí, sương mù, hơi nước, dễ ảnh hưởng đến kinh lạc và cơ nhục.

“Kỳ dân thị toan nhi thực phụ.”
Dịch nghĩa: Người dân nơi đó thích vị chua và ăn thức ăn lên men.
Giải thích: Tập quán ăn chua, ăn đồ lên men kết hợp với khí hậu nóng ẩm làm ảnh hưởng đến cân mạch, tấu lư và khí huyết.

“Cố kỳ dân giai trí lư nhi xích sắc.”
Dịch nghĩa: V́ vậy người dân nơi đó phần nhiều thớ da kín chắc và sắc mặt đỏ.
Giải thích: Dương khí thịnh làm sắc đỏ; khí hậu và ăn uống khiến tấu lư có đặc điểm riêng, dễ phát sinh bệnh về co rút, tê đau.

“Kỳ bệnh loan tư.”
Dịch nghĩa: Bệnh của họ thường là co rút và tư chứng.
Giải thích: “Loan” là co rút gân mạch; “tư” là đau tê, bế trở kinh lạc. Do thấp nhiệt, khí huyết không thông, cân mạch bị ảnh hưởng nên dễ sinh các bệnh này.

“Kỳ trị nghi vi châm.”
Dịch nghĩa: Điều trị thích hợp dùng vi châm.
Giải thích: Vi châm là phép châm kim nhỏ, có tác dụng thông kinh hoạt lạc, điều ḥa khí huyết, thích hợp với chứng co rút, tư trở.

“Cố cửu châm giả, diệc ṭng Nam phương lai.”
Dịch nghĩa: V́ vậy phép cửu châm cũng từ phương Nam mà ra.
Giải thích: Do phương Nam nhiều bệnh kinh lạc, cân mạch, tư chứng, nên châm pháp được xem là phát triển từ nhu cầu trị liệu của vùng này.

“Trung ương giả, kỳ địa b́nh dĩ thấp.”
Dịch nghĩa: Vùng trung ương th́ đất bằng phẳng mà ẩm thấp.
Giải thích: Trung ương ứng với thổ, có đặc điểm bằng phẳng, thấp, là nơi quy tụ và sinh hóa.

“Thiên địa sở dĩ sinh vạn vật dă chúng.”
Dịch nghĩa: Là nơi trời đất sinh ra muôn vật rất phong phú.
Giải thích: Trung ương đất đai ph́ nhiêu, sản vật nhiều, thức ăn đa dạng, sinh hoạt tương đối ổn định.

“Kỳ dân thực tạp nhi bất lao.”
Dịch nghĩa: Người dân nơi đó ăn uống tạp nhiều thứ mà ít lao động.
Giải thích: Ăn nhiều, ăn tạp, ít vận động dễ làm tỳ vị tổn thương, thấp trệ nội sinh, khí huyết vận hành kém.

“Cố kỳ bệnh đa nuy quyết hàn nhiệt.”
Dịch nghĩa: V́ vậy bệnh của họ phần nhiều là nuy chứng, quyết chứng, hàn nhiệt.
Giải thích: “Nuy” là tay chân mềm yếu, teo yếu, vận động kém; “quyết” là khí huyết nghịch loạn, tay chân lạnh hoặc ngất quyết; “hàn nhiệt” là hàn nhiệt xen lẫn. Những bệnh này liên quan đến tỳ vị, khí huyết, vận động và thấp trệ.

“Kỳ trị nghi đạo dẫn án kiểu.”
Dịch nghĩa: Điều trị thích hợp dùng đạo dẫn và án kiểu.
Giải thích: “Đạo dẫn” là các phép vận động, hô hấp, dẫn khí để thông kinh hoạt lạc. “Án kiểu” là xoa bóp, day ấn, kéo duỗi để điều ḥa khí huyết, thích hợp với bệnh do ăn nhiều, ít vận động, khí huyết không thông.

“Cố đạo dẫn án kiểu giả, diệc ṭng Trung ương xuất dă.”
Dịch nghĩa: V́ vậy phép đạo dẫn và án kiểu cũng từ vùng trung ương mà ra.
Giải thích: Do cư dân trung ương dễ mắc bệnh do ít vận động, khí huyết tŕ trệ, nên các phương pháp vận động trị liệu và xoa bóp được h́nh thành tương ứng.

“Cố thánh nhân tạp hợp dĩ trị, các đắc kỳ sở nghi.”
Dịch nghĩa: V́ vậy bậc thánh nhân phối hợp nhiều phương pháp để điều trị, khiến mỗi phương pháp đều được dùng đúng chỗ thích hợp.
Giải thích: Người thầy thuốc giỏi không cố chấp một phép, mà biết tổng hợp các phương pháp, căn cứ vùng miền, thể chất, bệnh t́nh để chọn cách trị thích hợp.

“Cố trị sở dĩ dị nhi bệnh giai dũ giả, đắc bệnh chi t́nh, tri trị chi đại thể dă.”
Dịch nghĩa: V́ vậy, sở dĩ cách trị khác nhau mà bệnh đều khỏi là v́ đă nắm được t́nh h́nh thực tế của bệnh và biết đại thể của phép trị.
Giải thích: Cùng một bệnh danh nhưng người bệnh, địa phương, thể chất, nguyên nhân và bệnh cơ khác nhau th́ cách trị cũng khác. Điều quan trọng là hiểu đúng bệnh t́nh và nắm vững nguyên tắc lớn của điều trị.

Trích Tố Vấn, thiên Dị Pháp Phương Nghi Luận.

Chú thích

1. “Trị các bất đồng.”
Giải thích: Chỉ các phương pháp điều trị khác nhau, như phía dưới nói đến biếm thạch, độc dược, cứu ngải, cửu châm, đạo dẫn án kiểu v.v.

2. “Địa thế.”
Giải thích: Chỉ h́nh thế địa lư của năm phương: Đông, Nam, Trung ương, Tây, Bắc. Mỗi vùng có khí hậu, thổ nhưỡng, sinh hoạt và thể chất cư dân khác nhau, nên bệnh tật và phép trị cũng khác nhau.

3. “Vực.”
Giải thích: Nghĩa là khu vực, vùng đất, địa phương.

4. “Thiên địa chi sở thủy sinh dă.”
Giải thích: Khí của trời đất từ phương Đông mà thăng lên, là khởi đầu của dương khí sinh phát. V́ vậy khí sinh phát bắt đầu từ phương Đông; xét theo thời tiết th́ ứng với mùa xuân.

5. “An kỳ xứ, mỹ kỳ thực.”
Giải thích: Nghĩa là ở lâu một nơi th́ thích nghi được với nơi ấy, đối với thức ăn thường dùng cũng cảm thấy quen thuộc và ngon miệng.

6. “Nhiệt trung.”
Giải thích: Nghĩa là nhiệt tích tụ ở trong cơ thể, lâu ngày có thể phát ra ngoài thành ung nhọt, lở loét.

7. “Diêm giả thắng huyết.”
Giải thích: Muối có vị mặn. Thiên Ngũ Vị trong Linh Khu nói: “Hàm tẩu huyết, đa thực chi linh nhân khát.” Nghĩa là vị mặn đi vào huyết, ăn nhiều vị mặn làm người ta khát. Ở đây nói ăn mặn quá mức có thể ảnh hưởng và làm tổn thương huyết.

“Hàm tẩu huyết, đa thực chi linh nhân khát.”
Giải thích: Vị mặn đi vào phần huyết; ăn nhiều vị mặn th́ làm hao tổn tân dịch, khiến người ta dễ khát.

8. “Ung dương.”
Giải thích: Người ở phương Đông huyết tương đối yếu, tấu lư lại thưa lỏng, nên nhiệt tà dễ kết tụ ở nơi tấu lư sơ hở, lâu ngày làm thịt thối rữa, h́nh thành ung nhọt, lở loét.

9. “Biếm thạch.”
Giải thích: Là đá nhọn hoặc phiến đá được chế thành dụng cụ, dùng để chích rạch ung thư, ung nhọt nhằm tháo mủ, loại bỏ máu mủ và tà độc.

10. “Kim ngọc chi vực, sa thạch chi xứ, thiên địa chi sở thu dẫn dă.”
Giải thích: Phương Tây là nơi đất có tính cứng rắn, nên nhiều kim ngọc, cát đá. Do khí trời đất từ phương Tây mà giáng xuống, nên gọi là nơi trời đất thu liễm và dẫn khí vào trong.

11. “Lăng cư.”
Giải thích: Nghĩa là sống dựa vào vùng g̣ đồi, đồi núi.

12. “Hạt tiến.”
Giải thích: “Hạt” là vải thô bằng lông; “tiến” là chiếu cỏ. Cụm này chỉ thói quen sinh hoạt đơn sơ, khoác vải thô, trải chiếu cỏ, không quá chú trọng y phục.

13. “Hoa thực nhi chi ph́.”
Giải thích: “Hoa” là tươi ngon, tinh mỹ, chỉ các thức ăn như sữa đặc, bơ, thịt xương. Do ăn uống béo ngon, nên cơ thể thường nhiều mỡ và béo chắc.

14. “Bệnh sinh ư nội, kỳ trị nghi độc dược.”
Giải thích: “Bệnh sinh ở trong” chỉ bệnh do ăn uống, thất t́nh, nội thương gây nên. “Độc dược” ở đây là cách gọi chung thuốc dùng để uống, không nhất thiết chỉ thuốc độc nguy hiểm. V́ bệnh sinh ở bên trong, không phải châm cứu hay xoa bóp có thể giải quyết hết, nên thích hợp dùng thuốc uống để điều trị.

15. “Bế tàng chi vực.”
Giải thích: Phương Bắc rất lạnh, ứng với khí tượng bế tàng của mùa đông, nên gọi là vùng bế tàng.

16. “Lạc dă xứ nhi nhũ thực.”
Giải thích: Nghĩa là quen sống lưu động ngoài đồng hoang, ban đêm ngủ ngoài trời, ăn sữa ḅ, sữa dê hoặc các loại sữa động vật.

17. “Thiên địa sở trưởng dưỡng.”
Giải thích: Phương Nam dương khí sung túc, thích hợp cho vạn vật sinh trưởng và nuôi dưỡng.

18. “Địa hạ.”
Giải thích: Chỉ địa thế thấp trũng.

19. “Phụ.”
Giải thích: Đồng nghĩa với “phủ”, chỉ thức ăn đă qua lên men.

20. “Trí lư.”
Giải thích: Tức tấu lư kín chắc, thớ da chặt chẽ.

21. “Loan tư.”
Giải thích: Do thấp nhiệt tà không được trừ, bám vào bên trong cân mạch mà sinh ra co rút và tư chứng. Tà làm tổn thương cân th́ sinh co rút; làm tổn thương mạch th́ sinh tư, tức tê đau, bế trở.

22. “Vi châm.”
Giải thích: Tức hào châm, loại kim châm nhỏ dùng trong châm cứu.

23. “Sinh vạn vật dă chúng.”
Giải thích: Thổ thể bằng phẳng, thổ tính ẩm, thổ vượng ở trung ương của bốn phương và là mẹ của vạn vật, cho nên có khả năng sinh ra nhiều loại vật.

24. “Thực tạp nhi bất lao.”
Giải thích: Thức ăn nhiều loại, phức tạp, đời sống an nhàn mà ít lao động.

25. “Đa nuy quyết hàn nhiệt.”
Giải thích: Thổ khí thông với tỳ và chủ về tứ chi. Nếu thấp trệ th́ sinh nuy chứng; hàn nhiệt rối loạn th́ sinh quyết chứng. V́ vậy cư dân vùng trung ương dễ mắc các bệnh mềm yếu tay chân, quyết nghịch, hàn nhiệt xen lẫn.

26. “Đạo dẫn án kiểu.”
Giải thích: Tức các phương pháp ngày nay gọi là khí công, xoa bóp, vận động trị liệu v.v. Đây là những phương pháp cổ đại dùng để bảo vệ sức khỏe và chữa bệnh.

27. “Tạp hợp dĩ trị, các đắc kỳ sở nghi.”
Giải thích: Nghĩa là tổng hợp các phương pháp điều trị khác nhau, căn cứ vào bệnh t́nh cụ thể mà vận dụng linh hoạt, khiến mỗi người bệnh đều nhận được phương pháp điều trị thích hợp nhất.

28. “Đắc bệnh chi t́nh, tri trị chi đại thể.”
Giải thích: Nghĩa là hiểu rơ bệnh t́nh cụ thể, đồng thời nắm vững đại pháp điều trị. Đây là điều kiện để tuy phương pháp điều trị khác nhau nhưng bệnh đều có thể khỏi.

Phân tích

Đoạn này tŕnh bày chi tiết t́nh h́nh khác nhau của năm phương và nguyên tắc điều trị tương ứng.

Kinh văn cho rằng do khu vực khác nhau, môi trường sống và tập quán sinh hoạt của con người cũng khác nhau, v́ vậy phương pháp trị bệnh phải nhân địa chế nghi, tức tùy theo địa phương mà lựa chọn phép trị thích hợp. Những phương pháp điều trị được nêu trong đoạn này đều là kinh nghiệm được tổng kết từ thực tiễn lao động và chữa bệnh của nhân dân các vùng.

Nước ta đất rộng, khí hậu khác nhau, phong tục dân t́nh khác nhau, thể chất con người cũng khác nhau, đặc điểm phát bệnh mỗi nơi cũng không giống nhau. V́ vậy khi điều trị phải căn cứ vào t́nh h́nh cụ thể: có khi dùng biếm thạch, có khi dùng cứu ngải, có khi dùng thuốc uống, có khi dùng án kiểu, lựa chọn phương pháp thích hợp nhất th́ mới đạt hiệu quả tốt nhất. Đây chính là tinh thần cơ bản của thiên này.

Về sau, tư tưởng ấy được phát triển thành nguyên tắc điều trị:

“Tam nhân chế nghi.”
Giải thích: Nghĩa là điều trị phải tùy theo con người, tùy theo địa phương, tùy theo thời tiết mà lựa chọn phương pháp thích hợp. Không được dùng một phép cố định cho mọi người, mọi nơi, mọi lúc.

Trong văn tuy chia thành năm phương, nhưng thực tế có thể quy thành ba khu vực lớn. Tây Bắc cao lạnh, người dân ăn nhiều mỡ, thịt, thể chất phần nhiều cường tráng, bệnh thường là biểu hàn nội nhiệt, điều trị nên lấy tán hàn, tiết nhiệt làm chính. Đông Nam thấp trũng, ẩm ướt, khí hậu tương đối nóng, thấp nhiệt nặng hơn, người dân ăn chua, ăn mặn dễ làm tổn thương trường vị, thể chất tương đối yếu, bệnh thường là co rút, tư chứng, nuy chứng, liệt yếu; điều trị nên thanh thấu thấp nhiệt, sơ thông kinh lạc. Trung ương phần nhiều là nơi đô hội, khí hậu dễ chịu, vật tư phong phú, cư dân thường thích an nhàn, ngại lao động, ăn uống tinh mỹ, t́nh dục tương đối cao, nội thương tinh thần khá nhiều, thể chất mềm yếu, bệnh thường là hư trung hiệp thực, tức trong hư có thực; điều trị thường thiên về đạo dẫn, xoa bóp, làm lưu thông khí huyết.

Trên thực tế, những địa phương, mùa tiết và nhóm người khác nhau không chỉ có bệnh địa phương, bệnh thường gặp, bệnh hay phát riêng biệt, mà ngay cả cùng một bệnh th́ biểu hiện cũng không hoàn toàn giống nhau. Ví dụ cảm mạo ở người phương Bắc phần nhiều thấy phong hàn, thường dùng các thuốc tân ôn như Ma hoàng, Quế chi. Cảm mạo ở người phương Nam phần nhiều thấy phong nhiệt, thường dùng các thuốc tân lương như Kim ngân hoa, Liên kiều. Lại như người già cảm mạo thường kèm hư, trẻ nhỏ cảm mạo thường kèm thực tích, người trẻ tuổi cảm mạo phần nhiều là thực chứng. Những điều này đều là ví dụ cụ thể.

Đây chính là một phương diện thể hiện tư tưởng biện chứng “vấn đề cụ thể th́ phân tích cụ thể” của Nội Kinh trong trị liệu học. Thầy thuốc bắt buộc phải kết hợp môi trường tự nhiên khác nhau và sai biệt cá thể của từng người, nắm vững các nguyên tắc điều trị:

“Nhân thời chế nghi.”
Giải thích: Tùy theo thời tiết, mùa khí, hàn nhiệt ôn lương trong năm mà chọn phương pháp trị liệu thích hợp.

“Nhân địa chế nghi.”
Giải thích: Tùy theo địa phương, khí hậu, thổ nhưỡng, tập quán ăn uống và sinh hoạt của từng vùng mà chọn phép trị.

“Nhân nhân chế nghi.”
Giải thích: Tùy theo tuổi tác, giới tính, thể chất, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, bệnh sử của từng người mà điều trị.

Khái niệm, ư nghĩa và ứng dụng lâm sàng của tiêu bản nghịch ṭng

Nguyên văn chuyển Hán Việt, dịch nghĩa và giải thích

“Hoàng Đế vấn viết: Bệnh hữu tiêu bản, thích hữu nghịch ṭng, nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Bệnh có tiêu và bản, châm thích có nghịch và ṭng, vậy là thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế nêu vấn đề về mối quan hệ giữa tiêu bản và phép nghịch ṭng trong điều trị. “Tiêu” là ngọn, là biểu hiện bên ngoài hoặc bệnh phát sinh sau; “bản” là gốc, là căn nguyên hoặc bệnh phát sinh trước. “Nghịch ṭng” là hai cách vận dụng trị pháp tùy theo bệnh cơ.

“Kỳ Bá đối viết: Phàm thích chi phương, tất biệt âm dương.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Phàm phương pháp châm thích, nhất định phải phân biệt âm dương.
Giải thích: Trước khi trị bệnh phải xác định bệnh thuộc âm hay dương, hàn hay nhiệt, hư hay thực, biểu hay lư. Đây là nền tảng để quyết định trị tiêu hay trị bản, dùng nghịch hay dùng ṭng.

“Tiền hậu tương ứng.”
Dịch nghĩa: Trước sau phải tương ứng với nhau.
Giải thích: Phải xét tŕnh tự phát bệnh trước sau, bệnh nào xuất hiện trước, bệnh nào xuất hiện sau, triệu chứng nào là gốc, triệu chứng nào là ngọn; như vậy trị liệu mới không lẫn lộn.

“Nghịch ṭng đắc thi.”
Dịch nghĩa: Phép nghịch và phép ṭng phải được thi hành đúng chỗ.
Giải thích: Nghịch trị hay ṭng trị không thể dùng tùy tiện. Phải căn cứ bệnh t́nh thật giả, hư thực, tiêu bản để chọn cách trị thích hợp.

“Tiêu bản tương di.”
Dịch nghĩa: Tiêu và bản có thể chuyển dời, thay đổi vị trí cho nhau.
Giải thích: Trong quá tŕnh bệnh biến, cái vốn là bản có thể biểu hiện thành tiêu, cái tiêu cũng có thể ảnh hưởng trở lại bản. V́ vậy phải linh hoạt xem xét, không được cố chấp.

“Cố viết: Hữu kỳ tại tiêu nhi cầu chi ư tiêu.”
Dịch nghĩa: Cho nên nói: Có trường hợp bệnh ở tiêu th́ t́m cách trị ở tiêu.
Giải thích: Khi bệnh chủ yếu biểu hiện ở phần ngọn, triệu chứng cấp bách hoặc nguy hiểm nằm ở tiêu, th́ cần xử lư phần tiêu trước.

“Hữu kỳ tại bản nhi cầu chi ư bản.”
Dịch nghĩa: Có trường hợp bệnh ở bản th́ t́m cách trị ở bản.
Giải thích: Khi gốc bệnh rơ ràng, triệu chứng ngọn không quá cấp bách, th́ nên trị bản để giải quyết căn nguyên.

“Hữu kỳ tại bản nhi cầu chi ư tiêu.”
Dịch nghĩa: Có trường hợp bệnh ở bản nhưng lại t́m cách trị ở tiêu.
Giải thích: Có khi gốc bệnh ở bản, nhưng biểu hiện ở tiêu quá cấp hoặc ảnh hưởng lớn đến sinh mạng, nên phải tạm thời trị tiêu trước.

“Hữu kỳ tại tiêu nhi cầu chi ư bản.”
Dịch nghĩa: Có trường hợp bệnh ở tiêu nhưng lại t́m cách trị ở bản.
Giải thích: Có khi biểu hiện bệnh ở ngọn, nhưng nguyên nhân thật sự nằm ở gốc, nên phải trị bản th́ tiêu mới tự giải.

“Cố trị hữu thủ tiêu nhi đắc giả.”
Dịch nghĩa: Cho nên trong điều trị có trường hợp lấy tiêu mà đạt hiệu quả.
Giải thích: Khi triệu chứng ngọn là vấn đề chủ yếu hoặc cấp bách, trị tiêu có thể làm bệnh chuyển tốt.

“Hữu thủ bản nhi đắc giả.”
Dịch nghĩa: Có trường hợp lấy bản mà đạt hiệu quả.
Giải thích: Khi căn nguyên bệnh là chủ yếu, trị bản có thể khiến các triệu chứng ngọn tự hết.

“Hữu nghịch thủ nhi đắc giả.”
Dịch nghĩa: Có trường hợp dùng phép nghịch trị mà đạt hiệu quả.
Giải thích: Khi bệnh tượng phù hợp với bản chất, như hàn thật, nhiệt thật, hư thật rơ ràng, th́ dùng phép đối trị thông thường sẽ hiệu quả.

“Hữu ṭng thủ nhi đắc giả.”
Dịch nghĩa: Có trường hợp dùng phép ṭng trị mà đạt hiệu quả.
Giải thích: Khi bệnh có giả tượng, biểu hiện bên ngoài trái với bản chất bên trong, th́ phải dùng phép ṭng trị, thuận theo giả tượng để trị chân bệnh.

“Cố tri nghịch dữ ṭng, chính hành vô vấn.”
Dịch nghĩa: V́ vậy, nếu biết rơ nghịch và ṭng th́ khi hành trị đúng đắn sẽ không c̣n nghi ngờ.
Giải thích: Nắm được khi nào dùng nghịch trị, khi nào dùng ṭng trị th́ điều trị sẽ có phương hướng rơ ràng, không lúng túng.

“Tri tiêu bản giả, vạn cử vạn đương.”
Dịch nghĩa: Người biết rơ tiêu bản th́ muôn lần hành trị, muôn lần thích đáng.
Giải thích: Hiểu được đâu là gốc, đâu là ngọn, cái ǵ cần trị trước, cái ǵ trị sau, th́ phương pháp điều trị sẽ rất chính xác.

“Bất tri tiêu bản, thị vị vọng hành.”
Dịch nghĩa: Không biết tiêu bản th́ gọi là làm bừa.
Giải thích: Nếu không phân biệt được gốc ngọn mà điều trị, th́ dù có dùng thuốc hay châm cứu cũng dễ sai lầm, thậm chí làm bệnh nặng thêm.

“Phù âm dương nghịch ṭng, tiêu bản chi vi đạo dă.”
Dịch nghĩa: Nói chung, âm dương, nghịch ṭng, tiêu bản chính là đạo lư của trị bệnh.
Giải thích: Đây là cương lĩnh lớn trong trị liệu. Muốn trị bệnh chính xác phải hiểu âm dương, biết nghịch ṭng, phân biệt tiêu bản.

“Tiểu nhi đại.”
Dịch nghĩa: Từ cái nhỏ mà biết cái lớn.
Giải thích: Từ một triệu chứng nhỏ có thể suy ra toàn bộ bệnh cơ lớn hơn bên trong.

“Ngôn nhất nhi tri bách bệnh chi hại.”
Dịch nghĩa: Nói một điều mà có thể biết sự nguy hại của trăm bệnh.
Giải thích: Nắm được nguyên lư chung th́ có thể suy rộng ra nhiều loại bệnh khác nhau.

“Thiểu nhi đa, thiển nhi bác.”
Dịch nghĩa: Từ ít mà biết nhiều, từ nông mà hiểu rộng.
Giải thích: Người giỏi y lư có thể từ biểu hiện ít ỏi, nông cạn bên ngoài mà suy ra bệnh t́nh rộng và sâu hơn.

“Khả dĩ ngôn nhất nhi tri bách dă.”
Dịch nghĩa: Có thể nói một mà biết trăm.
Giải thích: Khi nắm vững quy luật tiêu bản, âm dương, nghịch ṭng, th́ có thể từ một bệnh mà hiểu nhiều bệnh.

“Dĩ thiển nhi tri thâm.”
Dịch nghĩa: Từ cái nông mà biết cái sâu.
Giải thích: Từ triệu chứng bên ngoài có thể suy ra bệnh biến sâu bên trong tạng phủ, khí huyết, âm dương.

“Sát cận nhi tri viễn.”
Dịch nghĩa: Quan sát cái gần mà biết cái xa.
Giải thích: Từ biểu hiện hiện tại và trước mắt có thể suy đoán nguyên nhân xa, diễn biến sau và gốc bệnh sâu xa.

“Ngôn tiêu dữ bản, dị nhi vật cập.”
Dịch nghĩa: Nói về tiêu và bản th́ tưởng dễ nhưng không dễ đạt tới.
Giải thích: Tiêu bản nghe có vẻ đơn giản, nhưng vận dụng lâm sàng rất khó. Nếu không có kinh nghiệm và tư duy biện chứng th́ dễ nhầm lẫn.

“Trị phản vi nghịch, trị đắc vi ṭng.”
Dịch nghĩa: Điều trị trái với bệnh cơ th́ gọi là nghịch; điều trị đúng với bệnh cơ th́ gọi là ṭng.
Giải thích: Ở đây “nghịch” và “ṭng” c̣n có nghĩa rộng hơn: trị sai với bệnh t́nh là nghịch, trị đúng với bệnh t́nh là thuận. Không chỉ là nghịch trị hay ṭng trị theo nghĩa hàn nhiệt, mà c̣n chỉ sự đúng sai của toàn bộ phương hướng điều trị.

“Tiên bệnh nhi hậu nghịch giả trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Bệnh có trước rồi sau mới xuất hiện nghịch loạn th́ trị bản.
Giải thích: Nếu bệnh gốc xuất hiện trước, sau đó mới sinh ra khí nghịch hoặc biến chứng, th́ phải trị bệnh ban đầu làm gốc.

“Tiên nghịch nhi hậu bệnh giả trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Nghịch loạn có trước rồi sau mới sinh bệnh th́ trị bản.
Giải thích: Nếu khí cơ nghịch loạn là nguyên nhân đầu tiên, sau đó mới phát sinh bệnh khác, th́ khí nghịch chính là bản, cần trị nó trước.

“Tiên hàn nhi hậu sinh bệnh giả trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Hàn có trước rồi sau mới sinh bệnh th́ trị bản.
Giải thích: Nếu hàn tà hoặc hàn chứng là nguyên nhân ban đầu, sau đó mới sinh ra các bệnh khác, th́ phải trị hàn làm gốc.

“Tiên bệnh nhi hậu sinh hàn giả trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Bệnh có trước rồi sau mới sinh hàn th́ trị bản.
Giải thích: Nếu bệnh gốc có trước, hàn chỉ là biến hóa phát sinh sau, th́ vẫn phải trị bệnh gốc trước, không chỉ lo tán hàn.

“Tiên nhiệt nhi hậu sinh bệnh giả trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Nhiệt có trước rồi sau mới sinh bệnh th́ trị bản.
Giải thích: Nếu nhiệt tà hoặc nhiệt chứng là nguyên nhân đầu tiên, sau đó sinh các bệnh khác, th́ phải trị nhiệt làm gốc.

“Tiên nhiệt nhi hậu sinh trung măn giả trị kỳ tiêu.”
Dịch nghĩa: Nhiệt có trước rồi sau sinh đầy trướng trung tiêu th́ trị tiêu.
Giải thích: Tuy nhiệt là bản, nhưng trung măn là triệu chứng cấp ở trung tiêu, có thể ảnh hưởng vận hóa và khí cơ, nên trong trường hợp này cần ưu tiên xử lư trung măn là tiêu.

“Tiên bệnh nhi hậu tiết giả trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Bệnh có trước rồi sau mới sinh tiêu chảy th́ trị bản.
Giải thích: Nếu tiêu chảy là biến chứng phát sinh sau bệnh gốc, th́ cần trị bệnh gốc trước.

“Tiên tiết nhi hậu sinh tha bệnh giả trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Tiêu chảy có trước rồi sau mới sinh bệnh khác th́ trị bản.
Giải thích: Nếu tiêu chảy là nguyên nhân đầu tiên, làm chính khí hao tổn rồi phát sinh bệnh khác, th́ tiêu chảy là bản, cần trị trước.

“Tất thả điều chi, năi trị kỳ tha bệnh.”
Dịch nghĩa: Nhất định phải điều ḥa nó trước, rồi mới trị các bệnh khác.
Giải thích: Với trường hợp tiêu chảy có trước, phải điều chỉnh tiêu chảy và trung khí trước, sau đó mới xử lư những bệnh phát sinh sau.

“Tiên bệnh nhi hậu sinh trung măn giả trị kỳ tiêu.”
Dịch nghĩa: Bệnh có trước rồi sau sinh đầy trướng trung tiêu th́ trị tiêu.
Giải thích: Trung măn là triệu chứng cấp có thể làm khí cơ bế tắc, ăn uống không vào, vận hóa không thông, nên dù là phát sinh sau vẫn cần xử lư trước.

“Tiên trung măn nhi hậu phiền tâm giả trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Trung măn có trước rồi sau sinh phiền tâm th́ trị bản.
Giải thích: Nếu đầy trướng trung tiêu là nguyên nhân đầu tiên, sau đó mới gây phiền tâm, th́ trung măn là bản, cần trị trung tiêu trước.

“Nhân hữu khách khí hữu đồng khí.”
Dịch nghĩa: Con người có khách khí và đồng khí.
Giải thích: “Khách khí” là tà khí từ ngoài đến hoặc yếu tố bệnh lư không thuộc chính khí vốn có. “Đồng khí” là khí cùng loại, liên quan đến bản khí hoặc bệnh khí tương ứng bên trong. Khi trị bệnh cần phân biệt tà từ ngoài đến hay do bên trong cùng khí cảm ứng mà phát.

“Tiểu đại bất lợi trị kỳ tiêu.”
Dịch nghĩa: Đại tiểu tiện không thông lợi th́ trị tiêu.
Giải thích: Nếu đại tiện, tiểu tiện bế tắc, không thông, đây là t́nh trạng cấp bách làm tà khí không có đường ra, nên trước hết phải thông lợi đại tiểu tiện.

“Tiểu đại lợi trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Đại tiểu tiện thông lợi th́ trị bản.
Giải thích: Nếu đường đại tiểu tiện vẫn thông, không có triệu chứng cấp bách ở tiêu, th́ có thể tập trung trị gốc bệnh.

“Bệnh phát nhi hữu dư, bản nhi tiêu chi.”
Dịch nghĩa: Khi bệnh phát mà thuộc hữu dư, th́ từ bản mà đi đến tiêu.
Giải thích: Hữu dư là thực chứng, tà khí thịnh. Khi bệnh mới phát mà thuộc thực, cần trước hết trị bản, sau đó mới xử lư triệu chứng ngọn.

“Tiên trị kỳ bản, hậu trị kỳ tiêu.”
Dịch nghĩa: Trước trị bản, sau trị tiêu.
Giải thích: Đối với thực chứng có gốc bệnh rơ, nên trừ căn nguyên trước, rồi xử lư phần ngọn c̣n lại.

“Bệnh phát nhi bất túc, tiêu nhi bản chi.”
Dịch nghĩa: Khi bệnh phát mà thuộc bất túc, th́ từ tiêu mà đi đến bản.
Giải thích: Bất túc là hư chứng, chính khí suy. Khi chính khí yếu, nếu trị bản ngay có thể không chịu nổi, nên có khi cần xử lư triệu chứng cấp ở tiêu trước rồi mới bổ bản.

“Tiên trị kỳ tiêu, hậu trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Trước trị tiêu, sau trị bản.
Giải thích: Với hư chứng mà biểu hiện ở ngọn đang cấp, phải tạm thời giải quyết phần tiêu để ổn định t́nh trạng, rồi mới bồi bổ gốc.

“Cẩn sát gian thậm, dĩ ư điều chi.”
Dịch nghĩa: Phải cẩn thận xét bệnh nhẹ hay nặng, rồi dùng ư mà điều chỉnh.
Giải thích: “Gian” là bệnh nhẹ hoặc không quá cấp; “thậm” là bệnh nặng, cấp. Thầy thuốc phải cân nhắc mức độ bệnh để quyết định trị tiêu, trị bản hay cùng trị.

“Gian giả tịnh hành.”
Dịch nghĩa: Bệnh nhẹ th́ có thể trị song song.
Giải thích: Khi bệnh không quá cấp, tiêu và bản có thể cùng được xử lư, vừa trị gốc vừa trị ngọn.

“Thậm giả độc hành.”
Dịch nghĩa: Bệnh nặng th́ phải trị riêng một mặt.
Giải thích: Khi bệnh nguy cấp, không thể dàn trải nhiều hướng, phải chọn vấn đề cấp thiết nhất, hoặc tiêu hoặc bản, để xử lư trước.

“Tiên tiểu đại bất lợi nhi hậu sinh bệnh giả, trị kỳ bản.”
Dịch nghĩa: Đại tiểu tiện không thông lợi có trước rồi sau mới sinh bệnh khác th́ trị bản.
Giải thích: Nếu bế tắc đại tiểu tiện là nguyên nhân ban đầu gây ra các bệnh khác, th́ phải coi đại tiểu tiện bất lợi là bản và xử lư trước.

Trích Tố Vấn, thiên Tiêu Bản Bệnh Truyền Luận.

Chú thích

1. "Tiêu bản."
Giải thích: “Tiêu” là ngọn, là phần sau, phần biểu hiện; “bản” là gốc, là căn nguyên. Giống như cây cối: rễ là bản, cành lá là tiêu. Trong đoạn này, bệnh phát sinh trước là bản, bệnh phát sinh sau là tiêu.

2. "Thích hữu nghịch ṭng."
Giải thích: Trong châm thích có phép nghịch và phép ṭng. “Nghịch” là nghịch trị pháp, ví dụ bệnh ở bản mà trị tiêu, bệnh ở tiêu mà trị bản. “Ṭng” là ṭng trị pháp, ví dụ bệnh ở bản th́ trị bản, bệnh ở tiêu th́ trị tiêu.

3. "Tiền hậu tương ứng."
Giải thích: Trong điều trị phải xét sự tương ứng giữa bệnh phát sinh trước và bệnh phát sinh sau. Không thể chỉ nh́n một triệu chứng hiện tại, mà phải biết nó liên hệ thế nào với bệnh trước đó.

4. "Nghịch ṭng đắc thi."
Giải thích: Phải vận dụng đúng phép nghịch trị hoặc ṭng trị, khiến việc điều trị được thích đáng, đúng bệnh, đúng lúc, đúng thứ tự.

5. "Tiêu bản tương di."
Giải thích: Việc điều trị tiêu và bản không phải bất biến. Tùy theo bệnh t́nh mà có khi trị tiêu trước, có khi trị bản trước.

6. "Chính hành vô vấn."
Giải thích: “Chính hành” là phương pháp điều trị đúng đắn; “vô vấn” là không c̣n nghi ngờ. Nghĩa là nếu đă hiểu rơ nghịch ṭng, tiêu bản th́ hành trị sẽ chính xác, không lúng túng.

7. "Tiểu nhi đại, thiểu nhi đa, thiển nhi bác."
Giải thích: Khi đă nắm được đạo lư âm dương, nghịch ṭng, tiêu bản th́ có thể khiến sự nhận thức về bệnh tật từ nhỏ mà biết lớn, từ ít mà biết nhiều, từ nông cạn mà mở rộng đến sâu xa, rộng lớn.

8. "Ngôn tiêu dữ bản, dị nhi vật cập."
Giải thích: Bàn về lư luận tiêu bản th́ hiểu có vẻ dễ, nhưng muốn vận dụng cho thích đáng trong lâm sàng th́ không dễ nắm vững.

9. "Trị phản vi nghịch, trị đắc vi ṭng."
Giải thích: Điều trị trái với đạo lư tiêu bản th́ gọi là nghịch, tức điều trị thất bại; điều trị phù hợp với đạo lư tiêu bản th́ gọi là ṭng, tức điều trị thành công.

10. "Tiên bệnh nhi hậu nghịch giả trị kỳ bản."
Giải thích: Bệnh có trước rồi sau mới sinh khí huyết nghịch loạn, th́ bệnh phát trước là bản, nên phải trị bản. “Nghịch” ở đây chỉ khí huyết rối loạn, đi ngược hoặc vận hành không thuận.

11. "Tiên nghịch nhi hậu sinh bệnh giả trị kỳ bản."
Giải thích: Khí huyết nghịch loạn có trước rồi sau mới sinh bệnh, th́ nghịch loạn có trước là bản, nên phải trị bản. “Nghịch” ở đây cũng chỉ khí huyết nghịch loạn.

12. "Tiên nhiệt nhi hậu sinh trung măn giả trị kỳ tiêu."
Giải thích: Nhiệt có trước rồi sau mới sinh trung măn, th́ nhiệt là bản, trung măn là tiêu. Nhưng v́ chứng trung măn cấp bách, làm trung tiêu bế tắc, nên phải trị tiêu trước.

13. "Tiên tiết nhi hậu sinh tha bệnh giả trị kỳ bản."
Giải thích: Tiêu chảy có trước rồi sau mới sinh các bệnh khác, th́ tiêu chảy là bản, nên phải trị bản trước.

14. "Tiên trung măn nhi hậu phiền tâm giả trị kỳ bản."
Giải thích: Trung măn có trước rồi sau mới sinh phiền tâm, th́ trung măn là bản, phiền tâm là tiêu. V́ trung măn là bệnh cấp, nên trước hết phải trị bản là trung măn.

15. "Tiểu đại bất lợi trị kỳ tiêu."
Giải thích: “Tiểu đại bất lợi” là tiểu tiện và đại tiện không thông lợi. Tuy đây thuộc về tiêu bệnh, nhưng v́ là t́nh trạng nguy cấp, nên khi cấp th́ phải trị tiêu trước.

16. "Bệnh phát hữu dư, bản nhi tiêu chi."
Giải thích: Đối với thực chứng do tà khí hữu dư, phải trị thực tà là gốc bệnh trước, sau đó mới trị tiêu bệnh.

17. "Bệnh phát bất túc, tiêu nhi bản chi."
Giải thích: Đối với hư chứng do chính khí bất túc, nên trước hết xử lư tiêu chứng, sau đó mới từ từ điều bổ chính khí là bản.

18. "Gian giả tịnh hành, thậm giả độc hành."
Giải thích: “Gian” là bệnh nhẹ; “thậm” là bệnh nặng. “Tịnh hành” là tiêu và bản cùng trị. “Độc hành” là chỉ trị riêng tiêu hoặc chỉ trị riêng bản. Trương Giới Tân chú rằng: “Bệnh thiển giả khả dĩ kiêm trị, cố viết tịnh hành; bệnh thậm giả nan dung tạp loạn, cố viết độc hành.” Nghĩa là bệnh c̣n nông nhẹ th́ có thể kiêm trị, nên gọi là cùng tiến hành; bệnh nặng th́ khó dung nạp sự rối tạp, nên phải chuyên trị một mặt.

"Bệnh thiển giả khả dĩ kiêm trị, cố viết tịnh hành; bệnh thậm giả nan dung tạp loạn, cố viết độc hành."
Giải thích: Bệnh nhẹ, nông th́ có thể tiêu bản cùng trị; bệnh nặng, cấp th́ không nên trị lan man nhiều hướng, mà phải chọn một trọng điểm cấp thiết nhất để trị trước.

Phân tích

Đoạn này luận về tiêu bản của bệnh và nghịch ṭng trong phép châm thích, đồng thời nêu ra cách xử lư hoăn cấp đối với các bệnh chứng như tiêu chảy, trung măn, phiền tâm, đại tiểu tiện không thông lợi v.v. Qua đó làm rơ nguyên tắc cơ bản:

"Trị bệnh tất cầu ư bản."
Giải thích: Trị bệnh nhất định phải t́m đến gốc bệnh. Đây là nguyên tắc căn bản của Trung y, nhấn mạnh rằng không nên chỉ chạy theo triệu chứng bên ngoài, mà phải nhận ra nguyên nhân và bệnh cơ chủ yếu.

Đồng thời đoạn này cũng nêu rơ các pháp tắc điều trị:

"Cấp tắc trị tiêu."
Giải thích: Khi triệu chứng ngọn đang cấp bách, nguy hiểm hoặc cản trở điều trị căn bản, th́ phải trị tiêu trước.

"Hoăn tắc trị bản."
Giải thích: Khi bệnh t́nh không quá cấp, có thời gian điều chỉnh, th́ nên trị bản, tức trị gốc bệnh.

"Tiêu bản đồng trị."
Giải thích: Khi bệnh t́nh cho phép, có thể vừa trị gốc vừa trị ngọn, tức tiêu bản cùng trị.

Những điều này thể hiện đầy đủ tinh thần biện chứng luận trị của Trung y: điều trị phải nhắm vào bản chất của bệnh, đồng thời phải xử lư linh hoạt theo t́nh huống cụ thể.

Ư nghĩa ban đầu của “tiêu bản”, theo Từ Nguyên, là:

"Phàm thảo mộc chi căn giai viết bản."
Giải thích: Phàm rễ của cây cỏ đều gọi là bản. “Bản” là gốc rễ, nơi phát sinh và nâng đỡ toàn bộ cây.

Cái phát sinh về sau gọi là tiêu, cái nguyên thủy ban đầu gọi là bản. Nội Kinh mượn nghĩa này rồi mở rộng thành ư nghĩa y học, nhưng phạm vi chỉ định không hoàn toàn giống nhau trong các thiên khác nhau. Ví dụ, trong Tố Vấn, thiên Thang Dịch Lao Lễ Luận có câu:

"Bệnh vi bản, công vi tiêu."
Giải thích: Bệnh là bản, thầy thuốc là tiêu. Nghĩa là bệnh t́nh của người bệnh là căn cứ gốc, c̣n hoạt động điều trị của thầy thuốc là phần ứng đối sau đó.

Trong Tố Vấn, thiên Thủy Nhiệt Huyệt Luận nói về bệnh thủy thũng:

"Kỳ bản tại thận, kỳ mạt tại phế."
Giải thích: Gốc của bệnh nằm ở thận, ngọn của bệnh biểu hiện ở phế. Nghĩa là bệnh thủy thũng tuy có biểu hiện liên quan đến phế, nhưng căn nguyên sâu xa ở thận.

Trong Tố Vấn, thiên Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận, lấy lục khí làm bản, tam âm tam dương làm tiêu. Trong Linh Khu, thiên Vệ Khí, lấy nơi kinh mạch bắt đầu làm bản, nơi kinh mạch xuất ra làm tiêu.

Trong tiết này, “tiêu bản” chỉ thứ tự phát bệnh trước sau: bệnh phát trước là bản, bệnh phát sau là tiêu. Trương Giới Tân nói rất thấu triệt:

"Bệnh chi tiên thụ giả vi bản, bệnh chi hậu thụ giả vi tiêu."
Giải thích: Bệnh mà cơ thể tiếp nhận trước là bản, bệnh mà cơ thể tiếp nhận sau là tiêu.

"Sinh ư bản giả, ngôn thụ bệnh chi nguyên căn; sinh ư tiêu giả, ngôn mục tiền chi đa biến dă."
Giải thích: Cái sinh từ bản là nói đến căn nguyên gốc rễ của bệnh; cái sinh từ tiêu là nói đến những biến hóa nhiều mặt đang biểu hiện trước mắt.

Từ những điều trên có thể thấy, trong Nội Kinh, hàm nghĩa của “tiêu bản” rất nhiều, phạm vi ứng dụng cũng rất rộng. Nó vừa có thể biểu thị hai sự vật tương ứng với nhau, vừa có thể biểu thị hai thuộc tính tương đối tồn tại bên trong cùng một sự vật. Nói chung, những ǵ có tính căn bản, chủ yếu, nội tại, bản chất, khởi đầu, trung tâm th́ phần nhiều thuộc về “bản”; c̣n những ǵ có tính thứ yếu, bên ngoài, chi tiết, hiện tượng, phát sinh về sau, phần cuối, ngoại vi th́ phần nhiều thuộc về “tiêu”.

Dựa trên ư nghĩa đó, đời sau cũng ứng dụng rộng răi. Ví dụ, nếu nói về trời đất, trời là bản, đất là tiêu; nếu nói về thân người, tạng phủ kinh lạc là bản, h́nh thể và khiếu bên ngoài là tiêu; nếu nói về bệnh lư, bệnh nhân là bản, triệu chứng là tiêu; nếu nói về bệnh chứng, bệnh trước là bản, bệnh sau là tiêu; nếu nói về điều trị, trị pháp là bản, phương dược là tiêu; nếu nói về dược vật, khí vị là bản, h́nh sắc là tiêu.

Tố Vấn, thiên Chí Chân Yếu Đại Luận nói:

"Tiêu bản chi đạo, yếu nhi bác, tiểu nhi đại."
Giải thích: Đạo lư tiêu bản tuy giản yếu nhưng bao quát rộng; tuy có thể bắt đầu từ điều nhỏ nhưng liên hệ đến điều lớn. Câu này nói rơ tiêu bản có thể được xem như thuộc tính trừu tượng của nhiều loại sự vật, mang ư nghĩa phổ biến nhất định.

Nhưng mục đích căn bản của Nội Kinh khi vận dụng lư luận tiêu bản không chỉ là để giải thích một số hiện tượng bệnh lư, mà quan trọng hơn là nhằm chỉ đạo việc xác định nguyên tắc điều trị. Trong hai phía mà tiêu bản đại diện, nhất định có một phía là chủ yếu, bản chất; phía c̣n lại là thứ yếu, hiện tượng. V́ vậy khi điều trị phải căn cứ vào đặc tính của tiêu bản và t́nh huống cụ thể để xác lập nguyên tắc trị liệu: hoặc trị tiêu trước rồi trị bản, hoặc trị bản trước rồi trị tiêu, hoặc tiêu bản kiêm trị.

Trong lâm sàng, khi đối diện với bệnh t́nh phức tạp rối rắm, lư luận tiêu bản giúp thầy thuốc có thể lấy cái giản yếu để điều khiển cái phức tạp, nắm được bản chất của bệnh, rồi dựa vào đó mà điều trị hiệu quả. V́ vậy tiết này nói:

"Tri tiêu bản giả, vạn cử vạn đương."
Giải thích: Người hiểu rơ tiêu bản th́ muôn lần hành trị đều thích đáng. Nghĩa là phân biệt đúng gốc ngọn th́ trị liệu sẽ có căn cứ và dễ đạt hiệu quả.

"Bất tri tiêu bản, thị vị vọng hành."
Giải thích: Không hiểu tiêu bản th́ gọi là làm bừa. Nghĩa là nếu không phân biệt được đâu là gốc, đâu là ngọn mà điều trị, th́ rất dễ sai lầm.

Tiêu bản đại diện cho hai loại thuộc tính; âm dương cũng biểu thị thuộc tính của hai sự vật liên quan. V́ vậy, theo một ư nghĩa nào đó, hai khái niệm này có chỗ tương tự. Ví dụ, xét theo trong ngoài: bên trong thuộc âm, cũng thuộc bản; bên ngoài thuộc dương, cũng thuộc tiêu. Xét theo thân người: nội tạng thuộc âm, cũng thuộc bản; ngoại khiếu thuộc dương, cũng thuộc tiêu.

Điểm khác nhau là: âm dương thuộc phạm trù triết học cổ đại Trung Quốc, được cổ nhân dùng để khái quát quy luật chung về vận động biến hóa của vạn vật trong vũ trụ. Sự vật mà âm dương đại diện có thuộc tính riêng là thuộc âm hoặc thuộc dương; hai phía âm dương là quan hệ b́nh đẳng, không có phân chia chủ thứ.

C̣n tiêu bản tuy ở mức độ nhất định cũng có ư nghĩa trừu tượng, và Nội Kinh gọi là:

"Tiêu bản chi đạo."
Giải thích: Đạo lư tiêu bản. Cụm này nói rơ mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng của sự vật, giữa gốc và ngọn, giữa cái chủ yếu và cái thứ yếu.

Nhưng hàm nghĩa của tiêu bản không rộng và sâu bằng khái niệm âm dương. Hai phía mà tiêu bản đại diện có quan hệ chủ thứ, tức quan hệ “gốc” và “ngọn”.

"Bản vi chủ, tiêu vi khách."
Giải thích: Bản là chủ, tiêu là khách. Gốc bệnh là phần chủ yếu, biểu hiện bên ngoài là phần phụ thuộc.

"Bản vi thể, tiêu vi dụng."
Giải thích: Bản là thể, tiêu là dụng. Bản là nền tảng bên trong, tiêu là biểu hiện và tác dụng phát ra bên ngoài.

"Bản vi nguyên, tiêu vi lưu."
Giải thích: Bản là nguồn, tiêu là ḍng. Bản giống như nguồn nước, tiêu giống như ḍng chảy phát sinh từ nguồn ấy.

V́ vậy, giữa tiêu và bản không có các mối liên hệ như âm dương tiêu trưởng chuyển hóa, hỗ căn hỗ dụng. Học thuyết âm dương với tư cách là một thế giới quan và phương pháp luận có thể giải thích một cách mộc mạc nguyên lư phát sinh và biến hóa của các sự vật. C̣n lư luận tiêu bản chỉ giải thích quan hệ chủ thứ của mâu thuẫn sự vật ở một số phương diện nhất định, v́ vậy hai khái niệm này không thể đặt ngang hàng mà so sánh như nhau.
Tuy nhiên, lư luận tiêu bản với tư cách là sự bổ sung cho học thuyết âm dương, nhất là trong lĩnh vực y học, vẫn có giá trị nhất định. Điều này là không thể phủ nhận.
Lư luận tiêu bản hiểu th́ không khó, nhưng khi kết hợp với thực tế để vận dụng linh hoạt th́ không phải là việc dễ. Kinh văn đă luận cụ thể về phương pháp ứng dụng lâm sàng của lư luận tiêu bản; quy nạp lại có 5 điểm như sau.

1. Trước hết trị bản bệnh

Tiết này chỉ rơ:

"Tiên bệnh nhi hậu nghịch giả trị kỳ bản, tiên nghịch nhi hậu bệnh giả trị kỳ bản, tiên hàn nhi hậu sinh bệnh giả trị kỳ bản, tiên bệnh nhi hậu sinh hàn giả trị kỳ bản... tất thả điều chi, năi trị kỳ tha bệnh."
Giải thích: Bệnh nào có trước th́ thường là bản, bệnh hoặc biến chứng sinh sau là tiêu. Khi bệnh gốc chưa được điều chỉnh th́ phải ưu tiên trị bản trước, sau đó mới trị các bệnh khác phát sinh sau.

Nói chung, tiêu bắt nguồn từ bản; nếu bản bệnh được trừ th́ tiêu bệnh cũng theo đó mà giải. Điều gọi là:

"Trị bệnh tất cầu ư bản."
Giải thích: Trị bệnh nhất định phải t́m đến gốc bệnh. Đây là đại pháp căn bản trong điều trị, không nên chỉ xử lư triệu chứng bên ngoài mà bỏ qua căn nguyên sâu xa.

Ví dụ, ho trong bệnh lao phổi, gốc bệnh phần nhiều là phế thận âm hư, v́ vậy điều trị không nên dùng phép chỉ khái thông thường để trị ngọn, mà nên dùng phương pháp tư dưỡng âm dịch của phế và thận để trị gốc. Lại như trong giai đoạn giữa và cuối của bệnh nhiệt cấp tính, khi âm dịch đă bị hao tổn, nên dùng phép dưỡng vị, tư thận để củng cố phần bản. Những điều này đều là ứng dụng cụ thể của nguyên tắc:

"Hoăn tắc trị kỳ bản."
Giải thích: Khi bệnh không quá cấp bách, nên trị bản, tức điều chỉnh căn nguyên và nền tảng bệnh lư.

2. Cấp th́ trị tiêu

Nguyên tắc trị liệu trước sau giữa tiêu và bản không phải là bất biến, mà phải căn cứ vào mức độ hoăn cấp của bệnh t́nh để xử trí linh hoạt. Tiết này chỉ rơ:

"Tiên nhiệt nhi hậu sinh trung măn giả trị kỳ tiêu."
Giải thích: Nhiệt có trước rồi sau sinh trung măn, về lư th́ nhiệt là bản, trung măn là tiêu. Nhưng v́ trung măn là chứng cấp, làm trung tiêu bế tắc, nên phải trị tiêu trước.

"Tiên bệnh nhi hậu sinh trung măn giả trị kỳ tiêu."
Giải thích: Bệnh có trước rồi sau mới sinh đầy trướng trung tiêu, tuy trung măn là chứng phát sinh sau, nhưng v́ nó cấp bách nên phải xử lư trước.

"Tiểu đại bất lợi trị kỳ tiêu."
Giải thích: Đại tiểu tiện không thông lợi là chứng ở tiêu, nhưng v́ có thể gây nguy cấp, làm tà khí không có đường ra, nên phải trị tiêu trước.

Về điều này, Trương Giới Tân giải thích rằng:

"Chư bệnh giai tiên trị bản, nhi duy trung măn giả tiên trị kỳ tiêu, cái dĩ trung măn vi bệnh, kỳ tà tại vị, vị giả tạng phủ chi bản dă; vị măn tắc dược thực chi khí bất năng hành, nhi tạng phủ giai thất kỳ sở bẩm, cố tiên trị thử giả, diệc sở dĩ trị bản dă."
Giải thích: Các bệnh nói chung đều nên trị bản trước, chỉ riêng trung măn th́ phải trị tiêu trước. V́ trung măn là bệnh ở vị, mà vị là gốc của tạng phủ. Khi vị bị đầy trướng th́ khí của thuốc và thức ăn không thể vận hành, các tạng phủ đều mất nguồn tiếp nhận nuôi dưỡng. V́ vậy trị trung măn trước, trên thực tế cũng là để bảo vệ cái gốc.

Ông lại nói:

"Cái nhị tiện bất thông, năi nguy cấp chi hậu, tuy vi tiêu bệnh, thử sở vị cấp tắc trị kỳ tiêu dă."
Giải thích: Đại tiện và tiểu tiện không thông là t́nh trạng nguy cấp. Tuy thuộc tiêu bệnh, nhưng đây chính là trường hợp “cấp th́ trị tiêu”.

Nói chung, trong quá tŕnh phát triển của bệnh, nếu tiêu bệnh sắp nguy hại đến tính mạng, hoặc trong nhiều mâu thuẫn bệnh lư, tiêu bệnh trở thành mâu thuẫn nổi bật và quan trọng nhất, th́ phải trị tiêu trước. Nếu không, e rằng sẽ làm lỡ thời cơ trị bệnh, thậm chí nguy hiểm đến sinh mạng.

Trong tiết này, các chứng “trung măn” và “tiểu đại bất lợi” chỉ là ví dụ mẫu. Chẳng hạn, người bệnh xơ gan khi bụng báng tăng nhiều, bụng trướng đầy, thở gấp, đại tiểu tiện không thông lợi, th́ nên trị tiêu trước, tức xử lư cổ trướng và đại tiểu tiện bất lợi. Có thể dùng phép lợi thủy, trục thủy; đợi khi cổ trướng giảm, bệnh t́nh ổn định rồi mới điều lư can tỳ để trị bản bệnh.

Lại như người bệnh đại xuất huyết, bất luận thuộc loại xuất huyết nào, đều phải áp dụng biện pháp khẩn cấp, trước hết cầm máu để trị tiêu. Sau khi máu ngừng, bệnh t́nh giảm nhẹ, mới tiếp tục điều trị nguyên nhân gây xuất huyết là bản bệnh.

3. Bệnh nhẹ th́ tiêu bản cùng trị

"Gian giả tịnh hành."
Giải thích: Bệnh nhẹ, bệnh thế không quá cấp th́ có thể tiêu bản cùng trị. “Tịnh hành” là hai mặt cùng tiến hành, vừa xử lư gốc vừa xử lư ngọn.

Nói cách khác, bệnh nhẹ và hoăn không nhất định chỉ trị riêng bản. Từ t́nh h́nh lâm sàng thực tế mà xét, bệnh chứng thuần dương, thuần âm, thuần hư, thuần thực th́ ít; c̣n hư thực xen tạp, biểu lư cùng có, bệnh mới và bệnh cũ cùng tồn tại th́ nhiều. Khi bệnh thế chưa đến mức cấp nguy, đa số nên tiêu bản đồng trị. Khi ấy cần phân tích bên nào là chủ yếu: hoặc trị tiêu mà kiêm cố bản, hoặc trị bản mà kiêm cố tiêu, hoặc tiêu bản cùng chăm sóc.

Ví dụ, lâm sàng thấy các chứng thân nhiệt, bụng đầy cứng đau, đại tiện táo kết, miệng khô khát, lưỡi đỏ, rêu vàng cháy khô. Đây là tà nhiệt kết ở lư làm tiêu, âm dịch bị tổn thương làm bản. Tiêu và bản đều cấp, điều trị phải kiêm cố cả hai. Có thể dùng phép dưỡng âm công hạ, như Tăng dịch thừa khí thang, vừa tả hạ vừa tư âm. Tả thực nhiệt th́ có thể bảo tồn âm dịch; tư âm nhuận táo th́ lại giúp thông hạ. Tiêu bản cùng trị có thể đạt hiệu quả hỗ trợ lẫn nhau.

Ví dụ khác, người vốn khí hư mà bị cảm mạo, điều trị nên ích khí giải biểu. Ích khí là trị bản, giải biểu là trị tiêu. Lại như biểu chứng chưa hết mà lư chứng đă xuất hiện, th́ nên biểu lư song giải. Những điều này đều là ví dụ của tiêu bản đồng trị.

"Biểu lư song giải."
Giải thích: Biểu chứng và lư chứng cùng tồn tại th́ phải đồng thời giải biểu và trị lư, không nên chỉ thiên về một mặt khi bệnh t́nh cho phép.

4. Bệnh nặng th́ chuyên trị một mặt

"Thậm giả độc hành."
Giải thích: Bệnh nặng, bệnh thế cấp th́ phải căn cứ t́nh h́nh thực tế mà chuyên trị một mặt. Nếu tiêu cấp th́ chuyên trị tiêu; nếu bản cấp th́ chuyên trị bản. Đây gọi là “độc hành”.

Ví dụ trong Thương Hàn Luận, điều 93 có nói:

"Thương hàn, y hạ chi, tục đắc hạ lợi thanh cốc bất chỉ, thân đông thống giả, cấp đương cứu lư; hậu thân đông thống, thanh tiện tự điều giả, cấp đương cứu biểu."
Giải thích: Người bệnh thương hàn, thầy thuốc dùng phép hạ sai, sau đó bị tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu không ngừng, đồng thời thân thể đau nhức, th́ trước hết phải gấp cứu lư. Sau đó nếu thân thể vẫn đau nhức nhưng đại tiện đă tự điều ḥa, th́ phải gấp cứu biểu.

Nếu theo nguyên tắc bệnh phát trước là bản, bệnh phát sau là tiêu, th́ biểu chứng thân thể đau nhức là bệnh có trước, thuộc bản; lư chứng tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu là bệnh phát sinh sau, thuộc tiêu. Nhưng hiện tại tiêu bệnh đang cấp, nên trước hết dùng Tứ nghịch thang để cứu lư, trị tiêu. Đợi lư bệnh giảm nhẹ, lúc ấy tương đối mà nói, bản bệnh lại trở thành cấp hơn, nên tiếp tục dùng Quế chi thang để cứu biểu, trị bản.

Điều này cho thấy: trong bệnh nặng, không thể máy móc nói lúc nào cũng trị bản trước hay tiêu trước. Phải xem lúc đó mặt nào nguy cấp hơn th́ xử lư mặt đó trước.

5. Thứ tự trước sau giữa tiêu và bản

Tiết này nói:

"Bệnh phát hữu dư, bản nhi tiêu chi, tiên trị kỳ bản, hậu trị kỳ tiêu."
Giải thích: Bệnh phát mà thuộc hữu dư, tức thực chứng, tà khí thịnh, th́ trước hết trị bản, sau đó trị tiêu. V́ thực tà là căn nguyên chủ yếu, trừ được thực tà th́ tiêu chứng mới dễ giải.

"Bệnh phát bất túc, tiêu nhi bản chi; tiên trị kỳ tiêu, hậu trị kỳ bản."
Giải thích: Bệnh phát mà thuộc bất túc, tức hư chứng, chính khí suy, th́ trước hết trị tiêu, sau đó mới từ từ trị bản. V́ chính khí hư yếu, nếu vội công trị bản hoặc điều chỉnh quá sâu có thể không chịu nổi, nên cần ổn định triệu chứng trước rồi mới bồi bổ chính khí.

Đây là căn cứ vào hư thực của bệnh chứng để xác định thứ tự trị tiêu và trị bản. Nhưng khi thực hành cụ thể, vẫn phải kết hợp với mức độ nặng nhẹ, hoăn cấp của hư thực để thẩm chứng luận trị, chứ không phải là một công thức cố định.

Tóm lại, thiên này đă tŕnh bày đầy đủ nhiều ví dụ về cách vận dụng linh hoạt trị tắc tiêu bản, có nhiều gợi mở đối với thực tiễn lâm sàng ngày nay. Pháp tắc điều trị tiêu bản vừa có tính nguyên tắc, vừa có tính linh hoạt. Khi ứng dụng lâm sàng, hoặc trị bản trước, hoặc trị tiêu trước, hoặc tiêu bản đồng trị, nhưng nói chung đều phải phù hợp với bệnh t́nh cụ thể.

Trị pháp lấy âm dương làm phép tắc

Nguyên văn

"Cố viết: Bệnh chi thủy khởi dă, khả thích nhi dĩ; kỳ thịnh, khả đăi suy nhi dĩ."
Dịch nghĩa: Cho nên nói: Khi bệnh mới bắt đầu phát sinh th́ có thể châm thích mà khỏi; khi bệnh đang thịnh th́ có thể đợi thế bệnh suy rồi mới trị.
Giải thích: Khi bệnh mới khởi, tà khí c̣n nhẹ, chính khí chưa suy, điều trị dễ đạt hiệu quả. Khi bệnh tà đang cực thịnh, nếu công trị quá mạnh có thể làm tổn thương chính khí, nên có khi cần chờ tà thế giảm bớt rồi mới trị thích đáng.

"Cố nhân kỳ khinh nhi dương chi."
Dịch nghĩa: V́ vậy, nhân lúc bệnh c̣n nhẹ th́ nâng phát nó lên.
Giải thích: Khi tà khí c̣n nhẹ, ở phần nông, có thể dùng phép phát tán, tuyên dương để đưa tà ra ngoài.

"Nhân kỳ trọng nhi giảm chi."
Dịch nghĩa: Nhân khi bệnh nặng th́ làm giảm bớt nó.
Giải thích: Khi tà khí nặng, bệnh thế thịnh, cần dùng phép làm suy giảm tà khí, giảm bớt thế bệnh, không để nó tiếp tục phát triển.

"Nhân kỳ suy nhi chương chi."
Dịch nghĩa: Nhân khi bệnh đă suy th́ làm cho chính khí sáng rơ, phát huy trở lại.
Giải thích: Khi tà khí đă suy, nên giúp chính khí khôi phục, làm rơ phần chính khí, tăng sức chống bệnh để cơ thể tự hồi phục.

"H́nh bất túc giả, ôn chi dĩ khí."
Dịch nghĩa: H́nh thể bất túc th́ dùng khí để ôn dưỡng.
Giải thích: H́nh thể suy yếu, cơ nhục không đầy đủ, thường liên quan đến dương khí không đủ ôn dưỡng. V́ vậy cần dùng thuốc khí vị ôn ấm, giúp dương khí sinh hóa để nuôi h́nh thể.

"Tinh bất túc giả, bổ chi dĩ vị."
Dịch nghĩa: Tinh bất túc th́ dùng vị để bồi bổ.
Giải thích: Tinh huyết âm dịch thiếu hụt th́ cần dùng các vị thuốc có tính bổ dưỡng, vị hậu, giàu khả năng tư dưỡng để bổ tinh, dưỡng huyết, sinh tân.

"Kỳ cao giả, nhân nhi việt chi."
Dịch nghĩa: Bệnh ở phần trên th́ thuận thế mà làm cho vượt ra ngoài.
Giải thích: Nếu tà khí ở thượng bộ, có thể dùng phép thổ, phát tán hoặc tuyên thông để đưa tà ra theo đường trên.

"Kỳ hạ giả, dẫn nhi kiệt chi."
Dịch nghĩa: Bệnh ở phần dưới th́ dẫn xuống và làm cho hết.
Giải thích: Nếu tà khí ở hạ bộ, có thể dùng phép công hạ, lợi tiểu, thông tiện để dẫn tà ra theo đường dưới.

"Trung măn giả, tả chi ư nội."
Dịch nghĩa: Trung tiêu đầy trướng th́ tả ở bên trong.
Giải thích: Khi bên trong tích trệ, đầy tức, khí cơ không thông, phải dùng phép tả lư, công hạ hoặc tiêu đạo để thông trung tiêu.

"Kỳ hữu tà giả, tẩm h́nh dĩ vi hăn."
Dịch nghĩa: Có tà ở biểu th́ làm cho thân thể thấm ướt để phát mồ hôi.
Giải thích: Đây là phép dùng tắm, xông, làm ấm hoặc dùng thuốc để phát hăn, giúp tà khí theo mồ hôi mà ra.

"Kỳ tại b́ giả, hăn nhi phát chi."
Dịch nghĩa: Tà ở da th́ phát hăn để đưa ra ngoài.
Giải thích: Khi tà c̣n ở b́ biểu, nên dùng phép phát hăn giải biểu, khiến tà khí theo mồ hôi mà giải.

"Kỳ phiêu hăn giả, án nhi thu chi."
Dịch nghĩa: Tà khí phiêu hăn, mạnh bạo th́ dùng phép ấn nạp mà thu lại.
Giải thích: “Phiêu hăn” chỉ tà khí mạnh, bốc nhanh, tán loạn. Khi đó cần dùng phép điều phục, thu liễm, ấn nạp để làm khí cơ ổn định.

"Kỳ thực giả, tán nhi tả chi."
Dịch nghĩa: Thực chứng th́ làm cho tán ra và tả đi.
Giải thích: Khi tà khí thịnh, tích tụ, bế tắc, cần dùng phép tán tà và tả thực để trừ phần hữu dư.

"Thẩm kỳ âm dương, dĩ biệt nhu cương."
Dịch nghĩa: Phải xét kỹ âm dương để phân biệt nhu và cương.
Giải thích: Trước khi điều trị cần phân biệt bệnh thuộc âm hay dương, hư hay thực, hàn hay nhiệt, mềm yếu hay cứng mạnh, để chọn phương pháp phù hợp.

"Dương bệnh trị âm, âm bệnh trị dương."
Dịch nghĩa: Bệnh ở dương th́ trị âm; bệnh ở âm th́ trị dương.
Giải thích: Âm dương liên hệ với nhau. Dương bệnh có khi gốc ở âm không đủ để chế dương, nên phải trị âm. Âm bệnh có khi gốc ở dương không đủ để hóa âm, nên phải trị dương. Đây là nguyên tắc điều chỉnh âm dương từ mặt đối ứng.

"Định kỳ huyết khí, các thủ kỳ hương."
Dịch nghĩa: Phải xác định huyết và khí, khiến mỗi thứ giữ đúng vị trí của nó.
Giải thích: Trị bệnh phải phân rơ bệnh ở khí hay ở huyết, khí hư hay khí thực, huyết hư hay huyết ứ, rồi điều chỉnh để khí huyết vận hành đúng đường, không rối loạn.

"Huyết thực nghi quyết chi."
Dịch nghĩa: Huyết thực th́ nên làm cho thông quyết.
Giải thích: Huyết thực thường chỉ huyết ứ, huyết tích, huyết mạch bế tắc; cần dùng phép phá ứ, thông huyết, hoặc châm chích xuất huyết thích đáng để giải sự ứ trệ.

"Khí hư nghi xế dẫn chi."
Dịch nghĩa: Khí hư th́ nên dùng phép kéo dẫn, nâng đỡ.
Giải thích: Khí hư th́ vận hành yếu, không đủ sức thúc đẩy huyết và tân dịch. Điều trị nên dùng phép bổ khí, dẫn khí, nâng đỡ khí cơ, giúp khí phục hồi và vận hành trở lại.

Trích Tố Vấn, thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận.

Chú thích

1. "Kỳ thịnh, khả đăi suy nhi dĩ."
Giải thích: Khi bệnh tà đang đến quá mạnh, thế bệnh quá thịnh, không nên dùng châm thích để trực tiếp công tà ngay, mà nên chờ lúc bệnh thế hơi suy rồi mới châm. Mục đích là tránh làm hao tổn chính khí. Quan điểm này trong Nội Kinh cũng thấy ở Tố Vấn, thiên Ngược Luận:

"Phương kỳ thịnh thời, vật cảm hủy thương; nhân kỳ suy dă, sự tất đại xương."
Giải thích: Khi bệnh tà đang lúc cực thịnh th́ không nên vội làm tổn thương chính khí; phải nhân lúc bệnh thế đă suy mà điều trị, khi ấy việc trị liệu mới dễ thành công lớn.

2. "Nhân kỳ khinh nhi dương chi."
Giải thích: “Khinh” là bệnh c̣n nhẹ, c̣n nông. “Dương” là tuyên dương, phát tán. Nghĩa là khi bệnh tà c̣n nhẹ và ở phần nông th́ dùng phép tuyên phát, phát tán để đưa tà ra ngoài.

3. "Nhân kỳ trọng nhi giảm chi."
Giải thích: “Trọng” là bệnh tà sâu, nặng và thuộc thực. “Giảm” là trừ tà, làm giảm dần thế bệnh. Nghĩa là khi bệnh tà đă sâu nặng th́ cần từng bước khu trừ tà khí, làm cho thế tà giảm xuống.

4. "Nhân kỳ suy nhi chương chi."
Giải thích: “Suy” là khí huyết hư suy. “Chương” là làm cho sáng rơ, phát huy rơ rệt. Nghĩa là khi khí huyết hư suy th́ dùng phép bổ ích khí huyết, làm cho công năng sinh lư của khí huyết được tăng cường.

5. "H́nh bất túc giả, ôn chi dĩ khí; tinh bất túc giả, bổ chi dĩ vị."
Giải thích: Người dương hư mà h́nh thể suy nhược th́ dùng thuốc ôn bổ dương khí, khiến dương khí có thể đạt ra ngoài biểu để ôn ấm h́nh thể. Người âm tinh suy kiệt th́ dùng các vị thuốc hậu vị, có tác dụng điền bổ chân tinh, khiến tinh khí được tư bổ và khôi phục tác dụng nhu dưỡng.

6. "Kỳ cao giả, nhân nhi việt chi."
Giải thích: “Cao” chỉ vùng từ ngực, cơ hoành trở lên. “Việt” là làm cho vượt ra, nôn ra. Khi bệnh tà ở vị trí từ ngực, cơ hoành trở lên th́ có thể khu tà theo đường gần nhất, dùng phép dũng thổ để trục tà ra ngoài.

7. "Kỳ hạ giả, dẫn nhi kiệt chi."
Giải thích: “Hạ” chỉ vùng từ rốn trở xuống. “Dẫn” là dẫn dắt; “kiệt” là làm cho hết sạch. Khi bệnh ở vùng dưới rốn th́ dùng phép công hạ để dẫn tà khí đi xuống và làm cho tà khí ra hết.

8. "Trung măn giả, tả chi ư nội."
Giải thích: “Trung măn” là vùng vị quản, bụng đầy trướng. Bệnh tà ở giữa, không ở trên cũng không ở dưới, nên không thích hợp dùng phép thổ hoặc phép hạ mạnh. Chỉ có thể tả ở bên trong, tức dùng phép tiêu, làm tiêu ṃn tà khí tích lại ở trung tiêu.

9. "Tẩm h́nh dĩ vi hăn."
Giải thích: “Tẩm” là ngâm, làm thấm. Dùng nước nóng hoặc thuốc tắm để ngâm, xông, làm ấm thân thể, khiến mồ hôi xuất ra, nhờ đó có thể khu trừ tà khí.

10. "Kỳ phiêu hăn giả, án nhi thu chi."
Giải thích: “Phiêu hăn” chỉ bệnh thế đến gấp, dữ dội, mạnh bạo. “Án” là ức chế, đè lại; “thu” là thu phục bệnh thế. Đối với bệnh t́nh đến nhanh và mạnh, nên kịp thời ức chế, thu phục bệnh thế, không để tà khí tiếp tục bốc mạnh.

11. "Kỳ thực giả, tán nhi tả chi."
Giải thích: “Tán” là phép phát tán; “tả” là phép công tả. “Thực” chỉ thực chứng. Nếu biểu thực th́ nên phát tán; nếu lư thực th́ nên công tả.

12. "Nhu cương."
Giải thích: Đây là từ đồng nghĩa với âm dương. “Nhu” thuộc âm, “cương” thuộc dương.

13. "Dương bệnh trị âm, âm bệnh trị dương."
Giải thích: Khi dương thắng th́ âm tất bị bệnh; khi âm thắng th́ dương tất bị bệnh. V́ vậy, bệnh chứng thuộc dương có thể dùng phương pháp trị âm để điều chỉnh, bệnh chứng thuộc âm có thể dùng phương pháp trị dương để điều chỉnh.

Phân tích

Đoạn này bàn về ứng dụng của lư luận âm dương trong trị tắc.

Đoạn văn cho rằng, trị bệnh trước hết phải phân biệt âm dương, khí huyết, tà chính, hư thực, rồi vận dụng hợp lư các phép bổ và tả để điều chỉnh âm dương. Nếu là hư chứng do âm bất túc hoặc dương thiên suy, th́ nên theo nguyên tắc:

"Nhân kỳ suy nhi chương chi."
Giải thích: Nhân lúc chính khí suy yếu mà làm cho chính khí được phát huy trở lại. Tức là dùng phép bổ để nâng đỡ khí huyết, âm dương.

Đây cũng chính là nguyên tắc:

"Hư tắc bổ chi."
Giải thích: Hư th́ bổ. Khi chính khí, khí huyết, âm dương bất túc th́ phải dùng phép bổ để phục hồi phần suy yếu.

Cách trị cụ thể là:

"H́nh bất túc giả, ôn chi dĩ khí; tinh bất túc giả, bổ chi dĩ vị."
Giải thích: H́nh thể suy nhược th́ dùng khí dược để ôn dưỡng; tinh huyết bất túc th́ dùng vị dược để bồi bổ. Đây là cách phân biệt h́nh và tinh, khí và vị để bổ hư.

"Khí hư nghi xế dẫn chi."
Giải thích: Khí hư th́ nên dùng phép kéo dẫn, nâng đỡ, tức giúp khí cơ được phục hồi, vận hành trở lại, không để khí hư mà hạ hăm hoặc tŕ trệ.

Nếu thuộc thực chứng do âm thịnh hoặc dương thịnh, th́ dùng phép công tả để điều trị. Phép trị cụ thể phải căn cứ vào vị trí của tà khí mà quyết định: tà ở thượng tiêu th́ nên phát vượt ra ở phần trên, dùng phép dũng thổ; tà ở hạ tiêu th́ nên cho bài xuất theo khiếu dưới, dùng phép sơ lợi hoặc tả hạ; tà ở trung tiêu th́ dùng phép tiêu đạo, sơ tán. Tà ở biểu th́ phát tán; tà ở lư th́ công tả. Huyết thực mà ứ trệ không thông th́ dùng phép hoạt huyết phá ứ. Tà khí đến gấp mạnh th́ dùng phép khu tà, phục tà để chế ngự.

Những trị pháp này về cơ bản đă bao gồm tám phép trị của đời sau:

"Hăn, thổ, hạ, ḥa, ôn, thanh, tiêu, bổ."
Giải thích: “Hăn” là phát hăn giải biểu; “thổ” là dũng thổ để đưa tà ra trên; “hạ” là công hạ để đưa tà ra dưới; “ḥa” là điều ḥa, ḥa giải; “ôn” là ôn ấm, ôn bổ; “thanh” là thanh nhiệt; “tiêu” là tiêu đạo, tiêu tích, tiêu tán; “bổ” là bồi bổ chính khí.

Những tư tưởng này có ảnh hưởng lớn và có ư nghĩa chỉ đạo quan trọng đối với sự phát triển của trị tắc, trị pháp đời sau cũng như thực tiễn lâm sàng.

Khái niệm quân, thần, sứ trong phương tễ

Nguyên văn

"Chủ bệnh chi vị quân, tá quân chi vị thần, ứng thần chi vị sứ."
Dịch nghĩa: Vị thuốc chủ trị bệnh gọi là quân; vị thuốc giúp đỡ quân gọi là thần; vị thuốc ứng theo thần gọi là sứ.
Giải thích: Đây là khái niệm cơ bản trong cấu trúc phương tễ. “Quân” là vị chủ dược, trực tiếp nhắm vào chủ bệnh; “thần” là vị phụ trợ, giúp quân dược tăng hiệu quả; “sứ” là vị dẫn đường, điều ḥa hoặc phối hợp với các vị thuốc khác để đưa tác dụng đến đúng nơi.

Trích Tố Vấn, thiên Chí Chân Yếu Đại Luận.

Phân tích

Tiết này nêu ra khái niệm quân, thần, sứ trong phương tễ. Về sau thường phát triển thành hệ thống quân, thần, tá, sứ. Trương Giới Tân chú rằng:

"Chủ bệnh giả, đối chứng chi yếu dược dă, cố vị chi quân."
Giải thích: Vị thuốc chủ trị bệnh là vị thuốc trọng yếu đối với chứng bệnh, nên gọi là quân.

"Quân giả, vị số thiểu nhi phân lượng trọng, lại chi dĩ vi chủ dă."
Giải thích: Quân dược thường có số vị ít nhưng phân lượng nặng, là chỗ nương tựa chủ yếu của cả phương thuốc.

"Tá quân giả vị thần, vị số sảo đa nhi phân lượng sảo khinh, sở dĩ khuông quân chi bất đăi dă."
Giải thích: Vị thuốc giúp đỡ quân dược gọi là thần. Số vị có thể hơi nhiều hơn, phân lượng hơi nhẹ hơn, dùng để bổ trợ những chỗ quân dược chưa đủ sức bao quát.

"Ứng thần giả vị chi sứ, số khả xuất nhập nhi phân lượng canh khinh, sở bị thông hành hướng đạo chi sứ dă."
Giải thích: Vị thuốc ứng theo thần dược gọi là sứ. Số lượng có thể thêm bớt linh hoạt, phân lượng càng nhẹ hơn, có tác dụng thông hành, dẫn đường, điều ḥa toàn phương.

Pháp tắc cơ bản của chế phương theo quân, thần, tá, sứ

Nguyên văn chuyển Hán Việt, dịch nghĩa và giải thích

"Đế viết: Khí hữu đa thiểu, bệnh hữu thịnh suy, trị hữu hoăn cấp, phương hữu đại tiểu, nguyện văn kỳ ước, nại hà?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Khí có nhiều ít, bệnh có thịnh suy, trị có hoăn cấp, phương có lớn nhỏ, xin được nghe chuẩn tắc của điều đó là thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về nguyên tắc chế phương: làm sao căn cứ vào khí hóa âm dương, bệnh thế mạnh yếu, phương pháp trị liệu nhanh chậm mà quyết định phương thuốc lớn nhỏ, mạnh nhẹ.

"Kỳ Bá viết: Khí hữu cao hạ, bệnh hữu viễn cận, chứng hữu trung ngoại, trị hữu khinh trọng, thích kỳ chí sở vi cố dă."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Khí có cao thấp, bệnh có xa gần, chứng có trong ngoài, trị có nhẹ nặng, cốt ở chỗ làm cho thuốc đến đúng nơi bệnh.
Giải thích: Khi lập phương phải xét vị trí bệnh ở cao hay thấp, xa hay gần, trong hay ngoài, bệnh nặng hay nhẹ, rồi điều chỉnh thuốc để dược lực có thể đến đúng bệnh sở.

"Đại yếu viết: Quân nhất thần nhị, kỳ chi chế dă."
Dịch nghĩa: Sách Đại Yếu nói: Một quân, hai thần là phép chế của kỳ phương.
Giải thích: “Kỳ phương” là phương thuốc có kết cấu số lẻ hoặc phương đơn giản, lực chuyên nhất, thường dùng cho bệnh tương đối nhẹ, nông hoặc cần tác dụng chuyên nhất.

"Quân nhị thần tứ, ngẫu chi chế dă."
Dịch nghĩa: Hai quân, bốn thần là phép chế của ngẫu phương.
Giải thích: “Ngẫu phương” là phương thuốc có kết cấu số chẵn hoặc phức phương, lực rộng hơn, thường dùng cho bệnh sâu, nặng hoặc bệnh t́nh phức tạp.

"Quân nhị thần tam, kỳ chi chế dă."
Dịch nghĩa: Hai quân, ba thần là phép chế của kỳ phương.
Giải thích: Đây cũng thuộc phép kỳ phương, tuy có hai vị quân nhưng tổng thể phối ngũ vẫn theo dạng kỳ, thuốc có khuynh hướng chuyên nhất.

"Quân nhị thần lục, ngẫu chi chế dă."
Dịch nghĩa: Hai quân, sáu thần là phép chế của ngẫu phương.
Giải thích: Đây thuộc phép ngẫu phương, số vị phối hợp nhiều hơn, tác dụng bao quát hơn, thích hợp với bệnh thế sâu nặng hoặc bệnh cơ phức tạp.

"Cố viết: Cận giả kỳ chi, viễn giả ngẫu chi."
Dịch nghĩa: Cho nên nói: Bệnh ở gần th́ dùng kỳ phương, bệnh ở xa th́ dùng ngẫu phương.
Giải thích: Bệnh vị gần, bệnh ở phần nông, có thể dùng phương thuốc đơn giản, lực chuyên nhất. Bệnh vị xa, bệnh ở sâu, cần phương thuốc phối hợp phức tạp hơn để đưa dược lực đến bệnh sở.

"Hăn giả bất dĩ kỳ, hạ giả bất dĩ ngẫu."
Dịch nghĩa: Muốn phát hăn th́ không dùng kỳ phương; muốn công hạ th́ không dùng ngẫu phương.
Giải thích: Phát hăn cần thuốc đủ rộng để phát tán ra biểu, nên không dùng phương quá đơn giản. Công hạ cần lực chuyên mạnh để trục tà xuống dưới, nên không dùng phương quá phức tạp, tản lực.

"Bổ thượng trị thượng chế dĩ hoăn."
Dịch nghĩa: Bổ phần trên, trị bệnh ở trên th́ chế phương nên dùng tính hoăn.
Giải thích: Bệnh ở thượng bộ, hoặc cần bổ phần trên, nên dùng thuốc tính nhẹ, hoăn, không quá mạnh, để tránh làm tổn thương khí cơ thượng tiêu.

"Bổ hạ trị hạ chế dĩ cấp."
Dịch nghĩa: Bổ phần dưới, trị bệnh ở dưới th́ chế phương nên dùng tính cấp.
Giải thích: Bệnh ở hạ bộ hoặc cần bổ hạ tiêu th́ dùng thuốc khí vị dày, lực mạnh hơn, để thuốc có thể đạt xuống sâu và phát huy hiệu quả.

"Cấp tắc khí vị hậu, hoăn tắc khí vị bạc."
Dịch nghĩa: Phương cấp th́ khí vị dày; phương hoăn th́ khí vị mỏng.
Giải thích: Thuốc khí vị hậu th́ lực mạnh, tác dụng sâu; thuốc khí vị bạc th́ lực nhẹ, tác dụng ḥa hoăn.

"Thích kỳ chí sở, thử chi vị dă."
Dịch nghĩa: Làm cho thuốc đến đúng nơi bệnh, chính là ư này.
Giải thích: Mọi cách lập phương, dùng thuốc, chọn khí vị, nặng nhẹ, hoăn cấp đều nhằm mục đích để dược lực đến đúng bệnh sở.

"Bệnh sở viễn, nhi trung đạo khí vị chi giả, thực nhi quá chi."
Dịch nghĩa: Nếu bệnh sở ở xa, mà khí vị của thuốc có thể bị cản trở giữa đường, th́ dùng thức ăn để giúp thuốc đi qua.
Giải thích: Khi bệnh ở vị trí xa như hạ tiêu, cần chú ư cách uống thuốc và ăn uống để tránh thức ăn cản trở khí vị của thuốc. Có khi phải uống thuốc trước rồi ăn sau để thuốc đi thẳng đến hạ tiêu; nếu bệnh ở thượng tiêu th́ có thể ăn trước rồi uống thuốc sau.

"Vô việt kỳ chế độ dă."
Dịch nghĩa: Không được vượt quá chế độ, phép tắc ấy.
Giải thích: Việc dùng thuốc, lượng thuốc, cách uống, thời điểm uống đều phải có phép tắc, không được tùy tiện.

"Thị cố b́nh khí chi đạo, cận nhi kỳ ngẫu, chế tiểu kỳ phục dă."
Dịch nghĩa: V́ vậy, đạo lư b́nh điều khí cơ là: bệnh gần dù dùng kỳ hay ngẫu th́ chế liều nhỏ.
Giải thích: Bệnh vị gần, bệnh ở nông, không cần liều quá lớn; dùng lượng thuốc nhẹ để tránh quá mức.

"Viễn nhi kỳ ngẫu, chế đại kỳ phục dă."
Dịch nghĩa: Bệnh xa dù dùng kỳ hay ngẫu th́ chế liều lớn.
Giải thích: Bệnh vị xa, bệnh ở sâu, cần lượng thuốc mạnh hơn, đủ sức đưa dược lực đến nơi bệnh.

"Đại tắc số thiểu, tiểu tắc số đa."
Dịch nghĩa: Đại phương th́ số lần uống ít; tiểu phương th́ số lần uống nhiều.
Giải thích: Thuốc liều lớn, lực mạnh th́ không cần uống nhiều lần; thuốc liều nhỏ, lực nhẹ th́ có thể uống nhiều lần để duy tŕ tác dụng.

"Đa tắc cửu chi, thiểu tắc nhị chi."
Dịch nghĩa: Nhiều th́ đến chín, ít th́ đến hai.
Giải thích: Đây là con số ước lệ để nói số vị thuốc hoặc số lần dùng thuốc nhiều ít, không phải tiêu chuẩn tuyệt đối cố định.

"Kỳ chi bất khứ tắc ngẫu chi, thị vị trọng phương."
Dịch nghĩa: Dùng kỳ phương mà bệnh không khỏi th́ dùng ngẫu phương, đó gọi là trọng phương.
Giải thích: Nếu phương đơn giản, lực chuyên nhất không trừ được bệnh, th́ dùng phương phức hợp hơn, phối hợp nhiều mặt để tăng hiệu quả; đây gọi là phức phương hoặc trọng phương.

"Ngẫu chi bất khứ, tắc phản tá dĩ thủ chi."
Dịch nghĩa: Dùng ngẫu phương mà bệnh không khỏi th́ dùng phép phản tá để lấy bệnh.
Giải thích: Khi phương chính không giải được bệnh, có thể dùng phản tá, tức trong phương hàn thêm vị nhiệt, trong phương nhiệt thêm vị hàn, hoặc dùng cách uống trái chiều để tránh thuốc bị bệnh khí chống lại.

"Sở vị hàn nhiệt ôn lương, phản ṭng kỳ bệnh dă."
Dịch nghĩa: Đó gọi là hàn, nhiệt, ôn, lương phản lại mà thuận theo bệnh.
Giải thích: Đây là phép phản tá hoặc phản ṭng: dùng cách phối hợp hoặc cách uống thuốc có vẻ thuận theo biểu hiện bệnh, nhưng mục đích là để thuốc vào được bệnh sở và phát huy hiệu quả điều trị.

Trích Tố Vấn, thiên Chí Chân Yếu Đại Luận.

Chú thích

1. "Khí."
Giải thích: Chỉ khí âm dương, tức trạng thái khí hóa thuộc âm hoặc dương trong bệnh cơ.

2. "Ước."
Giải thích: Nghĩa là chuẩn tắc, nguyên tắc khái quát để chế phương và dùng thuốc.

3. "Viễn cận."
Giải thích: Ở đây chỉ sự xa gần của vị trí bệnh. Vương Băng chú rằng: “Tâm phế là gần, thận can là xa, tỳ vị ở giữa.”

"Tâm phế vi cận, thận can vi viễn, tỳ vị cư trung."
Giải thích: Tâm và phế nằm ở thượng tiêu nên gọi là gần; thận và can ở phần dưới, sâu hơn nên gọi là xa; tỳ vị ở trung tiêu nên gọi là ở giữa.

4. "Thích kỳ chí sở vi cố dă."
Giải thích: Nguyên tắc chế phương là làm cho dược lực có thể đến đúng nơi bệnh. Vương Băng chú rằng:

"Tạng vị hữu cao hạ, phủ khí hữu viễn cận, bệnh chứng hữu biểu lư, dược dụng hữu khinh trọng, điều kỳ đa thiểu, ḥa kỳ khẩn mạn, linh dược khí chí bệnh sở vi cố, vật thái quá dữ bất cập dă."
Giải thích: Tạng vị có cao thấp, phủ khí có xa gần, bệnh chứng có biểu lư, thuốc dùng có nhẹ nặng; phải điều chỉnh nhiều ít, ḥa hợp nhanh chậm, khiến khí thuốc đến được nơi bệnh, không thái quá cũng không bất cập.

5. "Đại Yếu."
Giải thích: Là tên một sách y cổ có trước Nội Kinh.

6. "Quân, thần."
Giải thích: Chủ dược trong phương gọi là quân; thuốc phụ giúp quân dược phát huy tác dụng gọi là thần.

7. "Kỳ chi chế, ngẫu chi chế."
Giải thích: Tức kỳ phương và ngẫu phương. Vương Băng chú rằng:

"Kỳ, vị cổ chi đơn phương; ngẫu, vị cổ chi phức phương dă."
Giải thích: “Kỳ” là đơn phương thời xưa, tức phương thuốc đơn giản, lực chuyên nhất. “Ngẫu” là phức phương thời xưa, tức phương thuốc phối hợp nhiều vị, tác dụng rộng hơn.

8. "Cận giả kỳ chi, viễn giả ngẫu chi."
Giải thích: Bệnh vị gần th́ dùng kỳ phương; bệnh vị xa th́ dùng phức phương. Bệnh nông, gần th́ thuốc đơn giản cũng dễ đến; bệnh sâu, xa th́ cần phối hợp nhiều vị để dẫn thuốc vào sâu.

9. "Hăn giả bất dĩ kỳ, hạ giả bất dĩ ngẫu."
Giải thích: Kỳ phương ít vị, lực chuyên; ngẫu phương nhiều vị, tác dụng rộng. Muốn phát hăn th́ nếu không dùng ngẫu phương sẽ không đủ sức phát tán; muốn công hạ th́ nếu không dùng kỳ phương sẽ không đủ sức trừ tà chuyên mạnh.

10. "Bổ thượng trị thượng chế dĩ hoăn, bổ hạ trị hạ chế dĩ cấp."
Giải thích: “Hoăn” và “cấp” chỉ dược tính ḥa hoăn hoặc mạnh dữ. Ư nói: nếu phần trên bất túc cần bổ, hoặc tà ở trên cần trừ, th́ nên dùng phương thuốc tính ḥa hoăn; nếu phần dưới bất túc cần bổ, hoặc tà ở dưới cần công, th́ nên dùng phương thuốc dược tính mạnh hơn.

11. "Bệnh sở viễn, nhi trung đạo khí vị chi giả, thực nhi quá chi."
Giải thích: Nếu bệnh vị ở xa, như bệnh ở hạ tiêu, nên uống thuốc trước rồi mới ăn, để tránh thức ăn ngăn cách khí vị của thuốc, làm dược hiệu mất giữa đường. Nếu bệnh ở thượng tiêu, nên ăn trước rồi mới uống thuốc.

12. "B́nh khí chi đạo."
Giải thích: Là đạo lư b́nh điều khí cơ, làm cho khí cơ thăng giáng, xuất nhập được điều ḥa.

13. "Tiểu kỳ phục, đại kỳ phục."
Giải thích: “Đại phục”, “tiểu phục” chỉ lượng thuốc nặng nhẹ. Đại phục là số vị ít mà phân lượng nhiều, khí vị chuyên nhất, công hiệu đi xa. Tiểu phục là số vị nhiều mà phân lượng ít, dược lực mỏng, công hiệu gần.

14. "Cửu chi, nhị chi."
Giải thích: Đây là con số ước lệ nói về số lượng vị thuốc trong chế phương, không phải tiêu chuẩn số học tuyệt đối.

15. "Trọng phương."
Giải thích: Tức phức phương, phương thuốc phối hợp nhiều tầng, nhiều vị, hoặc dùng kỳ phương, ngẫu phương chồng lên nhau để xử lư bệnh phức tạp.

16. "Phản tá."
Giải thích: Chỉ phép phản tá trong phối ngũ phương thuốc. Nghĩa là trong phương thuốc hàn có thêm một vị thuốc nhiệt để làm tá, hoặc trong phương thuốc nhiệt có thêm một vị thuốc hàn để làm tá. Ngoài ra, thuốc nhiệt uống nguội, thuốc hàn uống nóng cũng gọi là phản tá pháp.

Phân tích

Đoạn này bàn về pháp tắc cơ bản của việc chế phương theo quân, thần, tá, sứ. Đồng thời, căn cứ vào bệnh t́nh nặng nhẹ, bệnh vị trên dưới, bệnh thế hoăn cấp, số vị thuốc kỳ ngẫu v.v., đoạn này nêu ra cách phân loại đại phương, tiểu phương, hoăn phương, cấp phương, kỳ phương, ngẫu phương, trọng phương, cũng như phương pháp uống thuốc.

Tiết này căn cứ vào số lượng vị thuốc nhiều ít, liều lượng nặng nhẹ, tác dụng mạnh hay ḥa hoăn mà chia thành bảy loại chế phương:

"Đại, tiểu, kỳ, ngẫu, hoăn, cấp, trọng."
Giải thích: Đây là bảy loại phương pháp chế phương. “Đại” là phương lớn, “tiểu” là phương nhỏ, “kỳ” là phương đơn, “ngẫu” là phương phức, “hoăn” là phương có tác dụng ḥa hoăn, “cấp” là phương có tác dụng mạnh nhanh, “trọng” là phức phương hoặc phương chồng lớp.

Đại phương là phương có số vị thuốc ít nhưng phân lượng nặng, tác dụng mạnh, dùng để trị bệnh sâu nặng. Tiểu phương là phương có số vị thuốc nhiều nhưng phân lượng nhẹ, tác dụng yếu hơn, dùng để trị bệnh nhẹ nông.

Kỳ phương như “quân nhất thần nhị”, “quân nhị thần tam” v.v., dùng trị bệnh nhẹ nông, thích hợp với phép phát hăn. Ngẫu phương như “quân nhị thần tứ”, “quân nhị thần lục” v.v., dùng trị bệnh sâu nặng, thích hợp với phép tả hạ. Hoăn phương có khí vị mỏng, dược lực ḥa hoăn, thích hợp để bổ thượng, trị thượng. Cấp phương có khí vị dày, dược lực mạnh dữ, thích hợp để bổ hạ, trị hạ. Trọng phương là kỳ phương, ngẫu phương chồng dùng, thích hợp trị bệnh tương đối phức tạp.

Bảy loại phương chế trong Nội Kinh với tư cách là nguyên tắc lập phương đă mở đầu cho sự phát triển của phương tễ học. Trong đó, về chế phương kỳ ngẫu, các nhà chú giải phần nhiều bàn theo số vị thuốc lẻ và chẵn. Riêng Chu Học Hải đời Thanh lại giải thích theo tác dụng đơn nhất hay phức tạp của phương tễ. Ông nói:

"Dụng nhất vật vi quân, phục dụng đồng khí chi nhị vật dĩ phụ chi, thị vật tính chuyên nhất, cố viết kỳ dă."
Giải thích: Dùng một vị thuốc làm quân, lại dùng hai vị cùng khí để phụ trợ, như vậy dược tính chuyên nhất, nên gọi là kỳ.

"Dụng nhị vật nhất bổ nhất tả vi quân, phục dụng đồng khí giả các nhị vật dĩ phụ chi, thị lưỡng khí tịnh hành, cố viết ngẫu dă."
Giải thích: Dùng hai vị thuốc, một bổ một tả làm quân, lại dùng các vị cùng khí mỗi bên hai vị để phụ trợ; như vậy hai khí cùng vận hành, nên gọi là ngẫu.

Thuyết của Chu Học Hải cũng có lư, có thể tham khảo cùng với cách giải thích theo số lẻ, số chẵn của các nhà khác.

Tiết này c̣n bàn đến những phương pháp uống thuốc khác nhau. Căn cứ vào vị trí bệnh xa gần: nếu bệnh ở thượng tiêu, bệnh vị gần th́ nên uống thuốc sau khi ăn; nếu bệnh ở hạ tiêu, bệnh vị xa th́ nên uống thuốc trước khi ăn.

Căn cứ vào bệnh t́nh nặng nhẹ: nếu là bệnh đại hàn, đại nhiệt, dễ xảy ra t́nh trạng thuốc và bệnh khí chống nhau, th́ nên dùng phản tá phục dược pháp, tức hàn dược ôn phục, nhiệt dược lương phục.

"Hàn dược ôn phục, nhiệt dược lương phục."
Giải thích: Thuốc hàn th́ uống khi c̣n ấm; thuốc nhiệt th́ uống khi đă nguội. Đây là một cách phản tá trong phương pháp uống thuốc, nhằm giúp thuốc dễ được tiếp nhận, tránh bị bệnh khí chống lại.

Mục đích chung của tất cả những nguyên tắc này là:

"Sử dược chí bệnh sở."
Giải thích: Làm cho thuốc đến được đúng nơi bệnh. Đây là mục tiêu cuối cùng của việc lập phương, phối ngũ, quyết định liều lượng và lựa chọn cách uống thuốc.

Về phản tá pháp có hai tầng ư nghĩa.

Thứ nhất là phản tá pháp trong phối ngũ thuốc. Ví dụ, trị hàn dùng thuốc nhiệt, nhưng tá thêm một lượng nhỏ thuốc hàn, như Bạch thông gia trư đảm trấp thang; trị nhiệt dùng thuốc hàn, nhưng tá thêm một lượng nhỏ thuốc nhiệt, như trong các phương thuốc khổ hàn liều lớn lại phản tá thêm nước gừng.

Thứ hai là phản tá pháp trong cách uống thuốc. Như Tố Vấn, thiên Ngũ Thường Chính Đại Luận nói:

"Trị nhiệt dĩ hàn, ôn nhi hành chi; trị hàn dĩ nhiệt, lương nhi hành chi."
Giải thích: Trị bệnh nhiệt th́ dùng thuốc hàn, nhưng uống khi thuốc c̣n ấm; trị bệnh hàn th́ dùng thuốc nhiệt, nhưng uống khi thuốc đă nguội. Đây là cách làm cho thuốc dễ được cơ thể tiếp nhận, tránh hiện tượng bệnh khí chống lại thuốc. Điều này có giá trị chỉ đạo nhất định trong thực tiễn lâm sàng.

Phép tắc dùng thuốc trị bệnh và tác dụng của điều dưỡng bằng ăn uống

Nguyên văn chuyển Hán Việt, dịch nghĩa và giải thích

"Bệnh hữu cửu tân, phương hữu đại tiểu, hữu độc vô độc, cố nghi thường chế hĩ."
Dịch nghĩa: Bệnh có lâu mới khác nhau, phương thuốc có lớn nhỏ khác nhau, thuốc có loại có độc, có loại không độc, v́ vậy vốn phải có quy chế thường dùng.
Giải thích: Khi dùng thuốc phải xét bệnh mới hay cũ, phương lớn hay nhỏ, thuốc mạnh hay nhẹ, có độc hay không độc. Không được dùng thuốc tùy tiện, mà phải có pháp độ.

"Đại độc trị bệnh, thập khứ kỳ lục."
Dịch nghĩa: Dùng thuốc đại độc trị bệnh, khi bệnh mười phần đă trừ được sáu phần th́ nên dừng hoặc giảm.
Giải thích: Thuốc đại độc là thuốc có dược tính rất mạnh, dễ công tà nhưng cũng dễ tổn thương chính khí. V́ vậy khi bệnh đă lui khoảng sáu phần mười th́ không nên tiếp tục công mạnh.

"Thường độc trị bệnh, thập khứ kỳ thất."
Dịch nghĩa: Dùng thuốc thường độc trị bệnh, khi bệnh mười phần đă trừ được bảy phần th́ nên dừng hoặc giảm.
Giải thích: Thuốc thường độc có tính công trị tương đối mạnh nhưng không quá dữ như đại độc. Khi bệnh đă lui bảy phần th́ cần chuyển sang điều dưỡng, tránh làm tổn hại chính khí.

"Tiểu độc trị bệnh, thập khứ kỳ bát."
Dịch nghĩa: Dùng thuốc tiểu độc trị bệnh, khi bệnh mười phần đă trừ được tám phần th́ nên dừng hoặc giảm.
Giải thích: Thuốc tiểu độc có tính hơi thiên lệch, tác dụng trị bệnh nhẹ hơn, nhưng dùng lâu vẫn có thể làm tổn thương chính khí. V́ vậy khi bệnh đă lui tám phần th́ không nên dùng quá mức.

"Vô độc trị bệnh, thập khứ kỳ cửu."
Dịch nghĩa: Dùng thuốc không độc trị bệnh, khi bệnh mười phần đă trừ được chín phần th́ nên dừng hoặc giảm.
Giải thích: Thuốc không độc là thuốc tính vị tương đối b́nh ḥa, nhưng vẫn có thiên tính. Khi bệnh gần khỏi th́ cũng không nên dùng thuốc kéo dài quá mức.

"Cốc nhục quả thái, thực dưỡng tận chi."
Dịch nghĩa: Dùng ngũ cốc, thịt, trái cây, rau củ để ăn uống điều dưỡng cho hết phần bệnh c̣n lại.
Giải thích: Sau khi thuốc đă trừ phần lớn bệnh tà, phần c̣n lại nên dựa vào ăn uống điều dưỡng để phục hồi chính khí, bồi bổ khí huyết, giúp cơ thể tự hồi phục.

"Vô sử quá chi, thương kỳ chính dă."
Dịch nghĩa: Không được dùng thuốc quá mức, v́ sẽ làm tổn thương chính khí.
Giải thích: Thuốc tuy trị bệnh nhưng cũng có thiên tính. Nếu dùng quá lâu hoặc quá mạnh, có thể làm chính khí bị tổn thương, sinh ra bệnh mới.

"Bất tận, hành phục như pháp."
Dịch nghĩa: Nếu bệnh tà chưa hết, th́ lại tiếp tục dùng phương pháp như trên.
Giải thích: Nếu sau khi điều dưỡng mà tà khí vẫn c̣n, có thể lặp lại phép trị theo đúng pháp độ, nhưng vẫn phải tránh thái quá.

Trích Tố Vấn, thiên Ngũ Thường Chính Đại Luận.

Chú thích

1. "Hữu độc vô độc."
Giải thích: “Hữu độc” chỉ các thuốc có dược tính mạnh, thiên lệch, công phá tương đối dữ. “Vô độc” chỉ các thuốc có tính vị b́nh ḥa, ít gây tổn thương chính khí hơn.

2. "Thường chế."
Giải thích: Nghĩa là quy chế thông thường khi dùng thuốc, tức nguyên tắc chung về mức độ dùng thuốc, thời gian dùng thuốc và cách dừng thuốc.

3. "Hành phục như pháp."
Giải thích: Nếu bệnh tà vẫn chưa trừ hết, th́ tiếp tục lặp lại phép trị trước đó theo đúng pháp độ, không dùng bừa băi hoặc quá mức.

Phân tích

Đoạn này bàn về phép tắc dùng thuốc trị bệnh và vai tṛ của điều dưỡng bằng ăn uống.

Nội dung đoạn này tuy ít nhưng giá trị lâm sàng rất lớn. Bệnh có mới, cũ khác nhau; phương thuốc có lớn, nhỏ khác nhau; thuốc có loại mạnh, loại nhẹ khác nhau. Thuốc vốn là vật có thiên tính. Bất kỳ thuốc nào cũng có tính vị thiên lệch. Nếu phối ngũ không thích đáng, hoặc dùng quá lâu, th́ tất nhiên sẽ “sửa sai quá mức”, làm mất cân bằng và gây ra bệnh mới.

V́ vậy, kinh văn chỉ rơ: thuốc tuy có thể trị bệnh, nhưng cũng có thể đem lại tổn hại nhất định cho chính khí của cơ thể. Do đó, cần căn cứ vào dược tính mạnh hay ḥa hoăn, có độc hay không độc, độc tính lớn hay nhỏ, để quyết định mức độ dùng thuốc trị bệnh và phối hợp điều dưỡng bằng ăn uống.

Kinh văn nói:

"Đại độc trị bệnh, thập khứ kỳ lục; thường độc trị bệnh, thập khứ kỳ thất; tiểu độc trị bệnh, thập khứ kỳ bát; vô độc trị bệnh, thập khứ kỳ cửu; cốc nhục quả thái, thực dưỡng tận chi."
Giải thích: Thuốc càng mạnh, càng có độc tính, th́ càng phải dừng sớm hơn khi bệnh đă lui một phần đáng kể. Sau đó dùng ngũ cốc, thịt, trái cây, rau củ để điều dưỡng phần c̣n lại. Ư chính là bảo vệ chính khí, không v́ trừ tà mà làm hại cơ thể.

Nguyên tắc này cho đến ngày nay vẫn là nguyên tắc cơ bản trong lâm sàng.

"Thực dưỡng tận chi."
Giải thích: Dùng ăn uống để điều dưỡng cho hết phần bệnh c̣n lại. Câu này cung cấp cơ sở lư luận cho phương pháp dược thiện và phục hồi bằng dinh dưỡng trong y học hiện đại.

Tuyển chọn kinh văn tham khảo

"Thượng công cứu kỳ manh nha, tất tiên kiến tam bộ cửu hậu chi khí, tận điều bất bại nhi cứu chi, cố viết thượng công. Hạ công cứu kỳ dĩ thành, cứu kỳ dĩ bại. Cứu kỳ dĩ thành giả, ngôn bất tri tam bộ cửu hậu chi tương thất, nhân bệnh nhi bại chi dă; tri kỳ sở tại giả, tri chẩn tam bộ cửu hậu chi bệnh mạch xứ nhi trị chi, cố viết thủ kỳ môn hộ yên, mạc tri kỳ t́nh nhi kiến tà h́nh dă."
Giải thích: Thầy thuốc giỏi chữa bệnh từ lúc bệnh c̣n manh nha, trước hết quan sát khí của tam bộ cửu hậu, điều ḥa khi chưa bại hoại nên gọi là thượng công. Thầy thuốc kém thường chỉ chữa khi bệnh đă thành, đă bại. Người biết bệnh ở đâu là người biết chẩn mạch tam bộ cửu hậu để t́m vị trí bệnh mà trị, gọi là giữ được cửa ngơ của bệnh; c̣n người không biết t́nh h́nh bên trong th́ chỉ thấy h́nh trạng tà khí bên ngoài.

Trích Tố Vấn, thiên Bát Chính Thần Minh Luận.

"Câu ư quỷ thần giả, bất khả dữ ngôn chí đức. Ác ư châm thạch giả, bất khả dữ ngôn chí xảo. Bệnh bất hứa trị giả, bệnh tất bất trị, trị chi vô công hĩ."
Giải thích: Người bị ràng buộc vào quỷ thần th́ không thể nói với họ về y đức cao nhất; người ghét châm thạch th́ không thể nói với họ về kỹ thuật tinh xảo nhất. Người bệnh không chịu cho chữa th́ bệnh tất không thể trị được, có trị cũng không có công hiệu.

Trích Tố Vấn, thiên Ngũ Tạng Biệt Luận.

"Sát kỳ sở thống, dĩ tri kỳ ứng; hữu dư bất túc, đương bổ tắc bổ, đương tả tắc tả, vô nghịch thiên thời, thị vị chí trị."
Giải thích: Quan sát nơi đau để biết sự ứng hợp của bệnh; phân biệt hữu dư và bất túc. Khi cần bổ th́ bổ, khi cần tả th́ tả, không được trái với thời khí của trời đất. Đó gọi là phép trị đạt đến mức cao nhất.

Trích Linh Khu, thiên Bách Bệnh Thủy Sinh.

"Trị chi yếu cực, vô thất sắc mạch, dụng chi bất hoặc, trị chi đại tắc. Nghịch ṭng đảo hành, tiêu bản bất đắc, vong thần thất quốc. Khứ cố tựu tân, năi đắc chân nhân."
Giải thích: Điều cốt yếu cao nhất của trị bệnh là không được bỏ mất sắc và mạch. Khi vận dụng không mê hoặc th́ đó là đại tắc của trị liệu. Nếu nghịch ṭng đảo lộn, tiêu bản không nắm được, th́ giống như mất thần, mất nước. Bỏ cái cũ sai lầm để theo cái mới đúng đắn th́ mới đạt đến cảnh giới chân nhân.

Trích Tố Vấn, thiên Di Tinh Biến Khí Luận.

"Ḥa khí chi phương, tất thông âm dương, ngũ tạng vi âm, lục phủ vi dương."
Giải thích: Phương pháp điều ḥa khí nhất định phải thông hiểu âm dương. Ngũ tạng thuộc âm, lục phủ thuộc dương.

Trích Linh Khu, thiên Chung Thủy.

"Dụng châm chi yếu, tại ư tri điều âm dữ dương; điều âm dữ dương, tinh khí năi quang, hợp h́nh dữ khí, sử thần nội tàng."
Giải thích: Điều cốt yếu khi dùng châm là biết điều ḥa âm và dương. Âm dương được điều ḥa th́ tinh khí sáng rơ; h́nh thể và khí hợp nhau th́ thần được tàng giữ bên trong.

Trích Linh Khu, thiên Căn Kết.

"Tất tiên độ kỳ h́nh chi ph́ sấu, dĩ điều kỳ khí chi hư thực; thực tắc tả chi, hư tắc bổ chi. Tất tiên khứ kỳ huyết mạch nhi hậu điều chi, vô vấn kỳ bệnh, dĩ b́nh vi kỳ."
Giải thích: Trước hết phải xem h́nh thể người bệnh béo hay gầy, để điều chỉnh khí hư hay thực. Thực th́ tả, hư th́ bổ. Trước hết phải xử lư huyết mạch rồi sau đó điều ḥa. Bất kể bệnh ǵ, đều lấy b́nh ḥa làm mục tiêu.

Trích Tố Vấn, thiên Tam Bộ Cửu Hậu Luận.

"Cổ chi thiện dụng châm ngải giả, thị nhân ngũ thái, năi trị chi; thịnh giả tả chi, hư giả bổ chi."
Giải thích: Người xưa giỏi dùng châm và ngải th́ trước hết xem xét năm trạng thái của người bệnh rồi mới điều trị. Thịnh th́ tả, hư th́ bổ.

Trích Linh Khu, thiên Thông Thiên.

"Tả hư bổ thực, thần khứ kỳ thất, trí tà thất chính, chân bất khả định, thô chi sở bại, vị chi thiên mệnh. Bổ hư tả thực, thần quy kỳ thất, cửu tắc kỳ không, vị chi lương công."
Giải thích: Nếu bệnh hư mà lại tả, bệnh thực mà lại bổ, th́ thần rời khỏi chỗ ở, tà khí đến mà chính khí mất, chân khí không thể ổn định. Người thầy thuốc thô sơ làm hỏng bệnh rồi lại đổ cho thiên mệnh. Nếu biết bổ hư, tả thực th́ thần trở về chỗ ở, làm thông chỗ bế tắc lâu ngày, đó mới gọi là thầy thuốc giỏi.

Trích Linh Khu, thiên Trướng Luận.

"Bệnh tiên khởi âm giả, tiên trị kỳ âm nhi hậu trị kỳ dương; bệnh tiên khởi dương giả, tiên trị kỳ dương nhi hậu trị kỳ âm."
Giải thích: Bệnh bắt đầu từ âm th́ trước trị âm rồi sau trị dương; bệnh bắt đầu từ dương th́ trước trị dương rồi sau trị âm. Đây là nguyên tắc xét thứ tự phát bệnh để định thứ tự điều trị.

Trích Linh Khu, thiên Chung Thủy.

"Xuân hạ tiên trị kỳ tiêu, hậu trị kỳ bản; thu đông tiên trị kỳ bản, hậu trị kỳ tiêu."
Giải thích: Mùa xuân, mùa hạ th́ trước trị tiêu, sau trị bản; mùa thu, mùa đông th́ trước trị bản, sau trị tiêu. Đây là cách xét thời khí bốn mùa để vận dụng tiêu bản trong trị liệu.

Trích Linh Khu, thiên Sư Truyền.

"Tây bắc chi khí tán nhi hàn chi, đông nam chi khí thu nhi ôn chi, sở vị đồng bệnh dị trị dă. Cố viết: khí hàn khí lương, trị dĩ hàn lương, hành thủy tích chi. Khí ôn khí nhiệt, trị dĩ ôn nhiệt, cường kỳ nội thủ. Tất đồng kỳ khí, khả sử b́nh dă, giả giả phản chi."
Giải thích: Khí ở Tây Bắc tán th́ dùng hàn pháp để điều chỉnh; khí ở Đông Nam thu th́ dùng ôn pháp để điều chỉnh. Đây gọi là cùng bệnh mà trị khác nhau. Khí hàn, khí lương th́ trị bằng hàn lương, làm cho thủy khí vận hành. Khí ôn, khí nhiệt th́ trị bằng ôn nhiệt, làm mạnh khả năng giữ bên trong. Phải thuận theo khí của nó th́ có thể làm cho b́nh ḥa; nếu là giả tượng th́ dùng phép ngược lại.

Trích Tố Vấn, thiên Ngũ Thường Chính Đại Luận.

"Tất tiên tuế khí, vô phạt thiên ḥa, vô thịnh thịnh, vô hư hư, nhi di nhân thiên ương; vô tà, vô thất chính, tuyệt nhân trường mệnh."
Giải thích: Trị bệnh phải trước hết xét khí của năm, không được công phạt sự ḥa hợp của trời. Không được làm cho cái đă thịnh càng thịnh, cái đă hư càng hư, để lại tai họa cho người. Không được làm mất chính khí, không được trợ tà, làm tổn hại tuổi thọ lâu dài của người bệnh.

Trích Tố Vấn, thiên Ngũ Thường Chính Đại Luận.

"Trị nhiệt dĩ hàn, ôn nhi hành chi; trị hàn dĩ nhiệt, lương nhi hành chi; trị ôn dĩ thanh, lănh nhi hành chi; trị thanh dĩ ôn, nhiệt nhi hành chi. Cố tiêu chi tước chi, thổ chi hạ chi, bổ chi tả chi, cửu tân đồng pháp."
Giải thích: Trị nhiệt dùng hàn nhưng uống ấm; trị hàn dùng nhiệt nhưng uống mát; trị ôn dùng thanh nhưng uống lạnh; trị thanh dùng ôn nhưng uống nóng. V́ vậy các phép tiêu, tước, thổ, hạ, bổ, tả, đối với bệnh lâu hay mới đều có pháp độ chung.

Trích Tố Vấn, thiên Ngũ Thường Chính Đại Luận.

"Uất chi thậm giả trị chi nại hà? Kỳ Bá viết: Mộc uất đạt chi, hỏa uất phát chi, thổ uất đoạt chi, kim uất tiết chi, thủy uất chiết chi, nhiên điều kỳ khí, quá giả chiết chi, dĩ kỳ úy dă, sở vị tả chi."
Giải thích: Khi uất trệ quá nặng th́ trị thế nào? Kỳ Bá nói: Mộc uất th́ làm cho thông đạt; hỏa uất th́ làm cho phát ra; thổ uất th́ đoạt bớt; kim uất th́ tiết ra; thủy uất th́ chiết phục. Sau đó điều ḥa khí cơ; cái ǵ quá mức th́ chiết giảm nó, dùng cái mà nó sợ để chế ước, đó gọi là tả.

Trích Tố Vấn, thiên Lục Nguyên Chính Kỷ Đại Luận.

"H́nh lạc chí khổ, bệnh sinh ư mạch, trị chi dĩ cứu thích. H́nh khổ chí lạc, bệnh sinh ư cân, trị chi dĩ úy dẫn. H́nh lạc chí lạc, bệnh sinh ư nhục, trị chi dĩ châm thạch. H́nh khổ chí khổ, bệnh sinh ư yết ách, trị chi dĩ cam dược. H́nh sổ kinh khủng, cân mạch bất thông, bệnh sinh ư bất nhân, trị chi dĩ án ma lao dược."
Giải thích: H́nh thể an nhàn mà ư chí khổ th́ bệnh sinh ở mạch, trị bằng cứu và châm. H́nh thể lao khổ mà ư chí vui th́ bệnh sinh ở cân, trị bằng chườm ấm và đạo dẫn. H́nh thể an nhàn, ư chí vui th́ bệnh sinh ở cơ nhục, trị bằng châm thạch. H́nh thể lao khổ, ư chí khổ th́ bệnh sinh ở họng, trị bằng thuốc vị ngọt. H́nh thể thường kinh sợ, cân mạch không thông, bệnh sinh ra tê b́ bất nhân, trị bằng xoa bóp và rượu thuốc.

Trích Linh Khu, thiên Cửu Châm.

"Phát biểu bất viễn nhiệt, công lư bất viễn hàn."
Giải thích: Phát biểu th́ không tránh dùng thuốc nhiệt; công lư th́ không tránh dùng thuốc hàn. Nghĩa là trị bệnh phải căn cứ vào bệnh cơ và phép trị cần thiết, không nên cứng nhắc sợ dùng hàn hay nhiệt.

Trích Tố Vấn, thiên Lục Nguyên Chính Kỷ Đại Luận.

"Đoạt huyết giả vô hăn, đoạt hăn giả vô huyết."
Giải thích: Người đă mất huyết th́ không nên phát hăn; người đă mất mồ hôi th́ không nên làm hao huyết. V́ huyết và hăn cùng liên hệ với tân dịch, làm hao một bên quá mức sẽ tổn thương chính khí.

Trích Linh Khu, thiên Dinh Vệ Sinh Hội.
 
Reply with a quote
Replied by Trường Xuân (Hội Viên)
on 2026-04-22 04:06:16
Bài Giảng Thứ Chín 01 BỆNH CHỨNG
Tên gọi bệnh chứng có đến hơn ba trăm loại. Hoàng Đế Nội Kinh sử dụng nhiều phương pháp như phân chứng theo tạng phủ, phân chứng theo kinh lạc, phân chứng theo bệnh nhân để tiến hành phân loại chứng hậu. Ví dụ, riêng bệnh ho đă có 11 loại gồm ngũ tạng khái và lục phủ khái; nhiệt bệnh thương hàn được chia thành chứng hậu lục kinh; chứng tư được chia thành hành tư, thống tư, trước tư, ngũ tạng tư, lục phủ tư v.v. Những phương pháp phân loại này đă trở thành h́nh thức sơ khai của hệ thống biện chứng về sau.
Nội dung các bệnh chứng này rất nhiều, khó có thể giảng giải từng loại một. Phần sau chỉ chọn đọc và phân tích một số thiên đoạn tương đối điển h́nh để nắm lấy yếu chỉ. Phần lớn nội dung c̣n lại cần mọi người trong thực tiễn lâm sàng nhiều lần t́m về kinh văn mà đọc, mà suy ngẫm.
Chú thích và phân tích kinh văn tiêu biểu
Tên bệnh, nguyên nhân bệnh và tiên lượng của thương hàn
Nguyên văn
“Hoàng Đế vấn viết: Kim phù nhiệt bệnh giả, giai thương hàn chi loại dă, hoặc dũ hoặc tử, kỳ tử giai dĩ lục thất nhật chi gian, kỳ dũ giai dĩ thập nhật dĩ thượng giả, hà dă? Bất tri kỳ giải, nguyện văn kỳ cố.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Nay các bệnh nhiệt đều thuộc loại thương hàn; có người khỏi, có người chết. Những người chết phần nhiều trong khoảng sáu, bảy ngày; những người khỏi phần nhiều sau mười ngày trở lên, là v́ sao? Ta chưa hiểu sự giải thích ấy, xin được nghe nguyên do.
Giải thích: Hoàng Đế nêu vấn đề về ngoại cảm nhiệt bệnh: v́ sao cùng là nhiệt bệnh thương hàn nhưng kết cục khác nhau, có người khỏi, có người chết, thời gian diễn biến cũng khác nhau. Đây là câu hỏi mở đầu về bệnh danh, bệnh nhân, truyền biến và tiên lượng của thương hàn.
“Kỳ Bá đối viết: Cự dương giả, chư dương chi thuộc dă, kỳ mạch liên ư Phong Phủ, cố vi chư dương chủ khí dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Cự dương là nơi thống thuộc của các dương; mạch của nó nối liền với Phong Phủ, cho nên là nơi chủ khí của các dương.
Giải thích: “Cự dương” tức Thái dương. Thái dương liên hệ với các kinh dương và với huyệt Phong Phủ ở sau gáy, là nơi phong tà dễ xâm nhập. V́ vậy Thái dương được xem là cửa ngơ bên ngoài của cơ thể, chủ khí của các kinh dương.
“Nhân chi thương ư hàn dă, tắc vi bệnh nhiệt.”
Dịch nghĩa: Con người bị hàn tà làm tổn thương th́ phát thành bệnh nhiệt.
Giải thích: Hàn tà có tính thu liễm, ngưng trệ, làm tấu lư đóng kín, dương khí bị uất lại không phát tán ra được, chính tà giao tranh nên phát sốt. V́ vậy tuy cảm hàn nhưng biểu hiện lại là nhiệt bệnh.
“Nhiệt tuy thậm bất tử.”
Dịch nghĩa: Nhiệt tuy rất nặng nhưng không chết.
Giải thích: Nhiệt thịnh mà chính khí c̣n đủ sức chống lại tà khí th́ vẫn có thể điều trị được. Đây thường là t́nh trạng chính khí chưa suy, tà khí tuy mạnh nhưng c̣n có đường giải.
“Kỳ lưỡng cảm ư hàn nhi bệnh giả, tất bất miễn ư tử.”
Dịch nghĩa: Nếu hai kinh biểu lư cùng cảm hàn mà phát bệnh th́ khó tránh khỏi tử vong.
Giải thích: “Lưỡng cảm” là biểu lư hai kinh đồng thời bị tà xâm nhập, như Thái dương và Thiếu âm cùng bệnh, Dương minh và Thái âm cùng bệnh, Thiếu dương và Quyết âm cùng bệnh. Khi biểu lư cùng bệnh, tạng phủ đều bị ảnh hưởng, tà thịnh chính hư, nên bệnh thế rất nặng.
Trích Tố Vấn, thiên Nhiệt Luận.
Chú thích

1. “Thương hàn.”
Giải thích: Là tên bệnh, cũng là tên gọi chung của ngoại cảm nhiệt bệnh. Có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Thương hàn theo nghĩa rộng là các bệnh nhiệt do cảm thụ tà khí bốn mùa gây nên; thương hàn theo nghĩa hẹp là nhiệt bệnh do cảm thụ hàn tà gây nên. Như Nạn Kinh nói:
“Thương hàn hữu ngũ: hữu trúng phong, hữu thương hàn, hữu thấp ôn, hữu nhiệt bệnh, hữu ôn bệnh.”
Giải thích: Thương hàn có năm loại: trúng phong, thương hàn, thấp ôn, nhiệt bệnh, ôn bệnh. Trong câu này, “thương hàn hữu ngũ” là thương hàn theo nghĩa rộng; c̣n “hữu thương hàn” là thương hàn theo nghĩa hẹp.
2. “Cự dương giả, chư dương chi thuộc dă, kỳ mạch liên ư Phong Phủ, cố vi chư dương chủ khí dă.”
Giải thích: “Cự dương” tức Thái dương. “Phong Phủ” là huyệt của mạch Đốc, nằm ở chính giữa sau gáy, vào chân tóc một thốn. “Chư dương” chỉ mạch Đốc, Dương duy mạch và các kinh dương. Mạch Đốc là biển của dương mạch, Dương duy duy tŕ liên hệ các dương mạch, đều hội ở Phong Phủ và thuộc về Thái dương. V́ vậy mạch Thái dương thống lĩnh khí của các kinh dương trong thân người. “Thuộc” ở đây có nghĩa là thống thuộc, thống lĩnh.
3. “Nhân chi thương ư hàn dă, tắc vi bệnh nhiệt.”
Giải thích: Hàn có tính thu liễm, co rút. Khi cảm thụ hàn tà, tấu lư bị bế kín, dương khí uất lại không được phát tán, v́ vậy phát bệnh với biểu hiện sốt nóng.
4. “Lưỡng cảm.”
Giải thích: Chỉ biểu lư hai kinh đồng thời cảm tà mà phát bệnh, như Thái dương với Thiếu âm cùng cảm, Dương minh với Thái âm cùng cảm, Thiếu dương với Quyết âm cùng cảm.
Phân tích
Đoạn này nêu ra tên bệnh, nguyên nhân bệnh và tiên lượng của ngoại cảm nhiệt bệnh.
“Kim phù nhiệt bệnh giả, giai thương hàn chi loại dă.”
Giải thích: Các bệnh nhiệt hiện nay đều thuộc loại thương hàn. Câu này cho thấy “thương hàn” trong văn cảnh này là tên gọi chung của ngoại cảm nhiệt bệnh.
Nói về “nhiệt bệnh”, tức là một loại bệnh lấy phát sốt làm triệu chứng chủ yếu. Kinh văn nói:
“Nhân chi thương ư hàn dă, tắc vi bệnh nhiệt.”
Giải thích: Người bị hàn tà làm tổn thương th́ phát thành nhiệt bệnh. Câu này chỉ rơ nguyên nhân của nhiệt bệnh là hàn tà. V́ hàn tà có tính thu liễm, ngưng trệ, rất dễ làm dương khí bị uất lại không phát tán được; chính khí và tà khí giao tranh nên phát sốt. Đây là biến hóa bệnh lư cơ bản của nhiệt bệnh, v́ vậy thuộc về dương nhiệt thực chứng.
Việc gọi ngoại cảm nhiệt bệnh là “thương hàn” là v́ cơ thể bị hàn tà làm tổn thương là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến phát sốt. Nhưng xét từ thực tiễn lâm sàng, con người cảm phạm tà khí bốn mùa đều có thể dẫn đến phát sốt. Đúng như Vương Băng nói:
“Hàn giả đông khí dă, đông thời nghiêm hàn, vạn loại thâm tàng, quân tử cố mật, bất thương ư hàn, xúc mạo chi giả năi danh thương hàn.”
Giải thích: Hàn là khí của mùa đông. Mùa đông rét nghiêm, muôn loài ẩn tàng sâu, người biết dưỡng sinh th́ giữ kín không để bị hàn tà làm tổn thương. Ai xúc phạm, đội chịu khí ấy th́ gọi là thương hàn.
“Kỳ thương ư tứ thời chi khí giai năng vi bệnh, dĩ thương hàn vi độc giả, tối thừa sát lệ chi khí, trúng nhi tức bệnh, danh viết thương hàn.”
Giải thích: Bị khí bốn mùa làm tổn thương đều có thể thành bệnh. Trong đó, lấy thương hàn làm độc là v́ nó thừa khí sát lệ mạnh nhất; trúng phải mà phát bệnh ngay th́ gọi là thương hàn.
“Bất tức bệnh giả, hàn độc tàng ư cơ phu, chí hạ chí tiền biến vi ôn bệnh, hạ chí hậu biến vi nhiệt bệnh.”
Giải thích: Nếu không phát bệnh ngay, hàn độc ẩn tàng ở cơ phu, đến trước hạ chí th́ biến thành ôn bệnh, sau hạ chí th́ biến thành nhiệt bệnh.
“Nhiên kỳ phát khởi, giai vi thương hàn trí chi, cố viết nhiệt bệnh giả giai thương hàn loại dă.”
Giải thích: Nhưng nguồn gốc phát sinh của các bệnh ấy đều do thương hàn gây nên, nên nói nhiệt bệnh đều thuộc loại thương hàn.
Trích Bổ Chú Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn.
Có thể thấy, thương hàn là ngoại cảm nhiệt bệnh do bị tà khí bốn mùa làm tổn thương. V́ vậy Nạn Kinh, thiên Năm mươi tám nạn, nêu ra thuyết:
“Thương hàn hữu ngũ.”
Giải thích: Thương hàn có năm loại. Đây thực chất là nói đến thương hàn theo nghĩa rộng.
Đến khi Thương Hàn Luận ra đời, sách này đă sáng lập hệ thống lư luận biện chứng luận trị cho ngoại cảm nhiệt bệnh, trở thành chuẩn mực lớn trong pḥng trị ngoại cảm nhiệt bệnh.
Kinh văn cũng gợi ư về tiên lượng của ngoại cảm nhiệt bệnh:
“Nhiệt tuy thậm bất tử; kỳ lưỡng cảm ư hàn nhi bệnh giả, tất bất miễn ư tử.”
Giải thích: Nhiệt tuy nặng nhưng chưa chắc chết; nhưng nếu hai kinh biểu lư cùng cảm hàn mà phát bệnh th́ khó tránh khỏi tử vong. Ư nói hai t́nh huống này nặng nhẹ khác nhau.
Nhiệt rất thịnh là biểu hiện hàn tà bó buộc phần biểu, lỗ chân lông đóng kín, hoặc tà nhập lư hóa nhiệt, tà khí thịnh nhưng chính khí chưa bị tổn thương nặng, chính tà đang giao tranh. Thực chất là chính khí c̣n mạnh, tà khí cũng thịnh; nhiệt tuy cao nhưng chính khí chưa suy. Nếu dùng đúng phép hăn hoặc phép tiết, khiến tà có đường ra, th́ có thể mồ hôi ra, thân mát, các chứng tiêu mất, cho nên “nhiệt tuy thậm bất tử”.
“Lưỡng cảm ư hàn.”
Giải thích: Là biểu lư đồng thời bị tà xâm nhập, tạng phủ đều bệnh, tà khí mạnh, chính khí suy. Thực chất là tà thịnh chính hư, chính không thắng tà, nên nói khó tránh khỏi tử vong.
Tuy nhiên, chữ “tử” và “bất tử” ở đây chủ yếu biểu thị sự khác biệt về mức độ nghiêm trọng. Đến khi Thương Hàn Luận ra đời, đối với các bệnh chứng biểu lư lưỡng cảm như vậy đă sáng lập nhiều pháp tắc điều trị và phương thuốc, nên chưa chắc nhất định phải chết.
Chủ chứng lục kinh, quy luật truyền biến, đại pháp điều trị và cấm kỵ tiên lượng của bệnh đơn cảm
Nguyên văn
“Đế viết: Nguyện văn kỳ trạng.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin được nghe t́nh trạng của nó.
Giải thích: Hoàng Đế muốn Kỳ Bá tŕnh bày cụ thể biểu hiện của thương hàn theo từng ngày, tức quy luật truyền biến qua lục kinh.
“Kỳ Bá viết: Thương hàn nhất nhật, Cự dương thụ chi, cố đầu hạng thống, yêu tích cường.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Thương hàn ngày thứ nhất, Cự dương nhận bệnh, cho nên đầu gáy đau, lưng eo cứng.
Giải thích: Cự dương tức Thái dương. Thái dương chủ biểu, kinh mạch đi qua đầu, gáy, lưng. Khi hàn tà mới xâm nhập phần biểu Thái dương, sẽ xuất hiện đau đầu, đau gáy, eo lưng cứng đau.
“Nhị nhật, Dương minh thụ chi, Dương minh chủ nhục, kỳ mạch hiệp tỵ lạc ư mục, cố thân nhiệt, mục đông nhi tỵ càn, bất đắc ngọa dă.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ hai, Dương minh nhận bệnh. Dương minh chủ cơ nhục, mạch của nó kẹp hai bên mũi và liên lạc với mắt, cho nên thân nóng, mắt đau, mũi khô, không nằm ngủ được.
Giải thích: Dương minh khí huyết thịnh, chủ cơ nhục. Khi tà truyền vào Dương minh th́ nhiệt rơ hơn, thân nhiệt tăng; kinh mạch liên hệ vùng mũi mắt nên mắt đau, mũi khô; nhiệt nhiễu bên trong nên khó nằm ngủ.
“Tam nhật, Thiếu dương thụ chi, Thiếu dương chủ đởm, kỳ mạch tuần hiếp lạc ư nhĩ, cố hung hiếp thống nhi nhĩ lung.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ ba, Thiếu dương nhận bệnh. Thiếu dương chủ đởm, mạch của nó đi theo hông sườn và liên lạc với tai, cho nên ngực sườn đau và tai điếc.
Giải thích: Thiếu dương nằm ở giữa biểu lư, liên hệ đởm và vùng hiếp, tai. Tà vào Thiếu dương th́ khí cơ ở vùng ngực sườn không thông, gây đau ngực sườn; kinh khí không thông đến tai nên tai ù, tai điếc.
“Tam dương kinh lạc giai thụ kỳ bệnh, nhi vị nhập ư tạng giả, cố khả hăn nhi dĩ.”
Dịch nghĩa: Ba kinh dương đều đă nhận bệnh, nhưng tà chưa vào tạng, cho nên có thể dùng phép phát hăn mà khỏi.
Giải thích: Khi bệnh c̣n ở tam dương, chủ yếu thuộc biểu hoặc bán biểu bán lư, chưa nhập sâu vào tạng âm, vẫn có thể dùng phép hăn hoặc giải biểu thích hợp để đưa tà ra ngoài.
“Tứ nhật, Thái âm thụ chi, Thái âm mạch bố vị trung chung ư ách, cố phúc măn nhi ách càn.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ tư, Thái âm nhận bệnh. Mạch Thái âm phân bố trong vị và kết thúc ở họng, cho nên bụng đầy mà họng khô.
Giải thích: Thái âm thuộc tỳ, liên hệ vị và vùng họng. Tà truyền vào Thái âm th́ vận hóa của tỳ vị bị trở ngại, sinh bụng đầy; kinh mạch liên hệ họng nên họng khô.
“Ngũ nhật, Thiếu âm thụ chi, Thiếu âm mạch quán thận lạc ư phế, hệ thiệt bản, cố khẩu táo thiệt càn nhi khát.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ năm, Thiếu âm nhận bệnh. Mạch Thiếu âm xuyên qua thận, liên lạc với phế, nối với gốc lưỡi, cho nên miệng ráo, lưỡi khô mà khát.
Giải thích: Thiếu âm thuộc thận và tâm, liên hệ thận, phế, gốc lưỡi. Tà vào Thiếu âm, âm dịch bị tổn hoặc thủy hỏa mất điều ḥa, nên miệng ráo, lưỡi khô, khát nước.
“Lục nhật, Quyết âm thụ chi, Quyết âm mạch tuần âm khí nhi chung ư can, cố phiền măn nhi nang súc.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ sáu, Quyết âm nhận bệnh. Mạch Quyết âm đi quanh bộ phận sinh dục và kết thúc ở can, cho nên phiền đầy và b́u co rút.
Giải thích: Quyết âm thuộc can, kinh mạch đi quanh âm khí. Khi bệnh truyền đến Quyết âm, can khí uất nghịch, âm dương rối loạn, nên phiền măn; kinh mạch co rút làm b́u co.
“Tam âm tam dương, ngũ tạng lục phủ giai thụ bệnh, vinh vệ bất hành, ngũ tạng bất thông, tắc tử hĩ.”
Dịch nghĩa: Tam âm, tam dương, ngũ tạng, lục phủ đều nhận bệnh; vinh vệ không vận hành, ngũ tạng không thông th́ chết.
Giải thích: Khi tà bệnh lan khắp lục kinh, tạng phủ đều bị tổn thương, vinh vệ bế tắc, khí cơ tạng phủ không thông, chính khí suy kiệt, đây là t́nh trạng nguy kịch.
“Kỳ bất lưỡng cảm ư hàn giả, thất nhật, Cự dương bệnh suy, đầu thống thiểu dũ.”
Dịch nghĩa: Nếu không phải hai kinh cùng cảm hàn, đến ngày thứ bảy bệnh Cự dương suy, đau đầu hơi khỏi.
Giải thích: Bệnh đơn cảm nếu chính khí có khả năng thắng tà th́ sau khi truyền hết một ṿng lục kinh, đến ngày thứ bảy Thái dương bắt đầu lui bệnh.
“Bát nhật, Dương minh bệnh suy, thân nhiệt thiểu dũ.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ tám, bệnh Dương minh suy, thân nhiệt hơi giảm.
Giải thích: Tà ở Dương minh giảm th́ thân nhiệt cũng giảm, biểu hiện bệnh bắt đầu lui.
“Cửu nhật, Thiếu dương bệnh suy, nhĩ lung vi văn.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ chín, bệnh Thiếu dương suy, tai điếc dần dần nghe lại được.
Giải thích: Khi khí cơ Thiếu dương thông trở lại, kinh khí lên tai được phục hồi, nên tai nghe lại.
“Thập nhật, Thái âm bệnh suy, phúc giảm như cố, tắc tư ẩm thực.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ mười, bệnh Thái âm suy, bụng bớt đầy trở lại như cũ, th́ muốn ăn uống.
Giải thích: Tỳ vị vận hóa hồi phục, bụng đầy giảm, vị khí trở lại nên người bệnh có cảm giác muốn ăn.
“Thập nhất nhật, Thiếu âm bệnh suy, khát chỉ bất măn, thiệt càn dĩ nhi thế.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ mười một, bệnh Thiếu âm suy, khát dừng, không c̣n đầy, lưỡi khô hết rồi hắt hơi.
Giải thích: Thiếu âm hồi phục, tân dịch dần phục, miệng lưỡi bớt khô khát. Hắt hơi là dấu hiệu dương khí thông đạt ra ngoài, bệnh tà sắp giải.
“Thập nhị nhật, Quyết âm bệnh suy, nang túng, thiếu phúc vi hạ, đại khí giai khứ, bệnh nhật dĩ hĩ.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ mười hai, bệnh Quyết âm suy, b́u giăn ra, thiếu phúc hơi hạ xuống, đại khí đều đi, bệnh mỗi ngày một khỏi.
Giải thích: Khi Quyết âm hồi phục, kinh khí vùng âm khí được thư giăn, b́u không c̣n co rút. “Đại khí đều đi” chỉ tà khí lớn đă lui, khí cơ thông suốt, bệnh dần khỏi.
“Đế viết: Trị chi nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Điều trị như thế nào?
Giải thích: Sau khi nghe về quy luật truyền biến, Hoàng Đế hỏi đại pháp điều trị tương ứng.
“Kỳ Bá viết: Trị chi các thông kỳ tạng mạch, bệnh nhật suy dĩ hĩ.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Điều trị th́ phải thông các tạng mạch tương ứng, bệnh sẽ từng ngày suy lui mà khỏi.
Giải thích: Điều trị thương hàn phải căn cứ kinh mạch, tạng phủ liên quan mà thông điều khí huyết, làm cho kinh khí thông suốt, tà khí có đường ra.
“Kỳ vị măn tam nhật giả, khả hăn nhi dĩ.”
Dịch nghĩa: Bệnh chưa đủ ba ngày th́ có thể dùng phép phát hăn mà khỏi.
Giải thích: Trước ba ngày, bệnh c̣n ở tam dương, tà c̣n ở biểu hoặc chưa nhập sâu, nên có thể dùng phép phát hăn, giải biểu để trừ tà.
“Kỳ măn tam nhật giả, khả tiết nhi dĩ.”
Dịch nghĩa: Bệnh đă đủ ba ngày th́ có thể dùng phép tiết mà khỏi.
Giải thích: Sau ba ngày, bệnh có thể đă vào lư hoặc vào tam âm, không thể chỉ phát hăn; cần căn cứ bệnh t́nh mà dùng phép tiết, thông, hạ hoặc điều lư để trừ tà.
“Đế viết: Nhiệt bệnh dĩ dũ, thời hữu sở di giả, hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Nhiệt bệnh đă khỏi, nhưng có khi c̣n sót lại bệnh, là v́ sao?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về t́nh trạng bệnh hậu di, tức bệnh đă giảm nhưng c̣n sót tà hoặc tái phát do điều dưỡng không đúng.
“Kỳ Bá viết: Chư di giả, nhiệt thậm nhi cưỡng thực chi, cố hữu sở di dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Các chứng c̣n sót lại là do khi nhiệt c̣n thịnh mà cố ăn, nên có bệnh sót lại.
Giải thích: Khi nhiệt bệnh chưa hoàn toàn giải, tỳ vị c̣n yếu, nếu ăn uống gượng ép, đặc biệt ăn nhiều, sẽ làm nhiệt tà và cốc khí giao tranh, khiến bệnh lưu lại.
“Nhược thử giả, giai bệnh dĩ suy, nhi nhiệt hữu sở tàng, nhân kỳ cốc khí tương bác, lưỡng nhiệt tương hợp, cố hữu sở di dă.”
Dịch nghĩa: Những trường hợp như vậy đều là bệnh đă suy, nhưng nhiệt c̣n ẩn tàng; nhân v́ cốc khí va chạm với nó, hai thứ nhiệt hợp lại, cho nên có bệnh sót lại.
Giải thích: Bệnh tuy đă giảm nhưng dư nhiệt chưa hết. Ăn uống làm cốc khí sinh nhiệt, kết hợp với dư nhiệt c̣n tàng trong cơ thể, khiến bệnh kéo dài hoặc tái phát.
“Đế viết: Thiện. Trị di nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Trị bệnh sót lại th́ làm thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi cách xử lư chứng hậu di sau nhiệt bệnh.
“Kỳ Bá viết: Thị kỳ hư thực, điều kỳ nghịch ṭng, khả sử tất dĩ hĩ.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Xem xét hư thực của nó, điều chỉnh nghịch ṭng của nó, th́ có thể khiến bệnh nhất định khỏi.
Giải thích: Trị bệnh c̣n sót sau nhiệt bệnh phải phân biệt hư hay thực. Nếu hư th́ bổ, nếu thực th́ tả; nếu khí cơ nghịch th́ điều nghịch, nếu cần thuận theo bệnh thế th́ dùng ṭng pháp. Biện chứng đúng th́ bệnh có thể khỏi.
“Đế viết: Bệnh nhiệt đương hà cấm chi?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Bệnh nhiệt cần cấm kỵ điều ǵ?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về điều dưỡng và kiêng kỵ sau nhiệt bệnh, nhất là trong ăn uống.
“Kỳ Bá viết: Bệnh nhiệt thiểu dũ, thực nhục tắc phục, đa thực tắc di, thử kỳ cấm dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Bệnh nhiệt vừa hơi khỏi, nếu ăn thịt th́ bệnh tái phát; ăn nhiều th́ bệnh sót lại, đó là điều cấm kỵ.
Giải thích: Sau nhiệt bệnh, tỳ vị c̣n yếu, dư nhiệt chưa hết. Thịt là thức ăn nặng, béo, dễ sinh nhiệt và khó tiêu; ăn nhiều làm tổn thương vị khí, khiến dư tà lưu lại. V́ vậy khi bệnh vừa khỏi phải ăn uống thanh đạm, vừa phải, không nên ăn thịt hoặc ăn quá nhiều.
Trích Tố Vấn, thiên Nhiệt Luận.

Chú thích

1. “Nhất nhật.”
Giải thích: “Một ngày” cùng với “hai ngày”, “ba ngày”, “bốn ngày”, “năm ngày”, “sáu ngày” ở phần sau đều chỉ thứ tự truyền biến và giai đoạn phát triển của nhiệt bệnh, không nên hiểu cứng là số ngày cụ thể.
2. “Thân nhiệt.”
Giải thích: Trương Giới Tân chú rằng: “Thương hàn đa phát nhiệt, nhi độc thử vân thân nhiệt giả, cái Dương minh chủ cơ nhục, thân nhiệt vưu thậm dă.”
“Thương hàn đa phát nhiệt, nhi độc thử vân thân nhiệt giả, cái Dương minh chủ cơ nhục, thân nhiệt vưu thậm dă.”
Giải thích: Thương hàn phần nhiều đều có phát nhiệt, nhưng riêng đoạn này nói “thân nhiệt” là v́ Dương minh chủ cơ nhục, nên khi Dương minh mắc bệnh th́ cảm giác nóng toàn thân càng rơ rệt hơn.
3. “Vị nhập ư tạng.”
Giải thích: Kinh mạch của con người, dương kinh thuộc phủ, âm kinh liên hệ với tạng. “Chưa vào tạng” nghĩa là tà chưa nhập vào tam âm, vẫn c̣n ở cơ biểu, v́ vậy có thể dùng phép phát hăn để điều trị.
4. “Ách.”
Giải thích: Nghĩa là họng, yết hầu.
5. “Phiền măn.”
Giải thích: “Măn” thông với “muộn”, có nghĩa là bứt rứt, buồn bực, phiền muộn, đầy tức khó chịu.
6. “Nang.”
Giải thích: Chỉ âm nang, tức b́u.
7. “Vinh.”
Giải thích: Thông với “dinh”, tức dinh khí.
8. “Thiểu.”
Giải thích: Nghĩa là hơi, một chút, dần dần.
9. “Nang túng.”
Giải thích: Âm nang co rút nay được thư giăn, mềm ra.
10. “Thiếu phúc vi hạ.”
Giải thích: Triệu chứng co rút, câu cấp ở vùng bụng dưới hơi được thư hoăn.
11. “Đại khí.”
Giải thích: Ở đây chỉ tà khí.
12. “Các thông kỳ tạng mạch.”
Giải thích: Làm thông khí huyết trong các tạng phủ và kinh mạch nơi có bệnh biến.
13. “Kỳ vị măn tam nhật giả, khả hăn nhi dĩ; kỳ măn tam nhật giả, khả tiết nhi dĩ.”
Giải thích: “Ba ngày” ở đây không nên hiểu là số ngày cố định. “Hăn” là phát hăn; “tiết” là tiết nhiệt. Phép phát hăn và tiết nhiệt ở đây đều chỉ liệu pháp châm thích theo phần tiêu. “Dĩ” là khỏi bệnh. Cả câu có nghĩa là: nhiệt bệnh chưa đủ ba ngày, tà c̣n ở tam dương, vẫn thuộc biểu chứng, nên có thể dùng phép phát hăn giải biểu để làm nhiệt lui; nếu đă qua ba ngày, tà vào tam âm, đă thuộc lư chứng, nên dùng phép thanh tiết lư nhiệt để làm nhiệt b́nh.
14. “Di.”
Giải thích: Chỉ bệnh tà c̣n lưu lại, dư nhiệt chưa hết.
15. “Bạc.”
Giải thích: Thông với “bác”, nghĩa là cùng va chạm, cùng kết lại, cùng giao tranh.
16. “Phục.”
Giải thích: Chỉ nhiệt bệnh tái phát.
Phân tích
Tiết này chủ yếu luận về chủ chứng lục kinh, quy luật truyền biến, đại pháp điều trị, tiên lượng và cấm kỵ của ngoại cảm nhiệt bệnh không thuộc loại lưỡng cảm ư hàn.
17. Chủ chứng lục kinh của ngoại cảm nhiệt bệnh
Triệu chứng của ngoại cảm nhiệt bệnh phức tạp và biến hóa rất nhiều. Kinh văn căn cứ vào đường đi của kinh mạch, dùng lục kinh để quy nạp, chia thành chủ chứng của sáu kinh. Chứng hậu lục kinh được tổng kết từ rất nhiều thực tiễn lâm sàng, biểu hiện chủ yếu của nó có quan hệ mật thiết với kinh lạc. Cương lĩnh phân chứng lục kinh trong thiên này đă đặt nền tảng lư luận cho lục kinh biện chứng trong Thương Hàn Luận.
Điểm khác nhau là thiên này chỉ luận chứng theo kinh mạch, chưa bàn sâu đến tạng phủ; chỉ liên quan đến thực chứng, nhiệt chứng, chưa luận đến hư chứng, hàn chứng; hơn nữa chỉ là nêu ví dụ, chưa thể khái quát toàn bộ triệu chứng của ngoại cảm nhiệt bệnh. Thương Hàn Luận mô tả chứng hậu lục kinh chi tiết hơn, không chỉ bổ sung hư chứng, hàn chứng, mà trong mỗi kinh c̣n liệt kê rơ kinh chứng, phủ chứng, các loại biến chứng và hoại chứng.
Tam dương chứng được nói trong tiết này tương đương với Thái dương bệnh trong Thương Hàn Luận; tam âm chứng tương đương với Dương minh bệnh. Thương Hàn Luận căn cứ vào nhận thức về bệnh vị, bệnh tính và quan hệ tà chính của nhiệt bệnh, đă thiết lập nguyên tắc bát cương biện chứng, làm phong phú và phát triển tư tưởng phân loại chứng hậu trong Tố Vấn, thiên Nhiệt Luận.
18. Quy luật truyền biến và chuyển khỏi của ngoại cảm nhiệt bệnh
Cùng với sự chuyển dời vị trí đấu tranh giữa chính khí và tà khí trong cơ thể, vị trí bệnh cũng chuyển dời theo; đó chính là sự truyền biến của bệnh. Trên cơ sở phân chứng lục kinh, kinh văn nêu ra quy luật truyền biến và chuyển khỏi của ngoại cảm nhiệt bệnh.
“Bất lưỡng cảm ư hàn giả.”
Giải thích: Chỉ một loại bệnh chứng trong nhiệt bệnh có bệnh t́nh tương đối đơn giản, phát bệnh tương đối điển h́nh, không phải biểu lư hai kinh cùng lúc cảm tà.
Loại bệnh này có quy luật chuyển khỏi nhất định. Tà của thương hàn ở kinh có hai khả năng: một là truyền vào trong, hai là không truyền vào trong. Quy luật tà truyền vào trong là từ biểu vào lư, từ dương vào âm; thứ tự trước sau là Thái dương, Dương minh, Thiếu dương, Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm.
Nếu tà thương hàn ở kinh không truyền vào trong, thời gian các triệu chứng của từng kinh giảm nhẹ đại khái bắt đầu từ ngày thứ bảy sau khi mắc bệnh. Điều này cho thấy tác giả Hoàng Đế Nội Kinh đă quan sát thấy rằng một phần nhiệt bệnh trong quá tŕnh diễn biến, dưới sự nâng đỡ của chính khí, có khuynh hướng tự khỏi nhất định.
Dưới sự gợi mở của tư tưởng này, Trương Trọng Cảnh đă nêu rơ quan điểm:
“Thương hàn nhất nhật, Thái dương thụ chi, mạch nhược tĩnh giả vi bất truyền; phả dục thổ, nhược táo phiền, mạch sác cấp giả, vi truyền dă.”
Giải thích: Thương hàn ngày thứ nhất, Thái dương tiếp nhận bệnh. Nếu mạch c̣n yên tĩnh th́ là bệnh không truyền; nếu khá muốn nôn, hoặc bứt rứt phiền táo, mạch nhanh gấp th́ là bệnh đang truyền.
Trích Thương Hàn Luận, Biện Thái Dương Bệnh Mạch Chứng Tịnh Trị thượng.
Trên cơ sở lục kinh đơn truyền, Thương Hàn Luận c̣n nêu ra nhiều h́nh thức truyền biến như vượt kinh, trực trúng, hợp bệnh, tịnh bệnh v.v., từ đó khái quát toàn diện hơn quy luật biến hóa phức tạp của ngoại cảm nhiệt bệnh.
Quy luật cơ bản mà kinh văn nêu ra đă chỉ rơ phương hướng để nắm bắt biến hóa, pḥng ngừa từ khi bệnh c̣n nhỏ, và phán đoán tiên lượng. Các triệu chứng của từng kinh mà kinh văn bàn đến phần nhiều liên quan đến bộ vị mà kinh mạch bị bệnh đi qua và rối loạn công năng của tạng phủ sở thuộc. Căn cứ vào những triệu chứng ấy, có thể phân tích và phán đoán vị trí bệnh, có ư nghĩa chỉ đạo lâm sàng thực tế.
19. Đại pháp điều trị ngoại cảm nhiệt bệnh
Thiên này nêu đại pháp điều trị ngoại cảm nhiệt bệnh là:
“Các thông kỳ tạng mạch.”
Giải thích: Làm thông tạng mạch nơi có bệnh biến, tức sơ thông khí huyết trong tạng phủ và kinh mạch liên quan. Thực chất của câu này đă bao hàm tư tưởng biện chứng luận trị.
Kinh văn nói:
“Kỳ vị măn tam nhật giả, khả hăn nhi dĩ; kỳ măn tam nhật giả, khả tiết nhi dĩ.”
Giải thích: Bệnh chưa qua giai đoạn tam dương, tà c̣n ở biểu th́ dùng phát hăn giải biểu; bệnh đă vào lư th́ dùng phép thanh tiết lư nhiệt. Câu này gợi ư rằng tà ở biểu th́ nên phát hăn giải biểu, nhiệt ở lư th́ nên thanh tiết lư nhiệt.
Thương Hàn Luận trên cơ sở Tố Vấn, thiên Nhiệt Luận đă làm phong phú rất lớn các trị pháp của ngoại cảm nhiệt bệnh. Căn cứ vào tính chất và đặc điểm biểu, lư, hàn, nhiệt, hư, thực của ngoại cảm nhiệt bệnh, Thương Hàn Luận từ hai phép hăn và tiết của Tố Vấn, thiên Nhiệt Luận phát triển thêm các phép hăn, thổ, hạ, ḥa, ôn, thanh, tiêu, bổ. Đồng thời, phép tiết được phát triển thành các trị pháp như tiết nhiệt, công hạ, trục ứ, lợi niệu v.v. Không chỉ không giới hạn phương tiện điều trị trong châm thích, sách c̣n luận rơ phương dược cụ thể cho rất nhiều chứng hậu, từ đó đặt nền tảng cho hệ thống biện chứng luận trị ngoại cảm nhiệt bệnh.
20. Di chứng và tái phát của thương hàn nhiệt bệnh
Thương hàn nhiệt bệnh có “di” và “phục”.
“Di.”
Giải thích: Chỉ bệnh tà c̣n lưu lại chưa hết, dư nhiệt chưa sạch.
“Phục.”
Giải thích: Chỉ bệnh đă khỏi rồi lại tái phát.
Kinh văn chỉ rơ nguyên nhân của di và phục là khi nhiệt bệnh mới hơi chuyển tốt mà cố ăn uống. Bệnh cơ là tà nhiệt chưa hết cùng với cốc khí giao tranh, khiến bệnh t́nh kéo dài, dư nhiệt không thanh. Điều trị nên căn cứ hư thực mà dùng bổ hoặc tả.
Điều này gợi ư rằng sau nhiệt bệnh, tỳ vị hư yếu, sức tiêu hóa kém, nên ăn thức ăn dễ tiêu, không nên gượng ăn. Nhiệt bệnh tái phát là hiện tượng lâm sàng thường gặp, nguyên nhân rất nhiều, tuy chưa chắc đều do ăn thịt gây nên, nhưng sau nhiệt bệnh, chức năng tiêu hóa suy yếu, không nên ăn quá nhiều thức ăn dầu mỡ, đây là điều cần chú ư.
Trên cơ sở luận述 trong đoạn này:
“Thực nhục tắc phục, đa thực tắc di.”
Giải thích: Ăn thịt th́ bệnh tái phát, ăn nhiều th́ tà bệnh c̣n lưu lại. Câu này nhấn mạnh sự kiêng kỵ ăn uống sau nhiệt bệnh.
“Thị kỳ hư thực, điều kỳ nghịch ṭng.”
Giải thích: Phải xem xét hư thực của bệnh và điều chỉnh nghịch ṭng cho thích hợp. Nghĩa là trị bệnh c̣n sót hoặc tái phát sau nhiệt bệnh không thể dùng một phép cố định, mà phải biện chứng.
Thương Hàn Luận đă nêu ra khái niệm:
“Lao phục.”
Giải thích: Bệnh vừa khỏi, do lao lực hoặc điều dưỡng không đúng mà tái phát.
Đồng thời sách bổ sung các trị pháp cụ thể như:
“Đại bệnh sái hậu lao phục giả, Chỉ thực chi tử xị thang chủ chi.”
Giải thích: Sau bệnh lớn vừa khỏi mà do lao lực khiến bệnh tái phát, dùng Chỉ thực chi tử xị thang làm chủ phương để điều trị.
“Thương hàn sái dĩ hậu cánh phát nhiệt, Tiểu sài hồ thang chủ chi. Mạch phù giả dĩ hăn giải chi; mạch trầm thực giả dĩ hạ giải chi.”
Giải thích: Sau thương hàn đă khỏi mà lại phát nhiệt, dùng Tiểu sài hồ thang làm chủ phương. Nếu mạch phù th́ dùng phép hăn để giải; nếu mạch trầm thực th́ dùng phép hạ để giải.
Kinh văn nói:
“Bệnh nhiệt thiểu dũ, thực nhục tắc phục, đa thực tắc di.”
Giải thích: Bệnh nhiệt vừa hơi khỏi, ăn thịt th́ bệnh tái phát, ăn nhiều th́ bệnh c̣n lưu lại.
Câu này cần nh́n nhận theo hai mặt. Sau nhiệt bệnh, tỳ vị hư yếu, sức tiêu hóa kém, v́ vậy ăn thịt th́ dễ tái phát, ăn nhiều th́ dễ lưu tà. Tuy nhiên, nếu tỳ vị hư yếu đến mức không đủ để nâng đỡ nhu cầu cơ bản của cơ thể, th́ việc ăn bồi bổ một cách thích hợp lại thường có thể thúc đẩy công năng cơ thể phục hồi.
Khái niệm, cơ chế, tiên lượng và nguyên nhân tử vong của lưỡng cảm nhiệt bệnh.
Nguyên văn
“Đế viết: Kỳ bệnh lưỡng cảm ư hàn giả, kỳ mạch ứng dữ kỳ bệnh h́nh hà như?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Người bệnh thuộc loại hai kinh cùng cảm hàn, mạch ứng và h́nh chứng bệnh của họ như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về biểu hiện cụ thể của chứng “lưỡng cảm ư hàn”, tức biểu lư hai kinh cùng lúc cảm thụ hàn tà, bệnh thế thường nặng hơn đơn cảm.
“Kỳ Bá viết: Lưỡng cảm ư hàn giả, bệnh nhất nhật, tắc Cự dương dữ Thiếu âm câu bệnh, tắc đầu thống khẩu càn nhi phiền măn.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Người hai kinh cùng cảm hàn, ngày thứ nhất th́ Cự dương và Thiếu âm cùng bệnh, cho nên đau đầu, miệng khô và phiền đầy.
Giải thích: Cự dương tức Thái dương, thuộc biểu; Thiếu âm thuộc lư. Khi Thái dương và Thiếu âm cùng bệnh, vừa có biểu chứng như đau đầu, vừa có lư chứng như miệng khô, phiền măn. Đây là biểu lư đồng bệnh, bệnh thế nặng.
“Nhị nhật, tắc Dương minh dữ Thái âm câu bệnh, tắc phúc măn thân nhiệt, bất dục thực, thiềm ngôn.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ hai th́ Dương minh và Thái âm cùng bệnh, cho nên bụng đầy, thân nóng, không muốn ăn, nói mê.
Giải thích: Dương minh chủ cơ nhục, nhiệt thịnh th́ thân nóng; Thái âm chủ tỳ, tỳ vận hóa thất thường th́ bụng đầy, không muốn ăn. Nói mê là dấu hiệu nhiệt tà nhiễu loạn thần minh, bệnh đă khá nặng.
“Tam nhật, tắc Thiếu dương dữ Quyết âm câu bệnh, tắc nhĩ lung nang súc nhi quyết.”
Dịch nghĩa: Ngày thứ ba th́ Thiếu dương và Quyết âm cùng bệnh, cho nên tai điếc, b́u co rút và tay chân quyết lạnh.
Giải thích: Thiếu dương kinh đi qua vùng tai nên bệnh th́ tai điếc; Quyết âm kinh đi quanh bộ phận sinh dục nên bệnh th́ b́u co rút. “Quyết” là tay chân lạnh ngược, biểu hiện dương khí không thông đạt ra tứ chi.
“Thủy tương bất nhập, bất tri nhân, lục nhật tử.”
Dịch nghĩa: Nước uống, cháo loăng đều không vào được, người bệnh hôn mê không biết người, đến ngày thứ sáu th́ chết.
Giải thích: Đây là biểu hiện nguy kịch: vị khí suy kiệt, thủy cốc không tiếp nhận được; thần minh hôn mê là chính khí đă suy, tà khí bế lấp. Kinh văn dùng “sáu ngày chết” để nói bệnh thế rất nặng, tiên lượng xấu.
“Đế viết: Ngũ tạng dĩ thương, lục phủ bất thông, vinh vệ bất hành, như thị chi hậu, tam nhật năi tử, hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Ngũ tạng đă bị tổn thương, lục phủ không thông, vinh vệ không vận hành, sau t́nh trạng như vậy mà c̣n ba ngày mới chết, là v́ sao?
Giải thích: Hoàng Đế thắc mắc: nếu tạng phủ, vinh vệ đều đă rối loạn nghiêm trọng, v́ sao người bệnh không chết ngay mà c̣n kéo dài thêm một thời gian.
“Kỳ Bá viết: Dương minh giả, thập nhị kinh mạch chi trưởng dă, kỳ huyết khí thịnh, cố bất tri nhân, tam nhật kỳ khí năi tận, cố tử hĩ.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Dương minh là trưởng của mười hai kinh mạch, khí huyết của nó thịnh, cho nên người bệnh hôn mê không biết người; sau ba ngày khí ấy mới hết, cho nên chết.
Giải thích: Dương minh là kinh nhiều khí nhiều huyết, vị khí c̣n th́ người bệnh c̣n có thể duy tŕ sự sống trong thời gian ngắn. Khi khí Dương minh, tức vị khí, dần cạn kiệt th́ chính khí không c̣n chỗ nương, nên tử vong.
Trích Tố Vấn, thiên Nhiệt Luận.

Chú thích
1. “Quyết.”
Giải thích: Chỉ tứ chi quyết lạnh, tay chân lạnh ngược do dương khí không thông đạt hoặc âm dương rối loạn nghiêm trọng.
Phân tích
Đoạn này nêu ra triệu chứng, quy luật truyền biến, tiên lượng và nguyên nhân tử vong của chứng lưỡng cảm ư hàn.
“Lưỡng cảm ư hàn.”
Giải thích: Là biểu lư hai kinh đồng thời cảm thụ hàn tà mà phát bệnh. Đây là chứng bệnh nặng trong thương hàn, v́ tà khí không chỉ ở biểu mà đồng thời xâm phạm vào lư, làm chính khí nhanh chóng suy yếu.
Lưỡng cảm ư hàn là biểu lư hai kinh đồng thời cảm thụ hàn tà, phần nhiều biểu hiện bằng các triệu chứng bệnh biến tại đường đi của hai kinh biểu lư. Thứ tự truyền biến trước hết là Cự dương và Thiếu âm cùng bệnh, tiếp theo là Dương minh và Thái âm cùng bệnh, cuối cùng là Thiếu dương và Quyết âm cùng bệnh.
“Cự dương dữ Thiếu âm câu bệnh.”
Giải thích: Thái dương và Thiếu âm cùng bệnh. Thái dương thuộc biểu, Thiếu âm thuộc lư; biểu lư đồng thời mắc bệnh th́ vừa có biểu chứng, vừa có lư chứng, bệnh thế nặng.
“Dương minh dữ Thái âm câu bệnh.”
Giải thích: Dương minh và Thái âm cùng bệnh. Dương minh liên quan vị, cơ nhục và nhiệt thịnh; Thái âm liên quan tỳ, vận hóa. Khi hai kinh cùng bệnh th́ dễ thấy thân nhiệt, bụng đầy, không muốn ăn, nói mê.
“Thiếu dương dữ Quyết âm câu bệnh.”
Giải thích: Thiếu dương và Quyết âm cùng bệnh. Thiếu dương liên hệ vùng tai, hông sườn; Quyết âm liên hệ can và âm khí. Khi hai kinh cùng bệnh th́ có thể thấy tai điếc, b́u co rút, quyết lạnh.
Bệnh cơ của lưỡng cảm ư hàn là tà thịnh chính suy. Do tà khí mạnh, chính khí không đủ, nên triệu chứng không chỉ có thực chứng, nhiệt chứng, mà c̣n có các biểu hiện như “không muốn ăn”, “nói mê”, “quyết lạnh”, tức có cả dấu hiệu hư chứng và hàn chứng. Theo sự phát triển của bệnh, tà khí càng đi sâu, chính khí càng hao tổn, các chứng nguy hiểm liên tiếp xuất hiện, bệnh t́nh ngày càng xấu đi, cuối cùng dẫn đến:
“Ngũ tạng dĩ thương, lục phủ bất thông, vinh vệ bất hành.”
Giải thích: Ngũ tạng đă bị tổn thương, lục phủ không thông, dinh vệ không vận hành. Đây là biểu hiện tà khí dần dần tràn đầy bên trong, vị khí dần kiệt, chính khí không c̣n đủ sức chống lại tà khí.
“Lưỡng cảm ư hàn” là chứng nguy trọng trong bệnh thương hàn. Đặc điểm bệnh cơ tuy nguyên văn nói:
“Lưỡng cảm ư hàn giả, bệnh nhất nhật, tắc Cự dương dữ Thiếu âm câu bệnh; nhị nhật, tắc Dương minh dữ Thái âm câu bệnh; tam nhật, tắc Thiếu dương dữ Quyết âm câu bệnh.”
Giải thích: Người bị lưỡng cảm ư hàn, ngày thứ nhất Thái dương và Thiếu âm cùng bệnh; ngày thứ hai Dương minh và Thái âm cùng bệnh; ngày thứ ba Thiếu dương và Quyết âm cùng bệnh. Câu này nói rơ lộ tŕnh biểu lư cùng bệnh theo từng cặp kinh.
Nhưng điều này không có nghĩa đơn giản là cộng hai chứng của hai kinh lại với nhau. Từ chỗ kinh văn nêu rằng lưỡng cảm làm “ngũ tạng đă thương”, “khí ấy mới hết”, có thể thấy mâu thuẫn nổi bật của chứng lưỡng cảm là tà thịnh chính suy. Đây là bệnh chứng nghiêm trọng nhất trong ngoại cảm nhiệt bệnh.
Đúng như Loại Kinh, phần Tật Bệnh Loại nói:
“Lưỡng cảm giả, bản biểu lư chi đồng bệnh, tự nhược giai dĩ ngoại tà vi ngôn, nhi thực hữu vị tất tận nhiên giả, chính dĩ nội ngoại câu thương, tiện thị lưỡng cảm.”
Giải thích: Lưỡng cảm vốn là biểu lư cùng bệnh. Nh́n qua có vẻ đều nói về ngoại tà, nhưng thực ra không hẳn chỉ như vậy; hễ trong ngoài đều bị tổn thương th́ chính là lưỡng cảm.
“Kim kiến Thiếu âm di ư nội, nhi Thái dương kế chi ư ngoại giả, tức túng t́nh tứ dục chi lưỡng cảm dă.”
Giải thích: Nếu thấy Thiếu âm đă tổn ở bên trong, rồi Thái dương lại cảm tà ở bên ngoài, đó là loại lưỡng cảm do phóng túng t́nh dục, làm nội thương trước rồi ngoại tà tiếp theo.
“Thái âm thụ thương ư lư, nhi Dương minh trọng cảm ư biểu giả, tức lao quyện kiệt lực, ẩm thực thất điều chi lưỡng cảm dă.”
Giải thích: Nếu Thái âm bị tổn thương ở bên trong, rồi Dương minh lại cảm tà ở biểu, đó là loại lưỡng cảm do lao lực quá độ, ăn uống thất điều, làm tỳ vị nội thương rồi ngoại tà xâm nhập.
“Quyết âm khí nghịch ư tạng, Thiếu dương phục bệnh ư phủ giả, tất thất t́nh bất thận, b́ cân bại huyết chi lưỡng cảm dă.”
Giải thích: Nếu Quyết âm khí nghịch ở tạng, Thiếu dương lại bệnh ở phủ, phần nhiều là do thất t́nh không điều ḥa, gân mạch mệt mỏi, huyết bị tổn bại mà thành lưỡng cảm.
“Nhân tri lưỡng cảm vi thương hàn, nhi bất tri thương hàn chi lưỡng cảm, nội ngoại câu khốn, bệnh tư kịch hĩ.”
Giải thích: Người ta chỉ biết lưỡng cảm là thương hàn, nhưng không biết rằng lưỡng cảm trong thương hàn là trong ngoài đều bị khốn, nên bệnh thế rất nặng.
Có thể thấy, thực chất của “lưỡng cảm” là ngoại cảm và nội thương cùng làm nhân cho nhau mà phát bệnh. Do tà thịnh chính hư, nên bệnh có đặc điểm khởi phát gấp, phát triển nhanh, bệnh t́nh nặng, tiên lượng xấu. Ngay từ đầu đă thấy cả biểu chứng lẫn lư chứng, sau đó nhanh chóng xuất hiện các dấu hiệu nguy trọng như nói mê, quyết lạnh, nước cháo không vào, thần hôn.
“Thiềm ngôn.”
Giải thích: Nói mê, lời nói rối loạn, thường do nhiệt tà nhiễu thần hoặc chính khí suy không giữ được thần minh.
“Quyết.”
Giải thích: Tứ chi lạnh ngược, biểu hiện khí dương không đạt ra ngoài hoặc âm dương rối loạn.
“Thủy tương bất nhập.”
Giải thích: Nước uống, cháo loăng đều không vào được, cho thấy vị khí đă suy nặng, chức năng thu nạp của vị gần như mất.
“Bất tri nhân.”
Giải thích: Không nhận biết người, thần chí hôn mê, là dấu hiệu thần minh bị che lấp, bệnh t́nh nguy cấp.
V́ vậy kinh văn tiên lượng rằng:
“Tất bất miễn ư tử.”
Giải thích: Khó tránh khỏi tử vong. Câu này cho thấy mức độ nguy hiểm rất cao của lưỡng cảm ư hàn.
Thời hạn tử vong lấy sáu ngày làm giới hạn, nhưng cũng có trường hợp cá biệt nếu vị khí c̣n thịnh th́ có thể sống thêm ba ngày. Điều này cho thấy sự mạnh yếu của vị khí có quan hệ vô cùng mật thiết với sự truyền biến và tiên lượng của ngoại cảm nhiệt bệnh.
“Dương minh giả, thập nhị kinh mạch chi trưởng dă, kỳ huyết khí thịnh.”
Giải thích: Dương minh là trưởng của mười hai kinh mạch, khí huyết sung thịnh. V́ vậy khi vị khí c̣n, người bệnh c̣n có thể duy tŕ sinh mệnh trong thời gian ngắn; khi khí Dương minh hết th́ chính khí suy kiệt, bệnh nhân tử vong.
Sự khác nhau giữa bệnh ôn và bệnh thử (Trúng nắng)
Nguyên văn
“Phàm bệnh thương hàn nhi thành ôn giả, tiên Hạ chí nhật giả vi bệnh ôn, hậu Hạ chí nhật giả vi bệnh thử, thử đương dữ hăn giai xuất, vật chỉ.”
Dịch nghĩa: Phàm bệnh thương hàn mà biến thành ôn, nếu phát trước ngày Hạ chí th́ gọi là bệnh ôn; nếu phát sau ngày Hạ chí th́ gọi là bệnh thử. Bệnh thử th́ nên để tà thử cùng mồ hôi đều xuất ra, không được ngăn mồ hôi.
Giải thích: Kinh văn lấy thời điểm trước và sau Hạ chí để phân biệt ôn bệnh và thử bệnh. Trước Hạ chí, dương nhiệt chưa cực thịnh nên gọi là ôn; sau Hạ chí, khí nóng mùa hạ thịnh hơn nên gọi là thử. Với bệnh thử, mồ hôi là đường để thử tà thoát ra ngoài, nên không nên tùy tiện cầm mồ hôi.
Trích Tố Vấn, thiên Nhiệt Luận.
Chú thích
1/ “Ôn.”
Giải thích: Chỉ nhiệt bệnh, đồng nghĩa với các câu phía trước như “nay các bệnh nhiệt đều thuộc loại thương hàn” và “người bị hàn tà làm tổn thương th́ phát thành bệnh nhiệt”.
2/ “Thử đương dữ hăn giai xuất, vật chỉ.”
Giải thích: Khi mồ hôi ra th́ thử tà theo đó mà tiết ra ngoài, v́ vậy không được tùy tiện cầm mồ hôi, tránh giữ tà khí lại trong cơ thể.
Phân tích
Tiết này chỉ ra sự khác biệt giữa bệnh ôn và bệnh thử. Ngoại cảm nhiệt bệnh do thời gian phát bệnh khác nhau mà có sự phân biệt giữa ôn bệnh và thử bệnh. Kinh văn xét theo mùa tiết, cho rằng ôn bệnh phát trước Hạ chí, thử bệnh phát sau Hạ chí. Về điều trị thử bệnh, kinh văn nói:
“Đương dữ hăn giai xuất, vật chỉ.”
Giải thích: Nên để thử tà cùng mồ hôi đều xuất ra, không nên ngăn mồ hôi. V́ mồ hôi là đường để thử tà thoát ra ngoài, nếu cầm mồ hôi sai lúc có thể làm tà khí bị lưu lại.
Đối với đoạn văn nói về ôn bệnh và thử bệnh này, có hai cách hiểu.
Cách hiểu thứ nhất là phân tích từ bệnh do hàn tà phát sinh, cho rằng “thương hàn” ở đây chỉ thương hàn nghĩa hẹp; ôn bệnh và thử bệnh đều do mùa đông cảm thụ hàn tà, tà ẩn phục rồi về sau mới phát. Như Ngô Côn nói:
“Đông thời trúng ư hàn tà, tức bệnh giả danh viết thương hàn, bất tức bệnh giả, hàn độc tàng ư cơ phu, chí xuân biến vi ôn bệnh, chí hạ biến vi nhiệt bệnh, thử nhiệt bệnh chi biện dă.”
Giải thích: Mùa đông trúng hàn tà, nếu phát bệnh ngay th́ gọi là thương hàn; nếu không phát bệnh ngay, hàn độc ẩn tàng ở cơ phu, đến mùa xuân biến thành ôn bệnh, đến mùa hạ biến thành nhiệt bệnh. Đây là cách phân biệt nhiệt bệnh.
Cách hiểu thứ hai là từ tà khí bốn mùa mà lư giải, cho rằng “thương hàn” ở đây là thương hàn nghĩa rộng: mùa đông cảm thụ hàn tà là thương hàn, mùa xuân cảm thụ ôn tà là ôn bệnh, mùa hạ cảm thụ thử tà là thử bệnh. Như Vương Băng nói:
“Thử dĩ nhiệt đa thiểu thịnh suy nhi vi nghĩa dă.”
Giải thích: Đây là lấy mức độ nhiều ít, thịnh suy của nhiệt để lập nghĩa.
“Dương nhiệt vị thịnh, vi hàn sở chế, cố vi bệnh viết ôn.”
Giải thích: Khi dương nhiệt chưa quá thịnh, c̣n bị hàn khí chế ước, nên bệnh gọi là ôn.
“Dương nhiệt đại thịnh, hàn bất năng chế, cố vi bệnh viết thử.”
Giải thích: Khi dương nhiệt rất thịnh, hàn khí không c̣n chế ước được, nên bệnh gọi là thử.
Kết hợp với quan niệm thương hàn có nghĩa rộng và nghĩa hẹp, cả hai cách hiểu đều có căn cứ. Nhưng cách hiểu thứ hai có ảnh hưởng lớn hơn đối với sự h́nh thành và phát triển của học thuyết ôn bệnh đời sau.
Vương Thúc Ḥa trong Thương Hàn Lệ nêu ra thuyết:
“Hàn độc tàng ư cơ phu.”
Giải thích: Hàn độc ẩn tàng ở cơ phu, về sau gặp thời khí thích hợp th́ phát thành ôn bệnh hoặc nhiệt bệnh.
Diệp Thiên Sĩ khi bàn về phục khí ôn bệnh, căn cứ vào các thuyết:
“Đông thương ư hàn, xuân tất bệnh ôn.”
Giải thích: Mùa đông bị hàn tà làm tổn thương, đến mùa xuân tất phát thành ôn bệnh.
“Đông bất tàng tinh, xuân tất bệnh ôn.”
Giải thích: Mùa đông không biết tàng tinh, chính khí bên trong không vững, đến mùa xuân tất dễ phát ôn bệnh.
Từ đó, Diệp Thiên Sĩ nêu rằng phục khí ôn bệnh là:
“Tà phục Thiếu âm.”
Giải thích: Tà khí ẩn phục ở Thiếu âm, tức bệnh ôn không chỉ là ngoại tà mới cảm, mà c̣n có yếu tố tà khí ẩn phục ở phần sâu bên trong.
Những quan điểm này đều chịu ảnh hưởng từ điều kinh văn này.
Đối với điều trị bệnh thử, kinh văn nói:
“Thử đương dữ hăn giai xuất, vật chỉ.”
Giải thích: Bệnh thử nên để mồ hôi cùng thử tà đều xuất ra, không nên cầm mồ hôi.
Đối với câu này có hai cách nhận thức. Một thuyết cho rằng ra mồ hôi là triệu chứng tất thấy của bệnh thử, đồng thời cũng là con đường để thử tà thoát ra ngoài, v́ vậy không được cầm mồ hôi làm tà khí lưu lại. Thuyết khác cho rằng “hăn” là một phép trị, tức dùng phép phát hăn; v́ thử tà ở biểu cũng có trường hợp không ra mồ hôi, ví dụ do tham mát uống lạnh, vệ dương bị uất mà thành chứng “âm thử”, vẫn nên dùng hăn pháp để giải.
“Âm thử chứng.”
Giải thích: Là chứng thử bệnh do tham mát, uống lạnh, ở nơi lạnh, khiến thử tà bị hàn thấp che lấp, vệ dương bị uất, có thể không ra mồ hôi hoặc biểu hiện hàn thấp bên ngoài.
Cả hai cách hiểu đều phù hợp với thực tế lâm sàng, khi vận dụng cần căn cứ biện chứng cụ thể.
Bệnh nhân bệnh cơ và phân tích bệnh chứng của âm dương giao.
Nguyên văn
“Hoàng Đế vấn viết: Hữu bệnh ôn giả, hăn xuất triếp phục nhiệt, nhi mạch táo tật bất vi hăn suy, cuồng ngôn bất năng thực, bệnh danh vi hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Có người mắc bệnh ôn, mồ hôi ra rồi thường lại phát nhiệt, mạch táo tật không v́ ra mồ hôi mà giảm, nói cuồng loạn, không ăn được, bệnh ấy gọi là ǵ?
Giải thích: Hoàng Đế nêu ra một chứng bệnh ôn nặng: sau khi ra mồ hôi mà nhiệt không lui, mạch vẫn nhanh gấp, thần chí rối loạn, không ăn được. Đây là dấu hiệu tà nhiệt rất thịnh, chính khí và tinh khí đă suy.
“Kỳ Bá đối viết: Bệnh danh âm dương giao, giao giả tử dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Bệnh ấy gọi là âm dương giao; đă giao th́ chết.
Giải thích: “Âm dương giao” ở đây không phải là âm dương giao ḥa b́nh thường, mà là dương nhiệt tà xâm nhập vào âm phận, giao kết không giải, khiến tà thịnh chính suy. Đây là chứng nguy trọng, tiên lượng xấu.
“Đế viết: Nguyện văn kỳ thuyết.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin được nghe giải thích.
Giải thích: Hoàng Đế muốn Kỳ Bá nói rơ v́ sao bệnh này gọi là âm dương giao và v́ sao nguy hiểm đến mức có thể chết.
“Kỳ Bá viết: Nhân sở dĩ hăn xuất giả, giai sinh ư cốc, cốc sinh ư tinh.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Sở dĩ con người ra mồ hôi là do cốc khí sinh ra, mà cốc khí lại sinh ra tinh.
Giải thích: Mồ hôi có nguồn gốc từ tinh khí và cốc khí. Khi vị khí đầy đủ, thủy cốc hóa sinh tinh khí, tinh khí đạt ra ngoài th́ thành mồ hôi. V́ vậy mồ hôi không chỉ là chất dịch bên ngoài, mà liên quan đến tinh khí bên trong.
“Kim tà khí tranh ư cốt nhục nhi đắc hăn giả, thị tà khước nhi tinh thắng dă.”
Dịch nghĩa: Nay tà khí tranh đấu ở cốt nhục mà được ra mồ hôi, đó là tà khí lui mà tinh khí thắng.
Giải thích: Khi chính khí c̣n mạnh, chính tà giao tranh ở cơ nhục, nếu ra mồ hôi rồi nhiệt lui th́ chứng tỏ tà khí bị đẩy lui, tinh khí và chính khí thắng tà.
“Tinh thắng, tắc đương năng thực nhi bất phục nhiệt, phục nhiệt giả, tà khí dă.”
Dịch nghĩa: Nếu tinh khí thắng th́ đáng lẽ có thể ăn được và không c̣n phát nhiệt lại; nay lại phát nhiệt, đó là tà khí c̣n thắng.
Giải thích: Nếu chính khí thắng, vị khí phục hồi th́ người bệnh sẽ ăn được, nhiệt không tái phát. Nếu sau khi ra mồ hôi mà lại nóng trở lại, nghĩa là tà nhiệt chưa lui, thậm chí c̣n thắng chính khí.
“Hăn giả, tinh khí dă.”
Dịch nghĩa: Mồ hôi là tinh khí.
Giải thích: Mồ hôi do tinh khí hóa sinh. Ra mồ hôi quá nhiều hoặc ra mồ hôi mà bệnh không giảm là dấu hiệu tinh khí bị hao tổn mà tà khí chưa giải.
“Kim hăn xuất nhi triếp phục nhiệt giả, thị tà thắng dă.”
Dịch nghĩa: Nay mồ hôi ra rồi thường lại phát nhiệt, đó là tà khí thắng.
Giải thích: Mồ hôi đáng lẽ là đường để tà thoát ra ngoài; nhưng ra mồ hôi rồi nhiệt vẫn tái phát, chứng tỏ chính khí không đủ sức đẩy tà, tà nhiệt vẫn c̣n thịnh.
“Bất năng thực giả, tinh vô tỳ dă.”
Dịch nghĩa: Không ăn được là v́ tinh khí không được bổ trợ.
Giải thích: “Tỳ” ở đây có nghĩa là bổ trợ, bổ sung. Không ăn được chứng tỏ vị khí suy, thủy cốc không vào, tinh khí không có nguồn để tiếp tục sinh hóa, chính khí càng suy.
“Bệnh nhi lưu giả, kỳ thọ khả lập nhi khuynh dă.”
Dịch nghĩa: Bệnh mà lưu lại không giải th́ tuổi thọ có thể lập tức nghiêng đổ.
Giải thích: Tà nhiệt lưu lại, chính khí không phục, tinh khí không được bổ sung, th́ sinh mệnh rất dễ suy sụp nhanh chóng.
“Thả phù Nhiệt Luận viết: Hăn xuất nhi mạch thượng táo thịnh giả tử.”
Dịch nghĩa: Hơn nữa Nhiệt Luận nói: Ra mồ hôi mà mạch vẫn táo thịnh th́ chết.
Giải thích: Sau khi ra mồ hôi, nếu bệnh tà được giải th́ mạch phải ḥa hoăn. Nay mạch vẫn táo cấp, thịnh mạnh, chứng tỏ tà nhiệt chưa lui, chính khí không thắng được bệnh.
“Kim mạch bất dữ hăn tương ứng, thử bất thắng kỳ bệnh dă, kỳ tử minh hĩ.”
Dịch nghĩa: Nay mạch không tương ứng với mồ hôi, đó là chính khí không thắng nổi bệnh, cái chết đă rơ.
Giải thích: Mồ hôi ra nhưng mạch không giảm, nhiệt không lui, cho thấy mồ hôi không phải dấu hiệu tà giải mà là tinh khí bị hao. Đây là chứng nguy.
“Cuồng ngôn giả, thị thất chí, thất chí giả tử.”
Dịch nghĩa: Nói cuồng loạn là mất thần chí; mất thần chí th́ chết.
Giải thích: Cuồng ngôn là thần minh bị nhiệt tà quấy nhiễu hoặc chính khí không giữ được thần. Khi thần chí đă rối loạn nặng, tiên lượng rất xấu.
“Kim kiến tam tử, bất kiến nhất sinh, tuy dũ tất tử dă.”
Dịch nghĩa: Nay thấy ba dấu hiệu chết, không thấy một dấu hiệu sống, dù tạm khỏi cũng tất chết.
Giải thích: Ba tử chứng là không ăn được, mạch táo thịnh không giảm sau mồ hôi, và mất thần chí. Không có dấu hiệu chính khí hồi phục, nên dù bệnh có vẻ tạm đỡ cũng khó qua khỏi.
Trích Tố Vấn, thiên B́nh Nhiệt Bệnh Luận.
Chú thích

1. “Triếp.”
Giải thích: Nghĩa là thường thường, hễ như vậy th́ lại như vậy. Ở đây chỉ mồ hôi vừa ra th́ lại thường phát nhiệt trở lại.
2. “Âm dương giao.”
Giải thích: Là chứng dương nhiệt tà đi vào âm phận, giao kết không giải, thuộc loại tà thịnh chính suy, là một bệnh hậu nguy trọng.
3. “Cốc sinh ư tinh.”
Giải thích: Chữ “ư” là trợ từ. “Cốc sinh ư tinh” tức là thủy cốc sinh ra tinh. Trương Giới Tân chú rằng:
“Cốc khí nội thịnh tắc sinh tinh, tinh khí ngoại đạt tắc vi hăn.”
Giải thích: Cốc khí bên trong sung thịnh th́ sinh ra tinh; tinh khí đạt ra ngoài th́ thành mồ hôi.
4. “Tỳ.”
Giải thích: Có nghĩa là thông, bổ trợ, bổ sung, bồi bổ. Ở đây nói người bệnh không ăn được th́ tinh khí không có nguồn để được bổ sung.
5. “Tam tử.”
Giải thích: Dương Thượng Thiện chú rằng: “Hăn xuất nhi nhiệt bất suy, tử hữu tam hậu: nhất bất năng thực, nhị do mạch táo, tam giả thất chí. Hăn xuất nhi nhiệt, hữu thử tam tử chi hậu, vị kiến nhất sinh chi trạng, tuy sai tất tử.”
“Hăn xuất nhi nhiệt bất suy, tử hữu tam hậu: nhất bất năng thực, nhị do mạch táo, tam giả thất chí. Hăn xuất nhi nhiệt, hữu thử tam tử chi hậu, vị kiến nhất sinh chi trạng, tuy sai tất tử.”
Giải thích: Ra mồ hôi mà nhiệt không giảm th́ có ba dấu hiệu chết: một là không ăn được, hai là mạch vẫn táo cấp, ba là mất thần chí. Ra mồ hôi mà vẫn phát nhiệt, lại có đủ ba tử chứng này, không thấy một dấu hiệu sống nào, th́ dù tạm đỡ cũng tất chết.
6. “Tuy dũ tất tử.”
Giải thích: Bệnh tuy tạm thời có vẻ chuyển tốt, nhưng v́ tinh khí đă kiệt, tà khí quá thịnh, nên tiên lượng không tốt.
Phân tích
Đoạn này bàn toàn diện về bệnh chứng, bệnh cơ và tiên lượng của âm dương giao.
“Âm dương giao.”
Giải thích: Nghĩa của âm dương giao có nhiều cách giải thích qua các đời, nhưng theo nội dung kinh văn, nên hiểu là dương nhiệt tà nhập vào âm phận, giao kết không giải, khiến tà thịnh chính suy.
Âm dương giao là ǵ? Các nhà chú giải qua các đời có năm thuyết. Thứ nhất, cho rằng chỉ về mạch, như Uông Ngang trong Tố Linh Loại Toản Ước Chú nói:
“Án Ngũ Vận Hành Đại Luận vân, xích thốn phản giả tử, âm dương giao giả tử. Cái ngôn mạch dă.”
Giải thích: Theo Ngũ Vận Hành Đại Luận, thốn xích trái ngược th́ chết, âm dương giao th́ chết. Đây là nói về mạch.
Thứ hai, cho rằng dương tà thịnh mà âm lại nổi lên, như Thái Tố nói:
“Hăn giả, âm dịch dă; nhiệt giả, dương thịnh khí dă. Dương thịnh tắc vô hăn, hăn xuất tắc nhiệt suy, kim hăn xuất nhi nhiệt bất suy giả, thị dương tà thịnh nhi âm phục khởi, lưỡng giả tương giao, cố danh âm dương giao dă.”
Giải thích: Mồ hôi là âm dịch; nhiệt là khí dương thịnh. Dương thịnh th́ không có mồ hôi, mồ hôi ra th́ nhiệt phải giảm. Nay mồ hôi ra mà nhiệt không giảm, đó là dương tà thịnh mà âm lại nổi lên, hai bên giao nhau, nên gọi là âm dương giao.
Thứ ba, cho rằng khí âm dương không phân biệt, như Vương Băng chú:
“Giao, vị giao hợp, âm dương chi khí bất phân biệt dă.”
Giải thích: “Giao” là giao hợp, khí âm dương không c̣n phân biệt rơ ràng.
Thứ tư, cho rằng là “lưỡng cảm thương hàn”, như Trương Kỳ trong Tố Vấn Thích Nghĩa nói:
“Âm dương giao, tức lưỡng cảm dă. Nhất âm nhất dương, tạng phủ tương giao, nhi dĩ hỏa vi tác hợp, cố mạch táo tật bất vi hăn suy. Do tà nhiệt bố măn, như phần như hủy cố dă.”
Giải thích: Âm dương giao tức là lưỡng cảm. Một âm một dương, tạng phủ giao nhau, lại lấy hỏa làm sự kết hợp, nên mạch táo tật không v́ mồ hôi mà giảm. Do tà nhiệt lan đầy, như bị thiêu đốt, hủy hoại.
Thứ năm, cho rằng dương tà giao nhập vào âm phận. Như Trương Giới Tân trong Loại Kinh chú:
“Hăn giả, âm chi dịch, thân nhiệt mạch táo giả, dương chi tà. Bệnh ôn hăn xuất chi hậu, tắc đương tà ṭng hăn giải, nhiệt thoái mạch tĩnh hĩ. Kim kỳ bất vi hăn suy giả, năi dương thắng chi cực, âm khí bất năng phục dă, cố vi cuồng ngôn, vi bất thực. Chính dương tà giao nhập âm phận, tắc âm khí bất thủ, cố viết âm dương giao, giao giả tử dă.”
Giải thích: Mồ hôi là dịch của âm; thân nhiệt, mạch táo là tà của dương. Bệnh ôn sau khi ra mồ hôi th́ đáng lẽ tà theo mồ hôi mà giải, nhiệt lui, mạch yên. Nay không v́ mồ hôi mà giảm, đó là dương thắng đến cực độ, âm khí không thể phục hồi, nên sinh nói cuồng loạn, không ăn được. Chính là dương tà giao nhập vào âm phận, âm khí không giữ được, nên gọi là âm dương giao; đă giao th́ chết.
Trong các thuyết trên, chú giải của Loại Kinh là hợp lư hơn cả. Từ mô tả của kinh văn có thể thấy, chứng này có các câu:
“Tà khí tranh ư cốt nhục.”
Giải thích: Tà khí tranh đấu ở cốt nhục, cho thấy tà nhiệt đă xâm nhập sâu vào phần cơ nhục, cốt nhục, không c̣n đơn thuần ở biểu.
“Bệnh nhi lưu.”
Giải thích: Bệnh tà lưu lại không giải, chứng tỏ tà nhiệt giao kết, khó thoát ra ngoài.
“Bất thắng kỳ bệnh.”
Giải thích: Chính khí không thắng nổi bệnh tà, cho thấy bản chất là tà thịnh chính suy.
Những điều này đều chứng minh âm dương giao là chứng nguy trọng do dương nhiệt tà nhập vào âm phận, giao kết không giải, dẫn đến tà thịnh chính suy. Đây không phải một loại ôn nhiệt bệnh độc lập, càng không phải là trạng thái sinh lư b́nh thường của âm dương giao hội.
Chủ chứng của âm dương giao là mồ hôi ra mà nhiệt không lui, mạch không yên, thần không sáng, không ăn được. Chứng này bao gồm các mặt: tà nhiệt hừng hực, tân dịch khô kiệt, vị khí suy bại, thần minh bị quấy nhiễu. Nó tương đương với một phần chứng hậu của ôn bệnh ở hạ tiêu và các phần khí, dinh, huyết.
V́ đă thấy ba tử chứng là không ăn được, mạch táo, mất thần chí, mà không thấy một dấu hiệu sống, nên kinh văn nói:
“Tất tử.”
Giải thích: Tất chết. Đây là cách nói nhấn mạnh tiên lượng rất nguy hiểm của chứng âm dương giao trong điều kiện y học cổ đại.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của y học, chứng này nếu cứu chữa đúng phương pháp và kịp thời th́ chưa chắc “tất chết”. Đúng như Ngô Đường nói:
“Kinh vị tất tử chi chứng, thùy cảm vị sinh? Nhiên dược chi đắc pháp, hữu khả sinh chi lư.”
Giải thích: Kinh nói là chứng tất chết, ai dám nói có thể sống? Nhưng nếu dùng thuốc đúng pháp, vẫn có lư có thể cứu sống.
Chứng này lấy “tà thịnh tinh hư” làm bệnh lư cơ bản, v́ vậy trị pháp nên lấy thanh nhiệt dưỡng âm, phù chính khứ tà làm đại pháp. Đời sau khi trị ôn bệnh luôn nhấn mạnh:
“Cố hộ tân dịch, bảo tồn vị khí.”
Giải thích: Phải chăm sóc và bảo vệ tân dịch, giữ ǵn vị khí. Đây là nguyên tắc quan trọng trong ôn bệnh, v́ tân dịch và vị khí c̣n th́ chính khí c̣n cơ hội hồi phục.
“Lưu đắc nhất phân tân dịch, tiện hữu nhất phân sinh cơ.”
Giải thích: Giữ lại được một phần tân dịch th́ c̣n một phần sinh cơ. Nghĩa là trong nhiệt bệnh, bảo tồn âm dịch chính là bảo tồn cơ hội sống.
“Nhiệt bệnh dĩ cứu âm vi tiên, cứu âm dĩ tiết nhiệt vi yếu.”
Giải thích: Trị nhiệt bệnh lấy cứu âm làm trước, mà muốn cứu âm th́ điều quan trọng là tiết nhiệt. Thanh tiết tà nhiệt chính là để bảo vệ âm dịch.
Những nguyên tắc cơ bản này đều được gợi mở từ đoạn kinh văn về âm dương giao.
Bệnh nhân bệnh cơ và điều trị bệnh chứng của phong quyết
Nguyên văn
“Đế viết: Hữu bệnh thân nhiệt, hăn xuất phiền măn, phiền măn bất vi hăn giải, thử vi hà bệnh?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Có người bệnh thân nhiệt, ra mồ hôi, phiền đầy, mà phiền đầy không v́ ra mồ hôi mà giải, đó là bệnh ǵ?
Giải thích: Hoàng Đế nêu một chứng bệnh có thân nhiệt và ra mồ hôi giống biểu chứng phong nhiệt, nhưng phiền măn không giải sau mồ hôi, chứng tỏ bệnh không chỉ ở biểu mà c̣n liên quan đến lư, đặc biệt là Thiếu âm.
“Kỳ Bá viết: Hăn xuất nhi thân nhiệt giả, phong dă; hăn xuất nhi phiền măn bất giải giả, quyết dă, bệnh danh viết phong quyết.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Ra mồ hôi mà thân nhiệt là phong; ra mồ hôi mà phiền măn không giải là quyết; bệnh ấy gọi là phong quyết.
Giải thích: “Phong” ở đây chỉ phong tà ở biểu khiến ra mồ hôi, thân nhiệt. “Quyết” là khí nghịch, đặc biệt chỉ Thiếu âm khí từ dưới nghịch lên. Biểu có phong, lư có quyết nghịch nên gọi là phong quyết.
“Đế viết: Nguyện tốt văn chi.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin được nghe đầy đủ về bệnh ấy.
Giải thích: Hoàng Đế muốn Kỳ Bá giải thích rơ bệnh cơ của phong quyết.
“Kỳ Bá viết: Cự dương chủ khí, cố tiên thụ tà.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Cự dương chủ khí, cho nên trước hết nhận tà.
Giải thích: Cự dương tức Thái dương, chủ biểu, là nơi các dương khí thông hành ở ngoài. Ngoại tà xâm nhập thường trước tiên phạm vào Thái dương.
“Thiếu âm dữ kỳ vi biểu lư dă, đắc nhiệt tắc thượng ṭng chi, ṭng chi tắc quyết dă.”
Dịch nghĩa: Thiếu âm cùng với nó làm biểu lư; khi gặp nhiệt th́ theo đó mà nghịch lên, theo đó nghịch lên th́ thành quyết.
Giải thích: Thái dương và Thiếu âm có quan hệ biểu lư. Thái dương cảm tà hóa nhiệt, nhiệt dẫn động Thiếu âm hư khí hoặc hư hỏa nghịch lên, khiến tà chính giao tranh ở trong, sinh phiền măn không giải.
“Đế viết: Trị chi nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Điều trị như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi phép trị đối với chứng phong quyết, v́ bệnh có cả biểu tà Thái dương và lư nghịch Thiếu âm.
“Kỳ Bá viết: Biểu lư thích chi, ẩm chi phục thang.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Châm cả biểu và lư, rồi cho uống thang thuốc.
Giải thích: Điều trị phải đồng thời xử lư Thái dương ở biểu và Thiếu âm ở lư. Châm thích để tả tà ở Thái dương, bổ khí ở Thiếu âm; đồng thời dùng thang thuốc để điều ḥa chính khí, giáng nghịch, giải tà.
Trích Tố Vấn, thiên B́nh Nhiệt Bệnh Luận.
Chú thích
7. “Quyết.”
Giải thích: Nghĩa là nghịch. Ở đây chỉ khí của Thiếu âm từ dưới nghịch lên trên.
8. “Phong quyết.”
Giải thích: Mă Th́ chú rằng:
“Dĩ kỳ Thái dương cảm phong, Thiếu âm khí quyết, danh vi phong quyết chi chứng.”
Giải thích: V́ Thái dương cảm phong, Thiếu âm khí nghịch, nên gọi là chứng phong quyết.
9. “Cự dương chủ khí.”
Giải thích: Tố Vấn, thiên Nhiệt Luận nói:
“Cự dương giả, chư dương chi thuộc dă, kỳ mạch liên ư Phong Phủ, cố vi chư dương chủ khí dă.”
Giải thích: Cự dương là nơi thống thuộc của các dương; mạch của nó nối với Phong Phủ, cho nên là nơi chủ khí của các dương.
V́ dương chủ biểu, Cự dương lại là nơi chủ khí của các dương, nên ở đây chủ yếu nói đến chức năng chủ biểu. Trương Giới Tân chú:
“Cự dương chủ khí, khí ngôn biểu dă.”
Giải thích: Cự dương chủ khí, chữ “khí” ở đây là nói về phần biểu.
10. “Đắc nhiệt tắc thượng ṭng chi, ṭng chi tắc quyết dă.”
Giải thích: Thái dương nhận tà rồi hóa nhiệt. Thiếu âm và Thái dương có quan hệ biểu lư, gặp nhiệt th́ theo đó mà nghịch lên. Tà chính giao tranh ở lư, nên ra mồ hôi mà thân nhiệt, phiền măn không giải. Đây là Thái dương và Thiếu âm biểu lư cùng bệnh.
11. “Biểu lư thích chi.”
Giải thích: Điều trị bằng châm thích phải lấy huyệt ở cả hai kinh biểu lư là Túc Thái dương và Túc Thiếu âm. Trương Giới Tân chú rằng:
“Dương tà thịnh giả âm tất hư, cố đương tả Thái dương chi nhiệt, bổ Thiếu âm chi khí, hợp biểu lư nhi thích chi dă.”
Giải thích: Dương tà thịnh th́ âm tất hư, cho nên phải tả nhiệt ở Thái dương, bổ khí ở Thiếu âm, phối hợp biểu lư mà châm.
12. “Ẩm chi phục thang.”
Giải thích: Tà thịnh chính hư th́ cần cho uống thang thuốc để điều trị. Vương Băng chú rằng:
“Ẩm chi thang giả, vị chỉ nghịch thượng chi thận khí dă.”
Giải thích: Cho uống thang thuốc là để ngăn khí thận nghịch lên trên.
Phân tích
Đoạn này chủ yếu bàn về bệnh chứng, bệnh cơ và điều trị của phong quyết.
“Phong quyết.”
Giải thích: Tên bệnh “phong quyết” hiện nay không c̣n dùng phổ biến. Trong Hoàng Đế Nội Kinh, tên bệnh này xuất hiện ba lần, nhưng ư nghĩa không hoàn toàn giống nhau.
Trương Giới Tân chú rằng:
“Án phong quyết chi nghĩa bất nhất, như bản thiên giả, ngôn Thái dương Thiếu âm bệnh dă; kỳ tại Âm Dương Biệt Luận giả, vân nhị dương nhất âm phát bệnh, danh viết phong quyết, ngôn vị dữ can dă; tại Ngũ Biến thiên giả, viết nhân chi thiện bệnh phong quyết lộc hăn giả, nhục bất kiên, tấu lư sơ dă.”
Giải thích: Nghĩa của phong quyết không chỉ có một. Trong thiên này là nói bệnh ở Thái dương và Thiếu âm; trong thiên Âm Dương Biệt Luận nói “nhị dương nhất âm phát bệnh gọi là phong quyết”, tức nói về vị và can; trong thiên Ngũ Biến nói người dễ mắc phong quyết và ra mồ hôi lấm tấm là do cơ nhục không chắc, tấu lư thưa.
Bệnh chứng phong quyết được nói trong đoạn này chủ yếu là ra mồ hôi, phiền măn, nhưng phiền măn không v́ ra mồ hôi mà giải. Bệnh cơ cơ bản là người vốn có thận âm hao tổn, ra mồ hôi rồi gặp gió, lại cảm phong ôn tà, làm dẫn động hư hỏa Thiếu âm nghịch lên. Bệnh vị ở hai kinh Thái dương và Thiếu âm; bệnh tính thuộc loại ôn bệnh bản hư tiêu thực.
Thái dương cảm thụ phong tà, nên ra mồ hôi mà thân nhiệt. Thiếu âm hư hỏa nghịch lên, nên phiền măn không v́ mồ hôi mà giải. Điều trị bằng châm thích nên vừa tả dương tà ở Thái dương, vừa bổ tinh khí ở Thiếu âm. Về thang dịch uống trong, có thể tùy chứng tham khảo dùng Ngọc nữ tiễn gia Trúc diệp tâm trong Ôn Bệnh Điều Biện.

Khái niệm, trị tắc và tiên lượng của lao phong
Nguyên văn
“Đế viết: Lao phong vi bệnh hà như?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Bệnh lao phong là bệnh như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về bệnh danh “lao phong”, tức chứng bệnh do cơ thể lao tổn, chính khí hư yếu, lại cảm thụ phong tà mà phát bệnh.
“Kỳ Bá viết: Lao phong pháp tại phế hạ.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Bệnh lao phong thường ở dưới phế.
Giải thích: “Pháp” ở đây có nghĩa là thường. Câu này nói bệnh lao phong có bệnh vị liên quan đến phế, thường do hư lao sinh nhiệt, lại cảm phong tà, khiến phong hỏa, đàm nhiệt uất ở vùng phế.
“Kỳ vi bệnh dă, sử nhân cường thượng minh thị.”
Dịch nghĩa: Bệnh ấy khiến người bệnh đầu gáy cứng gấp, mắt nh́n mờ tối.
Giải thích: “Cường thượng” là đầu gáy cứng, không thư thái; “minh thị” là mắt nh́n tối mờ, hoa mắt. Đây là biểu hiện Thái dương kinh khí không thông, phế khí và thanh dương không được tuyên đạt.
“Thóa xuất nhược thế.”
Dịch nghĩa: Nhổ ra chất giống như nước mũi.
Giải thích: Chỉ người bệnh khạc nhổ ra đàm dịch dính, giống như nước mũi, cho thấy phế mất tuyên túc, đàm nhiệt hoặc đàm trọc tích tụ.
“Ố phong nhi chấn hàn.”
Dịch nghĩa: Sợ gió mà rét run.
Giải thích: Lao tổn làm chính khí hư, vệ biểu không vững, lại cảm phong tà, nên sợ gió, rét run.
“Thử vi lao phong chi bệnh.”
Dịch nghĩa: Đây là bệnh lao phong.
Giải thích: Kỳ Bá tổng kết các biểu hiện chính của lao phong: đầu gáy cứng, mắt mờ, khạc đàm như nước mũi, sợ gió, rét run.
“Đế viết: Trị chi nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Điều trị như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi đại pháp điều trị đối với lao phong.
“Kỳ Bá viết: Dĩ cứu phủ ngưỡng.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Phải cứu chữa t́nh trạng cúi ngửa khó khăn.
Giải thích: Câu này có hai cách hiểu: một là cứu t́nh trạng hô hấp khó khăn, v́ phế chủ khí, chủ hô hấp; hai là cứu chứng cổ gáy, lưng cứng gấp khiến cúi ngửa không thuận. Nói chung đều chỉ phải làm thông phế khí, tán tà khí, thư giăn kinh mạch.
“Cự dương dẫn.”
Dịch nghĩa: Dẫn kinh khí ở Cự dương.
Giải thích: Cự dương tức Thái dương. Điều trị bằng châm thích nên lấy huyệt ở kinh Thái dương để dẫn kinh khí, làm thông phần biểu và kinh khí vùng đầu gáy, lưng.
“Tinh giả tam nhật, trung niên giả ngũ nhật, bất tinh giả thất nhật.”
Dịch nghĩa: Người tinh khí mạnh th́ ba ngày, người trung niên th́ năm ngày, người tinh khí suy th́ bảy ngày.
Giải thích: Đây là nói thời gian bệnh có thể chuyển giảm. Người trẻ khỏe, tinh khí sung th́ bệnh lui nhanh; người trung niên chậm hơn; người già yếu, tinh khí suy th́ bệnh lui chậm hơn.
“Khái xuất thanh hoàng thế, kỳ trạng như nùng, đại như đàn hoàn, ṭng khẩu trung, nhược tỵ trung xuất.”
Dịch nghĩa: Nếu ho khạc ra chất đàm màu xanh vàng, h́nh trạng giống như mủ, lớn như viên đạn, từ trong miệng hoặc trong mũi ra.
Giải thích: Đây là dấu hiệu đàm nhiệt, độc trọc trong phế được bài xuất ra ngoài. Nếu đàm mủ được khạc ra th́ khí đạo thông, tà có đường thoát.
“Bất xuất tắc thương phế.”
Dịch nghĩa: Nếu không ra được th́ làm tổn thương phế.
Giải thích: Đàm nhiệt, mủ trọc bị bế lại trong phế, không khạc ra được, sẽ làm phế khí càng bị tổn thương, khí đạo bế tắc.
“Thương phế tắc tử dă.”
Dịch nghĩa: Làm tổn thương phế th́ chết.
Giải thích: Phế chủ khí, chủ hô hấp. Nếu phế bị tổn thương nặng, đàm nhiệt bế tắc, khí đạo không thông th́ có thể nguy đến tính mạng.
Trích Tố Vấn, thiên B́nh Nhiệt Bệnh Luận.
Chú thích

1. “Lao phong.”
Giải thích: Là tên bệnh. Do lao tổn mà hư, do hư mà cảm thụ phong tà nên gọi là lao phong. Dương Thượng Thiện chú rằng:
“Lao trung đắc phong vi bệnh, danh viết lao trung, diệc viết lao phong.”
Giải thích: Trong trạng thái lao tổn mà cảm phong thành bệnh th́ gọi là lao trung, cũng gọi là lao phong.
2. “Pháp tại phế hạ.”
Giải thích: “Pháp” hiểu như chữ “thường”. Vưu Tại Kinh trong Y Học Độc Thư Kư nói:
“Lao tắc hỏa khởi ư hạ, nhi phong hựu thừa chi, phong hỏa tương bác, khí tấu ư thượng, cố vân pháp tại phế hạ dă.”
Giải thích: Lao tổn th́ hỏa khởi ở dưới, phong tà lại thừa cơ xâm phạm, phong và hỏa giao tranh, khí dồn lên trên, cho nên nói bệnh thường ở dưới phế.
3. “Cường thượng minh thị.”
Giải thích: “Cường thượng” là đầu gáy cứng gấp không thư thái. Tố Vấn, thiên Mạch Giải nói:
“Sở vị cường thượng dẫn bối giả, dương khí đại thượng nhi tranh, cố cường thượng dă.”
Giải thích: Gọi là đầu gáy cứng kéo ra lưng, là do dương khí bốc mạnh lên trên mà tranh, nên đầu gáy cứng.
“Minh thị” là mắt hoa, nh́n không rơ. Vương Băng chú rằng:
“Bàng quang khí bất năng thượng vinh, cố sử nhân đầu hạng cường nhi thị bất minh dă.”
Giải thích: Khí Bàng quang không thể đi lên nuôi dưỡng, cho nên làm người bệnh đầu gáy cứng mà nh́n không rơ.
4. “Dĩ cứu phủ ngưỡng.”
Giải thích: “Phủ” là cúi, “ngưỡng” là ngửa. “Cứu” là cứu trị. Cách hiểu “phủ ngưỡng” không thống nhất, nhưng quy lại có hai ư chính. Một là chỉ hô hấp khó khăn. Như Vưu Tại Kinh nói:
“Phế chủ khí nhi ty hô hấp. Phong nhiệt tại phế, kỳ dịch tất kết, kỳ khí tất ủng, thị dĩ phủ ngưỡng giai bất thuận lợi, cố viết đương cứu phủ ngưỡng dă. Cứu phủ ngưỡng giả, tức lợi phế khí tán tà khí chi vị hồ!”
Giải thích: Phế chủ khí và quản hô hấp. Phong nhiệt ở phế th́ dịch tất kết, khí tất ứ, v́ vậy cúi ngửa đều không thuận lợi; cho nên nói phải cứu phủ ngưỡng. Cứu phủ ngưỡng chính là làm lợi phế khí, tán tà khí.
Hai là chỉ cổ gáy, lưng cứng gấp, cúi ngửa không tiện. Như Vương Băng chú:
“Phủ ngưỡng vị khuất thân dă.”
Giải thích: Phủ ngưỡng là chỉ sự co duỗi, cúi ngửa của thân thể.
Cao Thế Thức chú:
“Kinh mạch điều ḥa tắc phủ ngưỡng tự như, cường thượng khả dũ.”
Giải thích: Kinh mạch điều ḥa th́ cúi ngửa tự nhiên thuận lợi, chứng đầu gáy cứng có thể khỏi.
5. “Cự dương dẫn.”
Giải thích: Lấy huyệt trên kinh Thái dương để châm thích điều trị, nhằm dẫn kinh khí, thông kinh lạc, giải tà ở biểu.
6. “Tinh giả tam nhật, trung niên giả ngũ nhật, bất tinh giả thất nhật.”
Giải thích: “Tinh giả” đối lập với “bất tinh giả”. “Tinh giả” chỉ người trẻ khỏe, tinh khí sung măn; “bất tinh giả” chỉ người già yếu, tinh khí suy. “Tinh” là tinh thần trong sáng, khí huyết sung. Linh Khu, thiên Dinh Vệ Sinh Hội nói:
“Tráng giả chi khí huyết thịnh, kỳ cơ nhục hoạt, khí đạo thông, dinh vệ chi hành, bất thất kỳ thường, cố trú tinh nhi dạ minh.”
Giải thích: Người khỏe mạnh th́ khí huyết thịnh, cơ nhục trơn nhuận, khí đạo thông, dinh vệ vận hành không mất b́nh thường, cho nên ban ngày tinh thần sáng rơ, ban đêm ngủ yên. Ba ngày, năm ngày, bảy ngày là số ngày ước chừng để bệnh giảm.
Phân tích
Đoạn này chủ yếu bàn về bệnh chứng, bệnh cơ, điều trị và tiên lượng của lao phong.
“Lao phong.”
Giải thích: Tên bệnh lao phong hiện nay không c̣n dùng. Căn cứ kinh văn mô tả, bệnh này có vẻ tương tự với chứng phế nuy hư nhiệt trong Kim Quỹ Yếu Lược khi cảm phong mà cấp tính phát tác.
Bệnh chứng chính của lao phong gồm: sợ gió rét run, đầu gáy cứng, mắt nh́n mờ tối, khạc ra chất như nước mũi. Bệnh cơ cơ bản là do lao tổn mà hư, do hư nên Thái dương cảm phong, phong tà vào trong phạm phế, phế mất thanh túc, đàm nhiệt ủng tích. Bệnh vị ở phế, bệnh tính thuộc hư nhiệt.
Đối với điều trị lao phong, kinh văn không chỉ coi trọng phép lợi phế tán tà để “cứu phủ ngưỡng”, mà c̣n đặc biệt chú trọng việc:
“Khái xuất thanh hoàng thế.”
Giải thích: Ho khạc ra đàm màu xanh vàng. Đây là cách làm thông khí đạo, giúp đàm nhiệt, mủ trọc trong phế được bài xuất ra ngoài.
Trương Trọng Cảnh lập ra Cát cánh tán để bài nùng trị phế ung, chính là lấy quan điểm này làm căn cứ lư luận. Ngoài ra cũng có thể dùng Mạch môn đông thang gia giảm.
“Cát cánh tán.”
Giải thích: Phương có tác dụng tuyên phế, bài nùng, dùng trong phế ung hoặc đàm mủ ủng phế, giúp mủ trọc được khạc ra.
“Mạch môn đông thang.”
Giải thích: Phương dưỡng âm nhuận phế, ích vị sinh tân, giáng nghịch, có thể gia giảm dùng khi phế vị âm hư, hư nhiệt, ho khạc đàm dính.
Về thuận nghịch và tiên lượng của bệnh này, kinh văn nêu hai điểm cần xem: thứ nhất là tuổi tác lớn nhỏ, thể chất mạnh yếu; thứ hai là đờm có được bài xuất thông suốt hay không. Điều này có ư nghĩa chỉ đạo lâm sàng.
Năm loại nghịch chứng của nhiệt bệnh
Nguyên văn
“Hoàng Đế viết: Hà vị ngũ nghịch?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Thế nào gọi là năm nghịch?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về năm loại nghịch chứng trong nhiệt bệnh, tức những t́nh trạng bệnh thế trái nghịch, nguy nặng, tiên lượng xấu.
“Kỳ Bá viết: Nhiệt bệnh mạch tĩnh, hăn dĩ xuất, mạch thịnh táo, thị nhất nghịch dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Nhiệt bệnh mà mạch lại tĩnh; mồ hôi đă ra mà mạch lại thịnh táo, đó là nghịch thứ nhất.
Giải thích: Nhiệt bệnh thông thường mạch nên hồng, sác; nếu mạch tĩnh là chính khí suy không ứng với nhiệt. Sau khi ra mồ hôi, mạch đáng lẽ dịu lại, nay vẫn thịnh táo, chứng tỏ tà khí c̣n thịnh, chính khí không thắng tà.
“Bệnh tiết, mạch hồng đại, thị nhị nghịch dă.”
Dịch nghĩa: Bệnh tiêu chảy mà mạch hồng đại, đó là nghịch thứ hai.
Giải thích: Tiêu chảy thường làm khí dịch hao tổn, mạch nên hư hoăn hoặc trầm nhược. Nay mạch hồng đại là tà nhiệt vẫn thịnh, chính khí đă hao, chính tà trái nhau, là dấu hiệu nguy.
“Trước tư bất di, nhục phá, thân nhiệt, mạch thiên tuyệt, thị tam nghịch dă.”
Dịch nghĩa: Trước tư cố định không di chuyển, thịt bị phá loét, thân nóng, mạch một bên tuyệt, đó là nghịch thứ ba.
Giải thích: “Trước tư” là tư chứng cố định, thấp tà bám sâu. “Nhục phá” là tinh huyết đă thoát, cơ nhục tổn hoại. “Mạch thiên tuyệt” là kinh khí đă kiệt ở một bên. Thân vẫn nóng chứng tỏ tà c̣n thịnh, chính đă suy kiệt.
“Dâm nhi đoạt h́nh, thân nhiệt, sắc thiên nhiên bạch, cập hậu hạ huyết phôi, huyết phôi đốc trọng, thị vị tứ nghịch dă.”
Dịch nghĩa: Do dâm dục quá độ mà h́nh thể bị hao đoạt, thân nóng, sắc mặt trắng bệch tự nhiên, sau đó đại tiện ra máu tím đen, huyết ứ tím đen nhiều và nặng, đó gọi là nghịch thứ tư.
Giải thích: Dâm dục quá độ làm tinh huyết hao tổn, h́nh thể suy bại. Nay lại thân nhiệt, sắc trắng, sau đi ra huyết ứ tím đen nhiều, là chính hư tà thịnh, huyết bại ở trong, tiên lượng xấu.
“Hàn nhiệt đoạt h́nh, mạch kiên bác, thị vị ngũ nghịch dă.”
Dịch nghĩa: Hàn nhiệt làm hao đoạt h́nh thể, mạch cứng chắc, đập mạnh, đó gọi là nghịch thứ năm.
Giải thích: Hàn nhiệt lâu ngày làm h́nh thể suy kiệt, nhưng mạch lại kiên bác là tà khí c̣n mạnh, chân tạng khí hiện, chính khí đại thương. Đây là chứng nguy.
Trích Linh Khu, thiên Ngũ Cấm.
Chú thích
7. “Nhiệt bệnh mạch tĩnh, hăn dĩ xuất, mạch thịnh táo.”
Giải thích: Mă Th́ chú rằng:
“Phàm nhiệt bệnh giả mạch nghi hồng, kim phản tĩnh, thị tà thịnh chính suy dă. Hăn dĩ xuất, mạch nghi tĩnh, kim phản thịnh táo, thị tà khí do thịnh, thị nhất nghịch dă.”
Giải thích: Phàm nhiệt bệnh th́ mạch nên hồng, nay ngược lại tĩnh, đó là tà thịnh chính suy. Mồ hôi đă ra th́ mạch nên yên, nay ngược lại thịnh táo, đó là tà khí vẫn thịnh, là nghịch thứ nhất.
8. “Bệnh tiết, mạch hồng đại.”
Giải thích: Mă Th́ chú rằng:
“Phàm bệnh tiết giả mạch nghi tĩnh, kim phản hồng đại, thị tà khí do thịnh, thị nhị nghịch dă.”
Giải thích: Phàm bệnh tiêu chảy th́ mạch nên yên, nay ngược lại hồng đại, đó là tà khí vẫn thịnh, là nghịch thứ hai.
9. “Nhục phá, thân nhiệt, mạch thiên tuyệt.”
Giải thích: “Nhục phá” là tinh huyết đă thoát, cơ nhục tổn hại. “Mạch thiên tuyệt” là kinh khí đă kiệt ở một bên. Thân vẫn c̣n phát nhiệt là tà vẫn c̣n hừng hực, nên là nghịch thứ ba.
10. “Dâm nhi đoạt h́nh, thân nhiệt, sắc thiên nhiên bạch, cập hậu hạ huyết phôi, huyết phôi đốc trọng.”
Giải thích: “Phôi” là huyết ứ có màu tím đen. Mă Th́ chú rằng:
“Nhân hữu hảo dâm nhi h́nh nhục dĩ đoạt, kỳ thân phát nhiệt, kỳ sắc thiên nhiên nhi bạch, hựu năi khứ hậu, phục hữu phôi huyết, kỳ huyết chi ngưng hắc giả, thả đa nhi đốc trọng, thị tứ nghịch dă.”
Giải thích: Có người ham dâm dục khiến h́nh nhục đă bị hao đoạt, thân phát nhiệt, sắc mặt tự nhiên trắng bệch; sau khi đại tiện lại có huyết ứ tím đen, huyết ngưng đen ấy lại nhiều và nặng, đó là nghịch thứ tư.
11. “Hàn nhiệt đoạt h́nh, mạch kiên bác.”
Giải thích: Trương Giới Tân chú rằng:
“Hàn nhiệt đoạt h́nh nhi mạch kiên bác giả, tỳ âm đại thương nhi chân tạng kiến dă.”
Giải thích: Hàn nhiệt làm h́nh thể hao đoạt mà mạch cứng chắc, đập mạnh, là tỳ âm bị tổn thương nặng, chân tạng mạch đă hiện.
Phân tích
Đoạn này tŕnh bày năm loại nghịch chứng của nhiệt bệnh.
“Ngũ nghịch.”
Giải thích: Năm nghịch là năm loại chứng nguy trọng trong nhiệt bệnh, thuộc t́nh trạng chính khí đại hư, hoặc chính hư mà tà khí vẫn c̣n thịnh, dẫn đến mạch và chứng trái ngược nhau. Những chứng này đều không thể tiếp tục dùng châm tả để công tà.
Năm loại nghịch chứng này tuy biểu hiện bệnh trạng không giống nhau, nhưng đều thuộc về tà khí cang thịnh, chính khí đă hư yếu không chống đỡ nổi, v́ vậy tiên lượng đều không tốt. Nắm được bệnh cơ và bệnh chứng của năm nghịch này có ư nghĩa chỉ đạo nhất định đối với biện trị nhiệt bệnh trên lâm sàng.
Đối với những người bệnh như vậy, danh y đời Minh Trương Giới Tân nhấn mạnh phải lấy phù chính làm chủ, thông qua phù chính để đạt đến mục đích khứ tà. Ông đề xuất dùng Bổ âm ích khí tiễn để điều trị âm hư thương hàn.
“Bổ âm ích khí tiễn.”
Giải thích: Phương dùng Nhân sâm, Thục địa hoàng, Đương quy, Cam thảo, Sơn dược, Trần b́, Thăng ma, Sài hồ; lấy bổ âm ích khí để phân tán tà khí, dùng cho thương hàn thuộc âm hư chính khí bất túc.
Đối với dương hư thương hàn, ông dùng Đại ôn trung ẩm.
“Đại ôn trung ẩm.”
Giải thích: Phương dùng Nhân sâm, Thục địa hoàng, Đương quy, Cam thảo, Bạch truật, Sài hồ, Ma hoàng, Nhục quế, Can khương; lấy tuấn bổ chính khí để nâng đỡ, đẩy tà khí ra ngoài.
Ông c̣n giải thích thêm ư nghĩa v́ sao biểu chứng lại dùng Thục địa hoàng. Đó là v́:
“Hăn hóa ư huyết, nhi vô âm bất tác hăn.”
Giải thích: Mồ hôi được hóa sinh từ huyết; nếu không có âm huyết th́ không thể tạo ra mồ hôi. Nghĩa là phát hăn phải có cơ sở vật chất là âm huyết, không thể chỉ dùng thuốc phát tán mà bỏ qua chính khí.
Chỉ khi khí huyết tân dịch trong cơ thể được nâng đỡ, mới có thể đạt được mục đích phát hăn để tuyên tán tà khí. Những điều này đều là kinh nghiệm lâm sàng cụ thể vận dụng lư luận Hoàng Đế Nội Kinh, rất đáng được coi trọng.

Nguyên nhân và cơ chế của bệnh ho
Nguyên văn
“Hoàng Đế vấn viết: Phế chi linh nhân khái, hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Phế làm cho người ta ho là v́ sao?
Giải thích: Hoàng Đế nêu vấn đề về quan hệ giữa phế và chứng ho. Theo Trung y, phế chủ khí, chủ tuyên phát túc giáng, khi phế khí không tuyên thông, nghịch lên th́ sinh ho.
“Kỳ Bá đối viết: Ngũ tạng lục phủ giai linh nhân khái, phi độc phế dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Ngũ tạng lục phủ đều có thể làm cho người ta ho, không riêng ǵ phế.
Giải thích: Ho tuy biểu hiện ở phế, nhưng không chỉ do phế bệnh. Các tạng phủ khác khi rối loạn cũng có thể thông qua kinh lạc, khí cơ hoặc thủy ẩm mà ảnh hưởng đến phế, khiến phế khí nghịch lên mà sinh ho.
“Đế viết: Nguyện văn kỳ trạng.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin được nghe t́nh trạng của nó.
Giải thích: Hoàng Đế muốn Kỳ Bá tŕnh bày cụ thể nguyên nhân, cơ chế và biểu hiện của các loại ho liên quan đến tạng phủ.
“Kỳ Bá viết: B́ mao giả, phế chi hợp dă, b́ mao tiên thụ tà khí, tà khí dĩ ṭng kỳ hợp dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: B́ mao là nơi hợp của phế. B́ mao trước hết nhận tà khí, tà khí theo nơi hợp ấy mà vào phế.
Giải thích: Phế chủ b́ mao, b́ mao là phần ngoài liên hệ với phế. Ngoại tà xâm nhập qua da lông, từ b́ mao mà phạm phế, khiến phế khí mất tuyên giáng, từ đó phát sinh ho.
“Kỳ hàn ẩm thực nhập vị, ṭng phế mạch thượng chí ư phế, tắc phế hàn.”
Dịch nghĩa: Nếu đồ ăn uống lạnh vào vị, theo mạch phế đi lên đến phế, th́ làm phế bị hàn.
Giải thích: Thủ Thái âm Phế kinh khởi ở trung tiêu, đi xuống liên hệ đại trường, trở lên ṿng quanh vị khẩu, qua cơ hoành mà thuộc phế. V́ vậy hàn khí của đồ ăn uống lạnh có thể từ vị theo phế mạch đi lên phạm phế, làm phế hàn.
“Phế hàn tắc ngoại nội hợp, nhân nhi khách chi, tắc vi phế khái.”
Dịch nghĩa: Phế bị hàn th́ tà trong ngoài hợp nhau, nhân đó lưu trú lại, liền thành phế khái.
Giải thích: “Ngoại” là ngoại cảm hàn tà từ b́ mao vào phế; “nội” là hàn ẩm thực từ vị đi lên phạm phế. Nội ngoại hàn tà cùng hợp, khách trú ở phế, phế khí nghịch lên nên sinh ho thuộc phế.
“Ngũ tạng các dĩ kỳ thời thụ bệnh, phi kỳ thời, các truyền dĩ dữ chi.”
Dịch nghĩa: Ngũ tạng đều theo thời lệnh mà nhận bệnh; nếu không phải mùa của phế, th́ các tạng khác nhận tà trước rồi truyền cho phế.
Giải thích: Mỗi tạng có mùa chủ riêng: can chủ xuân, tâm chủ hạ, tỳ chủ trưởng hạ, phế chủ thu, thận chủ đông. Ho không chỉ phát vào mùa thu thuộc phế, mà các tạng khác khi cảm tà trong mùa của ḿnh cũng có thể truyền ảnh hưởng đến phế mà sinh ho.
“Nhân dữ thiên địa tương tham, cố ngũ tạng các dĩ trị thời, cảm ư hàn tắc thụ bệnh.”
Dịch nghĩa: Con người cùng tham ứng với trời đất, cho nên ngũ tạng đều theo thời lệnh mà chủ trị; cảm phải hàn th́ mắc bệnh.
Giải thích: Cơ thể người tương ứng với khí hóa bốn mùa. Khi thời khí thay đổi, tạng tương ứng dễ cảm tà; nếu cảm hàn tà th́ tạng ấy trước hết bị bệnh, sau đó có thể ảnh hưởng đến phế mà thành ho.
“Vi tắc vi khái, thậm giả vi tiết, vi thống.”
Dịch nghĩa: Bệnh nhẹ th́ thành ho; bệnh nặng th́ thành tiêu chảy hoặc đau.
Giải thích: Khi bệnh c̣n nhẹ, chủ yếu biểu hiện ở phế khí nghịch nên ho. Khi bệnh nặng liên lụy sâu đến tạng phủ, có thể xuất hiện tiêu chảy thuộc phủ bệnh, hoặc đau thuộc tạng bệnh.
“Thừa thu tắc phế tiên thụ tà, thừa xuân tắc can tiên thụ chi, thừa hạ tắc tâm tiên thụ chi, thừa chí âm tắc tỳ tiên thụ chi, thừa đông tắc thận tiên thụ chi.”
Dịch nghĩa: Gặp mùa thu th́ phế trước hết nhận tà; gặp mùa xuân th́ can trước hết nhận tà; gặp mùa hạ th́ tâm trước hết nhận tà; gặp trưởng hạ th́ tỳ trước hết nhận tà; gặp mùa đông th́ thận trước hết nhận tà.
Giải thích: Đây là quy luật ngũ tạng ứng với bốn mùa. Mỗi mùa tà khí trước hết dễ phạm tạng tương ứng, sau đó có thể thông qua tạng phủ kinh lạc mà ảnh hưởng đến phế, dẫn đến ho.
Trích Tố Vấn, thiên Khái Luận.
Chú thích

1. “Ngoại nội hợp tà.”
Giải thích: “Ngoại” là ngoại cảm hàn tà; “nội” là nội thương do ăn uống lạnh. V́ Thủ Thái âm Phế kinh khởi ở trung tiêu, ṿng quanh vị khẩu, lên cơ hoành mà thuộc phế, nên hàn khí của đồ ăn uống lạnh có thể theo phế mạch đi lên vào phế tạng, khiến phế bị hàn. “Ngoại nội hợp tà” là nội ngoại hàn tà cùng hợp lại, là nguyên nhân và điều kiện phát bệnh quan trọng gây phế khái. Linh Khu, thiên Tà Khí Tạng Phủ Bệnh H́nh nói:
“H́nh hàn hàn ẩm tắc thương phế, dĩ kỳ lưỡng hàn tương cảm, trung ngoại giai thương, cố khí nghịch nhi thượng hành.”
Giải thích: Thân thể bị lạnh, lại uống ăn lạnh th́ làm tổn thương phế. V́ hai loại hàn cùng cảm ứng, trong ngoài đều bị tổn thương, nên khí nghịch mà đi lên.
2. “Ngũ tạng các dĩ kỳ thời thụ bệnh.”
Giải thích: Ngũ tạng nhận tà phát bệnh đều có quan hệ với mùa mà mỗi tạng làm chủ. Can chủ xuân, tâm chủ hạ, tỳ chủ trưởng hạ, phế chủ thu, thận chủ đông.
3. “Phi kỳ thời, các truyền dĩ dữ chi.”
Giải thích: “Phi kỳ thời” là không phải mùa thu do phế làm chủ; “chi” chỉ phế. Câu này có nghĩa là bốn mùa đều có chứng ho. Nếu không phải chứng ho mùa thu do phế trực tiếp nhận tà, th́ thường do tạng phủ khác trong mùa mà nó làm chủ trước hết nhận tà, sau đó ảnh hưởng đến phế mà thành ho.
4. “Tương tham.”
Giải thích: Nghĩa là cùng tham ứng, tương ứng lẫn nhau. Con người và trời đất có quan hệ cảm ứng, khí hóa của cơ thể biến đổi theo thời khí tự nhiên.
5. “Trị thời.”
Giải thích: Cao Thế Thức nói: “Trị, do chủ dă.” Nghĩa là “trị” cũng như “chủ”, chỉ mùa mà ngũ tạng làm chủ.
6. “Vi tắc vi khái, thậm tắc vi tiết, vi thống.”
Giải thích: Nếu chỉ là bệnh phế đơn thuần, bệnh chứng c̣n nhẹ th́ chủ yếu biểu hiện bằng ho. Nếu ho nặng, liên lụy đến ngũ tạng lục phủ, th́ “tiết” là đặc điểm của lục phủ khái, “thống” là đặc điểm của ngũ tạng khái. Chi tiết xem phần sau.
7. “Thừa.”
Giải thích: Nghĩa là nhân lúc, gặp lúc, ở vào thời điểm nào.
8. “Chí âm.”
Giải thích: Chỉ trưởng hạ, mùa do tỳ làm chủ.
Phân tích
Tiết này tập trung luận về nguyên nhân của ho, cơ chế h́nh thành phế khái, và quan hệ giữa ho với bốn mùa, ngũ tạng.
9. Ho là triệu chứng chủ yếu của bệnh phế
Kinh văn nói:
“Phế chi linh nhân khái.”
Giải thích: Phế làm cho người ta ho. Câu này xác định quan hệ mật thiết giữa ho và phế, cho thấy bất luận loại ho nào cũng đều liên quan đến phế.
Ho vừa là biểu hiện của phế khí thượng nghịch, vừa là biểu hiện phế khí đẩy tà khí ra ngoài. V́ phế chủ khí, triều bách mạch, kinh Thái âm khởi ở vị, phế hệ thông thẳng với bên ngoài, cơ hội cảm tà khá nhiều. Thêm nữa, phế là “kiều tạng”, không chịu được hàn, nhiệt, táo, thấp, rất nhạy cảm với nhiều loại tà khí xâm nhiễu. V́ vậy khi tà khí phạm phế, triệu chứng biểu hiện đầu tiên thường là ho. Cho nên Tố Vấn, thiên Tuyên Minh Ngũ Khí Luận nói:
“Phế vi khái.”
Giải thích: Phế chủ về ho, tức ho là biểu hiện đặc trưng khi phế khí mất tuyên giáng.
Nhưng con người là một chỉnh thể hữu cơ. Ho không rời phế, nhưng cũng không dừng lại ở phế. Ho là bệnh chứng chủ yếu của phế, nhưng bệnh biến của các tạng phủ khác trong điều kiện nhất định cũng có thể thông qua kinh lạc truyền đến phế mà phát sinh ho. V́ vậy kinh văn nói:
“Ngũ tạng lục phủ giai linh nhân khái, phi độc phế dă.”
Giải thích: Ngũ tạng lục phủ đều có thể làm cho người ta ho, không riêng ǵ phế. Nghĩa là phải nh́n ho trong chỉnh thể tạng phủ, không chỉ nh́n riêng phế.
Tuy nhiên, ho rốt cuộc vẫn là một biểu hiện của bệnh phế, nên Trần Tu Viên nói:
“Khái thấu bất chỉ ư phế, nhiên diệc bất ly ư phế.”
Giải thích: Ho không chỉ giới hạn ở phế, nhưng cũng không rời khỏi phế. Đây là nguyên tắc quan trọng khi phân tích bệnh cơ ho.
Tóm lại, khi phân tích bệnh cơ của ho, trước hết phải coi trọng cục bộ phế hệ, đồng thời cũng không được bỏ qua toàn thân chỉnh thể. Phải kết hợp hai mặt này và chú ư sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng th́ mới nắm được điểm then chốt.
10. Nguyên nhân của ho
Kinh văn thông qua sự h́nh thành của “phế khái” để nói rơ nguyên nhân của ho chủ yếu có hai phương diện.
Thứ nhất:
“B́ mao giả, phế chi hợp dă, b́ mao tiên thụ tà khí, tà khí dĩ ṭng kỳ hợp dă.”
Giải thích: B́ mao là nơi hợp của phế. B́ mao trước hết nhận tà khí, tà khí theo nơi hợp ấy mà vào phế. Đây là nói lục dâm ngoại tà từ b́ mao xâm nhập vào phế.
Thứ hai:
“Kỳ hàn ẩm thực nhập vị, ṭng phế mạch thượng chí ư phế, tắc phế hàn.”
Giải thích: Đồ ăn uống lạnh vào vị, theo phế mạch đi lên đến phế, khiến phế bị hàn. Đây là nói hàn ẩm tà từ vị nghịch lên phạm phế.
“Ngoại nội hợp tà, nhân nhi khách chi tắc vi phế khái.”
Giải thích: Nội ngoại hàn tà cùng hợp lại, nhân đó lưu trú ở phế th́ thành phế khái.
Nguyên nhân của ho có thể chia thành hai loại lớn: ngoại cảm và nội thương. Điều này có ảnh hưởng gợi mở rất lớn đối với đời sau. Như Trương Giới Tân nói:
“Khái thấu chi yếu, chỉ duy nhị chứng, hà vị nhị chứng? Nhất viết ngoại cảm, nhất viết nội thương, nhi tận chi hĩ.”
Giải thích: Yếu lĩnh của ho chỉ có hai loại chứng: một là ngoại cảm, một là nội thương, như vậy là bao quát hết.
Đương nhiên, ngoại cảm hàn tà và nội thương hàn ẩm là nguyên nhân thường gặp gây ho, nhưng yếu tố ngoại tà không chỉ giới hạn ở cảm hàn. Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, tức lục dâm, đều có thể gây ho, trong đó hàn tà thường gặp hơn. Yếu tố nội thương cũng không chỉ giới hạn ở hàn ẩm, hàn thực.
11. Quan hệ giữa ho với bốn mùa và ngũ tạng
Cơ thể con người tương ứng với bốn mùa. V́ vậy tiết này chỉ rơ rằng khi cảm thụ thời tà vào các mùa khác nhau đều có thể làm tổn thương nội tạng tương ứng mà phát bệnh. Khi nội tạng bị tổn thương, bệnh có thể lan đến phế mà sinh ho. Điều này thể hiện đầy đủ tính dễ cảm của ngũ tạng đối với thời tà tương ứng với từng mùa, đồng thời phản ánh quan niệm phát bệnh theo bốn mùa, ngũ tạng trong Hoàng Đế Nội Kinh.
Phân loại biện chứng ngũ tạng khái và lục phủ khái
Nguyên văn
“Đế viết: Hà dĩ dị chi?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Làm thế nào để phân biệt các loại ho ấy?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi cách biện biệt ho do từng tạng phủ khác nhau gây ra.
“Kỳ Bá viết: Phế khái chi trạng, khái nhi suyễn tức hữu âm, thậm tắc thóa huyết.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Trạng thái của phế khái là ho mà thở suyễn có tiếng; nặng th́ khạc ra máu.
Giải thích: Phế chủ khí, khi phế khí nghịch th́ ho, suyễn, thở có tiếng. Nếu nhiệt tà hoặc khí nghịch làm tổn thương phế lạc th́ có thể khạc máu.
“Tâm khái chi trạng, khái tắc tâm thống, hầu trung giới giới như ngạnh trạng, thậm tắc yết thũng, hầu tư.”
Dịch nghĩa: Trạng thái của tâm khái là ho th́ đau vùng tâm ngực, trong họng vướng víu như có vật mắc; nặng th́ họng sưng, hầu tư.
Giải thích: Tâm kinh khởi ở trong tâm, nhánh của nó từ hệ tâm đi lên kẹp hai bên họng. V́ vậy tâm khái thường có ho kèm đau vùng tâm ngực, họng vướng nghẹn, nặng th́ sưng đau họng.
“Can khái chi trạng, khái tắc lưỡng hiếp hạ thống, thậm tắc bất khả dĩ chuyển, chuyển tắc lưỡng khu hạ măn.”
Dịch nghĩa: Trạng thái của can khái là ho th́ đau dưới hai bên sườn; nặng th́ không thể xoay trở, hễ xoay trở th́ hai bên nách sườn đầy tức.
Giải thích: Can kinh phân bố ở vùng hiếp lặc. Khi can kinh khí huyết nghịch loạn, ho sẽ kéo theo đau hai bên sườn; bệnh nặng th́ xoay người làm khí cơ vùng hiếp càng bế tắc.
“Tỳ khái chi trạng, khái tắc hữu hiếp hạ thống, âm âm dẫn kiên bối, thậm tắc bất khả dĩ động, động tắc khái kịch.”
Dịch nghĩa: Trạng thái của tỳ khái là ho th́ đau dưới sườn phải, âm ỉ lan đến vai lưng; nặng th́ không thể cử động, cử động th́ ho càng dữ.
Giải thích: Tỳ khí chủ bên phải, tỳ bệnh ảnh hưởng trung tiêu và vùng sườn phải. Khi ho làm khí cơ chấn động, đau âm ỉ lan đến vai lưng; cử động làm khí càng nghịch nên ho nặng hơn.
“Thận khái chi trạng, khái tắc yêu bối tương dẫn nhi thống, thậm tắc khái diên.”
Dịch nghĩa: Trạng thái của thận khái là ho th́ lưng eo kéo nhau mà đau; nặng th́ ho khạc đàm dăi.
Giải thích: Thận kinh xuyên qua cột sống và thuộc thận, eo là phủ của thận. Thận bệnh th́ eo lưng đau kéo nhau; thận chủ thủy, nếu thủy ẩm không hóa th́ có đàm dăi.
“Đế viết: Lục phủ chi khái nại hà? An sở thụ bệnh?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Ho của lục phủ th́ như thế nào? Chúng nhận bệnh từ đâu?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về sự truyền biến từ ngũ tạng khái sang lục phủ khái và đặc điểm chứng trạng của từng phủ.
“Kỳ Bá viết: Ngũ tạng chi cửu khái, năi di ư lục phủ.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Ho lâu ngày của ngũ tạng th́ chuyển sang lục phủ.
Giải thích: Tạng và phủ có quan hệ biểu lư. Khi ngũ tạng khái lâu không khỏi, bệnh có thể theo quan hệ tạng phủ biểu lư mà truyền sang lục phủ.
“Tỳ khái bất dĩ, tắc vị thụ chi, vị khái chi trạng, khái nhi ẩu, ẩu thậm tắc trường trùng xuất.”
Dịch nghĩa: Tỳ khái không khỏi th́ vị nhận bệnh. Trạng thái của vị khái là ho mà nôn; nôn nặng th́ giun đũa ra.
Giải thích: Tỳ và vị biểu lư. Tỳ khái lâu ngày ảnh hưởng vị, vị khí nghịch lên nên ho kèm nôn. Nôn dữ có thể làm giun đũa theo ra ngoài.
“Can khái bất dĩ, tắc đởm thụ chi, đởm khái chi trạng, khái ẩu đởm trấp.”
Dịch nghĩa: Can khái không khỏi th́ đởm nhận bệnh. Trạng thái của đởm khái là ho mà nôn ra mật.
Giải thích: Can và đởm biểu lư. Can khí phạm đởm, đởm khí nghịch, mật dịch theo nghịch khí mà nôn ra.
“Phế khái bất dĩ, tắc đại trường thụ chi, đại trường khái trạng, khái nhi di thỉ.”
Dịch nghĩa: Phế khái không khỏi th́ đại trường nhận bệnh. Trạng thái của đại trường khái là ho mà đại tiện không tự chủ.
Giải thích: Phế và đại trường biểu lư. Phế khí hư nghịch lâu ngày ảnh hưởng đại trường, khí không cố nhiếp, nên khi ho th́ đại tiện són ra hoặc không tự chủ.
“Tâm khái bất dĩ, tắc tiểu trường thụ chi, tiểu trường khái trạng, khái nhi thất khí, khí dữ khái câu thất.”
Dịch nghĩa: Tâm khái không khỏi th́ tiểu trường nhận bệnh. Trạng thái của tiểu trường khái là ho mà trung tiện, hơi cùng với ho đều thoát ra.
Giải thích: Tâm và tiểu trường biểu lư. Khí cơ tiểu trường không giữ được, khi ho làm khí nghịch chấn động, hơi liền thoát ra theo ho.
“Thận khái bất dĩ, tắc bàng quang thụ chi, bàng quang khái trạng, khái nhi di niệu.”
Dịch nghĩa: Thận khái không khỏi th́ bàng quang nhận bệnh. Trạng thái của bàng quang khái là ho mà són tiểu.
Giải thích: Thận và bàng quang biểu lư. Thận khí hư, bàng quang mất khí hóa và cố nhiếp, nên khi ho th́ són tiểu.
“Cửu khái bất dĩ, tắc tam tiêu thụ chi, tam tiêu khái trạng, khái nhi phúc măn, bất dục thực ẩm.”
Dịch nghĩa: Ho lâu ngày không khỏi th́ tam tiêu nhận bệnh. Trạng thái của tam tiêu khái là ho mà bụng đầy, không muốn ăn uống.
Giải thích: Tam tiêu tổng quản khí hóa toàn thân. Ho lâu ngày liên lụy khí hóa tam tiêu, thủy đạo không thông, trung tiêu không vận hóa, nên bụng đầy, không muốn ăn uống.
“Thử giai tụ ư vị, quan ư phế, sử nhân đa thế thóa, nhi diện phù thũng khí nghịch dă.”
Dịch nghĩa: Những chứng này đều tụ ở vị, liên quan đến phế, khiến người bệnh nhiều đàm dăi, mặt phù thũng và khí nghịch.
Giải thích: Dù ho liên quan nhiều tạng phủ, cuối cùng thủy ẩm, đàm trọc thường tụ ở vị rồi liên hệ lên phế. Phế khí nghịch th́ ho, đàm dăi nhiều; thủy khí không hóa th́ mặt phù thũng, khí nghịch.
Trích Tố Vấn, thiên Khái Luận.
Chú thích
12. “Tâm thống.”
Giải thích: Chỉ đau vùng tâm ngực, không nhất thiết chỉ bệnh tim theo nghĩa hiện đại.
13. “Hầu trung giới giới như ngạnh trạng.”
Giải thích: Miêu tả cảm giác trong họng có vật vướng mắc, như bị nghẹn, bị mắc xương.
14. “Hầu tư.”
Giải thích: Chỉ bệnh sưng đau họng, họng bế tắc, tiếng nói khàn hoặc khó phát tiếng.
15. “Lưỡng khu.”
Giải thích: Chỉ vùng dưới nách và sườn hai bên trái phải.
16. “Tỳ khái chi trạng, khái tắc hữu hiếp hạ thống.”
Giải thích: Câu này nói theo tỳ khí hóa chủ bên phải. Vương Băng chú:
“Tỳ khí chủ hữu, cố hữu khu hạ âm âm nhiên thâm mạn thống dă.”
Giải thích: Tỳ khí chủ bên phải, nên dưới vùng sườn phải đau âm ỉ, sâu và chậm.
17. “Âm âm.”
Giải thích: Nghĩa là âm ỉ, lờ mờ, đau không dữ nhưng kéo dài.
18. “Khái diên.”
Giải thích: Chỉ ho khạc ra đàm dăi.
19. “Trường trùng.”
Giải thích: Tức giun đũa.
20. “Di thỉ.”
Giải thích: Trong Châm Cứu Giáp Ất Kinh và Thái Tố đều chép là “di thỉ”. “Thỉ” thông với “thỉ” nghĩa là phân. “Di thỉ” tức đại tiện không tự chủ.
21. “Thất khí.”
Giải thích: Tức “thỉ khí”, dân gian gọi là trung tiện, đánh hơi.
22. “Cửu khái bất dĩ, tắc tam tiêu thụ chi.”
Giải thích: “Cửu khái” là nói chung các loại ho kể trên lâu ngày không khỏi. Câu này tổng luận tác hại của ho lâu ngày. Ho lâu th́ bệnh không chỉ giới hạn ở một tạng một phủ, mà có thể liên lụy toàn thân tạng phủ. Tam tiêu tổng quản khí hóa toàn thân, bao quát khí toàn thân, nên nói ho lâu ngày không khỏi th́ tam tiêu nhận bệnh.
23. “Thử giai tụ ư vị, quan ư phế.”
Giải thích: Thủy ẩm tụ ở vị th́ đi lên liên hệ đến phế mà sinh ho.
24. “Thế thóa.”
Giải thích: Trong Hoàng Đế Nội Kinh không có chữ “đàm”. “Thế thóa” tức là chỉ đàm.
Phân tích
Đoạn này bàn về phân loại biện chứng ngũ tạng khái, lục phủ khái, đồng thời nêu luận điểm:
“Thử giai tụ ư vị, quan ư phế.”
Giải thích: Các loại ho này đều tụ ở vị và liên quan đến phế. Đây là luận điểm quan trọng, nhấn mạnh rằng ho tuy phát ở phế, nhưng nguồn đàm ẩm thường liên quan đến vị và trung tiêu.
Ngũ tạng khái là do tà phạm kinh mạch của từng tạng, khiến khí huyết của các kinh mạch tạng ấy nghịch loạn mà thành. Kinh văn căn cứ vào các triệu chứng kèm theo ho, kết hợp với chức năng sinh lư của ngũ tạng và đường đi của kinh mạch để phân chứng theo ngũ tạng, đồng thời nêu đặc điểm chứng hậu là ngũ tạng khái phần nhiều kiêm “đau”.
Tâm kinh khởi ở trong tâm, nhánh của nó từ hệ tâm đi lên kẹp họng, nên tâm khái có triệu chứng ho kèm đau tâm ngực và họng vướng, không thông lợi. Can kinh phân bố vùng hiếp lặc, nên can khái có triệu chứng ho kèm đau hai bên sườn. Tỳ khí chủ bên phải, nên tỳ khái có triệu chứng ho kèm đau âm ỉ dưới sườn phải, lan đến vai lưng. Thận kinh xuyên qua cột sống và thuộc thận, eo là phủ của thận, nên thận khái có triệu chứng ho kèm eo lưng kéo nhau mà đau. Lại v́ thận là thủy tạng, chủ đàm diên, nên có thể thấy ho khạc đàm dăi.
“Ngũ tạng chi cửu khái, năi di ư lục phủ.”
Giải thích: Ho lâu ngày của ngũ tạng th́ chuyển sang lục phủ. Câu này nói rơ bệnh có thể thông qua quan hệ biểu lư giữa tạng và phủ mà truyền biến.
Sự phân loại lục phủ khái cũng căn cứ vào triệu chứng kèm theo, kết hợp với đặc điểm công năng riêng của từng phủ. Từ các chứng như “nôn”, “đại tiện không tự chủ”, “trung tiện”, “són tiểu” có thể thấy chúng đều có đặc điểm chung là “tiết”, tức khí không giữ được, có sự thoát tiết ra ngoài. Điều này cho thấy đă xuất hiện bệnh cơ khí hư không thể thu nhiếp.
V́ vậy, lục phủ khái so với ngũ tạng khái thường có bệnh tŕnh dài hơn, bệnh t́nh nặng hơn. Điều này khác với quy luật thông thường cho rằng tạng bệnh truyền phủ th́ bệnh nhẹ hơn. Nó nhắc nhở rằng sự truyền biến của bệnh rất phức tạp, lâm sàng phải nắm cả thường pháp và biến pháp. Cách phân loại này của kinh văn đă cung cấp mô h́nh mẫu cho biện chứng tạng phủ đời sau.
Về nhận thức “tụ ở vị, liên quan đến phế”, các nhà chú giải không thống nhất, quy nạp lại có bốn thuyết.
Thứ nhất, chỉ lục phủ khái. Như Thái Tố nói:
“Thử lục phủ khái, giai dĩ khí tụ ư vị trung, thượng quan ư phế, trí sử diện phù thũng, khí nghịch vi khái dă.”
Giải thích: Sáu loại phủ khái này đều do khí tụ ở trong vị, đi lên liên hệ với phế, khiến mặt phù thũng, khí nghịch mà thành ho.
Thứ hai, chỉ bệnh cơ của ho lâu ngày không khỏi, thượng tiêu và trung tiêu đều nhận tà. Như Vương Băng chú:
“Thượng tiêu giả, xuất ư vị thượng khẩu, tịnh yết dĩ thượng quán cách, bố hung trung tẩu dịch. Trung tiêu giả, diệc tịnh vị khẩu, xuất thượng tiêu chi hậu, thử sở thụ khí giả, bí tao phách, chưng tân dịch, hóa kỳ tinh vi, thượng chú ư phế mạch, năi hóa nhi vi huyết. Cố ngôn giai tụ ư vị, quan ư phế dă.”
Giải thích: Thượng tiêu xuất ra từ thượng khẩu của vị, cùng họng đi lên xuyên qua cơ hoành, phân bố trong ngực và chạy đến nách. Trung tiêu cũng đi cùng vị khẩu, ra sau thượng tiêu, nhận khí, phân biệt cặn bă, chưng hóa tân dịch, hóa thành tinh vi, đưa lên rót vào phế mạch rồi hóa thành huyết. V́ vậy nói đều tụ ở vị, liên quan đến phế.
Thứ ba, là tiếp theo “tam tiêu khái trạng” mà nói. Như Ngô Côn chú:
“Vị thổ kư hư, tắc tam tiêu hư tà giai tụ ư vị, sở vị vạn vật quy hồ thổ dă. Phế vi tạng phủ chi hoa cái, chư tạng phủ hữu bệnh, vô bất huân chưng chi, sở vị phế triều bách mạch dă, cố viết quan ư phế, ngôn quan hệ ư phế dă.”
Giải thích: Vị thổ đă hư th́ hư tà của tam tiêu đều tụ ở vị, tức là muôn vật quy về thổ. Phế là hoa cái của tạng phủ, các tạng phủ có bệnh đều có thể hun bốc lên phế, đó là ư “phế triều bách mạch”, nên nói liên quan đến phế.
Thứ tư, là tổng kết tất cả các loại ho ở trên. Như Trương Giới Tân chú:
“Thử hạ tổng kết chư khái chi chứng, nhi tịnh cập kỳ trị dă. Chư khái giai tụ ư vị, quan ư phế giả, dĩ vị vi ngũ tạng lục phủ chi bản, phế vi b́ mao chi hợp. Như thượng văn sở ngôn, b́ mao tiên thụ tà khí, cập hàn ẩm thực nhập vị giả, giai phế vị chi hậu dă.”
Giải thích: Đoạn dưới đây tổng kết các chứng ho và đồng thời nói đến điều trị. Các chứng ho đều tụ ở vị, liên quan đến phế, v́ vị là gốc của ngũ tạng lục phủ, phế là nơi hợp của b́ mao. Như phần trên đă nói, b́ mao trước hết nhận tà khí, và đồ ăn uống lạnh vào vị, đều là biểu hiện liên quan đến phế và vị.
Trong các thuyết trên, chú giải của Trương Giới Tân là hợp lư hơn cả.

Từ nội dung thiên này mà xét, không chỉ sự h́nh thành của “phế khái” có liên quan đến phế và vị, mà ngay cả chứng ho của ngũ tạng lục phủ lâu ngày không khỏi cũng đều liên quan đến phế và vị. V́ ho lâu không dứt sẽ ảnh hưởng đến khí cơ của tam tiêu, tân dịch tất sẽ đ́nh tụ ở vị; ẩm tà theo kinh đi lên nghịch phạm vào phế, th́ sinh ho, nhiều đàm dăi, mặt phù thũng và khí nghịch. V́ vậy:
“Tụ ư vị, quan ư phế.”
Dịch nghĩa: Tụ ở vị, liên quan đến phế.
Giải thích: Câu này chỉ một tạng và một phủ có quan hệ mật thiết nhất với chứng ho do hàn ẩm. Vị là nơi thủy cốc và đàm ẩm dễ tụ lại; phế là nơi đàm ẩm đi lên làm khí nghịch mà sinh ho. Đây chính là nguồn gốc lư luận đời sau nói: “Tỳ là nguồn sinh đàm, phế là vật chứa đàm.”
“Tỳ vi sinh đàm chi nguyên, phế vi trữ đàm chi khí.”
Dịch nghĩa: Tỳ là nguồn sinh ra đàm, phế là nơi chứa đựng đàm.
Giải thích: Tỳ vận hóa kém th́ thủy thấp không hóa, tụ lại thành đàm; đàm đi lên phạm phế, phế khí không tuyên giáng th́ ho, đàm nhiều. Cho nên trị ho không chỉ trị phế mà c̣n phải xét tỳ vị, thủy thấp và đàm ẩm.
Trên lâm sàng điều trị ho, hoặc hóa đàm, hoặc giáng khí, hoặc nhuận táo, hoặc ích khí, đều có liên quan đến phế và vị. V́ vậy hai tạng phủ phế và vị là trọng điểm trong biện chứng luận trị chứng ho, thầy thuốc không thể không khảo sát kỹ.
Trị tắc của chứng ho
Nguyên văn
“Đế viết: Trị chi nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Điều trị như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi nguyên tắc điều trị các loại ho thuộc ngũ tạng, lục phủ và các chứng kiêm như phù thũng.
“Kỳ Bá viết: Trị tạng giả trị kỳ du, trị phủ giả trị kỳ hợp, phù thũng giả trị kỳ kinh.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Trị bệnh ở tạng th́ trị huyệt du của nó; trị bệnh ở phủ th́ trị huyệt hợp của nó; có phù thũng th́ trị huyệt kinh của nó.
Giải thích: Đây là nguyên tắc chọn huyệt theo tạng phủ và chứng trạng. Tạng khái th́ lấy du huyệt của ngũ tạng làm chủ; phủ khái th́ lấy hợp huyệt của lục phủ làm chủ; nếu có phù thũng th́ lấy kinh huyệt để điều khí hành thủy.
“Đế viết: Thiện.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm.
Giải thích: Hoàng Đế tán thành nguyên tắc trị ho theo phân chứng tạng phủ và lựa chọn huyệt thích hợp.
Trích Tố Vấn, thiên Khái Luận.
Chú thích

1. “Du.”
Giải thích: Chỉ du huyệt trong hệ thống ngũ du huyệt gồm tỉnh, huỳnh, du, kinh, hợp. Du huyệt của ngũ tạng gồm: can là Thái xung, tâm là Thần môn, tỳ là Thái bạch, phế là Thái uyên, thận là Thái khê.
2. “Hợp.”
Giải thích: Chỉ hợp huyệt trong hệ thống ngũ du huyệt. Hợp huyệt của lục phủ gồm: đại trường là Khúc tŕ, tiểu trường là Tiểu hải, vị là Túc tam lư, bàng quang là Ủy trung, tam tiêu là Thiên tỉnh, đởm là Dương lăng tuyền.
3. “Kinh.”
Giải thích: Chỉ kinh huyệt trong hệ thống ngũ du huyệt. Kinh huyệt của tạng phủ gồm: can là Trung phong, tâm là Linh đạo, tỳ là Thương khâu, phế là Kinh cừ, thận là Phục lưu, đại trường là Dương khê, tiểu trường là Dương cốc, vị là Giải khê, bàng quang là Côn lôn, tam tiêu là Chi câu, đởm là Dương phụ.
Phân tích
Tiết này khái quát nêu ra nguyên tắc điều trị chứng ho. Ho có nhiều loại khác nhau, v́ vậy phải căn cứ bệnh t́nh cụ thể mà chọn huyệt châm trị khác nhau. Kinh văn xuất phát từ tư tưởng:
“Ngũ tạng lục phủ giai linh nhân khái, phi độc phế dă.”
Dịch nghĩa: Ngũ tạng lục phủ đều có thể làm cho người ta ho, không riêng ǵ phế.
Giải thích: Điều trị ho không nên chỉ giới hạn ở phế, mà phải phân tích tạng phủ nào bị bệnh, đường kinh nào liên quan, chứng trạng nào nổi bật.
Kinh văn nhấn mạnh rằng trị ho không nên chỉ trị phế, mà phải dùng phương pháp phân chứng theo tạng phủ. V́ vậy nêu ra nguyên tắc cơ bản trong châm thích trị chứng ho:
“Trị tạng giả trị kỳ du, trị phủ giả trị kỳ hợp, phù thũng giả trị kỳ kinh.”
Dịch nghĩa: Trị bệnh ở tạng th́ trị du huyệt; trị bệnh ở phủ th́ trị hợp huyệt; có phù thũng th́ trị kinh huyệt.
Giải thích: Tạng khái chủ yếu lấy du huyệt để châm trị; phủ khái chủ yếu lấy hợp huyệt để châm trị; nếu có chứng kiêm như phù thũng th́ tùy chứng chọn kinh huyệt. Đây là nguyên tắc phân kinh luận trị, biện chứng chọn huyệt, có ư nghĩa chỉ đạo lâm sàng quan trọng.
Cơ chế hàn tà gây đau
Nguyên văn
“Hoàng Đế vấn viết: Dư văn thiện ngôn thiên giả, tất hữu nghiệm ư nhân; thiện ngôn cổ giả, tất hữu hợp ư kim; thiện ngôn nhân giả, tất hữu yếm ư kỷ.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Ta nghe nói người giỏi bàn về trời th́ tất có thể nghiệm ở con người; người giỏi bàn về xưa th́ tất có thể hợp với nay; người giỏi bàn về con người th́ tất có thể ứng hợp với chính ḿnh.
Giải thích: Hoàng Đế nêu nguyên tắc nhận thức: lư luận chân chính phải có thể kiểm nghiệm trong thực tế, có thể liên hệ giữa trời và người, giữa xưa và nay, giữa người khác và bản thân.
“Như thử, tắc đạo bất hoặc nhi yếu số cực, sở vị minh dă.”
Dịch nghĩa: Được như vậy th́ đạo lư không c̣n mê hoặc, nguồn gốc của các yếu lư được thấu triệt, đó gọi là sáng suốt.
Giải thích: Khi lư luận có thể kiểm chứng và ứng dụng, th́ mới thật sự hiểu rơ quy luật của bệnh lư và trị liệu.
“Kim dư vấn ư phu tử, linh ngôn nhi khả tri, thị nhi khả kiến, môn nhi khả đắc, linh nghiệm ư kỷ, nhi phát mông giải hoặc, khả đắc nhi văn hồ?”
Dịch nghĩa: Nay ta hỏi phu tử, mong rằng lời nói có thể khiến ta biết được, nh́n có thể thấy được, sờ có thể nắm được, có thể nghiệm ngay nơi bản thân, để mở điều mờ tối, giải điều nghi hoặc; có thể nghe được chăng?
Giải thích: Hoàng Đế yêu cầu Kỳ Bá giải thích về bệnh đau bằng cách có thể kiểm chứng qua vấn chẩn, vọng chẩn, thiết chẩn và kinh nghiệm thực tế.
“Kỳ Bá tái bái khể thủ đối viết: Hà đạo chi vấn dă?”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá lạy hai lạy, dập đầu đáp: Xin hỏi bệ hạ muốn hỏi về đạo lư nào?
Giải thích: Kỳ Bá kính cẩn hỏi rơ vấn đề mà Hoàng Đế muốn t́m hiểu.
“Đế viết: Nguyện văn nhân chi ngũ tạng tốt thống, hà khí sử nhiên?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Ta muốn nghe v́ sao ngũ tạng của con người bỗng nhiên đau, do khí ǵ gây nên?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi nguyên nhân và bệnh cơ của chứng đau đột ngột ở ngũ tạng.
“Kỳ Bá đối viết: Kinh mạch lưu hành bất chỉ, hoàn chu bất hưu.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Kinh mạch lưu hành không ngừng, tuần hoàn quanh thân không nghỉ.
Giải thích: Khí huyết vận hành trong kinh mạch liên tục, tuần hoàn toàn thân để nuôi dưỡng tạng phủ, cơ nhục, cân mạch.
“Hàn khí nhập kinh nhi kê tŕ, sáp nhi bất hành.”
Dịch nghĩa: Hàn khí vào kinh th́ làm kinh mạch đ́nh trệ, vận hành chậm lại, sáp trệ mà không lưu hành.
Giải thích: Hàn tà có tính ngưng trệ, thu dẫn, khi xâm nhập kinh mạch sẽ làm khí huyết vận hành chậm, bế tắc, không thông.
“Khách ư mạch ngoại tắc huyết thiểu, khách ư mạch trung tắc khí bất thông.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở ngoài mạch th́ huyết ít; khách ở trong mạch th́ khí không thông.
Giải thích: Hai câu này là lối nói hỗ văn, nghĩa là hàn tà ở ngoài hay trong mạch đều có thể làm khí huyết giảm sút hoặc không thông. Khí huyết không thông hoặc không đủ nuôi dưỡng đều có thể gây đau.
“Cố tốt nhiên nhi thống.”
Dịch nghĩa: Cho nên đột nhiên mà đau.
Giải thích: Khi hàn tà làm kinh mạch co rút, khí huyết ngưng trệ, khí cơ không thông, th́ cơn đau có thể phát sinh đột ngột.
Trích Tố Vấn, thiên Cử Thống Luận.
Chú thích
4. “Yếm.”
Giải thích: Cùng nghĩa với “hợp”, “nghiệm” ở câu trên. Thuyết Văn Giải Tự nói: “Yếm, hợp dă.” Nghĩa là ứng hợp, phù hợp.
5. “Đạo bất hoặc nhi yếu số cực.”
Giải thích: “Đạo” là đạo lư, quy luật vận động biến hóa của sự vật. “Bất hoặc” là không mê hoặc, hiểu rơ. “Yếu số” là nguồn gốc của những đạo lư quan trọng. Dương Thượng Thiện chú rằng: “Số, lư dă.” Nghĩa là “số” tức lư.
6. “Ngôn nhi khả tri.”
Giải thích: “Ngôn” tức vấn chẩn. Nghe lời người bệnh kể, có thể biết bệnh t́nh.
7. “Thị nhi khả kiến.”
Giải thích: “Thị” tức vọng chẩn. Quan sát sắc diện và h́nh trạng người bệnh, có thể biết bệnh thuộc về đâu.
8. “Môn nhi khả đắc.”
Giải thích: “Môn” tức thiết chẩn. Thông qua bắt mạch, sờ nắn, thăm khám bằng tay, có thể biết vị trí bệnh.
9. “Phát mông giải hoặc.”
Giải thích: Khai mở điều mờ tối, giải trừ điều nghi hoặc.
10. “Khể thủ.”
Giải thích: Một loại lễ quỳ lạy thời xưa, dập đầu xuống đất.
11. “Kê tŕ.”
Giải thích: “Kê” là đ́nh lưu, ứ trệ; “tŕ” là vận hành chậm. Cụm này nói kinh mạch vận hành bị trở ngại, không thông lợi.
12. “Sáp.”
Giải thích: Âm nghĩa thông với “sáp”, tức rít, trệ, không trơn thông.
13. “Khách ư mạch ngoại tắc huyết thiểu, khách ư mạch trung tắc khí bất thông.”
Giải thích: Hai câu này là hỗ văn, ư nói hàn tà khách ở ngoài mạch th́ khí huyết ít, khách ở trong mạch th́ khí huyết không thông. Dù là khí huyết bất túc hay khí huyết bế tắc đều có thể sinh đau.
Phân tích
Tiết này nêu ra cương lĩnh bệnh cơ gây đau.
Chứng đau tuy phức tạp nhưng rất thường gặp. Khi biện chứng chứng đau, phải kết hợp vấn chẩn, vọng chẩn và thiết chẩn th́ mới nắm được bệnh t́nh toàn diện. Kinh văn nêu cương lĩnh bệnh cơ của đau:
“Khách ư mạch ngoại tắc huyết thiểu, khách ư mạch trung tắc khí bất thông, cố tốt nhiên nhi thống.”
Dịch nghĩa: Tà khí khách ở ngoài mạch th́ huyết ít; khách ở trong mạch th́ khí không thông, cho nên đột nhiên đau.
Giải thích: Đau phát sinh do khí huyết trong kinh mạch bị ảnh hưởng. Hoặc tà khí làm khí huyết không thông, hoặc làm khí huyết không đủ nuôi dưỡng, đều có thể gây đau.
Con người nhờ khí huyết mà sống, khí huyết vận hành trong kinh mạch. Khi kinh mạch thông suốt, khí huyết lưu hành, tuần hoàn không nghỉ, nhanh chậm vừa phải, toàn thân tạng phủ, tổ chức, cơ quan được khí huyết nhu dưỡng th́ mới phát huy công năng b́nh thường. Nếu tà khí xâm phạm kinh mạch, một mặt trực tiếp cản trở khí huyết vận hành, thành:
“Bất thông tắc thống.”
Dịch nghĩa: Không thông th́ đau.
Giải thích: Đây là đau thuộc thực, do tà khí ngăn trở kinh mạch, khí huyết không thông mà thành.
Mặt khác, tà khí khiến kinh mạch co rút, khí huyết vận hành bị trở ngại, tạng phủ tổ chức không được nuôi dưỡng đầy đủ, thành:
“Bất vinh tắc thống.”
Dịch nghĩa: Không được nuôi dưỡng th́ đau.
Giải thích: Đây là đau thuộc hư, do khí huyết bất túc, tạng phủ kinh mạch mất sự nhu dưỡng mà thành.
“Bất thông tắc thống” và “bất vinh tắc thống” là sự khái quát cao độ của Trung y về bệnh cơ đau. “Bất thông tắc thống” thuộc thực, do tà trở kinh mạch, khí huyết không thông gây nên; “bất vinh tắc thống” thuộc hư, do khí huyết hao thiếu, tạng phủ mất nuôi dưỡng gây nên. Cương lĩnh tổng quát này về bệnh cơ đau đến nay vẫn có giá trị thực tiễn quan trọng trong nghiên cứu và điều trị chứng đau.
Nguyên nhân gây đau rất nhiều, trong đó hàn tà là thường gặp nhất. V́ hàn là âm tà, tính nó ngưng trệ, dễ xâm phạm kinh mạch, khiến kinh mạch co rút, câu cấp, khí huyết vận hành bị trở ngại, từ đó sinh đau. Trong luận này đặc biệt nêu hàn khí gây bệnh, đủ thấy vị trí quan trọng của hàn khí trong các chứng đau.
Bệnh nhân bệnh lư và yếu điểm biện chứng của 14 loại đau
Nguyên văn
“Đế viết: Kỳ thống hoặc tốt nhiên nhi chỉ giả, hoặc thống thậm bất hưu giả, hoặc thống thậm bất khả án giả, hoặc án chi nhi thống chỉ giả, hoặc án chi vô ích giả, hoặc suyễn động ứng thủ giả, hoặc tâm dữ bối tương dẫn nhi thống giả, hoặc hiếp lặc dữ thiếu phúc tương dẫn nhi thống giả, hoặc phúc thống dẫn âm cổ giả, hoặc thống túc tịch nhi thành tích giả, hoặc tốt nhiên thống tử bất tri nhân hữu thiểu gian phục sinh giả, hoặc thống nhi ẩu giả, hoặc phúc thống nhi hậu tiết giả, hoặc thống nhi bế bất thông giả, phàm thử chư thống, các bất đồng h́nh, biệt chi nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Có loại đau bỗng nhiên rồi dừng; có loại đau dữ dội không nghỉ; có loại đau dữ không thể ấn; có loại ấn vào th́ đau dừng; có loại ấn vào không ích ǵ; có loại thở động ứng vào tay; có loại tâm và lưng kéo nhau mà đau; có loại hông sườn và bụng dưới kéo nhau mà đau; có loại đau bụng kéo xuống mặt trong đùi; có loại đau qua đêm lâu ngày thành tích; có loại đột nhiên đau như chết, không biết người, một lúc sau lại sống; có loại đau mà nôn; có loại đau bụng rồi sau tiêu chảy; có loại đau mà bế tắc không thông. Các loại đau này h́nh trạng đều khác nhau, phân biệt thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế nêu ra nhiều h́nh thái đau khác nhau, yêu cầu Kỳ Bá phân tích nguyên nhân, vị trí, bệnh cơ và yếu điểm biện chứng của từng loại.
“Kỳ Bá viết: Hàn khí khách ư mạch ngoại tắc mạch hàn, mạch hàn tắc súc quyển, súc quyển tắc mạch truất cấp, truất cấp tắc ngoại dẫn tiểu lạc, cố tốt nhiên nhi thống, đắc quế tắc thống lập chỉ.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Hàn khí khách ở ngoài mạch th́ mạch lạnh; mạch lạnh th́ co rút; co rút th́ mạch co gấp; co gấp th́ kéo dẫn các tiểu lạc bên ngoài, cho nên đột nhiên đau. Gặp khí nóng th́ đau lập tức dừng.
Giải thích: Hàn tà ở ngoài mạch làm kinh lạc co rút đột ngột, khí huyết không thông nên đau bất ngờ. Khi gặp ấm nóng, hàn tà được tán, mạch lạc thư giăn nên đau dừng nhanh.
“Nhân trùng trúng ư hàn, tắc thống cửu hĩ.”
Dịch nghĩa: Nếu lại nhiều lần trúng hàn, th́ đau kéo dài lâu.
Giải thích: Hàn tà lặp lại, lưu trú sâu hơn, khí huyết càng ứ trệ, nên đau không dễ hết.
“Hàn khí khách ư kinh mạch chi trung, dữ khí tương bác tắc mạch măn, măn tắc thống nhi bất khả án dă.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở trong kinh mạch, cùng khí giao tranh th́ mạch đầy; mạch đầy th́ đau mà không thể ấn.
Giải thích: Hàn tà vào trong kinh mạch, khí huyết bị bế, chính tà giao tranh làm mạch đầy căng. Đây là thực chứng, ấn vào càng làm bế tắc nặng, nên không chịu ấn.
“Hàn khí kê lưu, quế khí ṭng thượng, tắc mạch sung đại nhi huyết khí loạn, cố thống thậm bất khả án dă.”
Dịch nghĩa: Hàn khí đ́nh lưu, khí nóng từ trên xuống, khiến mạch sung đại mà huyết khí rối loạn, cho nên đau dữ không thể ấn.
Giải thích: Hàn tà lưu lại, gặp nhiệt khí giao tranh làm khí huyết rối loạn, mạch sung măn, đau dữ. Đây cũng là thực chứng, không thể ấn.
“Hàn khí khách ư trường vị chi gian, mạc nguyên chi hạ, huyết bất đắc tán, tiểu lạc cấp dẫn cố thống.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở giữa trường vị, dưới mạc nguyên, huyết không thể tán, tiểu lạc co gấp kéo dẫn nên đau.
Giải thích: Hàn tà ở vùng trường vị và mạc nguyên làm huyết lạc co rút, khí huyết không tán thông, gây đau bụng.
“Án chi tắc huyết khí tán, cố án chi thống chỉ.”
Dịch nghĩa: Ấn vào th́ huyết khí tán ra, nên ấn vào th́ đau dừng.
Giải thích: Loại đau này do khí huyết tụ trệ ở vùng nông hơn, ấn xoa giúp khí huyết tán thông, nên đau giảm.
“Hàn khí khách ư hiệp tích chi mạch, tắc thâm án chi bất năng cập, cố án chi vô ích dă.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở mạch kẹp hai bên cột sống, dù ấn sâu cũng không tới, nên ấn vào không có ích.
Giải thích: Tà ở sâu trong kinh mạch vùng hai bên cột sống, thủ pháp ấn xoa bên ngoài khó đạt tới bệnh sở, nên không giảm đau.
“Hàn khí khách ư Xung mạch, Xung mạch khởi ư Quan nguyên, tùy phúc trực thượng, hàn khí khách tắc mạch bất thông, mạch bất thông tắc khí nhân chi, cố suyễn động ứng thủ hĩ.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở Xung mạch. Xung mạch khởi ở Quan nguyên, theo bụng đi thẳng lên. Hàn khí khách vào th́ mạch không thông; mạch không thông th́ khí theo đó nghịch động, nên có động khí thở gấp ứng vào tay.
Giải thích: Xung mạch đi dọc bụng, liên hệ khí huyết toàn thân. Hàn tà làm Xung mạch bế tắc, khí nghịch động lên, sờ vào thấy động ứng tay, kèm cảm giác suyễn động.
“Hàn khí khách ư bối du chi mạch tắc mạch sáp, mạch sáp tắc huyết hư, huyết hư tắc thống, kỳ du chú ư tâm, cố tương dẫn nhi thống, án chi tắc nhiệt khí chí, nhiệt khí chí tắc thống chỉ hĩ.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở mạch bối du th́ mạch sáp; mạch sáp th́ huyết hư; huyết hư th́ đau. Bối du ấy rót vào tâm, nên tâm và lưng kéo nhau mà đau. Ấn vào th́ nhiệt khí đến, nhiệt khí đến th́ đau dừng.
Giải thích: Hàn tà làm mạch bối du sáp trệ, huyết không nuôi dưỡng đầy đủ mà đau. V́ bối du liên hệ với tâm, nên đau từ lưng kéo đến tâm ngực. Ấn xoa làm khí ấm đến, huyết mạch thông hơn nên đau giảm.
“Hàn khí khách ư Quyết âm chi mạch, Quyết âm chi mạch giả, lạc âm khí, hệ ư can, hàn khí khách ư mạch trung, tắc huyết sáp mạch cấp, cố hiếp lặc dữ thiếu phúc tương dẫn thống hĩ.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở mạch Quyết âm. Mạch Quyết âm đi quanh âm khí, liên hệ với can. Hàn khí khách trong mạch th́ huyết sáp, mạch gấp, nên hông sườn và bụng dưới kéo nhau mà đau.
Giải thích: Can kinh Quyết âm đi qua bộ phận sinh dục, bụng dưới và hông sườn. Hàn tà làm can mạch co gấp, huyết hành sáp trệ, nên đau kéo từ hông sườn đến thiếu phúc.
“Quyết khí khách ư âm cổ, hàn khí thượng cập thiếu phúc, huyết sáp tại hạ tương dẫn, cố phúc thống dẫn âm cổ.”
Dịch nghĩa: Quyết khí khách ở mặt trong đùi, hàn khí đi lên đến bụng dưới, huyết sáp ở phía dưới kéo dẫn nhau, nên đau bụng kéo xuống mặt trong đùi.
Giải thích: Hàn quyết ở vùng âm cổ và thiếu phúc làm khí huyết phần dưới sáp trệ, kinh mạch kéo dẫn lẫn nhau, nên đau bụng lan xuống mặt trong đùi.
“Hàn khí khách ư tiểu trường mạc nguyên chi gian, lạc huyết chi trung, huyết sáp bất đắc chú ư đại kinh, huyết khí kê lưu bất đắc hành, cố túc tịch nhi thành tích hĩ.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở giữa mạc nguyên tiểu trường, trong lạc huyết; huyết sáp không thể rót vào đại kinh, huyết khí đ́nh lưu không vận hành, nên lâu ngày qua đêm mà thành tích.
Giải thích: Hàn tà ở tiểu trường và lạc mạch làm huyết khí ứ trệ, lâu ngày kết thành tích tụ.
“Hàn khí khách ư ngũ tạng, quyết nghịch thượng tiết, âm khí kiệt, dương khí vị nhập, cố tốt nhiên thống tử bất tri nhân, khí phục phản tắc sinh hĩ.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở ngũ tạng, quyết nghịch tiết lên trên, âm khí kiệt, dương khí chưa vào, nên đột nhiên đau như chết, không biết người; khi khí trở lại th́ sống.
Giải thích: Hàn tà vào ngũ tạng làm âm dương khí cơ đột ngột rối loạn, quyết nghịch, thần khí tạm thời mất liên hệ, nên ngất như chết. Khi khí cơ hồi phục th́ tỉnh lại.
“Hàn khí khách ư trường vị, quyết nghịch thượng xuất, cố thống nhi ẩu dă.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở trường vị, quyết nghịch đi lên, nên đau mà nôn.
Giải thích: Hàn tà ở trường vị làm vị khí nghịch lên, nên đau bụng hoặc đau vị kèm nôn ói.
“Hàn khí khách ư tiểu trường, tiểu trường bất đắc thành tụ, cố hậu tiết phúc thống hĩ.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở tiểu trường, tiểu trường không thể hoàn thành sự tụ hóa, nên sau đó tiêu chảy và đau bụng.
Giải thích: Tiểu trường chủ phân thanh trọc. Hàn tà làm tiểu trường mất chức năng phân biệt, thủy cốc không hóa, nên đau bụng rồi tiêu chảy.
“Nhiệt khí lưu ư tiểu trường, trường trung thống, đản nhiệt tiêu khát tắc kiên càn bất đắc xuất, cố thống nhi bế bất thông hĩ.”
Dịch nghĩa: Nhiệt khí lưu ở tiểu trường th́ trong ruột đau; nhiệt nung đốt làm khát, phân cứng khô không ra được, nên đau mà bế tắc không thông.
Giải thích: Nhiệt tà kết ở tiểu trường làm tân dịch bị đốt hao, phân khô cứng, đại tiện bế, khí cơ không thông nên đau.
Trích Tố Vấn, thiên Cử Thống Luận.
Chú thích

1. “Suyễn động ứng thủ.”
Giải thích: Chỉ sự nhảy động dữ dội, khi đặt tay lên th́ cảm nhận rơ sự động đập ứng vào tay.
2. “Âm cổ.”
Giải thích: Chỉ mặt trong của đùi.
3. “Thống túc tịch.”
Giải thích: Chỉ đau lâu ngày không khỏi, đau kéo dài qua đêm, lâu dần thành bệnh tích.
4. “Truất cấp.”
Giải thích: Nghĩa là co quắp, cong gấp, co rút câu cấp.
5. “Quế.”
Giải thích: Âm nghĩa đều giống “quưnh”, nghĩa là nóng, nhiệt.
6. “Trùng trúng.”
Giải thích: Nghĩa là cảm thụ lặp lại, nhiều lần bị tà khí xâm phạm.
7. “Dữ quế khí tương bác tắc mạch măn.”
Giải thích: “Quế khí” là dương khí, “bác” là giao tranh, va chạm. Hàn tà xâm phạm kinh mạch, dương khí cùng hàn tà giao tranh, tà thực ở trong kinh, cho nên mạch đầy mà đau, không thể ấn.
8. “Mạc nguyên.”
Giải thích: Cũng viết là “mộ nguyên”, chỉ màng mỡ ở ngoài trường vị, bên trong khoang bụng. Có thuyết cho rằng đó là vùng giữa màng phổi và cơ hoành.
9. “Hiệp tích chi mạch.”
Giải thích: Chỉ kinh mạch ở phần sâu hai bên cột sống. “Hiệp” thông với “hiệp”, nghĩa là kẹp hai bên.
10. “Quan nguyên.”
Giải thích: Tên huyệt, thuộc Nhâm mạch, nằm ở đường giữa dưới rốn ba thốn.
11. “Bối du chi mạch.”
Giải thích: Chỉ phần kinh mạch Túc Thái dương Bàng quang đi ở lưng, nơi có các du huyệt của ngũ tạng lục phủ, nên gọi là mạch bối du.
12. “Quyết khí.”
Giải thích: “Quyết khí” tức khí nghịch lên.
13. “Quyết nghịch thượng tiết.”
Giải thích: Chỉ âm hàn chi khí xung nghịch lên trên và tiết vượt ra ngoài.
14. “Âm khí kiệt, dương khí vị nhập.”
Giải thích: “Kiệt” ở đây có nghĩa là bị ngăn trở, bế tắc. Âm khí bị ngăn trở, dương khí không thông suốt, âm dương bị cách trở.
15. “Tiểu trường bất đắc thành tụ.”
Giải thích: Tiểu trường là quan nhận chứa và hóa vật. “Bất đắc thành tụ” chỉ chức năng thụ thịnh và hóa vật của tiểu trường bị rối loạn.
16. “Đản nhiệt.”
Giải thích: “Đản” là nhiệt. “Đản nhiệt” nghĩa là nhiệt rất thịnh.
Phân tích
Đoạn này chủ yếu luận về cơ chế bệnh lư và yếu điểm biện chứng của mười bốn loại đau. Mười bốn loại đau được nêu trong kinh văn có thể chia thành ba nhóm lớn.
17. Những loại đau liên quan đến cách làm giảm đau
Loại này gồm sáu dạng. Đau gặp nóng th́ giảm là do hàn tà làm tổn thương phần ngoài của mạch, bệnh vị c̣n nông, nên có thể dùng phép cứu ngải, chườm nóng để làm dịu. Đau mà cự án là do hàn nhiệt giao tranh kịch liệt, ấn vào th́ khí huyết càng nghịch loạn, nên người bệnh không chịu ấn. Đau mà ấn vào không giảm là do hàn tà ẩn sâu ở lư, ấn vào không thể đến được bệnh sở, nên không bớt đau.
Đau mà thích ấn có hai loại: một là tổn thương tiểu lạc bên ngoài ruột, ấn vào làm khí huyết thông sướng; hai là ấn vào khiến dương nhiệt chi khí đến thẳng bệnh sở, làm tà khí tiêu tán. V́ vậy cả hai loại này đều thích được ấn. Cũng có loại ấn vào thấy động đập ứng tay, đó là tà khí làm tổn thương sâu đến Xung mạch.
18. Những loại đau có tính chất kéo dẫn
Loại này có ba chứng. Hàn tà khách ở mạch bối du th́ tâm và lưng kéo nhau mà đau. Hàn tà làm tổn thương Quyết âm, v́ can mạch ṿng quanh âm khí, phân bố ở hông sườn, đến vùng bụng dưới; khi hàn tà phạm vào, kinh khí không lợi, nên có hông sườn và bụng dưới kéo nhau mà đau. Ngoài ra c̣n có loại đau bụng dưới kéo xuống mặt trong đùi.
19. Những loại đau kèm các chứng khác
Loại này gồm năm chứng. Tà khí khách ở khoảng mạc nguyên của tiểu trường, lâu ngày khí huyết ngưng tụ, nên đau lâu mà kèm tích tụ. Có trường hợp hàn tà làm tổn thương tạng, dương khí bị âm hàn ủng trở không thể vào trong, âm dương chi khí không giao thông với nhau, khí cơ đại loạn, nên phát sinh ngất do đau. Khí của trường vị lấy đi xuống làm thuận, hàn tà phạm vào th́ khí ngược lên trên, nên đau bụng kèm nôn ói. Hàn tà phạm tiểu trường, thức ăn không được tiêu hóa, thanh trọc không phân, cùng chạy xuống đại trường, nên đau kèm tiêu chảy. Khi hàn tà theo dương hóa nhiệt, hoặc nhiệt tà trực tiếp phạm tiểu trường, đốt tân dịch hóa táo, nên đau kèm đại tiện bí kết.
Trong t́nh trạng bệnh lư, bất kỳ bộ vị nào của con người cũng có thể phát sinh đau. Đau được bàn trong tiết này thực tế chủ yếu là đau bụng. Xét về nguyên nhân, chủ yếu là hàn khí xâm nhập kinh mạch. Tố Vấn, thiên Tư Luận cũng có ghi chép tương tự:
“Thống giả, hàn khí đa dă, hữu hàn cố thống dă.”
Dịch nghĩa: Đau là do hàn khí nhiều; có hàn cho nên đau.
Giải thích: Hàn tà có tính ngưng trệ, thu dẫn, dễ làm kinh mạch co rút và khí huyết không thông, v́ vậy thường gây đau.
Từ bệnh cơ mà phân tích, đại khái có mấy phương diện sau. Một là hàn chủ thu dẫn: hàn tà xâm nhập kinh mạch, khiến kinh mạch co rút câu cấp mà đau. Hai là huyết khí tư trở: hàn tính ngưng trệ, huyết khí ứ sáp, bế trở kinh mạch, không thông th́ đau. Ba là hàn nhiệt bác kết: tà thực ở kinh, kinh mạch đầy thịnh mà đau. Bốn là huyết hư bất vinh: huyết mạch rỗng hư, không thể nuôi dưỡng kinh mạch, phát sinh đau. Năm là tạng khí nghịch loạn: hàn khí xâm phạm ngũ tạng, tạng khí quyết nghịch, âm dương khí không tiếp nối thuận nhau, phát sinh đau đến mức hôn mê không biết người.
Từ thực tiễn lâm sàng mà xem, nguyên nhân gây đau rất nhiều, có lục dâm, thất t́nh, cũng có ăn uống thất tiết, trùng tích, ứ huyết v.v., biến hóa bệnh lư rất phức tạp. Đoạn này nêu ra mười bốn t́nh huống đau, mục đích là gợi ư phương pháp biện chứng.
Một là biện tính chất đau, như:
“Thống hoặc tốt nhiên nhi chỉ.”
Dịch nghĩa: Đau có khi đột nhiên rồi dừng.
Giải thích: Gợi ư hàn tà c̣n nông, khí huyết tạm thời bị co rút, khi khí cơ thông lại th́ đau dừng.
“Thống thậm bất hưu.”
Dịch nghĩa: Đau dữ dội không nghỉ.
Giải thích: Gợi ư tà khí lưu trú sâu hơn, khí huyết bế tắc lâu hơn.
“Thống thậm bất khả án.”
Dịch nghĩa: Đau dữ không thể ấn.
Giải thích: Thường thuộc thực chứng, tà thực ở trong, ấn vào làm khí huyết càng bế tắc.
“Án chi nhi thống chỉ.”
Dịch nghĩa: Ấn vào th́ đau dừng.
Giải thích: Thường do khí huyết tụ trệ hoặc hư hàn, ấn xoa giúp khí huyết thông hoặc dương khí đến bệnh sở nên giảm đau.
“Án chi vô ích.”
Dịch nghĩa: Ấn vào không có ích.
Giải thích: Tà ở sâu, thủ pháp bên ngoài không đến được bệnh sở nên không giảm đau.
“Đắc quế tắc thống lập chỉ.”
Dịch nghĩa: Gặp nóng th́ đau lập tức dừng.
Giải thích: Do hàn tà gây co rút, gặp nhiệt th́ hàn tán, mạch lạc thư giăn.
“Suyễn động ứng thủ.”
Dịch nghĩa: Động đập gấp, ứng vào tay.
Giải thích: Gợi ư tà khí phạm sâu vào Xung mạch, khí cơ nghịch động.
Hai là biện vị trí đau, như:
“Tâm dữ bối tương dẫn nhi thống.”
Dịch nghĩa: Tâm và lưng kéo nhau mà đau.
Giải thích: Gợi ư bệnh liên quan mạch bối du, tâm hệ và vùng lưng.
“Hiếp lặc dữ thiếu phúc tương dẫn nhi thống.”
Dịch nghĩa: Hông sườn và bụng dưới kéo nhau mà đau.
Giải thích: Gợi ư bệnh ở kinh Quyết âm Can, v́ can mạch qua hông sườn, bụng dưới và âm khí.
“Phúc thống dẫn âm cổ.”
Dịch nghĩa: Đau bụng kéo xuống mặt trong đùi.
Giải thích: Gợi ư khí huyết phần dưới sáp trệ, kinh mạch vùng thiếu phúc và âm cổ kéo dẫn nhau.
Ba là biện các chứng kèm theo của đau, như:
“Thống nhi ẩu.”
Dịch nghĩa: Đau mà nôn.
Giải thích: Gợi ư hàn tà phạm trường vị, vị khí nghịch lên.
“Phúc thống nhi hậu tiết.”
Dịch nghĩa: Đau bụng rồi sau tiêu chảy.
Giải thích: Gợi ư hàn tà phạm tiểu trường, thanh trọc không phân.
“Thống nhi bế bất thông.”
Dịch nghĩa: Đau mà bế tắc không thông.
Giải thích: Gợi ư nhiệt kết làm tân dịch khô, đại tiện bí, khí cơ không thông.
“Thống túc tịch nhi thành tích.”
Dịch nghĩa: Đau lâu ngày mà thành tích tụ.
Giải thích: Gợi ư khí huyết đ́nh lưu lâu ngày, ứ kết thành tích.
“Tốt nhiên thống tử bất tri nhân.”
Dịch nghĩa: Đột nhiên đau như chết, không biết người.
Giải thích: Gợi ư hàn tà phạm tạng, âm dương cách trở, khí cơ nghịch loạn gây hôn quyết.
Những luận述 này có ư nghĩa gợi mở rất lớn đối với biện chứng lâm sàng, có thể xem như mẫu mực để chúng ta nghiên cứu sâu hơn quy luật biện chứng của chứng đau.
Yếu điểm chẩn đoán chứng đau
Nguyên văn
“Đế viết: Sở vị ngôn nhi khả tri giả dă. Thị nhi khả kiến, nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Đó là điều gọi là nghe lời nói mà có thể biết. C̣n nh́n mà có thể thấy th́ như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế tiếp tục hỏi về vọng chẩn trong chẩn đoán đau, tức nh́n sắc mặt, h́nh sắc, bộ vị để biết bệnh.
“Kỳ Bá viết: Ngũ tạng lục phủ, cố tận hữu bộ, thị kỳ ngũ sắc, hoàng xích vi nhiệt, bạch vi hàn, thanh hắc vi thống, thử sở vị thị nhi khả kiến giả dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Ngũ tạng lục phủ vốn đều có bộ vị phân bố. Quan sát năm sắc: vàng đỏ là nhiệt, trắng là hàn, xanh đen là đau. Đây gọi là nh́n mà có thể thấy.
Giải thích: Mặt và cơ thể có bộ vị ứng với tạng phủ. Qua sắc vàng đỏ, trắng, xanh đen có thể biết tính chất bệnh là nhiệt, hàn hay đau. Xanh đen thường liên quan hàn, ứ, đau.
“Đế viết: Môn nhi khả đắc, nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Sờ mà có thể biết th́ như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về thiết chẩn, gồm bắt mạch, sờ nắn, thăm khám vùng đau.
“Kỳ Bá viết: Thị kỳ chủ bệnh chi mạch, kiên nhi huyết cập hăm hạ giả, giai khả môn nhi đắc dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Xem xét kinh mạch chủ bệnh; chỗ cứng, huyết thịnh hoặc chỗ lơm xuống đều có thể sờ mà biết được.
Giải thích: Khi sờ nắn vùng bệnh hoặc kinh mạch liên quan, nếu thấy cứng chắc, huyết mạch đầy thịnh là thực; nếu lơm xuống, mềm yếu là hư. Nhờ thiết chẩn có thể biết hư thực và vị trí bệnh.
“Đế viết: Thiện.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm.
Giải thích: Hoàng Đế tán thành phương pháp kết hợp vấn, vọng, thiết trong chẩn đoán chứng đau.
Trích Tố Vấn, thiên Cử Thống Luận.
Chú thích
20. “Ngũ tạng lục phủ, cố hữu tận bộ.”
Giải thích: “Cố” là vốn, nguyên bản. Nghĩa là ngũ tạng lục phủ vốn đều có bộ vị phân ứng nhất định ở vùng mặt.
21. “Chủ bệnh chi mạch.”
Giải thích: Chỉ kinh mạch mà bệnh tà xâm phạm, tức mạch liên quan trực tiếp đến bệnh chứng hiện tại.
22. “Kiên nhi huyết cập hăm hạ giả.”
Giải thích: Ấn vào thấy cứng chắc, cục bộ huyết mạch ủng thịnh th́ thuộc thực; ấn vào thấy lơm xuống, mềm yếu th́ thuộc hư.
Phân tích
Việc chẩn察 chứng đau nhất định phải thông qua tổng hợp vấn chẩn, vọng chẩn, thiết chẩn mới có thể thu thập đầy đủ tư liệu chẩn đoán, xác định bệnh vị và bệnh tính của đau. Vọng chẩn có thể quan sát sắc mặt và biến hóa cục bộ; thiết chẩn có thể biết sự cứng mềm, đầy lơm của mạch lạc cục bộ, cũng như có động đập hay không. Sau đó tiến hành phân tích tổng hợp th́ mới có thể xác định bệnh vị và bệnh tính.
Quan hệ giữa thể chất và khả năng chịu đau của con người
Nguyên văn
“Hoàng Đế vấn ư Thiếu Du viết: Cân cốt chi cường nhược, cơ nhục chi kiên thúy, b́ phu chi hậu bạc, tấu lư chi sơ mật, các bất đồng, kỳ ư châm thạch hỏa nhược chi thống hà như?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Thiếu Du rằng: Gân xương mạnh yếu, cơ nhục chắc hay mềm yếu, da dày hay mỏng, tấu lư thưa hay kín, mỗi người đều không giống nhau; đối với đau do châm thạch và hỏa ngải th́ thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi v́ sao thể chất khác nhau th́ khả năng chịu đau khi châm cứu, dùng biếm thạch, hỏa ngải cũng khác nhau.
“Trường vị chi hậu bạc kiên thúy diệc bất đẳng, kỳ ư độc dược hà như? Nguyện tận văn chi.”
Dịch nghĩa: Trường vị dày mỏng, chắc yếu cũng không như nhau; đối với thuốc có độc th́ thế nào? Xin được nghe đầy đủ.
Giải thích: Ngoài chịu đau khi châm cứu, Hoàng Đế c̣n hỏi về khả năng chịu thuốc, tức khả năng dung nạp thuốc mạnh yếu của từng thể chất.
“Thiếu Du viết: Nhân chi cốt cường, cân nhược, nhục hoăn, b́ phu hậu giả nại thống, kỳ ư châm thạch chi thống, hỏa nhược diệc nhiên.”
Dịch nghĩa: Thiếu Du nói: Người xương mạnh, gân mềm, cơ nhục thư hoăn, da dày th́ chịu đau tốt; đối với đau do châm thạch và hỏa ngải cũng như vậy.
Giải thích: Người h́nh thể chắc khỏe, da dày, cơ nhục thư hoăn, thần khí không quá nhạy th́ khả năng chịu đau cao hơn.
“Hoàng Đế viết: Kỳ nại hỏa nhược giả, hà dĩ tri chi?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Người chịu được hỏa ngải th́ làm sao biết?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi dấu hiệu nhận biết người có thể chịu được kích thích của phép cứu ngải.
“Thiếu Du đáp viết: Gia dĩ hắc sắc nhi mỹ cốt giả, nại hỏa nhược.”
Dịch nghĩa: Thiếu Du đáp: Người có sắc đen thêm vào đó xương tốt, th́ chịu được hỏa ngải.
Giải thích: Sắc đen, xương mạnh biểu thị thận khí, cốt khí sung, thể chất tương đối mạnh, nên chịu được phép cứu ngải.
“Hoàng Đế viết: Kỳ bất nại châm thạch chi thống giả, hà dĩ tri chi?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Người không chịu được đau do châm thạch th́ làm sao biết?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi dấu hiệu nhận biết người dễ đau, khó chịu được kích thích châm thạch.
“Thiếu Du viết: Kiên nhục bạc b́ giả, bất nại châm thạch chi thống, ư hỏa nhược diệc nhiên.”
Dịch nghĩa: Thiếu Du nói: Người cơ nhục chắc cứng mà da mỏng th́ không chịu được đau do châm thạch, đối với hỏa ngải cũng như vậy.
Giải thích: Cơ nhục cứng, da mỏng thường biểu thị cảm giác nhạy, tấu lư không đủ che chở, nên dễ đau, khó chịu được kích thích.
“Hoàng Đế viết: Nhân chi bệnh, hoặc đồng thời nhi thương, hoặc dị dĩ, hoặc nan dĩ, kỳ cố hà như?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Người mắc bệnh, có khi cùng thời điểm bị tổn thương, nhưng có người dễ khỏi, có người khó khỏi, nguyên nhân là ǵ?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi quan hệ giữa thể chất, phản ứng sau khi cảm tà và tiên lượng khỏi bệnh.
“Thiếu Du viết: Đồng thời nhi thương, kỳ thân đa nhiệt giả dị dĩ, đa hàn giả nan dĩ.”
Dịch nghĩa: Thiếu Du nói: Cùng lúc bị tổn thương, người thân thể biểu hiện nhiều nhiệt th́ dễ khỏi, người biểu hiện nhiều hàn th́ khó khỏi.
Giải thích: Người chính khí mạnh sau khi cảm tà thường biểu hiện nhiệt chứng, thực chứng, c̣n sức chống bệnh nên dễ khỏi. Người chính khí yếu thường biểu hiện hàn chứng, hư chứng, chính khí không đủ nên khó khỏi.
“Hoàng Đế viết: Nhân chi thắng độc, hà dĩ tri chi?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Làm sao biết người có thể chịu được thuốc có độc?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi dấu hiệu nhận biết khả năng dung nạp thuốc mạnh, thuốc có độc tính thiên lệch.
“Thiếu Du viết: Vị hậu, sắc hắc, đại cốt cập ph́ giả, giai thắng độc; cố kỳ sấu nhi bạc vị giả, giai bất thắng độc dă.”
Dịch nghĩa: Thiếu Du nói: Người vị khí dày, sắc đen, xương lớn và béo th́ đều chịu được thuốc mạnh; c̣n người gầy và vị khí mỏng th́ đều không chịu được thuốc mạnh.
Giải thích: Vị khí mạnh, thể chất đầy đủ th́ khả năng dung nạp thuốc mạnh tốt hơn; người gầy yếu, vị khí kém th́ không nên dùng thuốc quá mạnh, dễ tổn thương chính khí.
Trích Linh Khu, thiên Luận Thống.
Chú thích
23. “Kiên thúy.”
Giải thích: “Kiên” là chắc thực; “thúy” là gịn yếu, mềm yếu, dễ tổn thương.
24. “Châm thạch.”
Giải thích: “Châm” là châm thích; “thạch” là biếm thạch, công cụ y liệu thời cổ dùng để chích nặn mủ trong ung nhọt hoặc chích huyết.
25. “Hỏa nhược.”
Giải thích: “Nhược” là đốt. Ở đây “hỏa nhược” hiểu là hỏa ngải cứu, tức phép cứu bằng ngải.
26. “Độc dược.”
Giải thích: Tức thuốc uống trong. V́ thuốc ít nhiều đều có tính vị thiên lệch, có thể có tác dụng độc tính theo nghĩa rộng, nên gọi chung là độc dược.
27. “Mỹ cốt.”
Giải thích: Trương Giới Tân chú rằng:
“Mỹ cốt giả, cốt cường chi vị.”
Giải thích: “Mỹ cốt” nghĩa là xương mạnh, cốt khí tốt.
28. “Đa nhiệt, đa hàn.”
Giải thích: Chỉ sau khi cảm tà, mỗi người xuất hiện triệu chứng khác nhau; có người thiên về triệu chứng nhiệt, có người thiên về triệu chứng hàn.
29. “Thắng độc.”
Giải thích: “Thắng” là có thể đảm nhiệm, chịu đựng. “Thắng độc” là khả năng chịu được thuốc có tính mạnh hoặc thuốc có độc tính thiên lệch cao.
30. “Vị hậu.”
Giải thích: Nghĩa là vị khí mạnh, chức năng tiêu hóa, hấp thu và tiếp nhận thuốc tốt.
Phân tích
Đoạn này bàn về việc người có thể chất khác nhau th́ khả năng chịu đau do châm thạch, hỏa ngải gây ra cũng khác nhau; khả năng chịu thuốc cũng có sự khác biệt. Điều này nhắc nhở khi biện chứng luận trị trên lâm sàng phải chú ư sự khác biệt thể chất cá nhân, tức:
“Nhân nhân nhi trị.”
Dịch nghĩa: Tùy từng người mà điều trị.
Giải thích: Không thể dùng cùng một mức độ kích thích, cùng một liều lượng thuốc, cùng một phép trị cho tất cả mọi người; phải căn cứ thể chất, chính khí, vị khí và khả năng chịu đựng của từng người.
Các y gia cổ đại thông qua rất nhiều quan sát lâm sàng đă ghi chép trung thực các tư liệu liên quan đến khả năng chịu đựng của người bệnh. Khả năng chịu đau đối với châm cứu chủ yếu xem h́nh thể có cường tráng hay không, và mức độ nhạy bén của thần khí. Nếu tính nhạy cảm mạnh th́ thường là “kiên nhục”, không chịu đau tốt; nếu tính nhạy cảm thấp th́ thường là “cân nhược nhục hoăn”, chịu đau tốt.
Đối với khả năng dung nạp thuốc, chủ yếu xem vị khí của người bệnh mạnh hay yếu:
“Vị hậu giả thắng độc, bạc vị giả bất thắng độc.”
Dịch nghĩa: Người vị khí dày mạnh th́ chịu được thuốc mạnh; người vị khí mỏng yếu th́ không chịu được thuốc mạnh.
Giải thích: Vị khí là gốc tiếp nhận và vận hóa thuốc. Vị khí mạnh th́ có thể chịu thuốc công phạt hơn; vị khí yếu th́ dùng thuốc mạnh dễ làm tổn thương chính khí.
C̣n các đặc điểm như “sắc đen, xương lớn và béo” hoặc “gầy yếu” có thể xem là đặc trưng h́nh thể bên ngoài phản ánh vị khí mạnh yếu. Khả năng chịu đựng cao thấp của người bệnh có ư nghĩa chỉ đạo trong lâm sàng. Người chịu đựng tốt th́ châm cứu có thể dùng kích thích mạnh, dùng thuốc không ngại vị mạnh dữ; ngược lại, người chịu đựng kém th́ chỉ nên dùng kích thích nhẹ hoặc dùng thuốc ḥa hoăn.
Kinh văn nói:
“Đồng thời nhi thương, kỳ thân đa nhiệt giả dị dĩ, đa hàn giả nan dĩ.”
Dịch nghĩa: Cùng lúc bị tổn thương, người biểu hiện nhiều nhiệt th́ dễ khỏi, người biểu hiện nhiều hàn th́ khó khỏi.
Giải thích: Câu này chỉ rơ người có thể chất khác nhau th́ phản ứng của cơ thể đối với tà khí cũng khác nhau. Chính khí mạnh th́ sau khi cảm tà phần nhiều thấy nhiệt chứng, thực chứng; chính khí hư th́ phần nhiều thấy hàn chứng, hư chứng. Loại trước bệnh dễ khỏi, loại sau bệnh khó khỏi.
Điều này cho thấy thể chất mạnh yếu không chỉ liên quan đến việc sau khi cảm tà có dễ phát bệnh hay không, mà c̣n là nhân tố quan trọng quyết định tiên lượng và chuyển quy sau khi bệnh đă phát.

Phong tà gây bệnh phức tạp, biến hóa đa đoan
Nguyên văn
“Hoàng Đế vấn viết: Phong chi thương nhân dă, hoặc vi hàn nhiệt, hoặc vi nhiệt trung, hoặc vi hàn trung, hoặc vi lệ phong, hoặc vi thiên khô, hoặc vi phong dă, kỳ bệnh các dị, kỳ danh bất đồng, hoặc nội chí ngũ tạng lục phủ, bất tri kỳ giải, nguyện văn kỳ thuyết.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Phong tà làm tổn thương con người, có khi thành hàn nhiệt, có khi thành nhiệt trung, có khi thành hàn trung, có khi thành lệ phong, có khi thành thiên khô, có khi thành các loại phong bệnh; bệnh trạng mỗi loại khác nhau, tên gọi cũng không giống nhau, có khi tà khí vào trong đến ngũ tạng lục phủ. Ta chưa hiểu sự giải thích ấy, xin được nghe nói rơ.
Giải thích: Hoàng Đế nêu ra đặc điểm phong tà gây bệnh rất phức tạp. Cùng là phong tà nhưng do đường xâm nhập, thể chất người bệnh, thời tiết và tạng phủ liên quan khác nhau, nên có thể sinh ra nhiều bệnh danh và chứng trạng khác nhau.
“Kỳ Bá đối viết: Phong khí tàng ư b́ phu chi gian, nội bất đắc thông, ngoại bất đắc tiết.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Phong khí ẩn tàng ở khoảng giữa da thịt, bên trong không thông được, bên ngoài không tiết ra được.
Giải thích: Phong tà lưu lại ở phần b́ phu, tấu lư, không thể thông vào trong cũng không thể phát tiết ra ngoài, khiến khí cơ bị bế uất, từ đó sinh ra hàn nhiệt qua lại, hoặc phát triển thành các chứng khác.
“Phong giả, thiện hành nhi số biến.”
Dịch nghĩa: Phong là tà khí giỏi đi, lại biến đổi nhiều lần.
Giải thích: Đây là đặc tính trọng yếu của phong tà. “Thiện hành” là đi nhanh, di chuyển không cố định; “số biến” là biến hóa nhiều dạng, chứng trạng thay đổi nhanh và phức tạp.
“Tấu lư khai tắc sái nhiên hàn, bế tắc nhiệt nhi muộn.”
Dịch nghĩa: Tấu lư mở th́ người bệnh lạnh run; tấu lư đóng th́ phát nhiệt mà bức bối.
Giải thích: Khi tấu lư mở, vệ khí không giữ được, phong tà phạm biểu nên có cảm giác lạnh run. Khi tấu lư đóng, tà khí bị uất lại, dương khí không phát tiết được nên sinh nhiệt và bức bối.
“Kỳ hàn dă tắc suy thực ẩm, kỳ nhiệt dă tắc tiêu cơ nhục.”
Dịch nghĩa: Khi thuộc hàn th́ ăn uống suy giảm; khi thuộc nhiệt th́ cơ nhục hao ṃn.
Giải thích: Phong hàn làm tổn thương vị khí nên ăn uống giảm. Phong tà hóa nhiệt, nhiệt làm hao tân dịch, đốt tổn cơ nhục, khiến người bệnh gầy sút.
“Cố sử nhân dật lật nhi bất năng thực, danh viết hàn nhiệt.”
Dịch nghĩa: V́ vậy khiến người bệnh rét run, phát nhiệt qua lại mà không ăn được, gọi là hàn nhiệt.
Giải thích: Đây là chứng hàn nhiệt do phong tà lưu ở b́ phu, tấu lư, lúc mở lúc đóng, lúc hàn lúc nhiệt, đồng thời vị khí bị ảnh hưởng nên không ăn được.
“Phong khí dữ Dương minh nhập vị, tuần mạch nhi thượng chí mục nội tí.”
Dịch nghĩa: Phong khí theo Dương minh vào vị, theo mạch đi lên đến khóe mắt trong.
Giải thích: Kinh Dương minh liên hệ với vị và đi lên vùng mắt. Phong tà nhập Dương minh có thể ảnh hưởng vị ở trung tiêu và mắt ở thượng bộ.
“Kỳ nhân ph́, tắc phong khí bất đắc ngoại tiết, tắc vi nhiệt trung nhi mục hoàng.”
Dịch nghĩa: Người béo th́ phong khí không thể tiết ra ngoài, nên thành nhiệt trung và mắt vàng.
Giải thích: Người béo phần nhiều tấu lư kín, đàm thấp nhiều, phong tà vào trong khó phát tiết, dễ uất lại hóa nhiệt, thấp nhiệt hun bốc lên mắt nên mắt vàng.
“Nhân sấu tắc ngoại tiết nhi hàn, tắc vi hàn trung nhi khấp xuất.”
Dịch nghĩa: Người gầy th́ phong khí tiết ra ngoài mà thành hàn, nên thành hàn trung và nước mắt chảy ra.
Giải thích: Người gầy thường tấu lư thưa, dương khí không đầy đủ. Phong tà vào trong dễ làm dương khí tiết ra ngoài, bên trong hóa hàn; Dương minh kinh hư lạnh, khí lên mắt không ấm, nên chảy nước mắt.
“Phong khí dữ Thái dương câu nhập, hành chư mạch du, tán ư phân nhục chi gian, dữ vệ khí tương can, kỳ đạo bất lợi, cố sử cơ nhục phẫn nhi hữu dương.”
Dịch nghĩa: Phong khí cùng Thái dương đi vào, vận hành ở các mạch du, tán ra giữa các lớp cơ nhục, xâm phạm vệ khí, đường vận hành không thông lợi, cho nên khiến cơ nhục sưng trướng mà sinh sang dương.
Giải thích: Phong tà theo kinh Thái dương vào phần biểu và phân nhục, quấy nhiễu vệ khí, làm khí huyết không thông, dinh vệ ứ trệ, nên cơ nhục sưng lên và sinh mụn nhọt, lở loét.
“Vệ khí hữu sở ngưng nhi bất hành, cố kỳ nhục hữu bất nhân dă.”
Dịch nghĩa: Vệ khí có chỗ ngưng lại mà không vận hành, nên phần cơ nhục ấy có cảm giác tê b́ bất nhân.
Giải thích: Vệ khí bị phong tà ngăn trở, không lưu hành đến vùng cơ nhục, nên da thịt mất cảm giác, tê b́, bất nhân.
“Lệ giả, hữu vinh khí nhiệt phủ, kỳ khí bất thanh, cố sử kỳ tỵ trụ hoại nhi sắc bại, b́ phu dương hội.”
Dịch nghĩa: Lệ phong là do vinh khí bị nhiệt làm mục nát, khí ấy không trong sạch, nên khiến sống mũi hư hoại, sắc mặt bại hoại, da thịt lở loét.
Giải thích: Lệ phong tương đương bệnh phong hủi. Tà phong hàn lưu lâu trong huyết mạch, hóa nhiệt làm dinh huyết ô trọc, da thịt, sống mũi bị tổn hại, sinh lở loét lâu không lành.
“Phong hàn khách ư mạch nhi bất khứ, danh viết lệ phong, hoặc danh viết hàn nhiệt.”
Dịch nghĩa: Phong hàn khách ở trong mạch mà không đi, gọi là lệ phong, hoặc gọi là hàn nhiệt.
Giải thích: Khi phong hàn tà lưu trú lâu trong mạch, khí huyết không thanh, dinh vệ bại hoại, có thể h́nh thành chứng lệ phong. V́ bệnh cũng có biểu hiện hàn nhiệt nên c̣n gọi là hàn nhiệt.
Trích Tố Vấn, thiên Phong Luận.
Chú thích

1. “Thiên khô.”
Giải thích: Căn cứ đoạn sau “các nhập kỳ môn hộ, sở trúng tắc vi thiên phong”, thiên khô ở đây nên chỉ thiên phong. Phong tà thiên lệch xâm trúng một tạng hoặc một bộ phận nào đó của cơ thể th́ gọi là thiên phong.
2. “Hoặc vi phong dă.”
Giải thích: Căn cứ đoạn sau, câu này chỉ nhiều loại phong chứng như năo phong, mục phong, lậu phong, nội phong, thủ phong, trường phong, tiết phong v.v.
3. “Thiện hành nhi số biến.”
Giải thích: “Thiện hành” là đi nhanh, du tẩu, dao động không cố định. “Số biến” là biến hóa nhiều dạng. Diêu Chỉ Am chú:
“Thiện hành giả, vô xứ bất đáo; số biến giả, chứng bất nhất đoan. Phong chi vi tà, kỳ lệ hĩ tai.”
Giải thích: Giỏi đi là không nơi nào không đến; biến đổi nhiều là chứng trạng không chỉ có một đầu mối. Phong là tà khí rất dữ vậy.
4. “Tấu lư khai tắc sái nhiên hàn, bế tắc nhiệt nhi muộn.”
Giải thích: Trương Kỳ chú:
“Phong vi dương tà, xuân hạ đa hiệp nhiệt, thu đông đa hiệp hàn, hựu các nhân kỳ nhân chi bản khí vi bệnh, cố vi biến bất đồng. Kỳ thủy nhập, nhân tấu lư chi khai tắc sái nhiên nhi hàn. Phong bản thương vệ, át kỳ dinh huyết, bất đắc sơ tiết, tắc uất nhi vi nhiệt, nhiệt tắc phiền tâm, cố muộn dă.”
Giải thích: Phong là dương tà, mùa xuân hạ thường kèm nhiệt, mùa thu đông thường kèm hàn; lại tùy theo bản khí của từng người mà phát bệnh, nên biến hóa khác nhau. Lúc mới xâm nhập, nhân tấu lư mở th́ thấy lạnh run. Phong vốn làm thương vệ, ngăn trở dinh huyết, không được sơ tiết th́ uất lại thành nhiệt; nhiệt làm phiền tâm nên sinh bức bối.
5. “Kỳ hàn dă tắc suy thực ẩm, kỳ nhiệt dă tắc tiêu cơ nhục.”
Giải thích: Phong hàn làm tổn thương vị nên ăn uống suy giảm. Phong tà hóa nhiệt, đốt tổn tân dịch th́ cơ nhục tiêu hao, người bệnh gầy sút.
6. “Dật lật.”
Giải thích: “Dật” thông với “dật”, nghĩa là mất, quên mất; “lật” là run rẩy v́ lạnh. Vương Băng chú:
“Tốt chấn hàn mạo.”
Giải thích: Đây là dáng vẻ đột ngột rét run. Có thể hiểu “dật lật” là rét run và phát nhiệt thay nhau xuất hiện. Trương Giới Tân chú:
“Hàn nhiệt giao tác tắc chấn hàn, cố vi dật lật bất thực.”
Giải thích: Hàn nhiệt thay nhau phát tác th́ rét run, nên gọi là dật lật và không ăn được.
7. “Dữ.”
Giải thích: Nghĩa là theo, tùy theo.
8. “Nhiệt trung nhi mục hoàng.”
Giải thích: Phong tà hóa nhiệt, nhiệt thịnh ở trung tiêu, theo kinh Túc Dương minh đi lên mắt, nên mắt vàng. Trương Giới Tân chú:
“Phong khí khách ư Dương minh, tắc nội nhập ư vị. Vị cư trung tiêu, kỳ mạch thượng hành, hệ ư mục hệ. Nhân ph́ tắc tấu lư trí mật, tà bất đắc tiết, lưu vi nhiệt trung cố mục hoàng.”
Giải thích: Phong khí khách ở Dương minh th́ vào trong vị. Vị ở trung tiêu, mạch của nó đi lên liên hệ với hệ mắt. Người béo tấu lư kín chắc, tà không tiết ra được, lưu lại thành nhiệt trung nên mắt vàng.
9. “Hàn trung nhi khấp xuất.”
Giải thích: Người vốn dương khí hư, phong theo hàn hóa, hàn khí theo kinh Túc Dương minh đi lên mắt, nên nước mắt chảy ra. Dương Thượng Thiện chú:
“Nhân sấu tắc tấu lư sơ hư, ngoại tiết ôn khí, cố phong khí nội dĩ vi hàn trung. Túc Dương minh mạch hư lănh, cố mục khấp xuất dă.”
Giải thích: Người gầy th́ tấu lư thưa hư, ôn khí tiết ra ngoài, nên phong khí vào trong thành hàn trung. Mạch Túc Dương minh hư lạnh, nên mắt chảy nước mắt.
10. “Tương can.”
Giải thích: “Can” là xâm phạm. “Tương can” có nghĩa là xâm phạm, va chạm, giao tranh với nhau.
11. “Phẫn.”
Giải thích: Nghĩa là sưng trướng, phát lên, trướng lên. Tố Vấn, thiên Sinh Khí Thông Thiên Luận nói:
“Dinh khí bất ṭng, nghịch ư nhục lư, năi sinh ung thũng.”
Giải thích: Dinh khí không thuận, nghịch ở trong thớ thịt th́ sinh ung thũng. Ư nghĩa tương tự với đoạn này.
12. “Lệ.”
Giải thích: Lệ phong, c̣n gọi là đại phong, tương đương bệnh phong hủi ngày nay.
Phân tích
Tiết này chủ yếu luận về cơ chế bệnh lư phức tạp, biến hóa nhiều dạng của phong bệnh, đồng thời nêu luận điểm:
“Phong thiện hành nhi số biến.”
Dịch nghĩa: Phong giỏi đi và biến hóa nhiều.
Giải thích: Phong tà có tính chủ động, di chuyển nhanh, biến hóa cấp tốc, chứng trạng thay đổi đa dạng. Đây là đặc điểm bệnh lư trung tâm của phong tà.
Thiên này chủ yếu từ ba phương diện để giải thích đặc điểm “thiện hành số biến” của phong tà.
13. Phong tà làm tổn thương người, đường xâm nhập khác nhau, bệnh biến nhiều dạng
Kinh văn liệt kê bốn loại bệnh biến.
Thứ nhất là ngược tật. Phong tà ẩn tàng ở khoảng giữa da thịt, gây rét run, phát nhiệt, không ăn được, cơ nhục gầy sút. Kinh văn gọi là:
“Hàn nhiệt.”
Giải thích: Hàn nhiệt là biểu hiện rét run và phát nhiệt qua lại, thường liên quan phong tà lưu ở biểu, tấu lư khai hợp bất thường.
Tố Vấn, thiên Ngược Luận nói:
“Phù giai ngược giai sinh ư phong.”
Dịch nghĩa: Các chứng giai ngược đều sinh ra từ phong.
Giải thích: Ngược tật phát sinh có quan hệ mật thiết với phong tà lưu ở b́ phu, tấu lư, làm hàn nhiệt qua lại.
Thứ hai là nhiệt trung và hàn trung. Phong tà từ kinh Dương minh đi vào, một mặt có thể theo kinh đi lên phạm vào mắt, phát sinh bệnh ở mắt; một mặt có thể theo kinh vào vị, gây hai loại bệnh biến là nhiệt trung hoặc hàn trung. Người béo phần nhiều có đàm thấp, phong tà vào trong, thấp nhiệt hun bốc mà thành nhiệt trung, mắt vàng. Người gầy yếu dương khí bất túc, phong tà vào trong, dương khí tiết ra ngoài mà thành hàn trung, chảy nước mắt.
Thứ ba là sang dương và bất nhân. Phong tà theo kinh mạch Thái dương xâm nhập, kinh mạch không thông lợi, dinh vệ ngưng trệ mà phát sang dương, hoặc sinh chứng bất nhân.
“Sang dương.”
Giải thích: Chỉ mụn nhọt, lở loét, sưng đau ngoài da do khí huyết, dinh vệ ứ trệ, phong tà độc tà kết tụ.
“Bất nhân.”
Giải thích: Chỉ tê b́, mất cảm giác hoặc cảm giác da thịt không rơ, do vệ khí không hành, kinh khí không thông.
Thứ tư là lệ phong, tương đương bệnh phong hủi. Đây là do phong hàn tà xâm nhập vào trong huyết mạch, lưu lâu không đi, vinh khí bị nhiệt làm hư mục, ô trọc không trong, cho nên sống mũi bị tổn hại, sắc mặt bại hoại, da thịt lở loét không lành. Tố Vấn, thiên Mạch Yếu Tinh Vi Luận nói:
“Mạch phong thành vi lệ.”
Dịch nghĩa: Mạch phong thành lệ.
Giải thích: Phong tà ở trong huyết mạch lâu ngày có thể phát triển thành lệ phong.
Tố Vấn, thiên Trường Thích Tiết Luận nói:
“Bệnh đại phong, cốt tiết trọng, tu mi đọa, danh viết đại phong.”
Dịch nghĩa: Bệnh đại phong th́ xương khớp nặng nề, râu mày rụng, gọi là đại phong.
Giải thích: Đây là mô tả bổ sung cho lệ phong, nêu các biểu hiện xương khớp nặng, râu mày rụng trong bệnh đại phong.
14. Thể chất khác nhau, bệnh biến khác nhau
Cùng là phong tà từ Dương minh nhập vị, nhưng do người bệnh có khác biệt béo gầy, nên bệnh có biến hóa thành “nhiệt trung” hoặc “hàn trung”. Lại như cùng là phong tà tập biểu, do thể chất khác nhau, tấu lư có người thưa lỏng, có người kín chắc, v́ vậy triệu chứng có khác biệt ra mồ hôi hoặc không ra mồ hôi. Có thể thấy, yếu tố thể chất là nội nhân khiến phong tà gây bệnh “số biến”.
15. Thời lệnh khác nhau, bệnh biến khác nhau
Như phần kinh văn phía sau nói:
“Xuân Giáp Ất thương ư phong giả vi can phong... đông Nhâm Quư trúng ư tà giả vi thận phong.”
Dịch nghĩa: Mùa xuân ngày Giáp Ất bị phong làm thương th́ thành can phong... mùa đông ngày Nhâm Quư trúng tà th́ thành thận phong.
Giải thích: Phong tà gây bệnh biến hóa nhiều dạng c̣n liên quan đến mùa tiết và thời nhật. Mỗi mùa ứng với một tạng, tà phong xâm nhập vào thời nào th́ dễ ảnh hưởng đến tạng tương ứng.
Tóm lại, nguyên nhân khiến phong tà gây bệnh xuất hiện “số biến”, ngoài bản tính của phong tà là “thiện hành”, c̣n liên quan đến nhiều yếu tố như đường xâm nhập của tà khác nhau, thể chất người bệnh có hàn, nhiệt, hư, thực khác nhau, và ảnh hưởng của thiên thời, mùa tiết đối với ngũ tạng.
Tên bệnh và cơ chế phát bệnh của nhiều loại phong bệnh
Nguyên văn
“Dĩ xuân Giáp Ất thương ư phong giả, vi can phong.”
Dịch nghĩa: Vào mùa xuân, ngày Giáp Ất bị phong làm tổn thương th́ thành can phong.
Giải thích: Mùa xuân thuộc mộc, can cũng thuộc mộc; Giáp Ất là thiên can thuộc mộc. V́ thời khí và tạng khí cùng ứng với can, nên phong tà xâm phạm vào thời này dễ gây can phong.
“Dĩ hạ Bính Đinh thương ư phong giả, vi tâm phong.”
Dịch nghĩa: Vào mùa hạ, ngày Bính Đinh bị phong làm tổn thương th́ thành tâm phong.
Giải thích: Mùa hạ thuộc hỏa, tâm cũng thuộc hỏa; Bính Đinh là thiên can thuộc hỏa. Phong tà xâm phạm vào thời này dễ theo hỏa khí mà ảnh hưởng đến tâm, nên gọi là tâm phong.
“Dĩ quư hạ Mậu Kỷ thương ư tà giả, vi tỳ phong.”
Dịch nghĩa: Vào cuối hạ, ngày Mậu Kỷ bị tà làm tổn thương th́ thành tỳ phong.
Giải thích: Quư hạ, tức trưởng hạ, thuộc thổ; tỳ cũng thuộc thổ; Mậu Kỷ là thiên can thuộc thổ. Tà khí xâm phạm vào thời này dễ ảnh hưởng tỳ, nên gọi là tỳ phong.
“Dĩ thu Canh Tân trúng ư tà giả, vi phế phong.”
Dịch nghĩa: Vào mùa thu, ngày Canh Tân trúng tà th́ thành phế phong.
Giải thích: Mùa thu thuộc kim, phế cũng thuộc kim; Canh Tân là thiên can thuộc kim. Tà phong vào thời này dễ ảnh hưởng đến phế, nên gọi là phế phong.
“Dĩ đông Nhâm Quư trúng ư tà giả, vi thận phong.”
Dịch nghĩa: Vào mùa đông, ngày Nhâm Quư trúng tà th́ thành thận phong.
Giải thích: Mùa đông thuộc thủy, thận cũng thuộc thủy; Nhâm Quư là thiên can thuộc thủy. Tà khí xâm phạm vào thời này dễ ảnh hưởng đến thận, nên gọi là thận phong.
hịch lên gây suyễn, họng khô, ợ hơi. Khi quyết khí xung nghịch lên trên, thần không yên nên sợ hăi.
“Can tư giả, dạ ngọa tắc kinh, đa ẩm sác tiểu tiện, thượng vi dẫn như hoài.”
Dịch nghĩa: Can tư th́ ban đêm nằm ngủ dễ kinh sợ, uống nhiều, tiểu tiện nhiều lần, phía trên bụng trướng kéo như có thai.
Giải thích: Can tàng huyết, chủ sơ tiết. Tư tà vào can làm can khí không điều, hồn không yên nên đêm ngủ dễ kinh. Khí hóa rối loạn nên uống nhiều, tiểu nhiều. Can mạch liên hệ thiếu phúc, khí trệ trướng đầy nên bụng ph́nh như mang thai.
“Thận tư giả, thiện trướng, cao dĩ đại chủng, tích dĩ đại đầu.”
Dịch nghĩa: Thận tư th́ hay trướng; vùng xương cùng thay cho gót, cột sống thay cho đầu.
Giải thích: Câu này h́nh dung bệnh nhân thận tư nặng không thể đứng đi, chỉ có thể ngồi tựa bằng vùng xương cùng; đầu cúi gập không ngửa được, cột sống cao hơn đầu. Thận chủ cốt, thận tư làm cột sống, eo lưng, xương khớp suy yếu, vận động khó khăn.
“Tỳ tư giả, tứ chi giải đọa, phát khái ẩu trấp, thượng vi đại tắc.”
Dịch nghĩa: Tỳ tư th́ tứ chi ră rời lười vận động, phát ho, nôn ra dịch, phía trên thành bế tắc lớn.
Giải thích: Tỳ chủ tứ chi và vận hóa. Tư tà vào tỳ th́ tỳ khí suy, tứ chi lỏng yếu không sức. Tỳ mất vận hóa, đàm ẩm nghịch lên phạm phế vị nên ho, nôn dịch, thượng tiêu bế tắc.
“Trường tư giả, sác ẩm nhi xuất bất đắc, trung khí suyễn tranh, thời phát xan tiết.”
Dịch nghĩa: Trường tư th́ uống nhiều mà không bài xuất được, khí trong bụng kêu vang tranh động, thỉnh thoảng phát tiêu chảy thức ăn chưa tiêu.
Giải thích: Tư tà phạm ruột, chức năng phân thanh biệt trọc mất điều ḥa. Tuy uống nhiều nhưng tiểu tiện không thông lợi; khí trong bụng xung động, sôi réo; thủy cốc không hóa nên phát xan tiết.
“Bào tư giả, thiếu phúc bàng quang, án chi nội thống, nhược ốc dĩ thang, sáp ư tiểu tiện, thượng vi thanh thế.”
Dịch nghĩa: Bào tư, tức bàng quang tư, th́ vùng bụng dưới và bàng quang, ấn vào đau bên trong, nóng như dội nước sôi, tiểu tiện rít khó, phía trên thành nước mũi trong.
Giải thích: Bàng quang là phủ của thủy, khi tư tà bế ở bàng quang th́ khí hóa không lợi, tiểu tiện rít khó, bụng dưới đau nóng. Kinh Bàng quang đi lên đầu, liên hệ năo, tà khí bốc lên nên chảy nước mũi trong.
“Âm khí giả, tĩnh tắc thần tàng, táo tắc tiêu vong.”
Dịch nghĩa: Âm khí, tức tinh khí của ngũ tạng, khi yên tĩnh th́ thần được tàng giữ; khi躁 động th́ tiêu hao mất đi.
Giải thích: Ngũ tạng tinh khí cần được giữ ǵn bằng sự yên tĩnh của thân tâm. Nếu thân thể vọng động, thần chí bất an, tinh khí bị hao tổn, thần khí suy tán, chính khí giảm th́ tà dễ xâm nhập.
“Ẩm thực tự bội, trường vị năi thương.”
Dịch nghĩa: Nếu ăn uống tự tăng gấp bội, trường vị sẽ bị tổn thương.
Giải thích: Ăn uống quá độ làm tổn thương tỳ vị, khiến vận hóa rối loạn, thấp trọc, đàm ẩm, thực tích sinh ra, tạo điều kiện cho tư tà lưu trú.
“Dâm khí suyễn tức, tư tụ tại phế.”
Dịch nghĩa: Khí rối loạn bên trong biểu hiện bằng suyễn tức th́ chứng tư tụ ở phế.
Giải thích: “Dâm khí” là khí rối loạn, quá lệch của nội tạng. Nếu thấy suyễn tức th́ biết tư tà tụ ở phế, thành phế tư.
“Dâm khí ưu tư, tư tụ tại tâm.”
Dịch nghĩa: Khí rối loạn biểu hiện bằng ưu sầu suy nghĩ th́ chứng tư tụ ở tâm.
Giải thích: Tâm chủ thần minh. Khi tư tà tụ ở tâm, thần chí bất an, dễ ưu tư, phiền lo.
“Dâm khí di niệu, tư tụ tại thận.”
Dịch nghĩa: Khí rối loạn biểu hiện bằng són tiểu th́ chứng tư tụ ở thận.
Giải thích: Thận chủ thủy, chủ bế tàng. Thận khí bị tư tà làm tổn thương th́ bàng quang mất cố nhiếp, dễ són tiểu.
“Dâm khí phạp kiệt, tư tụ tại can.”
Dịch nghĩa: Khí rối loạn biểu hiện bằng kiệt sức mệt mỏi th́ chứng tư tụ ở can.
Giải thích: Can tàng huyết, chủ cân. Can bị tư tà làm tổn thương, huyết không nuôi cân, khí cơ không sơ tiết, nên mệt mỏi kiệt sức.
“Dâm khí cơ tuyệt, tư tụ tại tỳ.”
Dịch nghĩa: Khí rối loạn biểu hiện bằng cơ nhục suy kiệt th́ chứng tư tụ ở tỳ.
Giải thích: Tỳ chủ cơ nhục. Tư tà tụ ở tỳ th́ vận hóa suy, cơ nhục không được nuôi dưỡng, nên cơ nhục suy yếu, mất sức.
“Chư tư bất dĩ, diệc ích nội dă, kỳ phong khí thắng giả, kỳ nhân dị dĩ dă.”
Dịch nghĩa: Các chứng tư không khỏi th́ cũng dần lan vào trong; nếu phong khí thắng th́ người bệnh dễ khỏi.
Giải thích: Tư bệnh lâu ngày không khỏi sẽ tiến triển vào trong, liên lụy tạng phủ. Nếu phong tà thiên thịnh th́ do phong có tính nhẹ, di động, dễ phát tán hơn, nên so với hàn tư, thấp tư thường dễ khỏi hơn.
“Đế viết: Tư, kỳ thời hữu tử giả, hoặc đằng cửu giả, hoặc dị dĩ giả, kỳ cố hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Chứng tư có khi có người chết, có khi đau lâu ngày, có khi dễ khỏi, nguyên nhân là ǵ?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về tiên lượng khác nhau của chứng tư.
“Kỳ Bá viết: Kỳ nhập tạng giả tử, kỳ lưu liên cân cốt gian giả đằng cửu, kỳ lưu b́ phu gian giả dị dĩ.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Tà vào tạng th́ chết; lưu luyến ở giữa gân xương th́ đau lâu; lưu ở giữa da thịt th́ dễ khỏi.
Giải thích: Tư tà càng vào sâu th́ bệnh càng nặng. Vào tạng là nặng nhất, tiên lượng xấu; lưu ở gân xương th́ bệnh sâu và dai dẳng; lưu ở da thịt th́ c̣n nông, dễ điều trị.
“Đế viết: Kỳ khách ư lục phủ giả, hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Tà khách ở lục phủ là v́ sao?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi cơ chế chứng tư truyền vào các phủ.
“Kỳ Bá viết: Thử diệc kỳ thực ẩm cư xứ, vi kỳ bệnh bản dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Điều này cũng do ăn uống và nơi ở sinh hoạt là gốc bệnh của nó.
Giải thích: Lục phủ chủ thu nạp, truyền hóa thủy cốc; ăn uống thất điều, cư trú ẩm thấp lạnh lẽo làm phủ khí bị tổn thương, khiến phong hàn thấp tà dễ xâm nhập.
“Lục phủ diệc các hữu du, phong hàn thấp khí trúng kỳ du, nhi thực ẩm ứng chi, tuần du nhi nhập, các xá kỳ phủ dă.”
Dịch nghĩa: Lục phủ cũng đều có du huyệt. Phong, hàn, thấp khí trúng vào du huyệt của nó, mà ăn uống lại ứng theo làm tổn thương bên trong, tà theo du huyệt mà vào, rồi cư trú ở từng phủ.
Giải thích: Tư tà có thể từ ngoài theo du huyệt, kinh mạch đi vào phủ; đồng thời ăn uống bất điều làm phủ khí bên trong suy yếu, trong ngoài tương ứng, khiến tà lưu lại ở phủ.
“Đế viết: Dĩ châm trị chi nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Dùng châm để trị th́ như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi đại pháp châm thích đối với các loại chứng tư.
“Kỳ Bá viết: Ngũ tạng hữu du, lục phủ hữu hợp, tuần mạch chi phân, các hữu sở phát, các tùy kỳ quá tắc bệnh sưu dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Ngũ tạng có du huyệt, lục phủ có hợp huyệt; theo phần của kinh mạch, mỗi nơi đều có chỗ phát bệnh, tùy theo nơi bệnh đi qua mà trị th́ bệnh khỏi.
Giải thích: Điều trị bằng châm phải căn cứ tạng phủ, kinh mạch, bệnh vị cụ thể để chọn huyệt. Bệnh ở tạng lấy du huyệt, bệnh ở phủ lấy hợp huyệt, theo đường kinh nơi tà đi qua mà châm trị.
Trích Tố Vấn, thiên Tư Luận.
Chú thích
1. “Tâm hạ cổ.”
Giải thích: Vùng dưới tim động như đánh trống, tức hồi hộp, tim đập mạnh.
2. “Thiện ái.”
Giải thích: “Ái” là ợ hơi. Chỉ trong tâm bệnh có thể thấy ợ hơi thường xuyên.
3. “Thượng vi dẫn như hoài.”
Giải thích: “Dẫn” theo Thuyết Văn Giải Tự là kéo cung. Kéo căng cung th́ h́nh tṛn đầy. Ở đây h́nh dung bụng trướng to như có thai.
4. “Cao dĩ đại chủng, tích dĩ đại đầu.”
Giải thích: “Cao” là vùng xương cùng, “chủng” là gót chân. “Cao dĩ đại chủng” nghĩa là chỉ có thể ngồi, không thể đứng và đi. “Tích dĩ đại đầu” h́nh dung đầu cúi xuống không ngửa được, đầu không cao bằng cột sống.
5. “Tứ chi giải đọa.”
Giải thích: “Giải” thông với “giải đăi”, “đọa” thông với “nọa”, chỉ tứ chi lỏng yếu, mệt mỏi, không có sức.
6. “Thượng vi đại tắc.”
Giải thích: “Thượng” chỉ thượng tiêu. Câu này nói dấu hiệu thượng tiêu bế tắc không thông.
7. “Sác ẩm nhi xuất bất đắc.”
Giải thích: Do tà phạm tiểu trường, chức năng phân thanh biệt trọc mất điều ḥa, nên tuy uống nhiều nhưng tiểu tiện không thông lợi.
8. “Trung khí suyễn tranh.”
Giải thích: “Trung khí” là khí trong bụng. “Suyễn” ở đây chỉ tiếng kêu, tiếng sôi. Ư nói tà phạm trường đạo, tà chính giao tranh khiến khí trong bụng xung động, kêu vang.
9. “Xan tiết.”
Giải thích: Tư tà xâm phạm làm chức năng ruột mất điều ḥa, dẫn đến tiêu chảy thức ăn chưa tiêu.
10. “Bào tư.”
Giải thích: Tức bàng quang tư.
11. “Nhược ốc dĩ thang.”
Giải thích: “Thang” là nước nóng. Câu này h́nh dung nhiệt thịnh như bị dội nước nóng.
12. “Thượng vi thanh thế.”
Giải thích: Kinh mạch Bàng quang đi lên trán, giao ở đỉnh đầu, lên liên lạc với năo, nên tà khí bốc lên năo mà thành chảy nước mũi trong.
13. “Âm khí.”
Giải thích: Chỉ tinh khí của ngũ tạng.
14. “Tĩnh tắc thần tàng, táo tắc tiêu vong.”
Giải thích: Tinh khí ngũ tạng nếu h́nh thể không vọng động, thần chí yên tĩnh th́ tà không thể xâm phạm, tinh khí kín chắc, thần có chỗ tàng, h́nh thần đều thịnh. Nếu h́nh thể躁 động, thần chí bất an th́ tinh khí hao tổn, thần khí tiêu vong.
15. “Ẩm thực tự bội.”
Giải thích: “Tự” là giả như, “bội” là nhiều, gấp bội. Chỉ ăn uống quá độ.
16. “Dâm khí suyễn tức, tư tụ tại phế.”
Giải thích: “Dâm khí” chỉ khí rối loạn, quá lệch của nội tạng. Ngũ thể tư lâu ngày không khỏi, tạng tương hợp bị ảnh hưởng; thêm vào đó tinh thần và ăn uống thất điều làm tạng khí rối loạn, th́ phong hàn thấp tà đi vào trong lưu lại mà thành tạng phủ tư. Nếu thấy chứng suyễn tức th́ là tư tà tụ ở phế, thành phế tư. Các tạng c̣n lại suy tương tự.
17. “Di niệu.”
Giải thích: Tức són tiểu, tiểu tiện không tự chủ.
18. “Ích nội.”
Giải thích: “Ích” thông với “dật”, nghĩa là lan tràn, lan rộng. Chỉ bệnh lâu không khỏi, tà khí ngày càng thịnh, bệnh biến phát triển vào bên trong.
19. “Ngũ tạng hữu du, lục phủ hữu hợp.”
Giải thích: Đây là lối nói hỗ văn, nghĩa là ngũ tạng lục phủ đều có du huyệt và hợp huyệt. Ví dụ phế có du huyệt Thái uyên, đại trường có du huyệt Tam gian; phế có hợp huyệt Xích trạch, đại trường có hợp huyệt Khúc tŕ v.v.
20. “Các tùy kỳ quá tắc bệnh sưu dă.”
Giải thích: “Sưu” nghĩa là bệnh khỏi. Ư nói tùy theo bộ vị bệnh biến, đường kinh tà đi qua mà điều trị th́ bệnh có thể khỏi.

Phân tích
Đoạn này luận về triệu chứng, bệnh nhân, tiên lượng và đại pháp châm thích của chứng tư.

1. Biểu hiện lâm sàng của ngũ tạng tư
“Ngũ tạng tư.”
Dịch nghĩa: Chứng tư ở năm tạng.
Giải thích: Ngũ tạng tư do ngũ thể tư phát triển mà thành. Khi tinh khí của ngũ tạng bị tổn thương, lại cảm thêm phong hàn thấp khí, th́ thể tư truyền vào tạng tương ứng mà thành ngũ tạng tư. Ngũ tạng tư được luận trong tiết này thực chất là chỉ sự rối loạn công năng tạng phủ do tư tà xâm nhiễu ngũ tạng gây nên.
“Phế tư.”
Giải thích: Phế khí bị ủng bế, cho nên phiền măn mà suyễn; vị khí không giáng, cho nên nghịch lên mà nôn.
“Tâm tư.”
Giải thích: Tâm khí bị tư trở, tà khí nhiễu loạn bên trong tâm, cho nên tâm phiền, hồi hộp; nếu can phạm đến phế th́ khí nghịch lên, suyễn tức, họng khô; tâm chủ ợ hơi, tâm khí thượng nghịch th́ ợ hơi; tâm khí nghịch không giao với thận, thận hư nên sinh sợ hăi.
“Can tư.”
Giải thích: Can tàng hồn, can khí bị tư trở th́ hồn không yên nơi cư trú, ban đêm nằm ngủ dễ kinh sợ; can uất hóa hỏa, đốt hao tân dịch, nên uống nhiều, uống nhiều th́ tiểu tiện nhiều; khí cơ uất trệ, bụng trướng đầy như trạng thái mang thai.
“Thận tư.”
Giải thích: Thận khí bị bế trở, quan môn không lợi, cho nên bụng hay trướng; thận chủ cốt, thận tư làm khí suy, xương mất nuôi dưỡng, chi dưới cong co không duỗi được, v́ vậy chỉ có thể ngồi mà không thể đi, cột sống biến dạng, đầu gáy cúi gập, xương sống cao hơn đầu.
“Tỳ tư.”
Giải thích: Tỳ khí không nuôi dưỡng được tứ chi, cho nên tứ chi mỏi lười, yếu nhược; tỳ không thể thay vị vận hành tân dịch, vị khí thượng nghịch th́ nôn ra dịch; tỳ khí không thể tán tinh lên phế, khí hành không thông, trong ngực bĩ tắc, phát thành ho.
2. Sự h́nh thành và biểu hiện lâm sàng của lục phủ tư
“Lục phủ tư.”
Dịch nghĩa: Chứng tư ở sáu phủ.
Giải thích: Lục phủ tư do ăn uống không điều độ, trường vị bị tổn thương trước, sau đó tư tà truyền vào phủ mà thành.
Tư tà phạm vào tiểu trường, chức năng phân thanh biệt trọc mất điều ḥa, cho nên uống nhiều mà tiểu tiện không thông lợi. Tư tà phạm vào đại trường, chức năng truyền đạo thất thường, cho nên thấy tiết tả. Tư tà phạm vào bàng quang, khí hóa không lợi, uất lại hóa nhiệt, xuất hiện đau nóng vùng bụng dưới, tiểu tiện ngắn ít, rít khó.
3. Tiên lượng của chứng tư
Xét theo tính chất tà khí cảm phải, người có phong khí thắng th́ dễ khỏi; hàn tà và thấp tà đều là âm tà, dễ lưu trệ, không dễ trừ nhanh, cho nên khó khỏi hơn. Xét theo bộ vị phát bệnh, bệnh ở khoảng da thịt th́ dễ khỏi; bệnh ở khoảng gân xương th́ dai dẳng khó khỏi; bệnh tà nhập vào tạng th́ tiên lượng xấu. Xét theo bệnh tŕnh, mới phát th́ dễ khỏi; đau lâu ngày th́ khó khỏi.
4. Phép châm thích điều trị chứng tư
Kinh văn nêu rơ hai nguyên tắc: một là biện chứng luận trị, tức:
“Ngũ tạng hữu du, lục phủ hữu hợp, tuần mạch chi phân.”
Dịch nghĩa: Ngũ tạng có du huyệt, lục phủ có hợp huyệt, theo phần của kinh mạch mà xét.
Giải thích: Trị bệnh phải căn cứ tạng phủ, kinh mạch, bệnh vị cụ thể để chọn huyệt. Bệnh thuộc tạng th́ chú trọng du huyệt, bệnh thuộc phủ th́ chú trọng hợp huyệt, đồng thời theo đường kinh mạch bị bệnh mà châm.
Hai là lấy huyệt tại vùng đau, tức:
“Các tùy kỳ quá.”
Dịch nghĩa: Mỗi loại đều theo chỗ bệnh đi qua mà trị.
Giải thích: Chỗ tà khí đi qua, chỗ kinh mạch bị bế trở, chỗ đau hoặc vùng lân cận đều có thể là căn cứ chọn huyệt. Đây là nguyên tắc kết hợp biện chứng theo kinh mạch với lấy huyệt tại chỗ.
“Âm khí giả, tĩnh tắc thần tàng, táo tắc tiêu vong. Ẩm thực tự bội, trường vị năi thương.”
Dịch nghĩa: Âm khí, nếu yên tĩnh th́ thần được tàng giữ; nếu躁 động th́ tiêu hao mất đi. Ăn uống quá độ th́ trường vị bị tổn thương.
Giải thích: Câu này trên cơ sở đoạn trước đă nêu các nhân tố gây bệnh bên ngoài của ngũ tạng lục phủ, tiếp tục nhấn mạnh nhân tố bên trong làm phát sinh chứng tư. Ngũ tạng chủ tàng âm tinh. Nếu t́nh chí không điều ḥa, làm rối loạn khí của ngũ tạng, th́ âm tinh không thể tàng giữ bên trong mà hao mất; đây là nội nhân làm phát sinh ngũ tạng tư. Ăn uống không điều độ, làm tổn thương trường vị, là nội nhân làm phát sinh lục phủ tư. V́ vậy, sự h́nh thành ngũ tạng lục phủ tư vừa có ngoại nhân là ngoại cảm phong hàn thấp khí, vừa có nội nhân là t́nh chí nội thương và ăn uống thất tiết. Hai mặt này cùng tác động, chính là mấu chốt h́nh thành chứng tư.
Quan hệ giữa dinh vệ chi khí và chứng tư
Nguyên văn
“Đế viết: Vinh vệ chi khí, diệc linh nhân tư hồ?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Khí vinh vệ cũng có thể làm cho người ta mắc chứng tư chăng?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi vai tṛ của dinh khí và vệ khí trong sự phát sinh chứng tư.
“Kỳ Bá viết: Vinh giả, thủy cốc chi tinh khí dă, ḥa điều ư ngũ tạng, sái trần ư lục phủ, năi năng nhập ư mạch dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Vinh là tinh khí của thủy cốc, ḥa điều ở ngũ tạng, phân bố ở lục phủ, rồi mới có thể vào trong mạch.
Giải thích: Vinh khí do thủy cốc tinh vi hóa sinh, tính chất nhu ḥa, đi vào mạch, nuôi dưỡng ngũ tạng lục phủ và toàn thân.
“Cố tuần mạch thượng hạ, quán ngũ tạng lạc lục phủ dă.”
Dịch nghĩa: Cho nên vinh khí theo mạch lên xuống, xuyên suốt ngũ tạng, liên lạc lục phủ.
Giải thích: Dinh khí vận hành trong mạch, theo hệ thống kinh mạch mà nuôi dưỡng tạng phủ, làm cho khí huyết toàn thân được điều ḥa.
“Vệ giả, thủy cốc chi hăn khí dă, kỳ khí phiêu tật hoạt lợi, bất năng nhập ư mạch dă.”
Dịch nghĩa: Vệ là hăn khí của thủy cốc, khí ấy nhanh mạnh, trơn lợi, không thể vào trong mạch.
Giải thích: Vệ khí cũng do thủy cốc hóa sinh, nhưng thuộc dương khí, tính chất mạnh nhanh, đi ngoài mạch, có chức năng ôn dưỡng, bảo vệ phần biểu.
“Cố tuần b́ phu chi trung, phân nhục chi gian, huân ư hoang mạc, tán ư hung phúc.”
Dịch nghĩa: Cho nên vệ khí đi trong da, giữa các lớp cơ nhục, hun ấm màng hoang, phân tán ở ngực bụng.
Giải thích: Vệ khí vận hành ở ngoài mạch, đi giữa b́ phu, phân nhục, hoang mạc, ngực bụng, có tác dụng ôn dưỡng cơ thể, bảo vệ tấu lư, chống ngoại tà.
“Nghịch kỳ khí tắc bệnh, ṭng kỳ khí tắc dũ, bất dữ phong hàn thấp khí hợp, cố bất vi tư.”
Dịch nghĩa: Làm trái khí ấy th́ bệnh, thuận theo khí ấy th́ khỏi; nếu không kết hợp với phong hàn thấp khí th́ không thành chứng tư.
Giải thích: Dinh vệ khí vận hành mất điều ḥa th́ cơ thể dễ sinh bệnh, nhưng bản thân dinh vệ rối loạn chưa nhất định thành chứng tư. Chỉ khi dinh vệ thất điều lại gặp phong hàn thấp tà xâm nhập, hai bên kết hợp, kinh lạc bế trở, mới thành chứng tư.
“Đế viết: Thiện. Tư, hoặc thống, hoặc bất thống, hoặc bất nhân, hoặc hàn, hoặc nhiệt, hoặc táo, hoặc thấp, kỳ cố hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Chứng tư có khi đau, có khi không đau, có khi tê dại bất nhân, có khi hàn, có khi nhiệt, có khi táo, có khi thấp, nguyên nhân là ǵ?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi v́ sao chứng tư có biểu hiện lâm sàng khác nhau tùy từng người, từng tà khí, từng vị trí bệnh.
“Kỳ Bá viết: Thống giả, hàn khí đa dă, hữu hàn cố thống dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Đau là do hàn khí nhiều; có hàn nên đau.
Giải thích: Hàn tà có tính ngưng trệ, thu dẫn, làm khí huyết không thông, kinh mạch co rút, v́ vậy gây đau.
“Kỳ bất thống bất nhân giả, bệnh cửu nhập thâm, vinh vệ chi hành sáp, kinh lạc thời sơ, cố bất thông, b́ phu bất vinh, cố vi bất nhân.”
Dịch nghĩa: Loại không đau mà tê dại bất nhân là do bệnh lâu ngày vào sâu, sự vận hành của vinh vệ bị sáp trệ, kinh lạc có lúc hư rỗng, cho nên không thông; da thịt không được nuôi dưỡng, nên thành bất nhân.
Giải thích: Bất nhân là tê dại, cảm giác kém. Bệnh lâu vào sâu làm dinh vệ không thông, da thịt mất nuôi dưỡng, nên dù không đau rơ nhưng có tê b́, mất cảm giác.
“Kỳ hàn giả, dương khí thiểu, âm khí đa, dữ bệnh tương ích, cố hàn dă.”
Dịch nghĩa: Loại hàn là do dương khí ít, âm khí nhiều, lại cùng bệnh tà hỗ trợ nhau, nên thành hàn.
Giải thích: Người vốn dương hư âm thịnh, lại cảm hàn thấp âm tà, đồng khí tương cầu, làm hàn tượng càng rơ.
“Kỳ nhiệt giả, dương khí đa, âm khí thiểu, bệnh khí thắng, dương thừa âm, cố vi tư nhiệt.”
Dịch nghĩa: Loại nhiệt là do dương khí nhiều, âm khí ít, bệnh khí thắng, dương thắng âm, nên thành tư nhiệt.
Giải thích: Người vốn dương thịnh hoặc tà khí theo dương hóa nhiệt, dương khí thắng âm tà, khiến chứng tư chuyển thành nhiệt, biểu hiện đỏ nóng, đau nóng, phiền nhiệt.
“Kỳ đa hăn nhi nhu giả, thử kỳ phùng thấp thậm dă, dương khí thiểu, âm khí thịnh, lưỡng khí tương cảm, cố hăn xuất nhi nhu dă.”
Dịch nghĩa: Loại ra nhiều mồ hôi mà ẩm ướt là do gặp thấp tà rất nặng, dương khí ít, âm khí thịnh, hai khí cảm ứng với nhau, nên mồ hôi ra mà ẩm ướt.
Giải thích: Thấp là âm tà, người vốn dương khí bất túc, âm khí thịnh, lại cảm thấp tà, trong ngoài đồng khí tương cảm, làm tấu lư không kín, mồ hôi ẩm ướt không khô.
“Đế viết: Phù tư chi vi bệnh, bất thống hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Chứng tư là bệnh, v́ sao có khi không đau?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về cơ chế chứng tư không biểu hiện bằng đau mà biểu hiện bằng nặng, tê, co rút hoặc lạnh.
“Kỳ Bá viết: Tư tại ư cốt tắc trọng, tại ư mạch tắc huyết ngưng nhi bất lưu, tại ư cân tắc khuất bất thân, tại ư nhục tắc bất nhân, tại ư b́ tắc hàn, cố cụ thử ngũ giả, tắc bất thống dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Tư ở xương th́ nặng; ở mạch th́ huyết ngưng không chảy; ở gân th́ co mà không duỗi; ở thịt th́ tê dại bất nhân; ở da th́ lạnh. V́ có đủ năm điều này nên không đau.
Giải thích: Chứng tư không nhất thiết đều lấy đau làm chủ. Khi tà ở xương th́ nặng nề; ở mạch th́ huyết ứ; ở gân th́ co rút; ở cơ nhục th́ tê dại; ở da th́ lạnh. Các biểu hiện này đều là dạng bế trở, nhưng không phải lúc nào cũng đau rơ.
“Phàm tư chi loại, phùng hàn tắc cấp, phùng nhiệt tắc túng.”
Dịch nghĩa: Phàm các loại chứng tư, gặp lạnh th́ co gấp, gặp nóng th́ giăn ra.
Giải thích: Hàn làm kinh mạch co rút, đau cứng tăng; nhiệt làm khí huyết lưu thông hơn, kinh mạch thư giăn, nên triệu chứng co cứng giảm.
“Đế viết: Thiện.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm.
Giải thích: Hoàng Đế tán thành phần giải thích về quan hệ giữa dinh vệ, hàn nhiệt thấp và các biểu hiện khác nhau của chứng tư.
Trích Tố Vấn, thiên Tư Luận.
Chú thích
1. “Ḥa điều ư ngũ tạng, sái trần ư lục phủ.”
Giải thích: “Sái trần” là phân bố, rải khắp. “Phủ” tức “phủ”. Câu này là hỗ văn, nên hiểu là dinh khí có thể ḥa điều và phân bố ở cả ngũ tạng lục phủ.
2. “Thủy cốc chi hăn khí.”
Giải thích: “Hăn” là mạnh mẽ, dũng mănh. Cụm này miêu tả vệ khí vận hành nhanh mạnh, lưu lợi. Trương Giới Tân chú:
“Vệ khí giả, dương khí dă. Dương khí chi chí, phù thịnh nhi tật, cố viết hăn khí.”
Dịch nghĩa: Vệ khí là dương khí. Dương khí đến th́ nổi thịnh mà nhanh, nên gọi là hăn khí.
Giải thích: Vệ khí thuộc dương, đi ngoài mạch, tính nhanh mạnh, có chức năng bảo vệ biểu và ôn dưỡng toàn thân.
3. “Hoang mạc.”
Giải thích: Tức các màng cân mạc giữa nội tạng trong khoang ngực bụng. Trương Giới Tân chú:
“Hoang giả, phàm xoang phúc nhục lư chi gian, thượng hạ không khích chi xứ, giai vị chi hoang; mạc, cân mạc dă.”
Dịch nghĩa: Hoang là các khoảng trống trên dưới giữa thớ thịt trong khoang bụng ngực; mạc là cân mạc.
Giải thích: Vệ khí không chỉ đi ngoài da mà c̣n ôn dưỡng các khoảng mô, màng, ngực bụng bên trong.
4. “Sơ.”
Giải thích: Nghĩa là rỗng, hư, không đầy đủ.
5. “Dương khí thiểu, âm khí đa.”
Giải thích: Ở đây chỉ thể chất người bệnh thuộc dương hư âm thịnh. Những câu sau nói âm dương nhiều ít cũng theo nghĩa này.
6. “Dương thừa âm.”
Giải thích: “Thừa” trong Châm Cứu Giáp Ất Kinh chép là “thừa”, nghĩa là chiến thắng. Tức thể chất dương thịnh thắng được hàn thấp âm tà, khiến tà theo dương mà hóa nhiệt.
7. “Lưỡng khí tương cảm.”
Giải thích: Chỉ âm khí thiên thịnh trong cơ thể và hàn thấp âm tà bên ngoài cùng khí tương cầu, cảm ứng lẫn nhau.
Phân tích
Đoạn này luận về quan hệ giữa dinh vệ chi khí và chứng tư.
. Dinh vệ thất điều là cơ chế bên trong quan trọng của chứng tư
“Nghịch kỳ khí tắc bệnh.”
Dịch nghĩa: Làm trái khí ấy th́ sinh bệnh.
Giải thích: Nếu sự vận hành của dinh khí và vệ khí bị rối loạn, không c̣n thuận theo quy luật b́nh thường, cơ thể sẽ dễ phát bệnh.
“Bất dữ phong hàn thấp khí hợp, cố bất vi tư.”
Dịch nghĩa: Nếu không kết hợp với phong hàn thấp khí th́ không thành chứng tư.
Giải thích: Dinh vệ thất điều là điều kiện bên trong, nhưng muốn thành chứng tư c̣n cần có phong hàn thấp tà bên ngoài xâm nhập và kết hợp với sự rối loạn bên trong.
Kinh văn tiến thêm một bước luận rằng trong phát bệnh của chứng tư, dinh vệ thất điều là cơ chế nội tại quan trọng; lại do phong hàn thấp tà xâm nhập, hai loại khí kết hợp với nhau mà h́nh thành chứng tư.
Dinh khí tinh chuyên, nhu thuận, có thể vào trong mạch, theo mạch lên xuống, tưới rót ngũ tạng lục phủ, nhu dưỡng toàn thân. Vệ khí mạnh nhanh, trơn lợi, không vào trong mạch, mà đi giữa da thịt, phân nhục, ôn ấm hoang mạc, phân bố ở ngực bụng. Nếu cơ thể bẩm phú bất túc, dinh âm không thể vào trong mạch để ḥa điều ngũ tạng, phân bố lục phủ, th́ vệ khí cũng v́ vậy mà bất túc.
Dinh vệ không ḥa, tấu lư thưa lỏng, hàng rào bảo vệ không vững, kinh mạch sáp trệ, gân xương, cơ nhục, ngũ tạng lục phủ mất sự nhu dưỡng và ôn ấm. Lúc này nếu có phong hàn thấp tà xâm nhập, mạch lạc bế trở, khí huyết ngưng trệ, liền h́nh thành chứng tư. Kinh văn không những nhấn mạnh quan hệ giữa chứng tư với dinh vệ thất điều, mà c̣n nhấn mạnh quan điểm phát bệnh lấy nội nhân làm chủ, đồng thời cung cấp căn cứ lư luận cho việc lâm sàng dùng phép điều ḥa dinh vệ để điều trị chứng tư.
(2). Triệu chứng lâm sàng của chứng tư khác nhau tùy bệnh vị, thể chất, tà khí và khí hậu
Chứng tư có biểu hiện khác nhau do bộ vị phát bệnh, thể chất cá nhân, thuộc tính tà khí và khí hậu không giống nhau. Nếu hàn khí nhiều th́ đau; bệnh lâu vào sâu, dinh vệ vận hành sáp trệ, da thịt không được nuôi dưỡng th́ bất nhân; người dương hư âm thịnh lại cảm hàn thấp th́ thành hàn tư; người dương thịnh hoặc tà theo dương hóa nhiệt th́ thành nhiệt tư; gặp thấp nặng, dương khí ít, âm khí thịnh th́ mồ hôi ra nhiều mà thân thể ẩm ướt. V́ vậy biện chứng chứng tư không thể chỉ nh́n một chữ “đau”, mà phải xét đầy đủ hàn, nhiệt, táo, thấp, đau, không đau, bất nhân, nặng nhẹ và bệnh vị nông sâu.
Bộ vị phát bệnh và triệu chứng: Tư ở xương th́ nặng nề; ở mạch th́ huyết lưu thông không thuận; ở gân th́ co gấp không duỗi ra được; ở cơ nhục th́ tê dại bất nhân; ở da th́ lạnh.
Thể chất và triệu chứng: Thể chất dương hư âm thịnh phần nhiều thấy hàn tượng; thể chất dương thịnh âm hư phần nhiều thấy nhiệt tượng.
Tà khí và triệu chứng: Hàn khí nhiều th́ thấy đau; thấp khí nặng th́ thấy nhiều mồ hôi mà ẩm ướt.
Khí hậu và triệu chứng:
“Phùng hàn tắc cấp, phùng nhiệt tắc túng.”
Dịch nghĩa: Gặp lạnh th́ co gấp, gặp nóng th́ giăn ra.
Giải thích: Hàn chủ thu dẫn, cho nên chứng gặp lạnh th́ co rút, câu cấp; được nhiệt th́ khí huyết lưu thông, kinh mạch thư giăn nên triệu chứng giảm nhẹ.
Bệnh nhân bệnh cơ và điều trị của chúng tư và chu tư
Nguyên văn
“Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Chu tư chi tại thân dă, thượng hạ di tỉ, tùy mạch nhi thượng hạ, tả hữu tương ứng, gian bất dung không, nguyện văn thử thống, tại huyết mạch chi trung da? Tương tại phân nhục chi gian hồ? Hà dĩ trí thị?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá: Chu tư ở trong thân thể, trên dưới di chuyển, theo mạch mà lên xuống, trái phải tương ứng, đau liên tục không có khoảng trống; ta muốn nghe chứng đau này là ở trong huyết mạch chăng? Hay ở giữa phân nhục? Do đâu mà đến như vậy?
Giải thích: Hoàng Đế nêu đặc điểm đau du tẩu, trên dưới, trái phải liên hệ nhau, phát tác liên tục, rồi hỏi bệnh vị của chứng này nằm ở huyết mạch hay ở khoảng phân nhục.
“Kỳ thống chi di dă, gian bất cập hạ châm, kỳ súc thống chi thời, bất cập định trị, nhi thống dĩ chỉ hĩ, hà đạo sử nhiên? Nguyện văn kỳ cố.”
Dịch nghĩa: Khi đau di chuyển, khoảng thời gian không kịp hạ châm; lúc đau tụ lại một chỗ, chưa kịp xác định phép trị th́ đau đă dừng. Do đạo lư nào khiến như vậy? Xin được nghe nguyên nhân.
Giải thích: Câu này mô tả đau chuyển biến rất nhanh, vừa định châm vào chỗ đau th́ đau đă đổi nơi hoặc tự dừng, cho thấy tà khí vận động, khí huyết biến hóa rất nhanh.
“Kỳ Bá đáp viết: Thử chúng tư dă, phi chu tư dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Đây là chúng tư, không phải chu tư.
Giải thích: Kỳ Bá phân biệt rơ: loại đau phát từng chỗ, đối xứng trái phải, lúc phát lúc dừng, không phải chu lưu toàn thân liên tục th́ gọi là chúng tư, không phải chu tư.
“Hoàng Đế viết: Nguyện văn chúng tư.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin được nghe về chúng tư.
Giải thích: Hoàng Đế yêu cầu giải thích riêng về bệnh cơ và biểu hiện của chúng tư.
“Kỳ Bá đối viết: Thử các tại kỳ xứ, canh phát canh chỉ, canh cư canh khởi, dĩ hữu ứng tả, dĩ tả ứng hữu, phi năng chu dă, canh phát canh hưu dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Chứng này mỗi chỗ ở tại vị trí riêng, khi phát khi dừng, khi ở chỗ này khi khởi chỗ kia, bên phải ứng với bên trái, bên trái ứng với bên phải; nó không thể chu lưu toàn thân, mà chỉ là thay nhau phát, thay nhau nghỉ.
Giải thích: Chúng tư có đặc điểm đau từng điểm hoặc từng vùng, trái phải đối ứng, phát từng cơn, không phải đau lan khắp theo đường mạch toàn thân.
“Hoàng Đế viết: Thiện. Thử thống an sinh? Hà nhân nhi hữu danh?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Chứng đau này sinh ra thế nào? V́ nguyên nhân ǵ mà có tên như vậy?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi bệnh nhân bệnh cơ và căn cứ đặt tên của chúng tư.
“Kỳ Bá đối viết: Phong hàn thấp khí, khách ư ngoại phân nhục chi gian, bách thiết nhi vi mạt.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Phong, hàn, thấp khí khách ở bên ngoài, giữa khoảng phân nhục, áp bức mà thành chất bọt nhớt.
Giải thích: Tà khí phong hàn thấp lưu ở phân nhục, ép vào mô cơ khiến tân dịch ngưng tụ thành đàm mạt, tức chất dịch nhớt bệnh lư.
“Mạt đắc hàn tắc tụ, tụ tắc bài phân nhục nhi phân liệt dă.”
Dịch nghĩa: Chất mạt gặp hàn th́ tụ lại; tụ lại th́ đẩy ép phân nhục làm thớ thịt tách nứt.
Giải thích: Hàn làm dịch tụ, khí huyết không thông. Khi đàm mạt và hàn tà tụ ở giữa cơ nhục, nó ép vào thớ thịt, làm khí huyết bị chia cắt, gây đau.
“Phân liệt tắc thống, thống tắc thần quy chi, thần quy chi tắc nhiệt.”
Dịch nghĩa: Phân nhục bị tách nứt th́ đau; đau th́ thần quy về đó; thần quy về đó th́ sinh nhiệt.
Giải thích: “Thần” ở đây chỉ huyết khí. Khi đau, huyết khí tập trung về chỗ đau, khí huyết tụ lại th́ sinh nhiệt.
“Nhiệt tắc thống giải, thống giải tắc quyết, quyết tắc tha tư phát, phát tắc như thị.”
Dịch nghĩa: Có nhiệt th́ đau được giải; đau giải th́ khí nghịch quyết; quyết th́ chứng tư ở chỗ khác lại phát; phát ra cũng như vậy.
Giải thích: Khi khí huyết tụ lại sinh nhiệt, hàn tà tạm tan nên chỗ đau giảm. Nhưng tà khí chưa hết, khí nghịch c̣n tồn tại, nên lại chuyển sang nơi khác, phát thành một cơn đau mới.
“Đế viết: Thiện. Dư dĩ đắc kỳ ư hĩ. Thử nội bất tại tạng, nhi ngoại vị phát ư b́, độc cư phân nhục chi gian, chân khí bất năng chu, cố mệnh viết chu tư.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Ta đă hiểu ư ấy. Bệnh này bên trong không ở tạng, bên ngoài chưa phát ra da, chỉ ở giữa phân nhục, chân khí không thể chu lưu, nên gọi là chu tư.
Giải thích: Theo chú thích, chữ “chu tư” ở đây nhiều khả năng là chép nhầm của “chúng tư”. Ư chính là tà không vào sâu tạng phủ, cũng chưa ra ngoài da, mà lưu ở giữa phân nhục, làm chân khí không chu lưu.
“Hoàng Đế viết: Thiện. Thích chi nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Châm trị như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi phương pháp châm thích đối với chúng tư.
“Kỳ Bá đối viết: Thích thử giả, thống tuy dĩ chỉ, tất thích kỳ xứ, vật linh phục khởi.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Châm loại này, dù đau đă dừng, vẫn phải châm vào chỗ ấy, đừng để nó tái phát.
Giải thích: Chúng tư phát tác từng cơn, đau có thể tạm dừng nhưng tà khí vẫn lưu lại. V́ vậy phải châm đúng chỗ đau trước đó để trừ căn, pḥng tái phát.
“Đế viết: Thiện. Nguyện văn chu tư hà như?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Xin được nghe chu tư là như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế tiếp tục hỏi về chứng chu tư thật sự.
“Kỳ Bá đối viết: Chu tư giả, tại ư huyết mạch chi trung, tùy mạch dĩ thượng, tùy mạch dĩ hạ, bất năng tả hữu, các đương kỳ sở.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Chu tư ở trong huyết mạch, theo mạch mà đi lên, theo mạch mà đi xuống, không thể chuyển trái phải, mỗi chứng đều đúng theo nơi của mạch ấy.
Giải thích: Chu tư bệnh ở huyết mạch, nên đau đi theo đường mạch lên xuống, không phải trái phải đối ứng như chúng tư. Đường đau có quy luật theo kinh mạch.
“Hoàng Đế viết: Thích chi nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Châm trị như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi phương pháp châm đối với chu tư trong huyết mạch.
“Kỳ Bá đối viết: Thống ṭng thượng hạ giả, tiên thích kỳ hạ dĩ quá chi, hậu thích kỳ thượng dĩ thoát chi.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Đau từ trên xuống dưới th́ trước châm phía dưới để ngăn nó, sau châm phía trên để giải thoát nó.
Giải thích: Nếu tà khí theo mạch từ trên đi xuống, trước châm phía dưới để chặn đường tiến, sau châm phía trên để trừ tà gốc.
“Thống ṭng hạ thượng giả, tiên thích kỳ thượng dĩ quá chi, hậu thích kỳ hạ dĩ thoát chi.”
Dịch nghĩa: Đau từ dưới lên trên th́ trước châm phía trên để ngăn nó, sau châm phía dưới để giải thoát nó.
Giải thích: Nếu tà khí theo mạch từ dưới đi lên, trước châm phía trên để chặn tà, sau châm phía dưới để cắt đường lui và trừ tà.
“Cố thích tư giả, tất tiên thiết tuần kỳ hạ chi lục kinh, thị kỳ hư thực, cập đại lạc chi huyết kết nhi bất thông, cập hư nhi mạch hăm không giả nhi điều chi.”
Dịch nghĩa: Cho nên châm chứng tư, trước hết phải ấn nắn ḍ xét sáu kinh phía dưới chỗ bệnh, xem hư thực, cùng với t́nh trạng đại lạc có huyết kết không thông, hoặc hư mà mạch lơm rỗng, rồi điều trị.
Giải thích: Trước khi châm phải dùng thiết chẩn để khảo sát đường kinh, phân biệt hư thực, xem có huyết ứ kết ở đại lạc hay mạch hư lơm hay không, rồi chọn phép bổ tả thích hợp.
“Ủy nhi thông chi, kỳ xí kiên chuyển, dẫn nhi hành chi.”
Dịch nghĩa: Dùng phép ôn ủi để thông nó; nếu có co rút cứng chắc, xoay vặn, th́ dẫn khí mà làm cho nó vận hành.
Giải thích: Có thể dùng ôn ủi để làm thông kinh mạch. Nếu có co rút, chuyển gân, cứng đau, th́ dùng châm để dẫn khí huyết vận hành, làm mềm gân, thông lạc.
“Hoàng Đế viết: Thiện. Dư dĩ đắc kỳ ư hĩ, diệc đắc kỳ sự dă.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Ta đă hiểu ư nghĩa ấy, cũng nắm được cách làm ấy.
Giải thích: Hoàng Đế xác nhận đă hiểu cả lư luận và phương pháp chẩn trị.
“Cửu giả, kinh tốn thất chi lư, thập nhị kinh mạch âm dương chi bệnh dă.”
Dịch nghĩa: Chín điều ấy là lư của kinh cụ, là bệnh của mười hai kinh mạch âm dương.
Giải thích: Câu này có nhiều nghi vấn văn bản. Một thuyết cho rằng “cửu” chỉ cửu châm, “tốn” là công cụ, nghĩa là phải nắm rơ tính năng của chín loại kim để trị bệnh mười hai kinh âm dương. Một thuyết khác cho rằng câu này có thể là đoạn lạc giản hoặc chép nhầm từ thiên khác.
Trích Linh Khu, thiên Chu Tư.

Chú thích
1. “Di tỉ.”
Giải thích: Nghĩa là di chuyển, du tẩu.
2. “Tùy mạch thượng hạ.”
Giải thích: Bản Thái Tố không có chữ “kỳ”. Ư nói chứng đau theo đường mạch mà đi lên hoặc đi xuống.
3. “Tả hữu tương ứng.”
Giải thích: Nói vị trí đau bên trái và bên phải tương ứng, đối xứng nhau.
4. “Gian bất dung không.”
Giải thích: Nói đau phát chỗ này rồi chỗ khác, liên tục không ngừng, không có khoảng gián đoạn.
5. “Tà”
Giải thích: Thông với “tà” trong câu nghi vấn, là trợ từ biểu thị nghi vấn.
6. “Súc thống.”
Giải thích: “Súc” trong Châm Cứu Giáp Ất Kinh và Thái Tố đều viết là “súc”. Nghĩa là tích tụ, dồn lại. “Súc thống” là đau tụ tại một chỗ.
7. “Bất cập định trị, nhi thống dĩ chỉ hĩ.”
Giải thích: Câu này nói vị trí đau di chuyển rất nhanh, cùng nghĩa với câu trước “đau di chuyển, không kịp hạ châm”.
8. “Bách thiết nhi vi mạt.”
Giải thích: “Bách thiết” là áp bức; “mạt” là chất đàm dịch loăng nhớt. Ư nói tà khách ở giữa phân nhục, ép vào phân nhục, làm tân dịch ngưng tụ thành đàm mạt.
9. “Bài phân nhục nhi phân liệt.”
Giải thích: Nghĩa là đẩy ép phân nhục, làm thớ thịt tách nứt.
10. “Thần quy chi tắc nhiệt.”
Giải thích: “Thần” ở đây chỉ huyết khí. Tố Vấn, thiên Bát Chính Thần Minh Luận nói:
“Huyết khí giả, nhân chi thần.”
Dịch nghĩa: Huyết khí là thần của con người.
Giải thích: “Thần quy chi” tức huyết khí tập trung về nơi đau, v́ vậy sinh nhiệt.
11. “Nhiệt tắc thống giải, thống giải tắc quyết.”
Giải thích: Trương Giới Tân chú:
“Nhiệt tắc hàn tán nhi thống tạm giải, nhiên kỳ nghịch khí do tại, cố thống tuy giải nhi quyết vị trừ.”
Dịch nghĩa: Có nhiệt th́ hàn tán mà đau tạm giải; nhưng nghịch khí vẫn c̣n, nên đau tuy giải mà quyết chưa trừ.
Giải thích: Đau giảm không có nghĩa là tà đă hết, mà chỉ là chỗ đau tạm thời được giải, sau đó tà có thể chuyển sang nơi khác.
12. “Đế viết: Thiện. Dư dĩ đắc kỳ ư hĩ.”
Giải thích: Trương Giới Tân chú rằng câu này là phần văn phía dưới bị chép lặp nhầm lên đây, nay nên bỏ.
13. “Chân khí bất năng chu.”
Giải thích: Phong hàn thấp khí khách ở giữa phân nhục, ép khiến đàm mạt tụ lại, đẩy phân nhục, làm lạc mạch bị trở ngại, khiến chân khí không thể chu lưu. Trương Giới Tân chú:
“Chân khí bất năng chu, tức khí bế bất hành dă, cố viết tư giả bế dă.”
Dịch nghĩa: Chân khí không thể chu lưu tức là khí bị bế không đi, cho nên nói tư là bế.
Giải thích: Đây là bệnh cơ cốt lơi của tư: khí huyết không thông, chân khí không chu lưu.
14. “Chu tư.”
Giải thích: Nơi này nên là lỗi chép của “chúng tư”. Lâu Anh trong Y Học Cương Mục nói:
“Chu tư đương tác chúng tư. Phù chu tư tà tại phân nhục huyết mạch, kim vân tà độc cư phân nhục chi gian, nhi mệnh viết chu tư giả, thị chúng tư chi ngộ vi chu tư dă minh hĩ.”
Dịch nghĩa: “Chu tư” nên viết là “chúng tư”. Chu tư th́ tà ở phân nhục và huyết mạch, nay nói tà chỉ ở giữa phân nhục mà gọi là chu tư, rơ ràng là chữ chúng tư bị chép nhầm thành chu tư.
Giải thích: Theo ư văn, đoạn này đang nói về chúng tư, không phải chu tư.
15. “Quá.”
Giải thích: Bản Thái Tố viết là “át”. “Át” nghĩa là ngăn lại, tức ngăn tà khí tiếp tục phát triển về phía trước.
16. “Thoát.”
Giải thích: Nghĩa là cắt đường trở về, loại bỏ tà khí.
17. “Tất tiên thiết tuần kỳ hạ chi lục kinh.”
Giải thích: “Kỳ hạ” là phía dưới bộ vị đau. Châm Cứu Giáp Ất Kinh viết là “tuần thiết kỳ thượng hạ chi đại kinh”, tức ḍ xét ấn nắn các đại kinh trên dưới chỗ bệnh.
18. “Kỳ xí kiên chuyển.”
Giải thích: “Xí kiên chuyển” chỉ chuyển gân, co rút, ấn vào thấy cứng. Trương Giới Tân chú:
“Kỳ xí kiên chuyển giả, xí cấp chuyển cân chi vị, đương châm dẫn kỳ khí nhi hành chi dă.”
Dịch nghĩa: Xí kiên chuyển là co gấp, chuyển gân; nên châm để dẫn khí vận hành.
Giải thích: Khi gân cơ co rút cứng chắc, phải thông khí huyết, thư cân hoạt lạc.
19. “Cửu giả, kinh tốn chi lư, thập nhị kinh mạch âm dương chi bệnh dă.”
Giải thích: Một thuyết cho rằng “cửu” chỉ cửu châm. “Tốn” là đầy đủ, ở đây chỉ dụng cụ y liệu, tức cửu châm. “Kinh tốn chi lư” nghĩa là nắm rơ tính năng của cửu châm và vận dụng chính xác. Một thuyết khác cho rằng mười lăm chữ này không nối liền với văn trên, nghi có lạc giản, chép nhầm. Lưu Hành Như chú校 rằng:
“Nghi thị tha thiên thác giản, thả hữu thoát ngộ.”
Dịch nghĩa: Nghi là thẻ sách của thiên khác lẫn vào, lại có chỗ mất chữ, nhầm chữ.
Giải thích: Đây là vấn đề văn bản học, khi dịch nên ghi nhận sự bất định của câu này.
Phân tích
Chu tư và chúng tư đều thuộc một loại chứng tư trong Trung y, đều lấy chi thể đau nhức, phát tác lặp lại làm chủ chứng, nhưng tuy cùng là tư chứng, mỗi loại lại có đặc điểm chứng hậu riêng.
“Chu tư.”
Giải thích: Đặc điểm của chu tư là đau cơ nhục toàn thân, đau du tẩu quanh thân, bệnh vị liên quan huyết mạch, đau theo mạch lên xuống.
“Chúng tư.”
Giải thích: Đặc điểm của chúng tư là đau trên dưới, trái phải có tính đối xứng, đau phát từng cơn, chỗ này phát chỗ kia dừng, biến hóa tuy nhanh nhưng không chu lưu toàn thân.
Về bệnh nhân, bệnh cơ và phân loại chứng hậu của các loại tư, Tố Vấn, thiên Tư Luận có luận述 chi tiết hơn, có thể tham khảo đối chiếu.
Về chẩn trị hai loại này, thiên này chỉ rơ trước hết có thể dùng phương pháp thiết tuần, ấn nắn để chẩn đoán và phân biệt tà khí ở đâu, phân rơ thuộc hư hay thực; sau đó hoặc dùng ôn ủi, hoặc dùng châm thích, lựa chọn phương pháp phù hợp với bệnh cơ và chứng hậu. Những nguyên tắc này không chỉ xuyên suốt tư tưởng biện chứng luận trị, thích hợp với chẩn trị các loại chứng, mà c̣n cung cấp gợi ư hữu ích cho đời sau trong chẩn trị chứng tư.
Bệnh cơ và chứng hậu của ngũ thể nuy
Nguyên văn
“Hoàng Đế vấn viết: Ngũ tạng sử nhân nuy, hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Ngũ tạng làm cho người ta mắc chứng nuy là v́ sao?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi nguyên nhân v́ sao bệnh biến ở ngũ tạng có thể dẫn đến nuy chứng, tức chứng gân cơ mềm yếu, chi thể teo yếu, vận động khó khăn.
“Kỳ Bá đối viết: Phế chủ thân chi b́ mao, tâm chủ thân chi huyết mạch, can chủ thân chi cân mạc, tỳ chủ thân chi cơ nhục, thận chủ thân chi cốt tủy.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Phế chủ b́ mao của thân thể, tâm chủ huyết mạch của thân thể, can chủ cân mạc của thân thể, tỳ chủ cơ nhục của thân thể, thận chủ cốt tủy của thân thể.
Giải thích: Ngũ tạng liên hệ với ngũ thể: phế hợp b́ mao, tâm hợp huyết mạch, can hợp cân mạc, tỳ hợp cơ nhục, thận hợp cốt tủy. Khi tạng bị nhiệt làm tổn thương, bộ phận cơ thể mà tạng ấy chủ quản sẽ suy yếu mà thành nuy.
“Cố phế nhiệt diệp tiêu, tắc b́ mao hư nhược cấp bạc, trước tắc sinh nuy tích dă.”
Dịch nghĩa: Cho nên phế nhiệt làm lá phế khô cháy, th́ b́ mao hư nhược, co gấp và mỏng yếu; lâu ngày th́ sinh nuy tích.
Giải thích: Phế bị nhiệt làm tổn thương, tân dịch không tuyên bố ra b́ mao, da lông mất nuôi dưỡng, trở nên hư yếu, co rút, mỏng yếu; lâu ngày chi thể yếu liệt, khó đi lại.
“Tâm khí nhiệt, tắc hạ mạch quyết nhi thượng, thượng tắc hạ mạch hư, hư tắc sinh mạch nuy, khu chiết khiết, hĩnh túng nhi bất nhiệm địa dă.”
Dịch nghĩa: Tâm khí nhiệt th́ mạch phía dưới quyết nghịch đi lên; đă đi lên th́ mạch phía dưới hư. Hư th́ sinh mạch nuy, khớp trục găy yếu, cẳng chân mềm lỏng không thể đứng vững trên đất.
Giải thích: Tâm chủ huyết mạch. Tâm nhiệt làm huyết mạch mất điều ḥa, khí huyết phần dưới không đủ, mạch hư không nuôi dưỡng được chi dưới, nên sinh mạch nuy, chân mềm yếu không chịu được sức nặng.
“Can khí nhiệt, tắc đởm tiết khẩu khổ, cân mạc càn, cân mạc càn tắc cân cấp nhi loan, phát vi cân nuy.”
Dịch nghĩa: Can khí nhiệt th́ đởm tiết ra làm miệng đắng, cân mạc khô; cân mạc khô th́ gân co gấp mà co rút, phát thành cân nuy.
Giải thích: Can chủ cân, can đởm có quan hệ biểu lư. Can nhiệt làm đởm khí tiết nghịch nên miệng đắng; nhiệt làm tổn thương âm huyết, cân mạc mất nhu dưỡng nên khô, gân co rút, phát thành cân nuy.
“Tỳ khí nhiệt, tắc vị càn nhi khát, cơ nhục bất nhân, phát vi nhục nuy.”
Dịch nghĩa: Tỳ khí nhiệt th́ vị khô mà khát, cơ nhục tê dại bất nhân, phát thành nhục nuy.
Giải thích: Tỳ chủ cơ nhục, tỳ nhiệt làm tân dịch vị bị hao, nên vị khô, khát; cơ nhục không được tỳ khí và tân dịch nuôi dưỡng, nên tê dại, yếu mềm, phát thành nhục nuy.
“Thận khí nhiệt, tắc yêu tích bất cử, cốt khô nhi tủy giảm, phát vi cốt nuy.”
Dịch nghĩa: Thận khí nhiệt th́ eo lưng, cột sống không nâng được, xương khô mà tủy giảm, phát thành cốt nuy.
Giải thích: Thận chủ cốt tủy. Thận nhiệt làm hao tổn tinh tủy, xương mất nuôi dưỡng, tủy giảm, nên eo lưng yếu, cột sống không nâng được, phát thành cốt nuy.
Trích Tố Vấn, thiên Nuy Luận.

Chú thích

1. “Phế nhiệt diệp tiêu.”
Giải thích: Bản Thái Tố và Châm Cứu Giáp Ất Kinh dưới chữ “phế” có thêm chữ “khí”, để thống nhất với các câu phía sau như “tâm khí nhiệt”, “can khí nhiệt”. Câu này h́nh dung trạng thái bệnh lư phế nhiệt đốt tổn tân dịch, làm phế diệp khô cháy.
2. “Cấp bạc.”
Giải thích: H́nh dung t́nh trạng da khô枯, không được nuôi dưỡng, cơ nhục gầy ṃn, da thịt căng mỏng.
3. “Trước.”
Giải thích: Nghĩa là lưu lại, bám lại không đi.
4. “Nuy tích.”
Giải thích: “Tích” chỉ chi dưới không thể vận động. “Nuy tích” ở đây nói chung về tứ chi mềm yếu, liệt yếu, không dùng được, bao gồm các loại nuy chứng được nói trong đoạn văn.
5. “Khu chiết khiết.”
Giải thích: “Khu” chỉ khớp, then khớp. “Khu chiết khiết” chỉ khớp hoạt động không linh hoạt, co duỗi không tự nhiên.

Phân tích
“Nuy.”
Dịch nghĩa: Chứng nuy.
Giải thích: “Nuy” có hai nghĩa: một là mềm yếu, suy yếu; hai là khô héo, teo枯. V́ vậy chứng nuy bao gồm hai mặt: tứ chi yếu liệt, không dùng được; và cơ nhục teo枯, không được nuôi dưỡng. Trên lâm sàng thường thấy trước tiên do chi thể yếu liệt, không dùng được, sau đó cơ nhục dần teo; cũng có trường hợp trước thấy cơ nhục teo, rồi dần dần không đi lại được. V́ vậy hai hiện tượng này có quan hệ nhân quả với nhau.

Chứng nuy được bàn trong tiết này có thể chia thành hai loại lớn: một là nuy thuộc loại mềm nhăo không thu giữ được, như “hĩnh túng”, tức cẳng chân mềm lỏng; hai là nuy thuộc loại co rút không duỗi ra được, như “cân cấp nhi loan”, tức gân co gấp mà co rút. Về bộ vị, lại có hạ chi nuy, tứ chi nuy và các chứng nuy từ lưng eo trở xuống; đồng thời có sự khác nhau giữa cảm giác da b́nh thường và cảm giác da bất thường.

“Ngũ tạng sử nhân nuy.”
Dịch nghĩa: Ngũ tạng khiến người ta phát sinh chứng nuy.
Giải thích: Câu này nêu căn nguyên của chứng nuy nằm ở ngũ tạng. Tuy biểu hiện bệnh ở tứ chi, gân cơ, xương khớp, nhưng gốc bệnh lại ở sự tổn thương tinh khí, tân dịch của ngũ tạng.

“Phế nhiệt diệp tiêu tắc sinh nuy tích.”
Dịch nghĩa: Phế nhiệt làm phế diệp khô cháy th́ sinh chứng nuy tích.
Giải thích: Đây là cơ chế phát bệnh quan trọng của chứng nuy. Bệnh biến tuy biểu hiện ở tứ chi, nhưng trong ngũ tạng th́ phế là then chốt.

Ngũ tạng tương hợp với ngũ thể: phế hợp với da lông, tỳ hợp với cơ nhục, can hợp với cân, thận hợp với cốt, tâm hợp với mạch. Ngũ thể phải nhờ tinh khí ngũ tạng nhu dưỡng. Nếu ngũ tạng khí nhiệt, nhiệt đốt tân dịch, tinh khí bị tổn thương, không thể nhu dưỡng ngũ thể, lâu ngày sẽ h́nh thành các loại nuy chứng.

Tố Vấn, thiên Kinh Mạch Biệt Luận nói:
“Thực khí nhập vị, trọc khí quy tâm, dâm tinh ư mạch. Mạch khí lưu kinh, kinh khí quy ư phế. Phế triều bách mạch, du tinh ư b́ mao.”
Dịch nghĩa: Khí của thức ăn vào vị, trọc khí quy về tâm, tinh khí thấm vào mạch. Mạch khí lưu hành trong kinh, kinh khí quy về phế. Phế triều hội trăm mạch, vận chuyển tinh khí ra b́ mao.
Giải thích: Câu này nói rơ tinh vi thủy cốc sau khi vào vị, qua sự vận hóa và khí hóa của tạng phủ, cuối cùng nhờ phế khí tuyên bố ra ngoài để nuôi dưỡng b́ mao và toàn thân.

“Ẩm nhập ư vị, du dật tinh khí, thượng du ư tỳ, tỳ khí tán tinh, thượng quy ư phế.”
Dịch nghĩa: Nước uống vào vị, tinh khí tràn lan phân bố, đi lên chuyển đến tỳ; tỳ khí tán bố tinh vi, đưa lên quy về phế.
Giải thích: Câu này nhấn mạnh tân dịch và tinh khí đều phải nhờ tỳ vận hóa, phế tuyên bố, mới có thể phân bố khắp cơ thể.

Điều này cho thấy tinh khí, tân dịch của ngũ tạng đều nhờ phế khí tuyên bố th́ mới có thể nhu dưỡng ngũ thể. Nếu phế có nhiệt, tân dịch bị nhiệt tà đốt tổn, khiến phế diệp khô cháy, b́ mao mất nuôi dưỡng, xuất hiện t́nh trạng “cấp bạc”. Nhiệt tà lưu lại không đi, dẫn đến hai chân mềm yếu, không thể đi lại, mà thành bệnh nuy tích.

Tâm chủ huyết mạch toàn thân. Tâm khí nhiệt th́ hỏa nhiệt bốc lên, khiến mạch khí ở hạ chi quyết nghịch đi lên mà phía dưới trở nên rỗng hư, mất chức năng nhu dưỡng gân xương, làm trơn lợi khớp xương, h́nh thành mạch nuy với biểu hiện khớp lỏng yếu, không giữ được.

Đởm phụ thuộc vào can, hai bên là biểu lư. Can khí nhiệt khiến đởm khí trào lên, nên có chứng miệng đắng. Can bên trong tàng âm huyết, bên ngoài hợp với cân mạc. Can khí nhiệt th́ đốt tổn âm huyết, cân mạc mất nuôi dưỡng, trở nên khô枯, co rút, mà thành cân nuy.

Tỳ chủ thay vị vận hành tân dịch. Tỳ khí nhiệt th́ tân dịch bị tổn thương, cơ nhục mất nhu dưỡng, cho nên h́nh thành chứng miệng khô mà khát, cơ nhục tê dại bất nhân, gọi là nhục nuy.

Thận phụ ở lưng eo, thận mạch xuyên qua cột sống. Thận khí nhiệt th́ xương khô, tủy giảm, h́nh thành cốt nuy, biểu hiện là lưng eo, cột sống không thể vận động tự nhiên.

Bệnh nhân và bệnh cơ cụ thể của chứng nuy
Nguyên văn

“Đế viết: Hà dĩ đắc chi?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: V́ sao mà mắc chứng ấy?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi nguyên nhân cụ thể dẫn đến các loại nuy chứng.

“Kỳ Bá viết: Phế giả, tạng chi trưởng dă, vi tâm chi cái dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Phế là trưởng của các tạng, là cái lọng che của tâm.
Giải thích: Phế ở vị trí cao trong lồng ngực, chủ khí, triều bách mạch, tuyên bố tinh khí tân dịch khắp toàn thân, nên gọi là trưởng của các tạng. Phế nằm trên che tâm, nên gọi là cái lọng của tâm.

“Hữu sở thất vong, sở cầu bất đắc, tắc phát phế minh.”
Dịch nghĩa: Có điều mất mát, vật yêu quư bị mất, điều mong cầu không đạt được, th́ phát thành phế minh.
Giải thích: T́nh chí uất kết, bi thương, thất vọng làm khí cơ uất trệ, ảnh hưởng phế khí, khiến hô hấp có tiếng, thở kḥ khè hoặc suyễn tức.

“Minh tắc phế nhiệt diệp tiêu.”
Dịch nghĩa: Phế minh th́ phế nhiệt, phế diệp khô cháy.
Giải thích: Phế khí uất trệ lâu ngày hóa nhiệt, nhiệt đốt tân dịch, làm phế diệp khô焦, không thể tuyên bố tân dịch, tinh khí.

“Cố viết: Ngũ tạng nhân phế nhiệt diệp tiêu, phát vi nuy tích, thử chi vị dă.”
Dịch nghĩa: Cho nên nói: Ngũ tạng do phế nhiệt, phế diệp khô cháy mà phát thành nuy tích, chính là ư này.
Giải thích: Câu này nhấn mạnh phế nhiệt diệp tiêu là khâu then chốt khiến ngũ tạng mất nuôi dưỡng và phát sinh chứng nuy. Tuy nhiên theo Châm Cứu Giáp Ất Kinh, đoạn này có thể là văn diễn thêm.

“Bi ai thái thậm, tắc bào lạc tuyệt.”
Dịch nghĩa: Bi thương quá mức th́ bào lạc bị ngăn tuyệt.
Giải thích: Bi ai quá độ làm tổn thương tâm bào lạc, khí huyết bị trở cách, tâm mạch không thông.

“Bào lạc tuyệt tắc dương khí nội động.”
Dịch nghĩa: Bào lạc bị ngăn tuyệt th́ dương khí động ở bên trong.
Giải thích: Tâm bào lạc bị trở, dương nhiệt không được điều đạt, uất lại bên trong mà động.

“Phát tắc tâm hạ băng, sác sưu huyết dă.”
Dịch nghĩa: Khi phát ra th́ dưới tâm như băng đổ, nhiều lần tiểu ra máu.
Giải thích: Tâm thuộc hỏa, chủ huyết. Dương nhiệt động bên trong, ép huyết vọng hành, đi xuống th́ thành tiểu ra máu nhiều lần.

“Cố Bản Bệnh viết: Đại kinh không hư, phát vi cơ tư, truyền vi mạch nuy.”
Dịch nghĩa: Cho nên sách Bản Bệnh nói: Đại kinh rỗng hư th́ phát thành cơ tư, rồi truyền thành mạch nuy.
Giải thích: Đại kinh hư rỗng, khí huyết không đầy đủ, cơ nhục và mạch lạc mất nuôi dưỡng, trước có thể thành chứng tư của cơ nhục, sau truyền thành mạch nuy.

“Tư tưởng vô cùng, sở nguyện bất đắc, ư dâm ư ngoại.”
Dịch nghĩa: Suy nghĩ không cùng, điều mong muốn không đạt được, tà niệm phóng túng ra ngoài.
Giải thích: Tư lự quá độ, dục vọng không được thỏa, ư niệm vọng động, làm can khí uất, tinh huyết hao.

“Nhập pḥng thái thậm, tông cân tŕ túng, phát vi cân nuy, cập vi bạch dâm.”
Dịch nghĩa: Pḥng sự quá mức, tông cân mềm nhăo buông lỏng, phát thành cân nuy, đồng thời thành bạch dâm.
Giải thích: Pḥng sự quá độ làm hao tổn can thận tinh huyết, tông cân mất nuôi dưỡng, nên dương sự suy yếu, gân mềm không cương; nam có thể di tinh, hoạt tinh, nữ có thể bạch đới.

“Cố Hạ Kinh viết: Cân nuy giả, sinh ư can, sử nội dă.”
Dịch nghĩa: Cho nên Hạ Kinh nói: Cân nuy sinh ra từ can, do pḥng sự gây nên.
Giải thích: Can chủ cân, can tàng huyết. Pḥng sự quá độ làm tổn thương can thận, tinh huyết không nuôi cân, nên thành cân nuy.

“Hữu tiệm ư thấp, dĩ thủy vi sự, nhược hữu sở lưu, cư xứ tương thấp, cơ nhục nhu tí, tư nhi bất nhân, phát vi nhục nuy.”
Dịch nghĩa: Có người bị thấp thấm nhiễm, làm việc thường xuyên với nước, như có thủy thấp lưu lại, nơi ở ẩm thấp, cơ nhục bị thấm ướt, tư trở mà tê dại bất nhân, phát thành nhục nuy.
Giải thích: Thấp tà lâu ngày làm tổn thương tỳ, cơ nhục bị thủy thấp ngâm thấm, khí huyết không thông, da thịt tê dại, lâu ngày thành nhục nuy.

“Cố Hạ Kinh viết: Nhục nuy giả, đắc chi thấp địa dă.”
Dịch nghĩa: Cho nên Hạ Kinh nói: Nhục nuy là do ở nơi ẩm thấp mà mắc.
Giải thích: Tỳ chủ cơ nhục, thấp tà làm tổn thương tỳ, khiến cơ nhục mất nuôi dưỡng và vận hóa, nên thành nhục nuy.

“Hữu sở viễn hành lao quyện, phùng đại nhiệt nhi khát.”
Dịch nghĩa: Có người đi xa lao nhọc, gặp đại nhiệt mà khát.
Giải thích: Đi xa làm hao khí, lao nhọc làm tổn tinh, gặp nắng nóng th́ tân dịch càng hao, sinh khát.

“Khát tắc dương khí nội phạt.”
Dịch nghĩa: Khát th́ dương khí bên trong công phạt.
Giải thích: Đại nhiệt và lao nhọc làm dương khí quá thịnh, bên trong tổn thương chân âm.

“Nội phạt tắc nhiệt xá ư thận.”
Dịch nghĩa: Bên trong bị công phạt th́ nhiệt cư trú ở thận.
Giải thích: Nhiệt tà hao tổn thận âm, khiến nhiệt lưu ở thận, thủy không chế được hỏa.

“Thận giả thủy tạng dă, kim thủy bất thắng hỏa, tắc cốt khô nhi tủy hư.”
Dịch nghĩa: Thận là thủy tạng, nay thủy không thắng được hỏa, th́ xương khô mà tủy hư.
Giải thích: Thận chủ thủy, tàng tinh, sinh tủy, chủ cốt. Thận âm hao tổn, hư nhiệt nội thịnh, th́ cốt tủy mất nuôi dưỡng, xương khô, tủy hư.

“Cố túc bất nhiệm thân, phát vi cốt nuy.”
Dịch nghĩa: Cho nên chân không gánh nổi thân thể, phát thành cốt nuy.
Giải thích: Xương tủy suy yếu, thận tinh bất túc, chi dưới không có sức nâng đỡ cơ thể.

“Cố Hạ Kinh viết: Cốt nuy giả, sinh ư đại nhiệt dă.”
Dịch nghĩa: Cho nên Hạ Kinh nói: Cốt nuy sinh ra do đại nhiệt.
Giải thích: Đại nhiệt làm hao tổn thận âm, tổn thương cốt tủy, nên phát thành cốt nuy.

“Đế viết: Hà dĩ biệt chi?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Làm thế nào để phân biệt các loại này?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi yếu điểm chẩn đoán phân biệt các loại nuy chứng do ngũ tạng nhiệt.

“Kỳ Bá viết: Phế nhiệt giả, sắc bạch nhi mao bại.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Phế nhiệt th́ sắc trắng mà lông tóc suy bại.
Giải thích: Phế ứng sắc trắng, chủ b́ mao. Phế nhiệt làm b́ mao mất nuôi dưỡng nên lông tóc khô bại.

“Tâm nhiệt giả, sắc xích nhi lạc mạch bồn.”
Dịch nghĩa: Tâm nhiệt th́ sắc đỏ mà lạc mạch đầy tràn.
Giải thích: Tâm thuộc hỏa, ứng sắc đỏ, chủ huyết mạch. Tâm nhiệt khiến huyết mạch sung thịnh, lạc mạch nông đầy nổi.

“Can nhiệt giả, sắc thương nhi trảo khô.”
Dịch nghĩa: Can nhiệt th́ sắc xanh mà móng khô.
Giải thích: Can ứng sắc xanh, chủ cân, vinh nhuận ra móng. Can nhiệt tổn thương huyết, móng mất nuôi dưỡng nên khô枯.

“Tỳ nhiệt giả, sắc hoàng nhi nhục nhu.”
Dịch nghĩa: Tỳ nhiệt th́ sắc vàng mà cơ nhục mềm yếu.
Giải thích: Tỳ ứng sắc vàng, chủ cơ nhục. Tỳ nhiệt tổn thương tân dịch và vận hóa, cơ nhục mất nuôi dưỡng nên mềm yếu.

“Thận nhiệt giả, sắc hắc nhi xỉ cảo.”
Dịch nghĩa: Thận nhiệt th́ sắc đen mà răng khô枯.
Giải thích: Thận ứng sắc đen, chủ cốt, răng là phần dư của xương. Thận nhiệt làm cốt tủy hao tổn, nên răng khô枯.
Trích Tố Vấn, thiên Nuy Luận.

Chú thích

1. “Thất vong.”
Giải thích: Chỉ mất đi vật ḿnh yêu quư, hoặc điều quan trọng trong ḷng bị mất.
2. “Phế minh.”
Giải thích: Hô hấp suyễn tức có tiếng, thở nghe kḥ khè hoặc nặng tiếng.
3. “Cố viết: Ngũ tạng nhân phế nhiệt diệp tiêu, phát vi nuy tích.”
Giải thích: Theo Châm Cứu Giáp Ất Kinh, đoạn chữ này là diễn văn, có thể theo ư kiến ấy để hiểu là câu nhắc lại, không nhất thiết là nguyên văn chính yếu.
4. “Bào lạc tuyệt.”
Giải thích: “Bào lạc” là lạc mạch của tâm bào; “tuyệt” là ngăn tuyệt, bế tắc không thông.
5. “Tâm hạ băng, sác sưu huyết.”
Giải thích: “Băng” h́nh dung xuất huyết lượng nhiều; “sác” là nhiều lần; “sưu” chỉ tiểu tiện. Tâm thuộc hỏa mà chủ huyết, dương khí động ở dưới tâm, dương nhiệt ép huyết đi bừa, đi xuống th́ thành tiểu ra máu nhiều lần.
6. “Bản Bệnh.”
Giải thích: Tên một văn hiến y học cổ đại, nay đă thất truyền.
7. “Cơ tư.”
Giải thích: Bản Thái Tố chép là “mạch tư”.
8. “Ư dâm ư ngoại.”
Giải thích: “Ư” là tà niệm; “dâm” là quá độ, phóng túng; “ư ngoại” là không thể khống chế mà vọng động ra ngoài.
9. “Tông cân.”
Giải thích: Ở đây chỉ tiền âm nam giới. Tố Vấn, thiên Quyết Luận nói:
“Tiền âm giả, tông cân chi sở tụ.”
Dịch nghĩa: Tiền âm là nơi tông cân hội tụ.
Giải thích: Tông cân liên quan đến can thận, sinh dục và năng lực cương kiện của tiền âm.
10. “Cân nuy.”
Giải thích: Ở đây chỉ dương nuy, tức dương vật không cương, liệt dương.
11. “Bạch dâm.”
Giải thích: Chỉ nam giới hoạt tinh, di tinh; nữ giới bạch đới.
12. “Hạ Kinh.”
Giải thích: Tên một văn hiến y học cổ đại, nay đă thất truyền.
13. “Sử nội.”
Giải thích: Chỉ pḥng sự, giao hợp nam nữ.
14. “Tiệm.”
Giải thích: Nghĩa là thấm, ngấm, bị thấm nhiễm.
15. “Tương thấp.”
Giải thích: Bản Châm Cứu Giáp Ất Kinh chép là “thương thấp”, nghĩa là bị thấp tà làm tổn thương.
16. “Nhục nuy.”
Giải thích: Chỉ do cảm thụ thủy thấp, trước làm cơ nhục bị tư trở, tê dại bất nhân, sau đó phát triển thành nhục nuy.
17. “Dương khí nội phạt.”
Giải thích: “Phạt” là tổn thương. Đi xa lao nhọc, dương động sinh nhiệt; dương thịnh th́ bên trong tổn thương chân âm.
18. “Lạc mạch bồn.”
Giải thích: Chỉ huyết lạc nông ở ngoài da sung măn, nổi đầy.
19. “Nhục nhu.”
Giải thích: “Nhu” trong bản Thái Tố chép là “nhu”, nghĩa là mềm. Chữ “động” theo Quách Ái Xuân nghi là chữ ghi bên cạnh của “nhu”, sau bị chép nhầm vào chính văn. “Nhục nhu” nghĩa là cơ nhục mềm yếu.

Phân tích
Tiết này tiếp tục phân tích bệnh nhân và bệnh cơ h́nh thành chứng nuy, đồng thời phân tích nguyên nhân h́nh thành ngũ tạng khí nhiệt, từ đó một lần nữa nhấn mạnh:
“Ngũ tạng nhân phế nhiệt diệp tiêu, phát vi nuy tích.”
Dịch nghĩa: Ngũ tạng do phế nhiệt, phế diệp khô cháy mà phát thành nuy tích.
Giải thích: Đây là nguyên nhân chủ yếu của chứng nuy. Phế chủ khí, triều hội trăm mạch, ở trên các tạng, tuyên bố tinh khí và vận chuyển tân dịch đến ngũ tạng để nhu dưỡng toàn thân, nên nói “phế là trưởng của các tạng”. Nếu thất t́nh nội thương, khí uất hóa nhiệt, phế nhiệt làm phế diệp khô cháy, không thể tuyên bố tinh khí tân dịch, th́ ngũ tạng mất nuôi dưỡng, tứ chi không dùng được, phát thành nuy tích. Do phế liên quan đến các loại nuy, nên không gọi riêng là “b́ nuy”, mà gọi chung là “nuy tích”.

Ngũ tạng khí nhiệt đều có thể gây nuy. Ngũ tạng đều có phần tương hợp riêng. Tâm khí nhiệt sinh mạch nuy; can khí nhiệt sinh cân nuy; tỳ khí nhiệt sinh nhục nuy; thận khí nhiệt sinh cốt nuy. Nguyên nhân h́nh thành khí nhiệt ở ngũ tạng không giống nhau, có thể quy nạp thành bốn nhóm.

Thứ nhất là t́nh chí gây tổn thương, khí uất hóa nhiệt mà sinh nuy. Ví dụ tâm do “bi ai thái thậm”, phế do “hữu sở thất vong”, can do “tư tưởng vô cùng, sở nguyện bất đắc”, ba tạng này sinh khí nhiệt đều do t́nh chí không thư thái gây nên.

Thứ hai là lao thương quá độ, làm thương âm hao dịch, âm không chế được dương, dương cang sinh nhiệt mà gây nuy. Như can do “ư dâm ư ngoại, nhập pḥng thái thậm”, thận do “hữu sở viễn hành lao quyện”, nguyên nhân h́nh thành nhiệt là như vậy.

Thứ ba là thấp tà thấm nhiễm, lâu ngày hóa nhiệt mà gây nuy. Như tỳ do “hữu tiệm ư thấp, dĩ thủy vi sự, nhược hữu sở lưu, cư xứ tương thấp”, chính là loại khí nhiệt h́nh thành do thấp tà.

Thứ tư là xúc phạm thử nhiệt, làm thương tân hao dịch mà thành nuy. Như thận do “hữu sở viễn hành lao quyện, phùng đại nhiệt nhi khát”, khí nhiệt ấy sinh ra cốt nuy.

Có thể thấy, t́nh chí gây tổn thương, lao thương quá độ, lục dâm xâm phạm, trong đó đặc biệt là thấp tà thấm nhiễm, đều có thể tác động đến ngũ tạng, khiến âm dương mất điều ḥa mà sinh nhiệt; chân âm của ngũ tạng bị tổn thương, chi thể, gân mạch không được nhu dưỡng, cuối cùng thành chứng nuy.

Nguyên tắc điều trị chứng nuy
Nguyên văn
“Đế viết: Như phu tử ngôn khả hĩ, luận ngôn trị nuy giả, độc thủ Dương minh hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Như lời phu tử nói th́ đă rơ. Nhưng trong luận có nói trị chứng nuy th́ riêng lấy Dương minh, đó là v́ sao?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi v́ sao điều trị chứng nuy lại đặc biệt coi trọng kinh Dương minh, tức Vị kinh, dù bệnh cơ của nuy liên quan đến ngũ tạng.
“Kỳ Bá viết: Dương minh giả, ngũ tạng lục phủ chi hải, chủ nhuận tông cân.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Dương minh là biển của ngũ tạng lục phủ, chủ việc nhuận dưỡng tông cân.
Giải thích: Dương minh, chủ yếu là vị, là nguồn sinh hóa khí huyết của hậu thiên. Khí huyết sung túc th́ có thể nuôi dưỡng gân cơ toàn thân, đặc biệt là tông cân.
“Tông cân chủ thúc cốt nhi lợi cơ quan dă.”
Dịch nghĩa: Tông cân chủ việc bó buộc xương cốt và làm cho khớp vận động linh lợi.
Giải thích: Tông cân là nơi hội tụ của nhiều gân mạch, có chức năng liên kết xương khớp, giúp khớp co duỗi, vận động b́nh thường. Nếu tông cân mất nuôi dưỡng th́ chân tay yếu liệt, khớp không linh hoạt.
“Xung mạch giả, kinh mạch chi hải dă, chủ thấm quán khê cốc, dữ Dương minh hợp ư tông cân.”
Dịch nghĩa: Xung mạch là biển của kinh mạch, chủ thấm tưới các khe hang trong cơ thể, cùng với Dương minh hợp ở tông cân.
Giải thích: Xung mạch là nơi hội tụ khí huyết của kinh mạch, có tác dụng thấm tưới, nuôi dưỡng cơ nhục, gân mạch. Xung mạch và Dương minh cùng liên hệ đến tông cân, nên có vai tṛ quan trọng trong vận động chi thể.
“Âm dương tổng tông cân chi hội, hội ư Khí nhai, nhi Dương minh vi chi trưởng.”
Dịch nghĩa: Các kinh âm dương đều tổng hội ở tông cân, hội tại Khí nhai, mà Dương minh giữ vai tṛ đứng đầu.
Giải thích: Các kinh âm, kinh dương đều liên hệ với vùng hội của tông cân. Khí nhai là nơi khí huyết trọng yếu hội tụ. Trong sự nuôi dưỡng và điều khiển tông cân, Dương minh là chủ yếu v́ Dương minh là nguồn khí huyết hậu thiên.
“Giai thuộc ư Đới mạch, nhi chung ư Đốc mạch.”
Dịch nghĩa: Tất cả đều thuộc về Đới mạch và cuối cùng kết thúc ở Đốc mạch.
Giải thích: Đới mạch có tác dụng ràng buộc các mạch quanh thân; Đốc mạch thống lĩnh dương kinh. Tông cân, Xung mạch, Dương minh, Đới mạch, Đốc mạch cùng phối hợp để duy tŕ sự vận động và nâng đỡ của thân thể, đặc biệt là vùng eo lưng, chi dưới.
“Cố Dương minh hư, tắc tông cân túng, Đới mạch bất dẫn, cố túc nuy bất dụng dă.”
Dịch nghĩa: V́ vậy Dương minh hư th́ tông cân buông lỏng, Đới mạch không c̣n kéo giữ, cho nên chân bị nuy yếu không dùng được.
Giải thích: Khi Vị khí, Dương minh khí huyết suy hư, tông cân mất nuôi dưỡng mà mềm nhăo, Đới mạch mất chức năng ràng buộc, nên hai chân yếu liệt, không vận động được.
“Đế viết: Trị chi nại hà?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Điều trị như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi phương pháp cụ thể để điều trị chứng nuy.
“Kỳ Bá viết: Các bổ kỳ huỳnh nhi thông kỳ du.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Mỗi kinh đều bổ huyệt huỳnh của nó và thông huyệt du của nó.
Giải thích: Điều trị bằng châm thích phải căn cứ kinh mạch bị bệnh, dùng huyệt huỳnh để bổ khí, dùng huyệt du để thông khí, làm khí huyết lưu hành, phục hồi sự nuôi dưỡng gân cơ.
“Điều kỳ hư thực, ḥa kỳ nghịch thuận.”
Dịch nghĩa: Điều ḥa hư thực, ḥa giải nghịch thuận của nó.
Giải thích: Trị nuy không chỉ lấy Dương minh, mà c̣n phải phân biệt hư thực, thuận nghịch của từng kinh, từng tạng, để bổ hư, tả thực, điều khí, ḥa mạch.
“Cân mạch cốt nhục, các dĩ kỳ thời thụ nguyệt, tắc bệnh dĩ hĩ.”
Dịch nghĩa: Gân, mạch, xương, thịt, mỗi loại theo tháng mùa mà nó nhận khí để điều trị, th́ bệnh sẽ khỏi.
Giải thích: Điều trị phải kết hợp quy luật thời khí. Can chủ cân ứng mùa xuân; tâm chủ mạch ứng mùa hạ; tỳ chủ cơ nhục ứng trưởng hạ; thận chủ cốt ứng mùa đông. Dựa theo thời khí tạng phủ để chọn thời điểm và phép trị có thể nâng cao hiệu quả.
“Đế viết: Thiện.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm.
Giải thích: Hoàng Đế tán thành nguyên tắc trị nuy lấy Dương minh làm trọng, đồng thời biện chứng theo kinh tạng và thời khí.
Trích Tố Vấn, thiên Nuy Luận.

Chú thích

1. “Luận.”
Giải thích: Trương Giới Tân chú: “Luận ngôn” tức chỉ câu trong Linh Khu, thiên Căn Kết nói:
“Nuy tật giả, thủ chi Dương minh.”
Dịch nghĩa: Bệnh nuy th́ lấy Dương minh để trị.
Giải thích: Đây là nguồn gốc của nguyên tắc “trị nuy độc thủ Dương minh”.
2. “Nhuận.”
Giải thích: Bản Châm Cứu Giáp Ất Kinh chép là “nhuận”, nghĩa là nhuận dưỡng.
3. “Tông cân.”
Giải thích: Ở đây chỉ nơi nhiều cân mạc hội tụ, nói rộng là hệ thống cân mạc toàn thân.
4. “Thúc cốt nhi lợi cơ quan.”
Giải thích: “Thúc” là bó buộc, liên lạc; “cơ quan” chỉ khớp xương. Toàn câu nghĩa là tông cân có chức năng ràng buộc khớp xương, làm cho khớp vận động tự nhiên, linh hoạt.
5. “Âm dương tổng tông cân chi hội.”
Giải thích: “Âm dương” chỉ kinh âm và kinh dương. “Tổng” nghĩa là tụ hội. Trương Giới Tân chú:
“Tông cân tụ ư tiền âm, tiền âm giả, túc chi tam âm, Dương minh, Thiếu dương cập Xung, Nhâm, Đốc, Kiểu cửu mạch chi sở hội dă.”
Dịch nghĩa: Tông cân tụ ở tiền âm; tiền âm là nơi hội của ba kinh âm ở chân, Dương minh, Thiếu dương và các mạch Xung, Nhâm, Đốc, Kiểu, tổng cộng chín mạch.
Giải thích: Tông cân là vùng hội tụ của nhiều kinh mạch trọng yếu, có liên quan chặt chẽ với chi dưới, sinh dục, eo lưng và vận động.
6. “Khí nhai.”
Giải thích: C̣n gọi là Khí xung, nằm dưới huyệt Thiên khu năm thốn, bên cạnh Khúc cốt hai thốn, trên nếp bẹn một thốn, nơi có động mạch. Đây cũng là nơi Xung mạch khởi đầu, nên c̣n gọi là Khí xung.
7. “Trưởng.”
Giải thích: Ở đây nghĩa là giữ vai tṛ chủ yếu, đứng đầu.
8. “Đới mạch bất dẫn.”
Giải thích: Nan Kinh, Nan thứ hai mươi tám nói:
“Đới mạch giả, khởi ư quư hiếp, hồi thân nhất chu.”
Dịch nghĩa: Đới mạch khởi ở vùng hông sườn cuối, ṿng quanh thân một ṿng.
Giải thích: “Đới mạch bất dẫn” là chức năng thống nhiếp, ràng buộc các mạch toàn thân của Đới mạch bị rối loạn, không c̣n kéo giữ được cân mạch.
9. “Bổ kỳ huỳnh nhi thông kỳ du.”
Giải thích: “Huỳnh” là huỳnh huyệt; “du” là du huyệt. Ngô Côn chú:
“Thập nhị kinh hữu huỳnh hữu du, sở lưu vi huỳnh, sở chú vi du. Bổ, trí kỳ khí dă. Thông, hành kỳ khí.”
Dịch nghĩa: Mười hai kinh đều có huỳnh huyệt và du huyệt; nơi khí chảy qua là huỳnh, nơi khí rót vào là du. Bổ là đưa khí đến, thông là làm khí vận hành.
Giải thích: Điều trị chứng nuy cần vừa bổ khí huyết, vừa thông kinh lạc để phục hồi sự nuôi dưỡng gân cơ.
10. “Các dĩ kỳ thời thụ nguyệt.”
Giải thích: Tức theo mùa tháng mà từng tạng phủ làm chủ để tiến hành châm thích. Cao Thế Thức chú:
“Can chủ chi cân, tâm chủ chi mạch, thận chủ chi cốt, tỳ chủ chi nhục, các dĩ tứ thời thụ khí chi nguyệt nhi thi trị chi tắc bệnh dĩ hĩ. Thụ khí giả, cân thụ khí ư xuân, mạch thụ khí ư hạ, cốt thụ khí ư đông, nhục thụ khí ư trưởng hạ dă.”
Dịch nghĩa: Can chủ gân, tâm chủ mạch, thận chủ xương, tỳ chủ thịt; mỗi loại theo tháng nhận khí của bốn mùa mà điều trị th́ bệnh khỏi. Nhận khí là: gân nhận khí ở mùa xuân, mạch nhận khí ở mùa hạ, xương nhận khí ở mùa đông, thịt nhận khí ở trưởng hạ.
Giải thích: Đây là nguyên tắc nhân thời chế nghi trong trị nuy.
Trương Chí Thông lại chú:
“Chẩn Yếu Kinh Chung thiên viết: Chính nguyệt nhị nguyệt, nhân khí tại can; tam nguyệt tứ nguyệt, nhân khí tại tỳ; ngũ nguyệt lục nguyệt, nhân khí tại đầu; thất nguyệt bát nguyệt, nhân khí tại phế; cửu nguyệt thập nguyệt, nhân khí tại tâm; thập nhất nguyệt thập nhị nguyệt, nhân khí tại thận.”
Dịch nghĩa: Thiên Chẩn Yếu Kinh Chung nói: Tháng giêng, tháng hai, nhân khí ở can; tháng ba, tháng tư, nhân khí ở tỳ; tháng năm, tháng sáu, nhân khí ở đầu; tháng bảy, tháng tám, nhân khí ở phế; tháng chín, tháng mười, nhân khí ở tâm; tháng mười một, tháng mười hai, nhân khí ở thận.
Giải thích: Đây là một cách khác để phối hợp thời nguyệt với tạng phủ khi chọn phép trị.

Phân tích
Kinh văn quy nạp nguyên tắc điều trị chứng nuy thành ba điểm.

1. Trị nuy riêng lấy Dương minh làm trọng
“Trị nuy độc thủ Dương minh.”
Dịch nghĩa: Trị chứng nuy th́ riêng lấy Dương minh.
Giải thích: “Độc thủ” không có nghĩa là chỉ trị Dương minh mà không xét ǵ khác, mà là nhấn mạnh vai tṛ đặc biệt quan trọng của Dương minh trong điều trị chứng nuy.

Thiên này khi bàn bệnh cơ của chứng nuy th́ nổi bật ở phế, c̣n khi bàn điều trị chứng nuy th́ nổi bật ở Dương minh. Linh Khu, thiên Dinh Vệ Sinh Hội nói:
“Nhân thụ khí ư cốc, cốc nhập ư vị, dĩ truyền dữ phế, ngũ tạng lục phủ, giai dĩ thụ khí.”
Dịch nghĩa: Con người nhận khí từ cốc; cốc vào vị rồi truyền cho phế; ngũ tạng lục phủ đều nhờ đó mà nhận khí.
Giải thích: Khí huyết tân dịch của con người có nguồn sinh hóa ở vị, c̣n sự phân bố khắp thân thể th́ dựa vào phế. Đây chính là v́ sao bệnh cơ nhấn mạnh phế, c̣n trị pháp lại nhấn mạnh vị Dương minh.

Túc Dương minh Vị là biển của ngũ tạng lục phủ, có tác dụng nhuận dưỡng tông cân. Tông cân có công năng bó buộc xương khớp, làm khớp linh lợi. Xương khớp, gân mạch của cơ thể phải dựa vào khí huyết do Dương minh hóa sinh để được nhu dưỡng, th́ mới vận động tự nhiên. Các kinh âm, kinh dương đều tổng hội ở tông cân và hợp với Dương minh. Xung mạch là biển của mười hai kinh mạch, đem khí huyết từ Dương minh thấm tưới khê cốc, đồng thời cùng Dương minh hợp ở tông cân, nên nói:
“Dương minh vi chi trưởng.”
Dịch nghĩa: Dương minh giữ vai tṛ đứng đầu.
Giải thích: Trong việc nuôi dưỡng tông cân, khí huyết Dương minh là chủ lực. Nếu Dương minh suy hư, tông cân mất nuôi dưỡng, chi dưới dễ mềm yếu, liệt dụng.

“Dương minh hư tắc tông cân túng, Đới mạch bất dẫn, cố túc nuy bất dụng.”
Dịch nghĩa: Dương minh hư th́ tông cân buông lỏng, Đới mạch không kéo giữ, nên chân bị nuy yếu không dùng được.
Giải thích: Câu này là căn cứ trực tiếp của nguyên tắc lấy Dương minh trị nuy. Kinh văn chủ yếu nói về châm thích, nhưng với phép dùng phương dược, nguyên tắc kiện tỳ vị, ích khí huyết, dưỡng Dương minh vẫn có giá trị thực tiễn.

2. Biện chứng thi trị
“Trị nuy độc thủ Dương minh” bắt nguồn từ nguyên tắc châm thích trong Linh Khu, thiên Căn Kết:
“Nuy tật giả, thủ chi Dương minh.”
Dịch nghĩa: Bệnh nuy th́ lấy Dương minh để trị.
Giải thích: Không nên xem đây là phương pháp duy nhất để trị nuy. Chữ “độc” chỉ nhằm nhấn mạnh vai tṛ quan trọng của Dương minh vị trong điều trị chứng nuy.

Kinh văn nói:
“Các bổ kỳ huỳnh nhi thông kỳ du, điều kỳ hư thực, ḥa kỳ nghịch thuận.”
Dịch nghĩa: Mỗi kinh bổ huỳnh huyệt và thông du huyệt của nó, điều ḥa hư thực, ḥa thuận nghịch.
Giải thích: Trị nuy vừa phải coi trọng Dương minh là gốc hậu thiên, vừa phải căn cứ bộ vị bệnh biến, hư thực, thuận nghịch của chứng nuy để biện chứng luận trị.

Như Trương Giới Tân chú:
“Thượng văn vân độc thủ Dương minh, thử phục vân các bổ kỳ huỳnh nhi thông kỳ du. Cái trị nuy giả, đương thủ Dương minh, hựu tất sát kỳ sở thụ bệnh chi kinh nhi kiêm trị chi dă. Như cân nuy giả, thủ Dương minh Quyết âm chi huỳnh du; mạch nuy giả, thủ Dương minh Thiếu âm chi huỳnh du; nhục nuy cốt nuy, kỳ trị giai nhiên.”
Dịch nghĩa: Phần trên nói riêng lấy Dương minh, phần này lại nói mỗi kinh bổ huỳnh và thông du. Đại khái trị nuy th́ nên lấy Dương minh, nhưng cũng phải xét kinh nào chịu bệnh mà kiêm trị. Như cân nuy th́ lấy huỳnh, du của Dương minh và Quyết âm; mạch nuy th́ lấy huỳnh, du của Dương minh và Thiếu âm; nhục nuy, cốt nuy th́ cách trị cũng như vậy.
Giải thích: Đây là nguyên tắc phối hợp: lấy Dương minh làm gốc, đồng thời trị kinh tạng liên quan đến loại nuy cụ thể.

3. Nhân thời chế nghi
“Các dĩ kỳ thời thụ nguyệt.”
Dịch nghĩa: Mỗi loại theo tháng mùa mà nó nhận khí.
Giải thích: Điều trị chứng nuy c̣n phải theo nguyên tắc nhân thời chế nghi, kết hợp mùa tiết mà tạng phủ làm chủ để lập pháp, chọn huyệt và châm thích. Điều này giúp nâng cao hiệu quả điều trị. Những luận述 này cũng có tác dụng gợi mở nhất định đối với sự h́nh thành phép Tư Ngọ Lưu Chú đời sau.

Bệnh nhân, bệnh cơ của hàn quyết và nhiệt quyết
Nguyên văn
“Hoàng Đế vấn viết: Quyết chi hàn nhiệt giả, hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Quyết có loại hàn, loại nhiệt là v́ sao?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về nguyên nhân khiến chứng quyết có biểu hiện hàn quyết và nhiệt quyết khác nhau. “Quyết” thường chỉ khí cơ nghịch loạn, âm dương không tiếp nối, chi thể lạnh hoặc nóng bất thường.

“Kỳ Bá đối viết: Dương khí suy ư hạ, tắc vi hàn quyết; âm khí suy ư hạ, tắc vi nhiệt quyết.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Dương khí suy ở phía dưới th́ thành hàn quyết; âm khí suy ở phía dưới th́ thành nhiệt quyết.
Giải thích: Hạ tiêu, chi dưới cần dương khí ôn ấm và âm dịch nhu dưỡng. Nếu dương khí suy th́ không đủ ôn ấm, sinh hàn quyết; nếu âm khí suy th́ không đủ chế dương, dương nhiệt thiên thịnh, sinh nhiệt quyết.
“Đế viết: Nhiệt quyết chi vi nhiệt dă, tất khởi ư túc hạ giả hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Nhiệt quyết phát nóng, v́ sao nhất định khởi từ dưới bàn chân?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi v́ sao nhiệt quyết thường biểu hiện nóng bắt đầu từ ḷng bàn chân hoặc phía dưới chân.
“Kỳ Bá viết: Dương khí khởi ư túc ngũ chỉ chi biểu, âm mạch giả tập ư túc hạ nhi tụ ư túc tâm, cố dương khí thắng tắc túc hạ nhiệt dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Dương khí khởi ở mặt ngoài năm ngón chân; các mạch âm tập trung ở dưới bàn chân và tụ ở ḷng bàn chân. V́ vậy dương khí thắng th́ dưới bàn chân nóng.
Giải thích: Ḷng bàn chân là nơi âm mạch tụ hội. Nếu âm suy không chế được dương, dương khí thắng ở vùng này th́ xuất hiện nóng ở dưới bàn chân.
“Đế viết: Hàn quyết chi vi hàn dă, tất ṭng ngũ chỉ nhi thượng ư tất giả hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Hàn quyết phát lạnh, v́ sao nhất định từ năm ngón chân đi lên đến gối?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi đường lan của hàn quyết từ ngón chân lên gối.
“Kỳ Bá viết: Âm khí khởi ư ngũ chỉ chi lư, tập ư tất hạ nhi tụ ư tất thượng, cố âm khí thắng tắc ṭng ngũ chỉ chí tất thượng hàn.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Âm khí khởi ở mặt trong năm ngón chân, tập trung ở dưới gối và tụ ở trên gối, cho nên âm khí thắng th́ từ năm ngón chân đến trên gối đều lạnh.
Giải thích: Âm hàn thịnh th́ theo đường âm khí ở chi dưới mà lan từ ngón chân lên gối, biểu hiện lạnh dọc chi dưới.
“Kỳ hàn dă, bất ṭng ngoại, giai ṭng nội dă.”
Dịch nghĩa: Cái lạnh ấy không từ bên ngoài vào, đều từ bên trong sinh ra.
Giải thích: Hàn quyết không phải đơn thuần do ngoại hàn, mà chủ yếu do dương khí bên trong suy, âm hàn nội thịnh, nên lạnh phát từ trong ra ngoài.

“Đế viết: Hàn quyết hà thất nhi nhiên dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Hàn quyết do mất điều ǵ mà thành như vậy?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi nguyên nhân cụ thể làm dương khí hạ tiêu suy tổn, dẫn đến hàn quyết.
“Kỳ Bá viết: Tiền âm giả, tông cân chi sở tụ, Thái âm Dương minh chi sở hợp dă.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Tiền âm là nơi tông cân hội tụ, là nơi Thái âm và Dương minh hợp nhau.
Giải thích: Tiền âm liên hệ tông cân, tỳ vị, can thận và khí huyết của hạ tiêu. Đây là vùng trọng yếu trong phát bệnh của hàn quyết do hao tổn tinh khí.
“Xuân hạ tắc dương khí đa nhi âm khí thiểu, thu đông tắc âm khí thịnh nhi dương khí suy.”
Dịch nghĩa: Mùa xuân hạ th́ dương khí nhiều mà âm khí ít; mùa thu đông th́ âm khí thịnh mà dương khí suy.
Giải thích: Đây là quy luật âm dương theo mùa. Thu đông vốn âm thịnh dương suy, nếu lúc này lại làm tổn thương tinh khí th́ dễ phát hàn quyết.
“Thử nhân giả chất tráng, dĩ thu đông đoạt ư sở dụng.”
Dịch nghĩa: Người này thể chất vốn khỏe mạnh, nhưng vào mùa thu đông bị hao đoạt bởi việc sử dụng quá độ.
Giải thích: “Sở dụng” ở đây chủ yếu chỉ pḥng sự. Người tuy khỏe nhưng nếu thu đông âm thịnh dương suy mà pḥng sự quá độ, tinh khí bị đoạt, dương khí hạ tiêu càng suy.
“Hạ khí thượng tranh bất năng phục.”
Dịch nghĩa: Khí ở dưới tranh nghịch lên trên mà không thể phục hồi.
Giải thích: Tinh khí hạ tiêu bị hao, khí cơ mất điều ḥa, hạ khí không thể giữ ở dưới mà nghịch lên, không phục nguyên được.
“Tinh khí bồn hạ, tà khí nhân ṭng chi nhi thượng dă.”
Dịch nghĩa: Tinh khí tràn xuống dưới, tà khí nhân đó theo mà đi lên.
Giải thích: Tinh khí hao thoát, hạ tiêu trống rỗng, tà khí thừa hư mà theo khí nghịch đi lên, làm âm dương rối loạn.
“Khí nhân ư trung, dương khí suy, bất năng thấm doanh kỳ kinh lạc.”
Dịch nghĩa: Khí bị nhân mắc ở bên trong, dương khí suy, không thể thấm tưới và nuôi dưỡng kinh lạc.
Giải thích: Dương khí suy yếu, không c̣n đủ sức ôn dưỡng, thấm tưới kinh lạc ở chi thể.
“Dương khí nhật tổn, âm khí độc tại, cố thủ túc vi chi hàn dă.”
Dịch nghĩa: Dương khí ngày càng hao tổn, chỉ c̣n âm khí tồn tại, cho nên tay chân v́ thế mà lạnh.
Giải thích: Đây là bệnh cơ của hàn quyết: dương hư, âm thịnh, kinh lạc không được ôn dưỡng, nên tay chân lạnh.

“Đế viết: Nhiệt quyết hà như nhi nhiên dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Nhiệt quyết th́ v́ sao mà thành?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi nguyên nhân cụ thể của nhiệt quyết.
“Kỳ Bá viết: Tửu nhập ư vị, tắc lạc mạch măn nhi kinh mạch hư.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Rượu vào vị th́ lạc mạch đầy mà kinh mạch hư.
Giải thích: Rượu có tính nóng, mạnh, đi nhanh vào lạc mạch làm lạc mạch sung đầy; nhưng lại làm hao tổn chính khí và tân dịch trong kinh mạch, khiến kinh mạch hư.
“Tỳ chủ vi vị hành kỳ tân dịch giả dă.”
Dịch nghĩa: Tỳ chủ thay vị vận hành tân dịch.
Giải thích: Tỳ vận hóa và chuyển輸 tân dịch từ vị đi khắp toàn thân. Nếu rượu và ăn uống làm tổn thương tỳ vị, tân dịch không được vận hành b́nh thường.
“Âm khí hư tắc dương khí nhập, dương khí nhập tắc vị bất ḥa.”
Dịch nghĩa: Âm khí hư th́ dương khí nhập vào; dương khí nhập vào th́ vị không ḥa.
Giải thích: Âm dịch hư không chế được dương, dương nhiệt thừa hư nhập vào trong, làm vị khí mất ḥa giáng.
“Vị bất ḥa tắc tinh khí kiệt, tinh khí kiệt tắc bất doanh kỳ tứ chi dă.”
Dịch nghĩa: Vị không ḥa th́ tinh khí kiệt; tinh khí kiệt th́ không nuôi dưỡng được tứ chi.
Giải thích: Tỳ vị là nguồn sinh hóa khí huyết. Vị mất ḥa, tinh khí hao kiệt, tứ chi không được nuôi dưỡng, nên xuất hiện rối loạn nóng lạnh, yếu mỏi.
“Thử nhân tất sác túy nhược băo dĩ nhập pḥng.”
Dịch nghĩa: Người này tất thường nhiều lần say rượu hoặc ăn no rồi vào pḥng sự.
Giải thích: Đây là nguyên nhân chính của nhiệt quyết: uống rượu nhiều, ăn no, lại pḥng sự, làm thấp nhiệt, tửu nhiệt, cốc khí và dục lao cùng tổn thương tỳ thận.
“Khí tụ ư tỳ trung bất đắc tán.”
Dịch nghĩa: Khí tụ ở trong tỳ mà không tán được.
Giải thích: Tỳ vận hóa thất thường, khí cơ bị uất trệ, thấp nhiệt không tán.
“Tửu khí dữ cốc khí tương bác, nhiệt thịnh ư trung, cố nhiệt thiên ư thân, nội nhiệt nhi niệu xích dă.”
Dịch nghĩa: Tửu khí và cốc khí giao tranh với nhau, nhiệt thịnh ở bên trong, cho nên nhiệt thiên lệch ở thân, bên trong nóng mà nước tiểu đỏ.
Giải thích: Rượu và thức ăn tích lại, hóa nhiệt ở trung tiêu, nhiệt lan ra thân thể, bên trong uất nhiệt nên tiểu tiện đỏ.
“Phù tửu khí thịnh nhi phiêu hăn, thận khí hữu suy, dương khí độc thịnh, cố thủ túc vi chi nhiệt dă.”
Dịch nghĩa: Rượu khí thịnh mà mạnh nhanh, thận khí lại suy, dương khí một ḿnh thịnh, cho nên tay chân v́ thế mà nóng.
Giải thích: Rượu là nhiệt tà mạnh, lại thêm pḥng sự làm thận khí suy, âm không chế dương, dương nhiệt độc thịnh, nên tay chân nóng, thành nhiệt quyết.
Trích Tố Vấn, thiên Quyết Luận.

Chú thích

1. “Dương khí suy ư hạ, tắc vi hàn quyết; âm khí suy ư hạ, tắc vi nhiệt quyết.”
Dịch nghĩa: Dương khí suy ở phía dưới th́ thành hàn quyết; âm khí suy ở phía dưới th́ thành nhiệt quyết.
Giải thích: “Quyết” ở đây chỉ chứng chân lạnh hoặc chân nóng do khí nghịch. Vương Băng chú: “Dương” là ba mạch dương ở chân; “âm” là ba mạch âm ở chân; “hạ” là chỉ chân. Ba mạch dương suy ở phía dưới th́ dương khí ít, âm khí thịnh; âm thịnh th́ hàn, nên phát thành hàn quyết. Ba mạch âm suy ở phía dưới th́ âm khí ít, dương khí thịnh; dương thịnh th́ nhiệt, nên phát thành nhiệt quyết.
2. “Khởi.”
Giải thích: Tân Hiệu Chính nói: theo Giáp Ất Kinh, câu “dương khí khởi ư túc” chép là “dương khí tẩu ư túc”. V́ vậy chữ “khởi” nên hiểu gần với “tẩu”, nghĩa là đi, vận hành đến.
3. “Ngũ chỉ chi biểu, ngũ chỉ chi lư.”
Giải thích: “Chỉ” thời cổ thông với “chỉ” nghĩa là ngón chân. Ba kinh dương ở chân đều dừng ở đầu ngoài các ngón chân, nên gọi là “ngũ chỉ chi biểu”; ba kinh âm ở chân đều khởi ở đầu trong các ngón chân, nên gọi là “ngũ chỉ chi lư”.
4. “Kỳ hàn dă, bất ṭng ngoại, giai ṭng nội dă.”
Dịch nghĩa: Cái lạnh ấy không theo bên ngoài vào, đều từ bên trong sinh ra.
Giải thích: Âm khí thịnh, dương khí hư th́ hàn từ bên trong sinh ra, không phải do cảm thụ hàn tà bên ngoài. Theo lư này, nhiệt quyết cũng tương tự: nhiệt không phải chủ yếu do ngoại nhiệt, mà do âm suy, dương thịnh bên trong.
5. “Thất.”
Giải thích: Căn cứ câu sau “nhiệt quyết hà như nhi nhiên”, chữ “thất” trong câu “hàn quyết hà thất nhi nhiên” nghi là chữ “như” bị chép nhầm.
6. “Thái âm Dương minh chi sở hợp dă.”
Giải thích: Hai kinh Tỳ và Vị đi ở vùng bụng, đều gần tiền âm, nên nói là nơi Thái âm và Dương minh hợp lại. Xung quanh tiền âm có chín mạch hội tụ, nhưng ở đây chỉ nêu riêng hai mạch Tỳ Vị, v́ Tỳ Vị là biển của ngũ tạng lục phủ, chủ nhuận dưỡng tông cân.
7. “Đoạt ư sở dụng.”
Giải thích: Người bệnh tự cậy thân thể khỏe mạnh, vào mùa thu đông vẫn không biết tiết chế, bảo dưỡng, phóng túng t́nh dục quá độ hoặc lao lực quá sức, làm tinh khí bị hao đoạt. “Đoạt” là bị cưỡng lấy mất.
8. “Hạ khí thượng tranh bất năng phục.”
Giải thích: “Tranh” trong Thuyết Văn Giải Tự có nghĩa là kéo, dẫn. Đoạn chú giải nói: phàm nói “tranh” là chỉ kéo khiến nó quy về ḿnh. Ở đây nói khí ở dưới nghịch lên, không thể trở lại vị trí b́nh thường.
9. “Tinh khí ôn hạ.”
Giải thích: Nghĩa là tinh bị tiết xuống, tinh khí hao thoát ở hạ tiêu.
10. “Khí nhân ư trung.”
Giải thích: Bản Thái Tố chép là “khí cư ư trung”. “Khí” ở đây là tà khí nói ở câu trước. Do tinh khí tiết xuống dưới, âm hàn tà khí nhân chỗ hư mà đi lên đến trung tiêu, khiến dương khí ngày càng suy.
11. “Bất năng thấm doanh kỳ kinh lạc.”
Giải thích: Dương Thượng Thiện chú: “Dương khí là vệ khí. Vệ khí đi ngoài mạch, thấm tưới kinh lạc để nuôi dưỡng thân thể. V́ hàn tà ở trên, vệ khí ngày càng hao tổn, âm khí riêng thịnh, nên tay chân lạnh, gọi là hàn quyết.”
12. “Lạc mạch măn nhi kinh mạch hư.”
Giải thích: Linh Khu, thiên Kinh Mạch nói:
“Ẩm tửu giả, vệ khí tiên hành b́ phu, tiên sung lạc mạch, lạc mạch tiên thịnh.”
Dịch nghĩa: Người uống rượu th́ vệ khí trước tiên đi ở da, trước hết làm đầy lạc mạch, lạc mạch thịnh trước.
Giải thích: V́ vậy rượu vào cơ thể làm lạc mạch sung măn trước, nhưng lại khiến kinh mạch tương đối hư.
13. “Âm khí hư.”
Giải thích: Uống rượu lâu ngày, rượu có tính nhiệt, nhiệt th́ làm tổn thương âm, cho nên âm khí hư.
14. “Tinh khí kiệt.”
Giải thích: “Tinh khí” ở đây chỉ tinh khí của thủy cốc, khác với “tinh khí ôn hạ” phía trên là chỉ tinh khí sinh dục bị tiết xuống.
15. “Khí.”
Giải thích: Chỉ tửu khí và cốc khí, tức khí của rượu và khí của thức ăn.
16. “Thận khí hữu suy.”
Giải thích: Bản Châm Cứu Giáp Ất Kinh chép là “thận khí nhật suy”, nghĩa là thận khí ngày càng suy.
Phân tích
Đoạn này bàn về bệnh nhân và bệnh cơ của hàn quyết, nhiệt quyết. Trong Hoàng Đế Nội Kinh, chữ “quyết” có năm nghĩa chính.
Thứ nhất, chỉ bệnh cơ khí nghịch, c̣n gọi là quyết nghịch. Như Tố Vấn, thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận nói:
“Hàn tắc quyết, quyết tắc phúc măn tử.”
Dịch nghĩa: Hàn th́ quyết, quyết th́ bụng đầy mà chết.
Giải thích: Vương Băng chú: “Quyết là khí nghịch.” Ở đây “quyết” chỉ khí cơ nghịch loạn do hàn gây ra.
Thứ hai, chỉ triệu chứng tay chân quyết lạnh. Như Tố Vấn, thiên Ngũ Tạng Sinh Thành nói:
“Huyết ngưng ư túc giả vi quyết.”
Dịch nghĩa: Huyết ngưng ở chân th́ thành quyết.
Giải thích: Vương Băng chú: “Quyết là chân nghịch lạnh.”
Thứ ba, chỉ đột nhiên hôn mê, không biết người. Như Tố Vấn, thiên Đại Kỳ Luận nói:
“Bạo quyết giả, bất tri dữ nhân ngôn.”
Dịch nghĩa: Bạo quyết là đột nhiên hôn mê, không biết nói chuyện với người.
Giải thích: Đây là loại quyết biểu hiện bằng đột ngột mất ư thức.
Thứ tư, có nghĩa là “tận”, tức cùng cực, hết. Như Linh Khu, thiên Âm Dương Hệ Nhật Nguyệt nói:
“Lưỡng âm giao tận, cố viết Quyết âm.”
Dịch nghĩa: Hai âm giao đến tận cùng, nên gọi là Quyết âm.
Giải thích: Ở đây “quyết” mang nghĩa tận cùng của âm.
Thứ năm, chỉ bệnh chứng do khí nghịch gây ra. Chứng quyết trong thiên này thuộc loại này.
Về bệnh nhân, nguyên văn trước hết chỉ rơ:
“Kỳ hàn dă, bất ṭng ngoại, giai ṭng nội dă.”
Dịch nghĩa: Cái lạnh ấy không từ bên ngoài đến, đều từ bên trong sinh ra.
Giải thích: Tứ chi quyết nghịch trong chứng quyết không phải do ngoại tà hay hàn nhiệt bên ngoài trực tiếp gây nên. Điều này cho thấy chứng quyết được bàn ở đây thuộc phạm vi nội thương.
Về bệnh cơ của hàn quyết, người bệnh tự cậy thể chất khỏe mạnh, không biết giữ ǵn thân thể. Vào mùa thu đông, khi dương khí suy giảm, lại “đoạt ư sở dụng”, tức lao lực, phóng túng t́nh dục quá độ, làm tổn thương dương khí trong thận. Dương khí hư suy, âm hàn chi tà tranh扰 bên trong, dẫn đến:
“Dương khí nhật tổn, âm khí độc tại.”
Dịch nghĩa: Dương khí ngày càng hao tổn, chỉ c̣n âm khí riêng thịnh.
Giải thích: Dương hư không ôn dưỡng được tạng phủ kinh lạc, âm hàn thịnh lên, nên tay chân lạnh.
V́ hàn quyết do dương khí suy ở phía dưới gây nên, mà ba kinh dương ở chân đi từ trên xuống dưới, dừng ở đầu ngoài các ngón chân. Khi khí của dương kinh suy hư, dương không chế được âm, âm thịnh th́ sinh hàn, nên lạnh ở chân trước hết bắt đầu từ đầu ngón chân.
Về bệnh cơ của nhiệt quyết, bệnh này do thường say rượu, ăn no rồi phóng túng t́nh dục gây nên. Một mặt, say rượu ăn no làm tổn thương tỳ vị, pḥng sự quá mức làm tổn thương thận, tỳ thận đều bị tổn thương, tinh khí bên trong hao kiệt, âm tinh ngày càng suy. Mặt khác, tửu nhiệt thịnh ở trung tiêu, âm hư dương thịnh, hư nhiệt quấy nhiễu bên trong.
V́ nhiệt quyết do âm khí suy hư ở phía dưới gây nên, mà ba kinh âm ở chân khởi từ đầu trong các ngón chân, đi lên theo mặt trong chi dưới. Khi khí của âm kinh suy hư, âm không chế được dương, dương cang thịnh lên, cho nên nóng dưới bàn chân là đặc điểm chính của nhiệt quyết.
Cần phân biệt rơ nhiệt quyết trong đoạn này với nhiệt quyết do Trương Trọng Cảnh và đời sau nói đến. Hai loại này tên giống nhau nhưng bản chất khác nhau, một hư một thực, không thể lẫn lộn.
Nhiệt quyết trong tiết này chủ yếu chỉ chứng do uống rượu lâu ngày, phóng túng t́nh dục, thận khí hao hư, âm hư dương cang, nên có các triệu chứng nội nhiệt, tay chân nóng, nước tiểu đỏ. Phép trị nên lấy tư âm giáng hỏa làm chính.
C̣n nhiệt quyết được nói từ Trương Trọng Cảnh trở về sau thường là do tà nhiệt quá thịnh, nhiệt tà ủng tắc ở lư, dương khí bị uất không thể đạt ra ngoài, v́ vậy lấy tay chân quyết lạnh làm đặc điểm chính. Chứng này thuộc thực nhiệt, phép trị nên thanh nhiệt tả hỏa, hoặc thông lư công hạ để trừ tà nhiệt uất kết bên trong.
Kiêm chứng của quyết chứng và bệnh cơ của chúng
Nguyên văn
“Đế viết: Quyết, hoặc linh nhân phúc măn, hoặc linh nhân bạo bất tri nhân, hoặc chí bán nhật, viễn chí nhất nhật năi tri nhân giả, hà dă?”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Chứng quyết có khi làm người bệnh bụng đầy, có khi làm người bệnh đột nhiên không biết người; có khi đến nửa ngày, lâu hơn đến một ngày mới tỉnh lại, là v́ sao?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi v́ sao chứng quyết ngoài biểu hiện hàn nhiệt ở tay chân c̣n có thể kèm bụng đầy hoặc đột nhiên hôn mê, mất ư thức.
“Kỳ Bá viết: Âm khí thịnh ư thượng tắc hạ hư, hạ hư tắc phúc trướng măn.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Âm khí thịnh ở trên th́ phía dưới hư; phía dưới hư th́ bụng trướng đầy.
Giải thích: Âm hàn chi khí nghịch thịnh ở trên, hạ tiêu dương khí hư yếu, khí hóa không lợi, trung hạ tiêu không vận hành, nên bụng trướng đầy. Đây thường liên quan đến hàn quyết.
“Dương khí thịnh ư thượng, tắc hạ khí trùng thượng nhi tà khí nghịch.”
Dịch nghĩa: Dương khí thịnh ở trên th́ khí phía dưới cùng dồn lên trên, thành tà khí nghịch.
Giải thích: Dương khí thịnh ở thượng bộ, hạ khí lại cùng nghịch lên, khí cơ trên dưới rối loạn, h́nh thành nghịch loạn chi khí.
“Nghịch tắc dương khí loạn, dương khí loạn tắc bất tri nhân dă.”
Dịch nghĩa: Khí nghịch th́ dương khí loạn; dương khí loạn th́ không biết người.
Giải thích: Dương khí nghịch loạn làm thần minh bị che lấp, tâm thần mất chủ, nên đột nhiên hôn mê, không tỉnh biết người.
Trích Tố Vấn, thiên Quyết Luận.
Chú thích
17. “Bạo bất tri nhân.”
Giải thích: “Bạo” là đột nhiên. “Bạo bất tri nhân” tức đột nhiên hôn quyết, không biết người, mất ư thức.
18. “Phúc trướng măn.”
Giải thích: Cao Thế Thức chú:
“Âm hư chi khí thịnh ư thượng, tắc thượng hạ giai âm, nhi dương khí hư ư hạ, hạ hư tắc phúc trướng măn, dĩ minh phúc măn nhi vi hàn quyết chi ư.”
Dịch nghĩa: Âm hư chi khí thịnh ở trên th́ trên dưới đều âm, mà dương khí hư ở dưới; dưới hư th́ bụng trướng đầy, để làm rơ bụng đầy là ư của hàn quyết.
Giải thích: Câu này giải thích bụng trướng đầy trong quyết chứng thường do dương khí dưới hư, âm hàn thịnh, khí hóa không lợi.
19. “Hạ khí trùng thượng nhi tà khí nghịch.”
Giải thích: “Trùng” nghĩa là cùng nhau, chồng thêm. “Tà khí” ở đây chỉ khí mất trạng thái b́nh thường, c̣n gọi là khí nghịch loạn. Tố Vấn, thiên Phúc Trung Luận nói:
“Quyết nghịch... dương khí trùng thượng, hữu dư ư thượng.”
Dịch nghĩa: Quyết nghịch... dương khí cùng dồn lên trên, dư thừa ở phía trên.
Giải thích: Ư nghĩa giống câu này: dương khí thịnh ở trên, khí phần dưới lại cùng đi lên, trở thành tà khí nghịch lên, làm khí cơ rối loạn.

Phân tích
Tiết này luận về các kiêm chứng của hàn quyết, nhiệt quyết và bệnh cơ của chúng. Quyết chứng có những biểu hiện khác nhau như bụng trướng đầy, hoặc đột nhiên hôn đảo, không biết người. Đột nhiên hôn đảo, không biết người là do âm hư dương cang, hư dương nhiễu loạn thần minh gây nên, thuộc kiêm chứng của nhiệt quyết. Cơ chế chung của quyết chứng là khí cơ nghịch loạn, mất trạng thái b́nh thường. Do vị trí khí cơ nghịch loạn khác nhau, nên biểu hiện lâm sàng cũng khác nhau. Nếu nghịch loạn ở tứ chi th́ lấy tay chân quyết hàn, quyết nhiệt làm chủ chứng; nếu nghịch loạn ở đầu năo th́ có thể xuất hiện chứng:
“Bạo bất tri nhân.”
Dịch nghĩa: Đột nhiên không biết người.
Giải thích: Chỉ t́nh trạng đột nhiên hôn quyết, mất ư thức, không nhận biết người xung quanh.
Bệnh cơ của hôn quyết được nói trong thiên này là:
“Dương khí thịnh ư thượng, hạ khí trùng thượng nhi tà khí nghịch.”
Dịch nghĩa: Dương khí thịnh ở trên, khí phía dưới lại cùng dồn lên trên, khiến tà khí nghịch lên.
Giải thích: Đây là t́nh trạng khí cơ đầu mặt bị nghịch loạn. Người vốn can dương thiên vượng, lại thêm bạo nộ, uống rượu quá độ v.v., làm dương khí cang thịnh xung lên; tân dịch và huyết cũng theo đó đi lên, h́nh thành đàm ẩm, ứ huyết, bế tắc kinh mạch, thần khí nghịch loạn, tự nhiên hôn ngă, không biết người. Chứng này có khi chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, nhưng nếu cứu trị không kịp hoặc không đúng, cũng có thể quyết mà không hồi phục, dẫn đến tử vong. V́ vậy chứng hôn quyết trong thiên này về cơ bản tương ứng với điều Tố Vấn, thiên Điều Kinh Luận nói:
“Huyết chi dữ khí, tịnh tẩu ư thượng, tắc vi đại quyết, quyết tắc bạo tử, khí phục phản tắc sinh, bất phản tắc tử.”
Dịch nghĩa: Huyết cùng với khí cùng chạy lên trên th́ thành đại quyết; quyết th́ đột ngột như chết, khí trở lại th́ sống, không trở lại th́ chết.
Giải thích: Khi khí huyết cùng nghịch lên đầu, thần minh bị che lấp, có thể đột nhiên hôn ngă như chết. Nếu khí cơ hồi phục th́ tỉnh lại; nếu khí không hồi phục th́ tử vong.
Bụng trướng đầy là kiêm chứng của hàn quyết do dương hư âm thịnh. Về bệnh cơ này, kinh văn khái quát rằng:
“Âm khí thịnh ư thượng tắc hạ hư, hạ hư tắc phúc trướng măn.”
Dịch nghĩa: Âm khí thịnh ở trên th́ phía dưới hư; phía dưới hư th́ bụng trướng đầy.
Giải thích: Dương khí hạ tiêu suy hư, âm hàn nghịch lên, khí hóa không lợi, trung hạ tiêu bế trệ, nên sinh bụng trướng đầy. Có thể hiểu câu này kết hợp với Tố Vấn, thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận nói:
“Trọc khí tại thượng, tắc sinh phúc trướng.”
Dịch nghĩa: Trọc khí ở trên th́ sinh bụng trướng.
Giải thích: Trọc âm không giáng, khí cơ trung tiêu bị trở ngại, nên bụng đầy trướng.
Bệnh cơ, chứng hậu của lục kinh quyết và thập nhị kinh quyết
Nguyên văn
“Đế viết: Thiện. Nguyện văn lục kinh mạch chi quyết trạng bệnh năng dă.”
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Xin được nghe trạng thái và bệnh chứng của quyết ở sáu kinh mạch.
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về biểu hiện quyết chứng theo sáu kinh, chủ yếu là sáu kinh ở chân.
“Kỳ Bá viết: Cự dương chi quyết, tắc thũng thủ đầu trọng, túc bất năng hành, phát vi huyễn phó.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Quyết của Cự dương th́ đầu sưng, đầu nặng, chân không thể đi, phát ra th́ choáng váng mà ngă.
Giải thích: Cự dương tức Thái dương. Kinh Thái dương đi lên đầu, liên hệ năo, xuống chi dưới. Khi khí quyết nghịch ở Thái dương, trên th́ đầu sưng nặng, dưới th́ chân không đi được, nặng có thể chóng mặt té ngă.
“Dương minh chi quyết, tắc điên tật, dục tẩu hô, phúc măn bất đắc ngọa, diện xích nhi nhiệt, vọng kiến nhi vọng ngôn.”
Dịch nghĩa: Quyết của Dương minh th́ phát chứng điên cuồng, muốn chạy và la hét, bụng đầy không nằm được, mặt đỏ mà nóng, thấy càn và nói càn.
Giải thích: Dương minh là kinh nhiều khí nhiều huyết, tà nhiệt vào Dương minh th́ nhiệt thịnh ở phủ, nhiễu loạn thần minh, nên điên cuồng, muốn chạy la, mặt đỏ nóng, nói nhảm, thấy ảo; vị khí không ḥa nên bụng đầy, không nằm được.
“Thiếu dương chi quyết, tắc bạo lung giáp thũng nhi nhiệt, hiếp thống, bất khả dĩ vận.”
Dịch nghĩa: Quyết của Thiếu dương th́ đột nhiên tai điếc, má sưng và nóng, đau hông sườn, không thể vận động.
Giải thích: Kinh Thiếu dương đi qua tai, má, hông sườn và mặt ngoài chi dưới. Khi khí quyết nghịch ở Thiếu dương th́ tai điếc đột ngột, má sưng nóng, hông sườn đau, chi thể vận động không lợi.
“Thái âm chi quyết, tắc phúc măn trướng, hậu bất lợi, bất dục thực, thực tắc ẩu, bất đắc ngọa.”
Dịch nghĩa: Quyết của Thái âm th́ bụng đầy trướng, đại tiện không thông lợi, không muốn ăn, ăn vào th́ nôn, không nằm được.
Giải thích: Thái âm thuộc tỳ, chủ vận hóa. Thái âm quyết làm tỳ khí không vận, vị khí không ḥa, nên bụng đầy trướng, đại tiện không lợi, chán ăn, ăn vào th́ nôn, nằm không yên.
“Thiếu âm chi quyết, tắc khẩu càn niệu xích, phúc măn tâm thống.”
Dịch nghĩa: Quyết của Thiếu âm th́ miệng khô, nước tiểu đỏ, bụng đầy, đau vùng tâm.
Giải thích: Thiếu âm liên hệ thận và tâm. Nhiệt theo kinh làm tân dịch hao nên miệng khô, nhiệt chuyển xuống bàng quang nên tiểu đỏ; khí hóa không lợi nên bụng đầy; kinh khí nghịch lên tâm nên đau vùng tâm.
“Quyết âm chi quyết, tắc thiếu phúc thũng thống, phúc trướng kính sưu bất lợi, hảo ngọa khuất tất, âm súc thũng, nội nhiệt.”
Dịch nghĩa: Quyết của Quyết âm th́ bụng dưới sưng đau, bụng trướng, tiểu tiện không lợi, thích nằm co gối, âm khí co rút hoặc sưng, bên trong nóng.
Giải thích: Quyết âm thuộc can, can mạch ṿng quanh âm khí, qua bụng dưới. Khi Quyết âm quyết, can khí uất nhiệt, kinh khí không thông, nên thiếu phúc sưng đau, bụng trướng, tiểu tiện bất lợi, âm bộ co rút hoặc sưng, thích nằm co gối, bên trong có nhiệt.
“Thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi.”
Dịch nghĩa: Thịnh th́ tả, hư th́ bổ; không thịnh không hư th́ lấy ngay kinh ấy mà trị.
Giải thích: Đây là nguyên tắc châm trị lục kinh quyết: phân biệt hư thực để bổ tả; nếu không rơ hư thực th́ theo kinh bệnh mà lấy huyệt điều trị.
“Thái âm quyết nghịch, cấp loan, tâm thống dẫn phúc, trị chủ bệnh giả.”
Dịch nghĩa: Thái âm quyết nghịch th́ co rút cấp, đau vùng tâm kéo xuống bụng; trị ở kinh chủ bệnh.
Giải thích: Túc Thái âm Tỳ kinh đi ở mặt trong cẳng chân, vào bụng, chú vào tâm trung. Quyết nghịch ở kinh này làm cân mạch co rút, tâm phúc đau kéo nhau. Điều trị lấy huyệt của kinh chủ bệnh.
“Thiếu âm quyết nghịch, hư măn ẩu biến, hạ tiết thanh, trị chủ bệnh giả.”
Dịch nghĩa: Thiếu âm quyết nghịch th́ hư măn, nôn ói biến động, tiêu chảy trong loăng; trị ở kinh chủ bệnh.
Giải thích: Thiếu âm quyết nghịch thường liên hệ thận dương hư, mệnh môn hỏa yếu, không ôn dưỡng trung tiêu, nên hư măn, nôn, tiêu chảy trong loăng.
“Quyết âm quyết nghịch, loan, yêu thống, hư măn tiền bế, chiêm ngôn, trị chủ bệnh giả.”
Dịch nghĩa: Quyết âm quyết nghịch th́ co rút, đau lưng, hư măn, phía trước bế tắc không thông, nói mê; trị ở kinh chủ bệnh.
Giải thích: Quyết âm can mạch liên hệ cân, eo lưng và tiền âm. Quyết nghịch làm gân co, đau lưng, khí cơ trệ gây hư măn, tiền âm hoặc tiểu tiện bế; can tàng hồn, khí nghịch nhiễu thần nên nói mê.
“Tam âm câu nghịch, bất đắc tiền hậu, sử nhân thủ túc hàn, tam nhật tử.”
Dịch nghĩa: Ba kinh âm cùng nghịch, trước sau đều không thông, khiến tay chân lạnh, ba ngày th́ chết.
Giải thích: Ba âm cùng quyết nghịch là tạng khí tuyệt, đại tiểu tiện bế, tay chân quyết lạnh, chính khí suy kiệt, tiên lượng rất xấu.
“Thái dương quyết nghịch, cương phó, ẩu huyết, thiện nục, trị chủ bệnh giả.”
Dịch nghĩa: Thái dương quyết nghịch th́ cứng đờ mà ngă, nôn ra máu, hay chảy máu cam; trị ở kinh chủ bệnh.
Giải thích: Túc Thái dương lên đỉnh đầu, vào liên lạc năo. Khí quyết nghịch làm người cứng đờ té ngă; mạch lạc bị tổn thương hoặc khí huyết nghịch loạn nên nôn máu, chảy máu cam.
“Thiếu dương quyết nghịch, cơ quan bất lợi, cơ quan bất lợi giả, yêu bất khả dĩ hành, hạng bất khả dĩ cố, phát trường ung bất khả trị, kinh giả tử.”
Dịch nghĩa: Thiếu dương quyết nghịch th́ cơ quan không lợi. Cơ quan không lợi là lưng không thể vận hành, gáy không thể quay nh́n; phát thành trường ung th́ khó trị, có kinh sợ th́ chết.
Giải thích: Thiếu dương chủ khu vực khớp, gân, bên hông và mặt ngoài thân thể. Quyết nghịch ở Thiếu dương làm khớp không linh hoạt, eo lưng không vận động được, cổ gáy không quay được. Nếu hỏa độc kết thành trường ung, bệnh nặng; nếu độc khí nhập tâm gây kinh sợ th́ nguy tử.
“Dương minh quyết nghịch, suyễn khái thân nhiệt, thiện kinh, nục, ẩu huyết.”
Dịch nghĩa: Dương minh quyết nghịch th́ suyễn, ho, thân nóng, hay kinh sợ, chảy máu cam, nôn máu.
Giải thích: Dương minh nhiều khí nhiều huyết. Khi vị hỏa thịnh, nhiệt xung lên phế th́ suyễn ho; nhiệt đi ở tam dương th́ thân nóng; hỏa động th́ dễ kinh; huyết bị nhiệt bức th́ chảy máu cam, nôn máu.
“Thủ Thái âm quyết nghịch, hư măn nhi khái, thiện ẩu mạt, trị chủ bệnh giả.”
Dịch nghĩa: Thủ Thái âm quyết nghịch th́ hư măn mà ho, hay nôn bọt; trị ở kinh chủ bệnh.
Giải thích: Thủ Thái âm là Phế kinh. Phế khí quyết nghịch th́ khí không tuyên giáng, sinh ho, ngực đầy hư măn; đàm ẩm, bọt dăi nghịch lên nên hay nôn bọt.
“Thủ Tâm chủ, Thiếu âm quyết nghịch, tâm thống dẫn hầu, thân nhiệt, tử bất khả trị.”
Dịch nghĩa: Thủ Tâm chủ và Thủ Thiếu âm quyết nghịch th́ đau tim kéo lên họng, thân nóng, chết, không thể trị.
Giải thích: Tâm chủ và Thiếu âm đều thuộc hệ tâm hỏa, chủ huyết mạch và thần minh. Quyết nghịch phạm tâm, đau từ tâm kéo lên họng, thân nhiệt là dấu hiệu nguy nặng. V́ tâm là đại chủ của ngũ tạng lục phủ, nghịch ở tâm th́ tiên lượng xấu.
“Thủ Thái dương quyết nghịch, nhĩ lung, khấp xuất, hạng bất khả dĩ cố, yêu bất khả dĩ phủ ngưỡng, trị chủ bệnh giả.”
Dịch nghĩa: Thủ Thái dương quyết nghịch th́ tai điếc, chảy nước mắt, cổ gáy không thể quay nh́n, eo lưng không thể cúi ngửa; trị ở kinh chủ bệnh.
Giải thích: Thủ Thái dương Tiểu trường kinh đi qua vùng tai, mắt, gáy, liên hệ cột sống; tà nghịch ở kinh này gây tai điếc, chảy nước mắt, cổ gáy cứng, eo lưng không cúi ngửa được.
“Thủ Dương minh, Thiếu dương quyết nghịch, phát hầu tư, ách thũng, kính, trị chủ bệnh giả.”
Dịch nghĩa: Thủ Dương minh và Thủ Thiếu dương quyết nghịch th́ phát hầu tư, họng sưng, co cứng; trị ở kinh chủ bệnh.
Giải thích: Thủ Dương minh Đại trường và Thủ Thiếu dương Tam tiêu đi qua vùng cổ họng, hàm mặt. Khi hỏa nhiệt quyết nghịch, có thể gây họng sưng đau, bế tắc, co cứng.
Trích Tố Vấn, thiên Quyết Luận.

Chú thích
1. “Lục kinh mạch.”
Giải thích: Mă Thị chú: Câu này nói về trạng thái bệnh chứng của quyết ở sáu kinh chân.
2. “Huyễn phó.”
Giải thích: “Huyễn” âm nghĩa thông với “huyễn”, nghĩa là chóng mặt. Trương Kỳ chú:
“Thượng thực hạ hư, cố huyễn vựng nhi phó.”
Dịch nghĩa: Trên thực dưới hư, nên chóng mặt mà ngă.
Giải thích: Khí nghịch lên trên, phía dưới hư suy, khiến đầu choáng, thân không vững mà té ngă.
3. “Điên tật.”
Giải thích: Bệnh điên cuồng. Trương Kỳ chú:
“Kinh nhiệt nhập phủ, dương tà sí thậm, cố phát cuồng điên.”
Dịch nghĩa: Kinh nhiệt nhập phủ, dương tà bốc mạnh, nên phát cuồng điên.
Giải thích: Dương minh nhiệt thịnh nhiễu thần, nên sinh cuồng điên, vọng kiến, vọng ngôn.
4. “Thiếu dương chi quyết... bất khả dĩ vận.”
Giải thích: Mă Thị chú rằng quyết của Túc Thiếu dương Đởm kinh gây đột ngột tai điếc v́ mạch của nó khởi ở đuôi mắt, lên góc đầu, xuống sau tai; nhánh của nó từ sau tai vào trong tai rồi ra trước tai. Má sưng là v́ mạch đi xuống Đại nghinh, qua Giáp xa rồi xuống cổ. Hông sườn đau là v́ mạch từ Khuyết bồn xuống nách, theo ngực, qua hông sườn, xuống hợp ở vùng khớp háng. Không thể vận động là v́ mạch đi theo mặt ngoài đùi, ra ngoài gối, vào phía trước xương phụ ngoài, đi thẳng xuống đầu xương tuyệt cốt, ra trước mắt cá ngoài. “Hĩnh cốt” ở đây nói rộng là cẳng chân.
5. “Bất đắc ngọa.”
Giải thích: Túc Thái âm quyết th́ tỳ không vận hóa, làm vị không ḥa, nằm không yên, nên không thể nằm.
6. “Thiếu âm chi quyết tâm thống.”
Giải thích: Trương Kỳ chú: Mạch Thiếu âm theo họng, kẹp gốc lưỡi. Kinh nhiệt nên miệng khô. Thận quản nhị tiện, nhiệt chuyển đến bàng quang nên tiểu đỏ. Quan môn không lợi nên bụng đầy. Thận mạch rót vào trong ngực, nhiệt theo kinh lên đến tâm nên đau.
7. “Quyết âm chi quyết... nội nhiệt.”
Giải thích: Trương Kỳ chú: Can mạch đến bụng dưới, nhiệt uất nên sưng đau. Mộc uất khắc thổ nên bụng trướng. Nhiệt không được tiết nên tiểu tiện không lợi. Cân khí không thư nên thích nằm co gối. Mạch ṿng quanh âm khí nên hoặc co rút hoặc sưng, đều là nhiệt uất. Can mạch từ mắt cá trong lên mặt trong khoeo chân, nên bên trong nóng. “Hảo ngọa khuất tất” là thích nằm co gối, co người.
8. “Thái âm quyết nghịch, cấp loan, tâm thống dẫn phúc.”
Giải thích: Các chữ Thái âm và phía sau như Thiếu âm, Quyết âm, Thái dương, Thiếu dương, Dương minh, bản Thái Tố đều thêm chữ “Túc”. Trương Giới Tân chú: Mạch Túc Thái âm đi lên mặt trong bắp chân, theo sau xương chày, nên sinh co rút cấp; vào bụng, chú vào trong tâm, nên tâm và bụng kéo nhau mà đau.
9. “Trị chủ bệnh giả.”
Giải thích: Lấy huyệt du của kinh chịu bệnh mà trị. Các câu sau cũng theo nghĩa này.
10. “Thiếu âm quyết nghịch, hư măn ẩu biến, hạ tiết thanh.”
Giải thích: Diêu Chỉ Am chú: Hư măn là khí không vận. Ẩu biến là hàn phạm vị. Hạ tiết thanh là tỳ hàn không nhiếp. Tổng thể đều do thận hư, mệnh môn hỏa yếu, không thể ôn dưỡng đan điền gây nên. Người không hiểu mà bỏ thận trị tỳ là đánh mất chân cơ.
11. “Quyết âm quyết nghịch, loan, yêu thống, hư măn tiền bế, chiêm ngôn.”
Giải thích: Trương Giới Tân chú: Quyết âm mạch liên lạc các gân, nên sinh co rút, đau lưng. Can tà khinh tỳ thổ nên hư măn. Mạch can ṿng quanh âm khí nên phía trước bế tắc không thông. Can tàng hồn, quyết nghịch ở can th́ thần hồn loạn, nên nói mê sảng.
12. “Tam âm câu nghịch... tam nhật tử.”
Giải thích: Trương Giới Tân chú: Ba âm cùng nghịch th́ tạng khí tuyệt. Thiên Dương Minh Mạch Giải nói: “Quyết nghịch liên kinh th́ sống, liên tạng th́ chết”, chính là ư này.
13. “Thái dương quyết nghịch, cương phó, ẩu huyết, thiện nục.”
Giải thích: Kinh Túc Thái dương giao ở đỉnh đầu, vào liên lạc năo, nên cứng đờ mà ngă. Dương Thượng Thiện chú: Ngă ngửa gọi là cương, ngă sấp gọi là phó; cương phó có tổn thương nên nôn máu. Máu từ mũi ra gọi là nục.
14. “Thiếu dương quyết nghịch... kinh giả tử.”
Giải thích: Trương Giới Tân chú: Cơ quan là nơi trọng yếu hội tụ của gân xương. Đởm ứng với gân, Thiếu dương quyết nghịch th́ gân không lợi, nên sinh bệnh ở eo lưng, cổ gáy, khớp. Trường ung phát từ Thiếu dương quyết nghịch là hỏa tướng kết độc, nên khó trị. Nếu có kinh sợ là độc liên đến tạng, nên chết. Ngô Côn chú: Kinh là độc khí vào tâm, nên chết. Quách Ái Xuân hiệu rằng “bất khả” nên là “do khả”, nghĩa là c̣n có thể trị.
15. “Dương minh quyết nghịch... ẩu huyết.”
Giải thích: Diêu Chỉ Am chú: Dương minh nhiều khí nhiều huyết. Vị hỏa thịnh th́ xung lên phế, nên suyễn ho. Đi ở tam dương nên thân nhiệt. Hỏa tính động nên dễ kinh, các loại huyết v́ vậy không yên. Ngoài ra sau câu Dương minh quyết nghịch không có bốn chữ “trị chủ bệnh giả”, e có sót văn.
16. “Thân nhiệt, tử bất khả trị.”
Giải thích: Trương Giới Tân chú: Hai kinh này thuộc hỏa, chủ huyết mạch, nên thân nhiệt. Tâm là đại chủ của ngũ tạng lục phủ, nên nếu nghịch th́ chết, không thể trị. Bản Thái Tố và Châm Cứu Giáp Ất Kinh đều chép: “Thân nhiệt tử, bất nhiệt khả trị”, nghĩa là thân nóng th́ chết, không nóng th́ có thể trị.
17. “Yêu bất khả dĩ phủ ngưỡng.”
Giải thích: Linh Khu, thiên Tứ Thời Khí nói: “Tà ở tiểu trường th́ liên hệ với hệ của tinh hoàn, thuộc về cột sống”, nên eo lưng không thể cúi ngửa.
18. “Kính.”
Giải thích: Tân Hiệu Chính dẫn bản Toàn Nguyên Khởi chép là “kính”. Trương Chí Thông chú: Dương minh là kinh táo nhiệt, Tam tiêu thuộc long lôi chi hỏa; hỏa nhiệt cùng nghịch, nên phát kính, tức co cứng, co giật.

Phân tích
Đoạn này tŕnh bày triệu chứng và nguyên tắc điều trị của lục kinh quyết, đồng thời nói rơ triệu chứng và tiên lượng của thập nhị kinh quyết.
Khi khí cơ của kinh mạch nghịch loạn th́ có thể h́nh thành chứng kinh quyết. Triệu chứng chính của lục kinh quyết là:
“Thái dương quyết chứng.”
Dịch nghĩa: Chứng quyết thuộc kinh Thái dương.
Giải thích: Do dưới hư trên thực, nên có đầu nặng, đầu sưng, hoặc chóng mặt, hôn ngă; chi dưới mềm yếu, không thể đi lại.
“Dương minh quyết chứng.”
Dịch nghĩa: Chứng quyết thuộc kinh Dương minh.
Giải thích: Dương minh nhiệt thịnh mà khí quyết nghịch th́ phát thành điên cuồng. Người bệnh có thể muốn chạy, la hét, mặt đỏ nóng, thấy bậy, nói bậy, bụng đầy, không nằm được.
“Thiếu dương quyết chứng.”
Dịch nghĩa: Chứng quyết thuộc kinh Thiếu dương.
Giải thích: Có biểu hiện tai điếc, má sưng, đau hông sườn. Do kinh Thiếu dương đi qua tai, má, hông sườn và vùng mặt ngoài thân thể, nên khi khí cơ nghịch loạn th́ các vùng này phát bệnh.
“Thái âm quyết chứng.”
Dịch nghĩa: Chứng quyết thuộc kinh Thái âm.
Giải thích: Có biểu hiện bụng trướng, đại tiện không lợi, ăn uống giảm sút. Thái âm chủ tỳ, tỳ mất vận hóa th́ bụng đầy, đại tiện không thông, chán ăn.
“Thiếu âm quyết chứng.”
Dịch nghĩa: Chứng quyết thuộc kinh Thiếu âm.
Giải thích: Có biểu hiện miệng khô, nước tiểu đỏ, bụng đầy, đau vùng tâm. Thiếu âm liên hệ tâm thận, khi nhiệt hoặc khí nghịch theo kinh th́ trên gây tâm thống, miệng khô; dưới ảnh hưởng bàng quang nên tiểu đỏ.
“Quyết âm quyết chứng.”
Dịch nghĩa: Chứng quyết thuộc kinh Quyết âm.
Giải thích: Có biểu hiện bụng dưới sưng đau, bụng trướng, tiểu tiện không lợi, âm bộ sưng hoặc co rút. Quyết âm thuộc can, can mạch ṿng quanh âm khí và đến thiếu phúc, nên bệnh thường biểu hiện ở bụng dưới, tiền âm và tiểu tiện.
Triệu chứng của thập nhị kinh quyết là:
“Túc Thái âm quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Khí quyết nghịch ở kinh Túc Thái âm.
Giải thích: Cẳng chân co rút cấp, đau vùng tâm kéo xuống bụng.
“Túc Thiếu âm quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Khí quyết nghịch ở kinh Túc Thiếu âm.
Giải thích: Bụng trướng, nôn ói, tiêu chảy. Đây thường liên hệ thận hư, mệnh môn hỏa yếu, không ôn hóa được tỳ vị.
“Túc Quyết âm quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Khí quyết nghịch ở kinh Túc Quyết âm.
Giải thích: Eo lưng co rút đau, bụng trướng, tiểu tiện không thông, nói mê. Can kinh liên hệ gân, eo lưng, tiền âm và thần hồn, nên khi quyết nghịch có các chứng này.
“Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm chi kinh quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Ba kinh âm cùng quyết nghịch.
Giải thích: Đại tiểu tiện không thông, tứ chi quyết lạnh, tiên lượng không tốt. V́ ba âm đều nghịch th́ tạng khí suy tuyệt, bệnh rất nguy.
“Túc Thái dương quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Khí quyết nghịch ở kinh Túc Thái dương.
Giải thích: Hôn ngă, nôn ra máu, chảy máu cam. Thái dương lên đầu, liên hệ năo; khí huyết nghịch loạn th́ có thể ngă, xuất huyết.
“Túc Thiếu dương quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Khí quyết nghịch ở kinh Túc Thiếu dương.
Giải thích: Khớp không lợi, eo lưng và cổ gáy không xoay chuyển được. Nếu kèm phát trường ung hoặc phát kinh sợ th́ tiên lượng xấu.
“Túc Dương minh quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Khí quyết nghịch ở kinh Túc Dương minh.
Giải thích: Ho, suyễn, phát sốt, dễ kinh sợ, chảy máu cam, nôn máu. Dương minh nhiều khí nhiều huyết, khi nhiệt thịnh th́ huyết bị bức đi bừa.
“Thủ Thái âm quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Khí quyết nghịch ở kinh Thủ Thái âm.
Giải thích: Bụng hoặc ngực đầy hư, ho, nôn ra nước trong hoặc bọt dăi. Đây là phế khí không tuyên giáng, đàm ẩm nghịch lên.
“Thủ Quyết âm, Thủ Thiếu âm quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Khí quyết nghịch ở kinh Tâm bào và Tâm.
Giải thích: Đau tim kéo lên họng, nếu phát sốt là tử chứng. V́ tâm là chủ của ngũ tạng lục phủ, khi tà nghịch phạm tâm mà có thân nhiệt th́ bệnh rất nặng.
“Thủ Thái dương quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Khí quyết nghịch ở kinh Thủ Thái dương.
Giải thích: Tai điếc, chảy nước mắt, cổ gáy và eo lưng vận động không linh hoạt. Thủ Thái dương Tiểu trường kinh liên hệ tai, mắt, cổ gáy và cột sống.
“Thủ Dương minh, Thủ Thiếu dương quyết nghịch.”
Dịch nghĩa: Khí quyết nghịch ở kinh Thủ Dương minh và Thủ Thiếu dương.
Giải thích: Phát hầu tư, họng sưng, cổ gáy cứng. Hai kinh này đi qua vùng cổ họng, hàm mặt; hỏa nhiệt nghịch lên th́ sinh sưng đau, bế tắc, co cứng.
Trong lục kinh quyết và thập nhị kinh quyết, có hàn chứng, cũng có nhiệt chứng; có hư chứng, cũng có thực chứng. Từ thực tế lâm sàng mà xem, trong đó bao gồm nhiều loại bệnh chứng khác nhau. Ví dụ Thái dương quyết khá giống chứng trúng phong đột ngă; Dương minh quyết giống nhiệt quyết mà đời sau thường nói; Thái âm quyết giống thực quyết do thức ăn tích trệ gây nên; Thiếu âm quyết nghịch giống chứng quyết do thượng thổ hạ tả, hư thoát; quyết do nôn máu, chảy máu cam th́ thuộc huyết quyết. Có thể thấy những điều thiên này tŕnh bày đều có cơ sở thực tiễn.
Về điều trị, kinh văn nêu ra các nguyên tắc:
“Thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi.”
Dịch nghĩa: Thịnh th́ tả, hư th́ bổ; không thịnh không hư th́ theo kinh mà lấy huyệt trị.
Giải thích: Điều trị quyết chứng phải trước hết phân biệt hư thực. Thực th́ dùng phép tả, hư th́ dùng phép bổ; nếu không rơ hư thực th́ căn cứ kinh mạch bị bệnh mà chọn huyệt điều trị.
“Trị chủ bệnh giả.”
Dịch nghĩa: Trị ở kinh chủ bệnh.
Giải thích: Kinh nào phát bệnh th́ lấy huyệt của kinh ấy làm chủ để điều trị. Đây là nguyên tắc phân kinh luận trị.
Những điều này gợi ư rằng điều trị quyết chứng nhất định phải phân biệt hư thực, khéo dùng bổ tả, và căn cứ kinh mạch để luận trị. Châm thích đối với cấp cứu quyết chứng thường có hiệu quả khá tốt; trừ một số tử chứng không thể trị, nhiều trường hợp có thể làm người bệnh hồi quyết, tỉnh lại.
Bệnh nhân, bệnh cơ, chẩn đoán phân biệt và nguyên tắc điều trị của trường đàm và thạch hà
Nguyên văn
“Trường đàm hà như?”
Dịch nghĩa: Trường đàm là như thế nào?
Giải thích: Đây là câu hỏi về một loại khối tích trong bụng, phát sinh liên quan đến hàn khí khách ở ngoài ruột, vệ khí bị trở, dần dần sinh khối.
“Kỳ Bá viết: Hàn khí khách ư trường ngoại, dữ vệ khí tương bác, khí bất đắc vinh.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Hàn khí khách ở ngoài ruột, cùng vệ khí giao tranh, khiến khí không thể vận hành nuôi dưỡng.
Giải thích: Hàn tà xâm nhập vùng ngoài ruột, làm vệ khí bị trở, khí cơ không thông, khí huyết tân dịch không vận hành b́nh thường.
“Nhân hữu sở hệ, tích nhi nội trước, ác khí năi khởi, tức nhục năi sinh.”
Dịch nghĩa: Nhân đó có chỗ bị ràng buộc, tà khí tích lại và bám vào trong, ác khí liền sinh, thịt thừa liền h́nh thành.
Giải thích: Khí trệ, hàn ngưng, tân dịch và huyết ứ lâu ngày kết tụ, tạo thành khối dạng tức nhục, tức khối thịt thừa hoặc khối tích.
“Kỳ thủy sinh dă, đại như kê noăn, sảo dĩ ích đại.”
Dịch nghĩa: Lúc mới sinh ra, khối ấy lớn như trứng gà, dần dần ngày càng to.
Giải thích: Trường đàm ban đầu là khối nhỏ, sau do tà khí, ứ trệ, đàm kết tích lũy mà tăng dần kích thước.
“Chí kỳ thành, như hoài tử chi trạng, cửu giả ly tuế.”
Dịch nghĩa: Đến khi h́nh thành đầy đủ, giống như trạng thái mang thai; lâu th́ kéo dài qua năm.
Giải thích: Khối lớn dần khiến bụng trướng to như có thai, bệnh tŕnh lâu dài, có thể kéo dài nhiều năm.
“Án chi tắc kiên, thôi chi tắc di, nguyệt sự dĩ thời hạ, thử kỳ hậu dă.”
Dịch nghĩa: Ấn vào th́ cứng, đẩy th́ khối di chuyển, kinh nguyệt vẫn xuống đúng thời; đó là dấu hiệu của trường đàm.
Giải thích: Điểm phân biệt quan trọng là khối cứng nhưng có thể di động, và kinh nguyệt vẫn b́nh thường. Điều này cho thấy khối không nằm trong tử cung, mà ở ngoài ruột hoặc vùng bụng.
“Thạch hà hà như?”
Dịch nghĩa: Thạch hà là như thế nào?
Giải thích: Đây là câu hỏi về một loại khối cứng ở tử cung, thường liên quan đến hàn khí khách ở tử môn, huyết ứ không thoát.
“Kỳ Bá viết: Thạch hà sinh ư bào trung.”
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Thạch hà sinh ở trong bào cung.
Giải thích: Khác với trường đàm, thạch hà nằm trong tử cung hoặc liên hệ trực tiếp với bào cung.
“Hàn khí khách ư tử môn, tử môn bế tắc, khí bất đắc thông.”
Dịch nghĩa: Hàn khí khách ở tử môn, tử môn bế tắc, khí không thể thông.
Giải thích: Hàn tà làm tử môn bế lại, khí cơ vùng bào cung không thông, gây huyết ứ, khối kết.
“Ác huyết đương tả bất tả, phôi dĩ lưu chỉ.”
Dịch nghĩa: Ác huyết đáng lẽ phải tiết ra mà không tiết ra, máu ứ đen tím lưu lại không đi.
Giải thích: Kinh huyết không được bài xuất đúng kỳ, ứ huyết lưu lại trong bào cung, lâu ngày kết thành khối cứng như đá.
“Nhật dĩ ích đại, trạng như hoài tử, nguyệt sự bất dĩ thời hạ.”
Dịch nghĩa: Ngày càng to lên, trạng thái giống như mang thai, kinh nguyệt không xuống đúng kỳ.
Giải thích: Thạch hà làm bụng to như có thai, nhưng do huyết bị bế trong bào cung nên kinh nguyệt rối loạn hoặc không hành đúng kỳ.
“Giai sinh ư nữ tử, khả đạo nhi hạ.”
Dịch nghĩa: Đều sinh ở phụ nữ, có thể dùng phép dẫn đạo cho đi xuống mà chữa.
Giải thích: Trường đàm và thạch hà đều là bệnh khối tích ở phụ nữ. Nguyên tắc trị là làm thông khí huyết, dẫn tà, ứ huyết hoặc tích trệ đi xuống để trừ bệnh.
Trích Linh Khu, thiên Thủy Trướng.

Chú thích
1. "Trường đàm."
Giải thích: “Đàm” thời cổ thông với “tầm”, tức loài nấm. “Trường đàm” chỉ khối u mọc ở ngoài ruột, h́nh dạng giống nấm.
2. "Khí bất đắc vinh."
Giải thích: Trong Châm Cứu Giáp Ất Kinh, Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương v.v., trước chữ “khí” đều có chữ “chính”. “Vinh” tức “dinh”, nghĩa là vận hành, doanh vận. “Khí bất đắc vinh” nghĩa là chính khí không thể vận hành b́nh thường.
3. "Tích."
Giải thích: Nghĩa là tích tụ, khối tích.
4. "Tức nhục."
Giải thích: Chỉ vật tăng sinh thừa ở trong cơ thể. Trương Giới Tân chú:
"Tức nhục, ác nhục dă."
Dịch nghĩa: Tức nhục là thịt xấu, thịt bệnh lư.
Giải thích: Đây là khối thịt dư do khí huyết, hàn tà, ứ trệ kết lại mà sinh.
5. "Ly tuế."
Giải thích: “Ly” là vượt qua. “Ly tuế” nghĩa là bệnh tŕnh kéo dài quá một năm.
6. "Thạch hà."
Giải thích: Là khối u sinh ở bào cung, cứng chắc như đá.
7. "Phôi."
Giải thích: Chỉ máu chết, máu ứ ngưng tụ.
8. "Khả đạo nhi hạ."
Giải thích: “Đạo” là sơ đạo, thông đạo. Ở đây chỉ dùng phép trục ứ, thông đạo để làm cho huyết ứ đi xuống mà ra.

Phân tích
Tiết này luận về bệnh nhân, bệnh cơ, chẩn đoán phân biệt và phép trị của trường đàm và thạch hà.
"Trường đàm."
Giải thích: Trường đàm là khối tích ở ngoài ruột, nguyên nhân do hàn khí khách ở ngoài ruột, cùng vệ khí giao tranh, khiến khí huyết ủng tích lâu ngày thành khối. V́ bệnh vị ở ruột, nam nữ đều có thể mắc; nếu phụ nữ mắc th́ không ảnh hưởng đến kinh nguyệt.
"Thạch hà."
Giải thích: Thạch hà là khối tích sinh ở bào cung, do hàn khí khách ở tử môn, khiến tử môn bế tắc, ứ huyết lưu lại trong bào cung, lâu ngày thành khối. V́ bệnh vị ở bào cung nên chỉ phát sinh ở phụ nữ, đồng thời thấy kinh nguyệt không đến đúng kỳ. Khi sờ nắn thường thấy khối cứng chắc, thường đẩy không di động.
Hai bệnh đều lấy hàn khí làm bệnh nhân, đều thuộc loại bệnh có khối tích trong bụng, giai đoạn sau đều có bụng to như mang thai, v́ vậy cần phải phân biệt. Điểm phân biệt trọng yếu là: trường đàm tuy ấn vào cứng nhưng đẩy th́ di động, kinh nguyệt vẫn xuống đúng kỳ; thạch hà th́ khối cứng như đá, thường không di động, kinh nguyệt không đúng kỳ hoặc không xuống.
Hai bệnh đều thuộc chứng khí trệ huyết ứ. Kinh văn nói phép trị là:
"Khả đạo nhi hạ."
Dịch nghĩa: Có thể dùng phép thông đạo để cho đi xuống.
Giải thích: Trên lâm sàng có thể dùng phép hoạt huyết hành ứ, thông đạo công hạ để làm khí huyết thông, huyết ứ đi xuống, khối tích tiêu dần.
Triệu chứng đặc điểm và chẩn đoán phân biệt của thủy trướng, phu trướng, cổ trướng
Nguyên văn
"Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Thủy dữ phu trướng, cổ trướng, trường đàm, thạch hà, thạch thủy, hà dĩ biệt chi?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá: Thủy trướng với phu trướng, cổ trướng, trường đàm, thạch hà, thạch thủy, làm thế nào để phân biệt?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi cách phân biệt các loại bệnh đều có biểu hiện bụng to, thân phù, khối tích hoặc thủy thấp tích tụ.
"Kỳ Bá đáp viết: Thủy thủy khởi dă, mục khoa thượng vi thũng, như tân ngọa khởi chi trạng."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Khi thủy trướng mới phát, vùng mí mắt hơi sưng, giống như trạng thái vừa ngủ dậy.
Giải thích: Mí mắt là nơi thủy thấp dễ biểu hiện sớm. Thủy khí mới phát thường thấy phù nhẹ vùng mắt, nhất là như người mới ngủ dậy.
"Kỳ cảnh mạch động, thời khái, âm cổ gian hàn, túc hĩnh thống, phúc năi đại, kỳ thủy dĩ thành hĩ."
Dịch nghĩa: Mạch ở cổ động, thỉnh thoảng ho, vùng mặt trong đùi lạnh, cẳng chân đau, bụng bèn to lên, lúc ấy thủy bệnh đă thành.
Giải thích: Thủy khí thượng nghịch th́ nhân nghênh mạch động, phế khí không tuyên nên ho; thủy thấp trở dương ở hạ bộ nên vùng âm cổ lạnh, cẳng chân đau; thủy tụ trong bụng th́ bụng to.
"Dĩ thủ án kỳ phúc, tùy thủ nhi khởi, như lư thủy chi trạng, thử kỳ hậu dă."
Dịch nghĩa: Dùng tay ấn bụng, bụng theo tay mà nổi lên lại, giống như trạng thái bọc nước, đó là triệu chứng của thủy trướng.
Giải thích: Thủy trướng lấy thủy thấp tích tụ làm chủ. Khi trong bụng có nước, ấn vào có cảm giác như bọc nước, da bụng đàn hồi, có thể theo tay mà nổi lại.
"Hoàng Đế viết: Phu trướng hà dĩ hậu chi?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Phu trướng th́ dựa vào ǵ để nhận biết?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi triệu chứng đặc trưng của phu trướng, tức chứng trướng liên quan da thịt, b́ phu.
"Kỳ Bá viết: Phu trướng giả, hàn khí khách ư b́ phu chi gian, đông đông nhiên bất kiên, phúc đại, thân tận thũng, b́ hậu."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Phu trướng là do hàn khí khách ở giữa da thịt, gơ vào kêu đông đông mà không cứng, bụng to, toàn thân đều sưng, da dày.
Giải thích: Hàn khí khách ở b́ phu, làm dương khí bị bế, khí không hành, thủy không vận. Bụng trướng nhưng không cứng chắc; toàn thân phù, da dày là đặc điểm của phu trướng.
"Án kỳ phúc, yểu nhi bất khởi, phúc sắc bất biến, thử kỳ hậu dă."
Dịch nghĩa: Ấn vào bụng th́ lơm xuống mà không nổi lên lại, sắc bụng không thay đổi, đó là triệu chứng của phu trướng.
Giải thích: Do thủy thấp đầy ở b́ phu, da thịt bị phù nặng, ấn lơm lâu không phục hồi; nhưng sắc bụng không đổi rơ, khác với cổ trướng.
"Cổ trướng hà như?"
Dịch nghĩa: Cổ trướng th́ như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi đặc điểm của cổ trướng, tức bụng trướng như cái trống.
"Kỳ Bá viết: Phúc trướng thân giai đại, đại dữ phu trướng đẳng, sắc thương hoàng, phúc cân khởi, thử kỳ hậu dă."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Bụng trướng, thân thể đều to, mức độ to tương tự phu trướng; sắc xanh vàng, gân mạch ở bụng nổi lên, đó là triệu chứng của cổ trướng.
Giải thích: Cổ trướng có bụng to, thân phù, sắc mặt xanh vàng, mạch lạc thành bụng nổi rơ. Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt với thủy trướng và phu trướng.
Trích Linh Khu, thiên Thủy Trướng.

Chú thích
1. "Thủy."
Giải thích: Chỉ bệnh thủy trướng.
2. "Thạch thủy."
Giải thích: Tên bệnh, phần sau của nguyên văn không luận đến, nghi có chỗ thiếu sót. Theo Tố Vấn, thiên Âm Dương Biệt Luận:
"Âm dương kết tà, đa âm thiểu dương viết thạch thủy, thiếu phúc thũng."
Dịch nghĩa: Âm dương kết tà, âm nhiều dương ít gọi là thạch thủy, bụng dưới sưng.
Giải thích: Thạch thủy là bệnh thủy thũng do dương hư âm thịnh, thủy khí tụ bên trong gây nên, chủ chứng là bụng dưới sưng.
3. "Mục khoa."
Giải thích: “Khoa” trong bản Thái Tố viết là “quả”, tức “lư”; Kim Quỹ Yếu Lược, Mạch Kinh, Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận đều viết là “lư”. “Mục lư” tức mí mắt.
4. "Cảnh mạch."
Giải thích: Chỉ động mạch bên cạnh yết hầu, tức mạch Nhân nghênh. Trong Nội Kinh có phép so sánh mạch Thốn khẩu và mạch Nhân nghênh để chẩn đoán bệnh.
5. "Đông đông nhiên."
Giải thích: Là tiếng trống. Nghĩa là khi gơ vào bụng có âm vang như tiếng trống.
6. "Yểu."
Giải thích: Nghĩa là lơm xuống.
7. "Phúc cân khởi."
Giải thích: Trong Hoàng Đế Thái Tố, chữ “cân” viết là “mạch”, nghĩa là thành bụng có mạch lạc hiện rơ, nổi lên.

Phân tích
Tiết này luận về triệu chứng đặc điểm và chẩn đoán phân biệt của thủy trướng, phu trướng và cổ trướng.
"Thủy trướng."
Giải thích: Thủy trướng lấy thủy thấp đ́nh tụ làm chủ, triệu chứng phần nhiều có h́nh tích rơ. Thủy thấp thượng phiếm th́ mắt sưng, mạch Nhân nghênh thịnh, ho suyễn; thủy thấp hạ tràn th́ bụng có nước, chân cẳng sưng đau; thấp ngăn trở dương khí th́ vùng âm cổ lạnh. Đặc điểm là thủy tụ trong khoang bụng, ấn vào bụng th́ theo tay mà nổi lên, như bọc nước.
"Phu trướng."
Giải thích: Phu trướng trước hết do hàn khí xâm nhập, dương khí bị bế. V́ vậy triệu chứng phần nhiều thiên về vô h́nh, khí không hành th́ thủy không vận. Bụng nước không rơ rệt, mà chủ yếu là khí trệ không thông trong bụng, cho nên gơ vào rỗng vang, không cứng chắc. Do da thịt thành bụng có nước, ấn vào lơm mà không nổi lên lại.
"Cổ trướng."
Giải thích: T́nh trạng toàn thân phù trướng tuy giống phu trướng, nhưng khí trệ và thủy đ́nh đều nặng hơn, gần giống chứng “xơ gan cổ trướng” ngày nay. V́ vậy có biểu hiện đặc biệt là:
"Sắc thương hoàng, phúc cân khởi."
Dịch nghĩa: Sắc xanh vàng, gân mạch ở bụng nổi lên.
Giải thích: Sắc xanh vàng phản ánh can tỳ tổn thương, khí huyết ứ trệ; gân mạch bụng nổi là dấu hiệu khí huyết ứ trở, thủy trướng lâu ngày. Lâm sàng không khó phân biệt.
Khí trệ và thủy đ́nh là hai điểm then chốt trong bệnh cơ của thủy thũng. Hai yếu tố này ảnh hưởng lẫn nhau và làm nhân quả cho nhau. Khí trệ không thể hành thủy th́ thủy thấp đ́nh tụ; ngược lại, thủy thấp đ́nh tụ cũng có thể ngăn trở dương khí, gây khí trệ. V́ vậy đời sau Trương Trọng Cảnh gọi bệnh phù thũng là “thủy khí bệnh”.
Trong lâm sàng, phân biệt thủy thũng với khí trướng rất quan trọng. Điều trị bệnh thủy thũng cần phân rơ chủ thứ, đồng thời chiếu cố cả thủy và khí. Nếu thủy đ́nh là chủ yếu th́ trọng lợi thủy, kiêm hành khí; nếu khí trệ là trước tiên th́ lư khí, kiêm hành thủy.
Về vấn đề thủy trướng ấn vào th́ theo tay nổi lên, c̣n phu trướng ấn vào lơm mà không nổi lên, Trương Giới Tân đưa ra ư kiến khác trong Cảnh Nhạc Toàn Thư, thiên Thũng Trướng Luận Chứng:
"Cái phàm thị thủy chứng, tất án chi yểu nhi bất khởi, thử kỳ thủy tại nhục trung như tao như nê, án chi tốt bất năng tụ, vị tất như thủy nang chi bỉ. Phàm tùy án tùy khởi giả, diệc duy hư vô chi khí, kỳ tốc năi nhiên, cố biện đương nhược thử."
Dịch nghĩa: Phàm là thủy chứng, ấn vào tất lơm mà không nổi lên ngay, v́ nước ở trong thịt như bă rượu, như bùn, ấn xuống th́ nhất thời không thể tụ lại, chưa chắc giống như túi nước. Phàm ấn xuống liền nổi lên theo tay, chỉ có khí hư vô mới nhanh như vậy, nên phân biệt phải như thế.
Giải thích: Ư kiến này khá gần với thực tiễn lâm sàng, v́ phù nước ở mô thường ấn lơm lâu mới phục hồi. Nhưng nếu lượng dịch ổ bụng nhiều, h́nh thành nhanh, bụng như “bọc nước”, da bụng mỏng sáng, áp lực ổ bụng tăng cao, cũng có thể xuất hiện ấn vào rồi nổi lên theo tay.
Phu trướng tuy là trong bụng có khí tích, nói chung ấn bụng nên theo tay nổi lại; nhưng phu trướng là toàn thân phù nặng, thủy thấp đầy ở dưới da thành bụng, cho nên ấn có thể lơm mà không nổi lên, gơ lại có tiếng trống. Tóm lại, khi chẩn đoán cần kết hợp tính chất sưng trướng, mức độ nặng nhẹ, vị trí ấn, cùng các t́nh huống cụ thể khác của người bệnh để phân biệt.

Phép châm thích điều trị phu trướng và cổ trướng
Nguyên văn
"Hoàng Đế viết: Phu trướng, cổ trướng khả thích da?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Phu trướng và cổ trướng có thể dùng châm thích được không?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về phương pháp dùng châm để điều trị hai loại bệnh trướng, trong đó khí, huyết và thủy thấp bị đ́nh tụ ở b́ phu hoặc trong bụng.
"Kỳ Bá viết: Tiên tả kỳ trướng chi huyết lạc, hậu điều kỳ kinh, thích khứ kỳ huyết lạc dă."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Trước hết phải tả các huyết lạc nơi bị trướng, sau đó điều ḥa kinh mạch của nó, châm để loại bỏ huyết lạc ứ trệ.
Giải thích: Phép trị là trước tiên chích lạc phóng huyết ở những huyết lạc nổi lên do trướng, nhằm làm thông huyết ứ, sau đó tùy theo hư thực mà điều ḥa kinh khí. Điều này cho thấy trong phu trướng và cổ trướng, huyết ứ, lạc mạch bế trở cũng là một khâu quan trọng; cần thông huyết để khí hành, thủy vận.
Trích Linh Khu, thiên Thủy Trướng.

Chú thích
1. "Tiên tả kỳ trướng chi huyết lạc, hậu điều kỳ kinh."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh và Thái Tố đều chép là “tiên thích kỳ phúc chi huyết lạc”, nghĩa là trước châm huyết lạc ở bụng. “Phúc chi huyết lạc” chỉ những huyết lạc nổi trướng ở thành bụng. Trương Giới Tân chú:
"Tiên tả kỳ trướng chi huyết lạc, vị vô luận hư thực, phàm hữu huyết lạc chi ngoại hiện giả, tất tiên tả chi, nhi hậu nhân hư thực dĩ điều kỳ kinh dă."
Dịch nghĩa: Trước hết tả huyết lạc nơi bị trướng, nghĩa là bất luận hư hay thực, phàm có huyết lạc hiện ra bên ngoài th́ trước phải tả nó, rồi sau đó dựa theo hư thực mà điều ḥa kinh mạch.
Giải thích: Khi có lạc mạch nổi rơ bên ngoài, chứng tỏ có huyết ứ ở lạc. Trước tiên phải chích lạc để thông huyết, sau đó mới điều chỉnh kinh khí theo t́nh trạng hư thực.
2. "Thích khứ kỳ huyết lạc."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh và Thái Tố đều chép là “diệc thích khứ kỳ huyết lạc”, tương ứng với câu trên “tiên tả”, có ư là sau đó cũng phải châm để loại bỏ huyết lạc ứ trệ.
Phân tích
Tiết này luận về phương pháp chích huyết lạc để điều trị phu trướng và cổ trướng. Phép này phù hợp với phương pháp "khứ uất trần tỏa" được nói trong Tố Vấn, thiên Thang Dịch Lao Lễ Luận.
"Khứ uất trần tỏa."
Dịch nghĩa: Loại bỏ những uất trệ, ứ cũ.
Giải thích: “Khứ uất trần tỏa” là phép trừ bỏ khí huyết ứ trệ lâu ngày. Trong bệnh trướng, khí, huyết và thủy có quan hệ sinh lư, bệnh lư mật thiết, ảnh hưởng lẫn nhau. Khi huyết lạc ứ trệ th́ khí không hành, thủy không vận. V́ vậy, thông qua chích lạc phóng huyết có thể làm huyết mạch thông, khí cơ thông, thủy thấp được vận hóa. Cận đại lâm sàng dùng thuốc hoạt huyết hóa ứ để điều trị thủy thũng, thu được hiệu quả nhất định, chính là sự phát triển thêm từ lư luận Nội Kinh.
Bệnh cơ tiêu bản của hai tạng phế, thận trong bệnh thủy thũng
Nguyên văn
"Hoàng Đế vấn viết: Thiếu âm hà dĩ chủ thận? Thận hà dĩ chủ thủy?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: V́ sao Thiếu âm chủ thận? V́ sao thận chủ thủy?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi căn cứ lư luận của việc quy thận thuộc Thiếu âm và chức năng thận chủ thủy trong bệnh thủy thũng.
"Kỳ Bá đối viết: Thận giả, chí âm dă, chí âm giả, thịnh thủy dă."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Thận là chí âm; chí âm là nơi thủy thịnh.
Giải thích: Thận thuộc thủy, là tạng âm trong âm, giữ vai tṛ chủ quản thủy dịch toàn thân, nên gọi là chí âm và là tạng chứa thủy.
"Phế giả, Thái âm dă, Thiếu âm giả, đông mạch dă."
Dịch nghĩa: Phế là Thái âm, Thiếu âm là mạch ứng với mùa đông.
Giải thích: Phế thuộc Thái âm, thận thuộc Thiếu âm. Thiếu âm thận ứng với mùa đông, mùa đông thuộc thủy, nên thận có quan hệ mật thiết với thủy dịch.
"Cố kỳ bản tại thận, kỳ mạt tại phế, giai tích thủy dă."
Dịch nghĩa: Cho nên gốc của bệnh ở thận, ngọn của bệnh ở phế, đều là bệnh tích nước.
Giải thích: Trong bệnh thủy thũng, thận là gốc v́ thận chủ thủy, chủ khí hóa thủy dịch toàn thân; phế là ngọn v́ phế chủ tuyên phát túc giáng, thông điều thủy đạo. Phế và thận cùng điều ḥa chuyển hóa thủy dịch, nên rối loạn hai tạng này đều có thể gây tích nước.
"Đế viết: Thận hà dĩ năng tụ thủy nhi sinh bệnh?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: V́ sao thận có thể làm tụ nước mà sinh bệnh?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi cơ chế thận rối loạn làm nước tụ lại, gây thủy thũng.
"Kỳ Bá viết: Thận giả, vị chi quan dă."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Thận là cửa ải của vị.
Giải thích: Thận chủ nhị âm, quản việc đóng mở, bài tiết thủy dịch và cặn bă của thủy cốc. Đại tiểu tiện có thông lợi hay không trực tiếp ảnh hưởng đến chức năng tỳ vị, nên nói thận là cửa ải của vị.
"Quan môn bất lợi, cố tụ thủy nhi ṭng kỳ loại dă."
Dịch nghĩa: Cửa ải không thông lợi, nên nước tụ lại và theo loại của nó mà sinh bệnh.
Giải thích: Nếu thận khí hóa không lợi, nhị tiện không thông, thủy dịch không được bài tiết b́nh thường, th́ nước tụ lại trong cơ thể, dẫn đến thủy thũng.
"Thượng hạ phún ư b́ phu, cố vi phụ thũng, phụ thũng giả, tụ thủy nhi sinh bệnh dă."
Dịch nghĩa: Nước tràn lên xuống ở b́ phu, nên thành phù thũng; phù thũng là do nước tụ lại mà sinh bệnh.
Giải thích: Khi thủy dịch không được khí hóa, không được bài tiết, nó tràn ra trên dưới, thấm vào b́ phu, gây phù thũng toàn thân hoặc từng vùng.
"Đế viết: Chư thủy giai sinh ư thận hồ?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Các chứng thủy đều sinh ra từ thận chăng?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi có phải mọi bệnh thủy thũng đều quy gốc ở thận hay không.
"Kỳ Bá viết: Thận giả, tẫn tạng dă, địa khí thượng giả thuộc ư thận, nhi sinh thủy dịch dă, cố viết chí âm."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Thận là tạng âm; địa khí bốc lên thuộc về thận mà sinh thủy dịch, nên gọi là chí âm.
Giải thích: Thận thuộc âm, chủ thủy. Thủy dịch trong cơ thể nhờ thận khí bốc hơi, khí hóa mà phân bố lên trên, giống như địa khí bốc lên thành mây, thiên khí giáng xuống thành mưa. V́ vậy thận được gọi là chí âm.
"Dũng nhi lao thậm tắc thận hăn xuất."
Dịch nghĩa: Người gắng sức mạnh mẽ mà lao nhọc quá mức th́ thận hăn xuất.
Giải thích: Lao lực quá độ làm tổn thương thận khí, khiến mồ hôi liên quan đến thận khí tiết ra. Đây là t́nh trạng chính khí suy tổn sau lao nhọc.
"Thận hăn xuất phùng ư phong, nội bất đắc nhập ư tạng phủ, ngoại bất đắc việt ư b́ phu."
Dịch nghĩa: Thận hăn đă ra mà gặp phong, bên trong không thể nhập vào tạng phủ, bên ngoài không thể vượt ra b́ phu.
Giải thích: Sau lao nhọc mồ hôi ra, tấu lư mở, nếu gặp phong tà th́ phong tà và thủy khí bị giữ lại, không vào sâu được tạng phủ, cũng không thoát ra ngoài b́ phu được.
"Khách ư huyền phủ, hành ư b́ lư, truyền vi phụ thũng, bản chi ư thận, danh viết phong thủy."
Dịch nghĩa: Tà khí khách ở huyền phủ, đi trong lớp da, truyền thành phù thũng; gốc bệnh ở thận, gọi là phong thủy.
Giải thích: Phong tà khách ở lỗ mồ hôi và b́ lư, làm thủy khí đ́nh trệ ở ngoài, gây phù thũng. V́ gốc bệnh liên quan đến thận khí, lại do gặp phong mà phát, nên gọi là phong thủy.
"Sở vị huyền phủ giả, hăn khổng dă."
Dịch nghĩa: Cái gọi là huyền phủ chính là lỗ mồ hôi.
Giải thích: Huyền phủ là cửa ngơ rất nhỏ ở b́ phu, tức lỗ mồ hôi, nơi mồ hôi và khí cơ xuất nhập.
Trích Tố Vấn, thiên Thủy Nhiệt Huyệt Luận.
Chú thích
3. "Chí âm."
Giải thích: “Chí” là cực. “Chí âm” nghĩa là âm đến mức cùng cực, âm trong âm.
4. "Thịnh thủy."
Giải thích: Thận trong ngũ hành chủ thủy, là thủy tạng, nên gọi là “thịnh thủy”, tức nơi thủy khí sung thịnh.
5. "Kỳ bản tại thận, kỳ mạt tại phế, giai tích thủy dă."
Giải thích: “Bản” là gốc rễ; “mạt” là ngọn, phần biểu hiện. Thận chủ thủy, khí hóa thủy dịch toàn thân. Phế thông điều thủy đạo, đưa nước xuống bàng quang, là thượng nguyên của thủy. Hai tạng phối hợp với nhau để duy tŕ chuyển hóa thủy dịch b́nh thường. V́ vậy về mặt bệnh lư, các bệnh tích nước do rối loạn chuyển hóa thủy dịch đều có quan hệ mật thiết nhất với phế và thận.
6. "Thận giả, vị chi quan dă."
Giải thích: “Quan” là cửa ải, nơi then chốt của sự ra vào, đóng mở. Câu này chỉ thận chủ nhị âm, có vai tṛ quan trọng trong việc đóng mở, xuất nhập, bài tiết thủy cốc và cặn bă. Đại tiểu tiện b́nh thường hay không có thể ảnh hưởng trực tiếp đến công năng tỳ vị. Trương Giới Tân chú:
"Quan giả, môn hộ yếu hội chi xứ, sở dĩ ty khải bế xuất nhập dă. Thận chủ hạ tiêu, khai khiếu ư nhị âm, thủy cốc nhập vị, thanh giả do tiền âm nhi xuất, trọc giả do hậu âm nhi xuất. Thận khí hóa tắc nhị âm thông, thận khí bất hóa tắc nhị âm bế; thận khí tráng tắc nhị âm điều, thận khí hư tắc nhị âm bất cấm, cố viết thận giả vị chi quan dă."
Dịch nghĩa: “Quan” là nơi cửa ngơ then chốt, chủ việc đóng mở, ra vào. Thận chủ hạ tiêu, khai khiếu ở nhị âm. Thủy cốc vào vị, phần thanh theo tiền âm mà ra, phần trọc theo hậu âm mà ra. Thận khí hóa th́ nhị âm thông; thận khí không hóa th́ nhị âm bế. Thận khí mạnh th́ nhị âm điều ḥa; thận khí hư th́ nhị âm không giữ được, nên nói thận là cửa ải của vị.
Giải thích: Câu chú này giải thích vai tṛ của thận trong đại tiểu tiện và chuyển hóa thủy dịch, từ đó cho thấy thận khí hóa ảnh hưởng trực tiếp đến thủy thũng và tiêu hóa.
7. "Phụ thũng."
Giải thích: “Phụ” thông với “phu”, tức b́ phu. “Phụ thũng” là phù thũng ở da, tức da thịt sưng phù do nước.
8. "Tẫn tạng."
Giải thích: “Tẫn” đối với “mẫu”, chỉ giống cái. Theo âm dương, tẫn thuộc âm, mẫu thuộc dương. “Tẫn tạng” tức âm tạng. Nói chung, tâm và can là mẫu tạng; phế, tỳ, thận là tẫn tạng.
9. "Địa khí thượng giả thuộc ư thận, nhi sinh thủy dịch dă."
Giải thích: Thủy dịch trong cơ thể dựa vào thận khí bốc hơi, khí hóa để phân bố lên trên thành khí, giống như địa khí bốc lên thành mây, thiên khí giáng xuống thành mưa.
10. "Phong thủy."
Giải thích: Tên bệnh chứng, chỉ bệnh phù thũng có liên quan đến cảm thụ phong tà.
11. "Hăn khổng."
Giải thích: “Khổng” thông với “khổng”, nghĩa là lỗ. “Hăn khổng” tức lỗ mồ hôi.
Phân tích
Tiết này chủ yếu luận về quan hệ giữa sự phát sinh bệnh thủy thũng với tạng phủ, đồng thời luận về bệnh cơ của phong thủy.
Kinh văn dùng quan hệ bản mạt, tức tiêu bản, để tŕnh bày quan hệ giữa hai tạng phế và thận, cũng như cơ chế phát sinh bệnh thủy thũng. Bệnh cơ của thủy thũng là:
"Kỳ bản tại thận."
Dịch nghĩa: Gốc bệnh ở thận.
Giải thích: V́ thận là chí âm chi tạng, chủ thủy. Từ việc thủy dịch toàn thân được bốc hơi, khí hóa ở trên, cho đến cửa ngơ đóng mở bài tiết thủy dịch ở dưới, không điều ǵ không liên quan đến công năng của thận. V́ vậy thận được gọi là “thịnh thủy”. Phàm rối loạn chuyển hóa thủy dịch dẫn đến thủy thũng, thường lấy rối loạn công năng thận làm bệnh cơ chủ yếu.
"Kỳ mạt tại phế."
Dịch nghĩa: Ngọn bệnh ở phế.
Giải thích: V́ phế là thượng nguyên của thủy, chủ thông điều thủy đạo, có vai tṛ quan trọng trong sự phân bố và bài tiết b́nh thường của thủy dịch toàn thân. Một khi phế mất tuyên túc, thủy vận thất thường, th́ thường phát sinh bệnh biến thủy thũng.
Nhận thức bệnh cơ này của kinh văn có ảnh hưởng sâu xa đến biện chứng thi trị bệnh thủy thũng đời sau. Trên cơ sở đó, Trương Giới Tân liên hệ với câu "Thận giả, vị chi quan dă", bổ sung quan điểm:
"Kỳ chế tại tỳ."
Dịch nghĩa: Sự chế ước của thủy nằm ở tỳ.
Giải thích: Quan điểm này hoàn thiện thêm lư luận tạng phủ chủ khí hóa thủy dịch, cung cấp căn cứ lư luận cho lâm sàng biện trị thủy thũng từ ba tạng phế, tỳ, thận.
Chứng phong thủy được Hoàng Đế Nội Kinh nhắc đến trong nhiều thiên, nhưng mô tả không hoàn toàn giống nhau. Tố Vấn, thiên Phong Luận nói:
"Thận phong chi trạng, đa hăn ố phong, diện mang nhiên phù thũng, tích thống bất năng chính lập, kỳ sắc thai, ẩn khúc bất lợi, chẩn tại cơ thượng kỳ sắc hắc."
Dịch nghĩa: Trạng thái của thận phong là nhiều mồ hôi, sợ gió, mặt phù thũng, đau cột sống không thể đứng thẳng, sắc đen như khói bụi, chức năng ẩn khúc không lợi; chẩn ở vùng cơ, sắc của nó là đen.
Giải thích: Câu này cho thấy thận phong có biểu hiện phù mặt, sợ gió, mồ hôi nhiều, đau cột sống và thận khí suy.
Tố Vấn, thiên Kỳ Bệnh Luận nói:
"Hữu bệnh mang nhiên như hữu thủy trạng, thiết kỳ mạch đại khẩn, thân vô thống giả, h́nh bất sấu, bất năng thực, thực thiểu... bệnh sinh tại thận, danh vi thận phong."
Dịch nghĩa: Có bệnh mặt phù như có nước, bắt mạch thấy đại khẩn, thân không đau, h́nh thể không gầy, không ăn được, ăn ít... bệnh sinh ở thận, gọi là thận phong.
Giải thích: Câu này nói thận phong có h́nh trạng giống thủy thũng, nhưng gốc bệnh ở thận, kèm ăn uống kém.
Tố Vấn, thiên B́nh Nhiệt Bệnh Luận nói:
"Hữu bệnh thận phong giả, diện phụ mang nhiên ung, hại ư ngôn... chí tất thiểu khí thời nhiệt, thời nhiệt ṭng hung bối thượng chí đầu, hăn xuất thủ nhiệt, khẩu càn khổ khát, tiểu tiện hoàng, mục hạ thũng, phúc trung minh, thân trọng nan dĩ hành, nguyệt sự bất lai, phiền nhi bất năng thực, bất năng chính yển, chính yển tắc khái, bệnh danh viết phong thủy."
Dịch nghĩa: Có bệnh thận phong, mặt phù trướng, ảnh hưởng đến lời nói... đến giai đoạn nhất định sẽ thiểu khí, lúc nóng, hơi nóng từ ngực lưng bốc lên đầu, ra mồ hôi, tay nóng, miệng khô, đắng khát, tiểu tiện vàng, dưới mắt sưng, trong bụng sôi, thân nặng khó đi, kinh nguyệt không đến, phiền mà không ăn được, không thể nằm ngửa ngay; nằm ngửa th́ ho, bệnh gọi là phong thủy.
Giải thích: Đây là mô tả khá đầy đủ về phong thủy, bao gồm phù thũng, khí nghịch, thủy thấp, nhiệt, tiểu tiện vàng, thân nặng, ho khi nằm và rối loạn kinh nguyệt.
Linh Khu, thiên Luận Tật Chẩn Xích nói:
"Thị nhân chi mục khoa thượng vi ung, như tân ngọa khởi trạng, kỳ cảnh mạch động, thời khái, án kỳ thủ túc thượng, yểu nhi bất khởi giả, phong thủy phu trướng dă."
Dịch nghĩa: Quan sát vùng mí mắt người bệnh hơi sưng, giống như vừa ngủ dậy; mạch cổ động, thỉnh thoảng ho; ấn trên tay chân lơm mà không nổi lên, đó là phong thủy phu trướng.
Giải thích: Câu này lấy phù mí mắt, mạch cổ động, ho, ấn phù lơm làm dấu hiệu nhận biết phong thủy phu trướng.
Các thiên trên mô tả triệu chứng phong thủy và thận phong, có thể tham khảo lẫn nhau. Thiên này luận rằng bệnh do lao nhọc quá mức, mồ hôi ra rồi gặp phong mà thành; v́ gốc bệnh ở thận nên c̣n gọi là thận phong. Ban đầu mí mắt, đầu mặt sưng; nặng th́ toàn thân phù thũng, tương tự viêm cầu thận cấp ngày nay.

Bệnh cơ, nguyên tắc và phương pháp điều trị bệnh thủy thũng
Nguyên văn
"Đế viết: Kỳ hữu bất ṭng hào mao nhi sinh, ngũ tạng dương dĩ kiệt dă, tân dịch sung quách, kỳ phách độc cư, cô tinh ư nội, khí hao ư ngoại, h́nh bất khả dữ y tương bảo, thử tứ cực cấp nhi động trung, thị khí cự ư nội nhi h́nh thi ư ngoại, trị chi nại hà?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Có loại bệnh không sinh từ lông tóc bên ngoài, mà do dương khí của ngũ tạng bị ngăn tuyệt; tân dịch tràn đầy trong thân thể, âm dịch ở riêng bên trong, tinh dịch cô lập ở trong, khí hao tán ở ngoài, thân h́nh sưng to đến nỗi y phục không c̣n vừa với thân; tứ chi phù căng cấp bách, bên trong khí động suyễn; đó là thủy khí bị ngăn cách ở trong mà h́nh thể biến đổi ra ngoài. Điều trị như thế nào?
Giải thích: Đây là mô tả bệnh thủy thũng nặng do dương khí ngũ tạng bị bế trở, khí hóa thất thường, thủy dịch không vận hành mà ứ lại trong cơ thể. Bệnh không phải do ngoại tà từ b́ mao phát sinh trước, mà do nội thương làm dương khí không thông, thủy khí đầy tràn, h́nh thể phù trướng.
"Kỳ Bá viết: B́nh trị ư quyền hành, khứ uất trần tỏa, vi động tứ cực, ôn y, mậu thích kỳ xứ, dĩ phục kỳ h́nh."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Phải điều trị theo nguyên tắc cân bằng như cân đo quyền hành, trừ bỏ uất tích cũ, hơi vận động tứ chi, mặc áo giữ ấm, dùng phép mậu thích tại nơi bệnh, để phục hồi h́nh thể.
Giải thích: Điều trị thủy thũng phải điều ḥa âm dịch và dương khí, làm cho thiên thịnh thiên suy trở lại cân bằng. Cần loại bỏ thủy khí ứ trệ, giúp tứ chi vận động nhẹ để dương khí lưu hành, giữ ấm để dương khí ngoài biểu được thông, dùng châm thích lạc mạch để thông ứ trệ.
"Khai quỷ môn, khiết tịnh phủ, tinh dĩ thời phục, ngũ dương dĩ bố, sơ địch ngũ tạng, cố tinh tự sinh, h́nh tự thịnh, cốt nhục tương bảo, cự khí năi b́nh."
Dịch nghĩa: Mở quỷ môn, làm sạch tịnh phủ, khiến tinh khí theo thời mà vận hành; năm dương đă được phân bố, ngũ tạng được thông rửa, th́ tinh tự sinh, h́nh thể tự đầy đủ, xương thịt giữ được nhau, chính khí lớn liền b́nh ḥa.
Giải thích: “Khai quỷ môn” là phát hăn, mở lỗ mồ hôi để tà thủy theo mồ hôi ra ngoài. “Khiết tịnh phủ” là lợi tiểu, làm thông bàng quang để thủy tà theo tiểu tiện xuống dưới. Khi dương khí của ngũ tạng được phân bố, thủy ứ được thông rửa, tinh khí khôi phục, h́nh thể giảm phù, xương thịt trở lại cân xứng, chính khí b́nh ḥa.
"Đế viết: Thiện."
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm.
Giải thích: Hoàng Đế tán thành nguyên tắc điều trị thủy thũng bằng điều ḥa âm dương, thông khí hóa, phát hăn, lợi tiểu, hoạt huyết thông lạc và chăm sóc dương khí.
Trích Tố Vấn, thiên Thang Dịch Lao Lễ Luận.

Chú thích
1. "Ngũ tạng dương dĩ kiệt dă."
Giải thích: “Kiệt” ở đây nghĩa là bị ngăn trở, bế tắc. Do dương khí của ngũ tạng bị ngăn trở không thông, khí hóa mất chức năng, thủy dịch đ́nh tụ mà phát thành thủy thũng.
2. "Tân dịch sung quách."
Giải thích: “Tân dịch” ở đây chỉ thủy khí. “Quách” thông với “khuếch”, chỉ khoang h́nh thể của ngực bụng và thân thể. “Tân dịch sung quách” nghĩa là thủy khí tràn đầy trong ngực bụng, cơ nhục và b́ phu.
3. "Kỳ phách độc cư."
Giải thích: “Phách” chỉ âm tân, thủy dịch. Do dương khí bị ngăn trở không vận hành, nên âm tân thủy dịch ở riêng lại bên trong.
4. "Cô tinh ư nội, khí hao ư ngoại."
Giải thích: “Cô tinh” là âm tân thủy dịch, cùng nghĩa với “phách” ở câu trên. “Khí hao ư ngoại” là dương khí không thông vào ngũ tạng, nên hao tán ra ngoài.
5. "H́nh bất khả dữ y tương bảo."
Giải thích: “Tương bảo” là tương xứng, vừa vặn. Ư nói thân thể sưng phù quá mức, khiến y phục không c̣n bao bọc vừa thân thể.
6. "Tứ cực cấp nhi động trung."
Giải thích: “Tứ cực” là tứ chi. “Cấp” là phù thũng căng tức. “Động trung” là trung khí suyễn động, bên trong khí động không yên.
7. "Khí cự ư nội nhi h́nh thi ư ngoại."
Giải thích: “Khí” là thủy khí. “Cự” là cách trở, chống lại. “Thi” đọc nghĩa như “dịch”, tức biến đổi. Câu này nói thủy khí bị cách trở bên trong khiến h́nh thể bên ngoài biến đổi, phù trướng.
8. "B́nh trị ư quyền hành."
Giải thích: “Quyền” là quả cân, “hành” là đ̣n cân. “Quyền hành” chỉ sự điều chỉnh để đạt cân bằng. “B́nh trị ư quyền hành” nghĩa là điều trị thủy thũng phải điều ḥa sự thiên thịnh thiên suy giữa âm tân và dương khí, khiến chúng trở lại cân bằng.
9. "Khứ uất trần tỏa."
Giải thích: “Khứ” là trừ bỏ; “uất” là uất kết; “trần” là cũ, lâu ngày, mục cũ; “tỏa” là chặt cỏ. Câu này hiểu là “khứ uất tỏa trần” th́ hợp hơn, v́ “khứ” và “tỏa” đều là động từ, đối nhau; “uất” và “trần” đều là danh từ, ư là trừ bỏ thủy khí, phế vật uất tích lâu ngày.
10. "Vi động tứ cực."
Giải thích: Hơi vận động tứ chi để giúp dương khí ở tứ chi khôi phục vận hành, có lợi cho thủy khí tiêu lui.
11. "Ôn y."
Giải thích: Mặc áo giữ ấm, giúp dương khí ở phần biểu lưu thông.
12. "Mậu thích."
Giải thích: Một phép châm lạc trong Hoàng Đế Nội Kinh. Bệnh ở bên trái th́ châm bên phải, bệnh ở bên phải th́ châm bên trái. Mậu thích có thể trừ lưu tà ở đại lạc.
13. "Khai quỷ môn."
Giải thích: “Khai” là tuyên phát, tuyên tiết. “Quỷ môn” là lỗ mồ hôi. “Khai quỷ môn” tức phép phát hăn.
14. "Khiết tịnh phủ."
Giải thích: “Khiết” là thông lợi. “Phủ” ở đây chỉ bàng quang. “Khiết tịnh phủ” tức phép lợi tiểu tiện.
15. "Tinh dĩ thời phục."
Giải thích: “Phục” là vận hành. Trương Giới Tân nói:
"Thủy khí khứ tắc chân tinh phục. Phục, hành dă."
Dịch nghĩa: Thủy khí đi th́ chân tinh vận hành. “Phục” nghĩa là vận hành.
Giải thích: Khi thủy khí ứ trệ được loại bỏ, chân tinh và chính khí mới có thể vận hành b́nh thường.
16. "Cự khí."
Giải thích: Chỉ chính khí.
Phân tích
Đoạn này lấy bệnh thủy thũng làm ví dụ để thảo luận t́nh huống bệnh tuy nặng nhưng thần cơ vẫn c̣n, nên điều trị có thể đạt hiệu quả tốt; từ một góc độ khác, đoạn này luận về quan hệ giữa thần cơ và hiệu quả điều trị.
Đoạn này tŕnh bày khá chi tiết bệnh cơ, chứng hậu, nguyên tắc và phương pháp điều trị bệnh thủy thũng. Bệnh nhân bệnh cơ của thủy thũng là:
"Ngũ tạng dương dĩ kiệt."
Dịch nghĩa: Dương khí của ngũ tạng bị ngăn tuyệt.
Giải thích: Do nội thương làm dương khí bị bế trở hoặc dương khí suy kiệt, không thể ôn hóa âm tân, khiến thủy khí đ́nh tụ, thủy tà tràn đầy cơ nhục, b́ phu mà thành thủy thũng.
Triệu chứng là toàn thân phù trướng, trung khí suyễn động. Nguyên tắc điều trị là:
"B́nh trị ư quyền hành."
Dịch nghĩa: Điều trị theo phép cân bằng quyền hành.
Giải thích: Phải điều ḥa dương khí và âm tân, làm cho khí hóa phục hồi, thủy dịch vận hành trở lại. Cụ thể dùng phương pháp trong ngoài phối hợp: bên ngoài dùng “mậu thích” để dẫn động dương khí, hóa tán thủy khí; bên trong dùng “khứ uất trần tỏa”, “khai quỷ môn, khiết tịnh phủ” để trừ huyết ứ, tiêu tán thủy tà tích tụ; đồng thời căn cứ đặc điểm thủy thũng do dương hư không vận hành mà dùng các phương pháp chăm sóc như “ôn y”, “vi động tứ cực” để sinh phát dương khí, rửa sạch thủy tà.
Luận thuật của kinh văn cung cấp căn cứ lư luận cho đời sau nhận thức cơ chế bệnh thủy thũng và điều trị thủy thũng. Đặc biệt các câu như:
"Ngũ tạng dương dĩ kiệt."
Dịch nghĩa: Dương khí của ngũ tạng bị ngăn tuyệt.
Giải thích: Câu này gợi ư bệnh biến của dương khí có quan hệ mật thiết với sự h́nh thành thủy thũng.
"Ngũ dương dĩ bố, sơ địch ngũ tạng."
Dịch nghĩa: Năm dương đă được phân bố, ngũ tạng được thông rửa.
Giải thích: Khi dương khí của ngũ tạng được phân bố trở lại, công năng khí hóa phục hồi, thủy tà ứ trệ được khai thông, bệnh thủy thũng mới có thể lui.
V́ vậy điều trị thủy thũng rất chú trọng xoay chuyển, vận hành dương khí. Sự h́nh thành thủy thũng có liên quan đến rối loạn công năng ngũ tạng, đặc biệt lấy phế, tỳ, thận làm chủ. Phế mất tuyên giáng th́ không thể thông điều thủy đạo; tỳ mất kiện vận th́ không thể vận hóa thủy thấp; thận mất khí hóa th́ không thể khai hợp quan môn. Cả ba đều có thể gây thủy dịch ứ lưu, h́nh thành thủy thũng.
"Khai quỷ môn, khiết tịnh phủ."
Dịch nghĩa: Mở lỗ mồ hôi, làm sạch bàng quang.
Giải thích: Phương pháp này giúp tà khí theo mồ hôi mà giải ra ngoài, theo tiểu tiện mà tiết xuống dưới, có ư nghĩa chỉ đạo rất lớn đối với lâm sàng.
Can mất sơ tiết, khí cơ không thông; tâm thận dương hư, không thể ôn thông huyết mạch, đều có thể làm ứ huyết trở trệ, kinh mạch không lợi, thủy dịch không hành mà thành thủy thũng.
"Khứ uất trần tỏa."
Dịch nghĩa: Trừ bỏ uất tích cũ.
Giải thích: Phương pháp này có thể loại bỏ huyết ứ kết, tiêu tán thủy khí uất tích. V́ vậy “khai quỷ môn, khiết tịnh phủ” và “khứ uất trần tỏa” đến nay vẫn là pháp môn quan trọng hàng đầu trong điều trị thủy thũng.
Bệnh cơ, chuyển hóa và điều trị chứng tỳ đản
Nguyên văn
"Đế viết: Hữu bệnh khẩu cam giả, bệnh danh vi hà? Hà dĩ đắc chi?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Có người bệnh miệng có vị ngọt, bệnh ấy tên là ǵ? V́ sao mắc bệnh ấy?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về chứng miệng ngọt, một biểu hiện liên quan đến tỳ vị thấp nhiệt, tân dịch không được vận hóa b́nh thường.
"Kỳ Bá viết: Thử ngũ khí chi dật dă, danh viết tỳ đản."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Đây là do năm khí tràn lên, gọi là tỳ đản.
Giải thích: “Ngũ khí” là khí của ngũ cốc, thủy cốc ngũ vị được hóa ở tỳ. Khi tỳ vận hóa thất thường, khí của thủy cốc tràn lên miệng, làm miệng có vị ngọt.
"Phù ngũ vị nhập khẩu, tàng ư vị, tỳ vi chi hành kỳ tinh khí, tân dịch tại tỳ, cố linh nhân khẩu cam dă."
Dịch nghĩa: Năm vị vào miệng, tàng ở vị, tỳ thay vị vận hành tinh khí; tân dịch lưu ở tỳ, cho nên khiến người ta miệng ngọt.
Giải thích: B́nh thường thức ăn vào vị, tỳ vận hóa tinh khí và tân dịch rồi phân bố đi khắp nơi. Nếu tân dịch ứ lại ở tỳ, thấp trọc không hóa, tỳ khí tràn lên th́ miệng có vị ngọt.
"Thử ph́ mỹ chi sở phát dă."
Dịch nghĩa: Đây là do thức ăn béo ngậy ngon ngọt gây ra.
Giải thích: Ăn nhiều đồ béo, ngọt, đậm vị làm tỳ vị tích nhiệt sinh thấp, thấp nhiệt uẩn ở tỳ, dẫn đến miệng ngọt, miệng dính nhớt.
"Thử nhân tất sác thực cam mỹ nhi đa ph́ dă."
Dịch nghĩa: Người này nhất định thường ăn nhiều đồ ngọt ngon và nhiều chất béo.
Giải thích: Đây là nguyên nhân sinh bệnh: ăn uống quá nhiều thức ăn béo ngọt, hậu vị, làm tổn thương tỳ vị.
"Ph́ giả linh nhân nội nhiệt, cam giả linh nhân trung măn."
Dịch nghĩa: Đồ béo khiến người sinh nội nhiệt, đồ ngọt khiến người bị đầy trung tiêu.
Giải thích: Thức ăn béo làm dương khí bị trệ mà sinh nhiệt bên trong; vị ngọt làm khí hoăn, dễ lưu lại, sinh đầy trướng trung tiêu.
"Cố kỳ khí thượng dật, chuyển vi tiêu khát."
Dịch nghĩa: V́ vậy khí ấy tràn lên trên, lâu ngày chuyển thành tiêu khát.
Giải thích: Nếu thấp nhiệt tỳ vị lâu ngày không trừ, hóa táo làm tổn thương tân dịch, có thể chuyển thành tiêu khát, biểu hiện khát nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều.
"Trị chi dĩ lan, trừ trần khí dă."
Dịch nghĩa: Điều trị dùng lan để trừ khí cũ tích lại.
Giải thích: “Lan” là loại hương thảo như bội lan, có tác dụng phương hương hóa thấp, tỉnh tỳ, trừ trọc. Dùng để loại bỏ khí thấp trọc, béo ngọt tích lâu trong tỳ vị.
Trích Tố Vấn, thiên Kỳ Bệnh Luận.
Chú thích
17. "Ngũ khí chi dật."
Giải thích: “Ngũ khí” là khí của ngũ cốc. Thủy cốc ngũ vị hóa ở tỳ, khí của nó tràn lên th́ trong miệng có vị ngọt.
18. "Tỳ đản."
Giải thích: Tên bệnh. Mă Thị chú:
"Tỳ đản giả, tỳ khí chi nhiệt dă."
Dịch nghĩa: Tỳ đản là nhiệt của tỳ khí.
Giải thích: Tỳ đản là chứng do tỳ vị thấp nhiệt, khí thủy cốc tràn lên gây miệng ngọt.
19. "Tân dịch tại tỳ."
Giải thích: Trương Chí Thông chú:
"Tỳ chủ vi vị hành tân dịch giả dă. Ngũ vị nhập khẩu, tân dịch các tẩu kỳ đạo... tân dịch bất năng thâu bố ư ngũ tạng, nhi độc lưu tại tỳ, tỳ khí thượng dật, phát vi khẩu cam."
Dịch nghĩa: Tỳ chủ thay vị vận hành tân dịch. Năm vị vào miệng, tân dịch đều đi theo đường của nó... nếu tân dịch không thể phân bố đến ngũ tạng mà chỉ lưu lại ở tỳ, tỳ khí tràn lên th́ phát thành miệng ngọt.
Giải thích: Câu này giải thích miệng ngọt là do tỳ vận hóa thất thường, tân dịch và thấp trọc lưu lại ở tỳ rồi thượng dật.
20. "Ph́ mỹ."
Giải thích: Chỉ thức ăn béo ngậy, ngọt ngon, hậu vị, nhiều dầu mỡ.
21. "Ph́ giả linh nhân nội nhiệt, cam giả linh nhân trung măn."
Giải thích: Trương Kỳ nói:
"Thực ph́ tắc dương khí trệ nhi bất đạt, cố nội nhiệt; thực cam tắc khí hoăn nhi thiện lưu, cố trung măn."
Dịch nghĩa: Ăn đồ béo th́ dương khí trệ mà không thông đạt, nên sinh nội nhiệt; ăn đồ ngọt th́ khí hoăn mà dễ lưu lại, nên sinh đầy trung tiêu.
Giải thích: Đồ béo dễ sinh nhiệt, đồ ngọt dễ sinh thấp trệ, cả hai làm tỳ vị uẩn thấp nhiệt.
22. "Tiêu khát."
Giải thích: Tên bệnh chứng, thường biểu hiện bằng khát nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều, gầy sút hoặc nước tiểu có vị ngọt.
23. "Lan."
Giải thích: Vương Băng chú:
"Lan, vị lan thảo dă... ngôn lan trừ trần cửu cam ph́ bất hóa chi khí giả, dĩ tân năng tán phát cố dă."
Dịch nghĩa: Lan là lan thảo... nói lan trừ khí cũ lâu ngày do đồ ngọt béo không hóa được, v́ vị cay có thể tán phát.
Giải thích: Lan thảo tức các loại như bội lan, có tác dụng phương hương hóa thấp, tỉnh tỳ, trừ trọc.
Phân tích
Tiết này bàn về bệnh nhân, bệnh cơ, đặc điểm lâm sàng, tiên lượng và điều trị chứng tỳ đản. Tỳ đản là một bệnh do ăn quá nhiều đồ béo ngọt, tỳ vị tích nhiệt, thấp trọc thượng phiếm, lấy miệng ngọt dính làm chủ chứng.
Bệnh cơ của tỳ đản là:
"Tân dịch tại tỳ."
Dịch nghĩa: Tân dịch lưu ở tỳ.
Giải thích: Do tỳ không vận hóa tốt, tân dịch không được phân bố mà lưu lại ở tỳ, sinh thấp trọc.
"Kỳ khí thượng dật."
Dịch nghĩa: Khí ấy tràn lên trên.
Giải thích: Thấp nhiệt, trọc khí ở tỳ vị thượng phiếm lên miệng, gây vị ngọt trong miệng.
Nguyên nhân là ăn quá nhiều thức ăn béo ngậy, ngọt ngào, làm sinh thấp hóa nhiệt, thấp nhiệt uẩn ở tỳ, tỳ khí ủng trệ, không thể vận chuyển và phân bố tân dịch. Tân dịch, thấp trọc tràn lên miệng mà xuất hiện miệng ngọt. Thường kèm miệng dính nhớt, lưỡi rêu dày nhớt, ăn uống chậm tiêu, đầy trệ.
Điều trị nên dùng phép phương hương hóa trọc, vận tỳ trừ thấp. Kinh văn chỉ ra dùng các loại “lan”. Lâm sàng thường dùng bội lan 30 đến 50 gam, hoặc ngũ diệp lô căn ẩm, sắc lấy nước uống ấm nhiều lần như trà, đồng thời kiêng thức ăn béo ngọt, cay nóng, thường thu được hiệu quả tốt.
Kinh văn cũng chỉ rơ, nếu tỳ đản thấp nhiệt lâu ngày không đi, hóa táo làm tổn thương tân dịch, có thể chuyển thành tiêu khát. Tiêu khát lấy uống nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều làm chủ chứng. Tùy biểu hiện lâm sàng khác nhau, có thể chia thành phế tiêu, cách tiêu, tiêu trung v.v. Như Tố Vấn, thiên Khí Quyết Luận nói:
"Phế tiêu giả, ẩm nhất sưu nhị, tử bất trị."
Dịch nghĩa: Phế tiêu là uống một mà tiểu hai, chết không trị được.
Giải thích: Đây là chứng tiêu khát nặng do phế mất tuyên giáng, tân dịch hao tổn, thủy dịch không giữ được.
"Tâm di nhiệt ư phế, truyền vi cách tiêu."
Dịch nghĩa: Tâm chuyển nhiệt sang phế, truyền thành cách tiêu.
Giải thích: Tâm hỏa chuyển sang phế, đốt tổn tân dịch vùng ngực cách, gây khát nhiều, tiêu hao tân dịch.
Tố Vấn, thiên Phúc Trung Luận nói:
"Phù nhiệt trung, tiêu trung giả, giai phú quư nhân dă."
Dịch nghĩa: Các chứng nhiệt trung, tiêu trung đều thường gặp ở người phú quư.
Giải thích: Người phú quư thường ăn nhiều đồ béo ngọt, ít vận động, dễ sinh thấp nhiệt tỳ vị, lâu ngày hóa táo tổn tân mà thành tiêu trung.
Tỳ đản chuyển hóa thành tiêu khát được nói trong đoạn này thuộc loại nhiệt trung, tiêu trung. Ngoài miệng ngọt dính, thường thấy miệng khát uống nhiều, ăn nhiều dễ đói, tiểu nhiều, nước tiểu vị ngọt hoặc có bọt.

Bệnh cơ và điều trị chứng đởm đản
Nguyên văn
"Đế viết: Hữu bệnh khẩu khổ, thủ Dương lăng tuyền, khẩu khổ giả bệnh danh vi hà? Hà dĩ đắc chi?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Có người bệnh miệng đắng, lấy huyệt Dương lăng tuyền để trị; chứng miệng đắng ấy tên bệnh là ǵ? V́ sao mà mắc?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về bệnh lấy miệng đắng làm chủ chứng, đồng thời nêu huyệt Dương lăng tuyền là huyệt của kinh Túc Thiếu dương Đởm, gợi ư bệnh này liên quan đến đởm khí.
"Kỳ Bá viết: Bệnh danh viết đởm đản."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Bệnh ấy gọi là đởm đản.
Giải thích: Đởm đản là bệnh do đởm nhiệt hoặc đởm khí uất trệ thượng phiếm, lấy miệng đắng làm chủ chứng.
"Phù can giả, trung chi tướng dă, thủ quyết ư đởm, yết vi chi sử."
Dịch nghĩa: Can là vị tướng ở bên trong, sự quyết đoán lấy ở đởm, họng làm sứ giả cho nó.
Giải thích: Can chủ mưu lự, đởm chủ quyết đoán. Can đởm liên hệ biểu lư, khí cơ sơ tiết của can và sự quyết đoán của đởm có quan hệ chặt chẽ. Khi can đởm khí uất hoặc đởm khí thượng nghịch, triệu chứng có thể biểu hiện ở họng miệng như miệng đắng, họng khô.
"Thử nhân giả, sác mưu lự bất quyết, cố đởm hư, khí thượng dật, nhi khẩu vi chi khổ."
Dịch nghĩa: Người này thường mưu tính lo nghĩ mà không quyết đoán, cho nên đởm hư, khí tràn lên trên, khiến miệng v́ vậy mà đắng.
Giải thích: Lo nghĩ nhiều mà không quyết đoán làm tổn thương can đởm, đởm khí không điều ḥa, uất mà hóa nhiệt hoặc thượng nghịch, đởm dịch theo khí đi lên miệng, nên miệng đắng.
"Trị chi dĩ đởm mộ, du, trị tại Âm Dương Thập Nhị Quan Tương Sử trung."
Dịch nghĩa: Điều trị dùng mộ huyệt và du huyệt của đởm; phép trị có ghi trong sách Âm Dương Thập Nhị Quan Tương Sử.
Giải thích: Điều trị đởm đản nên lấy huyệt mộ của đởm là Nhật nguyệt và huyệt du của đởm là Đởm du để tiết uất nhiệt ở đởm, điều ḥa đởm khí, làm khí không thượng nghịch th́ miệng đắng tự giảm.
Trích Tố Vấn, thiên Kỳ Bệnh Luận.

Chú thích
1. "Hữu bệnh khẩu khổ, thủ Dương lăng tuyền."
Giải thích: Tân Hiệu Chính nói: theo bản Toàn Nguyên Khởi và Thái Tố không có sáu chữ “khẩu khổ, thủ Dương lăng tuyền”. Xét thế văn trước sau, nghi đây là chỗ chép nhầm. Dương lăng tuyền là huyệt của kinh Túc Thiếu dương Đởm, nằm ở mặt ngoài cẳng chân, chỗ lơm trước dưới đầu nhỏ xương mác.
2. "Đởm đản."
Giải thích: Tên bệnh. Do đởm nhiệt, khí thượng dật mà miệng đắng, nên gọi là đởm đản.
3. "Phù can giả, trung chi tướng dă."
Giải thích: Tân Hiệu Chính nói: theo Giáp Ất Kinh th́ câu này là: “Đởm giả, trung tinh chi phủ, ngũ tạng thủ quyết ư đởm, yết vi chi sử”, nghi văn hiện tại có sai. Nghĩa là đởm là phủ chứa tinh trung chính, ngũ tạng lấy sự quyết đoán ở đởm, họng làm sứ giả cho đởm.
4. "Đởm hư."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh quyển 9 không có chữ “hư”; chữ “đởm” đọc liền với câu dưới. Nếu theo bản không có chữ “hư”, ư là đởm khí thượng dật mà miệng đắng.
5. "Đởm mộ, du."
Giải thích: “Mộ” là mộ huyệt của tạng phủ, nằm ở vùng ngực bụng. “Du” là du huyệt của tạng phủ, nằm ở lưng, c̣n gọi là bối du, thuộc kinh Túc Thái dương Bàng quang. Mộ huyệt của đởm là Nhật nguyệt, ở khoảng liên sườn thứ bảy, cách đường giữa bụng ba thốn năm phân. Đởm du ở lưng, dưới gai sống đốt ngực thứ mười, ra ngang một thốn năm phân.
6. "Âm Dương Thập Nhị Quan Tương Sử."
Giải thích: Tên một sách y cổ. Vương Băng chú rằng phép trị có đầy đủ trong thiên ấy, nhưng nay sách đă mất.
Phân tích
"Đởm đản."
Dịch nghĩa: Bệnh đởm đản.
Giải thích: Đởm đản là bệnh do mưu lự không quyết, can mất sơ tiết, đởm khí thượng dật, lấy miệng đắng làm chủ chứng.
Can và đởm có quan hệ biểu lư. Tinh汁 trong đởm do can khí tiết vào đởm, ngưng tụ mà thành. Nếu hỏa nhiễu đởm phủ, đởm dịch theo hỏa khí thượng dật, th́ xuất hiện miệng đắng, họng khô.
Về điều trị, kinh văn nêu phép châm thích đởm mộ là huyệt Nhật nguyệt và đởm du là huyệt Đởm du để tiết uất nhiệt ở đởm.
Đối với chứng miệng đắng, Hoàng Đế Nội Kinh định vị bệnh ở đởm. Linh Khu, thiên Tà Khí Tạng Phủ Bệnh H́nh nói:
"Đởm bệnh giả, thiện thái tức, khẩu khổ, ẩu túc trấp, tâm hạ đạm đạm, khủng nhân tương bộ chi."
Dịch nghĩa: Người bệnh đởm thường hay thở dài, miệng đắng, nôn ra dịch đắng cũ, vùng dưới tâm bồn chồn, sợ như có người sắp bắt ḿnh.
Giải thích: Đởm khí uất hoặc đởm khí nghịch làm người bệnh thở dài, miệng đắng, nôn dịch đắng, tâm thần bất an.
Linh Khu, thiên Tứ Thời Khí nói:
"Tà tại đởm, nghịch tại vị, đởm dịch tiết tắc khẩu khổ, vị khí nghịch tắc ẩu khổ, cố vị chi ẩu đởm."
Dịch nghĩa: Tà ở đởm, nghịch ở vị; đởm dịch tiết ra th́ miệng đắng, vị khí nghịch th́ nôn ra vị đắng, nên gọi là nôn đởm.
Giải thích: Khi đởm dịch tiết nghịch và vị khí không giáng, người bệnh có thể miệng đắng, nôn đắng.
Do tâm trong ngũ vị ứng với vị đắng, nên tâm và tiểu trường có nhiệt cũng có thể xuất hiện miệng đắng. Trên lâm sàng, miệng đắng chủ yếu có ba loại bệnh cơ.
Một là đột nhiên miệng đắng, kèm buồn nôn muốn nôn, họng khô, hàn nhiệt văng lai, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch huyền. Đây là tà phạm Thiếu dương, nên dùng Tiểu sài hồ thang để điều trị.
Hai là miệng đắng lâu ngày, miệng khô thích uống, hoặc buồn nôn khạc đàm, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác. Đây là thấp nhiệt ở đởm kinh, đởm khí thượng phiếm, có thể dùng Hoàng liên ôn đởm thang để điều trị.
Ba là miệng đắng, tâm phiền mất ngủ, miệng khô, nước tiểu vàng, đầu lưỡi đỏ. Đây là hỏa nhiệt ở tâm kinh, có thể dùng Hoàng liên đạo xích tán để điều trị.
Nguyên nhân tiên thiên mắc chứng điên tật
Nguyên văn
"Đế viết: Nhân sinh nhi hữu bệnh điên tật giả, bệnh danh viết hà? An sở đắc chi?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Người sinh ra đă có bệnh điên tật, bệnh ấy gọi là ǵ? Do đâu mà mắc?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi về loại bệnh tinh thần bất thường có nguồn gốc từ bẩm sinh, tức khi sinh ra đă có khuynh hướng phát bệnh.
"Kỳ Bá viết: Bệnh danh vi thai bệnh."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Bệnh ấy gọi là thai bệnh.
Giải thích: Thai bệnh là bệnh h́nh thành từ trong bào thai, thuộc loại bệnh tiên thiên, dân gian thường gọi là bệnh từ trong thai.
"Thử đắc chi tại mẫu phúc trung thời, kỳ mẫu hữu sở đại kinh, khí thượng nhi bất hạ, tinh khí tịnh cư, cố linh tử phát vi điên tật dă."
Dịch nghĩa: Bệnh này mắc từ lúc c̣n ở trong bụng mẹ; người mẹ từng bị kinh sợ lớn, khí nghịch lên mà không giáng xuống, tinh khí cùng ở lại với khí nghịch, cho nên khiến đứa con phát thành điên tật.
Giải thích: Khi người mẹ mang thai bị kinh sợ mạnh, khí cơ nghịch loạn, ảnh hưởng đến thai nhi. Tinh khí của thai bị khí nghịch quấy nhiễu, khiến thần khí không yên, sau khi sinh dễ phát các bệnh tinh thần bất thường như điên tật.
Trích Tố Vấn, thiên Kỳ Bệnh Luận.
Chú thích
7. "Điên tật."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh và Thái Tố đều chép là “điên tật”. Trong Nội Kinh, điên bệnh có hai nghĩa: một là chỉ chứng điên; hai là chỉ loại cuồng bệnh thuộc tính âm. Ở đây nguyên văn không liệt kê triệu chứng cụ thể, nên nên hiểu rộng là bệnh tinh thần bất thường, nhưng không bao gồm chứng phát cuồng trong quá tŕnh bệnh nhiệt. V́ vậy không gọi là điên cuồng mà gọi là điên tật.
8. "Thai bệnh."
Giải thích: Tức bệnh tiên thiên, dân gian gọi là “bệnh trong thai”.
9. "Tinh khí tịnh cư."
Giải thích: “Khí” là khí nghịch loạn do kinh sợ lớn. “Tinh khí tịnh cư” nghĩa là tinh khí cùng ở chung với khí nghịch loạn, tức tinh khí thai nhi bị khí nghịch của người mẹ ảnh hưởng.
Phân tích
Đoạn này chỉ ra một loại điên tật có liên quan đến yếu tố tiên thiên. Điều này phù hợp với nhận thức của y học hiện đại rằng một số bệnh thần kinh, tâm thần hoặc rối loạn phát triển có thể liên quan đến yếu tố trong thai kỳ.
Nguyên nhân của bệnh phần nhiều do người mẹ trong thời gian mang thai chịu kinh sợ hoặc kích thích tinh thần nghiêm trọng, chứ không phải do các truyền thuyết dân gian như phụ nữ mang thai ăn thịt heo nái, thịt dê v.v. Điều này cho thấy y học Trung Quốc từ rất sớm đă nhận thức được tầm quan trọng của vệ sinh thai kỳ, giữ tâm t́nh vui vẻ, tránh kích thích tinh thần, coi trọng thai giáo. Đây cũng là biểu hiện của tư tưởng ưu sinh trong Nội Kinh.
Tất nhiên, nguyên nhân của điên tật không chỉ có yếu tố tiên thiên, mà c̣n có yếu tố hậu thiên, như t́nh chí thất điều, đột ngột kinh sợ; ăn uống không điều độ, ăn quá nhiều đồ béo ngọt sinh thấp hóa đàm; chấn thương đầu năo, ứ huyết bế khiếu v.v.
Đặc điểm chứng hậu và điều trị điên tật
Nguyên văn
"Điên tật thủy sinh, tiên bất lạc, đầu trọng thống, trực thị thượng cử, mục xích, kỳ tác cực dĩ nhi phiền tâm, hậu chi ư nhan, thủ Thủ Thái dương, Dương minh, Thái âm, huyết biến nhi chỉ."
Dịch nghĩa: Khi điên tật mới phát sinh, trước tiên người bệnh không vui, đầu nặng đau, mắt nh́n thẳng hoặc nh́n ngược lên, mắt đỏ; khi bệnh phát đến cực điểm rồi th́ tâm phiền. Hăy quan sát khí sắc ở mặt, lấy các kinh Thủ Thái dương, Thủ Dương minh, Thủ Thái âm, chích cho ra máu, đến khi sắc máu biến đổi th́ dừng.
Giải thích: Đây là loại điên tật khi mới phát có biểu hiện u uất không vui, đầu nặng đau, mắt đỏ, ánh mắt bất thường, tâm phiền. Phép trị là quan sát khí sắc mặt và châm chích các kinh liên quan để tả tà khí, thông huyết lạc; khi máu từ sẫm chuyển sang b́nh thường th́ dừng.
"Điên tật thủy tác nhi dẫn khẩu, đề hô suyễn quư giả, hậu chi Thủ Dương minh, Thái dương, tả cường giả công kỳ hữu, hữu cường giả công kỳ tả, huyết biến nhi chỉ."
Dịch nghĩa: Khi điên tật mới phát mà miệng bị kéo lệch, khóc la, thở gấp, hồi hộp, th́ quan sát ở Thủ Dương minh, Thủ Thái dương; bên trái co cứng th́ công bên phải, bên phải co cứng th́ công bên trái, chích máu đến khi sắc máu biến đổi th́ dừng.
Giải thích: Đây là thể phát tác có co kéo miệng, la khóc, suyễn, hồi hộp. Phép trị dùng nguyên tắc châm đối bên: bệnh bên trái th́ châm bên phải, bệnh bên phải th́ châm bên trái, nhằm điều ḥa khí huyết kinh lạc và trừ tà ở lạc mạch.
"Điên tật thủy tác, tiên phản cương, nhân nhi tích thống, hậu chi Túc Thái dương, Dương minh, Thái âm, Thủ Thái dương, huyết biến nhi chỉ."
Dịch nghĩa: Khi điên tật mới phát, trước tiên người bệnh ưỡn cứng ra sau, sau đó đau cột sống; hăy quan sát các kinh Túc Thái dương, Túc Dương minh, Túc Thái âm, Thủ Thái dương, chích máu đến khi sắc máu biến đổi th́ dừng.
Giải thích: Đây là thể điên tật kèm co cứng kiểu ưỡn ngược, đau cột sống. Bệnh liên quan nhiều đến kinh Thái dương và các kinh ở lưng, chân, nên lấy các kinh tương ứng để châm tả huyết lạc.
"Trị điên tật giả, thường dữ chi cư, sát kỳ sở đương thủ chi xứ."
Dịch nghĩa: Người điều trị điên tật nên thường ở cùng người bệnh, quan sát nơi cần lấy huyệt.
Giải thích: Điên tật phát tác bất thường, nên thầy thuốc cần quan sát lâu dài, nắm được dấu hiệu báo trước, bộ vị phát bệnh và kinh lạc liên quan để chọn đúng chỗ châm.
"Bệnh chí, thị chi hữu quá giả tả chi."
Dịch nghĩa: Khi bệnh đến, thấy nơi nào có bất thường th́ tả nơi ấy.
Giải thích: Lúc phát cơn, quan sát chỗ có khí sắc, mạch lạc, co cứng, đau hoặc động bất thường, rồi dùng phép tả để trừ tà.
"Kỳ huyết ư hồ hồ chi trung, chí kỳ phát thời, huyết độc động hĩ."
Dịch nghĩa: Lấy máu vào trong hồ lô; đến lúc bệnh phát, chỉ riêng huyết ấy động.
Giải thích: Đây là cách quan sát huyết lạc và sự biến động của huyết khi bệnh phát. Ư chính là khi phát bệnh, huyết khí ở lạc mạch liên quan sẽ có biến động đặc biệt.
"Bất động, cứu Cùng cốt nhị thập tráng."
Dịch nghĩa: Nếu huyết không động, th́ cứu Cùng cốt hai mươi tráng.
Giải thích: Nếu không thấy huyết lạc động hoặc chích huyết không hiệu quả, dùng phép cứu huyệt Cùng cốt, tức vùng Trường cường ở cuối xương cùng, để thông Đốc mạch, điều thần khí.
"Cùng cốt giả, đê cốt dă."
Dịch nghĩa: Cùng cốt là xương cùng.
Giải thích: Ở đây chỉ vùng cuối xương cùng, tương ứng huyệt Trường cường thuộc Đốc mạch.
Trích Linh Khu, thiên Điên Cuồng.
Chú thích
10. "Thị cử."
Giải thích: Nghĩa là mắt nh́n lên trên. Nan Kinh, Châm Cứu Giáp Ất Kinh, Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương trước chữ “thị” đều có chữ “trực”. Một là nh́n lên, một là nh́n thẳng; khi điên tật mới phát đều có thể thấy.
11. "Thậm."
Giải thích: Bản Thái Tố và Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương đều chép là “kỳ”.
12. "Hậu chi ư nhan."
Giải thích: “Nhan” vốn chỉ vùng trán trên lông mày. Ở đây nói chung là vùng mặt. “Hậu chi ư nhan” tức quan sát khí sắc vùng mặt.
13. "Huyết biến nhi chỉ."
Giải thích: Châm chích ra máu; lúc đầu máu thường sẫm, khi sắc máu chuyển về b́nh thường th́ dừng phóng huyết.
14. "Dẫn khẩu."
Giải thích: Khóe miệng bị kéo lệch, co kéo.
15. "Phản cương."
Giải thích: Trạng thái co cứng kiểu uốn ván, thân thể ưỡn ngược như cung, tức giác cung phản trương.
16. "Thường dữ chi cư."
Giải thích: Thầy thuốc thường ở cùng người bệnh để tiện quan sát t́nh h́nh lúc bệnh bắt đầu phát tác.
17. "Hồ hồ."
Giải thích: “Hồ” là quả bầu hồ lô. Bổ đôi quả hồ lô làm đồ đựng, gọi là hồ hồ.
18. "Tráng."
Giải thích: Đơn vị đếm của phép cứu bằng ngải trong châm cứu. Mỗi lần đốt một mồi ngải gọi là một tráng.
19. "Đê cốt."
Giải thích: Ở đây chỉ huyệt Trường cường ở đầu cuối xương cùng, thuộc Đốc mạch.

Phân tích
Đoạn kinh văn này luận thuật đặc điểm chứng hậu và phép điều trị của điên tật.
"Điên tật."
Dịch nghĩa: Bệnh điên tật.
Giải thích: “Điên tật” được nói trong đoạn này thực chất là chỉ chứng “giản”, tức bệnh phát tác từng cơn có thần chí bất thường. Trong các thiên khác của Hoàng Đế Nội Kinh cũng có chỗ gọi là “giản”, như trong Tố Vấn, thiên Đại Kỳ Luận và Tố Vấn, thiên Thông B́nh Hư Thực Luận có các cụm “giản kinh”, “giản xế cân loan”. Loại này khác với “điên” trong cách phân loại đời sau khi nói “điên, cuồng, giản” song song; ở đây gần với “giản”, là một loại bệnh thần chí bất thường có tính phát tác từng cơn.
Điên tật khi đại phát tác phần nhiều có triệu chứng báo trước, như:
"Tiên bất lạc."
Dịch nghĩa: Trước tiên không vui.
Giải thích: Người bệnh trước khi phát cơn có thể buồn bực, u uất, tinh thần không khoan khoái.
"Khí tự tiểu phúc thượng xung."
Dịch nghĩa: Khí từ bụng dưới xung lên.
Giải thích: Đây là biểu hiện khí cơ nghịch lên, thường là dấu hiệu báo trước cơn phát tác. Sau cơn phát, có người trở lại như b́nh thường, có người vẫn c̣n tâm phiền, mệt mỏi, đau nhức thân thể.
Đối với điều trị điên tật, kinh văn chỉ rơ: nếu khi phát tác có u uất không vui, đầu nặng đau, sau phát tác tâm phiền không yên, có thể châm các huyệt thuộc Thủ Thái dương, Thủ Dương minh, Thủ Thái âm, chích máu đến khi sắc máu chuyển b́nh thường th́ dừng. Nếu có khóe miệng co kéo, tiếp đó kêu la, hô hấp không thông, giống trạng thái kinh sợ, có thể lấy huyệt thuộc Thủ Dương minh và Thủ Thái dương; nếu bên trái co cứng th́ chích huyết ở bên phải, nếu bên phải co cứng th́ chích huyết ở bên trái. Nếu phát tác có tư thế giác cung phản trương, sau phát cơn đau cột sống, có thể chọn các huyệt thuộc Túc Thái dương, Túc Dương minh, Túc Thái âm và Thủ Thái dương để châm thích phóng huyết.
V́ điên tật là bệnh phát tác lặp đi lặp lại, nên kinh văn nhấn mạnh thầy thuốc nên thường xuyên ở gần hoặc theo dơi người bệnh để quan sát t́nh h́nh lúc bệnh phát tác và biến hóa của bệnh, từ đó căn cứ biểu hiện lúc phát cơn mà biện chứng thi trị.
Phân loại chứng hậu và điều trị điên tật
Nguyên văn
"Cốt điên tật giả, khảm xỉ chư du phân nhục giai măn, nhi cốt cứ, hăn xuất phiền duyệt."
Dịch nghĩa: Cốt điên tật là vùng má, răng, các du huyệt và phần cơ nhục đều đầy trướng, xương cứng thẳng, ra mồ hôi và phiền muộn.
Giải thích: Đây là loại điên tật bệnh tà vào sâu đến xương. Răng là phần dư của xương, phân nhục liên thuộc với xương; tà khí ủng bế nên răng, phân nhục đều có cảm giác trướng đầy. Bệnh liên quan Thiếu âm nên ra mồ hôi bên ngoài, bên trong phiền muộn.
"Ẩu đa diên mạt, khí hạ tiết, bất trị."
Dịch nghĩa: Nôn nhiều nước dăi bọt, khí tiết xuống dưới th́ không trị được.
Giải thích: Nôn nhiều dăi bọt là Dương minh khí nghịch lên. “Khí hạ tiết” chỉ các biểu hiện như tiểu tiện không tự chủ, đại tiện không tự chủ, trung tiện không giữ được. Đây là chính khí suy thoát, tiên lượng khó trị.
"Cân điên tật giả, thân quyện loan cấp mạch đại, thích hạng đại kinh chi Đại trữ."
Dịch nghĩa: Cân điên tật là thân thể mỏi mệt, co rút cấp, mạch lớn; châm mạch Đại trữ của đại kinh ở gáy.
Giải thích: Đây là loại bệnh ở cân. Tà khí quá thịnh khiến cân mạch co rút, thân thể mệt mỏi mà co cứng, mạch cấp đại. Điều trị nên châm huyệt Đại trữ thuộc Túc Thái dương để tả tà.
"Ẩu đa diên mạt, khí hạ tiết, bất trị."
Dịch nghĩa: Nếu nôn nhiều dăi bọt, khí tiết xuống dưới th́ không trị được.
Giải thích: Trong cân điên tật, nếu xuất hiện nôn dăi bọt và hạ tiết, chứng tỏ chính khí suy kiệt, bệnh khó trị.
"Mạch điên tật giả, bạo phó, tứ chi chi mạch giai trướng nhi túng."
Dịch nghĩa: Mạch điên tật là đột nhiên ngă xuống, các mạch ở tứ chi đều trướng đầy mà buông lỏng.
Giải thích: Đây là loại bệnh ở huyết mạch. Huyết mạch không điều ḥa, thần mất nuôi dưỡng, cân mất nhu dưỡng, nên đột nhiên hôn ngă; mạch ở tứ chi trướng mà không thu giữ.
"Mạch măn, tận thích chi xuất huyết; bất măn, cứu chi hiệp hạng Thái dương, cứu Đới mạch, ư yêu tương khứ tam thốn, chư phân nhục bản du."
Dịch nghĩa: Nếu mạch đầy th́ châm hết các chỗ ấy cho ra máu; nếu mạch không đầy th́ cứu hai bên gáy thuộc Thái dương, cứu Đới mạch ở vùng eo cách nhau khoảng ba thốn, và các bản du ở nơi phân nhục.
Giải thích: Nếu huyết mạch trướng đầy là thực, nên chích huyết để tả tà. Nếu không trướng đầy là hư, nên dùng cứu pháp để ôn kinh, thông dương, điều khí huyết, lấy các huyệt vùng Thái dương ở gáy, Đới mạch vùng eo và các du huyệt nơi phân nhục.
"Ẩu đa diên mạt, khí hạ tiết, bất trị."
Dịch nghĩa: Nếu nôn nhiều dăi bọt, khí tiết xuống dưới th́ không trị được.
Giải thích: Dù thuộc mạch điên tật, nếu có nôn dăi bọt và khí hạ tiết th́ chính khí đă suy thoát, khó trị.
"Điên tật giả, tật phát như cuồng giả, tử bất trị."
Dịch nghĩa: Người bị điên tật mà phát bệnh giống như cuồng th́ chết, không trị được.
Giải thích: Điên tật vốn thuộc bệnh phát tác từng cơn, nếu phát bệnh dữ dội như cuồng, tà thịnh thần loạn, chính khí không giữ được, tiên lượng rất xấu.
Trích Linh Khu, thiên Điên Cuồng.
Chú thích

1. "Khảm."
Giải thích: Là vùng ngoài miệng, trước má, trên cằm, tương đương vùng quai hàm.
2. "Cốt cứ."
Giải thích: Trong Châm Cứu Giáp Ất Kinh và Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương, chữ “cư” đều chép là “cứ”, phía sau c̣n có hai chữ “cường trực”. Đan Ba Nguyên Giản nói: “Cốt cứ tức là nghĩa cứng thẳng.”
3. "Diên."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh, Thái Tố, Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương đều chép chữ này là “diên”, nghĩa là chất dăi nhớt. Các chỗ phía sau cũng theo nghĩa này.
4. "Khí hạ tiết."
Giải thích: Nên hiểu là các triệu chứng như tiểu tiện không tự chủ, đại tiện không tự chủ, trung tiện không giữ được.
5. "Thân quyện loan cấp mạch đại, thích hạng đại kinh chi Đại trữ."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh và Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương sau chữ “cấp” có thêm chữ “mạch”, sau chữ “Đại trữ” không có chữ “mạch”. Ư là thân thể mệt mỏi, co rút cấp, mạch đại, nên châm huyệt Đại trữ trên đại kinh vùng gáy.
6. "Hiệp hạng Thái dương."
Giải thích: Chỉ kinh Thái dương ở hai bên gáy, nên hiểu là các huyệt như Thiên trụ, Đại trữ.
7. "Cứu Đới mạch, ư yêu tương khứ tam thốn."
Giải thích: Huyệt Đới mạch nằm ở bên eo, ngang với vùng hông, thuộc kinh Túc Thiếu dương Đởm, cũng thuộc Đới mạch. Trương Giới Tân chú: lại cứu huyệt Đới mạch của kinh Túc Thái dương, huyệt này ở vùng eo cách nhau khoảng ba thốn.
8. "Chư phân nhục bản du."
Giải thích: Trương Giới Tân chú: tức là ở các khoảng phân nhục và các du huyệt của tứ chi, phàm nơi nào trướng đầy, buông lỏng đều nên lấy để trị.
Phân tích
Tiết này thảo luận biểu hiện lâm sàng và điều trị của các loại điên tật khác nhau, được đặt tên theo đặc điểm triệu chứng và vị trí bệnh.
"Cốt điên tật."
Dịch nghĩa: Điên tật thuộc xương.
Giải thích: Bệnh sâu ở xương mà xương cứng thẳng th́ gọi là cốt điên tật. Răng là phần dư của xương, phân nhục liên thuộc với xương, tà khí ủng bế nên răng và phân nhục đều trướng đầy. Bệnh liên quan Thiếu âm nên bên ngoài ra mồ hôi, bên trong phiền muộn. Nếu Dương minh khí thượng nghịch th́ nôn ra dăi bọt; tỳ thận chi khí hạ thoát th́ khí hạ tiết. Đây là chứng khó trị.
"Cân điên tật."
Dịch nghĩa: Điên tật thuộc cân.
Giải thích: Bệnh ở cân, thân thể mệt mỏi, co rút th́ gọi là cân điên tật. Tà khí quá thịnh nên mạch cấp mà đại. Nên châm huyệt Đại trữ của kinh Túc Thái dương để tả tà. Nếu nôn dăi bọt, khí hạ tiết là chính khí suy kiệt, thuộc chứng khó trị.
"Mạch điên tật."
Dịch nghĩa: Điên tật thuộc mạch.
Giải thích: Bệnh ở huyết mạch, tứ chi kinh mạch trướng đầy mà buông lỏng th́ gọi là mạch điên tật. Thần mất nuôi dưỡng, cân mất nhu dưỡng nên đột nhiên hôn ngă. Nếu mạch đầy th́ châm hết nơi huyết mạch trướng đầy để tả tà; nếu hôn ngă mà huyết mạch không trướng đầy th́ thuộc chính khí đại hư, có thể cứu các huyệt Thiên trụ, Đại trữ của Túc Thái dương, lại cứu huyệt Đới mạch để ôn kinh. Tương tự, nếu thấy nôn dăi bọt, khí hạ tiết th́ là chứng khó trị.
Kinh văn nêu:
"Tật phát như cuồng giả, tử bất trị."
Dịch nghĩa: Bệnh phát như cuồng th́ chết, không trị được.
Giải thích: Điên tật nếu phát dữ dội như cuồng, tà thịnh chính suy, thần khí đại loạn, tiên lượng rất xấu.
"Khí hạ tiết, bất trị."
Dịch nghĩa: Khí hạ tiết th́ không trị được.
Giải thích: Khí hạ tiết biểu hiện chính khí hạ thoát, không c̣n giữ được nhị tiện và khí cơ, nên tiên lượng kém.
Đối với trường hợp “tật phát như cuồng”, có thể tham khảo phép trị chứng súc huyết trong Thương Hàn Luận, khi “kỳ nhân như cuồng”, dùng Đào hạch thừa khí thang, Để đương thang gia giảm, thường có hiệu nghiệm.
Bệnh nhân, chứng hậu và điều trị cuồng bệnh
Nguyên văn
"Cuồng thủy sinh, tiên tự bi dă, hỷ vong, khổ nộ, thiện khủng giả, đắc chi ưu cơ."
Dịch nghĩa: Cuồng mới phát sinh, trước tiên tự buồn, hay quên, dễ giận không tự chế, hay sợ hăi, là do lo buồn và đói mà mắc.
Giải thích: Đây là loại cuồng liên quan đến t́nh chí uất kết, khí huyết không đủ, dinh dưỡng kém. Bi thương, hay quên, giận dữ, sợ hăi đều là biểu hiện thần chí bị rối loạn, ngũ tạng khí mất điều ḥa.
"Trị chi thủ Thủ Thái âm, Dương minh, huyết biến nhi chỉ, cập thủ Túc Thái âm, Dương minh."
Dịch nghĩa: Điều trị lấy Thủ Thái âm, Thủ Dương minh, chích máu đến khi sắc máu biến đổi th́ dừng, đồng thời lấy Túc Thái âm, Túc Dương minh.
Giải thích: Dùng châm thích, chích huyết để tả tà, điều ḥa khí huyết ở phế, đại trường, tỳ, vị, giúp khí cơ điều đạt, thần chí ổn định.
"Cuồng thủy phát, thiểu ngọa, bất cơ, tự cao hiền dă, tự biện trí dă, tự tôn quư dă, thiện mạ lị, nhật dạ bất hưu."
Dịch nghĩa: Cuồng mới phát, ngủ ít, không biết đói, tự cho ḿnh cao minh hiền năng, tự cho ḿnh thông minh giỏi biện luận, tự cho ḿnh tôn quư, hay chửi mắng, ngày đêm không nghỉ.
Giải thích: Đây là cuồng chứng thuộc dương thịnh, thần khí rối loạn, biểu hiện tự cao tự đại, nói nhiều, mắng chửi, hưng phấn, mất ngủ, không biết đói.
"Trị chi thủ Thủ Dương minh, Thái dương, Thái âm, thiệt hạ, Thiếu âm, thị mạch thịnh giả, giai thủ chi, bất thịnh, thích chi dă."
Dịch nghĩa: Điều trị lấy Thủ Dương minh, Thủ Thái dương, Thủ Thái âm, dưới lưỡi, Thiếu âm; xem mạch nơi nào thịnh th́ đều lấy, không thịnh th́ bỏ qua không châm.
Giải thích: Lấy các kinh dương và âm liên quan để thanh tả dương nhiệt, điều thần. Huyệt dưới lưỡi chỉ Liêm tuyền, có tác dụng thông khiếu, điều lưỡi, thanh tâm. Nơi mạch thịnh th́ châm tả; nơi không thịnh th́ không cần châm.
"Cuồng ngôn, kinh, thiện tiếu, hảo ca nhạc, vọng hành bất hưu giả, đắc chi đại khủng."
Dịch nghĩa: Nói cuồng, kinh sợ, hay cười, thích ca hát vui chơi, đi lại càn bậy không ngừng, là do đại khủng mà mắc.
Giải thích: Đại khủng làm tổn thương thận chí và rối loạn thần khí, khiến thần không giữ, khí cơ nghịch loạn, biểu hiện nói bậy, cười hát, đi lại không dừng.
"Trị chi thủ Thủ Dương minh, Thái dương, Thái âm."
Dịch nghĩa: Điều trị lấy Thủ Dương minh, Thủ Thái dương, Thủ Thái âm.
Giải thích: Dùng các kinh này để điều khí, tả tà, thanh nhiệt, an thần.
"Cuồng, mục vọng kiến, nhĩ vọng văn, thiện hô giả, thiểu khí chi sở sinh dă."
Dịch nghĩa: Cuồng mà mắt thấy càn, tai nghe càn, hay kêu gọi, là do thiểu khí sinh ra.
Giải thích: Chính khí hư, thần mất nuôi dưỡng, phách hồn không yên, nên sinh ảo thị, ảo thính, hay kêu gọi.
"Trị chi thủ Thủ Thái dương, Thái âm, Dương minh, Túc Thái âm, đầu, lưỡng hàm."
Dịch nghĩa: Điều trị lấy Thủ Thái dương, Thủ Thái âm, Thủ Dương minh, Túc Thái âm, vùng đầu và hai hàm.
Giải thích: Phối hợp các kinh ở tay, chân và vùng đầu mặt để điều khí huyết, thanh khiếu, an thần, giảm các triệu chứng ảo giác và kêu gọi.
"Cuồng giả đa thực, thiện kiến quỷ thần, thiện tiếu nhi bất phát ư ngoại giả, đắc chi hữu sở đại hỷ."
Dịch nghĩa: Người cuồng ăn nhiều, hay thấy quỷ thần, hay cười nhưng không biểu lộ ra ngoài, là do đại hỷ mà mắc.
Giải thích: Đại hỷ thương tâm, thần khí tán loạn. Tâm thần không yên th́ có ảo giác thấy quỷ thần, cười thầm; vị khí có nhiệt th́ ăn nhiều.
"Trị chi thủ Túc Thái âm, Thái dương, Dương minh, hậu thủ Thủ Thái âm, Thái dương, Dương minh."
Dịch nghĩa: Điều trị trước lấy Túc Thái âm, Túc Thái dương, Túc Dương minh, sau lấy Thủ Thái âm, Thủ Thái dương, Thủ Dương minh.
Giải thích: Trước điều các kinh ở chân để xử lư gốc khí huyết, tỳ vị và hạ bộ, sau điều các kinh ở tay để thông khí, thanh nhiệt, an thần.
"Cuồng nhi tân phát, vị ứng như thử giả, tiên thủ Khúc tuyền tả hữu động mạch, cập thịnh giả kiến huyết, hữu khoảnh dĩ."
Dịch nghĩa: Cuồng mới phát, chưa biểu hiện đầy đủ như các loại trên, trước lấy Khúc tuyền hai bên và nơi mạch thịnh, châm cho thấy máu, một lúc th́ khỏi.
Giải thích: Khi cuồng mới phát, triệu chứng chưa điển h́nh, trước có thể lấy huyệt Khúc tuyền thuộc Can kinh hai bên, cùng các nơi mạch thịnh để chích huyết, nhằm sơ tiết can khí, thanh tà nhiệt, điều thần.
"Bất dĩ, dĩ pháp thủ chi, cứu đê cốt nhị thập tráng."
Dịch nghĩa: Nếu không khỏi, th́ theo các phép trên mà lấy huyệt, cứu xương cùng hai mươi tráng.
Giải thích: Nếu chích huyết chưa hiệu quả, căn cứ các loại chứng ở trên mà chọn phép trị; đồng thời cứu vùng xương cùng, tức khu vực Trường cường, để thông Đốc mạch, điều thần chí.
Trích Linh Khu, thiên Điên Cuồng.
Chú thích
9. "Khổ nộ."
Giải thích: Dễ giận mà không tự kiềm chế được. Châm Cứu Giáp Ất Kinh chép chữ “khổ” là “thiện”, nghĩa là hay giận.
10. "Tự cao hiền dă, tự biện trí dă, tự tôn quư dă."
Giải thích: Tự cho ḿnh cao minh, tài giỏi; tự cho ḿnh thông minh, giỏi biện luận; tự cho ḿnh tôn quư, hiền năng.
11. "Lị."
Giải thích: Nghĩa là trách mắng, chửi mắng.
12. "Thiệt hạ."
Giải thích: Chỉ huyệt Liêm tuyền.
13. "Thị mạch thịnh giả."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh và Thái Tố sau chữ “thị” đều có chữ “mạch”, nghĩa là xem mạch nơi nào thịnh.
14. "Thích chi."
Giải thích: Không châm thích. Trương Giới Tân chú: nếu không thịnh th́ nên phân biệt mà không cần châm.
15. "Thiện tiếu nhi bất phát ư ngoại giả."
Giải thích: Tự cười thầm một ḿnh, bên ngoài không biểu hiện rơ thành tiếng cười lớn.
16. "Cuồng nhi tân phát, vị ứng như thử giả."
Giải thích: Trương Giới Tân chú: chỉ bệnh cuồng mới khởi, chưa có đầy đủ các chứng đă nêu ở năm đoạn trên.
17. "Khúc tuyền tả hữu động mạch."
Giải thích: Trương Giới Tân chú: nên trước lấy huyệt Khúc tuyền của kinh Túc Quyết âm Can, hai bên đều châm. Huyệt Khúc tuyền nằm ở đầu trong nếp khoeo gối. Xét vị trí Khúc tuyền hai bên không có động mạch, hai chữ “động mạch” e là văn thừa.
18. "Hữu khoảnh dĩ."
Giải thích: “Hữu khoảnh” là qua một thời gian ngắn; “dĩ” là cơn phát dừng lại.
19. "Dĩ pháp thủ chi."
Giải thích: Trương Giới Tân chú: nên chiếu theo năm đoạn phép trị phía trước để chọn huyệt.
20. "Cốt đê."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh và Thái Tố đều chép là “đê cốt”, tức xương cùng.
Phân tích
Đoạn này chỉ ra bệnh nhân của cuồng bệnh chủ yếu là các yếu tố tinh thần như ưu, đại khủng, đại hỷ; kế đến là dinh dưỡng không đầy đủ, tức “cơ”, và “thiểu khí” do nhiều nguyên nhân gây nên. Bệnh cơ là thần khí nghịch loạn hoặc thần khí hư, bệnh liên quan ngũ tạng, có hai loại hư và thực.
Đại hỷ thương tâm, thần khí tán loạn. Tâm khí hữu dư th́ tự cao tự quư, cuồng vọng tự đại; tâm khí bất túc th́ tự buồn thương, cười thầm mà không biểu lộ ra ngoài. Ưu tư làm khí kết, bệnh liên quan can, tỳ, phế, khiến hồn phách không tàng, ư không giữ bên trong. Can khí hữu dư th́ dễ giận không tự chế; can khí bất túc th́ kinh sợ. Tà ở tỳ th́ không biết đói no, đi lại càn bậy không nghỉ, thích ca hát vui chơi. Phế hư, phách thương th́ có ảo thị, ảo thính. Thận chí bị thương th́ hay quên lời nói trước đó.
Nhiều triệu chứng cuồng bệnh được mô tả trong tiết này đều là biểu hiện thường gặp ở người bệnh tâm thần. Nguyên nhân phát cuồng đa phần do yếu tố tinh thần, như:
"Đắc chi ưu cơ."
Dịch nghĩa: Mắc do lo buồn và đói.
Giải thích: Ưu làm khí kết, đói làm khí huyết thiếu, thần không được nuôi dưỡng.
"Đắc chi đại khủng."
Dịch nghĩa: Mắc do kinh sợ lớn.
Giải thích: Đại khủng thương thận, làm chí loạn, thần khí không yên.
"Đắc chi hữu sở đại hỷ."
Dịch nghĩa: Mắc do có điều đại hỷ.
Giải thích: Đại hỷ thương tâm, thần khí tán loạn.
Có thể thấy thời Hoàng Đế Nội Kinh đă có nhận thức nhất định về bệnh tâm thần. V́ cuồng bệnh thuộc dương, phép trị phần nhiều dùng châm thích phóng huyết thuộc phép tả. Điều này có ư nghĩa tương tự với Tố Vấn, thiên Bệnh Năng Luận nói về bệnh nộ cuồng, sinh ở dương:
"Đoạt kỳ thực tức dĩ."
Dịch nghĩa: Cắt giảm ăn uống th́ bệnh dừng.
Giải thích: Cuồng thuộc dương thịnh, thực nhiệt, nên có thể dùng phép tiết giảm, tả thực để làm bớt dương thịnh.
Đời sau, các y gia lại căn cứ vào Nan Kinh nói:
"Trùng dương giả cuồng, trùng âm giả điên."
Dịch nghĩa: Dương chồng lên dương th́ cuồng, âm chồng lên âm th́ điên.
Giải thích: Cuồng phần nhiều biểu hiện táo động không yên, thuộc dương thịnh; điên phần nhiều trầm mặc, tự buồn, thuộc âm thịnh hoặc âm tính. Từ đó đời sau chia thành hai chứng “cuồng” và “điên”: cuồng thường là cuồng táo bất an, điên thường là trầm mặc tự bi. Có thể thấy “cuồng” và “điên” theo cách nói đời sau đều thuộc phạm vi cuồng bệnh được bàn trong thiên này.
Hội chứng và trị liệu bệnh điên giản biểu
Chứng hậu Chứng trạng Trị liệu Bị chú
Tiên triệu chứng Muộn muộn bất lạc Thủ thái dương Dương minh Thái âm


Phát tác chứng Khẩu tà, đế khiếu, khí suyễn, tâm quư Thủ dương minh Thái dương Mậu thích
Giác cung phản trương, bối tích thống Túc thái dương, Dương minh, Thái âm, thủ thái dương

Tật chi thích kỳ dương tủ chi xử,

Cốt điên tật Khảm xí chư du phân nhục giai măn, tiêu sầu hăn xuất, phiền muộn aaeu tiên mạt Khí hạ tiết giả, bất trị Tri huyết bổ trung, chí kỳ tái phát thời, huyết bất động giả, cứu huyệt Trường cường nhị thập tráng
Cân điên tật Thân quyện, câu luyên, mạch đại Đại trữ huyệt
Mạch điên tật Thốt đầu, tứ chi mạch trường nhi túng Thực tắc thích, hư tắc cứu
Tân bệnh Như cuồng Bất trị
Bệnh cuồng hội chứng và điều trị giản biểu
Chứng hậu Chứng trạng Trị liệu
Thuỷ tiên chi cuồng (Nhân ưu cơ) Tự bi, thiện vong, thiện nộ, thiện khủng Thủ thái âm, Dương minh, Túc thái âm, Dương minh
Thuỷ phát chi cuồng Thiểu ngoạ bất cơ, tự cao, tự quư, mạ lỵ bất hưu Thủ dương minh Thái dương, Thái âm, huyệt Liêm tuyền, thiếu âm
Nhân khủng nhi cuồng Cuồng ngôn, kinh, thiện tiếu hiếu ca, vọng hành bất hưu Thủ dương minh, thái âm, thái dương
Nhân thiếu khí nhi cuồng Huyễn thị, huyễn thính, thiện hô khiếu Thủ thái dương, thái âm, dương minh, túc thái âm, đầu, lưỡng quyền
Nhân hỉ nhi cuồng Đa thực, huyễn thị, lănh tiếu Thủ túc thái âm, thái âm, dương minh.
Tân bệnh Cuồng Tiên thích Khúc tuyên, bất dĩ cứu Trường Cường nhị thập tráng

Nộ cuồng bệnh nhân bệnh cơ, chẩn đoán và điều trị
Nguyên văn
"Đế viết: Hữu bệnh nộ cuồng giả, thử bệnh an sinh?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Có người mắc bệnh nộ cuồng, bệnh này sinh ra như thế nào?
Giải thích: “Nộ cuồng” là chứng cuồng mà biểu hiện nổi bật là dễ giận dữ, kích động, không tự chủ.
"Kỳ Bá viết: Sinh ư dương dă."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Bệnh sinh ra từ dương.
Giải thích: Cuồng thuộc dương chứng, phần nhiều do dương khí quá thịnh, uất kết hóa hỏa, làm thần chí rối loạn.
"Đế viết: Dương hà dĩ sử nhân cuồng?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: V́ sao dương lại khiến người ta phát cuồng?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi bệnh cơ cụ thể của dương khí gây cuồng.
"Kỳ Bá viết: Dương khí giả, nhân bạo chiết nhi nan quyết, cố thiện nộ dă, bệnh danh viết dương quyết."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Dương khí do đột ngột bị uất ức, găy trở mà khó giải quyết, nên người bệnh hay giận; bệnh gọi là dương quyết.
Giải thích: Tinh thần đột ngột bị kích thích, bị tổn thương hoặc uất ức làm dương khí bị uất mà không phát được, lâu thành nghịch loạn, khí cơ bốc lên, thần chí bị nhiễu, nên dễ giận dữ, cuồng táo. V́ dương khí quyết nghịch nên gọi là dương quyết.
"Đế viết: Hà dĩ tri chi?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Làm sao biết được?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi dấu hiệu chẩn đoán để nhận biết chứng dương quyết, nộ cuồng.
"Kỳ Bá viết: Dương minh giả thường động, Cự dương, Thiếu dương bất động, bất động nhi động đại tật, thử kỳ hậu dă."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Dương minh vốn thường có mạch động; Cự dương và Thiếu dương vốn không động. Nay nơi vốn không động mà lại động lớn và nhanh, đó là dấu hiệu của bệnh.
Giải thích: B́nh thường ở một số vị trí của kinh Dương minh có động mạch rơ. C̣n kinh Thái dương, Thiếu dương thường không có mạch động rơ. Nếu những nơi vốn không động mà nay động mạnh, nhanh, đó là biểu hiện dương khí quyết nghịch, khí huyết bốc động, có thể chẩn đoán nộ cuồng.
"Đế viết: Trị chi nại hà?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Điều trị như thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi phép trị chứng nộ cuồng do dương khí quyết nghịch.
"Kỳ Bá viết: Đoạt kỳ thực tức dĩ."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Cắt giảm ăn uống của người bệnh th́ bệnh sẽ dừng.
Giải thích: Ăn uống vào âm mà làm trưởng dưỡng dương khí. Người bệnh dương thịnh, cuồng nộ, nếu giảm ăn hoặc tạm thời hạn chế ăn uống th́ dương khí bớt thịnh, giống như rút củi dưới đáy nồi, giúp hỏa thế giảm xuống.
"Phù thực nhập ư âm, trưởng khí ư dương, cố đoạt kỳ thực tức dĩ."
Dịch nghĩa: V́ thức ăn vào phần âm, nhưng lại nuôi lớn khí ở phần dương, cho nên cắt giảm ăn uống th́ bệnh dừng.
Giải thích: Thức ăn do tỳ vị vận hóa thành tinh vi, phần tinh đi vào âm, nhưng thanh dương lại được phát tán ra ngoài để nuôi dương khí. Nếu dương quá thịnh mà tiếp tục ăn nhiều th́ càng trợ dương, trợ hỏa; hạn chế ăn uống giúp giảm nguồn sinh khí hỏa.
"Sử chi phục dĩ sinh thiết lạc vi ẩm, phù sinh thiết lạc giả, hạ khí tật dă."
Dịch nghĩa: Cho người bệnh uống nước sinh thiết lạc; sinh thiết lạc có tác dụng giáng khí rất nhanh.
Giải thích: Sinh thiết lạc là vụn sắt rơi ra khi rèn sắt, khí nặng mà lạnh, có thể trấn giáng, thanh nhiệt, khai kết, b́nh can hỏa, trấn tâm thần, nên dùng để trị nộ cuồng do dương khí thượng nghịch, đàm hỏa nhiễu tâm.
Trích Tố Vấn, thiên Bệnh Năng Luận.
Chú thích

1. "Nộ cuồng."
Giải thích: Là chứng cuồng mà người bệnh hay giận dữ, dễ nổi nóng, kích động mạnh.
2. "Nhân bạo chiết nhi nan quyết... bệnh danh viết dương quyết."
Giải thích: “Bạo chiết” là tinh thần đột nhiên bị tổn thương, bị đả kích, bị uất ức. “Nan quyết” là khó quyết đoán, khó giải tỏa. Do kích thích t́nh chí làm dương khí uất lại không thư đạt, dẫn đến nghịch loạn mà thành quyết, nên gọi là dương quyết.
3. "Dương minh giả thường động."
Giải thích: Mă Thị chú rằng kinh Túc Dương minh thường có mạch động. Linh Khu, thiên Động Du nói Túc Dương minh riêng động không nghỉ, cho nên các nơi như Xung dương, Địa thương, Đại nghinh, Hạ quan, Nhân nghinh, Khí xung đều có động mạch không ngừng, trong đó Xung dương là rơ nhất.
4. "Cự dương, Thiếu dương bất động, bất động nhi động đại tật."
Giải thích: Những nơi kinh Túc Thái dương Bàng quang và Túc Thiếu dương Đởm đi qua nói chung không có hiện tượng mạch động rơ, hoặc có động nhưng không rơ. Nay ấn vào thấy động lớn và nhanh, đó là do dương khí quyết nghịch. Mă Thị chú: hai kinh vốn không động mà nay động rất nhanh, đó là bệnh nộ cuồng, nên mạch các dương mới biểu hiện như vậy.
5. "Đoạt kỳ thực."
Giải thích: Nghĩa là cưỡng chế người bệnh ăn ít hoặc không ăn. Bản Thái Tố và Châm Cứu Giáp Ất Kinh đều chép chữ “đoạt” là “suy”, ư nghĩa tương đồng, tức làm suy giảm nguồn trợ dương.
6. "Thực nhập ư âm, trưởng khí ư dương."
Giải thích: Thức ăn do tỳ vận hóa thành tinh vi thủy cốc, tỳ thuộc âm, nên nói “thức ăn vào âm”. Tỳ khí tán tinh, trên quy về phế, thanh dương đầy ở tứ chi, phát ra tấu lư, ôn ở phân nhục, xông da, đầy thân, nhuận lông, như sương móc tưới thấm, đó là “trưởng khí ư dương”.
7. "Đoạt kỳ thực tức dĩ."
Giải thích: Cắt giảm ăn uống th́ khí suy, dương giảm, giống như rút củi dưới đáy nồi, nên bệnh có thể dừng.
8. "Sinh thiết lạc."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh và Thái Tố đều chép là “thiết lạc”. “Lạc” và “lạc” là chữ thông giả đồng âm. Sinh thiết lạc tức vụn sắt rơi ra khi rèn sắt. Trương Giới Tân chú:
"Sinh thiết lạc tức lô dă gian chùy lạc chi thiết tiết, dụng thủy nghiên tẩm, khả dĩ vi ẩm. Kỳ thuộc kim, kỳ khí hàn nhi trọng, tối năng trụy nhiệt khai kết, b́nh mộc hỏa chi tà. Cố khả dĩ hạ khí tật, trừ cuồng nộ dă. Phàm dược trung dụng thiết tinh, thiết hoa phấn, thiết sa, thiết tú thủy chi loại, giai đồng thử nghĩa."
Dịch nghĩa: Sinh thiết lạc là vụn sắt rơi ra khi búa đập trong ḷ rèn, dùng nước nghiền ngâm, có thể làm nước uống. Nó thuộc kim, khí lạnh mà nặng, rất có thể kéo nhiệt xuống, mở kết, b́nh tà mộc hỏa. V́ vậy có thể giáng khí nhanh, trừ cuồng nộ. Phàm trong thuốc dùng thiết tinh, thiết hoa phấn, thiết sa, nước gỉ sắt các loại, đều cùng ư nghĩa này.
Giải thích: Sinh thiết lạc có tính trấn giáng, thanh nhiệt, b́nh can, an thần, nên thích hợp với chứng cuồng nộ do đàm hỏa, can hỏa thượng nhiễu.
9. "Hạ khí tật."
Giải thích: “Hạ” là giáng xuống. “Tật” là nhanh. Nghĩa là giáng khí rất nhanh.
Phân tích
Đoạn này luận về bệnh nhân bệnh cơ, chẩn đoán và điều trị chứng nộ cuồng. Cuồng bệnh thường do chịu kích thích tinh thần dữ dội, như đột nhiên kinh sợ, bạo nộ, hoặc do yếu tố di truyền tiên thiên, khiến dương khí bạo trướng, đàm hỏa ủng thịnh, bế tắc tâm khiếu, thần cơ rối loạn. Biểu hiện đặc trưng là tinh thần hưng phấn, động nhiều, dễ giận, cuồng táo bất an, mắng chửi, phá hoại đồ vật, chạy nhảy la hét, thậm chí cầm dao giết người, cởi trần phô bày thân thể. Bệnh thường gặp ở thanh niên, tráng niên, tương đương một số bệnh trong y học hiện đại như tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc thể hưng cảm v.v.
Trung y điều trị bệnh này, phần ngọn chú trọng giáng hỏa, khoát đàm; phần gốc chú trọng điều chỉnh âm dương, khôi phục thần cơ. Những phép kinh văn nói đến như:
"Đoạt kỳ thực."
Dịch nghĩa: Cắt giảm ăn uống.
Giải thích: Làm giảm nguồn trợ dương, giảm hỏa thế, dùng cho chứng dương thịnh cuồng nộ.
"Sinh thiết lạc ẩm."
Dịch nghĩa: Nước uống sinh thiết lạc.
Giải thích: Sinh thiết lạc khí nặng mà lạnh, có thể kéo nhiệt xuống, mở uất kết, b́nh giáng can hỏa, lại có tác dụng trọng trấn tâm thần, nên có thể trị nộ cuồng.
Đến nay trên lâm sàng vẫn thường ứng dụng sinh thiết lạc. Có thể dùng riêng vị này nấu nước uống, cũng có thể phối hợp trong phương thuốc phức hợp. Ví dụ Sinh thiết lạc ẩm trong Y Học Tâm Ngộ dùng sinh thiết lạc 10 gam, phối hợp thiên đông,浙 bối mẫu mỗi vị 10 gam, đởm nam tinh, quất hồng, viễn chí, thạch xương bồ, liên kiều, phục linh, phục thần mỗi vị 3 gam, huyền sâm, câu đằng, đan sâm mỗi vị 5 gam, chu sa 1 gam, sắc nước uống, để trị cuồng chứng do đàm hỏa thượng nhiễu.
Bệnh nhân bệnh cơ h́nh thành ung thư và cơ chế bệnh lư hóa mủ
Nguyên văn
"Phù huyết mạch dinh vệ, chu lưu bất hưu, thượng ứng tinh tú, hạ ứng kinh số."
Dịch nghĩa: Huyết mạch, dinh vệ trong cơ thể chu lưu không ngừng, trên ứng với tinh tú, dưới ứng với số của kinh mạch.
Giải thích: Câu này dựa trên tư tưởng thiên nhân tương ứng, cho rằng khí huyết dinh vệ trong cơ thể vận hành liên tục, có quy luật tương ứng với trời đất và kinh mạch.
"Hàn tà khách ư kinh lạc chi trung tắc huyết sáp, huyết sáp tắc bất thông, bất thông tắc vệ khí quy chi, bất đắc phục phản, cố ung thũng."
Dịch nghĩa: Hàn tà khách trong kinh lạc th́ huyết sáp trệ; huyết sáp trệ th́ không thông; không thông th́ vệ khí tụ về đó, không thể trở lại chu lưu b́nh thường, nên thành ung thũng.
Giải thích: Hàn tà xâm nhập kinh lạc làm khí huyết ngưng trệ. Huyết không thông th́ vệ khí tụ lại ở chỗ bế tắc, khí huyết ứ đọng, uất lâu hóa nhiệt độc, phát thành sưng đau, tức ung thũng.
"Hàn khí hóa vi nhiệt, nhiệt thắng tắc hủ nhục, nhục hủ tắc vi nùng."
Dịch nghĩa: Hàn khí hóa thành nhiệt, nhiệt thắng th́ làm thối rữa thịt, thịt rữa th́ thành mủ.
Giải thích: Đây là nguyên lư cơ bản của hóa mủ. Ban đầu hàn tà gây bế tắc, uất lâu hóa nhiệt; nhiệt độc quá thịnh làm cơ nhục bị hoại tử, cơ nhục hoại tử th́ sinh mủ.
"Nùng bất tả tắc lạn cân, cân lạn tắc thương cốt, cốt thương tắc tủy tiêu."
Dịch nghĩa: Mủ không được tháo ra th́ làm nát gân; gân nát th́ thương tổn xương; xương tổn th́ tủy tiêu hao.
Giải thích: Nếu mủ độc không được bài xuất, nhiệt độc tiếp tục ăn sâu vào trong, làm tổn thương gân, xương, tủy, bệnh càng nặng.
"Bất đương cốt không, bất đắc tiết tả, huyết khô không hư, tắc cân cốt cơ nhục bất tương vinh."
Dịch nghĩa: Nếu ổ bệnh không ở đúng nơi khe xương khớp để có đường thoát, không thể tiết ra, huyết khô, bên trong rỗng hư, th́ gân xương cơ thịt không nuôi dưỡng lẫn nhau.
Giải thích: Nếu mủ độc bị bế bên trong, không có lối thoát, sẽ làm huyết dịch hao khô, kinh lạc rỗng hư, cơ nhục gân xương mất nuôi dưỡng.
"Kinh mạch bại lậu, huân ư ngũ tạng, tạng thương cố tử hĩ."
Dịch nghĩa: Kinh mạch bại hoại ṛ rỉ, nhiệt độc hun đốt ngũ tạng, tạng bị thương nên chết.
Giải thích: Khi nhiệt độc từ ổ ung thư lan sâu vào kinh mạch, hun đốt ngũ tạng, tạng khí bị tổn thương nặng, bệnh trở nên nguy hiểm đến tính mạng.
Trích Linh Khu, thiên Ung Thư.
Chú thích
10. "Quy."
Giải thích: Nghĩa là hướng về, tụ về, mở rộng nghĩa là uẩn tích, tích tụ.
11. "Bất đắc phục phản."
Giải thích: Nghĩa là không thể trở lại sự chu lưu b́nh thường.
12. "Bất đương cốt không."
Giải thích: “Đương” là ở tại. Trương Chí Thông chú:
"Cốt không giả, tiết chi giao dă, ung thũng bất đương cốt không chi xứ, tắc cốt trung chi tà nhiệt bất đắc tiết tả hĩ."
Dịch nghĩa: Cốt không là nơi giao nhau của khớp. Ung thũng nếu không ở chỗ khe khớp xương, th́ tà nhiệt trong xương không được tiết ra.
Giải thích: Nếu mủ độc không có đường thoát ra ngoài, sẽ ăn sâu vào gân xương, làm bệnh nặng thêm.
Phân tích
Tiết này lấy lư luận thiên nhân tương ứng làm tư tưởng chỉ đạo để thảo luận bệnh nhân bệnh cơ của ung thư.
"Hàn tà khách ư kinh lạc chi trung tắc huyết sáp, huyết sáp tắc bất thông, bất thông tắc vệ khí quy chi, bất đắc phục phản, cố ung thũng."
Dịch nghĩa: Hàn tà khách trong kinh lạc th́ huyết sáp trệ; huyết sáp trệ th́ không thông; không thông th́ vệ khí tụ lại, không thể trở lại chu lưu, nên thành ung thũng.
Giải thích: Đây là bệnh cơ ban đầu của ung thư. Do hàn tà khách trong kinh mạch, ảnh hưởng vận hành khí huyết, uất lâu hóa nhiệt, hóa độc, khiến cục bộ xuất hiện đỏ, sưng, nóng, đau mà thành ung thũng. Chữ “hàn” ở đây rất quan trọng, nhắc thầy thuốc rằng trong giai đoạn đầu của ung thư, nên lấy phép tiêu tán làm chính, không nên thuần dùng hàn lương thanh nhiệt; nếu không, tà bị bế lại dễ hóa mủ, thậm chí nội hăm.
"Hàn khí hóa vi nhiệt, nhiệt thắng tắc hủ nhục, nhục hủ tắc vi nùng."
Dịch nghĩa: Hàn khí hóa thành nhiệt, nhiệt thịnh th́ làm thịt rữa, thịt rữa th́ thành mủ.
Giải thích: Đây là nguyên lư cơ bản của quá tŕnh hóa mủ. Sau khi ung thư h́nh thành, để giảm tổn thương cho cơ thể, tốt nhất là làm cho ung thư tiêu tán. Nhưng nếu không thể tiêu tán, hàn uất hóa nhiệt, nhiệt thịnh làm cơ nhục hoại tử, cơ nhục hoại tử th́ thành mủ. Lúc này nếu mủ không được tả ra th́ nhiệt độc không đi, v́ vậy việc quan trọng là bài nùng, tức dẫn lưu mủ bằng phẫu thuật hoặc không phẫu thuật. Mủ ra, độc đi th́ ung thư dần khỏi.
Nếu mủ độc:
"Bất đắc tiết tả."
Dịch nghĩa: Không được tiết ra.
Giải thích: Nhiệt độc sẽ thấm sâu vào trong, tiếp tục làm nát gân, thương xương, tiêu tủy, hao huyết, cuối cùng khiến kinh mạch bại hoại ṛ rỉ, nhiệt độc hun đốt ngũ tạng, bệnh sâu không giải, nguy hại đến tính mạng.
Những lư luận này đặt nền tảng cho đời sau nhận thức về ung thư. V́ trong quá tŕnh bệnh ung thư, phần lớn là “hỏa độc” gây bệnh, bệnh vị phần nhiều ở khí phận và dinh phận, nên Y Tông Kim Giám nói:
"Ung thư nguyên thị hỏa độc sinh."
Dịch nghĩa: Ung thư vốn do hỏa độc sinh ra.
Giải thích: Trong nhiều giai đoạn của ung thư, dùng đúng lúc và dùng lượng thích hợp các thuốc thanh nhiệt, lương huyết, giải độc thực sự là then chốt trong điều trị.

Giám biệt ung và thư
Nguyên văn
"Hoàng Đế viết: Phu tử ngôn ung thư, hà dĩ biệt chi?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Phu tử nói về ung và thư, vậy lấy ǵ để phân biệt?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi cách phân biệt hai loại sang dương là ung và thư, v́ cả hai đều có sưng đau, hóa mủ, nhưng mức độ nông sâu và tính chất bệnh khác nhau.
"Kỳ Bá viết: Dinh vệ kê lưu ư kinh mạch chi trung, tắc huyết sáp nhi bất hành."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Dinh vệ đ́nh trệ trong kinh mạch th́ huyết sáp trệ mà không vận hành.
Giải thích: Dinh khí, vệ khí bị tà khí ngăn trở trong kinh mạch, khiến huyết mạch không thông, khí huyết vận hành tŕ trệ.
"Bất hành tắc vệ khí ṭng chi nhi bất thông, ủng át nhi bất đắc hành, cố nhiệt."
Dịch nghĩa: Huyết không vận hành th́ vệ khí theo đó mà cũng không thông, bị ủng tắc, ngăn trở, không vận hành được, cho nên sinh nhiệt.
Giải thích: Khí huyết bế tắc lâu ngày sẽ uất mà hóa nhiệt. Nhiệt tích ở cục bộ làm xuất hiện sưng, nóng, đau.
"Đại nhiệt bất chỉ, nhiệt thắng tắc nhục hủ, nhục hủ tắc vi nùng."
Dịch nghĩa: Đại nhiệt không dừng, nhiệt thịnh th́ làm thịt thối rữa; thịt thối rữa th́ thành mủ.
Giải thích: Khi nhiệt độc quá thịnh, cơ nhục bị nung đốt, hoại tử, hóa thành mủ.
"Nhiên bất năng hăm, cốt tủy bất vi tiêu khô, ngũ tạng bất vi thương, cố mệnh viết ung."
Dịch nghĩa: Nhưng bệnh không thể hăm sâu, xương tủy không bị khô cháy, ngũ tạng không bị tổn thương, nên gọi là ung.
Giải thích: Ung là loại sang dương nông hơn, chủ yếu ở b́ phu, cơ nhục, tuy có đỏ, sưng, nóng, đau và hóa mủ, nhưng không ăn sâu vào gân xương, tủy và ngũ tạng, tiên lượng thường tốt hơn.
"Hoàng Đế viết: Hà vị thư?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Thế nào gọi là thư?
Giải thích: Hoàng Đế tiếp tục hỏi đặc điểm riêng của thư, tức loại sang thũng sâu và nặng hơn ung.
"Kỳ Bá viết: Nhiệt khí thuần thịnh, hạ hăm cơ phu, cân tủy khô, nội liên ngũ tạng, huyết khí kiệt."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Nhiệt khí cực kỳ thịnh, hăm xuống cơ phu, làm gân tủy khô, bên trong liên lụy đến ngũ tạng, huyết khí kiệt.
Giải thích: Thư là bệnh sâu và nặng. Nhiệt độc mạnh, hăm sâu vào cơ nhục, gân xương, tủy, thậm chí liên lụy ngũ tạng, làm huyết khí hao kiệt.
"Đương kỳ ung hạ, cân cốt lương nhục giai vô dư, cố mệnh viết thư."
Dịch nghĩa: Khi bệnh ở dưới vùng ung, gân xương và thịt lành đều bị hủy hoại không c̣n, nên gọi là thư.
Giải thích: Thư ăn sâu, phá hoại rộng, làm tổn thương cả gân, xương, cơ nhục lành, nên nặng hơn ung rất nhiều.
"Thư giả, thượng chi b́ yêu dĩ kiên, thượng như ngưu lĩnh chi b́."
Dịch nghĩa: Thư th́ lớp da phía trên tối sạm mà cứng, giống như da cổ trâu.
Giải thích: Da vùng thư thường dày, cứng, sạm tối, không nhuận, cho thấy bệnh sâu, độc thịnh, khí huyết không thông.
"Ung giả, kỳ b́ thượng bạc dĩ trạch. Thử kỳ hậu dă."
Dịch nghĩa: Ung th́ lớp da phía trên mỏng mà bóng nhuận. Đó là dấu hiệu phân biệt.
Giải thích: Ung thuộc bệnh nông hơn, khí huyết c̣n có thể đưa độc ra ngoài, nên da vùng bệnh mỏng, sáng bóng, dễ hóa mủ và dễ vỡ mủ hơn.
Trích Linh Khu, thiên Ung Thư.

Chú thích
1. "Dinh vệ."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh chép là “dinh khí”. Dinh vệ là hai loại khí vận hành trong ngoài cơ thể, dinh chủ nuôi dưỡng trong mạch, vệ chủ bảo vệ ngoài mạch.
2. "Nhiên bất năng hăm."
Giải thích: Trong Thái Tố, Châm Cứu Giáp Ất Kinh v.v., sau câu này đều có ba chữ “ư cốt tủy”, nghĩa là không thể hăm sâu vào xương tủy.
3. "Thuần."
Giải thích: Nghĩa là cang thịnh, thịnh mạnh.
4. "Yêu."
Giải thích: Trương Giới Tân chú:
"Yêu dĩ sắc ngôn, hắc ám bất trạch dă. Thử tức b́ sắc chi trạng, khả dĩ biện kỳ thiển thâm hĩ."
Dịch nghĩa: “Yêu” là nói về sắc da, tức đen tối, không bóng nhuận. Đây là trạng thái màu sắc của da, có thể dùng để phân biệt bệnh nông hay sâu.
Giải thích: Da sạm tối, khô cứng là dấu hiệu bệnh độc sâu, khí huyết bị bế, thường thuộc thư.
Trương Giới Tân lại nói:
"Ung thiển thư thâm, độc hữu vi thậm, cố nội liên ngũ tạng, ngoại bại cân cốt lương nhục giả, thị vị chi thư. Năi khả úy dă."
Dịch nghĩa: Ung th́ nông, thư th́ sâu; độc có nhẹ nặng khác nhau. Cho nên bên trong liên lụy ngũ tạng, bên ngoài làm hư hoại gân xương và thịt lành, gọi là thư. Đây là chứng đáng sợ.
Giải thích: Câu này nhấn mạnh thư là chứng sâu, nặng, có thể phá hoại rộng và nguy hiểm đến sinh mệnh.
5. "Ngưu lĩnh chi b́."
Giải thích: Nghĩa là sờ vào cứng dày, h́nh trạng giống da cổ trâu.
Phân tích
Đoạn này tŕnh bày sự phân biệt giữa ung và thư. Ung và thư là hai loại sang dương có tính chất khác nhau.
"Ung."
Dịch nghĩa: Ung.
Giải thích: Ư nghĩa của ung là khí huyết bị độc tà ủng tắc không thông. Ung có thể chia thành nội ung và ngoại ung. Nội ung sinh ở tạng phủ như can ung, phế ung, trường ung, tương đương với áp xe gan, áp xe phổi, viêm ruột thừa hóa mủ trong y học hiện đại. Thiên này chủ yếu bàn về ngoại ung. Ngoại ung là bệnh cấp tính hóa mủ phát sinh ở giữa da thịt. Đặc điểm lâm sàng là cục bộ đỏ, sưng, nóng, đau, phát bệnh nhanh, dễ hóa mủ, dễ vỡ mủ, dễ liền miệng. Mủ phần nhiều vàng đỏ, dính đặc, dân gian gọi là “đào hoa nùng”, thường không làm tổn thương gân xương. Toàn thân thường kèm sợ lạnh, phát sốt, khát nước v.v. Bệnh có thể phát ở nhiều vị trí toàn thân, nên có nhiều tên gọi; phần lớn tương đương áp xe nông ở bề mặt cơ thể trong y học hiện đại. Bệnh phần nhiều do phong, hỏa, nhiệt độc xâm nhập, làm khí huyết trở trệ, huyết nhục hoại hư mà thành. V́ có các đặc điểm đỏ, sưng, nóng, đau nên thuộc phạm vi dương chứng, v́ vậy có cách gọi “dương ung”.
"Thư."
Dịch nghĩa: Thư.
Giải thích: Thư phần nhiều chỉ sang thũng phát sinh ở giữa cơ nhục, gân xương; vị trí sang sâu hơn. Thư lại chia thành hữu đầu thư và vô đầu thư.
"Hữu đầu thư."
Dịch nghĩa: Thư có đầu.
Giải thích: Hữu đầu thư là loại sang dương tính phát sinh ở giữa tổ chức mềm ngoài cơ thể, tương đương nhiễm trùng hóa mủ sâu trong y học hiện đại. V́ lúc mới khởi có một hoặc nhiều đầu sang màu trắng như hạt kê nên gọi là hữu đầu thư. Bệnh phần nhiều do ngoại cảm phong thấp hỏa độc, hoặc thấp nhiệt hỏa độc uẩn bên trong, khiến nội tạng tích nhiệt, dinh vệ bất ḥa, tà ủng ở cơ phu mà thành. Lúc đầu cục bộ đỏ, nóng, gốc sưng cao, đầu sang như hạt kê, nặng th́ đau dữ dội, thường kèm thân nhiệt, khát nước, táo bón, tiểu đỏ; vẫn thuộc phạm vi dương chứng.
"Vô đầu thư."
Dịch nghĩa: Thư không đầu.
Giải thích: Vô đầu thư chỉ sang dương tính âm phát sinh ở giữa gân xương hoặc sâu trong cơ nhục. Phần nhiều do khí huyết hư suy, độc tà hăm sâu, hàn ngưng khí trệ mà tạo thành. Phần nhiều tương đương viêm xương tủy hóa mủ, viêm khớp hóa mủ và các loại sang dương do lao trong y học hiện đại. Đặc điểm là vùng bệnh sưng lan không có đầu, cục bộ ít nóng, sắc da tối sạm, bệnh tŕnh lặp đi lặp lại, nặng th́ thương gân nát xương. Khi chưa có mủ th́ khó tiêu, đă có mủ th́ khó vỡ, một khi vỡ loét lại khó liền miệng. Mủ phần nhiều màu trắng, trong loăng, hoặc như bă đậu, thuộc phạm vi âm chứng. Cái gọi là âm thư chính là chỉ loại này.
Nguyên nhân phát sinh ung thư
Nguyên văn
"Hoàng Đế viết: Bệnh chi sinh thời, hữu hỷ nộ bất trắc, ẩm thực bất tiết, âm khí bất túc, dương khí hữu dư, dinh khí bất hành, năi phát vi ung thư."
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Khi bệnh phát sinh, có khi do vui giận thất thường, ăn uống không điều độ, âm khí không đủ, dương khí có dư, dinh khí không vận hành, bèn phát thành ung thư.
Giải thích: Ung thư phát sinh không chỉ do ngoại tà, mà c̣n do t́nh chí thất điều, ăn uống sai lệch, âm dương mất cân bằng, dinh khí ứ trệ. Khi khí huyết không hành, nhiệt độc uất kết th́ phát thành sang dương.
"Âm dương bất thông, lưỡng nhiệt tương bác, năi hóa vi nùng, tiểu châm năng thủ chi hồ?"
Dịch nghĩa: Âm dương không thông, hai thứ nhiệt cùng giao tranh, bèn hóa thành mủ. Tiểu châm có thể lấy ra được không?
Giải thích: Dinh vệ không thông, tà nhiệt bên ngoài và nhiệt do ủng trệ bên trong giao kết, làm cơ nhục hóa mủ. Hoàng Đế hỏi liệu tiểu châm nhỏ có thể xử lư được khi mủ đă thành hay không.
"Kỳ Bá viết: Thánh nhân bất năng sử hóa giả, vi chi tà bất khả lưu dă."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Bậc thánh nhân cũng không thể khiến thứ đă hóa mủ tự mất đi, v́ đối với bệnh này, tà không thể để lưu lại.
Giải thích: Khi ung thư đă hóa mủ, phải sớm dẫn lưu, trừ tà độc, không thể để mủ độc lưu lại trong cơ thể.
"Phóng lưỡng quân tương đương, kỳ xí tương vọng, bạch nhận trần ư trung dă giả, thử phi nhất nhật chi mưu dă."
Dịch nghĩa: Ví như hai quân đối trận, cờ xí nh́n thấy nhau, gươm trắng bày giữa chiến trường, đây không phải là mưu tính trong một ngày.
Giải thích: Kỳ Bá dùng chiến trận ví với bệnh. Khi bệnh đă hóa mủ, tức là thế bệnh đă h́nh thành qua quá tŕnh tích lũy lâu dài, không phải mới phát trong chốc lát.
"Năng sử kỳ dân, lệnh hành cấm chỉ, sĩ tốt vô bạch nhận chi nạn giả, phi nhất nhật chi giáo dă, tu du chi đắc dă."
Dịch nghĩa: Có thể khiến dân chúng nghe lệnh, có lệnh th́ làm, có cấm th́ dừng, binh sĩ tránh được nạn đao kiếm, không phải do dạy trong một ngày, cũng không phải có được trong chốc lát.
Giải thích: Muốn binh sĩ thắng trận, tránh chết chóc, cần huấn luyện lâu dài. Cũng như trị bệnh, muốn pḥng ung thư hóa mủ nặng phải pḥng trị từ sớm, không thể chờ mủ thành rồi mới mong dùng phương pháp nhỏ mà khỏi.
"Phù chí sử thân bị ung thư chi bệnh, nùng huyết chi tụ giả, bất diệc ly đạo viễn hồ?"
Dịch nghĩa: Đến mức khiến thân thể mắc bệnh ung thư, mủ máu tụ lại, chẳng phải đă xa rời y đạo lắm rồi sao?
Giải thích: Khi bệnh đă phát triển thành mủ máu tụ lại, nghĩa là đă bỏ lỡ thời cơ điều trị sớm. Dùng tiểu châm lúc này khó đạt hiệu quả.
"Phù ung thư chi sinh, nùng huyết chi thành dă, bất ṭng thiên hạ, bất ṭng địa xuất, tích vi chi sở sinh dă."
Dịch nghĩa: Sự sinh ra của ung thư, sự h́nh thành của mủ máu, không phải từ trời rơi xuống, không phải từ đất mọc lên, mà do tích lũy từng chút mà sinh ra.
Giải thích: Ung thư là kết quả của quá tŕnh bệnh tà tích lũy, khí huyết ứ trệ, nhiệt độc dần dần h́nh thành, không phải đột nhiên vô cớ xuất hiện.
"Cố thánh nhân tự trị ư vị hữu h́nh dă, ngu giả tao kỳ dĩ thành dă."
Dịch nghĩa: Cho nên bậc thánh nhân tự trị khi bệnh chưa có h́nh; kẻ ngu th́ gặp bệnh khi nó đă thành.
Giải thích: Người giỏi chữa bệnh chú trọng pḥng bệnh và trị sớm khi bệnh chưa thành h́nh. Người không biết th́ chờ đến khi bệnh đă thành mủ, thành khối mới trị.
"Hoàng Đế viết: Kỳ dĩ h́nh, bất dư tao; nùng dĩ thành, bất dư kiến, vi chi nại hà?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Nếu bệnh đă thành h́nh mà ta không gặp lúc ấy, mủ đă thành mà ta không thấy lúc trước, th́ làm thế nào?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi cách xử trí khi bệnh đă đến giai đoạn hóa mủ, không c̣n ở thời kỳ sớm.
"Kỳ Bá viết: Nùng dĩ thành, thập tử nhất sinh."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Mủ đă thành th́ mười phần chết chín, chỉ một phần sống.
Giải thích: Khi ung thư đă hóa mủ sâu, bệnh nặng, tiên lượng xấu, nhất là khi mủ độc không được dẫn lưu.
"Cố thánh nhân phất sử dĩ thành, nhi minh vi lương phương, trước chi trúc bạch, sử năng giả chủng nhi truyền chi hậu thế, vô hữu chung thời giả, vi kỳ bất dư tao dă."
Dịch nghĩa: Cho nên bậc thánh nhân không để bệnh phát triển đến mức đă thành, mà sáng tỏ lập phương tốt, ghi trên tre lụa, khiến người có năng lực nối tiếp truyền lại đời sau, không có lúc chấm dứt, là để người ta không phải gặp cảnh bệnh đă thành mủ.
Giải thích: Ư nói phải ghi chép, truyền dạy phương pháp pḥng trị sớm, để đời sau biết cách xử lư trước khi bệnh nặng.
"Hoàng Đế viết: Kỳ dĩ hữu nùng huyết nhi hậu tao hồ, bất đạo chi dĩ tiểu châm trị hồ?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Nếu đă có mủ máu rồi mới gặp bệnh, chẳng lẽ không dùng tiểu châm để dẫn trị sao?
Giải thích: Hoàng Đế hỏi liệu khi mủ đă thành có thể dùng kim nhỏ để dẫn mủ ra không.
"Kỳ Bá viết: Dĩ tiểu trị tiểu giả, kỳ công tiểu, dĩ đại trị đại giả, đa hại."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Dùng phương pháp nhỏ để trị bệnh nhỏ th́ công hiệu nhỏ; dùng phương pháp lớn để trị bệnh lớn th́ có nhiều nguy hại.
Giải thích: Theo bản hiện hành câu này khó thông. Theo Châm Cứu Giáp Ất Kinh, ư hợp hơn là: dùng phương pháp lớn trị bệnh lớn th́ công hiệu lớn; dùng phương pháp nhỏ trị bệnh lớn th́ nhiều tai hại. Nghĩa là bệnh đă hóa mủ lớn th́ không thể chỉ dùng kim nhỏ.
"Cố kỳ dĩ thành nùng huyết giả, kỳ duy biếm thạch, phi, phong chi sở thủ dă."
Dịch nghĩa: Cho nên bệnh đă thành mủ máu th́ chỉ có thể dùng biếm thạch, phi châm, phong châm để lấy ra.
Giải thích: Khi mủ máu đă tụ thành, cần dùng dụng cụ ngoại khoa như biếm thạch, phi châm, phong châm để rạch mở, dẫn lưu mủ máu, không nên chỉ dùng kim nhỏ.
Trích Linh Khu, thiên Ngọc Bản.
Chú thích
6. "Âm dương bất thông."
Giải thích: “Âm” chỉ dinh khí, “dương” chỉ vệ khí. Dinh khí bị ủng tắc, vệ khí theo đó cũng không thông.
7. "Lưỡng nhiệt tương bác."
Giải thích: Ngoại tà hóa nhiệt và dương nhiệt do dinh vệ ủng tắc hóa sinh cùng nhau giao kết.
8. "Bất năng sử hóa giả, vi chi tà bất khả lưu dă."
Giải thích: “Hóa giả” là thứ đă hóa mủ. “Vi chi” tức trị nó. Ư nói ung thư đă hóa mủ th́ phải sớm trừ tà, không để lưu lại trong cơ thể.
9. "Lưỡng quân tương đương."
Giải thích: Hai quân đối địch bày trận.
10. "Trung dă."
Giải thích: Chỉ chiến trường.
11. "Năng sử kỳ dân, lệnh hành cấm chỉ."
Giải thích: Có thể chỉ huy dân chúng, có lệnh th́ thi hành, có cấm th́ dừng lại.
12. "Sĩ tốt vô bạch nhận chi nạn giả, phi nhất nhật chi giáo dă, tu du chi đắc dă."
Giải thích: Muốn binh sĩ có thể thắng địch, tránh nạn đao kiếm, cần huấn luyện lâu dài, không phải trong thời gian rất ngắn mà đạt được.
13. "Ly đạo viễn."
Giải thích: “Đạo” chỉ kỹ thuật y trị. Tức như câu trước hỏi “tiểu châm có thể lấy được không?”, ư nói ung thư đă thành, mủ máu đă tụ, dùng tiểu châm để trị th́ xa không thể đạt hiệu quả.
14. "Bất ṭng thiên hạ, bất ṭng địa xuất, tích vi chi sở sinh dă."
Giải thích: Nói sự phát sinh ung thư là do bệnh tà trong cơ thể dần dần tích lũy phát triển mà thành, không phải tự nhiên từ hư không mà đến.
15. "Kỳ dĩ h́nh, bất dư tao; nùng dĩ thành, bất dư kiến."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh chép là “kỳ dĩ hữu h́nh, nùng dĩ thành”, nghĩa là bệnh đă có h́nh, mủ đă thành.
16. "Vi kỳ bất dư tao."
Giải thích: Là để con người không gặp nỗi khổ bệnh đă thành mủ mà chết.
17. "Kỳ dĩ hữu nùng huyết nhi hậu tao hồ."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh chép là “kỳ dĩ thành hữu nùng huyết”, nghĩa là bệnh đă thành và có mủ máu.
18. "Dĩ đại trị đại giả, đa hại."
Giải thích: Châm Cứu Giáp Ất Kinh chép là “dĩ đại trị đại giả kỳ công đại, dĩ tiểu trị đại giả đa hại đại”. Đan Ba Nguyên Giản nói: nguyên văn hiện tại nghĩa khó thông, theo Giáp Ất th́ ư rất rơ. “Dĩ đại trị đại” là nói dùng biếm thạch, phi châm, phong châm để lấy mủ máu ra.
19. "Phi, phong."
Giải thích: “Phi” là phi châm, h́nh như thanh kiếm, là dụng cụ ngoại khoa dùng để rạch mở, bài mủ, phóng huyết. “Phong” là phong châm, tức loại kim giống tam lăng châm ngày nay. Linh Khu, thiên Cửu Châm Thập Nhị Nguyên nói:
"Tứ viết phong châm, trường nhất thốn lục phân; ngũ viết phi châm, trường tứ thốn, quảng nhị phân bán... Phong châm giả, nhận tam ngung, dĩ phát cố tật. Phi châm giả, mạt như kiếm phong, dĩ thủ đại nùng."
Dịch nghĩa: Loại thứ tư gọi là phong châm, dài một thốn sáu phân; loại thứ năm gọi là phi châm, dài bốn thốn, rộng hai phân rưỡi... Phong châm có mũi ba cạnh, dùng để phát tiết bệnh cố kết. Phi châm có đầu như mũi kiếm, dùng để lấy mủ lớn.
Giải thích: Khi mủ máu đă thành, cần dùng dụng cụ đủ lớn, đủ sắc để rạch mở, dẫn lưu, không thể chỉ dùng kim nhỏ.
Phân tích
Bệnh tật đều do tích lũy dần dần mà phát triển thành, ung thư cũng như vậy. Đời sau, Dương Thượng Thiện căn cứ đoạn này mà khái quát bốn nguyên nhân lớn sinh ung:
"Hỷ nộ vô tiết, tranh tắc khí tụ, sinh ung nhất dă."
Dịch nghĩa: Vui giận không điều độ, khí tranh kết tụ, sinh ung là nguyên nhân thứ nhất.
Giải thích: T́nh chí quá mức làm khí cơ uất kết, khí tụ huyết trệ, dễ sinh ung.
"Ẩm thực bất tiết độ, túng t́nh bất trạch hàn nhiệt, sinh ung nhị dă."
Dịch nghĩa: Ăn uống không điều độ, buông thả theo ư thích, không chọn lạnh nóng, sinh ung là nguyên nhân thứ hai.
Giải thích: Ăn uống sai lệch làm tỳ vị tổn thương, thấp nhiệt, hỏa độc tích lại mà sinh ung.
"Tạng âm khí hư, phủ dương khí thực, dương khí thực thịnh, sinh ung tam dă."
Dịch nghĩa: Âm khí của tạng hư, dương khí của phủ thực, dương khí thực thịnh, sinh ung là nguyên nhân thứ ba.
Giải thích: Âm hư, dương thịnh, nhiệt độc dễ uất kết ở trong, sinh thành ung thũng.
"Tà khách ư huyết, tụ nhi bất hành, sinh ung tứ dă."
Dịch nghĩa: Tà khách ở huyết, tụ lại mà không vận hành, sinh ung là nguyên nhân thứ tư.
Giải thích: Tà khí vào huyết phận, huyết ứ không thông, uất lâu hóa nhiệt hóa độc mà sinh ung.
Sự h́nh thành ung thư thường do vui giận quá độ hoặc ăn uống không điều độ, trước hết gây rối loạn âm dương khí cơ trong cơ thể, lại thêm tà khí xâm nhập, dinh khí uất trệ và dương nhiệt giao tranh mà thành. Cần đặc biệt chú ư vai tṛ của diễn biến t́nh chí trong phát sinh và phát triển ung thư. Hiện nay không ít người làm lâm sàng do chịu ảnh hưởng của nhận thức y học hiện đại về nhiễm trùng, thường dễ bỏ qua điểm này. Khi lâm chứng, nên chú ư quan sát yếu tố t́nh chí của người bệnh; nếu có khí tranh, khí uất th́ nên điều khí, lư khí, giải uất, đồng thời nhắc người bệnh giữ tâm t́nh ḥa hoăn để thúc đẩy hồi phục.
Phạm vi của ung thư rất rộng, bao gồm cả một số khối u ác tính hiện nay vẫn c̣n thuộc bệnh khó chữa, v́ vậy trong ung thư có không ít tử chứng. Câu văn chỉ rơ cần điều trị sớm, pḥng bệnh ác hóa, điều này thật sự rất quan trọng.

Biểu hiện nghịch chứng tiên lượng xấu của ung thư và tác hại của điều trị nghịch
Nguyên văn
"Hoàng Đế viết: Đa hại giả, kỳ bất khả toàn hồ?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Những trường hợp nhiều nguy hại ấy, có phải không thể cứu chữa bảo toàn được chăng?
Giải thích: “Đa hại” chỉ trường hợp dùng đại châm sai cách hoặc bệnh t́nh đă chuyển nặng, gây nhiều tổn hại. Hoàng Đế hỏi liệu những trường hợp này c̣n có thể cứu được sinh mệnh hay không.
"Kỳ Bá viết: Kỳ tại nghịch thuận yên."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Điều đó nằm ở chỗ bệnh thuộc nghịch hay thuận.
Giải thích: Tiên lượng tốt hay xấu chủ yếu phải xem bệnh t́nh và triệu chứng là thuận hay nghịch. Nếu tà độc đi ra ngoài là thuận; nếu tà độc hăm vào trong, tổn thương tạng phủ là nghịch.
"Hoàng Đế viết: Nguyện văn nghịch thuận."
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin được nghe về nghịch và thuận.
Giải thích: Hoàng Đế muốn biết cụ thể những biểu hiện nào là nghịch chứng, báo hiệu bệnh nặng và khó trị.
"Kỳ Bá viết: Dĩ vi thương giả, kỳ bạch nhăn thanh, hắc nhăn tiểu, thị nhất nghịch dă."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Người mắc sang dương mà ḷng trắng mắt xanh, con ngươi đen nhỏ lại, đó là nghịch chứng thứ nhất.
Giải thích: Ḷng trắng mắt xanh, con ngươi co nhỏ biểu hiện khí của phế, can, thận bị tổn thương. Tà độc đă ảnh hưởng sâu đến tạng khí, nên là dấu hiệu xấu.
"Nội dược nhi ẩu giả, thị nhị nghịch dă."
Dịch nghĩa: Uống thuốc vào mà nôn ra, đó là nghịch chứng thứ hai.
Giải thích: Uống thuốc mà nôn cho thấy vị khí đă bại, trung tiêu không tiếp nhận được thuốc, chính khí suy, bệnh khó trị.
"Phúc thống khát thậm, thị tam nghịch dă."
Dịch nghĩa: Đau bụng, khát dữ dội, đó là nghịch chứng thứ ba.
Giải thích: Đau bụng cho thấy tà đă nhập lư; khát dữ dội cho thấy hỏa thịnh làm tổn thương tân dịch. Đây là dấu hiệu nhiệt độc hăm sâu, tân dịch hao kiệt.
"Kiên hạng trung bất tiện, thị tứ nghịch dă."
Dịch nghĩa: Vùng vai gáy không thuận lợi, cử động khó khăn, đó là nghịch chứng thứ tư.
Giải thích: Vai là nơi kinh Thủ tam dương đi qua, gáy là nơi kinh Thủ túc lục dương và Đốc mạch đi qua. Vai gáy bất lợi cho thấy các kinh dương này đă bị tà độc xâm phạm.
"Âm tê sắc thoát, thị ngũ nghịch dă."
Dịch nghĩa: Tiếng khàn, sắc mặt thoát mất, đó là nghịch chứng thứ năm.
Giải thích: Tiếng khàn là phế khí suy; sắc mặt thoát là khí huyết ngũ tạng suy bại. Đây là dấu hiệu chính khí hư thoát, tiên lượng rất xấu.
"Trừ thử ngũ giả, vi thuận hĩ."
Dịch nghĩa: Ngoài năm chứng này ra th́ là thuận chứng.
Giải thích: Nếu bệnh ung thư không xuất hiện năm biểu hiện nghịch kể trên, nghĩa là tà độc chưa hăm sâu vào tạng phủ, chính khí chưa đại bại, tiên lượng tương đối thuận hơn.
Trích Linh Khu, thiên Ngọc Bản.
Chú thích

1. "Đa hại giả, kỳ bất khả toàn hồ."
Giải thích: “Đa hại” chỉ dùng đại châm trị sai hoặc bệnh t́nh ác hóa. “Toàn” nghĩa là chữa khỏi, bảo toàn tính mạng.
2. "Kỳ tại nghịch thuận."
Giải thích: Ư nói mấu chốt nằm ở bệnh t́nh và triệu chứng thuộc nghịch hay thuận. Trương Chí Thông chú:
"Ung phát ư b́ nhục cân cốt chi gian, kỳ khí ngoại hành giả vi thuận, nhược phản nghịch ư nội, tắc nghịch thương kỳ tạng hĩ."
Dịch nghĩa: Ung phát ở giữa da thịt, gân xương; khí của nó đi ra ngoài là thuận, nếu trái lại nghịch vào trong th́ sẽ nghịch mà làm tổn thương tạng.
Giải thích: Sang dương nếu tà độc hướng ra ngoài, có thể hóa mủ rồi thoát ra th́ dễ trị; nếu tà độc nội hăm vào tạng phủ th́ nguy hiểm.
3. "Thương."
Giải thích: Thông với “dương”, nghĩa là sang dương, mụn nhọt, ung thư.
4. "Bạch nhăn thanh, hắc nhăn tiểu."
Giải thích: Trương Chí Thông chú:
"Bạch nhăn thanh, hắc nhăn tiểu, phế can thận tam tạng chi khí thương dă."
Dịch nghĩa: Ḷng trắng mắt xanh, con ngươi đen nhỏ là khí của ba tạng phế, can, thận bị tổn thương.
Giải thích: Mắt là nơi tạng khí biểu hiện; biến đổi ở ḷng trắng và con ngươi cho thấy bệnh đă vào sâu.
5. "Nội dược nhi ẩu."
Giải thích: “Nội” thông với “nạp”, nghĩa là đưa vào. Uống thuốc mà nôn là vị khí đă bại.
6. "Phúc thống khát thậm."
Giải thích: Đau bụng là tà nhập vào lư; khát dữ dội là hỏa thịnh làm tổn thương tân dịch.
7. "Kiên hạng trung bất tiện."
Giải thích: Vai là nơi kinh Thủ tam dương đi qua; gáy là nơi kinh Thủ túc lục dương và Đốc mạch đi qua. Vai gáy không thuận lợi cho thấy các kinh mạch ấy đă bị tà độc xâm phạm.
8. "Âm tê sắc thoát."
Giải thích: Mă Thị chú:
"Âm tê giả, phế suy dă; sắc thoát giả, ngũ tạng suy dă."
Dịch nghĩa: Tiếng khàn là phế suy; sắc thoát là ngũ tạng suy.
Giải thích: Đây là biểu hiện chính khí suy bại, tạng khí không c̣n sung thịnh.
Phân tích
Đoạn này một lần nữa nhấn mạnh việc pḥng ngừa, chẩn đoán sớm và điều trị sớm ung thư. Kinh văn chỉ ra những nghịch chứng báo hiệu bệnh t́nh ác hóa. Phàm ung thư mà tà độc nội hăm, truyền đến tạng phủ, khí huyết hao vong, vị khí suy bại, xuất hiện co rút, co cứng, phát sốt, tân dịch thiếu kiệt v.v., đều là biểu hiện nghiêm trọng, tiên lượng xấu.
Những biểu hiện mà kinh văn nói đến, tuy trong lâm sàng hiện đại do có sự kết hợp với y học hiện đại nên không thường gặp đầy đủ, nhưng trong một số bệnh biến nghiêm trọng vẫn có thể xuất hiện. Người học cần ghi nhớ, khi lâm chứng không thể không biết.
Trích yếu kinh văn tham khảo
"Khí thịnh thân hàn, đắc chi thương hàn. Khí hư thân nhiệt, đắc chi thương thử."
Dịch nghĩa: Khí thịnh mà thân lạnh là do thương hàn; khí hư mà thân nóng là do thương thử.
Giải thích: Câu này phân biệt bệnh do hàn và bệnh do thử từ biểu hiện khí thịnh, khí hư và cảm giác nóng lạnh của thân thể. Trích Tố Vấn, thiên Thích Chí Luận.
"Kim phong hàn khách ư nhân, sử nhân hào mao tất trực, b́ phu bế nhi vi nhiệt."
Dịch nghĩa: Nay phong hàn khách vào người, khiến lông tóc dựng đứng, da b́ đóng kín mà sinh nhiệt.
Giải thích: Phong hàn phạm biểu làm tấu lư bế tắc, dương khí bị uất không phát ra ngoài, nên sinh phát nhiệt. Trích Tố Vấn, thiên Ngọc Cơ Chân Tạng Luận.
"Nhân nhất hô mạch tam động, nhất hấp mạch tam động nhi táo, xích nhiệt viết bệnh ôn."
Dịch nghĩa: Người một lần thở ra mạch động ba lần, một lần hít vào mạch động ba lần mà táo, vùng xích da nóng th́ gọi là bệnh ôn.
Giải thích: Mạch sác táo, xích phu nhiệt là dấu hiệu nhiệt tà thịnh, thuộc bệnh ôn. Trích Tố Vấn, thiên B́nh Nhân Khí Tượng Luận.
"Xích phu nhiệt thậm, mạch thịnh táo giả, bệnh ôn dă."
Dịch nghĩa: Da vùng xích nóng dữ, mạch thịnh mà táo, là bệnh ôn.
Giải thích: Xích phu phản ánh lư nhiệt và tân dịch bị tổn thương; mạch thịnh táo là nhiệt tà cang thịnh. Trích Linh Khu, thiên Luận Tật Chẩn Xích.
"Bệnh ôn hư thậm tử."
Dịch nghĩa: Bệnh ôn mà hư quá mức th́ chết.
Giải thích: Ôn bệnh nếu chính khí đại hư, không thắng được tà nhiệt, tiên lượng rất xấu. Trích Tố Vấn, thiên Ngọc Bản Luận Yếu.
"Can nhiệt bệnh giả, tiểu tiện tiên hoàng, phúc thống đa ngọa, thân nhiệt, nhiệt tranh, tắc cuồng ngôn cập kinh, hiếp măn thống, thủ túc táo, bất đắc an ngọa; Canh Tân thậm, Giáp Ất đại hăn, khí nghịch tắc Canh Tân tử. Thích Túc Quyết âm, Thiếu dương."
Dịch nghĩa: Bệnh nhiệt ở can th́ trước tiên tiểu tiện vàng, đau bụng, hay nằm, thân nóng; khi nhiệt tranh th́ nói cuồng và kinh sợ, hông sườn đầy đau, tay chân bứt rứt, không nằm yên được. Đến ngày Canh Tân bệnh nặng, ngày Giáp Ất ra mồ hôi lớn; nếu khí nghịch th́ đến ngày Canh Tân chết. Châm kinh Túc Quyết âm và Túc Thiếu dương.
Giải thích: Can thuộc mộc, bệnh can nhiệt biểu hiện ở tiểu vàng, hiếp thống, cuồng ngôn, kinh sợ. Châm can đởm biểu lư để tiết nhiệt.
"Tâm nhiệt bệnh giả, tiên bất lạc, sổ nhật năi nhiệt, nhiệt tranh tắc tốt tâm thống, phiền muộn thiện ẩu, đầu thống diện xích, vô hăn; Nhâm Quư thậm, Bính Đinh đại hăn, khí nghịch tắc Nhâm Quư tử. Thích Thủ Thiếu âm, Thái dương."
Dịch nghĩa: Bệnh nhiệt ở tâm th́ trước tiên không vui, vài ngày sau mới phát sốt; khi nhiệt tranh th́ đột nhiên đau tim, phiền muộn, hay nôn, đau đầu, mặt đỏ, không có mồ hôi. Đến ngày Nhâm Quư bệnh nặng, ngày Bính Đinh ra mồ hôi lớn; nếu khí nghịch th́ đến ngày Nhâm Quư chết. Châm kinh Thủ Thiếu âm và Thủ Thái dương.
Giải thích: Tâm thuộc hỏa, nhiệt ở tâm làm thần chí không yên, phiền muộn, mặt đỏ. Châm tâm và tiểu trường biểu lư để điều nhiệt.
"Tỳ nhiệt bệnh giả, tiên đầu trọng giáp thống, phiền tâm nhan thanh, dục ẩu thân nhiệt, nhiệt tranh tắc yêu thống bất khả dụng phủ ngưỡng, phúc măn tiết, lưỡng hàm thống; Giáp Ất thậm, Mậu Kỷ đại hăn, khí nghịch tắc Giáp Ất tử. Thích Túc Thái âm, Dương minh."
Dịch nghĩa: Bệnh nhiệt ở tỳ th́ trước tiên đầu nặng, má đau, phiền tâm, trán xanh, muốn nôn, thân nóng; khi nhiệt tranh th́ đau lưng, không thể cúi ngửa, bụng đầy, tiêu chảy, hai hàm đau. Đến ngày Giáp Ất bệnh nặng, ngày Mậu Kỷ ra mồ hôi lớn; nếu khí nghịch th́ đến ngày Giáp Ất chết. Châm kinh Túc Thái âm và Túc Dương minh.
Giải thích: Tỳ vị bị nhiệt làm vận hóa thất thường, biểu hiện đầu nặng, bụng đầy, tiêu chảy, muốn nôn. Châm tỳ vị để điều trung tiêu.
"Phế nhiệt bệnh giả, tiên tích nhiên quyết, khởi hào mao, ố phong hàn, thiệt thượng hoàng, thân nhiệt. Nhiệt tranh tắc suyễn khái, thống tẩu hung ưng bối, bất đắc đại tức, đầu thống bất kham, hăn xuất nhi hàn; Bính Đinh thậm, Canh Tân đại hăn, khí nghịch tắc Bính Đinh tử. Thích Thủ Thái âm, Dương minh, xuất huyết như đại đậu, lập dĩ."
Dịch nghĩa: Bệnh nhiệt ở phế th́ trước tiên lạnh rùng ḿnh, lông tóc dựng lên, sợ gió lạnh, rêu lưỡi vàng, thân nóng. Khi nhiệt tranh th́ suyễn ho, đau chạy ở ngực, ức, lưng, không thể thở sâu, đau đầu không chịu nổi, ra mồ hôi mà lạnh. Đến ngày Bính Đinh bệnh nặng, ngày Canh Tân ra mồ hôi lớn; nếu khí nghịch th́ đến ngày Bính Đinh chết. Châm Thủ Thái âm, Thủ Dương minh, cho ra máu như hạt đậu lớn th́ lập tức khỏi.
Giải thích: Phế chủ b́ mao, phế nhiệt thường kèm biểu hiện sợ gió lạnh, ho suyễn, ngực lưng đau. Chích huyết phế và đại trường để tiết nhiệt.
"Thận nhiệt bệnh giả, tiên yêu thống toan, khổ khát sổ ẩm, thân nhiệt, nhiệt tranh tắc hạng thống nhi cường, hàn thả toan, túc hạ nhiệt, bất dục ngôn, kỳ nghịch tắc hạng thống, viên viên đạm đạm nhiên; Mậu Kỷ thậm, Nhâm Quư đại hăn, khí nghịch tắc Mậu Kỷ tử. Thích Túc Thiếu âm, Thái dương."
Dịch nghĩa: Bệnh nhiệt ở thận th́ trước tiên lưng đau mỏi, khát nhiều, uống nhiều, thân nóng; khi nhiệt tranh th́ gáy đau và cứng, lạnh và mỏi, ḷng bàn chân nóng, không muốn nói. Nếu nghịch th́ gáy đau, đầu choáng váng mơ hồ. Đến ngày Mậu Kỷ bệnh nặng, ngày Nhâm Quư ra mồ hôi lớn; nếu khí nghịch th́ đến ngày Mậu Kỷ chết. Châm Túc Thiếu âm và Túc Thái dương.
Giải thích: Thận nhiệt biểu hiện ở lưng đau, khát, ḷng bàn chân nóng, gáy cứng. Châm thận và bàng quang biểu lư để điều nhiệt.
"Chư hăn giả, chí kỳ sở thắng nhật hăn xuất dă."
Dịch nghĩa: Các chứng ra mồ hôi đều đến ngày mà khí của tạng ấy thắng th́ mồ hôi xuất ra.
Giải thích: Nội Kinh dùng ngũ hành sinh khắc để giải thích ngày ra mồ hôi và chuyển biến của bệnh.
"Can nhiệt bệnh giả, tả giáp tiên xích; tâm nhiệt bệnh giả, nhan tiên xích; tỳ nhiệt bệnh giả, tỵ tiên xích; phế nhiệt bệnh giả, hữu giáp tiên xích; thận nhiệt bệnh giả, di tiên xích."
Dịch nghĩa: Bệnh nhiệt ở can th́ má trái đỏ trước; bệnh nhiệt ở tâm th́ trán đỏ trước; bệnh nhiệt ở tỳ th́ mũi đỏ trước; bệnh nhiệt ở phế th́ má phải đỏ trước; bệnh nhiệt ở thận th́ cằm đỏ trước.
Giải thích: Sắc đỏ ở các vùng mặt khác nhau giúp nhận biết nhiệt thuộc tạng nào.
"Bệnh tuy vị phát, kiến xích sắc giả thích chi, danh viết trị vị bệnh."
Dịch nghĩa: Bệnh tuy chưa phát, thấy sắc đỏ th́ châm trị, gọi là trị khi bệnh chưa phát.
Giải thích: Đây là tư tưởng “trị vị bệnh”: dựa vào dấu hiệu sớm để can thiệp trước khi bệnh phát rơ.
"Nhiệt bệnh ṭng bộ sở khởi giả, chí kỳ nhi dĩ; kỳ thích chi phản giả, tam chu nhi dĩ; trọng nghịch tắc tử."
Dịch nghĩa: Bệnh nhiệt phát từ bộ vị nào th́ đến kỳ sẽ khỏi; nếu châm trái phép th́ ba chu kỳ mới khỏi; nếu nghịch nặng th́ chết.
Giải thích: Điều trị phải thuận theo bộ vị bệnh và quy luật khí hóa, nếu trị sai sẽ kéo dài bệnh hoặc làm bệnh nguy hiểm.
"Chư đương hăn giả, chí kỳ sở thắng nhật, hăn đại xuất dă."
Dịch nghĩa: Các bệnh đáng ra mồ hôi, đến ngày khí thắng th́ mồ hôi ra nhiều.
Giải thích: Đây là cách Nội Kinh giải thích thời điểm bệnh giải qua mồ hôi theo ngũ hành khí hóa. Trích Tố Vấn, thiên Thích Nhiệt.
"Khái thấu phiền oan giả, thị thận khí chi nghịch dă."
Dịch nghĩa: Ho khan, ho nhiều mà phiền uất là do thận khí nghịch.
Giải thích: Ho không chỉ thuộc phế; thận khí nghịch lên cũng có thể gây ho và phiền uất. Trích Tố Vấn, thiên Thị Ṭng Dung Luận.
"Hàn lưu ư phân nhục chi gian, tụ mạt tắc vi thống."
Dịch nghĩa: Hàn lưu ở giữa phân nhục, làm chất dịch tụ lại th́ thành đau.
Giải thích: Hàn tà làm khí huyết ngưng trệ, tân dịch tụ thành đàm mạt, bế tắc phân nhục mà đau. Trích Linh Khu, thiên Ngũ Lung Tân Dịch Biệt.
"Khí thương thống, h́nh thương thũng. Cố tiên thống nhi hậu thũng giả, khí thương h́nh dă; tiên thũng nhi hậu thống giả, h́nh thương khí dă."
Dịch nghĩa: Khí bị thương th́ đau, h́nh bị thương th́ sưng. Cho nên đau trước rồi sưng sau là khí làm tổn thương h́nh; sưng trước rồi đau sau là h́nh làm tổn thương khí.
Giải thích: Câu này phân biệt quan hệ giữa đau và sưng để suy đoán bệnh do khí hay h́nh thể bị tổn thương trước. Trích Tố Vấn, thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận.
"Đầu thống điên tật, hạ hư thượng thực, quá tại Túc Thiếu âm, Cự dương, thậm tắc nhập thận."
Dịch nghĩa: Đau đầu, bệnh điên tật, dưới hư trên thực, lỗi ở Túc Thiếu âm và Cự dương; nặng th́ nhập vào thận.
Giải thích: Đầu đau, thần chí bất thường có thể do hạ tiêu hư, thượng tiêu thực, liên quan thận và bàng quang.
"Tâm phiền đầu thống bệnh tại cách trung, quá tại Thủ Cự dương, Thiếu âm."
Dịch nghĩa: Tâm phiền, đau đầu, bệnh ở trong vùng cách, lỗi ở Thủ Cự dương và Thiếu âm.
Giải thích: Tâm phiền đau đầu có thể liên quan đến tiểu trường và tâm kinh. Trích Tố Vấn, thiên Ngũ Tạng Sinh Thành.
"Thốn khẩu chi mạch trung thủ đoản giả, viết đầu thống."
Dịch nghĩa: Mạch Thốn khẩu chạm tay mà ngắn, gọi là đau đầu.
Giải thích: Mạch tượng ngắn ở Thốn khẩu có thể phản ánh bệnh đau đầu.
"Thốn khẩu mạch trung thủ trường giả, viết túc hĩnh thống."
Dịch nghĩa: Mạch Thốn khẩu chạm tay mà dài, gọi là đau chân cẳng.
Giải thích: Mạch dài phản ánh bệnh ở chi dưới.
"Thốn khẩu mạch trung thủ xúc thượng kích giả, viết kiên bối thống."
Dịch nghĩa: Mạch Thốn khẩu chạm tay thúc lên đánh vào trên, gọi là đau vai lưng.
Giải thích: Mạch xung kích lên trên thường liên quan đau vùng vai lưng.
"Thốn khẩu mạch trầm nhi nhược, viết hàn nhiệt cập sán hà thiếu phúc thống."
Dịch nghĩa: Mạch Thốn khẩu trầm mà nhược, gọi là hàn nhiệt và sán hà, đau bụng dưới.
Giải thích: Mạch trầm nhược phản ánh bệnh ở lư, hư hàn hoặc tích tụ vùng bụng dưới.
"Thốn khẩu mạch trầm nhi hoành, viết hiếp hạ hữu tích, phúc trung hữu hoành tích thống."
Dịch nghĩa: Mạch Thốn khẩu trầm mà ngang, gọi là dưới hông sườn có tích, trong bụng có tích ngang gây đau.
Giải thích: Mạch trầm hoành gợi ư khí huyết ứ kết, tích tụ trong bụng hoặc dưới hông sườn. Trích Tố Vấn, thiên B́nh Nhân Khí Tượng Luận.
"Quyết đầu thống, diện nhược thũng khởi nhi phiền tâm, thủ chi Túc Dương minh, Thái âm."
Dịch nghĩa: Quyết đầu thống, mặt như sưng nổi mà tâm phiền, lấy Túc Dương minh và Túc Thái âm.
Giải thích: Đau đầu do khí nghịch, mặt sưng, tâm phiền liên quan tỳ vị, nên lấy Túc Dương minh Vị và Túc Thái âm Tỳ.
"Quyết đầu thống, đầu mạch thống, tâm bi thiện khấp, thị đầu động mạch phản thịnh giả, thích tận khứ huyết, hậu điều Túc Quyết âm."
Dịch nghĩa: Quyết đầu thống, mạch vùng đầu đau, tâm buồn hay khóc, xem động mạch ở đầu nếu lại thịnh th́ châm cho ra hết huyết, sau đó điều Túc Quyết âm.
Giải thích: Can khí nghịch và huyết ứ ở đầu gây đau, buồn khóc; cần chích huyết nơi mạch thịnh rồi điều can kinh.
"Quyết đầu thống, trinh trinh đầu thống nhi trọng, tả đầu thượng ngũ hàng, hàng ngũ, tiên thủ Thủ Thiếu âm, hậu thủ Túc Thiếu âm."
Dịch nghĩa: Quyết đầu thống, đầu đau âm ỉ nặng nề, tả năm hàng huyệt trên đầu, mỗi hàng năm huyệt; trước lấy Thủ Thiếu âm, sau lấy Túc Thiếu âm.
Giải thích: Đầu đau nặng liên quan tâm thận, cần điều cả Thủ Thiếu âm Tâm và Túc Thiếu âm Thận.
"Quyết đầu thống, ư thiện vong, án chi bất đắc, thủ đầu diện tả hữu động mạch, hậu thủ Túc Thái âm."
Dịch nghĩa: Quyết đầu thống, ư hay quên, ấn không t́m được chỗ đau, lấy động mạch hai bên đầu mặt, sau lấy Túc Thái âm.
Giải thích: Đau đầu kèm hay quên, bệnh vị khó xác định, nên lấy mạch động đầu mặt và điều tỳ kinh.
"Quyết đầu thống, hạng tiên thống, yêu tích vi ứng, tiên thủ Thiên trụ, hậu thủ Túc Thái dương."
Dịch nghĩa: Quyết đầu thống, gáy đau trước, lưng eo ứng theo, trước lấy Thiên trụ, sau lấy Túc Thái dương.
Giải thích: Đau đầu liên quan kinh Thái dương đi vùng gáy lưng, nên lấy Thiên trụ và kinh Túc Thái dương.
"Quyết đầu thống, đầu thống thậm, nhĩ tiền hậu mạch dũng hữu nhiệt, tả xuất kỳ huyết, hậu thủ Túc Thiếu dương."
Dịch nghĩa: Quyết đầu thống, đầu đau dữ dội, mạch trước sau tai nổi lên có nhiệt, tả cho ra máu, sau lấy Túc Thiếu dương.
Giải thích: Đau đầu do Thiếu dương nhiệt thịnh, mạch vùng tai nổi nóng, nên chích huyết rồi điều Đởm kinh.
"Chân đầu thống, đầu thống thậm, năo tận thống, thủ túc hàn chí tiết, tử bất trị."
Dịch nghĩa: Chân đầu thống là đầu đau dữ dội, toàn năo đều đau, tay chân lạnh đến các khớp, chết không trị được.
Giải thích: Đây là chứng đau đầu cực nguy, chính khí suy tuyệt, âm hàn đến tứ chi, tiên lượng tử vong.
"Đầu thống bất khả thủ ư du giả, hữu sở kích đọa, ác huyết tại ư nội, nhược nhục thương, thống vị dĩ, khả tắc thích, bất khả viễn thủ dă."
Dịch nghĩa: Đau đầu không thể lấy du huyệt để trị là do bị đánh ngă, ác huyết ở bên trong, hoặc thịt bị thương, đau chưa dứt; có thể châm tại chỗ th́ châm, không nên lấy huyệt xa.
Giải thích: Đau đầu do chấn thương, ứ huyết hoặc tổn thương cơ nhục nên trị tại chỗ, không nên chỉ dùng huyệt xa.
"Đầu thống bất khả thích giả, đại tư vi ác, nhật tác giả, khả linh thiểu dũ, bất khả dĩ."
Dịch nghĩa: Đau đầu không thể châm là do đại tư nặng, phát hằng ngày; có thể làm giảm chút ít, nhưng không thể khỏi hẳn.
Giải thích: Đau đầu do tư chứng nặng, bệnh sâu và dai dẳng, châm chỉ giảm phần nào.
"Đầu bán hàn thống, tiên thủ Thủ Thiếu dương, Dương minh, hậu thủ Túc Thiếu dương, Dương minh."
Dịch nghĩa: Nửa đầu lạnh đau, trước lấy Thủ Thiếu dương, Thủ Dương minh, sau lấy Túc Thiếu dương, Túc Dương minh.
Giải thích: Nửa đầu lạnh đau liên quan Thiếu dương, Dương minh, cần điều các kinh này ở tay và chân.
"Quyết tâm thống, dữ bối tương khống, thiện xế, như ṭng hậu xúc kỳ tâm, ủ lũ giả, thận tâm thống dă, tiên thủ Kinh cốt, Côn lôn."
Dịch nghĩa: Quyết tâm thống, đau kéo ra lưng, hay co giật, như từ phía sau chạm vào tim, người bệnh cúi gập, đó là thận tâm thống; trước lấy Kinh cốt, Côn lôn.
Giải thích: Đau tim kéo ra lưng, co giật, cúi gập là thận khí nghịch lên liên quan tâm thống, lấy huyệt kinh Bàng quang.
"Phát cuồng bất dĩ, thủ Nhiên cốc."
Dịch nghĩa: Phát cuồng không dừng, lấy Nhiên cốc.
Giải thích: Nhiên cốc là huyệt của Thận kinh, có thể thanh hư nhiệt, điều thần chí.
"Quyết tâm thống, phúc trướng hung măn, tâm vưu thống, vị tâm thống dă, thủ chi Đại đô, Thái bạch."
Dịch nghĩa: Quyết tâm thống, bụng trướng, ngực đầy, vùng tâm đặc biệt đau, là vị tâm thống, lấy Đại đô, Thái bạch.
Giải thích: Vị khí nghịch gây tâm thống kèm bụng trướng ngực đầy, lấy huyệt của Tỳ kinh để điều trung tiêu.
"Quyết tâm thống, thống như dĩ trùy châm thích kỳ tâm, tâm thống thậm giả, tỳ tâm thống dă, thủ chi Nhiên cốc, Thái khê."
Dịch nghĩa: Quyết tâm thống, đau như dùi kim đâm vào tim, đau tim dữ dội, là tỳ tâm thống, lấy Nhiên cốc, Thái khê.
Giải thích: Đau dữ như kim châm liên quan tỳ thận và khí huyết bế trở; dùng huyệt Thận kinh để điều âm, giáng nghịch.
"Quyết tâm thống, sắc thương thương như tử trạng, chung nhật bất đắc thái tức, can tâm thống dă, thủ chi Hành gian, Thái xung."
Dịch nghĩa: Quyết tâm thống, sắc mặt xanh tái như sắp chết, suốt ngày không thở dài được, là can tâm thống, lấy Hành gian, Thái xung.
Giải thích: Can khí uất nghịch gây đau vùng tâm, sắc xanh, khí uất không thư, lấy huyệt Can kinh để sơ can lư khí.
"Quyết tâm thống, ngọa nhược đồ cư, tâm thống, gian động tác, thống ích thậm, sắc bất biến, phế tâm thống dă, thủ chi Ngư tế, Thái uyên."
Dịch nghĩa: Quyết tâm thống, nằm hoặc ngồi không yên, tim đau, hễ động th́ đau càng dữ, sắc mặt không đổi, là phế tâm thống, lấy Ngư tế, Thái uyên.
Giải thích: Phế khí bế trở liên quan tâm thống, động th́ khí nghịch làm đau tăng, lấy huyệt Phế kinh để điều phế khí.
"Chân tâm thống, thủ túc thanh chí tiết, tâm thống thậm, đán phát tịch tử, tịch phát đán tử."
Dịch nghĩa: Chân tâm thống là tay chân lạnh đến khớp, tim đau dữ dội; phát buổi sáng th́ tối chết, phát buổi tối th́ sáng chết.
Giải thích: Đây là chứng tâm thống cực nguy, tâm dương suy tuyệt, âm hàn quyết nghịch, tiên lượng tử vong nhanh.
"Tâm thống bất khả thích giả, trung hữu thịnh tụ, bất khả thủ ư du."
Dịch nghĩa: Tâm thống không thể châm là v́ bên trong có tích tụ thịnh, không thể lấy du huyệt.
Giải thích: Nếu trong bụng ngực có tích tụ lớn, không nên dùng du huyệt thông thường mà phải xử lư tích tụ.
"Trường trung hữu trùng hà cập giao nhiễm, giai bất khả thủ dĩ tiểu châm."
Dịch nghĩa: Trong ruột có trùng hà và giao nhiễm, đều không thể dùng tiểu châm để trị.
Giải thích: Bệnh do kư sinh trùng, tích khối trong ruột không thích hợp với kim nhỏ thông thường.
"Tâm trường thống, tác thống, thũng tụ, văng lai thượng hạ hành, thống hữu hưu chỉ, phúc nhiệt hỷ khát diên xuất giả, thị giao dă."
Dịch nghĩa: Tâm trường thống, từng cơn đau, có khối sưng tụ đi lên đi xuống, đau có lúc dừng, bụng nóng, thích uống, nước dăi chảy ra, đó là giao trùng.
Giải thích: Đây là mô tả đau do trùng tích trong ruột, có khối di động, đau từng cơn, kèm bụng nóng, khát, chảy dăi.
"Dĩ thủ tụ án nhi kiên tŕ chi, vô linh đắc di, dĩ đại châm thích chi, cửu tŕ chi, trùng bất động, năi xuất châm dă."
Dịch nghĩa: Dùng tay gom lại ấn giữ chắc, không cho nó di chuyển, dùng đại châm châm vào, giữ lâu; khi trùng không động nữa mới rút kim.
Giải thích: Đây là phép xử trí cổ đại đối với trùng tích gây đau: cố định khối bệnh, dùng đại châm xử lư, không dùng tiểu châm.

Trích Linh Khu, thiên Quyết Bệnh.
"Nhục bất kiên, tấu lư sơ, tắc thiện bệnh phong."
Dịch nghĩa: Cơ nhục không chắc, tấu lư thưa lỏng th́ dễ mắc bệnh phong.
Giải thích: Người thể chất yếu, da cơ không kín chắc, vệ khí không vững th́ phong tà dễ xâm nhập.
Trích Linh Khu, thiên Ngũ Biến.
"Xích bất nhiệt mạch hoạt viết phong."
Dịch nghĩa: Vùng xích không nóng, mạch hoạt th́ gọi là phong.
Giải thích: Đây là một tiêu chí chẩn đoán bệnh phong qua xích phu và mạch tượng.
Trích Tố Vấn, thiên B́nh Nhân Khí Tượng Luận.
"Bệnh tại dương giả mệnh viết phong."
Dịch nghĩa: Bệnh ở phần dương th́ gọi là phong.
Giải thích: Phong là dương tà, phần nhiều phạm biểu, phạm dương phận.
Trích Linh Khu, thiên Thọ Yểu Cương Nhu.
"Đế viết: Thiện. Hữu bệnh thân nhiệt giải nọa, hăn xuất như dục, ố phong thiểu khí, thử vi hà bệnh? Kỳ Bá viết: Bệnh danh viết tửu phong. Đế viết: Trị chi nại hà? Kỳ Bá viết: Dĩ trạch tả, truật các thập phân, mi hàm ngũ phân, hợp dĩ tam chỉ toát, vi hậu phạn."
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Có người bệnh thân nóng, mệt mỏi ră rời, mồ hôi ra như tắm, sợ gió, ít khí, đó là bệnh ǵ? Kỳ Bá nói: Bệnh tên là tửu phong. Hoàng Đế hỏi: Điều trị thế nào? Kỳ Bá nói: Dùng trạch tả và truật mỗi vị mười phần, mi hàm năm phần, hợp lại lấy bằng ba ngón tay nhúm, uống sau bữa ăn.
Giải thích: Tửu phong là bệnh do rượu làm thấp nhiệt nội uẩn, lại cảm phong, biểu hiện thân nhiệt, ra mồ hôi nhiều, sợ gió, khí yếu.
Trích Tố Vấn, thiên Bệnh Năng Luận.
"Hư tà chi trúng nhân dă... kỳ nhập thâm, nội bác ư cốt, tắc vi cốt tư... bác ư b́ phu chi gian... lưu nhi bất khứ, tắc tư."
Dịch nghĩa: Hư tà trúng vào người... nếu vào sâu, bên trong va chạm ở xương th́ thành cốt tư... nếu va chạm ở giữa da thịt... lưu lại không đi th́ thành tư.
Giải thích: Tà khí xâm nhập sâu nông khác nhau th́ h́nh thành các loại tư chứng khác nhau.
Trích Linh Khu, thiên Thích Tiết Chân Tà.
"Bệnh tại âm giả mệnh viết tư."
Dịch nghĩa: Bệnh ở phần âm th́ gọi là tư.
Giải thích: Tư phần nhiều do phong hàn thấp tà ngưng trệ ở kinh lạc, cơ nhục, cân cốt, thuộc âm tà bế trở.
Trích Linh Khu, thiên Thọ Yểu Cương Nhu.
"Tà nhập ư âm tắc tư."
Dịch nghĩa: Tà khí nhập vào phần âm th́ thành tư.
Giải thích: Tà vào sâu trong cân cốt, huyết mạch, cơ nhục, làm khí huyết bế tắc th́ thành tư chứng.
Trích Tố Vấn, thiên Tuyên Minh Ngũ Khí.
"Thốn khẩu... mạch sáp viết tư."
Dịch nghĩa: Mạch thốn khẩu sáp th́ gọi là tư.
Giải thích: Mạch sáp biểu hiện khí huyết vận hành không thông, phù hợp bệnh cơ bế tắc của tư.
Trích Tố Vấn, thiên B́nh Nhân Khí Tượng Luận.
"Hư tà khách ư kinh lạc nhi vi bạo tư giả dă."
Dịch nghĩa: Hư tà khách ở kinh lạc mà thành chứng bạo tư.
Giải thích: Tà khí đột ngột xâm nhập kinh lạc, làm khí huyết bế tắc cấp tính, gây đau nhức tê nặng.
Trích Linh Khu, thiên Cửu Châm Luận.
"Chẩn huyết mạch... đa hắc vi cửu tư."
Dịch nghĩa: Khi xem huyết mạch... nhiều sắc đen là chứng tư lâu ngày.
Giải thích: Sắc đen biểu hiện huyết ứ, hàn ngưng, bệnh tư kéo dài.
Trích Linh Khu, thiên Luận Tật Chẩn Xích.
"Phong tư dâm lạc, bệnh bất khả dĩ giả, túc như lư băng, thời như nhập thang trung, cổ hĩnh dâm lạc, phiền tâm đầu thống, thời ẩu thời phủ, huyễn dĩ hăn xuất, cửu tắc mục huyễn, bi dĩ hỷ khủng, đoản khí, bất lạc, bất xuất tam niên, tử hĩ."
Dịch nghĩa: Phong tư lan tràn, bệnh không thể khỏi, chân như giẫm trên băng, có lúc lại như ở trong nước nóng; đùi cẳng đau lan, phiền tâm, đau đầu, khi nôn, khi cúi gập, chóng mặt rồi ra mồ hôi; lâu ngày th́ hoa mắt, buồn bă, hay sợ, hơi thở ngắn, không vui; không quá ba năm th́ chết.
Giải thích: Đây là mô tả chứng phong tư nặng, tà khí lan sâu, chính khí suy, biểu hiện hàn nhiệt lẫn lộn, đau lan, thần chí bất an, tiên lượng xấu.
Trích Linh Khu, thiên Quyết Bệnh.
"Phàm tư văng lai hành vô thường xứ giả, tại phân nhục gian thống nhi thích chi, dĩ nguyệt tử sinh vi số, dụng châm giả tùy khí thịnh suy, dĩ vi số, châm quá kỳ nhật số tắc thoát khí, bất cập nhật số tắc khí bất tả, tả thích hữu, hữu thích tả, bệnh dĩ, chỉ, bất dĩ, phục thích chi như pháp."
Dịch nghĩa: Phàm chứng tư đau đi lại không nơi cố định, đau ở giữa phân nhục th́ châm nơi ấy, lấy số ngày sinh tử của mặt trăng làm số lần; người dùng châm phải theo khí thịnh suy mà định số. Châm quá số ngày th́ làm thoát khí, chưa đủ số ngày th́ khí không được tả. Bệnh bên trái th́ châm bên phải, bệnh bên phải th́ châm bên trái; bệnh khỏi th́ dừng, không khỏi th́ lại châm theo phép ấy.
Giải thích: Đây là phép châm trị chứng tư đau di chuyển, nhấn mạnh phải tùy khí thịnh suy, không châm quá mức, có thể dùng phép mậu thích trái phải đối bên.
Trích Tố Vấn, thiên Mậu Thích Luận.
"Phạm kỳ vũ thấp chi địa tắc vi nuy."
Dịch nghĩa: Xâm phạm nơi mưa ẩm thấp th́ thành chứng nuy.
Giải thích: Ở lâu nơi ẩm thấp, thấp tà xâm nhập làm tổn thương cân mạch, cơ nhục, có thể sinh chứng nuy yếu.
Trích Linh Khu, thiên Cửu Cung Bát Phong.
"Nhân ư thấp, thủ như khỏa, thấp nhiệt bất nhương, đại cân đoản, tiểu cân tŕ trường, đoản vi câu, tŕ trường vi nuy."
Dịch nghĩa: Do thấp tà, đầu như bị bọc lại; thấp nhiệt không trừ, gân lớn co ngắn, gân nhỏ buông dài; co ngắn th́ thành co rút, buông dài th́ thành nuy.
Giải thích: Thấp nhiệt lưu lại làm cân mạch mất điều ḥa, có nơi co rút, có nơi mềm yếu, gây nuy chứng.
Trích Tố Vấn, thiên Sinh Khí Thông Thiên Luận.
"Dương minh vi hợp... hợp chiết tắc khí vô sở chỉ tức nhi nuy tật khởi hĩ, cố nuy tật giả thủ chi Dương minh, thị hữu dư bất túc, vô sở chỉ tức giả, chân khí kê lưu, tà khí cư chi dă."
Dịch nghĩa: Dương minh là hợp... hợp bị găy th́ khí không có nơi dừng nghỉ mà nuy tật phát sinh, cho nên bệnh nuy th́ lấy Dương minh, xem có dư hay không đủ. Không có nơi dừng nghỉ là chân khí đ́nh trệ, tà khí cư trú ở đó.
Giải thích: Dương minh là nguồn khí huyết của ngũ tạng lục phủ, có vai tṛ nuôi dưỡng cân cơ. Trị nuy cần trọng Dương minh, xét hư thực để điều trị.
Trích Linh Khu, thiên Căn Kết.
"Túc Thiếu dương chi biệt... hư tắc nuy tích."
Dịch nghĩa: Biệt lạc của Túc Thiếu dương... hư th́ thành nuy tích.
Giải thích: Thiếu dương khí hư, kinh lạc không nuôi dưỡng được chi thể, có thể sinh chứng chân yếu không đi được.
Trích Linh Khu, thiên Kinh Mạch.
"Tam dương vi bệnh... cập vi quyết."
Dịch nghĩa: Tam dương mắc bệnh... cũng có thể thành quyết.
Giải thích: Bệnh ở các kinh dương nếu khí cơ nghịch loạn có thể phát thành quyết chứng.
Trích Tố Vấn, thiên Âm Dương Biệt Luận.
"Phu nhân quyết tắc dương khí tịnh ư thượng, âm khí tịnh ư hạ. Dương tịnh ư thượng, tắc hỏa độc quang dă; âm tịnh ư hạ tắc túc hàn, túc hàn tắc trướng dă."
Dịch nghĩa: Người bị quyết th́ dương khí dồn lên trên, âm khí dồn xuống dưới. Dương dồn lên trên th́ hỏa một ḿnh sáng rực; âm dồn xuống dưới th́ chân lạnh, chân lạnh th́ trướng.
Giải thích: Quyết là khí cơ nghịch loạn, âm dương không giao nhau, trên nhiệt dưới hàn.
Trích Tố Vấn, thiên Giải Tinh Vi Luận.
"Mạch chí như suyễn, danh viết bạo quyết. Bạo quyết giả, bất tri dữ nhân ngôn."
Dịch nghĩa: Mạch đến như thở gấp, gọi là bạo quyết. Bạo quyết là người bệnh không biết nói chuyện với người.
Giải thích: Bạo quyết là chứng đột nhiên hôn mê, thần chí mất, mạch gấp loạn.
Trích Tố Vấn, thiên Đại Kỳ Luận.
"Tà khách ư thủ túc Thiếu âm, Thái âm, Túc Dương minh chi lạc, thử ngũ lạc, giai hội ư nhĩ trung, thượng lạc tả giác, ngũ lạc câu kiệt, linh nhân thân mạch giai động, nhi h́nh vô tri dă, kỳ trạng nhược thi, hoặc viết thi quyết."
Dịch nghĩa: Tà khách ở lạc mạch của thủ túc Thiếu âm, Thái âm và Túc Dương minh. Năm lạc này đều hội ở trong tai, lên liên hệ góc trái; năm lạc đều kiệt, khiến thân mạch đều động mà h́nh thể không biết ǵ, trạng thái như xác chết, có người gọi là thi quyết.
Giải thích: Thi quyết là chứng đột nhiên bất tỉnh như xác chết, do tà khí làm lạc mạch bế kiệt, thần khí không thông.
Trích Tố Vấn, thiên Mậu Thích Luận.
"Huyết chi dữ khí tịnh tẩu ư thượng, tắc vi đại quyết, quyết tắc bạo tử, khí phục phản tắc sinh, bất phản tắc tử."
Dịch nghĩa: Huyết cùng khí dồn lên trên th́ thành đại quyết; quyết th́ đột ngột chết. Nếu khí trở lại th́ sống, không trở lại th́ chết.
Giải thích: Đại quyết là khí huyết nghịch xung lên trên, gây hôn quyết nguy kịch; nếu khí cơ hồi phục th́ sống.
Trích Tố Vấn, thiên Điều Kinh Luận.
"Dương khí bất trị, tắc dương khí bất đắc xuất, can khí đương trị nhi vị đắc, cố thiện nộ, thiện nộ giả, danh viết tiễn quyết."
Dịch nghĩa: Dương khí không được điều trị th́ dương khí không thể xuất ra; can khí đáng được điều mà chưa được điều, nên hay giận; hay giận gọi là tiễn quyết.
Giải thích: Can khí uất, dương khí không thông đạt, uất nhiệt bốc lên làm người dễ giận, h́nh thành tiễn quyết.
Trích Tố Vấn, thiên Mạch Giải.
"Dương khí giả, đại nộ tắc h́nh khí tuyệt, nhi huyết uất ư thượng, sử nhân bạc quyết."
Dịch nghĩa: Dương khí, khi đại nộ th́ h́nh khí tuyệt, huyết uất ở trên, khiến người bị bạc quyết.
Giải thích: Giận dữ quá mức làm khí huyết nghịch lên, thần khí bị che lấp, có thể đột nhiên hôn quyết.
Trích Tố Vấn, thiên Sinh Khí Thông Thiên Luận.
"H́nh nhục vị thoát, thiểu khí nhi mạch hựu táo, táo quyết giả, tất vi mậu thích chi, tán khí khả thu, tụ khí khả bố."
Dịch nghĩa: H́nh nhục chưa suy thoát, khí ít mà mạch lại táo, đó là táo quyết; cần dùng phép mậu thích. Khí tán có thể thu lại, khí tụ có thể phân bố.
Giải thích: Táo quyết là khí cơ tán loạn hoặc uất tụ, dùng mậu thích để điều khí huyết hai bên.
Trích Tố Vấn, thiên Chung Thủy.
"Hà vị nghịch nhi loạn... loạn ư tư hĩnh, tắc vi tứ quyết."
Dịch nghĩa: Thế nào là nghịch mà loạn... loạn ở tay và cẳng chân th́ thành tứ quyết.
Giải thích: Khí cơ nghịch loạn ở tứ chi sẽ gây chứng tay chân quyết lạnh hoặc quyết nghịch.
Trích Linh Khu, thiên Ngũ Loạn.
"Thị dĩ thiểu khí chi quyết, linh nhân vọng mộng, kỳ cực chí mê. Tam dương tuyệt, tam âm vi, thị vi thiểu khí."
Dịch nghĩa: V́ vậy quyết do thiểu khí khiến người mộng loạn; nặng đến mức mê man. Tam dương tuyệt, tam âm suy vi, đó gọi là thiểu khí.
Giải thích: Thiểu khí là chính khí suy yếu, âm dương đều không đủ, có thể gây mê man, mộng loạn.
Trích Tố Vấn, thiên Phương Thịnh Suy Luận.
"Nhị dương nhất âm phát bệnh, chủ kinh hăi bối thống, thiện ế thiện khiếm, danh viết phong quyết."
Dịch nghĩa: Nhị dương nhất âm phát bệnh, chủ kinh hăi, đau lưng, hay ợ hơi, hay ngáp, gọi là phong quyết.
Giải thích: Phong quyết là bệnh do kinh dương và âm liên quan rối loạn, biểu hiện kinh hăi, lưng đau, khí nghịch.
Trích Tố Vấn, thiên Âm Dương Biệt Luận.
"Âm dương khí đạo bất thông, tứ hải tắc bế, tam tiêu bất tả, tân dịch bất hóa, thủy cốc tịnh ư trường vị chi trung, biệt ư hồi trường, lưu ư hạ tiêu, bất đắc thấm bàng quang, tắc hạ tiêu trướng, thủy ôn tắc vi thủy trướng, thử tân dịch ngũ biệt chi nghịch thuận dă."
Dịch nghĩa: Đường khí âm dương không thông, bốn biển bế tắc, tam tiêu không tiết, tân dịch không hóa, thủy cốc cùng dồn ở trong trường vị, phân biệt ở hồi trường, lưu lại hạ tiêu, không thể thấm xuống bàng quang, th́ hạ tiêu trướng; nước ấm tích lại th́ thành thủy trướng. Đó là nghịch thuận của năm đường phân biệt tân dịch.
Giải thích: Thủy trướng do khí hóa tam tiêu thất thường, tân dịch không phân bố, thủy dịch không xuống bàng quang mà ứ ở hạ tiêu.
Trích Linh Khu, thiên Ngũ Lung Tân Dịch Biệt.
"Hoàng Đế viết: Trướng giả yên sinh, hà nhân nhi hữu. Kỳ Bá viết: Vệ khí chi tại thân dă, đương nhiên tịnh mạch tuần phân nhục, hành hữu nghịch thuận, âm dương tương tùy, năi đắc thiên ḥa, ngũ tạng canh thủy, tứ thời hữu tự, ngũ cốc năi hóa, nhiên hậu quyết khí tại hạ, dinh vệ lưu chỉ, hàn khí nghịch thượng, chân tà tương công, lưỡng khí tương bác, năi hợp vi trướng dă. Hoàng Đế viết: Thiện. Hà dĩ giải hoặc. Kỳ Bá viết: Hợp chi ư chân, tam hợp nhi đắc."
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Trướng sinh ra thế nào, do đâu mà có? Kỳ Bá nói: Vệ khí ở trong thân thể vốn đi cùng mạch, theo phân nhục; sự vận hành có nghịch có thuận, âm dương theo nhau th́ mới được ḥa với trời, ngũ tạng thay nhau khởi, bốn mùa có thứ tự, ngũ cốc mới được hóa. Sau đó quyết khí ở dưới, dinh vệ lưu lại, hàn khí nghịch lên, chân khí và tà khí công kích nhau, hai khí giao tranh, bèn hợp lại thành trướng. Hoàng Đế nói: Hay lắm. Lấy ǵ để giải nghi? Kỳ Bá nói: Hợp với chân khí, ba lần hợp th́ hiểu được.
Giải thích: Trướng do dinh vệ lưu trệ, hàn khí nghịch lên, chân tà giao tranh, khí cơ không thông mà thành.
Trích Linh Khu, thiên Trướng Luận.
Phụ lục một: Mười ba phương trong Hoàng Đế Nội Kinh
Các phương tiện điều trị được ghi trong Hoàng Đế Nội Kinh phần nhiều lấy châm thích làm chủ. Về việc dùng phương dược, sách chỉ nêu mười ba phương, thường gọi là “Nội Kinh thập tam phương”. Trong đó, Tiểu kim đan chép trong Tố Vấn Di Thiên, thiên Thích Pháp Luận, là phương của đời sau. Mười ba phương này tuy số vị thuốc ít, nhưng là những ghi chép sớm về việc Trung Quốc dùng phương tễ điều trị bệnh, có ư nghĩa lịch sử quan trọng trong lịch sử phương tễ Trung Quốc; trong đó có một số phương thuốc đến nay vẫn c̣n được dùng trên lâm sàng.
Thang dịch lao lễ
"Hoàng Đế vấn viết: Vi ngũ cốc thang dịch cập lao lễ nại hà? Kỳ Bá đối viết: Tất dĩ đạo mễ, xuy chi đạo tân. Đạo mễ giả hoàn, đạo tân giả kiên. Đế viết: Hà dĩ nhiên? Kỳ Bá viết: Thử đắc thiên địa chi ḥa, cao hạ chi nghi, cố năng chí hoàn, phạt thủ đắc thời, cố năng chí kiên dă."
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Làm thang dịch và rượu ngọt từ ngũ cốc như thế nào? Kỳ Bá đáp: Nhất định dùng gạo nếp, nấu bằng rơm nếp. Gạo nếp th́ hoàn chỉnh, rơm nếp th́ bền chắc. Hoàng Đế hỏi: V́ sao như vậy? Kỳ Bá nói: V́ nó được khí ḥa của trời đất, hợp với nơi cao thấp thích nghi, nên hạt có thể hoàn chỉnh; chặt lấy đúng thời, nên rơm có thể bền chắc.
Giải thích: Đây là ghi chép về cách dùng ngũ cốc chế thang dịch, lao lễ để điều dưỡng và trị bệnh, nhấn mạnh chọn vật liệu đúng khí vị, đúng thời.
Trích Tố Vấn, thiên Thang Dịch Lao Lễ Luận.
Sinh thiết lạc ẩm
"Đế viết: Hữu bệnh cuồng giả... trị chi nại hà? Kỳ Bá viết: ... sử chi phục dĩ sinh thiết lạc vi ẩm. Phù sinh thiết lạc giả, hạ khí tật dă."
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Có người bệnh cuồng... điều trị thế nào? Kỳ Bá nói: Cho uống sinh thiết lạc làm nước uống. Sinh thiết lạc có tác dụng giáng khí rất nhanh.
Giải thích: Sinh thiết lạc khí nặng mà lạnh, có thể giáng khí, trấn tâm, thanh nhiệt, dùng trị cuồng do dương khí thượng nghịch, đàm hỏa nhiễu thần.
Trích Tố Vấn, thiên Bệnh Năng Luận.
Tả giác phát tửu
"Tà khách ư thủ túc Thiếu âm, Thái âm, Túc Dương minh chi lạc. Thử ngũ lạc giai hội ư nhĩ trung, thượng lộ tả giác, ngũ lạc câu kiệt, linh nhân thân mạch giai động, nhi h́nh vô tri dă, kỳ trạng nhược thi, hoặc viết thi quyết. Thế kỳ tả giác chi phát, phương nhất thốn, phần trị, ẩm dĩ mỹ tửu nhất bôi, bất năng ẩm giả quán chi, lập dĩ."
Dịch nghĩa: Tà khách ở lạc mạch của thủ túc Thiếu âm, Thái âm và Túc Dương minh. Năm lạc này đều hội ở trong tai, đi lên góc trái; năm lạc đều kiệt, khiến thân mạch đều động mà h́nh thể không biết ǵ, trạng thái như xác chết, có người gọi là thi quyết. Cạo tóc ở góc trái, lấy vuông một thốn, đốt xử lư, cho uống với một chén rượu ngon; người không uống được th́ đổ vào, lập tức khỏi.
Giải thích: Đây là phương pháp cổ trị thi quyết, dùng tóc vùng góc trái đốt với rượu để thông lạc, hồi tỉnh.
Trích Tố Vấn, thiên Mậu Thích Luận.
Trạch tả ẩm
"Hữu bệnh thân nhiệt giải nọa, hăn xuất như dục, ố phong thiểu khí, thử vi hà bệnh? Kỳ Bá viết: Bệnh danh viết tửu phong. Đế viết: Trị chi nại hà? Kỳ Bá viết: Dĩ trạch tả, truật các thập phân, mi hàm ngũ phân, hợp dĩ tam chỉ toát, vi hậu phạn."
Dịch nghĩa: Có người bệnh thân nóng, mệt mỏi ră rời, mồ hôi ra như tắm, sợ gió, ít khí, đó là bệnh ǵ? Kỳ Bá nói: Bệnh tên là tửu phong. Hoàng Đế hỏi: Điều trị thế nào? Kỳ Bá nói: Dùng trạch tả, truật mỗi vị mười phần, mi hàm năm phần, hợp lại lấy bằng ba ngón tay nhúm, uống sau bữa ăn.
Giải thích: Trạch tả ẩm dùng trị tửu phong, có ư nghĩa thấm thấp, lợi thủy, kiện tỳ, trừ phong thấp do rượu gây ra.
Trích Tố Vấn, thiên Bệnh Năng Luận.

Kê thỉ lễ
"Hoàng Đế vấn viết: Hữu bệnh tâm phúc măn, đán thực tắc bất năng mộ thực, thử vi hà bệnh?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Có người bệnh vùng tâm và bụng đầy trướng, sáng ăn rồi th́ chiều không thể ăn nữa, đó là bệnh ǵ?
Giải thích: Đây là chứng bụng trướng đầy, ăn vào khó tiêu, vị khí bị trở trệ, thủy thấp khí trệ tích ở trong.
"Kỳ Bá đối viết: Danh vi cổ trướng."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp: Tên bệnh là cổ trướng.
Giải thích: Cổ trướng là chứng bụng trướng to như cái trống, thường do khí, huyết, thủy thấp đ́nh tụ.
"Đế viết: Trị chi nại hà?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Điều trị thế nào?
"Kỳ Bá viết: Trị chi dĩ kê thỉ lễ, nhất tễ tri, nhị tễ dĩ."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Điều trị bằng kê thỉ lễ, một thang th́ biết hiệu quả, hai thang th́ khỏi.
Giải thích: Kê thỉ lễ là phương cổ dùng trị cổ trướng, có tác dụng thông lợi, tiêu trướng, trục thủy. Trích Tố Vấn, thiên Phúc Trung Luận.
Ô cốt như hoàn
"Đế viết: Hữu bệnh hung hiếp chi măn giả, phương ư thực, bệnh chí tắc tiên văn tinh tao xú, xuất thanh dịch, tiên thóa huyết, tứ chi thanh, mục huyễn, thời thời tiền hậu huyết, bệnh danh vi hà? Hà dĩ đắc chi?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Có người bệnh ngực sườn chống đầy, cản trở ăn uống; khi bệnh đến th́ trước hết ngửi thấy mùi tanh hôi, tiết ra dịch trong, trước đó khạc ra máu, tứ chi lạnh, mắt hoa, thỉnh thoảng trước sau đều ra máu, bệnh ấy tên là ǵ? Do đâu mà mắc?
Giải thích: Đây là chứng huyết hư, huyết ứ, can thương, khí huyết suy kiệt, biểu hiện ngực sườn đầy, ăn uống bị trở ngại, xuất huyết, tứ chi lạnh, hoa mắt.
"Kỳ Bá viết: Bệnh danh huyết khô."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Bệnh tên là huyết khô.
Giải thích: Huyết khô là chứng huyết bị hao kiệt, can huyết suy tổn, kinh nguyệt suy giảm hoặc không đến.
"Thử đắc chi niên thiếu thời, hữu sở đại thoát huyết, nhược túy nhập pḥng trung, khí kiệt can thương, cố sự suy thiểu bất lai dă."
Dịch nghĩa: Bệnh này mắc do lúc trẻ từng bị mất máu nhiều, hoặc say rượu rồi nhập pḥng, làm khí kiệt, can bị thương, cho nên kinh sự suy ít, không đến.
Giải thích: Đại mất huyết làm huyết hư; say rượu nhập pḥng làm hao tinh khí, tổn thương can thận, khiến huyết không sinh, kinh nguyệt không điều.
"Đế viết: Trị chi nại hà? Phục dĩ hà thuật?"
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi: Điều trị thế nào? Lại dùng phép ǵ?
"Kỳ Bá viết: Dĩ tứ ô tặc cốt, nhất lô như, nhị vật tịnh hợp chi, hoàn dĩ tước noăn, đại như tiểu đậu, dĩ ngũ hoàn vi hậu phạn, ẩm dĩ bào ngư trấp, lợi trường trung cập thương can dă."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Dùng bốn phần ô tặc cốt, một phần lô như, hai vị hợp lại, dùng trứng chim sẻ làm hoàn, viên lớn như hạt đậu nhỏ; uống năm viên sau bữa ăn, uống với nước bào ngư, để làm lợi trong ruột và chữa can bị thương.
Giải thích: Ô tặc cốt tức mai mực, có tác dụng thu liễm, chỉ huyết, điều kinh. Lô như phối hợp để hoạt huyết, thông kinh. Trứng chim sẻ và nước bào ngư giúp bổ ích tinh huyết, điều can. Trích Tố Vấn, thiên Phúc Trung Luận.
Lan thảo thang
"Hữu bệnh khẩu cam giả, bệnh danh vi hà? Hà dĩ đắc chi?"
Dịch nghĩa: Có người bệnh miệng ngọt, bệnh ấy tên là ǵ? Do đâu mà mắc?
"Kỳ Bá viết: Thử ngũ khí chi dật dă, danh viết tỳ đản."
Dịch nghĩa: Kỳ Bá nói: Đây là ngũ cốc chi khí tràn lên, tên là tỳ đản.
Giải thích: Tỳ đản là chứng do ăn nhiều béo ngọt, thấp nhiệt uẩn tỳ, tỳ khí tràn lên miệng làm miệng ngọt.
"Trị chi dĩ lan, trừ trần khí dă."
Dịch nghĩa: Điều trị bằng lan thảo, để trừ khí cũ tích trệ.
Giải thích: Lan thảo có tác dụng phương hương hóa thấp, tỉnh tỳ, trừ trọc khí tích lâu. Trích Tố Vấn, thiên Kỳ Bệnh Luận.
Thỉ cao
"Ung phát ư yết trung, danh viết mănh thư, mănh thư bất trị, hóa vi nùng, nùng bất tả, tắc yết, bán nhật tử."
Dịch nghĩa: Ung phát ở trong họng, gọi là mănh thư. Mănh thư không trị th́ hóa mủ, mủ không tháo ra th́ bít họng, nửa ngày sẽ chết.
Giải thích: Đây là chứng ung thư ở họng rất nguy cấp, mủ độc bít đường thở, tiên lượng rất xấu.
"Kỳ hóa vi nùng giả, tả tắc hợp thỉ cao, lănh thực, tam nhật nhi dĩ."
Dịch nghĩa: Nếu đă hóa mủ, khi tháo mủ ra th́ dùng thỉ cao phối hợp, ăn lạnh, ba ngày th́ khỏi.
Giải thích: Thỉ cao là mỡ lợn, dùng ngoài hoặc phối hợp sau khi tháo mủ để nhuận, giải độc, liền miệng sang.
"Phát ư dịch hạ xích kiên giả, danh viết mễ thư, trị chi dĩ biếm thạch, dục tế nhi trường, sơ biếm chi, đồ dĩ thỉ cao, lục nhật dĩ, vật khỏa chi."
Dịch nghĩa: Phát ở dưới nách, đỏ và cứng, gọi là mễ thư. Điều trị bằng biếm thạch, nên dùng loại nhỏ mà dài, chích thưa ra, bôi thỉ cao, sáu ngày th́ khỏi, không được băng bó.
Giải thích: Mễ thư là sang độc dưới nách. Dùng biếm thạch rạch chích cho tà độc thoát ra, sau đó bôi mỡ lợn, không băng kín để tránh tà độc bị bế lại. Trích Linh Khu, thiên Ung Thư.
Kiều ẩm
"Phát ư hiếp, danh viết bại tỳ, bại tỳ giả, nữ tử chi bệnh dă."
Dịch nghĩa: Bệnh phát ở vùng sườn, gọi là bại tỳ; bại tỳ là bệnh của phụ nữ.
Giải thích: Đây là một loại sang ung ở vùng hiếp sườn, thường gặp ở nữ giới.
"Cứu chi, kỳ bệnh đại ung nùng, trị chi, kỳ trung năi hữu sinh nhục, đại như xích tiểu đậu."
Dịch nghĩa: Cứu bệnh ấy, bệnh thành đại ung có mủ; khi điều trị, bên trong có thịt non sống, lớn như hạt đậu đỏ nhỏ.
Giải thích: Sang ung hóa mủ, bên trong mọc thịt non, cần vừa tiêu độc vừa giúp bài tiết tà khí.
"Toả lăng khấu, thảo căn các nhất thăng, dĩ thủy nhất đấu lục thăng chử chi, kiệt vi thủ tam thăng, tắc cường ẩm, hậu y tọa ư phủ thượng, lănh hăn xuất chí túc, dĩ."
Dịch nghĩa: Băm lăng khấu và thảo căn mỗi thứ một thăng, dùng một đấu sáu thăng nước nấu, sắc c̣n ba thăng th́ cố uống; mặc áo dày ngồi trên nồi, mồ hôi lạnh ra đến chân th́ khỏi.
Giải thích: Phương này dùng uống trong và xông ra mồ hôi, khiến tà độc theo mồ hôi mà giải. Trích Linh Khu, thiên Ung Thư.
Bán hạ truật mễ thang
"Kim quyết khí khách ư ngũ tạng lục phủ, tắc vệ khí độc vệ kỳ ngoại, hành ư dương bất đắc nhập ư âm."
Dịch nghĩa: Nay quyết khí khách ở ngũ tạng lục phủ, th́ vệ khí chỉ bảo vệ bên ngoài, đi ở phần dương mà không vào được phần âm.
Giải thích: Vệ khí không vào âm phận th́ âm dương không giao, ban đêm không ngủ được.
"Hành ư dương tắc dương khí thịnh, dương khí thịnh tắc Dương kiều hăm, bất đắc nhập ư âm, âm hư, cố mục bất minh."
Dịch nghĩa: Vệ khí đi ở dương th́ dương khí thịnh; dương khí thịnh th́ Dương kiều đầy, không vào được âm, âm hư, nên mắt không nhắm được.
Giải thích: Mất ngủ do dương không nhập âm, vệ khí lưu ở dương phận, mắt không thể nhắm.
"Ẩm dĩ Bán hạ thang nhất tễ, âm dương dĩ thông, kỳ ngọa lập chí."
Dịch nghĩa: Cho uống một thang Bán hạ thang, âm dương thông th́ giấc ngủ lập tức đến.
Giải thích: Bán hạ truật mễ thang ḥa vị, giáng nghịch, thông âm dương, dùng trị mất ngủ do vệ khí không vào âm.
"Kỳ thang phương dĩ lưu thủy thiên lư dĩ ngoại giả bát thăng, dương chi vạn biến, thủ kỳ thanh ngũ thăng chử chi, xuy dĩ vi tân hỏa, phí trí truật mễ nhất thăng, trị bán hạ ngũ hợp, từ xuy, linh kiệt vi nhất thăng bán, khứ kỳ chỉ, ẩm trấp nhất tiểu bôi, nhật tam, sảo ích, dĩ tri vi độ."
Dịch nghĩa: Phương thang dùng nước chảy từ ngoài ngàn dặm tám thăng, khuấy lên vạn lần, lấy phần trong năm thăng để nấu; dùng lửa củi lau sậy, khi sôi cho vào một thăng truật mễ và năm hợp bán hạ đă chế, nấu chậm c̣n một thăng rưỡi, bỏ bă, uống một chén nhỏ nước thuốc, ngày ba lần, dần dần tăng, lấy có hiệu quả làm mức.
Giải thích: Cách chế rất chú trọng thủy hỏa, thanh trọc và sự ḥa giáng của vị khí. Trật mễ dưỡng vị, bán hạ giáng nghịch, ḥa trung.
"Cố kỳ bệnh tân phát giả, phúc bôi tắc ngọa, hăn xuất tắc dĩ hĩ. Cửu giả, tam ẩm nhi dĩ dă."
Dịch nghĩa: Cho nên bệnh mới phát, uống xong úp chén là ngủ, ra mồ hôi th́ khỏi. Bệnh lâu ngày, uống ba lần th́ khỏi.
Giải thích: Bệnh mới th́ khí cơ dễ thông, hiệu quả nhanh; bệnh lâu th́ cần uống nhiều lần. Trích Linh Khu, thiên Tà Khách.
Mă cao cao pháp
"Túc Dương minh chi cân... kỳ bệnh túc trung chỉ chi hĩnh chuyển cân, cước khiêu kiên, Phục thố chuyển cân, bễ tiền thũng, sán, phúc cân cấp, dẫn Khuyết bồn cập giáp, tốt khẩu tích."
Dịch nghĩa: Kinh cân Túc Dương minh mắc bệnh th́ ngón giữa chân co kéo đến cẳng chân, bàn chân co giật cứng, vùng Phục thố co rút, phía trước đùi sưng, sán, gân bụng co cấp, kéo lên Khuyết bồn và má, đột nhiên miệng méo.
Giải thích: Đây là bệnh của kinh cân Dương minh, co rút từ chân lên bụng, ngực, mặt, gây méo miệng.
"Cấp giả mục bất hợp, nhiệt tắc cân túng, mục bất khai, giáp cân hữu hàn tắc cấp, dẫn giáp di khẩu. Hữu nhiệt tắc cân tŕ túng, hoăn bất thắng thu, cố tích."
Dịch nghĩa: Co cấp th́ mắt không nhắm; có nhiệt th́ cân buông lỏng, mắt không mở; gân má có hàn th́ co cấp, kéo má làm miệng lệch. Có nhiệt th́ cân lỏng nhăo, chậm yếu không thu lại được, nên miệng méo.
Giải thích: Hàn làm cân co rút, nhiệt làm cân nhăo lỏng; cả hai đều có thể gây lệch miệng, mắt không mở hoặc không nhắm.
"Trị chi dĩ mă cao, cao kỳ cấp giả, dĩ bạch tửu ḥa quế, dĩ đồ kỳ hoăn giả, dĩ tang câu câu chi."
Dịch nghĩa: Điều trị dùng mỡ ngựa bôi chỗ co cấp; dùng rượu trắng ḥa quế bôi chỗ lỏng nhăo; dùng móc cành dâu kéo chỉnh.
Giải thích: Mỡ ngựa ôn nhuận để làm mềm chỗ co cứng; rượu trắng và quế ôn thông để làm ấm chỗ tŕ hoăn; cành dâu hỗ trợ kéo chỉnh cơ lệch.
"Tức dĩ sinh tang thán, trí chi khảm trung, cao hạ dĩ tọa đẳng, dĩ cao uất cấp giáp, thả ẩm mỹ tửu, đạm mỹ chích nhục, bất ẩm tửu giả, tự cường dă, vi chi tam phủ nhi dĩ."
Dịch nghĩa: Dùng than dâu sống đặt trong hố, cao thấp vừa với chỗ ngồi, dùng mỡ hơ nóng để ủi má bên co cấp; đồng thời uống rượu ngon, ăn thịt nướng ngon. Người không uống rượu th́ cũng phải cố uống, làm ba lần vỗ ấn th́ khỏi.
Giải thích: Đây là phép ngoại trị kết hợp ôn uất, ăn uống ôn bổ để thông kinh cân, thư cân hoạt lạc.
"Trị tại phần châm kiếp thích, dĩ tri vi số."
Dịch nghĩa: Điều trị dùng phần châm, kiếp thích, lấy biết hiệu quả làm số lần.
Giải thích: Dùng châm nung nóng và phép châm mạnh để khai thông kinh cân, số lần tùy hiệu quả. Trích Linh Khu, thiên Kinh Cân.
Hàn tư uất pháp
"Hàn tư chi vi bệnh dă, lưu nhi bất khứ, thời thống nhi b́ bất nhân."
Dịch nghĩa: Bệnh hàn tư lưu lại không đi, thỉnh thoảng đau, da mất cảm giác.
Giải thích: Hàn tà lưu trệ ở kinh lạc, khí huyết bế tắc, nên đau và tê b́.
"Dụng thuần tửu nhị thập thăng, Thục tiêu nhất thăng, can khương nhất cân, quế tâm nhất cân."
Dịch nghĩa: Dùng rượu thuần hai mươi thăng, Thục tiêu một thăng, can khương một cân, quế tâm một cân.
Giải thích: Các vị đều có tác dụng ôn kinh tán hàn, thông dương chỉ thống.
"Phàm tứ chủng giai xuy trở, tẩm tửu trung, dụng miên nhứ nhất cân, tế bạch bố tứ trượng, tịnh nạp tửu trung."
Dịch nghĩa: Bốn thứ đều giă nhỏ, ngâm trong rượu; dùng một cân bông tơ và bốn trượng vải trắng mịn, cùng cho vào rượu.
Giải thích: Thuốc ngấm vào vải và bông để dùng làm khăn uất nóng.
"Trí tửu mă thỉ ôn trung, cái phong đồ vật sử tiết, ngũ nhật ngũ dạ, xuất bố miên nhứ, bộc can chi, can phục tẩm, dĩ tận kỳ trấp, mỗi tẩm tất túy kỳ nhật, năi xuất can."
Dịch nghĩa: Đặt rượu trong đống phân ngựa ấm, đậy kín trét kín không cho thoát khí, năm ngày năm đêm; lấy vải và bông ra phơi khô, khô rồi lại ngâm, cho đến khi hút hết nước thuốc; mỗi lần ngâm phải đủ một ngày một đêm rồi mới lấy ra phơi khô.
Giải thích: Đây là phương pháp chế khăn thuốc bằng nhiệt ủ lâu, làm dược lực thấm sâu.
"Can, tịnh dụng chỉ dữ miên nhứ, phục bố vi phục cân, trường lục thất xích, vi lục thất cân, tắc dụng chi sinh tang thán, chích cân, dĩ uất hàn tư sở thích chi xứ, linh nhiệt nhập chí ư bệnh sở."
Dịch nghĩa: Khi khô, dùng cả bă thuốc và bông, lại bọc bằng vải làm khăn kép, dài sáu bảy thước, làm sáu bảy khăn. Khi dùng th́ lấy than dâu sống hơ nóng khăn, uất lên chỗ hàn tư đă châm, khiến nhiệt vào đến nơi bệnh.
Giải thích: Ôn uất sau châm giúp hàn tà tan, khí huyết thông, giảm đau tê.
"Hàn, phục chích cân dĩ uất chi, tam thập biến nhi chỉ. Hăn xuất dĩ cân thức thân, diệc tam thập biến nhi chỉ. Khởi bộ nội trung, vô kiến phong. Mỗi thích tất uất, như thử, bệnh dĩ hĩ."
Dịch nghĩa: Nếu lạnh lại th́ lại hơ khăn để uất, ba mươi lần th́ dừng. Mồ hôi ra th́ dùng khăn lau thân, cũng ba mươi lần th́ dừng. Sau đó đứng dậy đi trong nhà, không để gặp gió. Mỗi lần châm đều phải uất như vậy th́ bệnh khỏi.
Giải thích: Điều trị hàn tư cần vừa châm vừa ôn uất, sau khi ra mồ hôi phải tránh gió để không tái cảm hàn tà. Trích Linh Khu, thiên Thọ Yểu Cương Nhu.
Tiểu kim đan
"Tiểu kim đan phương, thần sa nhị lượng, thủy ma hùng hoàng nhất lượng, diệp tử thư hoàng nhất lượng, tử kim bán lượng, đồng nhập hạp trung, ngoại cố liễu, địa nhất nê, trúc địa thực, bất dụng lô, bất tu dược chế, dụng hỏa nhị thập cân đoạn chi dă."
Dịch nghĩa: Phương Tiểu kim đan: thần sa hai lượng, hùng hoàng mài với nước một lượng, thư hoàng dạng lá một lượng, tử kim nửa lượng, cùng cho vào hộp, bên ngoài cố kín, dùng bùn trét, nện đất cho chắc, không dùng ḷ, không cần chế thuốc, dùng hai mươi cân lửa nung.
Giải thích: Đây là phương luyện đan cổ, dùng khoáng vật như thần sa, hùng hoàng, thư hoàng, tử kim để luyện chế.
"Thất nhật chung, hậu lănh, thất nhật thủ, thứ nhật xuất hạp tử, mai dược địa trung, thất nhật thủ xuất, thuận nhật nghiên chi tam nhật, luyện bạch sa mật vi hoàn, như ngô đồng tử đại."
Dịch nghĩa: Sau bảy ngày kết thúc, chờ nguội, bảy ngày sau lấy ra; ngày kế mở hộp, chôn thuốc xuống đất, bảy ngày sau lấy ra, thuận theo mặt trời mà nghiền ba ngày, luyện với mật cát trắng làm hoàn, lớn như hạt ngô đồng.
Giải thích: Mô tả quá tŕnh luyện, chôn, nghiền, làm hoàn theo thuật luyện đan cổ.
"Mỗi nhật vọng đông hấp nhật hoa khí nhất khẩu, băng thủy hạ nhất hoàn, ḥa khí yết chi, phục thập lạp, vô dịch can dă."
Dịch nghĩa: Mỗi ngày nh́n về hướng đông, hít một hơi khí tinh hoa mặt trời, dùng nước đá uống một viên, ḥa khí mà nuốt xuống; uống mười viên th́ không bị dịch bệnh làm hại.
Giải thích: Đây là phương thuộc Tố Vấn Di Thiên, mang màu sắc luyện đan dưỡng sinh đời sau, không phải phương dược thường dùng của Nội Kinh chính bản. Trích Tố Vấn Di Thiên, thiên Thích Pháp Luận.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch
 
Reply with a quote


<< Trả Lời >>

Nội Quy | Góp Ý | © 2009 - 2025 yhoccotruyen.org